Đề tài được cấu trúc 3 chươngnhư sau: Chương 1: Cơ sở lý luận nghiên cứu về kỹ năng chăm sóc tâm lý học sinh của giáo viên trung học cơ sở Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu Chư
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS TRẦN THỊ MỴ LƯƠNG
HÀ NỘI - 2016
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn đến quí thầy, cô Khoa Tâm lí – Giáo dục Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn giúp đỡ và cung cho tôi nguồn tài liệu, tri thức quí báu trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu để hoàn chỉnh luận văn này.
Với tấm lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn vô hạn đến TS Trần Thị Mỵ Lương, người đã tận tâm hướng dẫn, giúp đỡ cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn nghiên cứu khoa học.
Do điều kiện và thời gian có hạn trong quá trình nghiên cứu và thực hiện, luận văn này sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của quí thầy, cô và các bạn đồng nghiệp để luận văn mang tính khả thi khi được vận dụng thực tế rộng rãi ở các trường phô thông.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 15 tháng 10 năm 2016
Tác giả
VŨ THANH HIỀN
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu của mỗi dân tộc Trong đó, "Nhà
giáo giữ vai trò quyết định trong việc đảm bảo chất lượng giáo dục" (Điều 14 của
Luật giáo dục) Người giáo viên được ví là “người kỹ sư tâm hồn” Bên cạnh việc
chú trọng đến công tác giảng dạy – truyền đạt kiến thức cho học sinh, giáo viên cần
phải “giúp học sinh khắc phục khó khăn để học tập và rèn luyện tốt” (Tiêu chí 3, điều 4 của Thông tư số 30/2009/TT-BGDĐT quy định về Chuẩn nghề nghiệp giáo
viên trung học)
Đặc biệt, lứa tuổi học sinh trung học cơ sở (THCS) là giai đoạn quá độ, giaiđoạn chuyển tiếp từ trẻ em sang người lớn với rất nhiều những chuyển biến tâm lý
đa dạng và phức tạp Lứa tuổi này được phản ánh bằng những tên gọi khác nhau
như: “thời kỳ quá độ”, “tuổi khó bảo”, “tuổi khủng hoảng”, “tuổi bất trị” Sự xuất
hiện những yếu tố mới của sự trưởng thành do kết quả biến đổi mạnh mẽ của ý thức
và tự ý thức, của nội dung và hình thức hoạt động học tập, của mối quan hệ ứng xửvới người lớn, với bạn bè, của tính tích cực xã hội ở các em Điều này làm cho các
em luôn tò mò, thích khám phá thế giới, tích cực, độc lập trong học tập và các hoạtđộng xã hội Tuy nhiên, do sự hiểu biết còn nhiều hạn chế nên các em gặp không ítkhó khăn trong học tập, tu dưỡng, cũng như quan hệ ứng xử với thầy cô giáo, vớingười lớn và bạn bè để đáp ứng được kỳ vọng, yêu cầu của gia đình, nhà trường và
xã hội Vì vậy, những học sinh này đều cần có sự giúp đỡ của người lớn để có thể
ứng phó được với những khó khăn “khủng hoảng” tâm lý trong quá trình phát triển
và hoàn thiện nhân cách Điều này có nghĩa là học sinh ngày nay đang có nhu cầuđược chăm sóc tâm lý từ nhà trường, gia đình, xã hội
Thực trạng đời sống tâm lý học đường hiện nay đã và đang trở thành mốiquan tâm cấp thiết của toàn xã hội Vấn đề đặt ra là giáo viên làm thế nào để cónhững biện pháp hỗ trợ tích cực, đáp ứng hiệu quả nhu cầu chăm sóc tâm lý cho các
em, nhằm giúp các em vượt qua những khó khăn tâm lý trong cuộc sống, học tập,giúp các em ý thức được sự phát triển của bản thân, tự tin trong hoạt động
Với tính cấp thiết đó, chúng tôi chọn đề tài “Thực trạng kỹ năng chăm sóc
Trang 5tâm lý học sinh của giáo viên trung học cơ sở” làm đề tài nghiên cứu.
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn về kỹ năng chăm sóc tâm lý học sinhcủa giáo viên THCS, từ đó đề xuất một số khuyến nghị nhằm góp phần hình thành vànâng cao kỹ năng chăm sóc tâm lý học sinh cho giáo viên THCS
3 Đối tượng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Kỹ năng chăm sóc tâm lý học sinh của giáo viên trung học cơ sở
3.2. Khách thể nghiên cứu
Giáo viên THCS Nguyễn Quốc Ân – thành phố Hưng Yên – tỉnh Hưng Yên
4 Giả thuyết khoa học
Các giáo viên THCS đều nhận thấy được tầm quan trọng của việc chăm sóctâm lý học sinh, tuy nhiên ở các giáo viên THCS, thực trạng kỹ năng chăm sóc tâm
lý học sinh còn thiếu và có nhiều hạn chế Thực trạng này là do tác động của nhiềuyếu tố khác nhau như yếu tố giới tính, vốn kinh nghiệm, trình độ nhận thức…
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Xây dựng cơ sở lý luận về kỹ năng, kỹ năng chăm sóc tâm lý, kỹ năng chăm sóc
tâm lý học sinh của giáo viên THCS
5.2 Khảo sát thực trạng kỹ năng chăm sóc tâm lý học sinh của giáo viên
THCS; và các yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng chăm sóc tâm lý học sinh của giáoviên THCS
5.3 Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao kỹ năng chăm sóc tâm lý học
sinh cho giáo viên THCS
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
6.1. Giới hạn về đối tượng nghiên cứu
Trong luận văn này, chúng tôi chỉ tiến hành nghiên cứu về các kỹ năng chămsóc tâm lý học sinh của giáo viên THCS
6.2 Giới hạn về khách thể nghiên cứu
40 giáo viên và 130 học sinh trường THCS Nguyễn Quốc Ân ở tỉnh Hưng Yên
Trang 66.3 Giới hạn về địa bàn nghiên cứu
Đề tài chỉ tiến hành nghiên cứu ở:
- Trường THCS Nguyễn Quốc Ân, thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
7.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
7.3 Phương pháp phỏng vấn
7.4 Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị Đề tài được cấu trúc 3 chươngnhư sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận nghiên cứu về kỹ năng chăm sóc tâm lý học sinh
của giáo viên trung học cơ sở
Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng kỹ năng chăm sóc tâm lý học sinh của giáo viên trung
Từ thực trạng kỹ năng chăm sóc tâm lý học sinh của giáo viên THCS, nhữngđặc trưng về số lượng, thứ bậc và nội dung các kỹ năng mà giáo viên THCS hướngvào, tìm ra những xu hướng tích cực có theer là cơ sở giúp các nhà giáo dục tìm racác biện pháp hình thành và phát triển các kỹ năng chăm sóc tâm lý học sinh chogiáo viên THCS phù hợp với các giá trị xã hội hiện nay
Trang 7Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KỸ NĂNG CHĂM SÓC TÂM LÝ HỌC
SINH CỦA GIÁO VIÊN TRUNG HỌC CƠ SỞ
1.1. Sơ lược những nghiên cứu về kỹ năng chăm sóc tâm lý học sinh của giáo viên THCS
1.1.1. Trên thế giới
Ở Nga trước đây, đã có nhiều tác giả nghiên cứu về nghề dạy học, như:
“Chuẩn bị cho sinh viên làm công tác giáo dục ở trường phổ thông” của N.LBônđưrep Tác giả đã nhấn mạnh vai trò của kỹ năng sư phạm đối với nghề dạy học
và ông đã khẳng định: “Những kỹ năng đó chỉ được hình thành và củng cố tronghoạt động thực tiễn của người thầy giáo” N.M.Iacoplep trong cuốn “Phương pháp
và kỹ thuật lên lớp trong trường phổ thông” đã phân tích quá trình nhận thức củahọc sinh và quá trình dạy học tương đối chi tiết X.L Kixecop đã có nhiều côngtrình nghiên cứu về kỹ năng sư phạm Một trong các công trình đó là “Hình thànhcác kỹ năng kỹ xảo sư phạm trong điều kiện của nền giáo dục đại học” Tác giả đãđưa ra hai giai đoạn trong thực tập sư phạm đó là: thực tập tập luyện và thực tập tập
sự F.N Gonobolin trong cuốn “Những phẩm chất tâm lý của người giáo viên” đãphân tích hoạt động dạy học ở hai lĩnh vực: công tác dạy học và công tác giáo dụccủa người giáo viên [19]
Ngoài ra, các công trình nghiên cứu khác được dự án Việt Bỉ (hỗ trợ học từxa) dịch và giới thiệu như: “Đào tạo thường xuyên” của Pierre Besnard (Đại họcParis V-Sorbonne) và Bernard Lietard (Đại học Geneve) bàn về vấn đề người lớntham gia đào tạo thường xuyên; “chiến lược của giáo viên” do Paul D.Eggen (Đạihọc Nord Florida) và Donald P Kauchak (Đại học Utah) viết đã đưa ra nhận xéttổng quát về mô hình và chiến lược dạy học; “Giáo viên rèn luyện tâm lý” củaJacques Nimier Tác giả đã nêu vấn đề: không phải việc đào tạo tâm lý chỉ tiến hành
ở các trường sư phạm mà cả cuộc sống nghề nghiệp sau này, người giáo viên vẫnphải luôn luôn tự rèn luyện mình
Trang 8Như vậy, các nhà khoa học ở nước ngoài đã quan tâm không ít đến vấn đề đàotạo, bồi dưỡng giáo viên Tuy nhiên, hầu hết các công trình kể trên mới chỉ đề cậpđến kỹ năng giảng dạy và kỹ năng giáo dục nói chung, chưa có công trình nào đi sâunghiên cứu vấn đề bồi dưỡng kỹ năng hỗ trợ tâm lý cho học sinh của giáo viên
1.1.2. Tại Việt Nam
Do mới phát triển mạnh mẽ trong một vài năm gần đây, nên phần lớn cácnghiên cứu ở Việt Nam tập trung nghiên cứu thực trạng, nhu cầu và hiệu quả củachăm sóc tâm lý nói chung và chăm sóc tâm lý học đường nói riêng Trung tâmNghiên cứu Công tác xã hội và Phát triển cộng đồng tiến hành khảo sát tại thànhphố Hồ Chí Minh (2002 – 2003) đã chỉ ra thực trạng hoạt động chăm sóc tâm lýtrong điều kiện vật chất thiếu thốn, cơ chế quản lý chưa hoàn thiện, đặc biệt cán bộchăm sóc tâm lý còn thiếu kiến thức và kỹ năng Tại trường Đại học Lao động – xãhội (2004) với nghiên cứu về thực trạng nhu cầu và dịch vụ chăm sóc tâm lý và nêulên sự thiếu hụt cũng như khó tiếp cận của dịch vụ này cùng sự hạn chế về kiếnthức, kỹ năng chăm sóc tâm lý ở đại đa số cán bộ chăm sóc tâm lý Khẳng địnhthêm kết quả trên, nghiên cứu của tác giả Trần Thị Minh Đức đã chỉ ra sự phát triểntràn lan của các Trung tâm chăm sóc tâm lý trong khi cơ chế quản lý chưa rõ ràng,người thực hiện chăm sóc tâm lý chủ yếu dựa trên kinh nghiệm Nghiên cứu của tậpthể cán bộ Khoa Tâm lý – Giáo dục, trường Đại học Sư phạm Hà Nội (2005) cũngchỉ ra rằng nhu cầu chăm sóc tâm lý của học sinh hiện nay là rất lớn nhưng lựclượng chăm sóc tâm lý chủ yếu là giáo viên Bên cạnh những điều tra, trong các tạptrí khoa học gần đây xuất hiện nhiều bài viết của các tác giả Trần Thị Minh Đức, VũKim Thanh, Bùi Thị Xuân Mai và các tác giả khác đã phản ánh thực trạng của chămsóc tâm lý tâm lý ở Việt Nam
Những nghiên cứu tiếp theo sau này về lý luận của chăm sóc tâm lý, chămsóc tâm lý học đường đã phát triển nhiều hơn Các nghiên cứu về khái niệm và bảnchất của hoạt động chăm sóc tâm lý nói chung, chăm sóc tâm lý học đường nóiriêng của các tác giả Nguyễn Ngọc Phú, Trần Thị Minh Đức, Phạm Tất Dong, TrầnQuốc Thành, Nguyễn Thị Mùi, Trần Thị Lệ Thu, Hoàng Anh Phước, Bùi Thị XuânMai… được bàn luận, phân tích trong các hội thảo, bài báo đăng tải trong tạp chí
Trang 9khoa học Những bài giảng, giáo trình về chăm sóc tâm lý được xuất hiện ở một sốtrường đại học với sự trợ giúp kỹ thuật của chuyên gia nước ngoài đánh dấu bướctiến về nghiên cứu lý luận trong chăm sóc tâm lý tại Việt Nam Trong đó có một số
ít công trình nghiên cứu về kỹ năng chăm sóc tâm lý như sau:
Nghiên cứu trong nước về đào tạo, bồi dưỡng giáo viên đã có nhiều côngtrình nghiên cứu như tác giả Nguyễn Thị Tuyết Chinh (2008) nghiên cứu về tổ chứcbồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên (đề tài luận văn thạc sỹ) Nguyễn ThànhKinh nghiên cứu về bồi dưỡng kỹ năng dạy học hợp tác cho giáo viên THCS (luận
án tiến sỹ) Trần Thị Minh Huế nghiên cứu về phát triển kỹ năng tư vấn, chăm sóctâm lý cho sinh viên Đại học Thái Nguyên (2013 đề tài cấp cơ sở), chưa có côngtrình nào nghiên cứu về tổ chức bồi dưỡng kỹ năng chăm sóc tâm lý học sinh chogiáo viên THCS, vì vậy chúng tôi chọn vấn đề này làm đề tài nghiên cứu
1.2. Cơ sở lý luận chung về kỹ năng chăm sóc tâm lý học sinh của giáo viên THCS
1.2.1. Khái niệm kỹ năng
Kỹ năng là một vấn đề được nhiều nhà tâm lý học, giáo dục trong và ngoàinước quan tâm Ở các góc độ khác nhau, các tác giả có những quan niệm khác nhau
về kỹ năng, nhưng tổng kết lại có 2 loại quan niệm về kỹ năng như sau:
- Loại quan điểm thứ nhất: là loại quan niệm xem xét kỹ năng nghiêng về
mặt kỹ thuật của hành động A.V Petrovxki quan niệm rằng: kỹ năng là cách thứchoạt động dựa trên cơ sở tri thức và kỹ xảo Kỹ năng được hình thành bằng conđường luyện tập, kỹ năng tạo khả năng cho con người thực hiện hành động khôngchỉ trong những điều kiện quen thuộc mà trong những điều kiện đã thay đổi Xuấtphát từ chỗ coi kỹ năng là mặt kỹ thuật của hành động, các tác giả này quan niệmrằng, khi nắm được kỹ thuật hành động, hành động đúng các yêu cầu kỹ thuật của
nó thì sẽ đạt kết quả Muốn nắm được kỹ thuật hành động và thực hiện được hànhđộng theo đúng kỹ thuật thì có phải quá trình học tập và rèn luyện Như vậy, theoloại quan niệm này, kỹ năng là phương tiện thực hiện hành động mà con người đãnắm vững, người có kỹ năng hoạt động nào đó là người nắm được các tri thức vềhoạt động đó và thực hiện hành động theo đúng yêu cầu cần có của nó mà không
Trang 10cần tính đến kết quả của hành động.
