1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

CHỦ TRƯƠNG của ÐẢNG về xây DỰNG hợp tác xã NÔNG NGHIỆP từ năm 1958 đến năm 1965 (QUA NGHIÊN cứu TRƯỜNG hợp TỈNH hà ÐÔNG)

118 560 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 682,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tháng 3 năm 1957, Hội nghị Trung ương mở rộng lần thứ 12 đã đề ranhiệm vụ chính của các ngành trong năm 1957, trong đó đặt ra nhiệm vụ pháttriển kinh tế nông nghiệp trong năm 1957: đẩy m

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-*** -NGUYỄN THỊ MAI

CHỦ TRƯƠNG CỦA ÐẢNG VỀ XÂY DỰNG

HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP TỪ NĂM 1958 ĐẾN NĂM 1965 (QUA NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TỈNH HÀ ÐÔNG)

Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

Mã số: 60.22.03.15

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Người hướng dẫn: TS Lê Thị Quỳnh Nga

HÀ NỘI - 2015

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình khoa học của

riêng tôi Các tài liệu và số liệu trích dẫn trong luận văn là

hoàn toàn trung thực và có xuất xứ rõ ràng Nếu có gì

không trung thực, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm

Người viết cam đoan

Nguyễn Thị Mai

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CHỦ TRƯƠNG XÂY DỰNG HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP CỦA ĐẢNG VÀ QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN Ở TỈNH HÀ ĐÔNG TỪ NĂM 1958 ĐẾN NĂM 1960 6

1.1 Chủ trương xây dựng tổ đổi công và hợp tác xã nông nghiệp của Đảng 6

1.2 Xây dựng tổ đổi công, vần công tiến lên hợp tác xã bậc thấp ở tỉnh Hà Đông 20

1.2.1 Chủ trương của Tỉnh ủy Hà Đông 20

1.2.2 Chỉ đạo xây dựng tổ đổi công, hợp tác xã nông nghiệp 29

Tiểu kết 44

Chương 2: CHỦ TRƯƠNG XÂY DỰNG HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP TỪ BẬC THẤP LÊN BẬC CAO VÀ HIỆN THỰC HÓA Ở HÀ ĐÔNG TỪ NĂM 1961 ĐẾN NĂM 1965 45

2.1 Chủ trương của Trung ương Đảng 45

2.2 Phát triển hợp tác xã từ bậc thấp lên bậc cao ở tỉnh Hà Đông 55

2.2.1 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Hà Đông 55

2.2.2 Quá trình tổ chức thực hiện 63

Tiểu kết 81

Chương 3: MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM LỊCH SỬ 82

3.1 Nhận xét 82

3.1.1 Ưu điểm 82

3.1.2 Nhược điểm 86

3.2 Kinh nghiệm lịch sử 96

3.2.1 Cần nhận thức đúng đắn về nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần 96

3.2.2 Trong quá trình thực hiện chủ trương của Đảng, địa phương cần chủ động vận dụng để tạo ra tính hiệu quả của nền kinh tế, không áp dụng cứng nhắc, xây dựng mô hình kinh tế phù hợp với địa phương 100

KẾT LUẬN 102

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 104

Trang 4

DANH MỤC BẢNG Bảng 1: Sản lượng các cây lương thực năm 1960 so với năm 1959 và

so với kế hoạch đề ra 36

Bảng 2: Tình hình sử dụng phân bón và diện tích cấy dày trong 3 năm 1958 -1960 37

Bảng 3: Tình hình sử dụng phân bón hóa học trong 3 năm 1958 -1960 .37

Bảng 4: Tình hình chăn nuôi năm 1960 so với năm 1959 38

Bảng 5: Bình quân đầu người về lương thực từ năm 1957 – 1960 39

Bảng 6: Tình hình các huyện xây dựng kế hoạch trong năm 1962 68

Bảng 7: Tình hình thu nhập từ hợp tác xã và từ gia đình của xã viên năm 1963 74

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, cách mạng nước ta bước sangmột giai đoạn mới Miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, miền Nam vẫn đangrên siết dưới ách thống trị của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai Thực hiện chủtrương của Đảng, cả nước tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược cáchmạng, cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủnhân dân ở miền Nam, nhằm thực hiện mục tiêu chung giải phóng miền Nam,thống nhất đất nước Với hai nhiệm vụ chiến lược đó, cách mạng xã hội chủnghĩa ở miền Bắc đã đóng vai trò quan trọng, quyết định nhất đến thắng lợicủa cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước

