Là ngườicông tác tại lĩnh vực liên quan trực tiếp đến an toàn trật tự giao thông trên địabàn Hà Nội, nhận thức được những vướng mắc, khó khăn trong công tác đảmbảo an toàn trật tự giao t
Trang 1HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
ĐÀO THANH HẢI
QU¶N Lý NHµ N¦íC §¶M B¶O AN TOµN TRËT Tù GIAO TH¤NG §¦êNG Bé ë THñ §¤ Hµ NéI HIÖN NAY
Chuyên ngành: Xây dựng Đảng và chính quyền Nhà nước
Mã số: 60310203
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÂY DỰNG ĐẢNG VÀ CHÍNH QUYỀN NHÀ NƯỚC
Người hướng dẫn khoa học: PGS,TS Trương Ngọc Nam
HÀ NỘI – 2015
Trang 2Tôi xin cam đoan bản luận văn thạc sĩ Xây dựng
Đảng và Chính quyền nhà nước với đề tài: “Quản lý nhà
nước đảm bảo an toàn trật tự giao thông đường bộ ở thủ đô Hà Nội hiện nay” là công trình nghiên cứu độc
lập của cá nhân tôi.
Tác giả luận văn
Đào Thanh Hải
Trang 3Trong quá trình tiến hành khảo sát, nghiên cứu và thực hiện luận văn này, tác giả đã nhận được sự giúp đỡ, hướng dẫn và động viên tận tình của các thầy cô giáo, các nhà nghiên cứu, bạn bè, đồng nghiệp và gia đình Tác giả xin chân thành cảm ơn PGS,TS Trương Ngọc Nam, người trực tiếp hướng dẫn nghiên cứu đề tài Xin chân thành cảm ơn các giảng viên của Học viện Báo chí và Tuyên truyền cùng các đồng chí lãnh đạo đồng nghiệp tại Ủy ban An toàn giao thông quốc gia, Ban An toàn giao thông Thành phố Hà Nội, Thanh tra Sở giao thông vận tải Hà Nội, lãnh đạo
Sở Giao thông vận tải Hà Nội, Công an Thành phố Hà Nội, Ban Tuyên giáo Thành
uỷ Hà Nội đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn này.
Trong quá trình thực hiện, chắc chắn luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế Tác giả rất mong tiếp tục nhận được sự hướng dẫn của các thầy cô giáo và góp ý của bạn bè, đồng nghiệp để luận văn đạt chất lượng tốt hơn.
Hà Nội, ngày 30 tháng 06 năm 2015
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Đào Thanh Hải
Trang 4ATGT An toàn giao thông
ATTTGTĐB An toàn trật tự giao thông đường
bộ
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trật tự an toàn giao thông là trạng thái xã hội có trật tự được hình thành
và điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật trong lĩnh vực giao thông vận tảicông cộng, nhằm đảm bảo cho hoạt động giao thông thông suốt, trật tự, antoàn, hạn chế đến mức thấp nhất tai nạn giao thông Đảm bảo trật tự an toàngiao thông là một yêu cầu và nhiệm vụ cơ bản của mọi quốc gia và xem đó làđiều kiện cần thiết để phát triển kinh tế – xã hội, củng cố an ninh quốc phòng
và ổn định trật tự xã hội Để hoàn thành được nhiệm vụ quan trọng này, côngtác quản lý nhà nước đóng vai trò rất quan trọng
Ban Bí thư Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ, các bộ, ban, ngành
đã ban hành các nghị quyết, chỉ thị, thông tư và quyết định cùng nhiều vănbản quy phạm pháp luật khác nhằm thiết lập lại trật tự kỷ cương, từng bước
ổn định tình hình trật tự an toàn giao thông trên phạm vi cả nước Tuy nhiên,trong điều kiện kết cấu hạ tầng giao thông còn yếu kém, công tác quản lý trật
tự an toàn giao thông còn nhiều bất cập dẫn đến tình trạng mất trật tự an toàngiao thông, ảnh hưởng không nhỏ đối với sự nghiệp công nghiệp hóa và hiệnđại hóa đất nước
Trong thời gian qua, với vai trò là lực lượng nòng cốt trong công tácquản lý nhà nước về trật tự an toàn giao thông đường bộ, các bộ, ban, ngành
và lực lượng Cảnh sát giao thông đã tăng cường triển khai các biện phápnghiệp vụ và chủ động trong việc phối hợp với các ban ngành góp phần đảmbảo trật tự an toàn giao thông đường bộ và trật tự an toàn xã hội Tuy nhiên,bên cạnh đó vẫn tiềm ẩn những diễn biến hết sức phức tạp, tai nạn giao thôngtuy đã được kiềm chế nhưng mức độ nghiêm trọng ngày càng tăng; tình hình
vi phạm pháp luật giao thông đường bộ ngày càng phổ biến; mặc dù số vụ ùntắc giao thông giảm nhưng số điểm có nguy cơ ùn tắc có chiều hướng gia
Trang 7tăng; đặc biệt là tình hình tội phạm hoạt động trên các tuyến giao thông vẫndiễn biến hết sức phức tạp Để hạn chế tình trạng vi phạm pháp luật giaothông, hạn chế hư hại tài sản, thiệt hại về tính mạng của nhân dân, các cấp,các ban ngành ở thành phố Hà Nội đã có nhiều giải pháp để tăng cường quản
lý Tuy nhiên, tình hình vi phạm pháp luật giao thông, các vụ tai nạn giaothông nghiêm trọng trên địa bàn Hà Nội vẫn còn xảy ra ở mức độ cao so vớicác tỉnh, thành phố trong cả nước Nguyên nhân của tình trạng này được kểđến như sau: Hệ thống văn bản pháp luật hiện nay có liên quan đến bảo đảmtrật tự an toàn giao thông đang trong quá trình hoàn thiện; trình độ hiểu biết,vận dụng của cán bộ quản lý các cấp hạn chế, dẫn đến có nhiều yếu kém trongcông tác tuyên truyền giáo dục, trong ứng xử và xử lý các hành vi vi phạmpháp luật giao thông Ví dụ như cùng một hành vi vi phạm pháp luật giaothông nhưng ý kiến xử lý không thống nhất, nhiều cơ quan chỉ đạo, nhiều đơn
vị cùng tham gia xử lý
Hành vi thiếu văn hóa của người sử dụng phương tiện và tham gia giaothông diễn ra khá phổ biến: sử dụng rượu bia trước khi điều khiển phươngtiện giao thông, đi không đúng phần đường, đi ngược chiều, láng vạch, vượt
xe, chuyển làn trái với quy định, không chấp hành hiệu lệnh của đèn tín hiệugiao thông; đang điều khiển xe mô tô, xe gắn máy, xe máy điện lại sử dụngđiện thoại di động, tai nghe hoặc chở quá số người theo quy định; người điềukhiển xe mô tô không đội mũ bảo hiểm điều khiển xe chạy quá tốc độ gây tainạn giao thông; lấn chiếm lòng lề đường, hè phố để đặt bảng hiệu, buôn bán,sửa chữa xe đạp, xe mô tô, làm mái che hoặc các hoạt động dịch vụ khác…
Những hành vi thiếu văn hóa liên quan đến hè phố, lòng lề đường, lối
đi công cộng của một số người, như tiểu tiện, đại tiện; vứt rác, xác động vật,
đổ nước thải ra vỉa hè, lòng lề đường gây mất vệ sinh, ô nhiễm môi trường; đổchất thải làm bẩn nơi cơ quan, trụ sở làm việc; tự ý tháo dỡ, di chuyển, treo
Trang 8đặt, làm sai mục đích sử dụng, làm sai lệch biển báo hiệu, đèn tín hiệu giaothông, rào chắn, dải phân cách, cấu kiện, phụ kiện của công trình đường bộ…đặc biệt là những hạn chế trong văn hóa ứng xử của người điều khiển cácphương tiện giao thông kể cả phương tiện giao thông cá nhân và công cộng.Những hành vi này chỉ được xử lý bằng các biện pháp mang tính cưỡng chế
do công an, do thanh tra giao thông thực hiện,… các biện pháp này thườngthiếu đồng bộ và hiệu quả giáo dục chưa cao
Sự phân cấp sử dụng, quản lý các phương tiện giao thông và hệ thốngcầu đường; sử dụng và quản lý sửa chữa đường không đồng bộ, gây ách tắcgiao thông, mất mỹ quan của thành phố
Mật độ dân cư thành phố quá đông, nhất là dân nhập cư các tỉnh đếnlàm việc mang theo nhiều phương tiện cùng tham gia lưu thông Số dân cưnhập cư này đa số không được quản lý chặt chẽ nơi cư trú, nhiều người mangtheo tư tưởng, văn hóa địa phương, không chấp hành quy định chung, thườngxuyên gây khó khăn cho công tác quản lý, xử phạt
Một phần nguyên nhân gây nên tình trạng mất an toàn trật tự trên địabàn thành phố Hà Nội hiện nay xuất phát từ khâu quản lý nhà nước Là ngườicông tác tại lĩnh vực liên quan trực tiếp đến an toàn trật tự giao thông trên địabàn Hà Nội, nhận thức được những vướng mắc, khó khăn trong công tác đảmbảo an toàn trật tự giao thông trên địa bàn, nhận thức được tầm quan trọngcủa công tác này trong đời sống xã hội và trong công tác đảm bảo an ninhchính trị và trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn thủ đô Hà Nội, tác giả lựa chọn
đề tài “Quản lý nhà nước đảm bảo an toàn trật tự giao thông đường bộ ở
thủ đô Hà Nội hiện nay” để thực hiện luận văn thạc sĩ ngành Xây dựng Đảng
và Chính quyền nhà nước tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền, với mongmuốn tìm ra những thành công, hạn chế trong công tác quản lý nhà nước vềtrật tự an toàn giao thông trên địa bàn thủ đô và tìm ra các giải pháp nâng caohiệu quả của quản lý nhà nước trên lĩnh vực này
Trang 92 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Nghiên cứu về công tác quản lý nhà nước về an toàn trật tự giao thôngtrong thời gian qua cũng có rất nhiều tác giả tiếp cận từ nhiều góc độ nghiêncứu với các cấp độ khác nhau, đáng chú ý có một số công trình sau:
- Cuốn: Quản lý xã hội về quốc phòng, an ninh trật tự an toàn xã hội,
Học viện Báo chí và Tuyên truyền, PGS,TS Nguyễn Vũ Tiến chủ biên Cuốnsách đề cập đến những vấn đề cơ bản về quản lý xã hội về quốc phòng, anninh trật tự an toàn xã hội: mục tiêu, tính chất, đặc điểm những nội dung chủyếu, tính chất đặc thù của chủ thể quản lý về an ninh trật tự an toàn xã hội.Tuy nhiên, cuốn sách không đề cập trực tiếp đến các vấn đề về an toàn trật tựgiao thông đô thị
- Cuốn : Quản lý nhà nước về an ninh trật tự, Giáo trình lưu hành nội
bộ, Học viện An ninh Nhân dân, đề cập vấn đề quản lý nhà nước về an ninhtrật tự nói chung chứ không nói riêng về quản lý nhà nước, về an toàn trật tựgiao thông đô thị