- Loại quan niệm thứ hai: là loại quan niệm xem xét kỹ năng nghiêng về mặt
năng lực của con người Theo N.Đ Levitov, kỹ năng là sự thực hiện có kết quả mộtđộng tác động nào đó hay một hành động phức tạp hơn, bằng cách áp dụng hay lựachọn những cách thức đúng đắn, có chiếu cố đến những điều kiện nhất định Kỹnăng có liên quan nhiều đến thực tiễn, đến việc áp dụng tri thức vào thực tiễn.Tương tự như vậy, X.I.Kixegof cho rằng, kỹ năng là khả năng thực hiện có hiệu quả
hệ thống hành động phù hợp với mục đích và điều kiện thực hiện hệ thống này.Theo ông, kỹ năng bao giờ cũng diễn ra dưới sự kiểm tra của ý thức nhiều hay ít
Kỹ năng đỏi hỏi việc sử dụng những kinh nghiệm đã thu được trước đây và nhữngtri thức nhất định nào đó trong các hành động, thiếu những điều này, không thể có
kỹ năng K.K Platonov còn nhấn mạnh đến tính linh hoạt mềm dẻo của kỹ năng.Theo ông, người có kỹ năng không chỉ hành động có kết quả trong một hoàn cảnh
cụ thể mà còn phải đạt kết quả tương tự trong những điều kiện khác
Như vậy, khác với quan niệm thứ nhất, các tác giả theo quan niệm thứ hai,coi kỹ năng không chỉ đơn thuần là kỹ thuật hành động mà nó còn là biểu hiện củanăng lực, kỹ năng vừa có tính ổn định, vừa có tính mềm dẻo Nhờ có sự mềm dẻo
mà con người có tính sáng tạo hoạt động thực tiễn Ở đây các tác giả có chú ý đếnkết quả của hành động
Theo chúng tôi về thực chất hai loại quan điểm trên không phủ định nhau, sựkhác biệt chỉ ở chỗ mở rộng hay thu hẹp thành phần cấu trúc của kỹ năng cũng nhưnhững đặc tính của chúng Mặt khác theo chúng tôi ở con người khi kỹ năng củamột hoạt động nào đó, đặc biệt là hoạt động nghề nghiệp bắt đầu hình thành, khi đócần xem xét kỹ năng ở mặt kỹ thuật của các thao tác của hành động hay hoạt động.Còn khi kỹ năng đã hình thành ổn định, con người biết sử dụng nó một cách sángtạo trong các hoàn cảnh khác nhau, khi đó kỹ năng được xem xét như một năng lực,một vốn quý của con người Vì vậy nếu nghiên cứu sự hình thành và phát triển kỹnăng cần quan tâm đến cả mặt kỹ thuật cũng như kết quả của thao tác, hành độnghay hoạt động
Trong những năm gần đây khi đề cập tới kỹ năng, đặc biệt là kỹ năng nghềnghiệp người ta không chỉ dừng ở tiêu chí kết quả chính xác, khả năng linh hoạt, mà
Trang 11còn xem xét các yếu tố thái độ, động cơ của cá nhân trong thực hiện hành động có
kỹ năng đó Cách tiếp cận này xem xét kỹ năng ở góc độ rộng hơn khi nó kết nốicác yếu tố kiến thức, kỹ thuật và giá trị (thái độ, niềm tin) trong hành vi của mộthoạt động nhất định Cho rằng, mọi hành vi của con người đều xuất phát từ cách màngười ta suy nghĩ, tác giả J.N.Richard (2003) coi kỹ năng là những hành vi được thểhiện ra hành động bên ngoài và chịu sự chi phối cách thức con người cảm nhận vàsuy nghĩ I.Louise (1995) cũng khẳng định, kỹ năng là yếu tố mang tính thực tiễn và
là kết quả của sự nối kết giữa lý thuyết và giá trị (thái độ, niềm tin) Mặc dù ghinhận hành vi có kỹ năng là khả năng lựa chọn những kiến thức, kỹ thuật thích hợp
và sử dụng chúng có hiệu quả, song S.A.Morales & W.Sheator (1987) và M.BartteHariet (1970) nhấn mạnh sự lựa chọn đó chịu ảnh hưởng của thái độ, niềm tin của
cá nhân đối với hoạt động cụ thể Đây là một xu hướng khá mới về quan niệm kỹnăng Quan điểm này tương đối phù hợp cho nghiên cứu những kỹ năng chuyên sâutrong lĩnh vực hoạt động chuyên môn
- Người có kỹ năng hành động trong một lĩnh vực hoạt động được biểu hiện ở nhữngdấu hiệu sau đây:
+ Có tri thức về hành động: nắm được mục đích hành động; nắm được cáchthức thực hiện hành động và các điều kiện thực hiện hành động
+ Thực hiện hành động đúng với các yêu cầu của nó
+ Hành động đạt kết quả cao theo mục đích đề ra
+ Có thể thực hiện hành động có kết quả trong những điều kiện thay đổi.Nghĩa là, kỹ năng đòi hỏi, trước hết con người phải có tri thức, kinh nghiệmcần thiết về hành động Tuy nhiên tri thức và kinh nghiệm chưa phải là kỹ năng
Kỹ năng chỉ có được khi con người vận dụng những tri thức và kinh nghiệm đóvào hoạt động thực tiễn một cách có hiệu quả Có thể nói, tri thức và kinh nghiệm
là những điều kiện cần để hình thành kỹ năng, việc vận dụng tri thức, kinh nghiệmvào hoạt động thực tiễn nhằm đạt được mục đích đề ra là điều kiện đủ để hìnhthành kỹ năng
Quá trình hình thành kỹ năng
Vấn đề hình thành kỹ năng được nhiều nhà tâm lý học trong và ngoài nướcquan tâm mỗi tác giả, mỗi trường phái có những ý kiến khác nhau song đều thốngnhất với nhau rằng kỹ năng được hình thành trong hoạt động Kỹ năng được hình
Trang 12thành và phát triển theo từng giai đoạn với các mức độ từ thấp tới cao Mức độ thấp
là những kỹ năng nguyên phát – dạng kỹ năng đơn giản, tương ứng với những thaotác của hành động nhất định Mức độ cao là các kỹ năng thứ phát – là tập hợp củanhiều yếu tố để tạo nên kỹ năng phức hợp, nâng cao
G.Theodorson (1969) cho rằng, ban đầu kỹ năng mới chỉ là các thao tácriêng lẻ chưa được hoàn thiện, trong quá trình rèn luyện, chúng trở nên hành độngnhanh chóng, chính xác, và sau đó trở thành kỹ xảo (không cần sự kiểm soát của ýthức)
Một số tác giả V.A Cruchetxki, Phạm Minh Hạc, N.Đ.Levitov, A.V.Petrovxki,Trần Quốc Thành… cho rằng, quá trình hình thành ký năng gồm 3 giai đoạn:
− Giai đoạn 1: Nhận thức đầy đủ về mục đích, cách thức và điều kiện hành động
− Giai đoạn 2: Quan sát và làm thử theo mẫu
− Giai đoạn 3: Luyện tập để tiến hành các hành động theo đúng yêu cầu nhằm đạtđược mục đích đặt ra
Theo các tác giả này, việc nhận thức mục đích, cách thức và điều kiện hànhđộng cực kỹ quan trọng Vì mục đích là kết quả hành động mà người ta dự kiếntrước khi bắt tay vào hành động Trên cơ sở xác định mục đích hành động, người ta
sẽ lập kế hoạch và tìm các điều kiện, biện pháp phù hợp để đạt được mục đích Nhưvậy, đây chỉ là bước định hướng hành động Nếu dừng lại ở bước này thì chưa có kỹnăng, vì nó chỉ thể hiện mặt lý thuyết, tri thức về hành động, chứ chưa có mặt kỹthuật, thao tác thực tiễn của hành động để đạt mục đích đề ra
Giai đoạn làm thử theo mẫu cũng không kém phần quan trọng Ở giai đoạnnày con người một mặt thực hiện thao tác theo mẫu để hình thành kỹ năng, một mặtcon người đối chiếu với tri thức về hành động và điều chỉnh các thao tác, hành độngnhằm đạt được kết quả giảm bớt những sai sót trong quá trình hành động Tùy theokhả năng của từng người mà độ sai sót nhiều hay ít, giai đoạn làm thử dài hay ngắn
Sau khi làm thử để nắm vững cách thức hành động, người ta phải tiến hànhluyện tập để hoàn thiện kỹ năng Ở giai đoạn này các tri thức về hành động đượccủng cố nhiều lần, cách thức hành động cũng được ôn luyện có hệ thống làm chongười ta nắm chắc hành động hơn Đến đây có thể nói, kỹ năng đã được hình thành.Tuy nhiên, kỹ năng vẫn chưa ổn định Nhiều khi, người ta có thể đạt được kết quảcần thiết song vẫn còn những sai sót, vấp váp trong hành động Kỹ năng thực sự ổn
Trang 13định khi người ta hành động có kết quả trong những điều kiện khác nhau.
Việc luyện tập đạt kết quả cao hay thấp phụ thuộc vào nhiều yếu tố: điềukiện luyện tập, tính hệ thống của nhiều quá trình luyện tập, đặc biệt là sự nỗ lực của
cá nhân
Quan điểm trên đây đã chỉ ra những yêu cầu cần thiết của việc hình thành kỹnăng hành động: nhận thức và triển khai nó trong thực tiễn
Chúng tôi nhất trí với quan điểm của các tác giả V.A.Cruchetxki, Phạm
Minh Hạc, N.Đ.Levitov, A.V.Petrovxki, Trần Quốc Thành nêu trên, như vậy quy
trình hình thành kỹ năng đi từ hình thành nhận thức về mục đích, cách thức, điều kiện hành động tới việc quan sát và làm thử, cuối cùng là luyện tập để tiến hành hành động theo đúng yêu cầu nhằm đạt được mục đích đề ra.
Từ những phân tích các quan niệm trên, chúng tôi đi đến kết luận và sử dụngkhái niệm kỹ năng trong luận văn này như sau:
Kỹ năng là sự vận dụng tri thức, kinh nghiệm vào hoạt động hay hành động thực tiễn trong điều kiện cụ thể để thực hiện hành động hay hoạt động đó có kết quả theo mục đích đã đề ra.
