Với những ý nghĩa khoa học và thực tiễn trên tôi lựa chọn đề tài “ Đảng bộ huyện Bình Lục Hà Nam lãnh đạo xây dựng nông thôn mới từ năm 2008 đến năm 2014”, làm luận văn Thạc sỹ ngành Lị
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-*** -NGUYỄN THỊ PHƯƠNG LAN
ĐẢNG BỘ HUYỆN BÌNH LỤC (HÀ NAM) LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
Trang 2HÀ NỘI - 2015 LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành Luận văn Thạc sĩ, tác giả xin gửi lời tri ân sâu sắc tới
TS Lê Quỳnh Nga - người Cô đã tận tình dạy dỗ, hướng dẫn tác giả trong
suốt quá trình làm luận văn
Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn tới các Thầy Cô trong khoa Lịch sử - trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội, nơi tác giả đã học
Cám ơn các cán bộ Thư viện Đại học Quốc Gia Hà Nội, các cơ quan ban ngành của huyện Bình Lục và đã tạo điều kiện cho tác giả có được tài liệu thực hiện Luận văn
Cám ơn gia đình, bạn bè, người thân đã luôn động viên, khuyến khích tác giả trong quá trình học tập và làm luận văn
Xin chân thành cảm ơn!
Tác giả
Nguyễn Thị Phương Lan
Trang 3MỤC LỤC
Trang 5MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong quá trình CNH, HĐH đất nước vấn đề nông nghiệp nông thôn là một trong những nội dung quan trọng trong việc xây dựng và phát triển đất nước nó ảnh hưởng rất lớn đến thành quả chung của toàn bộ sự nghiệp cách mạng của Đảng Nước ta hiện nay vẫn là nước nông nghiệp, lực lượng lao động vẫn chủ yếu ở nông thôn chiếm khoảng 70% dân số, trong khi đó đóng góp của kinh tế nông thôn vào nền kinh tế quốc dân chiếm khoảng hơn 20% GDP và chiếm trên 25% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước Tuy nhiên các chính sách phát triển nông nghiệp thường thiên về phát triển ngành mà chưa chú ý đến vai trò của chủ thể, động lực chính của sự phát triển nông nghiệp và nông thôn đó là nông dân Phần lớn các chính sách chưa quan tâm
xử lý tổng thể và hợp lý giữa các vùng, giữa các lĩnh vực trong ngành, giữa nông thôn và thành thị, chưa đặt ra và giải quyết triệt để các mối quan hệ giữa các yếu tố chính trong phát triển nông nghiệp, nông thôn và nông dân Đây là nguyên nhân chủ yếu khiến cho sau nhiều thập kỷ nền nông nghiệp của ta chuyển sang nền kinh tế thị trường vẫn chưa đạt được bước nhảy vọt trong sự chuyển biến về nông nghiệp, nông thôn
Trong nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng 1991
đã xác định: “phát triển nông, lâm, ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến phát triển toàn diện kinh tế nông thôn mới là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để
ổn định kinh tế xã hội” [24, tr.63] Đặc biệt nghị quyết đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng cũng nhấn mạnh: “hiện nay và trong nhiều năm tới đây vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn có tầm chiến lược quan trọng Việc xây dựng hoàn chỉnh các quy hoạch phát triển kinh tế, nông nghiệp và nông thôn thực hiện chương trình mới nhằm xây dựng các làng ấp, xã, bản có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, văn minh xanh, sạch, đẹp gắn với việc hình thành
Trang 6các khu dân đô thị hóa Phát huy dân chủ, xây dựng nếp sống văn minh, bài trừ các tệ nạn xã hội ở nông thôn” [31, tr.195 – 196] Mặc dù chủ trương xây dựng và phát triển nông thôn mới được Đảng ta đưa ra khá sớm nhưng kết quả thực hiện xây dựng và phát triển trong cả nước nói chung và của Hà Nam nói riêng còn tồn tại nhiều vấn đề cần giải quyết Trong quá trình thực hiện chủ trương đổi mới nông thôn trên mỗi địa bàn thực hiện luôn tồn tại nhiều vấn đề Có những thành tựu nổi bật làm thay đổi bộ mặt làng xã về các phương diện như: đường xá, cầu cống, môi trường, hệ thống giáo dục -
y tế, đời sống nhân dân ấm no, hạnh phúc nhưng cũng tồn tại một số hạn chế nhất định về khả năng lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện
Nguyên nhân chính của việc thực hiện xây dựng Nông thôn mới chưa đạt kết quả như mục tiêu đề ra bởi tư tưởng trì trệ, bảo thủ không chịu thay đổi những cái mới của người nông dân sao cho phù hợp với tình hình thế giới
và khu vực
Trong bức tranh tổng thể về tình hình phát triển kinh tế của huyện cho thấy kinh tế nông nghiệp chiếm tỉ lệ > 90% tổng thu chính của nền kinh tế huyện Vì vậy vấn đề nông nghiệp, nông thôn, nông dân được quan tâm hơn bao giờ hết Với những ý nghĩa khoa học và thực tiễn trên tôi lựa chọn đề tài “
Đảng bộ huyện Bình Lục (Hà Nam) lãnh đạo xây dựng nông thôn mới từ năm
2008 đến năm 2014”, làm luận văn Thạc sỹ ngành Lịch sử Đảng cộng sản
Việt Nam để nghiên cứu làm rõ hơn đặc điểm tình hình nông nghiệp, nông thôn, nông dân của huyện trong giai đoạn thực hiện xây dựng Nông thôn mới
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Xây dựng Nông thôn mới là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước nhằm phát triển kinh tế - xã hội nâng cao đời sống của nhân dân Xuất phát từ tầm quan trọng và tính thời sự của vấn đề, trong những năm qua nông nghiệp, nông thôn là đề tài nghiên cứu được các nhà khoa học quan tâm Có rất nhiều công trình khoa học, nghiên cứu liên quan đến nội dung trên như sau:
Trang 7+“Kinh nghiệm tổ chức quản lý nông thôn Việt Nam trong lịch sử” do
GS Phan Đại Doãn và PGS.Nguyễn Quang Ngọc làm chủ biên, Nxb Chính trị Quốc gia ấn hành năm 1994, là công trình nghiên cứu những vấn đề lịch sử trong phát triển nông thôn nước ta Sau khi nêu lên sự quan tâm của Nhà nước trong thời kỳ về quản lý làng xã và xây dựng thiết chế chính trị - xã hội nông thôn nước ta, các tác giả trình bày khá toàn diện về quản lý nông thôn nước ta trong lịch sử như vấn đề Nhà nước quản lý nông thôn trong các thế kỷ XVI - XVIII; Nhà Nguyễn với vấn đề nông thôn thế kỷ XIX; Phát triển nông thôn trong thời kỳ Pháp thuộc (1945 - 1954); Cơ cấu quản lý làng xã Việt Nam từ
1954 - 1975 Công trình còn đề cập mô hình phát triển làng xã nông thôn Việt Nam ở các vùng cụ thể nhất là Nam bộ, Bắc bộ Công trình đã cung cấp những số liệu quan trọng về vai trò Nhà nước, tính cộng đồng, tính bền vững của mô hình làng xã Việt Nam; những nhân tố tác động đến sự hình thành thiết chế làng xã và mô hình hoạt động
Ngoài ra còn có hàng loạt các công trình nghiên cứu, giới thiệu kinh nghiệm phát triển nông nghiệp, nông thôn ở nước ngoài Theo hướng này, các nhà nghiên cứu và chỉ đạo thực tiễn ở nước ta như: PGS.TS Chu Hữu Quý; GS.TS Nguyễn Thế Nhã cũng đã có những công trình nghiên cứu rất công phu và có giá trị bàn luận về vấn đề này
Điểm chung nhất của các công trình này là sau khi phân tích thực tiễn giải quyết vấn đề quản lý Nhà nước nói chung và việc xây dựng chỉ đạo chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn các tác giả đều gợi mở, nêu lên những kinh nghiệm để có thể vận dụng giải quyết vấn đề thực tiễn ở Việt Nam
+ “Phát triển nông thôn” do GS Phạm Xuân Nam (Chủ biên), Nxb
Khoa học xã hội ấn hành 1997, là công trình nghiên cứu chuyên sâu về phát triển nông thôn Trong công trình này tác giả đã phân tích sâu sắc một số nội dung về phát triển kinh tế - xã hội nông thôn nước ta như: dân số, việc làm,
Trang 8lao động, chuyển dịch cơ cấu kinh tế; vấn đề sử dụng và quản lý tài nguyên thiên nhiên; vấn đề phân tầng xã hội và xóa đói giảm nghèo Trong lúc phân tích những thành tựu, yếu kém trong phát triển nông thôn ở nước ta, các tác giả chỉ ra yêu cầu hoàn thiện hệ thống chính sách và cách thức chỉ đạo của Nhà nước trong quá trình vận động của nông thôn.
+ “Một số vấn đề về nông nghiệp, nông dân, nông thôn ở các nước và
ở Việt Nam” của các tác giả Benedict J.Tria Kerrkvliet, Jamsscott Nguyễn
Ngọc và Đỗ Đức Thịnh sưu tầm giới thiệu, Nxb Hà Nội ấn hành năm 2000 Trong công trình này các tác giả đã nghiên cứu vai trò, đặc điểm của nông dân, thiết chế nông thôn ở một số nước trên trên thế giới và những kết quả bước đầu trong nghiên cứu làng truyền thống ở Việt Nam
Đặc biệt công trình nghiên cứu của PGS.TS Vũ Trọng Khải chủ trì được Nxb Nông nghiệp ấn hành năm 2004 là một công trình nghiên cứu công phu về mô hình phát triển nông thôn Việt Nam Công trình nghiên cứu này được xuất bản trên cơ sở đề tài cấp Nhà nước do tác giả làm chủ nhiệm với
tiêu đề: “Tổng kết và xây dựng mô hình phát triển kinh tế - xã hội kết hợp
truyền thống làng xã với văn minh thời đại”.