Cuốn : Trật tự an toàn giao thông đường bộ trên địa bàn 5 thành
phố trực thuộc Trung ương – Thực trạng và giải pháp trong giaiđoạn 2011-2013 do Trung tâm Nghiên cứu An toàn giao thông đã tậptrung nghiên cứu và biên soạn Cuốn sách chủ yếu bàn về tình hình đặc điểmliên quan đến trật tự an toàn giao thông đường bộ; Tình hình trật tự an toàngiao thông đường bộ và công tác đảm bảo trật tự an toàn giao thông đường bộtrên địa bàn 5 thành phố trực thuộc Trung ương, đồng thời đưa ra dự báo tìnhhình và giải pháp góp phần đảm bảo trật tự an toàn giao thông đường bộ trênđịa bàn 5 thành phố trực thuộc Trung ương Cuốn sách cũng đề cập đến giảipháp tăng cường quản lý nhà nước về an toàn trật tự giao thông, tuy nhiêncũng là các giải pháp chung cho cả 5 thành phố, chưa phải là các giải phápđặc thù và hiệu quả cho thủ đô
Trang 10- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, năm 1998 của tác giả Trần Đào:
Tai nạn giao thông đường bộ, thực trạng, nguyên nhân và giải pháp phòng ngừa của lực lượng cảnh sát giao thông tập trung nghiên cứu một vấn đề về
tai nạn giao thông, như: Khái niệm, nguyên nhân, đánh giá thực trạng tai nạngiao thông đường bộ; từ đó đề xuất những giải pháp phòng ngừa tai nạn giaothông đường bộ của lực lượng cảnh sát giao thông Trong phần nguyên nhân
về tai nạn giao thông đường bộ và các giải pháp phòng ngừa tai nạn giaothông đường bộ, tác giả có đề cập đến vai trò công tác quản lý Nhà nước vàgiải pháp về vấn đề quản lý nhà nước về giao thông nhằm phòng ngừa tai nạngiao thông đường bộ Tuy nhiên, đề tài chưa đề cập sâu về vấn đề quản lý nhànước về an toàn trật tự giao thông trên địa bàn thủ đô
- Luận văn thạc sĩ Khoa học – Kỹ thuật, năm 2000 của tác giả Mai Văn
Đức: “Nghiên cứu tình hình an toàn giao thông đường bộ và các biện pháp
khắc phục” tập trung nghiên cứu về an toàn giao thông đường bộ dưới góc độ
ứng dụng những thành tựu của khoa học kỹ thuật để quản lý, duy trì và khắcphục những hạn chế trong lĩnh vực giao thông đường bộ Trong luận văn cómột phần nói đến quản lý nhà nước về vấn nghiên cứu và ứng dụng nhữngthành tựu khoa học kĩ thuật để khắc phục những hạn chế trong lĩnh vực giaothông đường bộ chứ chưa nói nhiều đến vấn đề quản lý nhà nước về an toàntrật tự giao thông
- Luận văn thạc sĩ Luật học, năm 2001 của tác giả Nguyễn Huy Bằng:
Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong lĩnh vực giao thông đường
bộ ở nước ta hiện nay Luận văn đã làm rõ lịch sử phát triển tư tưởng pháp
chế; khái niệm pháp chế, quan niệm pháp chế trong lĩnh vực giao thôngđường bộ; tỉnh tất yếu phải tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong lĩnhvực giao thông đường bộ; thực trạng, phương hướng và giải pháp tăng cườngpháp chế trong lĩnh vực giao thông đường bộ Trong luận văn, tác giả đã
Trang 11không đề cập đến mục tiêu khảo sát đánh giá quản lý nhà nước về an toàn trật
tự giao thông hiện nay
- Luận văn thạc sĩ Quản lý hành chính công, năm 2003 của tác giả
Nguyễn Thị Thanh Thuỷ: Hoàn thiện quản lý nhà nước đối với giao thông
đô thị tại thành phố Hà Nội Luận văn tập trung xây dựng hệ thống lý thuyết
tổng quan về quản lý nhà nước đối với giao thông đô thị; phân tích thực trạngquản lý nhà nước về giao thông đô thị tại Hà Nội; từ đó kiến nghị những giảipháp quản lý nhà nước về giao thông đô thị tại Hà Nội Tuy cùng bàn về quản
lý nhà nước về vấn đề giao thông nhưng luận văn của Nguyễn Thị ThanhThuỷ tập trung khảo sát thực trạng quản lý nhà nước về giao thông đô thị.Luận văn Quản lý nhà nước về an toàn trật tự giao thông trên địa bàn Hà Nội
có mục đích và nhiệm vụ tập trung chủ yếu vào vấn đề quản lý nhà nước về
an toàn trật tự giao thông chứ không mở rộng; Cứ liệu để nghiên cứu của luậnvăn Nguyễn Thị Thanh Thuỷ từ năm 2003 nên đề tài tác giả lựa chọn không
có sự trùng lặp với đề tài của tác giả Nguyễn Thị Thanh Thuỷ
- Luận văn thạc sĩ Quản lý hành chính công, năm 2004 của tác giả Trần
Văn Quan: Tăng cường quản lý nhà nước về vận tải đường bộ - từ thực tiễn
tỉnh Đồng Nai Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận chung
của quản lý nhà nước về vận tải đường bộ trong nền kinh tế thị trường; phântích và đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về vận tải đường bộ trên địa bàntỉnh Đồng Nai; từ đó đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm tăng cườngquản lý nhà nước về vận tải đường bộ Như vậy, luận văn chỉ nghiên cứu mộtvấn đề quản lý nhà nước về vận tải đường bộ ở Đồng Nai
- Luận văn thạc sĩ Quản lý hành chính công, năm 2009 của tác giả
Thạch Như Sỹ: Phối hợp dịch vụ công cộng và trật tự công cộng trong quản
lý nhà nước về giao thông đô thị trên địa bàn thành phố Hà Nội Luận văn
chỉ tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng và đề xuất một số
Trang 12giải pháp về công tác phối hợp giữa dịch vụ công và trật tự công cộng trongquản lý nhà nước về giao thông đô thị trên địa bàn thành phố Hà Nội màkhông đề cập đến an toàn trật tự giao thông trên địa bàn Hà Nội.
Ngoài ra, còn một số bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành như:
tác giả Lý Huy Tuấn: “Quản lý nhà nước trong lĩnh vực giao thông đô thị”, Tạp chí Quản lý nhà nước, số 3/2003; tác giả Nguyễn Thúy Anh: “Đổi mới
quản lý nhà nước về giao thông công cộng trong đô thị lớn ở nước ta”, Tạp
chí Quản lý nhà nước, số 5/2003; tác giả Lê Ngọc Tiến: “Giáo dục pháp
luật-biện pháp quan trọng giảm thiểu tai nạn giao thông đường bộ”, Tạp chí Giao
thông vận tải, số 7/2004, v.v Nhìn chung, những bài viết này chỉ đề cập đếnvấn đề quản lý nhà nước về giao thông đường bộ một cách chung chung chứkhông khảo sát ở một địa phương cụ thể
Tình hình nghiên cứu trên cho thấy, các đề tài, luận văn và bài báotrong chừng mực nhất định đã góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận vàthực tiễn quan trọng về quản lý nhà nước về giao thông và bảo đảm an toàntrật tự giao thông trên địa bàn thành phố Hà Nội
Luận văn của tác giả Lê Quang Ngọc “Quản lý nhà nước trong bảo
đảm trật tự an toàn giao thông đường bộ trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay” năm 2011 dưới góc độ Quản lý hành chính công cũng đã đề cập
nhiều đến vấn đề quản lý nhà nước trong bảo đảm an toàn trật tự giao thôngtrên địa bàn thành phố Hà Nội năm 2011 một cách khá toàn diện Với mụcđích: làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực trạng quản lý nhà nước trong bảo đảmtrật tự an toàn giao thông trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay để đưa raphương hướng và giải pháp cơ bản nhằm tăng cường quản lý nhà nướctrong bảo đảm trật tự an toàn giao thông đường bộ trên địa bàn thành phố
Hà Nội trong thời gian tới, luận văn cũng đã phân tích, khảo sát thực trạngcông tác quản lý nhà nước về an toàn trật tự giao thông trên địa bàn Hà Nội
và đưa ra phương hướng và đề xuất hệ thống giải pháp cơ bản nhằm tăng
Trang 13cường quản lý nhà nước trong bảo đảm trật tự an toàn giao thông trên địa bàn
Hà Nội trong thời gian tới Tuy nhiên, phạm vi khảo sát và nghiên cứu của tácgiả cũng như kết quả khảo sát của tác giả dừng lại năm 2011, từ đó đến nay,
Hà Nội đã có rất nhiều thay đổi về kinh tế, văn hóa, xã hội, dân số và về vấn
đề quản lý nhà nước trong các lĩnh vực trọng yếu Thêm vào đó, vấn đề an toàntrật tự giao thông tại thủ đô hiện nay vẫn là vấn đề nóng, quản lý nhà nước vẫncòn bộc lộ nhiều yếu kém và bất cập, vì vậy cần có những nghiên cứu đánh giátoàn diện nhằm tìm ra các giải pháp về quản lý nhà nước để đảm bảo an toàn
trật tự giao thông trên địa bàn thủ đô hiện nay Luận văn Quản lý nhà nước
đảm bảo an toàn trật tự giao thông đường bộ ở thủ đô Hà Nội của tác giả từ
góc độ nghiên cứu của khoa học Xây dựng Đảng và Chính quyền nhà nước là đềtài có tính cấp thiết và cần được triển khai nghiên cứu trong giai đoạn hiện nay
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Công tác quản lý nhà nước về đảm bảoATTTGTĐB ở thủ đô Hà Nội;
- Phạm vi nghiên cứu: Trong phạm vi đề tài luận văn chúng tôi chỉ tậptrung nghiên cứu quản lý nhà nước đảm bảo ATTTGTĐB ở thủ đô Hà Nộitrong giai đoạn đầu năm 2014 đến nay
4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn của vấn đề quản lý nhà nước
về an toàn trật tự giao thông đường bộ, luận văn đề xuất phương hướng và cácgiải pháp tăng cường chất lượng công tác quản lý nhà nước về ATTTGTĐB ởthủ đô Hà Nội đáp ứng yêu cầu của giai đoạn hiện nay
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích nêu trên, luận văn cần thực hiện những nhiệm
vụ cụ thể sau :
- Hệ thống hóa các vấn đề cơ sở lý luận quản lý nhà nước về an toàn trật
Trang 14tự giao thông đường bộ: mục tiêu, tính chất, đặc điểm những nội dung chủ yếu,tính chất đặc thù của chủ thể quản lý về an toàn trật tự giao thông đường bộ;