Cùng với sự phát triển của các ngành kinh tế khác, nông nghiệp miềnBắc, đặc biệt là hợp tác xã nông nghiệp thời kỳ này chiếm một vị trí đặc biệt.Hợp tác xã vừa hoạt động theo định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm xây dựngđời sống ấm no, hạnh phúc cho người nông dân, vừa góp phần làm tròn vaitrò hậu phương lớn, cung cấp sức người, sức của ngày một lớn cho tiền tuyếnmiền Nam

Nhận thức được vai trò, vị trí của hợp tác xã nông nghiệp trong quátrình cải tạo nền kinh tế miền Bắc lúc bấy giờ, Trung ương Đảng đã đề ranhiều chủ trương, chính sách nhằm đẩy mạnh quá trình hợp tác hóa nôngnghiệp, đưa người nông dân từ sản xuất nhỏ lẻ, sang nền sản xuất tập trung,quy mô lớn, của chủ nghĩa xã hội

Hà Đông là một tỉnh nằm ở khu vực đồng bằng Bắc bộ, có vị trí địa lý vàđiều kiện tự nhiên thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp Trong nhữngnăm 1958 - 1965, thực hiện chủ trương của Đảng, nhân dân Hà Đông đã đẩymạnh quá trình xây dựng hợp tác xã nông nghiệp Những kết quả đạt đượctrong quá trình xây dựng hợp tác xã nông nghiệp đã góp phần quan trọngtrong việc cải thiện đời sống nông dân, ổn định đời sống nông thôn, xây dựng

Trang 6

miền Bắc xã hội chủ nghĩa, đồng thời hoàn thành xuất sắc nghĩa vụ hậuphương trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước Tuy nhiên, trong quátrình lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng hợp tác xã nông nghiệp ở Hà Đông, ngoàinhững thành quả đạt được, mô hình hợp tác xã nông nghiệp còn tồn tại một sốbất cập như cơ chế quản lý, phân phối thu nhập…Nhìn nhận, đánh giá nhữngthành quả đạt được cũng như những tồn tại, hạn chế cần khắc phục trong quátrình xây dựng hợp tác xã nông nghiệp ở miền Bắc nói chung, Hà Đông nóiriêng trong những năm 1958 – 1965 không chỉ góp phần đánh giá một giaiđoạn lịch sử quan trọng của Hà Đông, mà cả ở miền Bắc Đồng thời, nhậnđịnh lại một số vấn đề kinh tế nông nghiệp hợp tác hóa – tập thể hóa, nhằmphát huy mạnh mẽ vai trò nền kinh tế nông nghiệp trong nền kinh tế chungcủa đất nước.

Với những lý do trên tôi chọn đề tài: “Chủ trương của Đảng về xây dựng

hợp tác xã nông nghiệp từ năm 1958 đến năm 1965 (qua nghiên cứu trường hợp tỉnh Hà Đông).

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng trong việc xây dựng và phát triểnHợp tác xã nông nghiệp giai đoạn này đã có nhiều tác giả, nhà nghiên cứu đềcập đến ở khía cạnh chung như cuốn:

- “Hợp tác xã nông nghiệp Việt Nam lịch sử - vấn đề - triển vọng” của

tác giả Chử Văn Lâm – Nguyễn Thái Huyền, Nxbn Sự Thật, Hà Nội, 1992

- “Nông nghiệp Việt Nam 1945 – 1995” của tác giả Nguyễn Sinh Cúc,

Trang 7

Các bài viết trên các báo, tạp chí nghiên cứu lịch sử:

“Quá trình từng bước củng cố, hoàn thiện quan hệ sản xuất nông nghiệp

ở miền Bắc nước ta”, tác giả Đinh Thu Cúc, số 175 (4/1977).

“Quá trình chuyển hợp tác xã sản xuất nông nghiệp từ bậc thấp lên bậc

cao ở Việt Nam”, tác giả Trần Đức Hùng, số 187 (4/1979).