+ “Những biện pháp chủ yếu thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa
nông nghiệp nông thôn vùng đồng bằng sông Hồng” do tác giả GS.TS
Nguyễn Đình Phan; PGS.TS Trần Minh Đạo; TS Nguyễn Văn Phúc biên soạn Trong công trình này các nhà nghiên cứu đề cập đến nhiều nội dung song chú ý nhất là các tác giả tập trung làm rõ một số vấn đề lí luận về CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn; các yếu tố tác động đến nông nghiệp, nông thôn nói chung và đồng bằng sông Hồng nói riêng
+ “Con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn”
của tác giả PGS.TS Chu Hữu Quý, PGS.TS Nguyễn Kế Tuấn, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2001 Trong công trình khoa học này các nhà nghiên cứu làm
Trang 9rõ một số vấn đề như: vấn đề lí luận về CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn theo những yêu cầu rút ngắn; nghiên cứu thực trạng thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn; các tác giả cũng đưa ra con đường, bước đi và các giải pháp chiến lược đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn trong giai đoạn tiếp theo.
+ “Xây dựng nông thôn mới vùng chiêm trũng” các tác giả Nhật Tân,
Tạp chí Cộng sản số 23, năm 2007 Trong bài viết tác giả nghiên cứu những khó khăn, thuận lợi trong quá trình xây dựng Nông thôn mới ở vùng đồng bằng chiêm trũng Bên cạnh đó còn có những bài đăng trên tạp chí, các báo của Trung ương và địa phương cũng đề cập tới vấn đề liên quan NTM
Những công trình đó đã cung cấp những luận cứ, luận chứng, những dữ liệu rất quan trọng cho việc hoạch định đường lối, chính sách phát triển nông thôn, nông nghiệp, nông dân nước ta trong thời kì đổi mới.Tuy nhiên chưa có một đề tài nào nghiên cứu cụ thể về huyện Bình Lục xây dựng Nông thôn mới
từ năm 2008 đến năm 2014 Trên cơ sở kế thừa có chọn lọc các tài liệu trên, kết hợp với phân tích, tổng hợp, đánh giá tình hình phát triển kinh tế nông nghiệp của huyện, tác giả đã tập hợp xây dựng một cuốn tài liệu viết về quá trình xây dựng NTM ở huyện Bình Lục giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2014
mang tên: “Đảng bộ huyện Bình Lục (Hà Nam) lãnh đạo xây dựng nông
thôn mới từ năm 2008 đến năm 2014”.
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu làm rõ vấn đề Nông thôn mới ở huyện Bình Lục dưới
sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2014
Nhiệm vụ nghiên cứu
+ Đề tài nghiên cứu nêu lên tình hình xây dựng NTM ở huyện Bình Lục
từ năm 2008 đến năm 2014 Hệ thống hoá các chủ trương của Đảng về phát triển
Trang 10kinh tế nông nghiệp, nông thôn trong thời kì đổi mới đã được Đảng bộ huyện kịp thời nắm bắt và vận dụng sáng tạo vào đặc điểm riêng của huyện.
+ Trình bày quá trình lãnh đạo xây dựng Nông thôn mới ở huyện dưới
sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện
+ Cuối cùng luận văn nêu lên những nhận xét trong quá trình xây dựng NTM và những kinh nghiệm lịch sử được rút ra từ đó
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Chủ trương và quá trình chỉ đạo thực hiện xây dựng Nông thôn mới của Đảng bộ huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam
Phạm vi nghiên cứu
+ Nghiên cứu bối cảnh đề ra chủ trương xây dựng Nông thôn mới.
+ Sự lãnh đạo xây dựng Nông thôn mới của Đảng bộ huyện từ năm
2008 đến năm 2014
+ Rút ra những nhận xét và kinh nghiệm lịch sử
5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
Nguồn tài liệu
Đề tài sử dụng và tham khảo các văn kiện của Trung ương Đảng, Đảng
bộ tỉnh, Đảng bộ huyện Bình Lục về lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện xây dựng Nông thôn mới giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2014 Đồng thời cũng sử dụng các báo cáo tổng kết, sơ kết qua các năm, kì đại hội trong quá trình thực hiện nhiệm vụ xây dựng NTM ở Bình Lục
Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn sử dụng các phương pháp: lịch sử, lo gic, so sánh ngoài
ra trong luận văn còn sử dụng phương pháp điền dã
6 Đóng góp luận văn
Đề tài phác họa bước đầu bức tranh xây dựng NTM qua việc hệ
Trang 11thống hóa những chủ trương và giải pháp thực hiện của Đảng bộ huyện Bình Lục Những kết quả mà đề tài đạt được qua quá trình thực tế khảo sát quá trình xây dựng NTM ở huyện sẽ là nguồn tài liệu tham khảo cho lịch
sử địa phương trong quá trình viết lịch sử Đảng bộ của huyện trong giai đoạn đổi mới
7 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục nội dung luận văn chia làm 3 chương
Chương 1: Bình Lục và những điều kiện lịch sử.
Chương 2: Lãnh đạo xây dựng nông thôn mới của Đảng bộ huyện
Bình Lục từ năm 2008 đến năm 2014
Chương 3: Nhận xét và kinh nghiệm lịch sử
Trang 12Chương 1 BÌNH LỤC VÀ NHỮNG ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ
1.1. Điều kiện tự nhiên
Bình Lục là một huyện đồng bằng chiêm trũng nhất của địa bàn tỉnh Hà Nam nằm cách thành phố Phủ Lý khoảng 17km về phía đông nam của tỉnh nằm dọc trên tuyến đường 21A cũ Từ xưa kia Bình Lục luôn được biết đến là mảnh đất trũng nhất của tỉnh là “cái rốn nước” hoặc những cái tên đùa vui như “quê hương danh giá đất ông Cò” Với những tên gọi trên ta phần nào có thể thấy về điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý, khí hậu của huyện và cũng từ đó hình thành và tác động đến tình hình kinh tế - văn hóa – xã hội và đời sống của nhân dân trong huyện
Về vị trí địa lý
Bình Lục nằm ở chính giữa và phía đông nam của tỉnh Hà Nam Phía Đông Bắc và phía Bắc giáp huyện Lý Nhân với ranh giới là nhánh nhỏ của sông Châu Giang, phía Tây Bắc giáp huyện Duy Tiên ranh giới là dòng chính sông Châu Giang, phía Tây giáp huyện Thanh Liêm, các huyện này đều thuộc tỉnh Hà Nam Riêng phía Nam và Đông Nam huyện giáp tỉnh Nam Định, ranh giới là sông Lý Nhân Trong địa bàn huyện có các con sông lớn nhỏ đều là các sông nhánh của sông Châu Giang và sông Đáy, thuộc hệ thống sông Hồng
Lịch sử hình thành của huyện có rất nhiều biến động theo lịch sử thăng trầm của thời gian Theo sử cũ chép lại huyện Bình Lục xuất hiện từ trước thời Trần nhưng trong quá trình phát triển của lịch sử địa dư Bình Lục có nhiều thay đổi Bình Lục có lúc lệ vào phủ Lý Nhân thuộc Châu Giao dưới thời nhà Minh thống trị có lúc đổi tên thành Ninh Lục dưới thời Tây Sơn.Năm 1832 Bình Lục và Nam Sang được thành lập Năm 1884 xứ Bắc Kỳ được thành lập phân phủ Lý Nhân bị bãi bỏ Ngày 20/3/1890 Pháp ra nghị
Trang 13định đưa ra tổng Ngọc Lũ, Cổ Viễn (Thượng Nguyên, Nam Định), tổng Vũ Bản (Vũ Bản, Nam Định) và lập thêm tổng mới là Văn Mỹ khi đó toàn huyện
có Bình Lục 8 tổng Huyện Bình Lục thời phong kiến thuộc phủ Lý Nhân trấn Sơn Nam Trong huyện có xã Ngọc Lũ là xã có những di chỉ khảo cổ nổi tiếng, nơi lưu giữ trống đồng Ngọc Lũ phát hiện năm 1901 Đây là di vật khảo
cổ có giá trị và nguyên vẹn của nền văn hóa Đông Sơn Ngoài chiếc trống đồng trên tại xã này, về sau còn phát hiện thêm 2 chiếc trống đồng nữa Các trống đồng cùng loại được phát hiện tiếp theo tại các thôn Đại Vũ (trống Vũ
Bị năm 1969), xã An Lão (trống An Lão năm 1985) Tổng cộng đã phát hiện tại Bình Lục là 6 chiếc
Năm 1987 thành lập thị trấn Bình Mỹ - thị trấn huyện lỵ huyện Bình Lục trên cơ xác nhập diện tích của một số xã: 1,44 ha diện tích tự nhiên và 51 nhân khẩu của xã An Đổ; 164,48 ha diện tích tự nhiên và 947 nhân khẩu của
xã An Mỹ; 90 ha diện tích tự nhiên và 573 nhân khẩu của xã Mỹ Thọ và 3,91 hécta đất của xã Trung Lương
Theo thống kê năm 2014 diện tích tự nhiên của huyện là 123.654 và dân
Trang 14Với địa hình huyện có rất nhiều con sông nhỏ chạy qua như sông Đào, sông Châu Giang, Ninh Giang, Luyện Giang, Dương Giang và sông Mới Với hệ thống sông ngòi dày đặc tạo nên mạng lưới thủy lợi nội đồng vững chắc cung cấp nước tưới cho cây trồng và vật nuôi trong từng thời vụ Lịch sử hình thành của mảnh đất này đã được chứng tỏ bằng những di chỉ khảo cổ hộ mà các nhà khảo cổ học đã tìm thấy ở nơi đây Trong các đợt tìm kiếm khai quật tại một số nơi được cho là bằng chứng của loài người sinh sống đầu tiên các nhà khảo cổ đã thu thập là những bãi sú vẹt đào được ở một số cánh đồng đặc biệt ở “Đống Xa” thuộc Phú Đa vào thời kì Văn Lang – Âu Lạc cách ngày nay 2000 năm
Trong ca dao huyện Bình Lục ngày nay khi miêu tả về đời sống kinh tế – văn hóa của nhân dân:
Quạt giấy, mũ bạc nhài đồng
Phú Đa thợ nhuộm trát hồng tô xanh…[37, tr.45].