- Khảo sát, đánh giá đúng thực trạng công tác quản lý nhà nước vềATTTGTĐB ở thủ đô Hà Nội hiện nay; đánh giá ưu điểm, hạn chế và tìm ranguyên nhân của những ưu điểm, hạn chế đó;
- Đề xuất các phương hướng, giải pháp nâng cao chất lượng công tácquản lý nhà nước về ATTTGTĐB ở thủ đô Hà Nội hiện nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn dựa trên quan điểm, đường lối, chủ trương chính sách củaĐảng, pháp luật của Nhà nước và quản lý nhà nước trên lĩnh vực đảm bảo antoàn trật tự giao thông để thực hiện đề tài
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử để phân tích, đánh giá thực trạng và đề xuất cácgiải pháp nâng cao chất lượng công tác quản lý nhà nước về an toàn trật tựgiao thông trên địa bàn thủ đô hiện nay, đồng thời sử dụng các phương pháplogic lịch sử, phương pháp phân tích, tổng hợp thống kê để nghiên cứu
6 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
- Đề tài nghiên cứu thành công sẽ góp phần đề xuất những giải phápnâng cao chất lượng công tác quản lý nhà nước đảm bảo ATTTGTĐB ở thủ
đô Hà Nội hiện nay
- Đề tài có thể làm tài liệu nghiên cứu, tham khảo cho cán bộ quản lýlãnh đạo, cũng như những người làm công tác quản lý nhà nước về an toàntrật tự giao thông đô thị hiện nay
7 Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, đề tàigồm 3 chương 8 tiết
Trang 15Chương 1 QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐẢM BẢO AN TOÀN TRẬT TỰ
GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
1.1 Khái niệm, đặc điểm, nội dung và phương pháp quản lý nhà nước đảm bảo an toàn giao thông đường bộ
1.1.1 Một số khái niệm
1.1.1.1 Khái niệm quản lý nhà nước
Theo nghĩa rộng, quản lý nhà nước (QLNN) được thực hiện bởi tất cảcác cơ quan nhà nước, có thể do các tổ chức chính trị - xã hội, đoàn thể quầnchúng và nhân dân trực tiếp thực hiện nếu được Nhà nước ủy quyền, traoquyền thực hiện chức năng của Nhà nước theo quy định của pháp luật Theonghĩa hẹp, hoạt động QLNN là hoạt động chấp hành và điều hành của Nhànước hay còn gọi là hoạt động quản lý theo ý nghĩa vốn có của nó Hiểu theonghĩa hành pháp, hoạt động QLNN chủ yếu được thực hiện bởi hệ thống cơquan hành chính nhà nước, đó là Chính phủ, các bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và
Ủy ban nhân dân (UBND) các cấp Các cơ quan này thành lập để chuyên thựchiện hoạt động quản lý hành chính nhà nước và trong thực tiễn được gọi là cơquan quản lý hành chính nhà nước
Bản chất của hoạt động quản lý hành chính nhà nước được thể hiệnthông qua hoạt động lập quy và hành chính Hoạt động lập quy thể hiện ở việc
cụ thể hóa luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội Hành chính là hoạt độngchỉ đạo, quản lý của chủ thể quản lý đối với đối tượng quản lý Trong hoạtđộng này, chủ thể quản lý áp dụng các biện pháp tổ chức- pháp lý bằng việcban hành các văn bản pháp quy và văn bản cá biệt Hoạt động lập quy và hànhchính xuất phát từ đặc thù của hoạt động quản lý hành pháp nhằm thực hiệnquyền lực nhà nước trong quản lý xã hội
Trang 16Mỗi nhà nước luôn gắn với một thiết chế xã hội nhất định theo phạm vikhông gian và thời gian, do vậy đặc tính QLNN sẽ thay đổi tùy theo bản chấtcủa chế độ chính trị và trình độ phát triển kinh tế - xã hội ở mỗi quốc giatrong từng thời kỳ.
Theo Giáo trình quản lý hành chính nhà nước:
Quản lý nhà nước là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyềnlực Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của conngười, để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luậtnhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước trong công cuộcxây dựng CNXH và bảo vệ tổ quốc XHCN [11, tr 407]
Từ những hiểu biết trên, có thể khái quát: Quản lý nhà nước là hoạt
động mang tính quyền lực nhà nước, được Nhà nước sử dụng để điều chỉnh các quan hệ xã hội, các hành vi của cá nhân, tổ chức, có sức mạnh và hiệu lực do các cơ quan nhà nước, công chức trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm phục vụ công, duy trì sự ổn định và phát triển bền vững xã hội.
1.1.1.2 Khái niệm giao thông đường bộ
Giao thông là “việc đi lại từ nơi này đến nơi khác của người và phươngtiện chuyên chở” [46, tr.393]
Giao thông là yếu tố không thể thiếu trong quá trình phát triển đời sống
xã hội ở mỗi thời đại và mỗi quốc gia Sự phát triển của giao thông phụ thuộcvào trình độ phát triển của kinh tế, khoa học - công nghệ nhất định
Từ thuở sơ khai, trong lịch sử phát triển của xã hội loài người hoạtđộng giao thông gắn liền với sự phát triển của xã hội Bắt đầu là sự xuất hiện
và phát triển của giao thông đường bộ, sau đó, khoa học kĩ thuật ngày càngphát triển và xuất hiện của các phương tiện và hình thức giao thông khác nhưgiao thông đường thủy, giao thông đường sắt và đường hàng không
Luật Giao thông đường bộ năm 2008 có định nghĩa: “đường bộ gồm
Trang 17đường, cầu đường bộ, hầm đường bộ, bến phà đường bộ” Như vậy, giaothông đường bộ được hiểu là việc đi lại từ nơi này đến nơi khác của người vàphương tiện chuyên chở trên đường, cầu đường bộ, hầm đường bộ, bến phàqua sông, suối nối đường bộ.
1.1.1.3 An toàn trật tự giao thông đường bộ
Có ý kiến cho rằng: “ATTTGTĐB là việc chấp hành triệt để những yêucầu về kỹ thuật, quản lý đối với các công trình giao thông và phương tiện giaothông, quy định đối với người tham gia giao thông khi hoạt động trên đường
bộ, là cho giao thông được trật tự, an toàn, thông suốt, thuận tiện” [39, tr.6-7]
Theo Từ điển Bách khoa Công an nhân dân thì “an toàn giao thông
đường bộ là hệ thống các mối quan hệ xã hội được hình thành và điều chỉnhbởi các quy phạm pháp luật trong lĩnh vực giao thông vận tải công cộng màmọi người tham gia giao thông phải tuân theo để đảm bảo hoạt động giaothông thông suốt, trật tự an toàn, hạn chế thấp nhất tai nạn giao thông, gâythiệt hại về người và tài sản” [tr.30]
Trong đề tài luận văn, chúng tôi sử dụng quan niệm: ATTTGTĐB là sựbảo đảm cho mọi hoạt động giao thông đường bộ được trật tự, an toàn, nhanhchóng, tiện lợi, thông suốt và mỹ quan môi trường; hạn chế thấp nhất các viphạm Luật Giao thông và các quy phạm pháp luật về trật tự an toàn giao thông,kiềm chế tai nạn giao thông, ngăn ngừa thiệt hại do tai nạn giao thông gây ra
1.1.1.4 Quản lý nhà nước bảo đảm an toàn trật tự giao thông đường bộ
QLNN trong bảo đảm ATTTGTĐB là hoạt động mang tính chất quyềnlực của cơ quan hành chính nhà nước, nhằm tạo ra các điều kiện để xác lập,duy trì và ổn định các quan hệ về giao thông, theo quy định của pháp luật vềATTTGTĐB Đây là một hoạt động có vai trò, vị trí rất quan trọng trong lĩnhvực an ninh trật tự Bởi vì, TNGT hàng ngày vẫn xảy ra đã và đang là mộthiểm họa không chỉ đối với nước ta mà còn là hiểm họa chung đối với tất cảcác quốc gia trên thế giới
Trang 18QLNN trong bảo đảm ATTTGTĐB là hoạt động chấp hành và điềuhành của các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội được Nhà nước ủy quyền,được tiến hành trên cơ sở pháp luật, nhằm bảo vệ trật tự ATGT QLNN trongbảo đảm ATTTGTĐB được tiến hành trên các lĩnh vực: ban hành các văn bảnquy phạm pháp luật về ATTTGTĐB; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục phápluật về GTĐB; quản lý quy tắc GTĐB; quản lý kết cấu hạ tầng GTĐB; quản
lý phương tiện tham gia GTĐB; quản lý người điều khiển phương tiệnGTĐB; quản lý vận tải đường bộ; tuần tra kiểm soát giao thông; chỉ huy điềukhiển giao thông; thanh tra, kiểm tra và điều tra, xử lý TNGT
Từ sự phân tích trên đây, có thể quan niệm: Quản lý nhà nước trongbảo đảm ATTTGTĐB là toàn bộ hoạt động có tổ chức, có định hướng, mangtính quyền lực của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm xác lập cơ sởpháp lý cho quản lý, tổ chức thực hiện và xử lý vi phạm các quy định về quản
lý nhà nước trong bảo đảm ATTTGTĐB, thiết lập và duy trì trật tự ATGTĐB,bảo đảm giao thông đường bộ thông suốt, an toàn và thúc đẩy phát triển kinh
tế, văn hóa - xã hội, tiến trình hội nhập khu vực và quốc tế
1.1.2 Đặc điểm của quản lý nhà nước trong bảo đảm an toàn trật tự giao thông đường bộ
1.1.2.1 Quản lý nhà nước trong bảo đảm an toàn trật tự giao thông đường bộ có ảnh hưởng trực tiếp và lâu dài đến an toàn trật tự giao thông đường bộ và toàn xã hội
QLNN về ATTTGTĐB là một trong những nội dung quan trọng củaQLNN về GTĐB Việc tổ chức, thực hiện những nội dung và yêu cầu QLNN
về ATTTGTĐB được tiến hành công khai, thống nhất, đồng bộ bởi các cơquan nhà nước Tuy nhiên, khác với việc thực hiện quản lý nhà nước trongcác lĩnh vực khác, quản lý nhà nước trong bảo đảm ATTTGTĐB có ảnhhưởng trực tiếp và lâu dài đến ATTTGTĐB và toàn xã hội Một chính sách
Trang 19không phù hợp, một kế hoạch đầu tư không hiệu quả, sự điều chỉnh giờ giấchay việc phân luồng giao thông không chính xác… tất cả ảnh hưởng trực tiếpđến giao thông của cả một khu vực, nghiêm trọng hơn, gây ảnh hưởng trực tiếpđến sự an toàn, ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế của xã hội.