1.2.2. Khái niệm kỹ năng chăm sóc tâm lý học sinh
1.2.2.1 Khái quát về hỗ trợ và chăm sóc tâm lý cho học sinh
Hỗ trợ tâm lý (hay chăm sóc tâm lý) trong trường học trên thế giới tập trungvào ba mảng nội dung: phòng ngừa, phát hiện sớm, can thiệp; với 03 cấp độ hoạtđộng hỗ trợ tâm lý trong nhà trường Đây cũng là xu hướng chính trong hoạt động
hỗ trợ tâm lý tại nhiều trường phổ thông hiện nay ở nước ta Theo giáo trình Tâm lýgiáo dục, NXB Đại học Sư phạm, 2015
Cấp độ 1- các hoạt động dịch vụ phổ biến: Tác động đến tất cả, hoặc là một
số lượng lớn học sinh trong trường học (khoảng 80% học sinh) Các dịch vụ ở cấp
độ này mang tính chất phòng ngừa và làm lành mạnh hóa môi trường trường học đểgiảm thiểu những vấn đề khó khăn học sinh có thể gặp phải Nếu chuyên viên tâm
lý , giáo viên và nhà trường làm tốt các hoạt động có tính chất phòng ngừa ở cấp độnày thì có thể giúp giảm bớt thách thức và khó khăn khi phải thực hiện những hoạtđộng hỗ trợ ở các cấp độ cao hơn
Cấp độ 2- các hoạt động hỗ trợ tâm lý dành cho nhóm mục tiêu: Nhóm học
sinh này có thể nằm trong khoảng từ 10-20%, là những học sinh mà các dịch vụ phổ
Trang 14biến có tính phòng ngừa đã không gây được ảnh hưởng một cách tích cực; các emnày cần được can thiệp (chăm sóc tâm lý (hỗ trợ tâm lý)/trị liệu trực tiếp) Nhữnghọc sinh này có thể có những khó khăn trong học tập như thành quả thấp, thiếu khảnăng tập trung chú ý, thiếu động cơ học tập; hoặc có những vấn đề liên quan đếnthái độ cư xử, hành vi không thích hợp.
Cấp độ 3- hoạt động hỗ trợ tâm lý chuyên sâu: Dịch vụ ở cấp độ này tập
trung vào những học sinh có nhu cầu và cần thiết phải có những can thiệp chuyênsâu Nhóm này có thể chiếm từ 1-7%, là những học sinh có các vấn đề khó khănnghiêm trọng về sức khỏe tâm thần hoặc có những hành vi quá mức như bắt nạt, tấncông, phá hoại người hoặc tài sản của nhà trường Những học sinh này sẽ đượchưởng các biện pháp can thiệp tại truờng nếu chuyên viên tâm lý có đủ thời gian;còn lại đa số các trường hợp rơi vào cấp độ này đều được chuyên viên tâm lý, giáoviên hoặc phụ huynh chuyển ra trị liệu ở các cơ sở lâm sàng ngoài trường Chính vìvậy hoạt động hỗ trợ tâm lý trong trường cần có những thông tin về các tổ chứccung cấp dịch vụ can thiệp và trị liệu tâm lý chuyên sâu ngoài trường [14]
Trên thực tế mỗi trường khi thành lập phòng tâm lý học đường hoặc khi tổchức hoạt động hỗ trợ tâm lý có thể có quy trình và cách can thiệp khác nhau Quytrình hoạt động hỗ trợ tâm lý được thể hiện trong sơ đồ bên dưới mô tả quy trìnhgiới thiệu và hỗ trợ tâm lý/can thiệp tâm lý của tổ hỗ trợ học sinh nói chung trongnhà trường Quy trình này thể hiện rõ các chủ thể tham gia hoạt động hỗ trợ tâm lý,các bước và các biện pháp can thiệp nói chung
Từ những phân tích các quan niệm trên, chúng tôi đi đến kết luận và sử dụngkhái niệm kỹ năng chăm sóc tâm lý học sinh trong luận văn này như sau:
Kỹ năng chăm sóc tâm lý học sinh là sự vận dụng tri thức, kinh nghiệm vào hoạt động hỗ trợ/ phòng ngừa, can thiệp các rối nhiễu tâm lý nhằm mục díchđảm bảo hoạt động học tập cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển nhân cách học sinh.
1.2.2.2. Các kỹ năng hỗ trợ và chăm sóc tâm lý cho học sinh
a) Kỹ năng xây dựng và tổ chức các hoạt động phòng ngừa
Theo Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: Phòng ngừa là “phòng trước không đểcho cái xấu, cái không hay xảy ra” Trong trường học phòng ngừa là một việc làmcần thiết nhằm ngăn chặn sự phát triển của những khó khăn, rối nhiễu tâm lý tạo
Trang 15nên môi trường phát triển tốt, giúp tăng cường sức khỏe tinh thần cho học sinh.Trong 3 cấp độ can thiệp của chăm sóc tâm lý (hỗ trợ tâm lý) học đường, cấp độ 1chủ yếu là thực hiện phòng ngừa nhằm giảm tỷ lệ các rối nhiễu tâm lý, tang cườngsức khỏe tâm thần cho học sinh, chủ yếu qua hướng dẫn các kiến thức, kỹ năng giáodục cộng đồng Những chương trình về phát triển thanh niên và ngăn ngừa dựa vàotrường học được thiết kế và thực thi tốt có thể đem lại những tác động tích cực đếnmột loạt các hệ quả về mặt xã hội, sức khỏe và học tập.
Điều quan trọng là phòng ngừa có thể đáp ứng của học sinh, gia đình, trườnghọc và cộng đồng, nhằm đưa ra một cách thức để trợ giúp cho người hơn và đây nên
là chức năng đầu tiên của nhà chăm sóc tâm lý (hỗ trợ tâm lý) tâm lý trường học
Từ những phân tích trên chúng tôi quan niệm:
Kỹ năng xây dựng và tổ chức các hoạt động phòng ngừa trong nhà trường là
sự vận dụng tri thức, kinh nghiệm vào thiết kế, triển khai và đánh giá việc áp dụng các chính sách toàn trường nhằm ngăn ngừa hoặc giảm thiểu các nguy cơ gặp khó khăn/ rối nhiễu tâm lý ở học sinh.
Mục đích của kỹ năng: Giảm thiểu hoặc ngăn chặn sự phát triển của những
rối nhiễu tâm lý, tăng cường sức khỏe tâm thần cho học sinh
Các biểu hiện/ thao tác tiến hành kỹ năng:
- Thu thập, phân tích, đánh giá những vấn đề nổi cộm của học sinh trong trường (bạolực học đường, bỏ học, kỳ thị, lo hãi trước mùa thi…)
- Lựa chọn vấn đề cần thiết có thể tổ chức các chương trình phòng ngừa hiệu quả vàhuy động nguồn lực
- Thiết kế các chương trình phòng ngừa và triển khao toàn trường: xác định mục tiêu,đối tượng, xây dựng nội dung, thời gian, cách thức thực hiện, nhân lực
- Đánh giá hiệu quả và điều chỉnh
Các dịch vụ phòng ngừa nhà chăm sóc tâm lý (hỗ trợ tâm lý) học đường cóthể cung cấp:
- Sàng lọc sức khỏe tinh thần và học tập
- Các chương trình nâng cao năng lực xã hội
- Đưa ra những sáng kiến an toàn học đường
- Tập huấn khả năng phục hồi
- Chăm sóc tâm lý (hỗ trợ tâm lý) cá nhân và nhóm
- Ngăn ngừa tự tử
- Giáo dục về ma túy
- Phòng ngừa bạo lực
Trang 16- Phòng chống bắt nạt, trêu chọc trong trường học
- Tăng cường sức khỏe và trạng thái khỏe mạnh
- Đào tạo/ tập huấn cho cha mẹ
- Giáo dục tính cách
- Cải cách trường học
- Bồi dưỡng khả năng đọc, viết sớm
- Hỗ trợ, ủng hộ
Các hình thức cụ thể có thể sử dụng nhằm phòng ngừa trong tâm lý học đường:
- Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh
- Tổ chức câu lạc bộ theo chủ đề cho học sinh
- Tọa đàm giải đáp thắc mắc trước mùa thi
- Bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng làm cha mẹ cho phụ huynh
- Trao đổi, chia sẻ với giáo viên, cha mẹ về phương pháp dạy trẻ tích cực
- Giới thiệu một số dạng rối nhiễu tâm lý thường gặp ở học sinh
b) Nhóm kỹ năng phát hiện sớm các khó khăn/ rối nhiễu tâm lí
cá nhân và xã hội, bao gồm thất bại trong học tập, ngược đãi về mặt thể chất, khókhăn trong nghề nghiệp, bạo và tự tử (Taylor, Chadwwick, Heptinstall, &Danckaerts, 1996; Sprague & Walker, 2000)
Hơn thế nữa, những vấn đề về hành vi và cảm xúc của trẻ càng lâu được pháthiện thì càng khó có khả năng thay đổi sự kém thích nghi của trẻ (Gottlied, 1991)
Phát hiện sớm và can thiệp kịp thời cho trẻ có các vấn đề về hành vi và xúccảm có thể giúp giảm thiểu những gánh nặng và chi phí chăm sóc sức khỏe nóichung
Mục đích của kỹ năng phát hiện sớm giúp ngăn ngừa hoặc giảm thiểu những
tác động tức thời hoặc dài hạn của những vấn đề sức khỏe tinh thần ở học sinh
Các biểu hiện/ thao tác tiến hành kỹ năng phát hiện sớm
- Nhận diện những vấn đề nổi cộm của học sinh toàn trường
- Nhận diện những học sinh có vấn đề về hành vi, cảm xúc
Trang 17- Đánh giá những liệu thu được dựa trên việc kết hợp các nguồn thông tin khác nhau
- Lên kế hoạch sử dụng những dữ liệu đã được sang lọc: Cung cấp cho nhà trường,giáo viên, cha mẹ học sinh; phòng ngừa, theo dõi và trợ giúp kịp thời
Những thời điểm có thể tiến hành phát hiện và sàng lọc đối với học sinh:
- Tập trung vào những năm chuyển tiếp
- Các cấp học/ Trường học có một số lượng lớn học sinh có các vấn đề về hànhvi/xúc cảm
- Những học sinh mới vào trường
- Những học sinh khó hoàn thành các bài kiểm tra
- Trước khi rời khỏi trường học để chuyển cấp
Những vấn đề thường gặp ảnh hưởng đến việc học tập, cảm xúc và hành vicủa học sinh có thể được nhận diện sớm:
- Căng thẳng và lo âu
- Lo lắng bị bắt nạt
- Những vấn đề với gia đình và bạn bè
- Cô đơn hoặc bị từ chối
- Những khiếm khuyết/ khuyết tật
- Trầm cảm
- Những suy nghĩ về tự tử hoặc làm đau những người khác
- Những mối quan tâm về bản năng giới tính
- Những khó khăn trong học tập
- Bỏ học hoặc học tập sa sút
- Rượu và ngược đãi về mặt thể chất
- Lo sợ bạo lực, khủng bố và chiến tranh
c) Kỹ năng đánh giá tâm lí học sinh
Đánh giá là một công việc thường niên của nhà chăm sóc tâm lý (hỗ trợ tâmlý), đánh giá diễn ra trong tất cả các giai đoạn của chăm sóc tâm lý (hỗ trợ tâm lý),
có thể trước, trong hoặc sau khi chăm sóc tâm lý (hỗ trợ tâm lý) nhằm trợ giúp cóhiệu quả Trong chăm sóc tâm lý (hỗ trợ tâm lý) học đường đánh giá tâm lý họcsinh là một vấn đề cần thiết để thu thập dữ liệu cho việc phòng ngừa, can thiệp, đảmbảo chăm sóc tâm lý (hỗ trợ tâm lý) hướng nghiệp chính xác, giúp học sinh nhậnthức được bản thân từ đó nâng cao năng lực giải quyết những khó khăn, vướng mắcđang gặp phải
Kỹ năng đánh giá tâm lí học sinh là sự vận dụng tri thức, kinh nghiệm để thuthập những dữ liệu chính xác về đặc điểm tâm lý của học sinh (năng lực, tính cách,
Trang 18điểm mạnh, điểm yếu, mức độ khó khăn tâm lý …) để có kế hoạch trợ giúp/ canthiệp kịp thời và hiệu quả.