Có thể thấy Bình Lục là một huyện nông nghiệp toàn huyện có 21 xã thị trấn
251 thôn xóm tiểu khu Tổ chức Đảng bộ huyện có 71 tổ chức cơ sở Đảng trong đó có 21 đảng bộ xã, thị trấn; 5 đảng bộ và 45 chi bộ cơ quan trực thuộc huyện ủy, 250 chi bộ thôn xóm tiểu khu với 7044 đảng viên Huyện Bình Lục có tổng diện tích tự nhiên là 1.440.102 ha dân số 13.405.700 người năm 2014 [36, tr.46]
Với đặc điểm tự nhiên của nước ta 3/4 là đất nông nghiệp, ¼ là đồi núi và biển đảo chính vì vậy nghề nông được coi là nền kinh tế chủ đạo của nhân dân lao động Việt Nam Trong lịch sử hình thành cũng cho thấy Nhà nước đầu tiên xuất hiện ở nước ta cũng bắt đầu trên nền tảng của “nền văn minh nông nghiệp trồng lúa tưới nước” dọc theo các con sông lớn như sông Hồng, sông Đáy Vì vậy ngay từ buổi đầu dựng nước các Vua Hùng đã nhận thấy vấn đề quan trọng của việc trị thủy và đê điều vậy nên các vua Hùng đã có nhiều chính sách quan tâm thủy lợi nội đồng như tìm dòng nước đắp đập, nghiên
Trang 15cứu hướng nước chảy để khai thông các kênh mương hướng dẫn nước vào đồng
Về khí hậu nước ta với địa hình chữ S chạy dài từ Bắc tới Nam hướng trọn và nằm kề Biển Đông hùng vĩ vì vậy Việt Nam nằm trọn trong múi giờ thứ 7 vành đai nhiệt đới gió mùa ẩm Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng
23 độ C, nhiệt độ trung bình thấp nhất khoảng 13 – 15 độ C và cao nhất tháng
7 khoảng 29 – 30 độ C Tổng số giờ nắng trung bình trên 1100 giờ/năm Lượng mưa trung bình hàng năm trên 1800mm nhưng phân bố không đều, tập trung 70% lượng mưa vào mùa hạ trong đó trung bình có 125 – 158 ngày mưa Mưa thường tập trung vào tháng 5 đến tháng 10 trong năm chiếm 80 – 90% [36, tr.48] Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Nhìn chung khí hậu và thời tiết Bình Lục thuận lợi cho nông nghiệp và các loại cây trồng vật nuôi sinh trưởng và phát triển Tuy nhiên do đặc điểm địa hình và lượng mưa phân bố không đồng đều nên một số nơi trong địa bàn huyện thường xảy ra hạn hán vào mùa khô và lũ lụt vào mùa mưa nhất là các xã: Bối Cầu, An Đổ, Hưng Công
1.2 Điều kiện dân cư, kinh tế - xã hội
Thành phần dân cư ở huyện Bình Lục chủ yếu là người Kinh chiếm trên 90% dân số Dân cư nơi đây thường là những người đã sinh sống từ rất nhiều thế hệ trước họ có duyên, họ gắn bó và họ nhìn mảnh đất nơi đây trưởng thành qua từng giai đoạn với những thăng trầm lịch sử Hà Nam là mảnh đất hiếu học,nơi hội tụ những anh tài tinh hoa của nền giáo dục Việt Nam Chưa
có điều kiện để kiểm kê số liệu chính xác về số người đỗ Tiến sĩ đương đại, dưới đây chỉ viết về 53 vị đỗ Tiến sĩ và 3 vị đỗ Tiến sĩ (Tiến sĩ võ) Theo ghi chú của địa bạ của huyện số người đỗ cao làm quan trong triều như Nguyễn Khuyến, Nguyễn Khắc Hiếu, Trình Thuấn Du, Nguyễn Bảng Với đức tính cần cù chịu khó, nhân dân huyện Bình Lục luôn có truyền thống cách mạng, yêu nước, anh dũng đấu tranh chống giặc ngoại xâm Từ những năm tháng
Trang 16kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ nhân dân huyện đã cung cấp cho chiến trường miền Nam Việt Nam cả người và của Huyện Bình Lục cùng với miền Bắc đã trở thành hậu phương vững chắc cho miền Nam Việt Nam hoàn thành
sứ mạng lịch sử thống nhất đất nước
Hiện nay theo những báo cáo thống kê về tình hình phát triển kinh tế trên địa bàn huyện trước năm 2008 cho thấy 90% dân số thuộc cơ cấu kinh tế khu vực nông thôn và 75% lao động làm việc trong các ngành kinh tế nông nghiệp, 15% lao động trong ngành tiểu thủ công nghiệp và 10% trong kinh doanh, dịch vụ Thành phần kinh tế chủ yếu phân bố như sau: hoạt động nông nghiệp chủ yếu là cấy lúa với những giống lúa ngắn ngày và cho năng suất cao như: lúa Ải, Tạp giao QC 21, hoặc một số giống lúa có giá trị cao như Thiên hương, Bắc thơm Một năm có 2 vụ sản xuất vụ chiêm và vụ mùa; các nghề thủ công như làm gạch, đan cói (xã Phú Đa, Hưng Công), thêu tranh (xã Bối Cầu, An Đổ) Đặc điểm chung của huyện Bình Lục là chiêm trũng tuy nhiên với ý chí quyết tâm người dân trong huyện đã cố gắng bồi đắp, cải tạo và xây dựng tiến hành trồng xen kẽ các cây vụ đông để tăng thêm thu nhập như xã: An Khoái, Bối Cầu, Hưng Công với các loại cây trồng như đậu tương, khoai tây, khoai lang, trồng dâu ở Trung Lương Tựu chung lại nguồn cung cấp chính cho đời sống nhân dân là nông nghiệp trồng lúa nếu như trước kia người dân chủ yếu trông chờ vào 2 vụ/năm đến nay đã có sự cải tiến bằng việc tìm kiếm những cây trồng hợp lý để tiến hành xen canh trong khoảng thời gian chuyển giao giữa mùa vụ
Để khai thác tiềm năng tối đa của đất một trong những giải pháp hàng đầu cần được quan tâm giải quyết chính là hệ thống thủy lợi Những năm vừa qua việc mở rộng diện tích gieo trồng tăng vụ đã góp phần tích cực sản xuất đất nông nghiệp phát triển nhất là trong lĩnh vực sản xuất lương thực, làm thay đổi bộ mặt nông thôn trong những năm đổi mới Với điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật ở Bình Lục còn nghèo nàn chưa đủ mạnh để biến tiềm năng
Trang 17thành hiện thực nhưng so với những năm trước thì phong trào hợp tác hóa nông nghiệp có nhiều biến động quan trọng Các công trình thủy lợi lớn, trung bình đã và đang được xây dựng, củng cố và hoàn thiện; hệ thống mạng lưới kênh mương tưới tiêu thủy lợi nội đồng hiện có đã và đang phát huy tác dụng đảm bảo cho khâu tưới tiêu trên diện rộng Các trạm bơm cũ được nâng cấp sữa chữa và xây dựng thêm những trạm bơm mới, công tác bổ sung nâng cao chất lượng của cán bộ khuyến nông của địa bàn huyện được tăng cường Hàng năm lãnh đạo huyện, Ban tổ chức UBND huyện tổ chức các đợt học tập, nâng cao nhận thức và bồi dưỡng kiến thức cho cán bộ ở từng cơ sở.