Ví dụ, quyết định đổi giờ học của học sinh và giờ làm của công chứcviên chức nhằm giảm ách tắc giao thông năm 2012 đã khiến cho hàng loạtphụ huynh học sinh gặp khó khăn trong việc thực hiện Quyết định này đãkhông tính đến điều kiện thực tế ở Việt Nam: các trường tiểu học và trườngphổ thông ít có chế độ và dịch vụ đưa đón học sinh đến lớp Việc học sinh đếnlớp muộn hơn giờ làm việc khiến phụ huynh không thể đưa đón con mình đếntrường Mặc dù đã được triển khai rộng rãi và quyết liệt từ Bộ Giáo dục vàĐào tạo, từ Sở giáo dục và Đào tạo Hà Nội và các trường phổ thông nhưngQuyết định này gặp phải sự phản ứng mạnh mẽ của dư luận xã hội và đã phảibãi bỏ khi thực hiện không lâu
Thông tư 02 năm 2003 của Bộ Công an quy định mỗi người chỉ đượcđăng kí 01 xe máy trái với hiến pháp và pháp luật gây ảnh hưởng đến quyềnlợi của nhân dân Gần 2 năm thực hiện, quy định này đã gây ảnh hưởng đếnquyền lợi của người dân, gây bức xúc trong dư luận xã hội Thông tư này đãbuộc phải bác bỏ vào 21/11/2005
Việc phân luồng giao thông không hợp lý cũng đã khiến cho tai nạngiao thông tăng nhanh chóng tại quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.Chỉ tính riêng 6 tháng đầu năm 2015, đã có 9 vụ tai nạn giao thông làm chếtngười, 155 vụ va chạm làm bị thương 103 người và gây hư hỏng cho 224phương tiện tham gia giao thông Nguyên nhân chủ yếu được Ủy ban nhândân quận nhận định là do việc tổ chức giao thông còn nhiều bất cập, đườngdành cho xe máy quá nhỏ trong khi đó lưu lượng xe máy tham gia giao thôngquá đông, dẫn đến tình trạng người dân đi vào làn đường dành cho ô tô và xảy
Trang 20ra tai nạn.
Ngoài ra, những chính sách đầu tư cho đường giao thông, cho cơ sở hạtầng, nếu không thực sự hiệu quả sẽ ảnh hưởng lớn đến thế hệ tương lai, vìđầu tư cho giao thông không phải là đầu tư cho khoảng thời gian tính bằngnăm mà thời gian tính bằng giai đoạn phát triển Ngược lại, chính sách đầu tưhiệu quả sẽ kéo theo sự phát triển của cả một khu vực, xóa nhòa ranh giớivùng miền, giúp giảm bớt khoảng cách giàu nghèo, giúp cho xã hội phát triển
ổn định và phồn vinh QLNN trong bảo đảm ATTTGTĐB còn có tác động rấtlớn đến đời sống xã hội và phát triển kinh tế; GTĐB thông suốt, an toàn, tiệnlợi là tiền đề quan trọng để thúc đẩy sản xuất phát triển, hàng hóa đỡ khanhiếm, đắt đỏ, nguyên, nhiên, vật liệu được cung cấp đầy đủ, giao lưu kinh tếgiữa các vùng được đẩy mạnh, v.v nhu cầu đi lại, giao lưu văn hóa, giáodục, y tế sẽ sôi động hơn
Cũng có thể thấy rõ những phán đoán sai về tình hình phát triển của hệthống giao thông đô thị khiến xuất hiện những văn bản, những quyết sáchkhông đúng sẽ gây nên những hậu quả nghiêm trọng Việc xóa bỏ hệ thốnggiao thông công cộng một thời đã khiến cho các phương tiện cá nhân tăng lênnhanh chóng Tình trạng ùn tắc GTĐB và tai nạn GTĐB gây tổn thất về người
và phương tiện xảy ra liên tục gây tổn thất không hề nhỏ cho mỗi cá nhân vàcho toàn xã hội Ước tính thiệt hại do ùn tắc giao thông tại Hà Nội và Thànhphố Hồ Chí Minh lên đến hàng chục tỉ đồng mỗi năm
1.1.2.2 Quản lý nhà nước bảo đảm ATTTGTĐB là hoạt động có tính chất liên kết phối hợp với nhiều đơn vị, nhiều cơ quan và tổ chức xã hội
Quản lý nhà nước trong các lĩnh vực đảm bảo ATTTGTĐB khác vớiviệc quản lý nhà nước trong các lĩnh vực khác Đối tượng quản lý nhà nướctrong lĩnh vực đảm bảo an toàn giao thông rất đa dạng và phức tạp Từ em
bé ba tuổi cho đến các cụ già, từ người nông dân đến các quan chức chính
Trang 21phủ, từ người lao động tự do đến những công chức, viên chức… để có cácgiải pháp đảm bảo an toàn cho người tham gia giao thông và tuyên truyền,hướng dẫn người tham gia giao thông thực hiện tốt nghĩa vụ của mình cần
có sự phối hợp của rất nhiều cơ quan và các tổ chức đoàn thể vào cuộc
Ví dụ, một bệnh viện ngoài việc cứu chữa bệnh nhân tưởng như chỉ liênquan đến việc đảm bảo an toàn giao thông cho cán bộ nhân viên trong bệnh việnbằng việc tuyên truyền, giáo dục chấp hành luật giao thông Tuy nhiên, bệnhviện đó đã có những giải pháp hiệu quả giúp nâng cao ý thức người dân khi thamgia giao thông để phòng chống tai nạn giao thông Bệnh viện Việt Đức là mộttrường hợp như vậy Trước một thực tế người tham gia giao thông bị tai nạn và
tử vong rất nhiều vì không đội mũ bảo hiểm, bệnh viện Việt Đức đã công bốhình ảnh những nạn nhân tai nạn giao thông bị chấn thương sọ não do không đội
mũ bảo hiểm; những nạn nhân bị tai nạn giao thông do uống rượu bia và khônglàm chủ được tốc độ Sau mỗi đợt công bố như vậy, tai nạn giao thông và số nạnnhân bị chấn thương sọ não do không đội mũ bảo hiểm, do uống rượu bianhập viện đã giảm đáng kể Đó cũng là một trong những thực tế chứng minh
sự tham gia của một đơn vị ngoài chức năng vào lĩnh vực quản lý nhằm đảmbảo ATTTGTĐB
Sự phối hợp trong quản lý nhà nước về an toàn trật tự giao thông đượctiến hành bởi nhiều cơ quan nhà nước, với những thẩm quyền khác nhau cùngtham gia bảo đảm ATTTGTĐB Đó là Chính phủ, Bộ Giao thông vận tải, BộCông an, Ủy ban nhân dân các cấp Ngoài ra, còn có những cơ quan khác giữvai trò phối hợp như Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Bộ Y tế, Bộ Quốc phòng,
Bộ Xây dựng, Bộ Giáo dục và Đào tạo, cơ quan thông tin đại chúng, v.v Để
có được sự phối hợp này, Nhà nước phải là cơ quan chịu trách nhiệm trựctiếp Trên cơ sở đó, nhà nước cần có sự điều phối và sự chỉ đạo các tổ chức,
Trang 22các cơ quan, ban ngành nhằm tạo hiệu quả trong quá trình phối hợp thực hiện.