Nghiên cứu về Hợp tác xã nông nghiệp ở Hà Đông cũng có công trình như:

Lịch sử Đảng bộ Hà Tây, tập 3 (1954 – 1975), Tỉnh ủy Hà Tây, 2002.

Nhưng cho đến nay, chưa có một công trình nào mô tả cụ thể chủ trươngcủa Đảng về xây dựng hợp tác xã nông nghiệp thông qua nghiên cứu ở tỉnh

Hà Đông từ năm 1958 đến năm 1965

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

* Mục đích nghiên cứu:

Làm rõ chủ trương của Đảng về xây dựng hợp tác xã nông nghiệp, thôngqua nghiên cứu thực tế ở Hà Đông từ năm 1958 - 1965 Qua đó rút ra nhữngnhận xét và bài học kinh nghiệm trong quá trình xây dựng hợp tác xã nôngnghiệp cho giai đoạn hiện nay

* Nhiệm vụ:

- Sưu tập và hệ thống hóa những tài liệu liên quan đến đề tài, trên cơ sở đótrình bày theo tiến trình lịch sử các chủ trương và biện pháp xây dựng, pháttriển hợp tác xã nông nghiệp qua hai giai đoạn 1958– 1960 và 1961 – 1965

- Mô tả lại một cách khách quan, toàn diện những chủ trương, chính sáchcủa Trung ương Đảng và của Đảng bộ Hà Đông trong xây dựng, củng cố vàphát triển hợp tác xã nông nghiệp từ năm 1958 – 1965

- Nêu lên những nhận xét, đánh giá và bài học kinh nghiệm trong quátrình xây dựng hợp tác xã nông nghiệp trong giai đoạn hiện nay của Đảng

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu:

Trang 8

- Nghiên cứu chủ trương, chính sách của Đảng về hợp tác xã nôngnghiệp từ năm 1958 – 1965.

- Chủ trương của Đảng bộ Hà Đông về xây dựng hợp tác xã nôngnghiệp, quá trình xây dựng, vận hành hoạt động của hợp tác xã nông nghiệp

Hà Đông trong những năm 1958 – 1965

* Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung:

+ Bối cảnh lịch sử đất nước và Hà Đông trước năm 1958;

+ Chủ trương của Đảng đối với việc xây dựng hợp tác xã từ năm

1958 – 1965;

+ Sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ Hà Đông đối với việc xây dựnghợp tác xã, cũng như những kết quả đạt được, kinh nghiệm trong sự lãnh đạocủa công tác này

- Về thời gian: Tập trung nghiên cứu chủ trương của Đảng, Đảng bộ Hà

Đông về hợp tác xã nông nghiệp từ năm 1958 đến năm 1965

- Về không gian: Trên địa bàn tỉnh Hà Đông.

5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

* Nguồn tư liệu

- Các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam về hợp tác xã nông nghiệpgiai đoạn 1955 – 1965

- Các sách chuyên khảo của các tác giả về Hợp tác xã nông nghiệp ViệtNam từ một số nhà Xuất bản

- Các Báo cáo tổng kết của các Sở, Ban, Ngành có liên quan đến vấn đềhợp tác xã nông nghiệp

* Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành luận văn, tác giả sử dụng một số phương pháp chủ yếusau đây: Phương pháp logic; Phương pháp lịch sử; Phương pháp thống kê;Phương pháp so sánh;

6 Đóng góp của luận văn

Trang 9

- Hệ thống hóa tư liệu về sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương Đảng vàĐảng bộ Hà Đông đối với công tác xây dựng hợp tác xã từ năm 1958 – 1965;

- Trên cơ sở những nguồn tư liệu lịch sử, đặc biệt là tư liệu gốc, luận văn

đã trình bày quá trình lãnh đạo xây dựng hợp tác xã nông nghiệp của Đảng vàquá trình thực tế xây dựng hợp tác xã của Hà Đông, nêu những nhận xét cùngmột số bài học trong quá trình chỉ đạo xây dựng hợp tác xã nông nghiệp trongnhững năm từ 1958 – 1965

- Luận văn có giá trị tham khảo đối với các công trình lịch sử xây dựnghợp tác xã Việt Nam, lịch sử Hà Đông