Biểu hiện tình kình kinh tế của huyện trên các lĩnh vực cụ thể như sau: Trong lĩnh vực công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp Đảng bộ huyện rất chú trọng phát triển dần làm chuyển dịch cơ cấu chung của toàn ngành kinh tế theo hướng giảm dần tỉ trọng ngành nông nghiệp và nâng dần ngành công nghiệp, dịch vụ Đồng thời tiến hành giải quyết việc làm cho lực lượng lao động dư thừa ở địa phương
Tỉ lệ nam nữ thanh niên từ 18 – 25 tuổi chưa có việc làm hiện tại chiếm số lượng lớn Trên địa bàn đã xuất hiện một số trung tâm công nghiệp dệt may Đức Giang, sản xuất thức ăn gia súc, gia cầm An Mỹ, mây giang đan Bình Sơn thu hút nhiều đối tượng lao động ở địa Hòa nhập theo không khí chung của cả nước nhân dân trong huyện đang từng bước đổi mới theo hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhằm phát triển và nâng cao đời sống cho nhân dân trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội Cho đến trước năm 2008 Bình Lục vẫn là một huyện “thuần nông” với màu xanh chủ đạo của đồng lúa đâu
đó quanh huyện thấp thoáng những bóng dáng của các cô chú công nhân nhưng nó chỉ là nét điểm trên nền xanh chủ đạo của màu lúa
Tình hình giáo dục của huyện có nhiều chuyển biến tích cực và gắn kết chặt chẽ hơn với yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội Chất lượng giáo dục toàn diện từng bước được nâng lên Số lượng học sinh thi đỗ vào các trường cấp 3,
Trang 18đại học và cao đẳng ngày chiếm số lượng lớn Tỉ lệ học sinh giỏi các cấp, giải quốc gia, quốc tế tăng lên Phong trào xã hội hóa giáo dục, xây dựng xã hội học tập, khuyến học khuyến tài phát triển mạnh mẽ Quy mô trường lớp được quan tâm sửa đổi ổn định, 97% học sinh đi học tiểu học đúng độ tuổi, 94% học sinh đi học Trung học đúng độ tuổi Cơ sở vật chất học tập, giảng dạy được tăng cường 85% lớp học và trường lớp được kiên cố hóa Trường Cao đẳng sư phạm Hà Nam là mô trường hàng năm thu hút nhiều số lượng học sinh thi đầu vào với điểm số cao Đây cũng chính là ngôi trường hàng năm đào tạo ra số lượng giáo viên đủ đáp ứng nhu cầu giáo dục của huyện Một số ngôi trường THPT điểm của huyện cũng được trang bị và cải tiến cơ sở vật chất kỹ thuật: THPT Bình Lục A, trường THCS Nguyễn Khuyến, THPT Bình Lục B, Trường Năng Khiếu cho các trẻ nhỏ.
Nhu cầu văn hóa của huyện vẫn duy trì thường xuyên với những lễ hội truyền thống ở các thôn làng vẫn được người dân quan tâm thực hiện: hàng năm vào các tháng lễ hội dù bận rộn với cuộc sống hàng ngày nhưng vào những ngày lễ mọi người dừng hẳn công việc hàng ngày và tập trung cho buổi lễ, hội thật tưng bừng và hoành tráng, họ cũng xem đây là lúc họ được hưởng thụ cuộc sống vất vả quanh năm của mình Các phong trào xây dựng đời sống văn hóa như “nếp sống mới”, đời sống tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc được Đảng bộ huyện và chính quyền các cấp từng thực hiện đạt hiệu quả cao Theo thống kê năm 2010 trên huyện có 100% xã, phường, thị trấn có trạm y tế Trước kia trạm y tế các xã là tạm bợ chưa được quan tâm thì đến nay Đảng bộ huyện đã đặc biệt quan tâm tới chất lượng cuộc sống của người dân bằng việc cho tu sửa, bổ sung trang thiết bị cho trạm y tế các xã, phường Phong trào thể dục thể thao cũng ngày được huyện quan tâm với những ngày hội thể thao với nhiều loại hình và tổ chức thi đấu giữa các ban ngành, địa phương tạo nên không khí thể thao sôi nổi trong địa bàn huyện Hoạt động văn hóa, thông tin phát triển ngày càng đa dạng, nội dung và hình thức có nhiều đổi mới góp
Trang 19phần đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa, nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” từng bước đi vào chiều sâu Nhiều giá trị văn hóa được bảo tồn và phát huy Đến nay có khoảng 85 % số phường và làng được xếp loại đạt chuẩn văn hóa.
Công tác phát thanh, báo chí truyền hình tuyên truyền cho việc xây dựng Nông thôn mới, các chính sách chủ trương của Đảng cũng được quan tâm và thực hiện đều đặn Phong trào thi đua loại bỏ những hủ tục lạc hậu, xây dựng đời sống văn hóa mới đậm đà bản sắc dân tộc, chống suy đồi, khắc phục những lệch lạc trong lối suy nghĩ của người dân đã diễn ra thường xuyên.Hoạt động khoa học công nghệ và bảo vệ môi trường có những bước đổi mới Việc nghiên cứu, tiếp thu, ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất và đời sống được đẩy mạnh nhất là trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, y tế Công tác vệ sinh đô thị, nông thôn được tăng cường bằng việc thành lập các ban quản lý vệ sinh môi trường, xử lý rác thải Nội dung tuyên truyền để bảo vệ môi trường được các cấp tiến hành tuyên truyền rộng rãi bước đầu nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường cho toàn dân ơ địa phương Thực tế cho thấy trước kia tình trạng rác thải chưa được xử lý một cách triệt để hợp lý nên thường thấy ở các làng bà con tiến hành đổ rác bừa bãi ra các con mương, vệ đường Tình trạng hôi hám mất vệ sinh môi trường thường xuyên xảy ra liên tiếp Vì vậy vệ sinh môi trường, quanh cảnh thiên nhiên mất mỹ quan thường diễn ra Hiện nay Đảng bộ đã họp và quyết định xây dựng những bãi chứa rác thải quanh các làng và thành lập luôn một đội kiểm tra tình hình thu gom rác thải Làm cho môi trường trong sạch, đẹp đẽ hơn
Những kết quả đạt được tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân toàn huyện vững tin bước tiếp vào công cuộc xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần là động lực để nhân dân bước tiếp vào xây dựng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn trong giai đoạn đổi mới đất nước hiện nay
Trang 21Tiểu kết chương 1
Bình Lục là một huyện có truyền thống về bề dày lịch sử trong tỉnh Hà Nam Những yếu tố điều kiện tự nhiên đã hình thành nên đặc điểm sinh hoạt kinh tế, văn hóa xã hội và các hoạt động tinh thần Từ rất sớm nhân dân trong huyện đã cần cù chịu khó, siêng năng, thông minh vượt qua những khó khăn
về tự nhiên để tiến hành xây dựng quê hương đất nước giàu đẹp
Hưởng ứng theo chủ trương đổi mới đất nước của Đảng sau đại hội toàn quốc lần thứ VI (1986) chủ trương phát triển toàn diện đất nước trên tất cả các lĩnh vực trong đó chú trọng phát triển công nghiệp nặng Đồng thời ra sức phát triển hợp lý đồng đều cơ cấu kinh tế công – nông nghiệp Xây dựng Nông thôn mới là chủ trương mới của Đảng được đề ra từ năm 2008 và đang được từng bước thực hiện đạt kết quả cao
Sau những năm tiến hành đổi mới Đảng đã lãnh đạo nhân dân những bước đi đúng đắn, vững chắc đạt nhiều thành tựu quan trọng trên tất cả các mặt của đời sống xã hội Huyện Bình Lục cũng là một minh chứng điển hình cho kết quả của sự thay đổi đó Hoạt động kinh tế -xã hội – chính trị - an ninh của huyện được thay đổi nhanh chóng làm tiền đề cho Bình Lục bắt tay vào thực hiện nhiệm vụ mới trong giai đoạn tiếp theo
Trang 22Chương 2 LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI CỦA ĐẢNG BỘ
HUYỆN BÌNH LỤC TỪ NĂM 2008 ĐẾN NĂM 2014
2.1 Chủ trương của Trung Ương Đảng và Đảng bộ tỉnh Hà Nam về xây dựng nông thôn mới
2.1.1 Chủ trương của Đảng về xây dựng nông thôn mới
Có thể thấy chủ trương về xây dựng nông thôn mới đã được đề cập đến trong các kỳ đại hội của Đảng từ rất sớm Bước vào thời kỳ đổi mới nước ta
đã không ngừng thay đổi trong việc bổ sung và hoàn chỉnh đường lối cho phù hợp với tình hình của đất nước Người đi tiên phong cho vấn đề này là Chủ tịch Hồ Chí Minh trong một số bài báo, tạp chí tư tưởng của Người cũng được thể hiện rõ: trong bài “Con đường phía trước” với bút danh C.K đăng trên báo Nhân dân số 2143 ngày 20/01/1969 Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “ Nước ta vốn là một nước nông nghiệp lạc hậu đó là chỗ bắt đầu đi của chúng ta Đời sống nhân dân chỉ có thể dồi dào khi chúng ta dùng máy móc để sản xuất một cách rộng rãi dùng máy móc cả trong nông nghiệp và nông nghiệp máy sẽ chắp thêm tay cho người làm cho sức người tăng lên gấp trăm, nghìn lần và giúp người làm việc phi thường đó là con đường phải đi của chúng ta”
Trong lần phát biểu tại Đại hội công đoàn tỉnh Thanh Hóa lần thứ 6 ngày 19/07/1960 Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định vai trò tầm quan trọng của nông nghiệp trong quá trình phát triển công nghiệp hóa đất nước Người cho rằng nước ta là 1 nước nông nghiệp muốn phát triển công nghiệp, phát triển kinh tế nói chung phải lấy nông nghiệp làm gốc Vì thế Người rất coi trọng tới công tác xây dựng NTM và đời sống văn hóa mới ở nông thôn
Xây dựng NTM theo Người thực chất và trước hết là xây dựng những con người lao động – người nông dân XHCN Trong việc xây dựng đó Người luôn lấy đạo đức làm gốc Xây dựng NTM về mặt đạo đức theo Người trước hết phải làm cho con người có đủ cơm ăn áo mặc, được học hành chữa bệnh
Trang 23Đạo đức của người nông dân phải được xây dựng trên 1 nền tảng kinh tế định hướng đi lên XHCN Người đặc biệt nhấn mạnh vai trò quyết định của con người chính bởi con người là chủ của mọi hoạt động, tính cách suy nghĩ và những hành động của con người sẽ ảnh hưởng rất lớn tới kết quả thực hiện các mục tiêu Người đặc biệt cho rằng “xã hội nào con người đó” không thể lấy con người thời xưa ra để xây dựng đất nước của thời đại bây giờ Cũng theo Người nước ta là 1 nước dân chủ nên phải xây dựng một chế độ dân chủ NTM được hiểu là nông thôn của những người nông dân lao động của những con người không chấp nhận sự lười biếng Nông thôn mới cũng là nơi thể hiện đậm đà văn hóa tình nghĩa, tình làng nghĩa xóm Nét đẹp của người nông dân là ở chỗ trên kính dưới nhường, thương yêu giúp đỡ nhau, giúp đỡ những gia đình neo đơn, người già, gia đình thương binh liệt sỹ [33, tr.15].