1.1.2.3 Quản lý nhà nước trong bảo đảm ATTTGTĐB mang tính quyền lực nhà nước
Có thể thấy rõ một điều, việc điều chỉnh các quan hệ GTĐB không thể
hô hào chung chung hoặc chỉ dừng lại ở những chính sách, kế hoạch, v.v Pháp luật phải là công cụ chủ yếu để chỉ đạo hành vi của các chủ thể tham giagiao thông và những chủ thể quản lý hành chính nhà nước trong lĩnh vực bảođảm ATTTGTĐB Pháp luật phải có trước một bước và pháp luật phải quyđịnh về quy tắc GTĐB; hệ thống báo hiệu đường bộ; các điều kiện đảm bảo
an toàn GTĐB của kết cấu hạ tầng; phương tiện và người tham gia giaothông; hoạt động vận tải đường bộ, v.v…
Tính quyền lực nhà nước trong bảo đảm ATTTGTĐB thể hiện ở chỗcác cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong bảo đảm ATTTGTĐB căn cứ vàocác quy định của pháp luật đề ra các quyết định, mệnh lệnh có tính chất bắtbuộc cho các đối tượng quản lý nhằm đảm bảo, duy trì thường xuyênATTTGTĐB Vì thế, hoạt động phối hợp của các cơ quan nhà nước trong bảođảm ATTTGTĐB vừa là yêu cầu, vừa là phương thức để thực hiện mục tiêuQLNN, đây chính là một trong những điều kiện tiên quyết để nâng cao hiệulực, hiệu quả QLNN
QLNN trong bảo đảm ATTTGTĐB còn thể hiện và quy định ngườitham gia giao thông không được làm những gì mà pháp luật cấm và được làmtất cả những gì mà pháp luật không cấm, nhưng với những điều kiện đượcquy định rất khắt khe đó là hàng loạt các điều kiện đảm bảo ATTTGTĐB
QLNN về ATTTGTĐB là lĩnh vực quản lý hết sức phức tạp, bởi vìhoạt động giao thông có tính xã hội rộng lớn, phổ biến nhất, phương tiện giaothông rất đa dạng, người tham gia giao thông có đủ mọi thành phần, ở nhiềulứa tuổi Trong khi đó, trình độ nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật nói
Trang 23chung và pháp luật về ATTTGTĐB nói riêng của đại đa số người tham giagiao thông còn thấp Để đảm bảo ATTTGTĐB, tránh ùn tắc GTĐB, tai nạnGTĐB và tổn thất do tai nạn GTĐB gây ra, pháp luật GTĐB quy định ngườitham gia GTĐB không được làm những gì mà pháp luật cấm, hoặc nghiêmcấm Chẳng hạn, cấm vượt xe trên cầu hẹp có một làn xe, dưới gầm cầu vượt,đường vòng, đường dốc, nơi đường giao nhau, đường bộ giao cắt đường sắt,v.v hoặc những hành vi bị nghiêm cấm như phá hoại công trình đường bộ,
sử dụng lòng đường, hè phố trái phép; đua xe, tổ chức đua xe trái phép, lái xe
mà sử dụng chất ma túy, rượu bia, lái xe chạy quá tốc độ quy định, gây tai nạnrồi bỏ trốn trách nhiệm, v.v
Tuy vậy, người tham gia giao thông được làm tất cả những gì pháp luậtkhông cấm nhưng với những điều kiện hết sức khắt khe do pháp luật quy định
cụ thể Chẳng hạn, pháp luật GTĐB không cấm người tập lái xe ôtô tham giaGTĐB nhưng với điều kiện là phải thực hành trên xe tập lái và có giáo viênbảo trợ tay lái
Việc xử lý các vi phạm pháp luật dù ở mức độ xử lý vi phạm hànhchính hay truy cứu trách nhiệm hình sự đều phải được tiến hành trên cơ sởpháp luật, theo pháp luật Có như thế mới đảm bảo tính pháp chế trong xử lý
vi phạm pháp luật GTĐB, góp phần giữ vững trật tự, kỷ cương trong hoạtđộng GTĐB, khắc phục được tình trạng tùy tiện, lạm quyền, đùn đẩy, né tránh
Trang 24dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật về ATTTGTĐB tạo lập cơ sởpháp lý cho việc tổ chức thực hiện pháp luật về ATTTGTĐB và xử lý viphạm pháp luật về ATTTGTĐB Vì vậy, đây là khâu có tính chất quyết địnhđối với hai nội dung còn lại của quy trình QLNN về ATTTGTĐB, đó là tổchức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về ATTTGTĐB và xử lý vi phạmpháp luật về ATTTGTĐB.
Xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật về ATTTGTĐBtrước hết là hoạt động lập quy của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền Nhànước quy định thẩm quyền cho từng cơ quan trong việc xây dựng và ban hànhcác văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh tronglĩnh vực GTĐB Các cơ quan này được trao những chức năng, nhiệm vụ vàquyền hạn cụ thể trong thực hiện những nội dung của QLNN về bảo đảmATTTGTĐB: như quy định quy tắc GTĐB, các điều kiện bảo đảm an toànGTĐB của kết cấu hạ tầng, phương tiện và người tham gia GTĐB, hoạt độngvận tải đường bộ; quy định cơ chế giám sát, thanh tra, kiểm tra, tuần tra, kiểmsoát, xử lý vi phạm trong việc chấp hành pháp Luật GTĐB; quy định về khiếunại; khởi kiện với những quyết định, biện pháp xử lý, tố cáo những hành vi viphạm pháp luật GTĐB…
Căn cứ pháp lý cho hoạt động này là Hiến pháp, Luật Tổ chức Chínhphủ, Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân Ủy ban nhân dân và Luật Ban hành vănbản quy phạm pháp luật, Luật GTĐB, v.v…
Chính phủ là cơ quan thống nhất QLNN về ATTTGTĐB có vai trò chủchốt trong xây dựng pháp luật về ATTTGTĐB, có thẩm quyền trình các dự ánluật, pháp lệnh có nội dung liên quan, cũng như ban hành các văn bản quyđịnh chi tiết thi hành Luật GTĐB để áp dụng thống nhất trên toàn lãnh thổViệt Nam
Bên cạnh đó, có thể thấy rõ, xã hội luôn vận động phát triển; các quy
Trang 25phạm pháp luật về ATTTGTĐB không theo kịp sự vận động, phát triển đó Vìvậy, hoàn thiện luật luôn là nhiệm vụ quan trọng và liên tục chỉnh sửa thayđổi cho phù hợp với sự vận động và phát triển của xã hội.
Việc ban hành hệ thống văn bản pháp luật này còn phải dựa trên kếtquả của quá trình nhận thức sự vận động, phát triển các quan hệ GTĐB, củanhu cầu điều chỉnh bằng pháp luật đối với các quan hệ GTĐB trong thực tiễnquản lý Trên cơ sở nhận thức đó, chủ thể quản lý cần điều chỉnh các thể chếquản lý phù hợp, tạo lập hành lang pháp lý cho những quan hệ ấy phát triểntheo đúng định hướng của Nhà nước Pháp luật về ATTTGTĐB hoàn thiệnmới có khả năng tạo lập được cơ sở pháp lý vững chắc cho toàn bộ sự vậnđộng phát triển của các quan hệ ATTTGTĐB Hệ thống pháp luật vềATTTGTĐB chỉ hoàn thiện khi đáp ứng được đầy đủ bốn tiêu chí, đó là tínhtoàn diện, tính đồng bộ, tính phù hợp, có kỹ thuật pháp lý cao
Tính toàn diện của pháp luật về ATTTGTĐB đòi hỏi phải có đầy đủcác chế định, các quy phạm pháp luật điều chỉnh một cách bao quát toàn bộcác quan hệ về ATTTGTĐB Quan hệ ATTTGTĐB rất đa dạng, phong phú,
để điều chỉnh được một cách bao quát và toàn bộ đòi hỏi pháp luật vềATTTGTĐB phải có nhiều chế định, nhiều quy phạm pháp luật để đảm bảo
sự tương ứng với sự đa dạng, phong phú của quan hệ về ATTTGTĐB Tuyvậy, không phải có nhiều chế định, nhiều quy phạm thì điều chỉnh có hiệu quảquan hệ ATTTGTĐB mà còn đòi hỏi những chế định đó, những quy phạm đóphải đảm bảo chất lượng điều chỉnh
Chất lượng điều chỉnh làm nên tính phù hợp của những chế định,những quy phạm pháp luật về ATTTGTĐB: phù hợp với sự vận động và pháttriển của các quan hệ về ATTTGTĐB Việt Nam cũng như xu thế phát triểnchung của ATTTGTĐB trong khu vực và trên thế giới Do đó, pháp luật vềATTTGTĐB phải xuất phát từ thực tiễn hoạt động GTĐB của Việt Nam cũng
Trang 26như sự đòi hỏi của tiến trình mở rộng giao lưu hợp tác quốc tế về GTĐB.