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn đượcchia thành 3 chương:

Chương 1: Chủ trương xây dựng hợp tác xã nông nghiệp của Đảng và

quá trình thực hiện ở tỉnh Hà Đông từ năm 1958 đến năm 1960

Chương 2: Chủ trương xây dựng hợp tác xã nông nghiệp từ bậc thấp lên

bậc cao và hiện thực hóa ở tỉnh Hà Đông từ năm 1961 - 1965

Chương 3 Nhận xét và kinh nghiệm lịch sử

Trang 10

Chương 1

CHỦ TRƯƠNG XÂY DỰNG HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP CỦA ĐẢNG VÀ QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN Ở TỈNH HÀ ĐÔNG TỪ NĂM

1958 ĐẾN NĂM 1960 1.1 Chủ trương xây dựng tổ đổi công và hợp tác xã nông nghiệp của Đảng

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi đã mở ra cho đất nướcthời kỳ phát triển với hai nhiệm vụ chiến lược khác nhau ở hai miền MiềnNam tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, miền Bắc hoàn toànđược giải phóng tiến hành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa

Để củng cố miền Bắc về mọi mặt, Trung ương Đảng chủ trương hoànthành cải cách ruộng đất ở toàn miền Bắc, đồng thời tiến hành khôi phục kinh

tế, nâng cao sản xuất để hàn gắn vết thương chiến tranh Tăng cường từngbước bộ phận kinh tế quốc doanh (trước hết là mậu dịch quốc doanh) và bắtđầu xây dựng bộ phận kinh tế hợp tác xã Đây là giai đoạn chuyển tiếp giữahai thời kỳ cách mạng, mà nhiệm vụ chủ yếu là hoàn thành triệt để nhữngnhiệm vụ của cách mạng dân chủ nhân dân, đồng thời tạo cơ sở ban đầu đểđưa miền Bắc đi vào con đường cách mạng xã hội chủ nghĩa

Bước sang giai đoạn cách mạng mới, Đảng cho rằng nếu cứ để nông dân

tự sản xuất riêng lẻ thì dần dần số đông sẽ nghèo đói, còn một số ít sẽ trởthành phú nông Vì vậy cần tổ chức nông dân vào tổ đổi công rồi tiến dần lêncác hợp tác xã Đó là con đường đưa nông dân đến ấm no, hạnh phúc

Tháng 8 năm 1955, Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảngkhóa II đã xác định rõ mục đích, yêu cầu, phương châm, điều kiện khôi phục

và phát triển kinh tế miền Bắc Hội nghị chỉ rõ thời hạn trong vòng hai nămkhôi phục kinh tế, căn bản đưa nền sản xuất lên ngang bằng mức trước chiếntranh Hội nghị cũng chỉ rõ khôi phục kinh tế nhằm hàn gắn những vết thươngchiến tranh là phương châm chính khôi phục kinh tế nhưng đồng thời phát triển

Trang 11

ở mức độ nhất định Mọi công tác kinh tế phải góp phần vào việc củng cố miềnBắc, đồng thời phải chiếu cố miền Nam một cách thích đáng Khôi phục kinh

tế nhằm phục hồi và phát triển nông nghiệp là chính, là đầu mối cho mọi lĩnhvực khôi phục: “Trong việc khôi phục kinh tế phải đặc biệt chú trọng việc khôiphục sản xuất nông nghiệp, bao gồm sản xuất lương thực, cây công nghiệp,chăn nuôi, lâm nghiệp và ngư nghiệp; phải dựa vào khôi phục sản xuất nôngnghiệp để khôi phục các ngành khác, khôi phục cả nền kinh tế quốc dân” [45,tr.536] Trên cơ sở khẳng định tính chất đặc biệt trọng yếu của sản xuất nôngnghiệp “là mấu chốt của việc khôi phục nền kinh tế quốc dân, mấu chốt củatoàn bộ công tác kinh tế tài chính của chúng ta Sản xuất nông nghiệp liên quanđến đời sống của nông dân, bởi đại đa số nhân dân nước ta…[45, tr.537]