Xây dựng NTM là nhiệm vụ chung của toàn thể nhân dân không phải là của riêng ai, là nhiệm vụ lâu dài nên mọi người phải nêu cao tinh thần làm chủ Người chỉ rõ NTM là nông thôn được tạo lập nên bởi nhiều gia đình mới , xã hội tốt thì gia đình càng tốt mà có nhiều gia đình tốt thì mới tạo nên xã hội tốt Những ý kiến chỉ dẫn trên của Người như ngọn đuốc sáng trong đêm tối giúp ta tìm ra những đường đi một cách đúng đắn nhất [33, tr.20].Như vậy đối với quan điểm của Hồ Chí Minh thì xây dựng NTM là phát triển trên tất cả các lĩnh vực từ xây dựng đời sống vật chất cho nhân dân ấm
no hạnh phúc đến xây dựng đời sống văn hóa tinh thần hiện đại tiên tiến, người phụ nữ được giải phóng, được hưởng quyền bình đẳng
Thực tiễn cho thấy trước thời kì đổi mới vấn đề nông nghiệp, nông dân
và nông thôn chưa thực sự được đặt đúng vị trí của nó Trong suốt một thời gian dài trong lịch sử công nghiệp nặng luôn được đặt lên vị trí hàng đầu và được ưu tiên phát triển Trong đại hội IV 12/1976 và đại hội V năm 1982 đã dần chỉ ra những sai lầm và chuẩn bị đầy đủ những điều kiện tiền đề cần thiết cho công nghiệp và nhấn mạnh: “Tập trung sức mạnh phát triển nông nghiệp
Trang 24coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu đưa nông nghiệp từng bước lên sản xuất XHCN ra sức đẩy mạnh sản xuất hàng tiêu dùng và tiếp tục xây dựng một số ngành công nghiệp nặng quan trọng Kết hợp nông nghiệp, công nghiệp với sản xuất hàng tiêu dùng và công nghiệp nặng trong cơ cấu công – nông nghiệp hợp lý [19, tr.66].
Đây được coi là sự điều chỉnh quan trọng sự thay đổi lớn trong quan điểm của Đảng về vị trí của kinh tế nông nghiệp, song trong việc chỉ đạo và hoạch định thực hiện chính sách nông nghiệp chưa thực sự được coi là mặt trận hàng đầu không đảm bảo những điều kiện cần thiết để phát triển nhất là vật tư, tiền vốn và các chính sách khuyến khích
Trong buổi hội nghị tổng kết thực tiễn ngày 05/04/1988 Bộ Chính trị khóa VI ra nghị quyết X – NQTW về đổi mới cơ chế quản lí kinh tế nông nghiệp Quyết định cơ bản của Đảng về quản lý nông nghiệp là coi HTX như đơn vị kinh tế tự quản, hộ gia đình xã viên là đơn vị kinh tế tự chủ; nhận khoán với HTX Bộ Chính trị đã chỉ rõ đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp nhằm khắc phục các nhược điểm sai lầm trong các chính sách lớn đối với nông nghiệp Nghị quyết X của Bộ chính trị sắp xếp và tổ chức lại sản xuất nông nghiệp theo hướng chuyên môn hóa kết hợp với kinh doanh tổng hợp, gắn trồng trọt với chăn nuôi; gắn nông – lâm – ngư nghiệp với công nghiệp chế biến và các ngành tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn Đây chính là bước đột phá mở đầu cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và phát triển nông thôn theo hướng sản xuất hàng hóa
Thực hiện tinh thần đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước trong Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX tại Hà Nội từ ngày 18/02 đến
02 tháng 3 năm 2003 cũng đã xác định rõ những quan điểm, mục tiêu và những nội dung cần thiết trong xây dựng CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn
Trang 25Về mục tiêu Nghị quyết chỉ rõ: “Mục tiêu tổng quát và lâu dài của công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn là xây dựng một nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa lớn, hiệu quả vè bền vững, có năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh cao trên cơ sở ứng dụng các thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến, đạp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu, xây dựng nông thôn ngày càng giàu đẹp, dân chủ công bằng văn minh, có cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất phù hợp , kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội phát triển ngày càng hiện đại” [27, tr.94 – 95].
Về nội dung tổng quát Nghị quyết Trung Ương Năm đưa ra 2 nội dung tổng quát đó là công nghiệp hóa nông nghiệp và hiện đại hóa nông thôn mà theo đó nội dung được thể hiện như sau:
CNH nông nghiệp được coi là một quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, gắn với công nghiệp chế biến và thị trường; thực hiện cơ khí hóa, thủy lợi hóa, ứng dụng các thành tựu của khoa học kĩ thuật và công nghệ hiện đại vào các khâu sản xuất nông nghiệp nhằm nâng cao năng suất lao động, chất lượng hiệu quả cạnh tranh của nông sản hàng hóa trên thị trường
HĐH nông thôn được Nghị quyết xác định: “Là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng tăng nhanh tỷ trọng giá trị sản phẩm và lao động các ngành công nghiệp và dịch vụ; giảm dần tỷ trọng sản phẩm và lao động nông nghiệp” [27, tr.96 –97]
Nhận thức được vấn đề đầu tiên của việc xây dựng Nông thôn mới là công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn bởi vậy sau hơn 20 năm đổi mới Đảng đã tiến hành họp Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X (4/2006) của Đảng tại Hà Nội đã khẳng định phát triển nông nghiệp nông thôn là lựa chọn bước đi đúng đắn cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại háo đất nước đồng thời chủ trương đẩy mạnh hơn việc quan tâm xây dựng vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn Đại hội đề ra mục tiêu và
Trang 26phương hướng tổng quát của 5 năm 2006 - 2010 như sau: “Nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, huy động và sử dụng tốt mọi nguồn lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ
và công bằng xã hội ; tăng cường quốc phòng an ninh mở rộng quan hệ đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập quan hệ kinh tế; giữ vững và ổn định chính trị - xã hội; sớm đưa nước ta thoát ra khỏi tình trạng kém phát triển, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản thành một nước công nghiệp hiện đại” [ 28, tr.76]
Nội dung đại hội đã họp và thông qua các nhiệm vụ về xây dựng NTM
mà trước hết là việc quan tâm tới vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn
hay còn gọi là "tam nông" Điểm xuất phát của Việt Nam đi lên xây dựng chủ
nghĩa xã hội từ một nước nông nghiệp lạc hậu, nông dân là lực lượng đông đảo, chiếm đa số trong xã hội Cụ thể hóa chủ trương đại hội X của Đảng từ ngày 09 đến 17/07/2008 Hội nghị lần thứ Bảy Ban Chấp hành Trung ương
Đảng (khóa X) đã thông qua nghị quyết số 26 - NQ/TW “Về nông nghiệp,
nông dân, nông thôn” xác định mục tiêu phát triển nông nghiệp, nông dân,
nông thôn đến năm 2020 cùng với biện pháp thực hiện ở từng giai đoạn Nghị quyết tiếp tục khẳng định những mục tiêu, quan điểm, nhiệm vụ và giải pháp xây dựng nền nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững và sản xuất hàng hóa lớn, có năng suất, chất lượng và hiệu quả Nghị quyết chỉ rõ nông nghiệp, nông dân và nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa là cơ sở quan trọng để giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo quốc phòng; giữ gìn phát huy, bản sắc văn hóa dân tộc bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Mục tiêu tổng quát của Đảng đề ra là: không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của cư dân nông thôn, hài hòa giữa các
Trang 27vùng, tạo sự chuyển biến nhanh hơn ở các vùng khó khăn; nông dân được đào tạo có trình độ sản xuất ngang bằng với các nước tiên tiến trong khu vực và
đủ bản lĩnh chính trị, đóng vai trò làm chủ NTM Xây dựng nông thô mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại; cơ cấu kinh tế và hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ,
đô thị quy hoạch [28, tr.155]
Mục tiêu đến năm 2020 tốc độ tăng trưởng nông, lâm, thủy sản đạt 3,5 -4%/năm; sử dụng đất nông nghiệp tiết kiệm và hiệu quả; duy trì diện tích đất, đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia trước mắt và lâu dài Phát triển nông nghiệp kết hợp với phát triển công nghiệp, dịch vụ và ngành nghề nông thôn, giải quyết cơ bản việc làm, nâng cao thu nhập của dân cư nông thôn gấp 2,5 lần so với hiện nay Thu nhập của người dân nông thôn tăng 1,8 -
2 lần so với năm 2010 [28, tr.157]
Để Nghị quyết Trung ương 7, khóa X được đưa vào thực tế và thể chế hóa Chính phủ ban hành Nghị quyết số 28/2008/NQ/CP ngày 28/10/2008 về
“Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần
thứ 7 Ban chấp hành Trung ương Đảng về nông nghiệp, nông dân và nông thôn” Tiếp đến Chính phủ ban bành Quyết định 491/QĐ - TTg ngày
16/04/2009 về “Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới” Bộ tiêu chí về Nông