Pháp Luật GTĐB còn phải đảm bảo tính đồng bộ thể hiện ở sự thốngnhất, không mâu thuẫn nhau của các chế định, quy phạm pháp luật vềATTTGTĐB cùng tập trung điều chỉnh một cách có hiệu quả các quan hệ vềATTTGTĐB Do quan hệ về ATTTGTĐB có liên quan đến nhiều quan hệ xãhội khác thuộc đối tượng điều chỉnh của nhiều ngành luật khác nhau trong hệthống pháp luật Việt Nam nên tính đồng bộ của pháp luật giao thông đường
bộ còn phải thể hiện qua sự thống nhất, quan hệ khăng khít, không mâu thuẫncủa pháp luật về ATTTGTĐB với các bộ phận pháp luật khác, cũng như cácngành luật khác trong hệ thống pháp luật Việt Nam
Trong xây dựng và hoàn thiện pháp luật về ATTTGTĐB, công tác phápđiểm hóa (rà soát, hệ thống hóa các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnhvực ATTTGTĐB) có tầm quan trọng đặc biệt Rà soát hệ thống văn bản quyphạm pháp luật nhằm loại bỏ những quy phạm lỗi thời, mâu thuẫn, chế địnhthêm những quy phạm mới nhằm thay thế cho những quy định bị loại bỏ vàkhắc phục những chỗ trống được thực hiện trong quá trình tập hợp văn vản,sửa đổi các quy phạm hiện hành nâng cao hiệu lực pháp lý của chúng Phápđiển hóa là hình thức cao nhất hoàn chỉnh nhất của công tác hệ thống hóapháp luật
Các lĩnh vực ban hành văn bản quản lý nhà nước về đảm bảoATTTGTĐB bao gồm:
Ban hành văn bản về xây dựng quy hoạch, kế hoạch và chính sách pháttriển GTĐB; Ban hành văn bản về xây dựng và chỉ đạo thực hiện chươngtrình quốc gia về ATTTGTĐB ban hành các văn bản quy phạm pháp luật vềATTTGTĐB; các văn bản về quy chuẩn, tiêu chuẩn về an toàn GTĐB, vềtuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về ATTTGTĐB, vềtổ chức quản
lý, bảo trì và bảo vệ kết cấu hạ tầng GTĐB; ban hành các văn bản về đăng ký,
Trang 27cấp và thu hồi biển số phương tiện GTĐB; các văn bản hướng dẫn cấp và thuhồi giấy chứng nhận về chất lượng, an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường củacác loại phương tiện GTĐB Ban hành các văn bản quy định và hướng dẫn vềquản lý đào tạo, sát hạch lái xe; cấp, đổi, thu hồi giấy phép lái xe và chứng chỉbồi dưỡng kiến thức pháp luật về GTĐB; ban hành các văn bản về quản lýhoạt động giao thông vận tải, dịch vụ hỗ trợ vận tải và tổ chức cứu nạnGTĐB, các văn bản về tổ chức nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ
về GTĐB; đào tạo cán bộ và công nhân kỹ thuật về GTĐB; các văn bản vềthanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật vềATTTGTĐB; các văn bản quy định và hướng dẫn về hợp tác quốc tế về bảođảm ATTTGTĐB
1.1.3.2 Tổ chức thực hiện pháp luật về an toàn trật tự giao thông đường bộ
Tổ chức thực hiện pháp luật về ATTTGTĐB là hoạt động đưa các quyphạm pháp luật về ATTTGTĐB vào điều chỉnh các quan hệ GTĐB Hoạtđộng này bao gồm: triển khai thực hiện và áp dụng pháp luật về ATTTGTĐB
Về triển khai thực hiện pháp luật ATTTGTĐB: các cơ quan QLNN
được giao thẩm quyền quản lý về an toàn trật tự giao thông tổ chức triển khaicác quy định trong các văn bản pháp luật về ATTTGTĐB bằng việc tập huấn,hướng dẫn thực hiện tại các cơ quan, đơn vị cơ sở, tuyên truyền phổ biến giáodục cho các đối tượng quản lý bằng nhiều hình thức, biện pháp phù hợp Đây
là một trong những nhiệm vụ hàng đầu và quan trọng mang tính cơ bản và lâudài nhằm hình thành nếp sống văn minh ý thức chấp hành pháp luật của nhândân khi tham gia giao thông đường bộ
Kinh nghiệm của rất nhiều quốc gia trên thế giới về triển khai thựchiện pháp luật ATTTGTĐB cho thấy, muốn thực hiện quản lý tốt công tác
an toàn trật tự giao thông đường bộ, cần có sự phối hợp triển khai thực hiện
Trang 28pháp luật ATTTGTĐB một cách hiệu quả đến tất cả các tổ chức, các cơquan, các đối tượng tham gia giao thông thì mới có thể tạo nên sự thốngnhất và đồng thuận trong quá trình thực hiện Ví dụ: tại Việt Nam, để triểnkhai thực hiện pháp luật được thuận lợi, ngay từ khi có cuộc họp chính phủ
về dự thảo luật, tất cả các thông tin về cuộc họp và về nội dung dự thảo luật
đã được công bố rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng để côngchúng biết và tham gia xây dựng luật Bộ luật được hoàn thiện, việc hướngdẫn thực hiện pháp luật sẽ được tổ chức một cách đồng bộ mà trước hết làtrong đội ngũ những người làm công tác quản lý nhà nước, sau đó đượctriển khai tuyên truyền rộng rãi đến toàn thể nhân dân bằng các hình thứctuyên truyền trên các phương tiện truyền thông đại chúng, tuyên truyền quacác tổ chức đoàn thể, tuyên truyền bằng tờ rơi… Tất cả các biện pháp đócần thực hiện đồng bộ để đạt được hiệu quả cao nhất, nhằm nâng cao hiểubiết và ý thức chấp hành luật pháp của nhân dân
Về áp dụng pháp luật ATTTGTĐB: Là việc tác động quản lý bằng
quyền lực nhà nước của các cơ quan có thẩm quyền và được ủy quyền tronglĩnh vực ATTTGTĐB để thi hành pháp luật về ATTTGTĐB Các hoạt động
áp dụng pháp luật ATTTGTĐB bao gồm: đào tạo lái xe (cấp giấy phép láixe), chứng thực, chứng nhận; cho phép (giao đất xây dựng công trình giaothông, quyết định và cấp giấy phép các dự án giao thông, xây dựng cầuđường, bến xe, bãi đỗ xe, xuất nhập các phương tiện giao thông, kinh doanhvận tải đường bộ); bãi bỏ các quyết định sai trái; ban hành các quyết định;thanh tra, kiểm tra, giám sát, cưỡng chế…
Hoạt động áp dụng pháp luật ATTTGTĐB là rất cần thiết trong quátrình quản lý nhà nước bởi nhờ các hoạt động áp dụng luật này, hệ thống quản
lý nhà nước về an toàn giao thông được thực hiện một cách khoa học và toàndiện về an toàn trật tự giao thông đường bộ Khoa học về cách thức quản lý,
Trang 29toàn diện về đối tượng quản lý.
1.1.3.3 Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại tố cáo về an toàn trật
tự giao thông đường bộ
Vi phạm pháp luật về ATTTGTĐB là hành vi có lỗi do cá nhân, tổchức thực hiện vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước Vi phạmpháp luật về ATTTGTĐB là loại vi phạm xảy ra liên tục, với nhiều đối tượngkhác nhau và với nhiều biểu hiện khác nhau: Vi phạm trong xây dựng kết cấu
hạ tầng, vi phạm trong quá trình tham gia giao thông, vi phạm trong quá trìnhvận tải… các hành vi vi phạm này tuy trong lĩnh vực giao thông nhưng có thểphát sinh các loại vi phạm pháp luật như: vi phạm pháp luật dân sự; vi phạmpháp luật hành chính; vi phạm kỷ luật nhà nước (chủ yếu đổi với cán bộ, côngchức, viên chức hành chính trực tiếp hoạt động QLNN trong bảo đảmATTTGTĐB); vi phạm pháp luật đất đai; vi phạm pháp luật hình sự
Đối tượng áp dụng của hoạt động xử lý vi phạm pháp luật vềATTTGTĐB là toàn bộ cá nhân, tổ chức Việt Nam, cá nhân, tổ chức nướcngoài có hành vi vi phạm pháp luật về giao thông đường bộ
Xử lý vi phạm pháp luật về ATTTGTĐB là hoạt động của những chủthể có thẩm quyền QLNN trong bảo đảm ATTTGTĐB được tiến hành bằngbiện pháp cưỡng chế Các biện pháp cưỡng chế hành chính gồm có: các biệnpháp cưỡng chế phòng ngừa, các biện pháp cưỡng chế ngăn chặn, các biệnpháp cưỡng chế đặc biệt và các biện pháp cưỡng chế phạt tiền - theo quy địnhcủa pháp luật xử phạt vi phạm hành chính
Xử lý vi phạm pháp luật về ATTTGTĐB được tiến hành ở hai mức độ:
xử lý vi phạm hành chính và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các hành vi
vi pham pháp luật về ATTTGTĐB đã đủ các yếu tố cấu thành tội phạm
Xử lý vi phạm hành chính về ATTTGTĐB chủ yếu là áp dụng xử phạt
vi phạm hành chính về ATTTGTĐB được áp dụng đối với cá nhân và tổ chức
Trang 30có hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm quy định về nguyên tắc ATTTGTĐB, cácđiều kiện đảm bảo ATGT của kết cấu hạ tầng GTĐB, phương tiện và ngườitham gia GTĐB, hoạt động vận tải đường bộ và các hành vi vi phạm khác vềATTTGTĐB mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải
bị xử phạt hành chính
Như vậy, nội dung của QLNN trong bảo đảm ATTTGTĐB bao gồm:Xây dựng quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển GTĐB; xây dựng vàchỉ đạo thực hiện chương trình quốc gia về ATTTGTĐB Ban hành và tổchức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về ATTTGTĐB; quy chuẩn,tiêu chuẩn về an toàn GTĐB; Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật vềATTTGTĐB; Tổ chức quản lý, bảo trì và bảo vệ kết cấu hạ tầng GTĐB.Đăng ký, cấp và thu hồi biển số phương tiện GTĐB; cấp và thu hồi giấychứng nhận về chất lượng, an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của các loạiphương tiện GTĐB Quản lý đào tạo, sát hạch lái xe; cấp, đổi, thu hồi giấyphép lái xe và chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về GTĐB Quản lýhoạt động giao thông vận tải, dịch vụ hỗ trợ vận tải và tổ chức cứu nạnGTĐB Tổ chức nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ về GTĐB; đàotạo cán bộ và công nhân kỹ thuật về GTĐB; kiểm tra, thanh tra, giải quyếtkhiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về ATTTGTĐB Hợp tác quốc tế
về bảo đảm ATTTGTĐB
1.1.4 Các phương pháp quản lý nhà nước về đảm bảo an toàn trật tự giao thông đường bộ
1.1.4.1 Phương pháp tuyên truyền giáo dục
Là Phương pháp làm cho đối tượng quản lý hiểu rõ sự cần thiết và tự
giác thực hiện những hành vi tuân thủ luật pháp và quy định về ATTTGTĐB
và tránh thực hiện những hành vi vi phạm luật pháp và quy định về
ATTTGTĐB.
Trang 31Về nội dung, phương pháp tuyên truyền giáo dục do chủ thể quản lýhành chính nhà nước sử dụng để tác động lên đối tượng quản lý nhằm thựchiện các chức năng và nhiệm vụ của mình.