Báo cáo của đồng chí Trường Chinh tại Hội nghị đã xác định đường lốiphát triển nông thôn sau cải cách ruộng đất của chúng ta là hướng dẫn kinh tếnông nghiệp tiến dần từng bước lên Chủ nghĩa xã hội, qua vận động hợp tác xã

để chuyển dần kinh tế cá thể lên kinh tế tập thể có tính chất xã hội chủ nghĩa.Con đường của nông thôn từ sau cải cách ruộng đất đến lúc thực hiện nôngnghiệp xã hội chủ nghĩa là một quá trình đấu tranh lâu dài, gian khổ, phức tạp.Phải đi dần từng bước, không thể nóng vội Với khẩu hiệu nắm vững lãnh đạo,tiến dần từng bước sau cải cách ruộng đất để xây dựng nền kinh tế tập thể cầnnắm ba việc: Vận động tổ đổi công; Vận động hợp tác xã mua bán; Vận độnghợp tác xã tín dụng [45, tr.515] Việc phát triển ba cuộc vận động đó và làmcho có kết quả tốt thì sẽ hạn chế được sự bóc lột của phú nông và kinh tế hợptác xã sẽ thắng kinh tế phú nông Dần dần từ chỗ thí nghiệm hợp tác xã nôngnghiệp tiến lên phát triển hợp tác xã nông nghiệp Sau này nước nhà côngnghiệp hóa, nhà nước có đủ máy cày, máy bừa, máy gặt đập liên hợp, máy bơmnước…cho hợp tác xã nông nghiệp thuê thì nhiều hợp tác xã nông nghiệp cóthể hợp nhất là thành nông trường tập thể Lúc đó nông nghiệp sẽ xã hội hóa[45, tr.515 – 516]

Trang 12

Báo cáo cũng nêu rõ: “Sau cải cách ruộng đất phải tích cực tổ chức nôngdân lại để phát triển sản xuất nông nghiệp Phải giáo dục giúp đỡ nông dân tựnguyện, tự giác đi vào con đường làm ăn tập thể, là con đường đem lại chonông dân đời sống ấm no Phải nắm vững công tác trung tâm ở nông thôn saucải cách ruộng đất là đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, chủ yếu là sản xuấtlương thực, đồng thời tùy khả năng mà chăm lo đẩy mạnh các ngành kháctrong nông nghiệp: cây công nghiệp, cây ăn quả, chăn nuôi, lâm nghiệp, ngưnghiệp” [45, tr.540].

Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8, khóa II đã xác định

“Chủ trương của ta đối với nông thôn sau cải cách ruộng đất là lãnh đạo nôngdân sản xuất và đấu tranh để dần tiên lên Chủ nghĩa xã hội, ngăn ngừa nôngdân đi vào con đường tư bản chủ nghĩa Muốn đi đến mục đích đó, ta cần phảikết hợp công tác tổ chức kinh tế và công tác giáo dục chính trị, thông qua cáchình thức hợp tác, tương trợ từ thấp đến cao, dần dần làm cho nông dân tựnguyện, tự giác đi vào con đường làm ăn tập thể [45, tr.581]

Trung ương Đảng chủ trương đưa nông dân dần dần từng bước đi vào conđường làm ăn tập thể: tăng cường giáo dục đảng viên và quần chúng nông dân,hướng dẫn họ đi vào con đường hợp tác, tương trợ để thực hiện sản xuất cólãnh đạo, có tổ chức, làm cho thu nhập của nông dân thêm dồi dào, đời sống họthêm cải thiện, góp phần làm cho kinh tế nước nhà ngày càng phồn thịnh…Củng cố và phát triển rộng rãi và có lãnh đạo những hình thức đổi công từngviệc, từng vụ Ở những nơi đã có cơ sở đổi công thì phổ biến hình thức đổicông thường xuyên một cách có kế hoạch Giữ vững ba nguyên tắc tự nguyện,cùng có lợi và quản trị dân chủ Nơi nào có kinh nghiệm đổi công, có cơ sở đổicông thường xuyên và có cốt cán lãnh đạo thì làm thí nghiệm một số hợp tác xãsản xuất Trong cuộc vận động hợp tác tương trợ phải chống hai khuynh hướngsai lầm là hoặc cưỡng bách mệnh lệnh, hoặc buông trôi, không lãnh đạo [45,tr.582] Thực hiện chủ trương xây dựng hợp tác xã thí điểm, đến cuối năm