thôn mới là sự cụ thể hóa đặc tính của xã hội Nông thôn mới thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa Bộ tiêu chí là căn cứ để xây dựng nội dung chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng Nông thôn mới, là chuẩn mực để các xã, huyện, tỉnh lập kế hoạch phấn đấu đạt 19 tiêu chí Tiêu chí đối với huyện được công nhận huyện Nông thôn mới phải có 75% số xã trong huyện đạt Nông thôn mới; tỉnh đạt Nông thôn mới phải có 80% số huyện trong tỉnh đạt Nông thôn mới [49, tr.65]
Tiếp theo Thủ tướng Chính Phủ đã ban hành Quyết định 800/QĐ - TTg ngày 4/06/2010 phê duyệt chương trình Mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM
Trang 28giai đoạn 2010 - 2020 Nội dung quyết định thể hiện: 11 nội dung trong đó có mục tiêu đến năm 2015 cả nước có 20% số xã đạt chuẩn NTM; đến năm 2020
có 50% số xã đạt tiêu chí về NTM [49, tr.89] Nghị quyết nhấn mạnh chương trình xây dựng NTM giai đoạn 2010 - 2020 là chương trình mục tiêu quốc gia có ý nghĩa rất quan trọng đang và sẽ được triển khai một cách sâu rộng, toàn diện trên phạm vi cả nước với 5 đặc trưng cơ bản là:
Một là: Nông thôn có làng xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện đại
Hai là: Sản xuất bền vững theo hướng sản xuất hàng hóa
Ba là: Đời sống vật chất và tinh thần của người dân được nâng caoBốn là: Bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát triển
Năm là: Xã hội nông thôn được quản lý tốt và dân chủ
Nhằm tiếp tục lãnh đạo công cuộc đổi mới, xây dựng đất nước để đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI (01/2011) của Đảng khẳng định: “Phát triển nông nghiệp toàn diện, hiệu quả, bền vững theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát huy ưu thế của nền nông nghiệp nhiệt đới gắn với giải quyết tốt các vấn đề nông dân, nông thôn Khuyến khích tập trung ruộng đất, áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ, phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả cao Gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ, mở rộng xuất khẩu Xây dựng nông thôn mới theo hướng văn minh, giàu đẹp nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nông dân”[ 29, tr.99 -100]
Nhìn lại chặng đường 1/4 thế kỷ thực hiện đường lối đổi mới, từ chỗ đất nước đang khủng hoảng lương thực nghiêm trọng, nhưng chỉ trong hơn một thập niên chúng ta đã vươn lên trở thành quốc gia xuất khẩu gạo đứng vào hàng thứ ba trên thế giới và xuất khẩu các mặt hàng nông sản nhiệt đới đứng hàng đầu thế giới Trong thực tiễn gần 30 năm thực hiện sự nghiệp đổi mới đất nước, Đảng và Nhà nước đã xác định đúng vị trí, vai trò của vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
Trang 29Nông nghiệp, nông dân, nông thôn luôn giữ vị trí là mặt trận hàng đầu trong
cả chủ trương chính sách và thực tiễn Quá trình đổi mới đường lối về phát triển nông nghiệp, nông thôn đã đưa đến những chuyển biến quan trọng trong thực tiễn bộ mặt nông thôn
2.1.2 Chủ trương Đảng bộ tỉnh Hà Nam về xây dựng Nông thôn mới
Ngày 17/10/2010 tại UBND thành phố Phủ Lý hội nghị gồm 56 đồng chí thuộc các ban ngành, cơ sở tiến hành họp đại hội Nội dung của đại hội là đánh giá kết quả đạt được trong 5 năm qua và định hướng cho Đảng bộ, nhân dân trong tỉnh tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và chiến đấu của Đảng bộ, đoàn kết, trí tuệ đổi mới, phát triển toàn diện; phấn đấu đến năm 2015 Hà Nam trở thành tỉnh có kinh tế phát triển nhanh, bền vững đạt thu nhập bình quân đầu người ngang mức với bình quân thu nhập của cả nước
Toàn thể đại hội đã nhất trí thông qua mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ của Đảng bộ từ nay đến hết năm 2015: “Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của cấp ủy, tổ chức đảng; xây dựng Đảng bộ và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh Phát huy dân chủ và sức mạnh đoàn kết trong Đảng bộ và trong nhân dân Phát triển kinh tế nhanh, bền vững; nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân Tập trung phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Chú trọng bảo vệ môi trường Đẩy mạnh cải cách hành chính, phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí Tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh; giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội Đại hội đề ra chín nhóm giải pháp chủ yếu cần tập trung thực hiện Trong đó, giải pháp hàng đầu là đổi mới phương thức lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy đảng, chính quyền theo hướng tập trung, quyết liệt, linh hoạt, kịp thời, hiệu quả Nâng cao chất lượng xây dựng, quản lý thực hiện quy hoạch; công tác quy hoạch phải đi trước một bước” [14, tr.10]
Trang 30Mục tiêu tổng quát được đại hội thể hiện như sau: Đại hội cũng đã thảo luận và biểu quyết thông qua nghị quyết Đại hội với 16 chỉ tiêu chủ yếu: Tổng sản phẩm GDP trong tỉnh tăng bình quân 13,5%/năm trở lên; GDP bình quân đầu người đến 2015 đạt trên 40triệu đồng; cơ cấu kinh tế đến 2015: Công nghiêp – Xây dựng 54,8%, Dịch vụ 32%, Nông, Lâm nghiệp 13,2%; Giá trị SXNN tăng bình quân 2,8%/năm; SXCN tăng bình quân 22,1%/năm; Tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội tăng bình quân 12,2%/năm; Giá trị xuất khẩu trên địa bàn tăng bình quân 12,8%/năm; Thu ngân sách tăng bình quân 17,8%/năm; 100% dân số thành thị và 90% dân số nông thôn được dùng nước sạch; Giảm tỷ lệ sinh 0,12%o; Giảm tỷ lệ hộ nghèo 1 – 1,2%/năm; Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi SDD giảm còn 15% (2015); Giải quyết việc làm mới cho 75000 lao động; Tỷ lệ lao động qua đào tạo đến
2015 đạt 55% số xã nông thôn mới đạt 20%; Hàng năm có 85% tổ chức cơ sở Đảng, 80% chi bộ đạt TSVM, 85% đảng viên đủ tư cách hoàn thành tốt nhiệm
vụ [14, tr.12 – 15]
Ngay sau khi Đại hội kết thúc Đảng bộ Tỉnh Hà Nam đã ban hành Nghị Quyết số 03/NQ-TU ngày 21/04/2011 về xây dựng NTM đến năm 2020 nhằm góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Hội Nghị TW 7 (khóa X) về “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn” Mục đích của việc thực hiện Nghị quyết trên được thể hiện nhằm: Phát huy sức mạnh, vai trò chủ thể của giai cấp Nông dân trong việc tham gia vào quá trình xây dựng NTM theo hướng văn minh, tiến bộ, hiện đại; Nâng cao nhận thức cho cán bộ, hội viên, nông dân về chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về nông nghiệp, nông dân, nông thôn Trọng tâm là: các chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước, của tỉnh về xây dựng NTM; Xác định rõ nhiệm vụ của tổ chức Hội Nông dân; giai cấp nông dân trực tiếp tham gia và tổ chức thực hiện những nội dung xây dựng NTM
Trang 31Về nội dung thực hiện:
+ Thứ nhất: Đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến các chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, chủ trương, chính sách của tỉnh về phát triển nông nghiệp, nông thôn
- Tuyên truyền, phổ biến giúp nông dân có nhận thức đúng và thực hiện tốt các chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, chủ trương, chính sách của tỉnh về phát triển nông nghiệp, nông thôn và những chủ trương, chính sách đối với nông dân, định hướng phát triển nông nghiệp, nông thôn, xây dựng NTM giai đoạn 2010 – 2020 của tỉnh
- Đa dạng hoá các hình thức tuyên truyền: Hội nghị, hội thảo, thăm quan, học tập các mô hình, nêu gương điển hình, thi tìm hiểu…
+ Thứ hai: Phát huy vai trò chủ thể của nông dân trong việc tham gia xây dựng nông thôn mới
- Tham gia ý kiến vào đề án xây dựng NTM và Bản đồ án quy hoạch NTM cấp xã; để trên cơ sở đó hội viên, nông dân hiểu các nội dung công việc
do nông dân trực tiếp tham gia; nông dân tổ chức thực hiện
- Tham gia vào lựa chọn những công việc gì cần làm trước và việc gì làm sau để thiết thực với yêu cầu của người dân và phù hợp với khả năng điều kiện của địa phương
- Cử đại diện (Ban giám sát) để tham gia quản lý và giám sát các công trình xây dựng
- Tham gia quyết định mức độ đóng góp trong xây dựng các công trình công cộng của thôn, xã và gương mẫu tham gia đóng góp tiền, ngày công và làm tốt công tác giải phóng mặt bằng để xây dựng tu sửa hệ thống giao thông
xã, thôn, xóm và các công trình văn hóa phúc lợi… đảm bảo đúng tiến độ, chất lượng và đạt chuẩn tiêu chí
- Tổ chức quản lý, vận hành và bảo dưỡng các công trình sau khi hoàn thành
Trang 32+ Thứ 3:Tăng cường tổ chức các chương trình phối hợp với các ngành có liên quan đến xây dựng nông thôn mới.