Bản chất của phương pháp tuyên truyền giáo dục là làm cho đối tượngquản lý hiểu rõ sự cần thiết và tự giác thực hiện hoặc tránh thực hiện nhữnghành vi nhất định
Phương pháp tuyên truyền giáo dục được thể hiện bằng những hoạtđộng như: giải thích, động viên, hướng dẫn, chứng minh làm cho đối tượnghiểu rõ và tự giác chấp hành các yêu cầu của chủ thể quản lý
1.1.4.2 Phương pháp cưỡng chế
Cưỡng chế là biện pháp bắt buộc bằng bạo lực của cơ quan nhà nước,người có thẩm quyền đối với những cá nhân, tổ chức nhất định trong nhữngtrường hợp pháp luật quy định buộc cá nhân, tổ chức đó phải thực hiện haykhông thực hiện những hành vi nhất định hoặc phải phục tùng những hạn chế
về mặt tài sản hoặc tự do thân thể
Về Nội dung, Chủ thể áp dụng phương pháp cưỡng chế phải là cơ quan
nhà nước, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật như: cơ quancông an, ủy ban nhân dân… Đối tượng bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế là
cá nhân, tổ chức nhất định trong những trường hợp pháp luật quy định như: cánhân, tổ chức vi phạm hành chính
Biểu hiện của phương pháp cưỡng chế là buộc cá nhân, tổ chức phảichấp hành các quyết định đơn phương của chủ thể quản lý Cụ thể là buộc cánhân, tổ chức phải thực hiện hay không thực hiện những hành vi nhất địnhhoặc phải phục tùng những hạn chế nhất định về mặt tài sản của cá nhân, tổchức hoặc tự do thân thể của cá nhân
Có bốn loại cưỡng chế nhà nước: Cưỡng chế hình sự, cưỡng chế dân
sự, cưỡng chế kỷ luật và cưỡng chế hành chính
Trang 32Cưỡng chế hình sự: là biện pháp cưỡng chế do các cơ quan có thẩmquyền áp dụng đối với những người có hành vi phạm tội hoặc bị tình nghiphạm tội.
Cưỡng chế dân sự: Là biện pháp cưỡng chế nhà nước do các cơ quan cóthẩm quyền áp dụng đối với cá nhân hay tổ chức có hành vi vi phạm dân sự,gây thiệt hại cho nhà nước, tập thể hoặc công dân
Cưỡng chế kỷ luật: Là biện pháp cưỡng chế nhà nước do các cơ quan
và người có thẩm quyền áp dụng đối với những cán bộ công chức có hành vi
Đặc điểm của phương pháp hành chính
Đặc trưng của phương pháp này là sự tác động trực tiếp của chủ thểquản lý lên đối tượng quản lý bằng cách đơn phương quy định nhiệm vụ vàphương án hành động của đối tượng quản lý
Phương pháp này được tiến hành trong khuôn khổ của pháp luật.Các quyết định hành chính được ban hành trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ,quyền hạn của chủ thể quản lý do pháp luật quy định Ví dụ: Chủ tịch UBNDcác cấp chỉ được ra chỉ thị, kiểm tra hoạt động của các cơ quan, tổ chức, cánhân trong khuôn khổ, chức năng, quyền hạn của mình do pháp luật quy định
Tóm lại, phương pháp hành chính là phương thức tác động đến cánhân, tổ chức thuộc đối tượng quản lý thông qua quy định trực tiếp nghĩa vụ
Trang 33của họ qua những mệnh lệnh và sự phục tùng.
1.1.4.4 Phương pháp kinh tế
Phương pháp kinh tế là phương pháp tác động gián tiếp đến hành vi củacác đối tượng quản lý thông qua việc sử dụng những đòn bẩy kinh tế tác độngđến lợi ích của con người
Về đặc điểm, đây là phương pháp tác động gián tiếp đến đối tượngquản lý thông qua lợi ích kinh tế như việc quy định chế độ thưởng, xử phạt.Phương pháp kinh tế được thể hiện trong việc sử dụng đòn bẩy kinh tế như:quyền tự chủ trong sản xuất, kinh doanh; chế độ hạch toán kinh tế, chế độthưởng… nhằm tạo điều kiện vật chất thuận lợi cho hoạt động có hiệu quả củađối tượng quản lý phát huy năng lực sáng tạo, chọn cách tốt nhất để hoànthành nhiệm vụ
1.2 Các nhân tố tác động đến quản lý nhà nước đảm bảo ATTTGTĐB
1.2.1 Cơ sở pháp lý
Tiêu chí về cơ sở pháp lý là tiêu chí đầu tiên đánh giá hiệu quả của quản
lý nhà nước trong bất cứ lĩnh vực nào Không có cơ sở pháp lý, hoạt động quản
lý nhà nước sẽ không thực hiện được Cơ sở pháp lý không hoàn thiện hoặckhông phù hợp sẽ khiến cho hoạt động quản lý nhà nước không hiệu quả
Cũng như tất cả các lĩnh vực khác, cơ sở pháp lý của hoạt động QLNNtrong đảm bảo ATTTGTĐB được tính đến ở hệ thống các văn bản quy phạmpháp luật được công nhận và ban hành chính thức trên phạm vi toàn quốc Hệthống văn bản này có vị trí vô cùng quan trọng trong việc giúp cho công tácquản lý nhà nước hiệu quả
Xã hội ngày càng phát triển đa dạng, đa chiều với những mối quan hệphức tạp, nhiều vấn đề liên quan trực tiếp đến sự ổn định và phát triển kinh tế
- xã hội đang đặt ra cho Nhà nước những vấn đề thực tiễn cần phải giải quyết
Trang 34trong quá trình quản lý, điều hành Các văn bản quy phạm pháp luật có thểđiều tiết những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn như vậy.
Ngoài ra, văn bản quy phạm pháp luật thể chế hóa và bảo đảm thực
hiện các chính sách Pháp luật là biểu hiện hoạt động của các chính sách.
Pháp luật được ban hành có thể đưa ra các biện pháp gián tiếp, thông qua việctạo ra hành lang pháp lý mà trong phạm vi đó, từng cá nhân đóng vai trò làđộng lực Bên cạnh đó, văn bản quy phạm pháp luật làm thay đổi các hành viứng xử không mong muốn và thiết lập các hành vi ứng xử phù hợp
Để thực hiện được vai trò quan trọng như vậy, trước hết, hệ thống vănbản quy phạm pháp luật phải đảm bảo tính thống nhất, tính khoa học, chínhxác, phải đầy đủ, phù hợp với các đối tượng quản lý, phù hợp sự phát triểncủa khoa học kĩ thuật, với sự phát triển của xã hội và phù hợp với điều kiệncủa đất nước thể hiện ở chỗ các văn bản pháp luật trong cùng một lĩnh vực,hoặc trong nhiều lĩnh vực khác nhau, đều thống nhất trong việc xác lập môhình hành vi và bảo đảm thực hiện quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng củachủ thể
Tính thống nhất của hệ thống pháp luật còn được thể hiện qua cấu trúc,cách sắp xếp, phân loại thứ bậc, hiệu lực của quy phạm pháp luật Tính thốngnhất trong các văn bản quy phạm pháp luật cần xem xét đến sự thống nhấtgiữa các quy phạm pháp luật, các chế định pháp luật trong cùng một ngànhluật và với các ngành luật khác Tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống phápluật còn được xem xét trong mối quan hệ giữa luật chung và luật chuyênngành, luật nội dung và luật hình thức, thể hiện trong tính thứ bậc của hệthống văn bản pháp luật Luật, pháp lệnh cũng như các VBQPPL khác đềuphải phù hợp với Hiến pháp, những văn bản luật vi hiến đều sẽ không có giátrị pháp lý
Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật cũng phải thường xuyên được
Trang 35pháp điển hóa để hoàn thiện Sự pháp điển hóa này nhằm phát hiện quy địnhtrái pháp luật, mâu thuẫn, chồng chéo, hết hiệu lực hoặc không còn phù hợpvới tình hình phát triển kinh tế - xã hội để kịp thời đình chỉ việc thi hành, bãi
bỏ, thay thế, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành văn bản mới, bảo đảm tính hợphiến, hợp pháp, thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật và phù hợp vớitình hình phát triển kinh tế - xã hội Hệ thống hóa văn bản nhằm công bố Tập
hệ thống hóa văn bản còn hiệu lực và các danh mục văn bản, giúp công tácxây dựng, áp dụng, thi hành pháp luật được hiệu quả, thuận tiện, tăng cườngtính công khai, minh bạch của hệ thống pháp luật
Thêm vào đó, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trong đảm bảoATTTGTĐB phải có tính quyền lực và hiệu lực của văn bản Tính quyền lực
và hiệu lực của các văn bản quy phạm pháp luật thể hiện ở tính chất khoa họcđầy đủ và bao quát các nội dung cần có của văn bản Trọng tâm của hệ thốngvăn bản pháp luật về ATTTGTĐB thể hiện ở luật Giao thông đường bộ, tuynhiên, còn có hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật khác trong quá trìnhthực hiện quản lý Hệ thống văn bản này không những cần có sự hoàn thiện
và đầy đủ về số lượng mà còn cần đến chất lượng của các văn bản Chất lượngcủa các văn bản này thể hiện ở tính đầy đủ, chặt chẽ và dễ hiểu, dễ thực hiện vàphù hợp, đảm bảo tính liên thông và nhất quán, tính khách quan, công khai vàminh bạch trong các loại văn bản Tránh tình trạng các văn bản chồng chéo,khó hiểu, hoặc chỉ mang tính nguyên tắc khiến người chấp hành khó thực hiệnđược theo yêu cầu của văn bản hoặc tình trạng một văn bản có nhiều cách hiểu
để nảy sinh tình trạng lách luật, lợi dụng kẽ hở trong luật định
Đảm bảo ATTTGTĐB được quản lý bởi hệ thống pháp luật Việt Nam,trong đó trực tiếp chịu sự chi phối của Luật giao thông đường bộ Ngoài ra cơ
sở pháp lý của quản lý Đảm bảo ATTTGTĐB còn dựa trên cơ sở văn bảnquản lý theo ngành, theo lĩnh vực (quản lý theo chiều dọc từ Bộ Giao thông
Trang 36vận tải xuống Sở Giao thông vận tải các tỉnh, thành phố trực thuộc), Văn bảnquản lý theo chiều ngang (phối hợp giữa Bộ Giao thông vận tải với Bộ Công
an, Bộ Giáo dục, Bộ Y tế ); phối hợp chỉ đạo giữa các Bộ có liên quan vớicác sở, ban, ngành theo chiều dọc Ngoài ra còn các chương trình, mục tiêu,
đề án, dự án quốc gia mỗi hệ thống có một chức năng nhiệm vụ quản lýriêng của mình trong từng lĩnh vực nhất định
1.2.2.Thể chế hành chính nhà nước