Trang 13

1955, đã có 6 hợp tác xã nông nghiệp được xây dựng thí điểm ở Phú Thọ, TháiNguyên, Thanh Hóa; năm 1956 có 26 hợp tác xã thí điểm [63, tr.10]

Tháng 3 năm 1957, Hội nghị Trung ương mở rộng lần thứ 12 đã đề ranhiệm vụ chính của các ngành trong năm 1957, trong đó đặt ra nhiệm vụ pháttriển kinh tế nông nghiệp trong năm 1957: đẩy mạnh sản xuất lương thực là chủyếu, hết sức phát triển cây công nghiệp, đẩy mạnh chăn nuôi gia súc, phát triểncác nghề phụ ở nông thôn, khôi phục ruộng hoang, hoàn thành và xây dựngthêm các công trình thủy nông, củng cố đê ở những nơi xung yếu…Ra sức khôiphục và phát triển tổ đổi công, nhất là tổ đổi công thường xuyên…đối với hợptác sản xuất nông nghiệp, phải lấy củng cố làm chính, đảm bảo thu hoạch của

xã viên cao hơn thu hoạch của nông dân, cá thể [47, tr.114 – 116] Thực hiệnchủ trương của Trung ương, việc xây dựng thí điểm các hợp tác xã vẫn đượctiến hành một cách tích cực, đến tháng 10 năm 1957 có 42 hợp tác xã thíđiểm Tuy nhiên, ngay từ bước đầu thí điểm này đã có một số hợp tác xã tan

vỡ [63, tr10] Nguyên nhân chủ yếu là do ảnh hưởng của những sai lầmnghiêm trọng trong cải cách ruộng đất và ngay trong việc tổ chức đổi công,hợp tác cũng mắc sai lầm

Trước tình hình đó, muốn ổn định tình hình để chuyển lên làm nhiệm vụcải tạo xã hội chủ nghĩa ở nông thôn thì trước mắt phải gấp rút tập trung lựclượng sửa sai Đảng đã công khai nhận sai lầm và kiên quyết sửa sai Đếncuối năm 1957 khi công tác sửa sai đã căn bản hoàn thành, tháng 10 năm

1957, Hội nghị sơ kết công tác thí điểm xây dựng hợp tác xã nông nghiệp đãđược tổ chức Hội nghị sơ kết đã đề ra chủ trương củng cố hợp tác xã thí điểmtrên các mặt: quản lý lao động, quản lý sản xuất, quản lý tài vụ Hội nghị đặt

ra mục tiêu năm 1958 xây dựng 234 hợp tác xã; năm 1960 hoàn thành xâydựng tổ đổi công, đưa 20% hộ nông dân vào hợp tác xã bậc thấp và thí điểmxây dựng hợp tác xã bậc cao [63, tr.11] Mặc dù chủ trương của Đảng lúc này

là làm thí điểm từ thấp đến cao, nhưng trong thực tế phong trào hợp tác hóanông nghiệp lại diễn ra ra với tốc độ rất cao

Trang 14

Tháng 12 năm 1957, sau khi hoàn thành kế hoạch ba năm khôi phục kinh

tế và cải cách ruộng đất, Hội nghị lần thứ 13 của Ban Chấp hành Trung ươngĐảng họp mở rộng, xác định nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam là: Củng cốmiền Bắc, đưa miền Bắc tiến dần lên chủ nghĩa xã hội Miền Bắc nước tađang tiến dần lên chủ nghĩa xã hội Quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa xãhội là không ngừng khuyến khích phát triển sản xuất, đảm bảo đời sống ngườilao động ngày càng khá hơn, thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động.Như vậy, có thể thấy đến trước Hội nghị 14 (11/1958), tư duy của Đảng

về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là một con đường cáchmạng lâu dài, phải tiến hành từng bước một Việc xây dựng nền kinh tế tậpthể phải được tiến hành dần dần từng bước không thể nóng vội Trong quátrình xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội, vẫn đảm bảo tồn tại cácthành phần kinh tế tư nhân, tư bản và cá thể bên cạnh kinh tế nhà nước vàkinh tế tập thể Với tư duy đó, những năm 1955 – 1957, trong hoàn cảnhtrình độ sản xuất nông nghiệp còn thấp kém, việc phát huy vai trò kinh tế hộgia đình nông dân và hình thức hợp tác lao động giản đơn giữa các hộ nôngdân là phù hợp và có hiệu quả Trong 3 năm 1955 – 1957, 85% diện tích đất

bỏ hoang vì chiến tranh ở miền Bắc được khôi phục, số lượng đàn trâu, bòtăng lên Một tiềm năng mới bắt đầu được khai phóng, một thế làm ăn mớiđược mở ra