* Phối hợp với ngành nông nghiệp:
- Đẩy mạnh ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ mới vào sản xuất Xây dựng nền nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại, sản xuất hàng hóa, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, có khả năng cạnh tranh cao Gắn sản xuất với chế biến và thị trường tiêu thụ Thông qua các lớp tập huấn chuyển giao kỹ thuật, công nghệ, các mô hình trình diễn, tổ chức nông dân tham quan, hội nghị, hội thảo, hướng dẫn cách làm ăn mới…xây dựng, triển khai các chương trình, dự án do Sở Nông nghiệp & Phát triển nông thôn quản lý có liên quan đến xây dựng nông thôn mới
- Phối hợp xây dựng các hình thức kinh tế tập thể, HTX nông nghiệp và câu lạc bộ nghề nghiệp, câu lạc bộ khuyến nông, các chi, tổ hội nông dân nghề nghiệp
- Đẩy mạnh việc thực hiện Quyết định 80/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về liên kết 4 nhà hỗ trợ nông dân sản xuất và tiêu thụ sản phẩm
* Phối hợp với ngành VH-TT-DL
- Phổ biến, tuyên truyền rộng rãi trong hội viên, nông dân Chương trình xây dựng nông thôn mới và Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới trong Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần
thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (Khóa X) về
nông nghiệp, nông dân, nông thôn Tập trung tuyên truyền mục đích, ý nghĩa
các sự kiện văn hóa, văn nghệ, gia đình, thể dục thể thao và du lịch diễn ra trong giai đoạn như các ngày truyền thống ngành, các sự kiện, kỷ niệm…; đại hội thể dục thể thao các cấp…
- Phối hợp vận động cán bộ, hội viên, nông dân gương mẫu tham gia đóng góp xây dựng các thiết chế văn hoá, thể thao như: Nhà văn hoá thôn xóm, tủ sách, khu vui chơi, công trình thể thao, Tổ chức tốt các hoạt động
Trang 33các Câu lạc bộ: Văn nghệ, thể thao, tổ chức tốt các hoạt độngvăn hóa, văn nghệ, ngày hội văn hóa -thể thao, gia đình và du lịch.
* Phối hợp với ngành TN&MT:
- Tuyên truyền, vận động Hội viên nông dân tham gia bảo vệ giữ gìn môi trường, cảnh quan khu vực nông thôn Thông qua hoạt động truyền thông bảo vệ môi trường, tạo sự chuyển biến tích cực trong cán bộ, Hội viên nông dân về ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác BVMT Từ đó tích cực tham gia BVMT phục vụ phát triển bền vững.
- Tăng cường phối hợp xây dựng mô hình điểm, khai thác các dự án bảo vệ môi trường từng bước khắc phục tình trạng suy thoái môi trường ở nông thôn.
* Phối hợp với ngành Lao động TBXH:
- Tổ chức dạy nghề cho nông dân theo Quyết định 1956 của Thủ tướng Chính phủ ban hnàh ngày 27/11/2009; tham gia tích cực vào việc xoá hộ đói, giảm hộ nghèo đảm bảo bền vững
+ Thứ 4:Tổ chức các phong trào thi đua hành động cách mạng trong nông dân; xây dựng tổ chức Hội vững mạnh, tôn vinh, khen thưởng cá nhân, tập thể có thành tích xuất sắc trong xây dựng phát triển nông nghiệp, nông thôn và công tác Hội
- Đẩy mạnh các phong trào thi đua của Hội: "nông dân thi đua sản xuất, kinh doanh giỏi, đoàn kết giúp nhau XĐGN và làm giàu ", “Phong trào nông dân thi đua xây dựng nông thôn mới”, “Phong trào nông dân tham gia đảm bảo quốc phòng, an ninh” phát triển mạnh mẽ, rộng khắp, bền vững và đem lại hiệu quả thiết thực Hàng năm xây dựng được các mô hình mới về kinh tế, văn hoá, xã hội để chỉ đạo và nhân rộng
- Tổ chức tốt các dịch vụ hỗ trợ nông dân; xây dựng Quỹ HTND và khai thác hiệu quả các nguồn vốn để giúp nông dân phát triển sản xuất
Trang 34- Tổ chức thực hiện tốt Chỉ thị 26/20010CT- TTg ngày 09/10/2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc tạo điều kiện cho Hội nông dân các cấp giải quyết khiếu nại tố cáo và vận động nông dân thực hiện tốt pháp lệnh dân chủ
Năm 2010 Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XXVI (1/2010) đã họp tại Hội đồng nhân dân UBND huyện và đề ra phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu cho nhiệm kỳ 2010 - 2015
+ Phương hướng chung:
Tiến hành đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn Phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, giải quyết vấn đề việc làm cho nhân dân toàn huyện; khai thác có hiệu quả nhất các tiềm năng trên địa bàn huyện; tăng cường sự quản lý của các cấp ủy Đảng; tăng cường tiềm lực, củng cố vững
Trang 35chắc quốc phòng - an ninh; xây dựng tổ chức cơ sở Đảng trong sạch vững mạnh [37, tr.20].
+ Tổng sản lượng lương thực bình quân đạt 156.000 tấn
+ Thu nhập bình quân đầu người hàng năm đạt 12 triệu đồng/năm
+ Tỉ lệ lao động được đào tạo đạt 35% số người lao động
+ Tỉ lệ hộ nghèo và cận nghèo giảm dưới 15%
Đại hội cũng đề ra 4 chương trình công tác trọng tâm trong việc thực hiện nhiệm vụ trên: Chương trình xây dựng cánh đồng mẫu trồng lúa chất lượng cao; phát triển mô hình trang trại điển hình trong chăn nuôi; phát triển các ngành nghề thủ công nghiệp, giải quyết việc làm; Chương trình xây dựng kết cấu hạ tầng với trọng tâm là phát triển giao thông [37, tr.30]
Dưới ánh sáng của những chỉ thị, nghị quyết trên Ban thường vụ Huyện ủy Bình Lục đã ra chỉ thị số 08 - CT/HU ngày 12/07/2011 về tập trung sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng trong thực hiện chương trình xây dựng Nông thôn mới huyện Bình Lục giai đoạn 2010 – 2020 Ngày 18/07/2011 Ban thường vụ Huyện ủy Bình Lục đã ban hành quyết định số 79 - QĐ/HU về việc kiện toàn Ban chỉ đạo xây dựng Nông thôn mới gồm 33 đồng chí do đồng chí Bí thư Huyện ủy làm Trưởng ban Phó bí thư thường trực Huyện ủy, Chủ tịch, Phó chủ tịch UBND Huyện làm Phó Ban Ban hành quyết định thành lập tổ công tác chỉ đạo, hướng dẫn các xã lập quy hoạch, đề án và thực hiện các tiêu chí xây dựng Nông thôn mới và phân công cụ thể cho các thành viên trong Ban chỉ đạo tổ công tác phụ trách từng nội dung của từng xã Chỉ đạo các xã thành lập Ban chỉ đạo Ban quản lý các tổ công tác xây dựng Nông thôn mới xây dựng các đề án,
Trang 36kế hoạch dồn đổi ruộng đất từ ô thửa nhỏ sang ô thửa lớn Ban thường vụ Huyện ủy đã tăng cường công tác kiểm tra giám sát việc thực hiện các nội dung và mục tiêu trên.
Sau khi kết thúc hội nghị Đảng bộ Huyện đã cụ thể hóa bằng việc ra nghị quyết số 08 – NQ/HU nội dung như sau:
Về quan điểm
- Thứ nhất: Xây dựng Huyện Nông thôn mới là một bước cao hơn trong
xây dựng xã Nông thôn mới, trên cơ sở vừa cải tạo vừa xây dựng, kế thừa những thành tựu, truyền thống và bản sắc văn hóa tốt đẹp của địa phương, vừa hình thành những giá trị mới theo hướng văn minh hiện đại và phát triển một cách bền vững
- Thứ hai: Xây dựng Huyện Nông thôn mới là nhiệm vụ của toàn thể hệ
thống chính trị xã hội và phát huy vai trò chủ thể của người dân Mọi việc phải được dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra và dân được hưởng thụ
Về mục tiêu
- Mục tiêu chung: Xây dựng huyện Bình Lục có kết cấu hạ tầng kinh
tế- xã hội đồng bộ và từng bước hiện đại, cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển công nghiệp, dịch vụ, theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; Sức mạnh của hệ thống chính trị được tăng cường, bảo đảm giữ vững an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội
- Mục tiêu cụ thể: Phấn đấu đến năm 2016 Bình Lục trở thành huyện
Nông thôn mới có 80% các xã hoàn thành 19 tiêu chí Nông thôn mới
Về nhiệm vụ và giải pháp thực hiện
+ Tiếp tục tổ chức tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức của cán
bộ, đảng viên, các tầng lớp nhân dân về xây dựng huyện NTM
+ Tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp uỷ Đảng và chính quyền từ huyện đến xã, thôn
Trang 37+ Tập trung lãnh đạo tổ chức sản xuất, phát triển kinh
tế, tăng thu nhập, giảm hộ nghèo ở nông thôn.