Mục đích của kỹ năng: phát hiện các nguy cơ thu thập dữ liệu để hướngnghiệp cho học sinh nhận diện điểm mạnh, điểm yếu của học sinh để giúp học sinhnâng cao năng lực giải quyết vấn đề trên thế mạnh của họ
Các biểu hiện/ thao tác tiến hành kỹ năng:
- Kết hợp các phương pháp khác nhau trong đánh giá: quan sát, trắc nghiệm, tròchuyện…
- Sử dụng các nguồn thông tin khác nhau trong đánh giá: giáo viên, cha mẹ, bạn bècủa thân chủ, cộng đồng
- Nhận diện chính xác điểm mạnh yếu, những khó khăn tâm lý của học sinh
- Sử dụng hợp lý kết quả đánh giá cho các kế hoạch trợ giúp học sinh: kế hoạchphòng ngừa và kế hoạch can thiệp
Nagle & Gagnon, 2008 đã đưa ra các lưu ý khi đánh giá trong trường họcnhư sau:
- Nhà chăm sóc tâm lý (hỗ trợ tâm lý) học đường có thể cung cấp các dịch vụ đánhgiá có giá trị để thông tin hữu ích thu thập được có thể tạo điều kiện thuận lợi choviệc lập kế hoạch trợ giúp và can thiệp phù hợp
- Kết quả đánh nhu cầu cung cấp cơ sở cho việc lên kế hoạch, phát triển điều chỉnhchương trình
- Có thể đánh giá được các nhu cầu sức khỏe tâm thần trong trưởng học và trongcộng đồng
- Cung cấp thông tin cho việc phê chuẩn, phát triển và thực thi các chương trình
- Cung cấp thông tin để giải thích việc lên ngân sách cho các hoạt động ưu tiên
- Tăng trường sự phát triển chuyên nghiệp của đội ngũ nhận sự trong nhà trường
- Cung cấp thông tin cho hoạt động nhận thức trong nhà trường và trong cộng đồng
- Các hoạt động của nhà chăm sóc tâm lý (hỗ trợ tâm lý) có thể được triển khai ở cáccấp độ: quận/ huyện, nhà trường, khối lớp và lớp học
Nhà chăm sóc tâm lý (hỗ trợ tâm lý) có thể sử dụng các biện pháp bao gồm:
- Trò chuyện, trao đổi trực tiếp
- Quan sát: quần áo, dáng điệu, giọng nói, hành vi phi ngôn ngữ, biểu hiện của khuônmặt, ánh mắt…
- Dùng test: Khi tiến hành làm test, các bộ tâm lý học đường chỉ được làm test chohọc sinh trong khuôn khổ kiến thức của mình đã được đào tạo, thực tập và giám sát
Trong điều kiện không thể tiến hành tự làm test cho học sinh, cán bộ tâm lý
Trang 19học đường có thể giới thiệu học sinh đến những cơ sở tin cậy Tuy nhiên, cán bộtâm lý học đường cần phải nắm được những thông số cơ bản về test như độ tin cậy,
độ ứng nghiệm, chuẩn của test…
- Thu thập dữ liệu qua giáo viên, cha mẹ, bạn bè của thân chủ
Kết hợp các cách thức trên để đánh giá chung về học sinh: Lịch sử gia đình(thông qua vẽ cây gia đình), Sự phát triển của bản thân (vẽ giai đoạn phát triểntrong cuộc đời), Mối quan hệ (người có ảnh hưởng tốt, người có ảnh hưởng khôngtốt, nguồn tình cảm hỗ trợ…), Cách nhìn nhận về cuộc sống (quan điểm, triết lý,…),Tình trạng hiện nay (nhận thức, tình cảm, hành vi…), Yếu tố dân tộc, văn hóa…Tình trạng sức khỏe (sử dụng thuốc, nghiện ngập…) hoặc đánh giá những đặc điểmtâm lý cụ thể như: năng lực,tính cách, hứng thú,điểm mạnh, điểm yếu, mức độ khókhăn tâm lý…
d) Nhóm kỹ năng can thiệp sâu
• Kĩ năng can thiệp: Có nhiều vấn đề không chỉ nằm trong bản thân cá nhân mà
nguyên do từ phía cộng đồng, gia đình, nhà trường, bạn bè hoặc những cá nhânkhác (mô hình sinh thái – xã hội) Cần thiết phải quan tâm đến môi trường và những
hệ thống xung quanh thay vì chỉ tập trung vào một mình cá nhân thân chủ Chính vìvậy muốn trợ giúp hiệu quả thì nhà chăm sóc tâm lý (hỗ trợ tâm lý) không chỉ làmviệc trực tiếp với thân chủ mà còn làm việc với giáo viên, gia đình và cộng đồng đểphát triển, thực thi, giám sát và đánh giá những can thiệp đối với thân chủ; tạo môitrường thuận lợi cho việc học tập và phát triển của thân chủ
Kỹ năng can thiệp là sự vận dụng tri thức, kinh nghiệm để xây dựng và triển khai những kế hoạch trợ giúp kịp thời, phù hợp với từng tình huống chăm sóc tâm
lý (hỗ trợ tâm lý), giúp học sinh có cuộc sống tâm lý cân bằng và ổn định
Mục đích của kỹ năng: đem lại môi trường phát triển tốt nhất cho thân chủ Các biểu hiện/thao tác tiến hành kỹ năng:
- Lập kế hoạch can thiệp cụ thể, phù hợp với vấn đề và hoàn cảnh của thân chủ: Xácđịnh mục tiêu, kết quả mong muốn, lựa chọn các biện pháp can thiệp thích hợp vàđoán trước các trở ngại có thể
- Tiến hành can thiệp kịp thời và hiệu quả theo mục tiêu
- Theo dõi, giám sát can thiệp
- Đánh giá kết quả can thiệp và điều chỉnh: đối chiếu kết quả với mục tiêu đề ra, trên
Trang 20cơ sở đó điều chỉnh các can thiệp cũ hoặc đề ra các can thiệp mới
- Can thiệp có thể được tiến hành theo bốn giai đoạn:
+ Giai đoạn 1 – gắn kết với những người quan trọng nhất: thân chủ, người chăm sóc,
họ hang, các tổ chức chính, các cơ quan/ tổ chức cung cấp dịch vụ khác
+ Giai đoạn 2 – hiểu được và thống nhất về việc thay đổi và những dạng thay đổi cần
có
+ Giai đoạn 3 – nắm được và cam kết kết hành động vì những mục tiêu thay đổi đã đề
ra
+ Giai đoạn 4 – rà soát và giám sát quá trình thay đổi và tính bền vững của thay đổi
trong tương lai
Các bước can thiệp:
- Bước 1: Thu thập dữ liệu, lập kế hoạch
- Bước 2: Triển khai can thiệp
- Bước 3: Theo dõi, giám sát can thiệp
- Bước 4: Đánh giá kết quả và điều chỉnh
• Kĩ năng tư vấn: Kỹ năng thiết lập mối quan hệ trong hỗ trợ tâm lý cho học sinh, Kỹ
năng hỏi, Kỹ năng quan sát, Kỹ năng lắng nghe, Kỹ năng thấu hiểu, Kỹ năng đốiđầu, Kỹ năng đánh giá và thiết lập mục tiêu trong chăm sóc tâm lý, Kỹ năng tìmkiếm giải pháp trong chăm sóc tâm lý
Quy trình hình thành kỹ năng chăm sóc tâm lý (hỗ trợ tâm lý) của giáo viên
Quy trình hình thành kỹ năng chăm sóc tâm lý (hỗ trợ tâm lý) của cán bộchăm sóc tâm lý (hỗ trợ tâm lý) học đường đi từ hình thành nhận thức về nội dung,mục đích, cách thức thực hiện kỹ năng tới việc quan sát và làm thử, cuối cùng làluyện tập để tiến hành hành động theo đúng yêu cầu nhằm đạt được mục đích đề ra.Bao gồm các bước sau:
Bước 1: Nắm vững nội dung, mục đích, cách thức thực hiện kỹ năng
Kỹ năng thiết lập mối quan hệ trong hỗ trợ tâm lý cho học sinh, Kỹ năng hỏi,
Kỹ năng quan sát, Kỹ năng lắng nghe, Kỹ năng thấu hiểu, Kỹ năng đối đầu, Kỹ
Trang 21năng đánh giá và thiết lập mục tiêu trong chăm sóc tâm lý, Kỹ năng tìm kiếm giảipháp trong chăm sóc tâm lý
• Kỹ năng thiết lập mối quan hệ
Chăm sóc tâm lý (hỗ trợ tâm lý) là một hoạt động trợ giúp, chủ yếu dựa trên
sự tương tác giữa nhà chăm sóc tâm lý (hỗ trợ tâm lý) và thân chủ chính vì vậytrong chăm sóc tâm lý (hỗ trợ tâm lý) thiết lập mối quan hệ tốt với thân chủ là vôcùng quan trọng, quyết định phần lớn đến hiệu quả chăm sóc tâm lý (hỗ trợ tâm lý).Chỉ khi nhà chăm sóc tâm lý (hỗ trợ tâm lý) thiết lập được mối quan hệ tốt đẹp vớithân chủ mới có thể gây ảnh hưởng và tạo động cơ cho thân chủ làm nên nhữngthay đổi tích cực trong cuộc sống của họ
Nhà chăm sóc tâm lý thường sử dụng kỹ năng này trong giai đoạn đầu củaquá trình chăm sóc tâm lý (hỗ trợ tâm lý), đó là những thời điểm nhà chăm sóc tâm
lý (hỗ trợ tâm lý) và thân chủ có sự tiếp xúc đầu tiên Để làm được điều này, tất cảđiệu bộ, cử chỉ và những hành vi ngôn ngữ và phi ngôn ngữ của nhà chăm sóc tâm
lý (hỗ trợ tâm lý) có vai trò rất quan trọng trong việc xây dựng niềm tin và sự hợptác của thân chủ
Từ những phân tích trên chúng tôi quan niệm:
Kỹ năng thiết lập mối quan hệ trong chăm sóc tâm lý (hỗ trợ tâm lý) là sựvận dụng những tri thức, kinh nghiệm, phẩm chất nghề nghiệp làm cho thân chủcảm thấy tin tưởng, muốn hợp tác và đón nhận sự trợ giúp của nhà chăm sóc tâm lý(hỗ trợ tâm lý) trong việc giải quyết vấn đề của họ
Mục đích của kỹ năng thiết lập mối quan hệ: thiết lập mối quan hệ trong
chăm sóc tâm lý (hỗ trợ tâm lý) nhằm mục đích tạo sự tin tưởng ở thân chủ đối vớinhà chăm sóc tâm lý (hỗ trợ tâm lý), trên cơ sở đó có được sự hợp tác của họ để tiếnhành chăm sóc tâm lý (hỗ trợ tâm lý) một cách thuận lợi
Các biểu hiện/thao tác tiến hành kỹ năng thiết lập mối quan hệ:
- Tạo bầu không khí thân thiện, cởi mở: Dáng điệu luôn luôn cởi mở, chân thành,thân thiện tạo cho thân chủ cảm giác tin cậy và an toàn khi tiếp xúc Sử dụng ánhmắt và các động tác cơ thể để khuyến khích thân chủ trò chuyện, chia sẻ
- Giải thích một cách rõ ràng cho thân chủ hiểu về mục đích và nguyên tắc chăm sóc tâm
lý (hỗ trợ tâm lý) (đặc biệt là nguyên tắc đảm bảo tính bí mật thông tin)
- Sẵn sàng lắng nghe và chấp nhận thân chủ vô điều kiện: không phê phán, lên án hay
Trang 22phản bác thân chủ khi họ nói quan điểm, hành vi, suy nghĩ khác thường.
- Cảm thông, chia sẻ, và tôn trọng thân chủ: quan tâm ddeens cảm giác của thân chủkhi làm việc với nhà chăm sóc tâm lý (hỗ trợ tâm lý)
• Kỹ năng hỏi:
Kỹ năng hỏi trong chăm sóc tâm lý (hỗ trợ tâm lý) là sự vận dụng tri thức, kinh nghiệm vào hành vi sử dụng câu hỏi hợp lý hướng tới cảm xúc, suy nghĩ và hành vi của đối tượng, thái độ khích lệ họ chia sẻ nhằm khám phá thông tin, đồng thời giúp họ tự nhận thức về bản thân và hoàn cảnh để thay đổi.
Mục đích của kỹ năng hỏi: hỏi để khai thác thông tin liên quan đến vấn đề
của thân chủ, để tạo sự tương tác tích cực trong chăm sóc tâm lý (hỗ trợ tâm lý), đểgiúp thân chủ tự nhận thức được rõ hơn về bản thân và hoàn cảnh để thay đổi
Các biểu hiện/ thao tác tiến hành kỹ năng hỏi:
- Biết cách đặt câu hỏi
- Định hướng nội dung hỏi:
- Có thái độ/ hành vi khích lệ trong khi hỏi: biết làm chủ tiến trình hỏi: Xác định thờiđiểm hỏi, tần xuất hỏi phù hợp Không hối thúc, không vội vàng Không dẫn dắtthân chủ theo ý kiến chủ quan của mình
Kỹ năng quan sát là sự vận dụng tri thức, kinh nghiệm nghề nghiệp để thu thập các thông tin cần thiết trong quá trình chăm sóc tâm lý (hỗ trợ tâm lý).