Bước sang năm 1958, sau khi cuộc cải cách ruộng đất hoàn thành, xuấtphát từ nhận thức muốn xóa bỏ tận gốc chế độ bóc lột, chặn đứng con đườngphát triển tự phát tư bản chủ nghĩa ở nông thôn, Hội nghị Ban Chấp hànhTrung ương Đảng lần thứ 14 (11/1958) đã họp Hội nghị đã đưa ra chủ trươngbước đầu phát triển kinh tế, văn hóa trong ba năm 1958 – 1960 và cải tạo xãhội chủ nghĩa đối với kinh tế cá thể của nông dân, thợ thủ công, người buônbán nhỏ và kinh tế tư bản tư doanh Đi đôi với cải tạo phải ra sức phát triểnthành phần kinh tế quốc doanh là lực lượng lãnh đạo nền kinh tế quốc dân

Trang 15

Báo cáo Về nhiệm vụ kế hoạch ba năm (1958 – 1960) và cải tạo kinh tế

quốc dân đã chỉ rõ: Để đưa cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc tiến

lên và đẩy mạnh phát triển kinh tế, trong những năm sắp đến, nhiệm vụ trọngtâm là phải ra sức cải tạo nông nghiệp, cải tạo thủ công nghiệp, cải tạo côngthương nghiệp tư bản tư doanh theo chủ nghĩa xã hội, làm cho quan hệ sản xuấtphù hợp với sự phát triển của sức sản xuất Vấn đề quan trọng bậc nhất là phải

ra sức tổ chức nông dân lại, dựa trên cơ sở hợp tác hóa mà đẩy mạnh sản xuấtnông nghiệp và dựa trên cơ sở nông nghiệp được cải tạo và phát triển mà đẩymạnh công cuộc phát triển và cải tạo nền kinh tế quốc dân Đó là một bước quá

độ cần thiết để tiến lên xây dựng cơ sở vật chất và kỹ thuật của nền kinh tế xãhội chủ nghĩa ở miền Bắc, củng cố miền Bắc vững mạnh, làm cơ sở cho cuộcđấu tranh thống nhất nước nhà [48, tr.459]

Căn cứ vào tình hình đất nước và yêu cầu chuyển tiếp từ thời kỳ pháttriển kinh tế, Trung ương đã đề ra nhiệm vụ chủ yếu cho kế hoạch ba năm

1958 – 1960 là:

1 Đẩy mạnh phát triển sản xuất nông nghiệp và công nghiệp, lấy sản xuấtnông nghiệp làm trọng tâm, nhằm giải quyết vấn đề lương thực, giải quyếtphần lớn hàng tiêu dùng và hết sức chú trọng tăng thêm các tư liệu sản xuất

2 Ra sức cải tạo nông nghiệp, thủ công nghiệp và công thương nghiệp

tư bản tư doanh theo chủ nghĩa xã hội, chủ yếu nhất là đẩy mạnh hợp táchóa nông nghiệp, đồng thời tích cực phát triển và củng cố thành phần kinh

tế quốc doanh

3 Trên cơ sở sản xuất phát triển, nâng cao một bước đời sống vật chất vàvăn hóa của nhân dân, nhất là nhân dân lao động và tăng cường củng cố quốcphòng [48, tr.461 – 462]

Hội nghị cũng chỉ rõ: Hợp tác hóa là yêu cầu phát triển khách quan củanông nghiệp và nông dân, là một nhiệm vụ kinh tế và chính trị căn bản củaĐảng ta trong cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa; là cuộc cách mạng to lớn nhất