+ Huy động các nguồn lực, tập trung xây dựng hạ tầng kinh tế - xã hội Nông thôn mới
+ Đẩy mạnh phát triển lĩnh vực văn hóa - xã hội, đảm bảo an ninh trật
tự, bảo vệ môi trường, nâng cao chất lượng cuộc sống nhân dân
Về tổ chức thực hiện
+ Các cấp uỷ đảng tổ chức quán triệt nghị quyết tới cán bộ, đảng viên
và nhân dân trong huyện, đồng thời xây dựng nghị quyết lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng Nông thôn mới ở địa phương, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn
+ Ban Tuyên giáo Huyện uỷ chủ trì phối hợp với các cấp, các ngành, đơn vị chức năng có kế hoạch tuyên truyền rộng rãi nghị quyết Mặt trận Tổ Quốc và các đoàn thể làm tốt công tác tuyên truyền nghị quyết trong đoàn viên, hội viên
+ Giao cho UBND huyện triển khai và tập trung chỉ đạo các ngành chức năng, UBND các xã, thị trấn thực hiện đề án xây dựng huyện Nông thôn mới năm 2016; xây dựng cơ chế hỗ trợ phù hợp với từng giai đoạn cho các xã xây dựng Nông thôn mới nhằm hoàn thành tốt mục tiêu, nhiệm vụ nghị quyết đề ra
+ Ủy ban kiểm tra Huyện uỷ tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện nghị quyết, định kỳ báo cáo Ban thường vụ Huyện ủy và Ban Chấp hành Đảng bộ huyện để chỉ đạo
+ Các đồng chí thường vụ Huyện uỷ phụ trách cụm, Huyện uỷ viên phụ trách xã, Ban Chỉ đạo xây dựng Nông thôn mới chịu trách nhiệm chỉ đạo việc thực hiện nghị quyết ở cơ sở [38, tr.23]
2.2 Quá trình chỉ đạo thực hiện
2.2.1 Một số công tác chỉ đạo chính
Trang 38+ Trên lĩnh vực kinh tế
+ Nông nghiệp: với mục tiêu tập trung triển khai thực hiện các đề án trong lĩnh vực nông nghiệp – nông thôn, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, phát triển trồng trọt và chăn nuôi; mở rộng trang trại sản xuất đa canh, chuyên canh nâng cao giá trị thu nhập trên 1 đơn vị diện tích và hình thành các khu vực chăn nuôi – thủy sản tập trung Qua quá trình thực hiện nhiệm vụ trên Đảng bộ và nhân dân huyện đã đạt được những thành tựu quan trọng: cơ cấu mùa vụ, cơ cấu giống cây trồng có bước chuyển biến tích cực, năng suất tăng cao, giá trị thu nhập, năng suất lúa năm cao nhất đạt 119,3 tạ/ha tăng 6,7 tạ/ha so với năm 2005 Các dự án phát triển cây trồng hàng hóa được triển khai thực hiện khá hiệu quả như lúa hàng hóa tại các xã: Tràng An, Trịnh Xá, Tiêu Động, An Lão, An Đổ, Bối Cầu, An Nội, An Ninh, Hưng Công Trồng đậu tương ở các xã An Ninh, Bình Nghĩa, Tràng An, Trịnh Xá Trồng dưa chuột xuất khẩu ở các xã Hưng Công, Đồng Du, Trịnh Xá; trồng hoa công nghệ cao ở Vũ Bản, Bình Nghĩa, An Lão Diện tích lúa hàng hóa đạt từ 27 – 30% giá trị thu nhập cao hơn cấy lúa thường từ 15 – 30% [37, tr.25]
Về việc xây dựng cánh đồng vụ đông năm 2009 – 2010 toàn huyện đã gieo trồng trên 284.227 ha tăng 31,2% so với vụ đông năm 2005 – 2006; 237/251 thôn làng có cánh đồng vụ đông đạt 94,4% Một số xã có phong trào sản xuất vụ đông đạt kết quả cao tiêu biểu như: An Ninh, Bình Nghĩa, Tràng
An, Hưng Công, Đinh Xá, Trịnh Xá [37, tr.30]
Bên cạnh đó còn thực hiện thành công việc xây dựng và hoạt động có hiệu quả các Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp (HTXDVNN) Trong nhiệm kỳ 2009 – 2014 bên cạnh những Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp cũ được cải tổ hoàn thiện hơn huyện đã thành lập nhiều Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp khác trong tất cả các lĩnh vực: chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản Dưới sự chỉ đạo sát sao, đốc thúc của Huyện ủy các Hợp tác xã dịch vụ
Trang 39nông nghiệp đã đạt nhiều kết quả quan trọng; 90% Hợp tác xã thực hiện dịch vụ thỏa thuận có lãi, còn 1 Hợp tác xã yếu kém giảm được 6 Hợp tác
xã yếu kém so với năm 2005
Dồn đổi ruộng đất nông nghiệp là một nội dung rất quan trọng trong công cuộc xây dựng NTM Vấn đề về nhìn nhận nội dung, cách thức của việc dồn đổi ruộng đất như thế nào cho hợp lý là một vấn đề được Trung ương Đảng và Đảng bộ Tỉnh rất quan tâm Luôn theo sát, nắm bắt và học hỏi những kinh nghiệm của những người đi trước, Đảng bộ huyện Bình Lục đã tiến hành nghiên cứu đặc điểm tình hình ruộng đất nông nghiệp ở địa phương và đưa ra những bước đi phù hợp đúng đắn đạt những kết quả cao Theo ông Tống Đức Du- Trưởng phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Bình Lục cho
biết: "Xây dựng NTM là thực hiện một nền kinh tế tổng hợp, lột bỏ chiếc "áo
cũ" chật hẹp để khoác lên chiếc "áo mới" cho nông thôn Nhưng xây dựng thế nào, thay đổi thế nào để vừa đạt được sự thay đổi, vừa ổn định đời sống nhân dân mới quan trọng" Cho đến nay cả 20 xã trong huyện Bình Lục đã đăng ký
xây dựng Nông thôn mới, trong đó có 1 xã điểm của tỉnh và 5 xã điểm của huyện.Ý nghĩa của việc dồn đổi ruộng đất có tác động tích cực tới hoạt động sản xuất của nông dân Từ việc người dân phải canh tác trên nhiều mảnh ruộng manh mún, nhỏ lẻ đến nay mỗi hộ đã được dồn đổi 1 - 2 mảnh ruộng lớn thuận lợi cho việc tưới tiêu và tăng gia sản xuất [Phụ lục 1]
Trong chăn nuôi toàn huyện đã xây dựng được 200 trang trại 1 khu nuôi trồng thủy sản tập trung với quy mô 93 ha tại xã Mỹ Thọ; 4 khu chăn nuôi quy mô lớn tại các xã Tiêu Động, Tràng An, Vũ Bản, An Ninh tăng 96 trang trại so với năm 2005 Nhờ thế tổng đàn gia súc gia cầm trên địa bàn huyện tăng nhanh, sản lượng thịt hơi xuất chuồng đạt bình quân 14,3 nghìn tấn/năm tăng 15,6% so với chỉ tiêu Đại hội; tỷ trọng ngành chăn nuôi – thủy sản trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp chiếm 47% [37, tr.43]
+ Công nghiệp – Tiểu thủ công nghiệp, thương mại dịch vụ với mục
Trang 40tiêu đẩy mạnh phát triển CN - TTCN có cơ chế thích hợp trong phát triển kinh
tế Kết quả đạt được sau thời gian thực hiện như sau: giá trị sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp năm 2009 đạt 248 tỷ đồng, bình quân 5 năm đạt
214 tỷ đồng/năm tăng bình quân 21,6% năm vượt 6,6% so với chỉ tiêu đại hội Ngành thương mại dịch vụ ngày càng phát triển từng bước đáp ứng tốt hơn nhu cầu phục vụ sản xuất và đời sống của nhân dân Các hình thức tổ chức kinh doanh bán buôn bán lẻ và tiêu dùng xã hội bình quân 5 năm đạt 799 tỷ đồng/năm riêng năm 2010 đạt 923 tỷ đồng tăng 47% so với năm 2005 Giá trị kim ngạch xuất nhập khẩu trên địa bàn năm 2010 đạt 110.200 USD bình quân 5 năm đạt 1.050.000 USD/năm tăng 50% so với năm 2005 Theo kết quả thống kê toàn huyện đã có thêm 55 doanh nghiệp kinh doanh, triển khai được
19 dự án mở được 69 lớp truyền nghề, nhân cấy nghề tiểu thủ công nghiệp cho 2.850 lao động; nâng cấp đưa vào sử dụng chợ Phủ (chợ Bình Lục) và 10 chợ khác tại các xã, trung tâm thương mại thị trấn Bình Mỹ Hiện tại đang xây dựng hạtầng cụm CN – TTCN Trung Lương, nhà máy may tại xã Hưng Công, GPMB xây dựng nhà máy may tại xã An Mỹ [37, tr.32]
Ban lãnh đạo Huyện đã chỉ rõ để làm tốt cả về nội dung lẫn hình thức
phải thực hiện“3 định hướng đột phá” trong phong trào thực hiện CTQG về
xây dựng NTM
Trong đó hướng đầu tiên là tập trung phát triển nông nghiệp, nông dân
và nông thôn theo hướng sản xuất hàng hóa
Trọng tâm thứ hai là phát triển hạ tầng, trong đó chọn đường giao thông nông thôn là tiền đề để phát triển kinh tế - xã hội Trong 2 năm 2010-2014, cùng với sự hỗ trợ của tỉnh cho mỗi một km là 200 tấn xi măng, các xã cũng
đã vận động người dân hiến đất, phá bỏ tường rào Qua đó đã làm mới được gần 500 km đường giao thông nông thôn, tạo được không khí sôi nổi, phấn khởi cho nhân dân
Thứ ba là xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, đảm bảo