Mục đích của kỹ năng quan sát: Quan sát nhằm đo lường và nhận định chính
xác tâm trạng, tình cảm của thân chủ giúp quá trình chăm sóc tâm lý (hỗ trợ tâm lý)đạt hiệu quả hơn
Các biểu hiện/ thao tác tiến hành kỹ năng quan sát:
- Xác định rõ mục đích, nội dụng quan sát: Dáng vẻ tổng quát, hành vi, cách nóichuyện, ngôn ngữ được sử dụng, tâm trạng và cảm xúc, sự thống nhất giữa lời nói
Trang 23và biểu hiện của nét mặt, cử chỉ.
- Tập trung chú ý khi quan sát và quan sát liên tục
- Điều chỉnh ánh mắt phù hợp với tình huống chăm sóc tâm lý (hỗ trợ tâm lý) khiquan sát
Trong khi quan sát cần chú ý: Theo dõi những biểu hiện trên mặt, động tácchân tay, tư thế và điệu bộ của thân chủ, “ngôn ngữ thân thể”… Phong cách củathân chủ cởi mở hay khép kín; cách đứng ngồi thoải mái hay gò bó; cử chỉ có tựnhiên không; nét mặt bình thường hay có vẻ đặc biệt; ánh mắt có chú ý hay lơ lànhìn xuống; Cách ăn mặc bình thường hay kỹ dị, khác người… Ghi chú những sựkhác nhau giữa ngôn ngữ bằng lời với ngôn ngữ không bằng lời, sự khác nhau giữanhững điều đã nói ra và ý nghĩa của nó: liệu ngôn ngữ thân thể có trái ngược với lờinói hay không?
Như vậy khi quan sát cần nắm được:
- Dáng vẻ tổng quát -> biểu lộ bên ngoài với ý muốn bên trong Cần chú ý tránh ápđặt thành kiến và những khuôn mẫu khi diễn giải dáng vẻ tổng quát của thân chủ
- Quan sát hành vi -> cung cấp dẫn luận về trạng thái tình cảm hiện thời của thân chủ.Tuy nhiên cần thận trọng trong việc đánh giá tinh thần qua quan sát hành vi bởi vìthân chủ thường biết cách giấu các cảm nghĩ của mình
- Tâm trạng và cảm xúc
- Lời nói và ngôn ngữ: quan sát thấy điều gì được nói ra, nói như thế nào, ngôn ngữđược sử dụng Điều được nói ra cho chúng ta biết thân chủ đang nghĩ gì, cung cấpthông tin về thế giới riêng tư của họ Thông tin này cần thiết đề nhà chăm sóc tâm lý(hỗ trợ tâm lý) lựa chọn những chiến lược chăm sóc tâm lý (hỗ trợ tâm lý) thíchhợp Ngôn ngữ thân chủ sử dụng thể hiện năng lực của họ trong việc lập luận và cóthể diễn đạt ý tưởng rành mạch Thông tin này giúp nhà chăm sóc tâm lý (hỗ trợtâm lý) lựa chọn các chiến lược chăm sóc tâm lý (hỗ trợ tâm lý) cho phù hợp vớinăng lực trí tuệ của thân chủ Nếu một thân chủ dùng “ngôn ngữ đường phố” khinói chuyện, như sử dụng tiếng long thông dụng trong nhóm bạn cùng trang lứa Nhàchăm sóc tâm lý (hỗ trợ tâm lý) cần học nghĩa của những từ long này để có thể hiểu
và nói bằng ngôn ngữ của họ
• Kỹ năng lắng nghe
Lắng nghe là sự tập trung để nghe và hiểu người đối thoại với mình Nghe
Trang 24tích cự không chỉ bằng tai mà bằng tất cả các giác quan, có sự động não, phân tíchcác thông tin để đặt câu hỏi, phản ánh lại, phản ánh cảm xúc và khuyến khích Lắngnghe tích cực được thể hiện trong quá trình chăm sóc tâm lý (hỗ trợ tâm lý) là lấyngười nghe làm trung tâm.
Sự cần thiết phải lắng nghe khi tiếp xúc với thân chủ: lắng nghe giúp ngườinghe thu thập được nhiều thông tin, hiểu được vấn đề của thân chủ; Lắng nghe giúpngười nghe hiểu được tâm trạng, cảm xúc của thân chủ thông qua nội dung các câuchuyện và những thông tin mà thân chủ đang trình bày; Hỗ trợ đắc lực nhằm tìm ranguyên nhânđích thực, động cơ, nhu cầu của thân chủ; Giúp thân chủ cảm nhận sựquan tâm, sự đồng cảm, sự tôn trọng của người nghe và thân chủ sẵn sàng cung cấpthông tin; Tăng cường mối quan hệ hợp tác giữa chăm sóc tâm lý (hỗ trợ tâm lý)viên làm việc trực tiếp với thân chủ; Lắng nghe là công cụ đắc lực cho hoạt độngphỏng vấn và chăm sóc tâm lý (hỗ trợ tâm lý); Tạo bầu không khí thân thiện, cởi
mở cho hoạt động giao tiếp
Vì vậy, nhà tham vẫn hãy “lắng nghe” để cảm nhận không chỉ âm thanh màcòn cả cảm xúc, suy nghĩ, ý kiến, mong đợi, niềm tin và cảm giác của thân chủ đểthực sự thấu hiểu vấn đề của thân chủ đang cần gì ở chúng ta
Từ những phân tích trên chúng tôi cho rằng:
Kỹ năng lắng nghe trong chăm sóc tâm lý (hỗ trợ tâm lý): là sự vận dụng tri thức, kinh nghiệm vào hành vi quan sát, chú ý cao độ và thể hiện thái độ tôn trọng nhằm hiểu biết cảm xúc, suy nghĩ và vấn đề của đối tượng, đồng thời giúp họ nhận biết đang được quan tâm và chia sẻ.
Mục đích của kỹ năng lắng nghe: nhằm giúp nhà chăm sóc tâm lý (hỗ trợ
tâm lý) thu thập được những thông tin cần thiets cho quá trình chăm sóc tâm lý (hỗtrợ tâm lý); tạo lập mối quan hệ hợp tác tích cực với thân chủ
Các biểu hiện/ thao tác tiến hành kỹ năng lắng nghe:
- Tập trung chú ý tối đa vào những gì thân chủ nói: im lặng để nghe, không ngắt lời,không phản bác, không suy diễn hay dự đoán, không làm việc khác trong khi nghe,
- Quan sát và nhận biết được hành vi, cử chỉ, cảm xúc của thân chủ và giải nghĩachính xác những hành vi không lời của đối tượng
- Phản hổi: đưa ra những phản hổi phù hợp về nội dung thân chủ đã trình bày vànhững cảm xúc của họ; đặt câu hỏi để làm rõ hoặc gợi mở cho thân chủ tiếp tụctrình bày; nhận mạnh hay mở rộng những điều thân chủ nói
Trang 25- Khuyến khích: sử dụng những đáp ứng không lời để thể hiện sự quan tâm vàkhuyến khích thân chủ như: tiếp xúc bằng mắt và có những động tác đáp ứng thíchhợp với thân chủ (gật đầu, hơi ngả người về phía thân chủ…)
Lắng nghe tích cực:
Lắng nghe tích cực là nghe có kỹ thuật, không chỉ nghe bằng tai mà bằng cảcác giác quan khác để hiểu thân chủ và giúp thân chủ hiểu mình hơn
Một số kỹ thuật lắng nghe tích cực:
- Bắt đầu bằng gợi chuyện
- Nghe thân chủ trình bày và giữ im lặng đến mức cần thiết
- Sử dụng các câu hỏi, sự tóm tắt các thông tin để làm sáng tỏ ý nghĩ, tâm trạng,thông tin mà thân chủ đang trình bày
- Nhìn vào thân chủ nhưng sử dụng giai tiếp không lời để bày tỏ sự thân thiện và cảmgiác cởi mở, tin cậy; tỏ sự thấu cảm, hiểu những gì người khác nói thông qua cáchphản hồi, thí dụ: sử dụng từ “thế à”, “có phải như vậy không…”, gật đầu, dướn mắt,thay đổi cường độ, nhịp độ giọng nói…
Lắng nghe không phải là một việc đơn giản, trong khi chúng ta luôn làm việcnày nhưng chúng ta thường không lắng nghe một cách có hiệu quả và vì thế bỏ lỡnhững gì đã được nói
Để lắng nghe hiệu quả yêu cầu nhà chăm sóc tâm lý (hỗ trợ tâm lý) phải:
- Kiên trì nghe thân chủ nói và biểu lộ hết ý nghĩa, cảm tưởng Kiềm chế những cảmgiác tiêu cực không tranh luận, không định kiến; phán xét tức thời, không ngắt lời.Luôn lắng nghe những gì thân chủ đang cố gắng nói thân chủ thường kể cho chúng
ta rất ít về một vấn d dề nào đó Nếu như chúng ta bằng phản ứng của mình làmthân chủ sợ hay tỏ ra thiếu quan tâm thì thân chủ thường sẽ quyết định là không kểthêm gì về vấn để đó nữa
- Sẵn sàng nghe và nhìn nhận những thông tin tiêu cực và không phủ nhận hoặc đánhgiá thấp những gì thân chủ đang cố gắng nói, mặc dù điều đó có vẻ không quantrọng theo quan điểm của chăm sóc tâm lý (hỗ trợ tâm lý) viên
- Im lặng đôi khi tỏ ra rất thích hợp và có thể trở thành phương tiện hữu hiệu khi giaotiếp để khai thác thông tin Thông thường thân chủ sẽ phá vỡ im lặng bằng việc đưa
ra những thông tin hoặc nội dung quan trọng Im lặng làm cho chăm sóc tâm lý (hỗtrợ tâm lý) viên có thời gian để suy nghĩ và lên kế hoạch cho câu hỏi hoặc câu nóitiếp theo
Trang 26- Tôn trọng thân chủ và không làm mất tự tin của họ Nếu trong suy nghĩ của thânchủ có điều gì không đúng thì phải giải thích rõ cho họ vì sao điều đó là khôngđúng, đồng thời gợi ý để họ tìm ra cách nghĩ đúng đắn.
- Sự quan tâm cũng được thể hiện qua những cử chỉ đáp ứng về cơ thể Trước hết cầntránh cản trở sự tập trung tư tưởng của thân chủ bằng những cử chỉ không liên quantới những điều đang được nói, và cần có những cử chỉ, tư thế có tính đáp ứng trựctiếp với những điều thân chủ đang nói
- Hãy nhớ rằng chúng ta phải làm việc cùng với thân chủ chứ không chống lại họ.Điều này đòi hỏi thời gian và sự tin cậy
- Hãy cho thân chủ thấy là chăm sóc tâm lý (hỗ trợ tâm lý) viên không trách cứ gì vềnhững lỗi lầm họ đã mắc phải Cũng cho họ thấy rằng chúng ta hiểu rằng việc họnói về những vấn đề này là không phải dễ dàng gì
- Có thái độ tích cực chứ không phải kiểm soát thân chủ
Tóm lại, để lắng nghe thấu cảm, nhà chăm sóc tâm lý (hỗ trợ tâm lý) phảihòa hợp và chia sẻ Điều quan trọng nhất là từng bước hòa mình vào câu chuyệncủa thân chủ Chú ý lắng nghe bằng cách sử dụng các biểu hiện không lời như gậtđầu hay ánh mắt, hoặc hơi ngả người về phía thân chủ, hoặc dùng các câu hỏi đểgợi ý hoặc khuyến khíc họ tiếp tục câu chuyện Nên nhìn thẳng vào mắt thân chủ,không để lộ cảm xúc của bản thân Không nên ngắt lời thân chủ khi họ đang nói haygiải thích Đồng thời không nên phán xét hay bình luận gì mà chỉ nên lắng nghe mộtcách cởi mở
• Kỹ năng thấu hiểu
Carl Rogers mô tả thấu hiểu như là sự cảm nhận thế giới bên trong của thânchủ một cách chính xác, hiểu cảm xúc của họ như thể của mình Ông xem thấu hiểuvừa là kỹ năng, vừa là phẩm chất, thái độ và coi đó là yếu tố không thể thiếu được ởnhà chăm sóc tâm lý (hỗ trợ tâm lý) và là nền tảng cho mối quan hệ hợp tác hướngtới chia sẻ và khai phá tiềm năng của thân chủ
Tác giả R.F Drymond (1949) cho rằng, thấu hiểu là khả năng cảm nhận và
mô tả lại những suy nghĩ, cảm xúc của người kia trên cơ sở đặt mình vào họ để nhìnnhận thế giới theo lăng kính của họ
Như vậy, thấu hiểu vừa là thái độ, vừa là phẩm chất, và vừa là một kỹ năngquan trọng của nhà chăm sóc tâm lý (hỗ trợ tâm lý) Thấu hiểu là khả năng cảm
Trang 27nhận và hiểu chính xác những cảm xúc suy nghĩ, niềm tin của thân chủ, đồng thơibiểu hiện đáp ứng với tâm trạng cảm xúc và suy nghĩ đó.