Một trong những vấn đề quan trọng của hoạt động quản lý hành chính nhànước ở mọi quốc gia là vấn đề quyền lực và sự phân chia, phân công thực thiquyền lực đó giữa các cơ quan nhà nước, giữa các cấp chính quyền nhà nước
Thể chế hành chính nhà nước quy định sự phân chia chức năng, quyềnhạn giữa các cơ quan hành chính của Chính phủ trung ương và giữa các cấpmột cách cụ thể: Chính phủ trung ương, các Bộ có quyền trên những vấn đềgì; Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân ở địa phương có những quyền gì;mối quan hệ giữa các cơ quan của bộ máy hành chính trung ương và giữatrung ương với các cấp chính quyền địa phương như thế nào; thẩm quyền vềviệc ban hành các văn bản pháp luật như thế nào…
Thể chế hành chính nhà nước khoa học thì cơ cấu tổ chức của bộ máycác cơ quan hành chính nhà nước các cấp rõ ràng và gọn nhẹ Thiếu các quyđịnh cụ thể, khoa học trong việc phân chia quyền hạn, trách nhiệm, nghĩa vụtrong hoạt động quản lý Nhà nước của các cơ quan hành chính nhà nước bộmáy hành chính nhà nước sẽ cồng kềnh, chức năng, nhiệm vụ chồng chéohoạt động kém năng lực, kém hiệu lực và hiệu quả Ngoài ra, thể chế hànhchính nhà nước còn là cơ sở xác lập nhân sự trong các cơ quan, đơn vị hànhchính nhà nước.Ttrong bộ máy quản lý hành chính nhà nước, con người cóthể được đặt vào các vị trí khác nhau: Những người có quyền ban hành cácquyết định quản lý (các văn bản pháp luật) bắt buộc cộng đồng phải chấp
Trang 37nhận và thực hiện; Những người trong bộ máy thực hiện chức năng tư vấngiúp cho những nhà lãnh đạo ban hành quyết định (tham mưu, giúp việc) vànhững người thực thi các văn bản pháp luật, các thể chế, các thủ tục của nềnhành chính (công lực) Nếu chức năng, nhiệm vụ không được xác định mộtcách rõ ràng, khoa học thì khó có thể bố trí hợp lý được từng người vào đúng
vị trí, hoặc có quá nhiều đơn vị với chức năng, nhiệm vụ chồng chéo hoặc quávụn vặt để có đủ chỗ bố trí cán bộ một cách lãng phí Có thể nói, thể chế hànhchính nhà nước là căn cứ để quản lý, điều chỉnh việc sử dụng các nguồn lựccủa xã hội một cách có hiệu lực và hiệu quả
Quản lý nhà nước đảm bảo ATTTGTĐB là một trong những lĩnh vựccủa quản lý nhà nước nói chung vì vậy thể chế hành chính nhà nước đóng vaitrò quan trọng và là yếu tố tác động lớn đến hiệu quả quản lý nhà nước Thểchế nhà nước đảm bảo ATTTGTĐB giúp cho việc phân cấp quản lý đảm bảotính hợp lý, khoa học không chồng chéo Các cơ quan quản lý vì vậy sẽ gọnnhẹ, đúng chức năng nhiệm vụ tránh lãng phí cho xã hội và tránh gây rắc rối,phiền hà trong công tác quản lý
Những quy định của thể chế nhà nước trong lĩnh vực quản lý nhà nướcđảm bảo ATTTGTĐB còn quy định rõ các chức danh, chức năng nhiệm vụ cụthể trong các cơ quan, đơn vị quản lý, quy định các chức danh, các nhiệm vụcủa người lãnh đạo, người tham vấn và người thừa hành nhiệm vụ
Ví dụ, số lượng, trách nhiệm và nhiệm vụ các cơ quan nhà nước đảmbảo ATTTGTĐB đã được quy định rất rõ trong luật Giao thông đường bộnăm 2008:
“1 Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về giao thông đường bộ.
2 Bộ Giao thông vận tải chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về giao thông đường bộ.
3 Bộ Công an thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước về giao thông đường bộ theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có
Trang 38liên quan; thực hiện các biện pháp bảo đảm trật tự, an toàn giao thông; phối hợp với Bộ Giao thông vận tải bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ.
Bộ Công an, Bộ Giao thông vận tải có trách nhiệm phối hợp trong việc cung cấp số liệu đăng ký phương tiện giao thông đường bộ, dữ liệu về tai nạn giao thông và cấp, đổi, thu hồi giấy phép lái xe.
4 Bộ Quốc phòng thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước về giao thông đường bộ theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
5 Bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình
có trách nhiệm phối hợp với Bộ Giao thông vận tải thực hiện quản lý nhà nước về giao thông đường bộ.
6 Ủy ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình tổ chức thực hiện quản lý nhà nước về giao thông đường bộ theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan trong phạm vi địa phương.”
Từ việc quy định, phân công và phân cấp trách nhiệm quản lý của các
cơ quan quản lý nhà nước về giao thông đường bộ, Chính phủ có các văn bảnquy định về chức năng nhiệm vụ của từng đơn vị thực hiện
Bên cạnh đó trong chính các cơ quan quản lý được phân cấp nhỏ hơncũng có những văn bản quy định chức năng nhiệm vụ của các bộ phận và cácchức danh trong đơn vị để điều hành và thực hiện nhiệm vụ quản lý
Ví dụ, chức năng nhiệm vụ của Bộ Giao thông vận tải được quy định rõtrong Nghị định 107-2002/NĐ-CP; Chức năng nhiệm vụ của Cục Cảnh sátgiao thông được quy định như sau: “Cục Cảnh sát giao thông có trách nhiệm giúp Bộ trưởng Bộ Công an tham mưu với Đảng, Nhà nước các chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật về bảo vệ trật tự, an toàn giao thông đường
bộ, đường sắt và đường thủy nội địa; thực hiện chức năng quản lý nhà nước
Trang 39về bảo vệ trật tự, an toàn giao thông đường bộ, đường sắt và đường thủy nội địa; tổ chức thực hiện và thống nhất quản lý, chỉ huy, chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra lực lượng Cảnh sát giao thông thực hiện các chủ trương, kế hoạch, biện pháp bảo vệ trật tự, an toàn giao thông đường bộ, đường sắt và đường thủy nội địa; phối hợp với các lực lượng trong công tác phòng ngừa, đấu tranh với các loại tội phạm và vi phạm trật tự, an toàn xã hội trên các tuyến giao thông đường bộ, đường sắt và đường thủy nội địa theo quy định của của pháp luật và của Bộ trưởng Bộ Công an” (Cổng thông tin điện tử Cục Cảnh
sát giao thông)…
Những quy định này là căn cứ để sắp xếp, bố trí và tổ chức các cơquan, đơn vị và bộ phận thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước đảm bảoATTTGTĐB Nhờ đó, các cơ quan, đơn vị hoạt động đồng bộ, hiệu quả hơn
Như vậy, có thể nói, thể chế nhà nước là một trong những yếu tố đóngvai trò quan trọng tác động đến hiệu quả của quản lý nhà nước đảm bảoATTTGTĐB
1.1.3 Năng lực tổ chức thực hiện pháp luật
Pháp luật là yếu tố quan trọng nhất trong quản lý nhà nước về tất cả cáclĩnh vực Tuy nhiên, nếu bộ máy tổ chức công tác quản lý không được tổ chứchiệu quả sẽ dẫn đến tình trạng lộn xộn không tuân thủ pháp luật trong xã hội
Vì vậy, thực hiện đầy đủ, khoa học và chính xác kịp thời pháp luật trong quản
lý nhà nước chính là tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác quản lý nhà nước
Trong quá trình xử lý những tình huống công việc, người tổ chức thựchiện pháp luật phải biết định hướng những chủ trương, quy định, văn bản, cậpnhật văn bản pháp luật, phải đảm bảo tính thống nhất; tính đúng đắn, chínhxác khi áp dụng pháp luật; Bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân;Ngăn chặn kịp thời và xử lý mọi hành vi vi phạm Người thực hiện pháp luậtcũng cần tuân thủ các uyên tắc pháp chế; Nguyên tắc khách quan; Nguyên tắc
Trang 40công bằng khi thực hiện pháp luật Cần nắm vững quy trình thực hiện và qpsdụng pháp luật trong xử lý thực hiện công việc như, phân tích chính xác tìnhhuống công việc, lựa chọn đúng các văn bản pháp luật và ra quyết định ápdụng pháp luật để giải quyết vụ, ngoài ra người thực hiện pháp luật còn cầnphải tiến hành các hoạt động kiểm tra, giám sát việc thực thi các quyết định
áp dụng pháp luật đối với các chủ thể có liên quan để đảm bảo hiệu lực vàhiệu quả của nó trên thực tế
Năng lực thực hiện pháp luật trong quản lý nhà nước còn được đánh giádựa vào tính hợp lý của các cơ quan, tổ chức thực hiện công tác quản lý: Tínhhợp lý này được đánh giá trên cơ sở các nguyên tắc tổ chức kĩ thuật nhằmnâng cao tính khoa học của việc tổ chức thực hiện công tác quản lý và đạtđược hiệu quả quản lý cao nhất Đó là việc tổ chức thực hiện công tác quản lýnhà nước kết hợp quản lý theo ngành với quản lý theo địa giới hành chính.Ðây chính là sự phối hợp giữa quản lý theo chiều dọc của các Bộ với quản lýtheo chiều ngang của chính quyền địa phương theo sự phân công trách nhiệm
và phân cấp quản lý giữa các ngành, các cấp
Ngoài ra, khi thực hiện hoạt động quản lý cần kết hợp quản lý theongành với quản lý theo chức năng nhằm đảm bảo việc thực hiện có hiệu quảtừng chức năng quản lý riêng biệt của các đơn vị, tổ chức trong ngành, đồngthời bảo đảm mối quan hệ liên ngành, làm cho toàn bộ hoạt động của hệthống ngành được phối hợp chặt chẽ, có hiệu quả
Theo quy định của pháp luật, hệ thống các cơ quan chuyên môn đượchình thành để thực hiện việc quản lý theo chức năng Theo hệ thống dọc có
bộ, sở, phòng, ban chuyên môn quản lý chức năng, chịu sự quản lý của cơquan quản lý theo chức năng có thẩm quyền ở cấp trên Nguyên tắc này thểhiện quyền hạn, nhiệm vụ của cơ quan quản lý theo chức năng trong việc thựchiện các hoạt động quản lý hành chính nhà nước Nếu thiếu sự liên kết này,