Cần phân biệt thấu hiểu và thông cảm Thông cảm ám chỉ khả năng chia sẻ
tự nhiên ở con người khi ai đó rơi vào hoàn cảnh khó khăn Như vậy, thông cảmđược xem như bản năng tự nhiên ở con người và ai cũng có thể làm được Còn thấuhiểu, như những gì đã phân tích trên, là một hoạt động tâm lý tích cực cần phải quahọc hỏi, rèn luyện và tích lũy để trở thành kỹ năng
Biểu hiện đầu tiên của thấu hiểu đó là tâm thế chú ý của nhà chăm sóc tâm lý(hỗ trợ tâm lý) đối với những cảm xúc – dù hiện hữu hay ẩn giấu đằng sau nhữngcâu nói, cách ứng xử của thân chủ Thái độ quan tâm lắng nghe đầy thấu hiểu củanhà chăm sóc tâm lý (hỗ trợ tâm lý) sẽ tạo nên một môi trường an toàn để thân chủchia sẻ những khó khăn, vướng mắc Thấu hiểu còn được thể hiện ở khả năng hòacùng với đối tượng để hiểu cảm xúc của họ, hiểu họ như một cá nhân với những cátính độc đáo, những quan điểm của riêng họ Đối tượng trong chăm sóc tâm lý (hỗtrợ tâm lý) thường là những người đang có vấn đề về tâm lý, do vậy, việc họ cónhững hành vi, suy nghĩ hay tâm trạng bất thường cùng với cảm xúc tiêu cực làkhông tránh khỏi Khi đó, họ rất cần có được sự đồng cảm và chia sẻ của nhà chămsóc tâm lý (hỗ trợ tâm lý) Ở đây nhà chăm sóc tâm lý (hỗ trợ tâm lý) không chỉcảm nhận được cảm xúc của thân chủ mà còn phải biết cách thể hiện chúng thànhhành vi ứng xử cũng như lời nói, khi đó mới được coi là thấu hiểu thực sự Việcchuyển tải lại cho thân chủ những hiểu biết về cảm xúc, suy nghĩ và hành vi của họkhông những giúp thân chủ cảm nhận được sự tôn trọng và chia sẻ làm nền tảng cholòng tin, sự tự tin được thiết lập mà nó còn là dịp để họ nhìn lại những cảm xúc, suynghĩ trong chính họ
Từ những phân tích trên chúng tôi quan niệm rằng:
Kỹ năng thấu hiểu trong chăm sóc tâm lý (hỗ trợ tâm lý) là sự vận dụng tri thức, kinh nghiệm vào hành vi thể hiện sự cảm nhận sâu sắc và chấp nhận cảm xúc, suy nghĩ của thân chủ nhằm tạo lập mối quan hệ trợ giúp có hiệu quả trong chăm sóc tâm lý (hỗ trợ tâm lý).
Mục đích của kỹ năng thấu hiểu: nhằm tạo niềm tin và cảm giác an toàn cho
thân chủ, trên cơ sở đó thiết lập mối quan hệ hợp tác tích cực trong quá trình trợgiúp thân chủ giải quyết vấn đề
Trang 28Các biểu hiện/ thao tác tiến hành kỹ năng thấu hiểu:
- Cảm nhận và hiểu được suy nghĩ, cảm xúc của thân chủ: đặt mình vào hoàn cảnhcủa thân chủ để cảm nhận những gì họ đang trải qua
- Chấp nhận quan điểm, suy nghĩ, cảm xúc của thân chủ: lắng nghe, ghi nhận và tôntrọng những giá trị, niềm tin, suy nghĩ của thân chủ Không phê phán, đánh giá quanđiểm, suy nghĩ, cảm xúc không phù hợp với quan điểm cá nhân nhà chăm sóc tâm
lý (hỗ trợ tâm lý) hay xã hội
- Phản hồi lại những suy nghĩ, cảm xúc của thân chủ: nhắc lại và làm rõ những suynghĩ, cảm xúc của thân chủ
- Kiểm soát những trải nghiệm và quyền lực cá nhân để đảm bảo tính khách quan
• Kỹ năng phản hồi
Phản hồi trong chăm sóc tâm lý (hỗ trợ tâm lý) là truyền tải lại những cảm xúc,suy nghĩ, hành vi của thân chủ nhằm kiểm tra thông tin và thể hiện sự aun tâm, đồngthời khích lệ thân chủ nhận thức về cảm xúc, suy nghĩ của bản thân để thay đổi
Trong chăm sóc tâm lý (hỗ trợ tâm lý) thường có hai hình thức phản hồi:phản hồi nội dung và phản hồi cảm xúc
Phản hồi nội dung
Trước hết, nói tới phản hồi nội dung là nói tới cách thức sử dụng ngôn ngữ
để truyền tải tới thân chủ những gì đã nghe được từ họ Theo C.L.Kleinke (1994)phản hồi nội dung là nhắc lại điều thân chủ nói theo cách riêng của mình để thânchủ nhận biết họ đang được hiểu B.K.Okun (1977) quan tâm nhiều hơn trong phảnhồi vê việc làm cho thân chủ thấy được chúng ta hiểu những mong muốn, nhữngcảm xúc và quan điểm của họ S Cormier (1999) cũng chỉ ra rằng, sự nhắc lại cầnđược diễn đạt một cách ngắn gọn, chọn lọc những thông tin mang tính nhận thức,phản ánh suy nghĩ của thân chủ Để làm được điều này, cần chú ý:
- Chú ý và nhớ lại những thông điệp thân chủ đã trình bày
- Xác định nội dung thông điệp quan trọng
- Lựa chọn câu mở đầu thích hợp, ví dụ như: “Anh/chị cho rằng…”
- Sử dụng từ gần gũi để mô tả chính xác điều đối tượng nhắc nhở
- Lắng nghe và quan sát để kiểm tra lại hiệu quả của diễn đạt lại
- Đưa ra lời khuyên, cung cấp thông tin về vấn đề học sinh đang vướng mắc;
- Sử dụng tư duy sáng tạo để tìm kiềm các lựa chọn khác nhau (chính là giúp họcsinh có nhiều cách nhìn nhận về vấn đề);
- Tìm kiếm cách lý giải thay thế (làm cho học sinh có được những cách nhìn nhận
Trang 29khác về những suy nghĩ, ấn tượng đối với các sự kiện, cách thức đánh giá tiêu cựcban đầu)
Như vậy, phản hồi nội dung như là sự nhắc lại bằng ngôn ngữ Tuy nhiên, sựchuyển tải này cần đảm bảo sự chính xác những suy nghĩ, quan điểm của thân chủ
đã trình bày, chứ không phải là sự suy diễn, phỏng đoán theo ý nghĩ chủ quan củangười chăm sóc tâm lý (hỗ trợ tâm lý) Nó được thực hiện qua việc diễn đạt lại mộtcách ngắn gọn, bao hàm những chi tiết quan trọng và phần lớn bằng những từ thânchủ sử dụng hay từ đồng nghĩa của chính nhà chăm sóc tâm lý (hỗ trợ tâm lý) vớithái độ tôn trọng và thấu hiểu
• Phản hồi cảm xúc
Phản hồi cảm xúc là mô tả trạng thái cảm xúc của đối tượng được nhận thấytrong quá trình trao đổi Để phản hồi cảm xúc trước tiên cần quan tâm tới nhữngcảm xúc được đối tượng thể hiện trong câu nói, trong hành vi, cử chỉ Nhưng thực
tế, cảm xúc lại là điều hay bị người ta ít chú ý tới hơn so với sự kiện vấn đề Dovậy, việc định hướng chú ý đầu tiên tới tâm trạng của đối tượng thường không dễdàng Phản hồi cảm xúc là hành vi tương đối khó Nó không chỉ đòi hỏi sự nhạycảm với cảm xúc được ẩn dấu trong câu nói, hành vi, cử chỉ của đối tượng, mà nócòn ở khả năng lựa chọn và sử dụng ngôn từ chính xác để thể hiện và đặc biệt cần
có thái độ phù hợp tương ứng đi cùng cảm xúc được đề cập Các bước để đưa raphản hồi được xem như kỹ thuật phản hồi được các tcs giả quan tâm S.Commier(1999) cho rằng quy trình phản hồi cảm xúc đi từ xác định cảm xúc của đối tượng,lựa chọn từ ngữ để chuyển tải lại cảm xúc và quan sát để kiểm tra những phản ứngcủa đối tượng sau phản hồi Tác giả N.Richard (2003) cũng có quan điểm đồng nhấtrằng trước hết cần xác định rõ cảm xúc và sau đó mới phản ánh lại cảm xúc đó.Phản hồi cảm xúc là cách thể hiện sự ghi nhận và thái độ cố gắng để hiểu suy nghĩ
và cảm xúc của đối tượng Do vậy, không nên có những phê phán, bác bỏ hay tảng
lờ cảm xúc đang diễn ra trong họ Việc sử dụng câu hỏi như một cách phản hồinhằm giúp đối tượng khám phá những suy nghĩ bên trong liên quan tới cảm xúc của
họ trong chăm sóc tâm lý (hỗ trợ tâm lý) là cần thiết
Như vậy qua nghiên cứu các quan điểm trên về phản hồi trong chăm sóc tâm
lý (hỗ trợ tâm lý) của các tác giả, chúng tôi rút ra kết luận sau:
Kỹ năng phản hồi trong chăm sóc tâm lý (hỗ trợ tâm lý) là sự vận dụng
Trang 30những tri thức, kinh nghiệm vào việc truyền tải lại suy nghĩ, hành vi cũng như cảm xúc của đối tượng nhằm kiểm tra thông điệp và thể hiện thái độ quan tâm, khích lệ
sự nhận thức về cảm xúc, suy nghĩ của họ.
Mục đích của kỹ năng phản hồi: nhằm kiểm tra thông tin và thể hiện sự quan
tâm, đồng cảm với thân chủ đồng thời khích lệ thân chủ nhận thức về cảm xúc, suynghĩ của bản thân để thay đổi
Các biểu hiện/ thao tác tiến hành kỹ năng phản hồi:
- Chú ý lắng nghe, xác định và ghi nhận những quan điểm, suy nghĩ, cảm xúc củathân chủ được thể hiện qua thái độ, hành vi hay lời nói của họ
- Lựa chọn và nhắc lại những quan điểm, suy nghĩ, cảm xúc của thân chủ, nhưngkhông làm thay đổi ý nghĩa của nó:
- Lắng nghe và quan sát để kiểm tra lại hiệu quả của việc phản hồi
- Trao đổi và tóm lược lại với thân chủ về quan điểm, suy nghĩ, cảm xúc của họ: tómtắt lại những điều họ chia sẻ không phải ra lời khuyên và giải pháp
Như vậy, kỹ năng thiết lập mối quan hệ, lắng nghe, hỏi, quan sát, phản hồi vàthấu hiểu được xem như là những kỹ năng chăm sóc tâm lý (hỗ trợ tâm lý) cơ bản.Những phân tích trên cho thấy, các kỹ năng này có mối quan hệ rất chặt chẽ vớinhau và ảnh hưởng qua lại lẫn nhau trong chăm sóc tâm lý (hỗ trợ tâm lý) Kỹ nănglắng nghe vừa là biểu hiện vừa là điều kiện để thấu hiểu được diễn ra Ngược lại,việc hiểu rõ được tâm trạng và những khó khăn thân chủ đang gặp phải sẽ tạo nênđộng cơ cho nhà chăm sóc tâm lý (hỗ trợ tâm lý) tập trung lắng nghe với thái độ tôntrọng Lắng nghe còn là điều kiện để thực hiện sự phản hồi và hỏi có hiệu quả Nếukhông lắng nghe, nhà chăm sóc tâm lý (hỗ trợ tâm lý) sẽ không đưa ra được phảnhồi đúng đắn Kỹ năng lắng nghe giúp cho sự định hướng thông tin khi hỏi tốt hơn.Phản hồi là một cách giúp cho nhà chăm sóc tâm lý (hỗ trợ tâm lý) kiểm định lạinhững thông tin thu nhận được từ những câu trả lời của thân chủ Việc định hướngthông tin hỏi đúng đắn tạo nên nền tảng cho sự thể hiện thấu hiểu thân chủ và vấn
đề của họ Kỹ năng phản hồi vừa được xem là một kỹ năng độc lập, vừa được coi là
kỹ năng nền tảng cho các kỹ năng lắng nghe, hỏi hay thấu hiểu Hiệu quả của phảnhồi có ảnh hưởng tới kết quả của những kỹ năng lắng nghe, hỏi hay thấu hiểu Kỹnăng thấu hiểu được xem như nền tảng của quá trình tương tác, trong đó có sự thực
Trang 31hiện các kỹ năng thiết lập mối quan hệ, lắng nghe, hỏi, quan sát hay phản hồi.Không có thấu hiểu sẽ không có khả năng tập trung lắng nghe với sự quan sát toàntâm toàn ý Không có thấu hiểu sẽ không có được cách thức hỏi hay phản hồi vớithái độ khích lệ gợi mở và định hướng đúng đắn với những cảm xúc, suy nghĩ trongsâu thẳm của thân chủ.
• Kỹ năng đánh giá và thiết lập mục tiêu
Thông thường có hai cách thức đánh giá học sinh cần trợ giúp là: đánh giáchính thức (sử dụng các trắc nghiệm/test, thang đo …) và đánh giá không chínhthức (phỏng vấn, trò chuyện, quan sát…)
Lý do tiến hành đánh giá học sinh cần trợ giúp là để: có những thông tin cơbản trong việc thiết lập những mục tiêu quan trọng, có ý nghĩa, và cụ thể; giúp họcsinh tìm hiểu thâm về những yếu tố liên quan đến vấn đề của mình; giúp người trợgiúp hiểu được tính độc đáo và duy nhất của mỗi học sinh; giúp nhà chăm sóc tâm
lý phát hiện những nguy cơ; có được những thông tin cơ bản về lịch sử phát triểncủa học sinh; có thông tin về điểm mạnh, điểm yếu của học sinh; giúp học sinh nhận
ra vấn đề quan trọng nhất của mình; tập trung vào vấn đề quan trọng
Các lý do để thiết lập mục tiêu: Sự thay đổi của học sinh chỉ diễn ra khi họcsinh nhận ra vấn đề, thiết lập mục tiêu và cam kết thực hiện mục tiêu Khi học sinhnhận ra mình sẽ bắt đầu từ đâu thì nhà chăm sóc tâm lý cũng sẽ biết mình sẽ trợgiúp cụ thể như thế nào? Điều kiện để xác định kết quả của quá trình trợ giúp Thiếtlập mục tiêu trong toàn bộ quá trình trợ giúp: Xây dựng mối quan hệ trợ giúp, đánhgiá học sinh và cung cấp thông tin, phản hồi và đánh giá, kế hoạch trợ giúp và thiếtlập mục tiêu, hành động can thiệp
Thực chất của kỹ năng thiết lập mục tiêu là: Liệt kê vấn đề, hạn chế vấn đề,
và đào sâu, can thiệp vào một vấn đề cụ thể
• Kỹ năng tìm kiếm giải pháp
Kỹ năng tìm kiếm giải pháp bao gồm bốn tiểu kỹ năng thành phần: (1) đưalời khuyên, (2) cung cấp thông tin, (3) tư duy sáng tạo để tìm kiếm lựa chọn (4) tìmkiếm cách lý giải thay thế
Kỹ năng đưa ra lời khuyên luôn có tính hai mặt, nó không phù hợp vì có thể đặt
chủ thể hỗ trợ tâm lý ở vị trí cao hơn và sẽ thay đổi bản chất của mối quan hệ hỗ trợtâm lý Nó phù hợp khi thúc đẩy suy nghĩ, hành động hướng tới giải quyết vấn đề
Trang 32Đưa ra lời khuyên cho học sinh chỉ có ích trong một số trường hợp: Trongđiều kiện khẩn cấp ví dụ: có hành vi nguy hiểm, sử dụng ma tuý, bị hiếp dâm, lạmdụng tình dục, quan hệ tình dục thiếu bảo vệ Hoặc một số trường hợp: (1) Có kiếnthức chuyên sâu, được đào tạo trong một lĩnh vực cụ thể mà học sinh đang phải đốimặt, (2) Hiểu sâu sắc về lịch sử và cuộc sống riêng tư của học sinh, (3) Có cùng mộttrải nghiệm với học sinh trong mỗi lĩnh vực nào đó…
Không đưa ra lời khuyên đối với những trường hợp: (1) Vi phạm vào giá trị,niềm tin, các giá trị văn hoá, giá trị gia đình của học sinh (2) Những vấn đề quantrọng có tính sống còn của học sinh ví dụ: học sinh có nên đi thi đại học hay ở nhà?(3) Những học sinh có xu hướng phụ thuộc vào người khác (4) Khi học sinh hỏi vềnhững vấn đề mà không dự đoán được kết quả (5) Khi kết quả của lời khuyên sẽ cótác động đến người khác (6) Khi học sinh đã có đủ thông tin và có khả năng giảiquyết vấn đề của mình mà không cần lời khuyên
Cung cấp thông tin: Việc đưa thông tin thêm về một vấn đề cụ thể nào sẽ giúp
học sinh tiếp cận được với mục tiêu của mình (1) Cung cấp những thông tin về dịch vụ
xã hội, (2) Những thông tin về những chủ để cụ thể như sử dụng ma tuý Nhưng chú
ý việc đưa quá nhiều thông tin có khả năng làm cho học sinh choáng ngợp hoặc họcsinh có thể không làm theo những lời khuyên của nhà chăm sóc tâm lý
Có thể sử dụng tư duy sáng tạo để tìm kiếm các lựa chọn khác nhau- chính là
giúp học sinh có nhiều cách nhìn về một vấn đề: Giúp học sinh nhìn rõ rằng vấn đề
có thể được nhìn nhận và lý giải từ những cách nhìn khác nhau Mục tiêu của việctìm kiếm cách lý giải thay thế là việc làm cho học sinh có được những cách nhìnnhận khác về những suy nghĩ, ấn tượng đối với các sự kiện, cách thức đánh giá tiêucực từ ban đầu
Người trợ giúp cầm lưu ý: Sử dụng câu hỏi đóng để giúp học sinh chỉ rađúng vấn đề; tạo ra một không khí thoải mái khi tư duy, có thể để học sinh đưa ranhững ý tưởng buồn cười, mới lạ; nhà chăm sóc tâm lý làm việc như người trợ giúp
và ghi chép lại những ý tưởng đó; sử dụng khiếu "hài hước" để khuyến khích họcsinh; chú ý rằng những giải pháp cuối cùng phải đáp ứng tiêu chí: Thực tế, và chútrọng vào đúng vấn đề
Một tiểu kỹ năng trong kỹ năng tìm kiếm giải pháp là kỹ năng tìm kiếm cách
Trang 33lý giải thay thế: Giúp học sinh nhìn rõ rằng vấn đề có thể được nhìn nhận và lý giải
từ những cách nhìn khác nhau Mục tiêu của việc tìm kiếm cách lý giải thay thế làviệc làm cho học sinh có được những cách nhìn nhận khác về những suy nghĩ, ấntượng đối với các sự kiện, cách thức đánh giá tiêu cực từ ban đầu
Tóm lại, các kỹ năng thiết lập mối quan hệ, lắng nghe, hỏi, quan sát, phảnhồi và thấu hiểu có mối quan hệ chặt chẽ và tác động qua lại lẫn nhau Sự thiếu hụtmột kỹ năng đều làm ảnh hưởng tới chất lượng của kỹ năng kia và toàn bộ quá trìnhchăm sóc tâm lý (hỗ trợ tâm lý) nói chung Ngược lại, sự phối kết hợp giữa chúngtạo nên nền tảng cho mọi hoạt động khác của chăm sóc tâm lý (hỗ trợ tâm lý) đượcdiễn ra một cách hiệu quả
1.2.3. Một số vấn đề lí luận về giáo viên Trung học cơ sở
1.2.3.1 Trường Trung học cơ sở
a Vị trí trường THCS
Tại điều 2: Điều lệ trường Trung học cơ sở, trường Trung học phổ thông vàtrường phổ thông có nhiều cấp học là: “Trường Trung học là cơ sở giáo dục phổthông của hệ thống giáo dục quốc dân Trường có tư cách pháp nhân, có tài khoản
và con dấu riêng.”
Trong hệ thống GD quốc dân, bậc THCS là cầu nối giữa Tiểu học với THPT,
GD THCS nhằm củng cố và phát triển những kết quả của GD Tiểu học tiếp tụchình thành cho học sinh những cơ sở nhân cách của con người Việt Nam xã hội chủnghĩa, có học vấn phổ thông cơ bản, có những hiểu biết cần thiết về kĩ thuật vàhướng nghiệp để có thể tiếp tục học THPT, Trung học chuyên nghiệp, học nghềhoặc đi vào cuộc sống lao động
e) Nhiệm vụ và quyền hạn trường Trung học cơ sở
Tại điều 3: Điều lệ trường Trung học cơ sở, trường Trung học phổ thông vàtrường phổ thông có nhiều cấp học là Trường Trung học có những nhiệm vụ vàquyền hạn sau đây:
- Tổ chức giảng dạy, học tập và các hoạt động giáo dục khác theo mụctiêu, chương trình giáo dục phổ thông dành cho cấp THCS và cấp THPT do Bộtrưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Công khai mục tiêu, nội dung các
Trang 34hoạt động giáo dục, nguồn lực và tài chính, kết quả đánh giá chất lượng giáo dục.
- Quản lý giáo viên, cán bộ, nhân viên theo quy định của pháp luật
- Tuyển sinh và tiếp nhận học sinh; vận động học sinh đến trường;quản lýhọc sinh theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo
- Thực hiện kế hoạch phổ cập giáo dục trong phạm vi được phân công
- Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực cho hoạt động giáo dục Phốihợp với gia đình học sinh, tổ chức và cá nhân trong hoạt động giáo dục
- Quản lý, sử dụng và bảo quản cơ sở vật chất, trang thiết bị theo quy địnhcủa Nhà nước
- Tổ chức cho giáo viên, nhân viên, học sinh tham gia hoạt động xã hội
- Thực hiện các hoạt động về kiểm định chất lượng giáo dục
- Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật
1.2.3.2 Giáo viên Trung học cơ sở
a Khái niệm
Theo Điều 30 trong Điều lệ trường Trung học quy định: Giáo viên trườngTrung học là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường, gồm: Hiệutrưởng, Phó Hiệu trưởng, giáo viên bộ môn, giáo viên làm công tác Đoàn thanhniên Cộng sản Hồ Chí Minh (bí thư, phó bí thư hoặc trợ lý thanh niên, cố vấnĐoàn), giáo viên làm tổng phụ trách Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh(đối với trường Trung học có cấp Tiểu học hoặc cấp THCS), giáo viên làm côngtác chăm sóc tâm lý cho học sinh
f) Nhiệm vụ của giáo viên trường Trung học.
Theo Điều 31 trong Điều lệ trường Trung học quy định
• Giáo viên bộ môn có những nhiệm vụ sau đây:
- Dạy học và giáo dục theo chương trình, kế hoạch giáo dục, kế hoạchdạy học của nhà trường theo chế độ làm việc của giáo viên do Bộ trưởng Bộ Giáodục và Đào tạo quy định; quản lý học sinh trong các hoạt động giáo dục do nhàtrường tổ chức; tham gia các hoạt động của tổ chuyên môn; chịu trách nhiệm vềchất lượng, hiệu quả giáo dục; tham gia nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
- Tham gia công tác phổ cập giáo dục ở địa phương
- Rèn luyện đạo đức, học tập văn hoá, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp
vụ để nâng cao chất lượng, hiệu quả giảng dạy và giáo dục; vận dụng cácphương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo,
Trang 35rèn luyện phương pháp tự học của học sinh.
- Thực hiện Điều lệ nhà trường, thực hiện quyết định của Hiệu trưởng, chịu
sự kiểm tra, đánh giá của Hiệu trưởng và các cấp quản lý giáo dục
- Giữ gìn phẩm chất, danh dự, uy tín của nhà giáo, gương mẫu trước học sinh;thương yêu, tôn trọng học sinh, đối xử công bằng với học sinh, bảo vệ các quyền và lợiích chính đáng của học sinh; đoàn kết, giúp đỡ đồng nghiệp; tạo dựng môi trường họctập và làm việc dân chủ, thân thiện, hợp tác, an toàn và lành mạnh
- Phối hợp với giáo viên chủ nhiệm, các giáo viên khác, gia đình học sinh,Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minhtrong dạy học và giáo dục học sinh
- Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật Giáo viênchủ nhiệm, ngoài các nhiệm vụ quy định tại khoản 1 của Điều này, còn cónhững nhiệm vụ sau đây:
- Xây dựng kế hoạch các hoạt động giáo dục thể hiện rõ mục tiêu, nộidung, phương pháp giáo dục bảo đảm tính khả thi, phù hợp với đặc điểm họcsinh, với hoàn cảnh và điều kiện thực tế nhằm thúc đẩy sự tiến bộ của cả lớp và củatừng học sinh
- Thực hiện các hoạt động giáo dục theo kế hoạch đã xây dựng
- Phối hợp chặt chẽ với gia đình học sinh, với các giáo viên bộ môn, Đoànthanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh,các tổ chức xã hội có liên quan trong việc hỗ trợ, giám sát việc học tập, rèn luyện,hướng nghiệp của học sinh lớp mình chủ nhiệm và góp phần huy động các nguồnlực trong cộng đồng phát triển nhà trường
- Nhận xét, đánh giá và xếp loại học sinh cuối kì và cuối năm học; đề nghịkhen thưởng và kỷ luật học sinh; đề nghị danh sách học sinh được lên lớp thẳng,phải kiểm tra lại, phải rèn luyện thêm về hạnh kiểm trong kì nghỉ hè, phải ở lại lớp;hoàn chỉnh việc ghi sổ điểm và học bạ học sinh
- Báo cáo thường kì hoặc đột xuất về tình hình của lớp với Hiệu trưởng.Giáo viên thỉnh giảng cũng phải thực hiện các nhiệm vụ quy định tại khoản
1 Điều này và các quy định trong hợp đồng thỉnh giảng
• Giáo viên làm công tác Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh là giáoviên Trung học được bồi dưỡng về công tác Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ ChíMinh; có nhiệm vụ tổ chức, quản lý các hoạt động của tổ chức Đoàn trong nhà
Trang 36• Giáo viên làm tổng phụ trách Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh làgiáo viên THCS được bồi dưỡng về công tác Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh;
có nhiệm vụ tổ chức, quản lý các hoạt động của tổ chức Đội trong nhà trường
• Giáo viên làm công tác chăm sóc tâm lý cho học sinh là giáo viên Trunghọc được đào tạo hoặc bồi dưỡng về nghiệp vụ chăm sóc tâm lý; có nhiệm vụ chămsóc tâm lý cho cha mẹ học sinh và học sinh để giúp các em vượt qua những khókhăn gặp phải trong học tập và sinh hoạt
g) Quyền của giáo viên
• Giáo viên có những quyền sau đây:
- Được nhà trường tạo điều kiện để thực hiện nhiệm vụ giảng dạy và giáodục học sinh
- Được hưởng mọi quyền lợi về vật chất, tinh thần và được chăm sóc, bảo vệsức khoẻ theo các chế độ, chính sách quy định đối với nhà giáo
- Được trực tiếp hoặc thông qua các tổ chức tham gia quản lý nhà trường
- Được hưởng lương và phụ cấp (nếu có) khi được cử đi học để nâng caotrình độ chuyên môn, nghiệp vụ theo quy định hiện hành
- Được cử tham gia các lớp bồi dưỡng, hội nghị chuyên đề để nâng cao trình
độ chuyên môn, nghiệp vụ
- Được hợp đồng thỉnh giảng và nghiên cứu khoa học tại các trường và cơ sởgiáo dục khác nếu thực hiện đầy đủ những nhiệm vụ quy định tại Điều 30 của Điều
lệ này và được sự đồng ý của Hiệu trưởng
- Được bảo vệ nhân phẩm, danh dự, an toàn thân thể
- Được hưởng các quyền khác theo quy định của pháp luật
• Giáo viên chủ nhiệm ngoài các quyền quy định tại khoản 1 của Điềunày, còn có những quyền sau đây:
- Được dự các giờ học, hoạt động giáo dục khác của học sinh lớp mình
- Được dự các cuộc họp của Hội đồng khen thưởng và Hội đồng kỷ luật khigiải quyết những vấn đề có liên quan đến học sinh của lớp mình
- Được dự các lớp bồi dưỡng, hội nghị chuyên đề về công tác chủ nhiệm
- Được quyền cho phép cá nhân học sinh nghỉ học không quá 3 ngày liêntục
- Được giảm giờ lên lớp hàng tuần theo quy định khi làm chủ nhiệm lớp
• Giáo viên làm công tác Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, tổng
Trang 37phụ trách Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh được hưởng các chế độ,chính sách theo quy định hiện hành.
• Hiệu trưởng có thể phân công giáo viên làm công tác chăm sóc tâm lýchuyên trách hoặc kiêm nhiệm Giáo viên làm công tác chăm sóc tâm lý được bố tríchỗ làm việc riêng và được vận dụng hưởng các chế độ chính sách hiện hành
h) Yêu cầu đối với giáo viên Trung học
Chuẩn nghề nghiệp GV Trung học cơ sở, GV Trung học phổ thông banhành kèm theo Thông tư số 30/2009/TT-BGDĐT ngày 22 tháng 10 năm 2009của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo gồm 6 tiêu chuẩn (25 tiêu chí) quy định rõ:
• Tiêu chuẩn 1: Phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống:
• Tiêu chuẩn 2: Năng lực tìm hiểu đối tượng và môi trường giáo dục:
- Tìm hiểu đối tượng giáo dục
- Tìm hiểu môi trường giáo dục
• Tiêu chuẩn 3: Năng lực dạy học
- Xây dựng kế hoạch dạy học
- Đảm bảo kiến thức môn học
- Đảm bảo chương trình môn học
- Vận dụng các phương pháp dạy học
- Sử dụng các phương tiện dạy học
- Xây dựng môi trường học tập
- Quản lý hồ sơ dạy học
- Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh
• Tiêu chuẩn 4: Năng lực giáo dục:
- Xây dựng kế hoạch các hoạt động giáo dục
- Giáo dục qua môn học
- Giáo dục qua các hoạt động giáo dục
- Giáo dục qua các hoạt động trong cộng đồng
- Vận dụng các nguyên tắc, phương pháp, hình thức tổ chức GD
- Đánh giá kết quả rèn luyện đạo đức của học sinh
• Tiêu chuẩn 5: Năng lực hoạt động chính trị, xã hội:
Trang 38- Phối hợp với gia đình học sinh và cộng đồng.
- Tham gia hoạt động chính trị, xã hội
• Tiêu chuẩn 6: Năng lực phát triển nghề nghiệp
- Tự đánh giá, tự học và tự rèn luyện
- Phát hiện và giải quyết vấn đề nảy sinh trong thực tiễn giáo dục
1.2.4. Một số đặc điểm tâm, sinh lý của lứa tuổi thiếu niên
Tuổi thiếu niên được bắt đầu từ 11 đến 12 tuổi và kết thúc vào lúc 14-15tuổi Ở Việt Nam lứa tuổi này gần trùng với lứa tuổi trẻ học Trung học cơ sở(THCS) Bởi vậy lứa tuổi thiếu niên còn gọi là tuổi học sinh THCS.Tuy nhiên,trong thực tế, sự dậy thì (bắt đầu bước vào tuổi thiếu niên) có thể không hoàn toàntrùng với việc học sinh vào lớp 6 mà có thể sớm hay muộn hơn
Về thời gian kết thúc tuổi thiếu niên, các chỉ số học sinh thường gắn với sựtrưởng thành cơ thể và sinh dục, còn về phương diện văn hoá xã hội không rõ ràngnhư yếu tố sinh học Ở nhiều nước đang phát triển, trẻ em sớm có cuộc sống tự lập
và phải có trách nhiệm với gia đình, nên thời điểm chấm dứt tuổi thiếu niên sớmhơn so với trẻ ở các nước phát triển
Tuổi thiếu niên có vị trí ý nghĩa đặc biệt trong quá trình phát triển của cả đờingười Điều này được thể hiện ở những đặc điểm sau:
- Thứ nhất: Đây là thời kỳ quá độ từ tuổi thơ sang tuổi trưởng thành, thời kỳ
trẻ ở “ngã ba đường” của sự phát triển Trong đó, có rất nhiều khả năng, nhiềuphương án, nhiều con đường để mỗi trẻ em trở thành một cá nhân Trong thời kỳnày, nếu sự phát triển được định hướng đúng, được tạo thuận lợi thì trẻ em sẽ trởthành cá nhân thành đạt, công dân tốt Ngược lại, nếu không định hướng đúng, bịtác động bởi các yếu tố tiêu cực thì sẽ xuất hiện hàng loạt nguy cơ dẫn trẻ em đếnbên bờ của sự phát triển lệch lạc về nhận thức, thái độ, hành vi và nhân cách
- Thứ hai: Là thời kỳ mà tính xã hội của các em phát triển mạnh mẽ, đặc biệt
trong việc thiết lập các quan hệ bình đẳng với người lớn và bạn ngang hàng, trongviệc lĩnh hội các chuẩn mực và giá trị xã hội, thiết kế tương lai của mình và những
kế hoạch hành động cá nhân tương ứng
- Thứ ba: Trong suốt thời kỳ thiếu niên diễn ra sự cấu tạo lại, cải tổ lại, hình
thành các cấu trúc mới về thể chất, sinh lý về hoạt động, tương tác xã hội và tâm lý,
Trang 39nhân cách Từ đó, hình thành cơ sở nền tảng và vạch chiều hướng cho sự trưởngthành thực thụ của cá nhân.
- Thứ tư: Tuổi thiếu niên là giai đoạn khó khăn, phức tạp và đầy mâu thuẫn
trong quá trình phát triển
Ngay trong các tên gọi của thời kỳ này: thời kỳ “quá độ”, “tuổi bứt phá”,
“tuổi khó khăn”, “tuổi khủng hoảng” … đã nói lên tính phức tạp và quan trọngtrong quá trình phát triển diễn ra trong lứa tuổi thiếu niên
Sự phức tạp được thể hiện qua tính hai mặt của hoàn cảnh phát triển của trẻ.Một mặt có những yếu tố thúc đẩy phát triển tính cách của người lớn Mặt kháchoàn cảnh sống của các em có những yếu tố kìm hãm sự phát triển tính người lớn,phần lớn thời gian các em bận học, ít có nghĩa vụ khác đối với gia đình, nhiều bậccha mẹ quá chăm sóc cho trẻ
Trong quá trình phát triển tuổi thiếu niên thường xuất hiện nhiều mâu thuẫn.Mâu thuẫn ngay trong nhận thức và nhu cầu nội tại của trẻ trong quá trình pháttriển, mâu thuẫn giữa trẻ với người lớn trong quan niệm và cách hành xử của ngườilớn đối với trẻ
1.2.5. Kỹ năng chăm sóc tâm lý cho học sinh của giáo viên Trung
học cơ sở
Hỗ trợ và chăm sóc tâm lý cho học sinh trong trường học là nền tảng thiếtyếu của việc giảng dạy và giáo dục trong trường học, nó còn là một dịch vụ đặc biệttrong trường học hỗ trợ tất cả những ai tham gia vào cuộc sống học đường (họcsinh, sinh viên, phụ huynh, giáo viên, cán bộ nhà trường và những nhà quản lý giáodục ở tất cả các cấp học) Việc hỗ trợ chăm sóc tâm lý tâm lý giúp học sinh giảiquyết những khó khăn về tâm lý, khai thác những điểm mạnh để học sinh có thểtham gia một cách có hiệu quả vào quá trình học tập, giúp học sinh phát triển tốttiềm năng và kỹ năng sống
Trong quá trình dạy học và quá trình học, giáo viên là cầu nối giữa học sinh,gia đình và nhà trường, giúp học sinh có điều kiện phát huy hết khả năng học tập tốtnhất Đồng thời, giáo viên cũng là người hỗ trợ kết nối trường học và cộng đồngthông qua việc đánh giá, giới thiệu và điều phối các dịch vụ giữa trường học và
Trang 40vụ bảo vệ trẻ em, cũng như cần được trang bị đầy đủ về đạo đức nghề nghiệp.
Thực tế đã cho thấy, việc giáo viên hiểu và nắm rõ quy trình và các kỹ năngcần thiết trong việc chăm sóc tâm lý học sinh rất quan trọng Những giáo viên cókiến thức và được trang bị tốt về kỹ năng chăm sóc tâm lý (hỗ trợ tâm lý)/ chăm sóctâm lý tâm lý sẽ có khả năng đáp ứng và thực hiện tốt hơn trong việc giảng dạycũng như các công việc liên quan đến công tác chủ nhiệm lớp
Ngoài ra, những giáo viên có nhận thức tốt về kỹ năng chăm sóc tâm lý họcsinh sẽ có khả năng hợp tác với các chuyên viên tâm lý học đường, phụ huynh vàcác lực lượng khác trong việc phòng ngừa, can thiệp sớm và trị liệu trong các vấn
đề liên quan đến khó khăn tâm lý của học sinh, từ đó có thể hỗ trợ và chăm sóc mộtcách hiệu quả nhất các vấn đề sức khỏe tâm thần của học sinh Chính vì vậy, việcbồi dưỡng và nâng cao nhận thức cũng như trang bị các kỹ năng chăm sóc tâm lýcho giáo viên THCS – lứa tuổi đang bị “khủng hoảng” là hết sức cần thiết Việcnắm vững các kỹ năng chăm sóc tâm lý không chỉ giúp giáo viên THCS nâng caotay nghề mà còn có ý nghĩa nhân văn sâu sắc đối với học sinh THCS
Từ tiền đề là nền tảng lý luận và khái niệm về kỹ năng, kỹ năng chăm sóctâm lý học sinh, chúng tôi hiểu và sử dụng khái niệm kỹ năng chăm sóc tâm lý họcsinh của giáo viên THCS như sau:
Kỹ năng chăm sóc tâm lý học sinh của giáo viên THCS là sự vận dụng tri thức, kinh nghiệm của giáo viên THCS vào hoạt động hỗ trợ/ phòng ngừa, can thiệp các rối nhiễu tâm lý của học sinh THCS nhằm tạo điều kiện thuận lợi trong hoạt động học tập và cho sự hình thành và phát triển trí tuệ, nhân cách cho học sinh THCS