Trang 16

ở nông thôn, cuộc cách mạng về quan hệ sản xuất rất sâu rộng ở nước ta để làmcho quan hệ sản xuất phù hợp với sức sản xuất và để thúc đẩy sản xuất pháttriển Trong phong trào hợp tác hóa thì hợp tác hóa nông nghiệp là then chốt đểphát triển nông nghiệp, biến nông nghiệp thành chỗ dựa để phát triển kinh tế; làlực lượng chủ yếu để thúc đẩy toàn bộ phong trào cải tạo xã hội chủ nghĩa [48,tr.467] Hội nghị quyết định phấn đấu đến năm 1960 căn bản hoàn thành tổchức hợp tác xã nông nghiệp bậc thấp và đưa một phần lên hợp tác xã bậc cao.Như vậy, hợp tác hóa là một nhiệm vụ kinh tế và chính trị căn bản của Đảngtrong cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa Sau cách mạng ruộng đất, hợp tác hóa làphong trào to lớn nhất ở nông thôn Kết hợp với việc đẩy mạnh hợp tác hóa, phải

ra sức vận động nông dân cải tiến kỹ thuật, áp dụng rộng rãi toàn bộ kỹ thuật theophương châm: đủ nước, nhiều phân, giống tốt, cày sâu, cấy dày

Thực hiện chủ trương của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng 14,ngày 8 tháng 12 năm 1958, Ban Bí thư ra Chỉ thị số 118-CT/TW “Về việc đẩymạnh phong trào hợp tác hóa nông nghiệp, đảm bảo hoàn thành thắng lợi vụsản xuất Đông – Xuân” đã khẳng định việc xây dựng và củng cố tổ đổi cônglàm cơ sở cho việc xây dựng hợp tác xã nông nghiệp: Chủ trương chung hiệnnay là phải tiếp tục đẩy mạnh và củng cố phong trào đổi công, chủ yếu là tổ đổicông thường xuyên có bình công chấm điểm, đồng thời phải chú ý đầy đủ việcxây dựng các hợp tác xã sản xuất nông nghiệp một cách vững chắc Nếu khôngxây dựng tốt tổ đổi công thường xuyên có bình công chấm điểm thì không thểchuẩn bị cơ sở tốt để tiến lên hợp tác xã sản xuất nông nghiệp Mặt khác, hợptác xã sản xuất nông nghiệp đã bắt đầu thành phong trào Nếu không chú trọng

tổ chức hợp tác xã thì không đáp ứng được yêu cầu của quần chúng và khôngphát triển mạnh được sản xuất; nhưng mặt khác cũng phải thấy tổ chức hợp tác

xã phức tạp hơn tổ đổi công và kinh nghiệm của ta còn ít, nếu không chú ý đisâu nắm tình hình và lãnh đạo chặt chẽ, thì hợp tác xã xây dựng không tốt, do

đó sẽ ảnh hưởng đến việc phát triển phong trào rộng lớn về sau” [48, tr.614]

Trang 17

Chỉ thị cũng đưa ra những điều kiện để xây dựng các hợp tác xã ở các địaphương, đó là:

Đối với từng nơi, vì tình hình phát triển không đều, cho nên mức độ cũng

có khác nhau Cụ thể, nơi chưa có tổ đổi công thì phải tổ chức ngay tổ đổicông, nơi đã có tổ đổi công thì đưa lên tổ thường xuyên có bình công chấmđiểm, nơi đã có tổ đổi công thường xuyên có bình công chấm điểm thì tùy theoyêu cầu của quần chúng và khả năng lãnh đạo của cấp ủy, chủ yếu là của chi ủy

xã mà tổ chức một vài hợp tác xã nông nghiệp bậc thấp làm thí điểm, nơi đã cóhợp tác xã sản xuất nông nghiệp bậc thấp vững chắc thì có thể mở rộng thêmhoặc xây dựng thêm các hợp tác xã mới và tạo điều kiện tổ chuyển một số hợptác xã bậc thấp lên bậc cao để thử nghiệm

Xây dựng hợp tác xã sản xuất nông nghiệp mới lúc này nhất quyết phải cóbốn điều kiện:

1 Có cơ sở đổi công khá (tức là phải có tổ đổi công thường xuyên có bìnhcông chấm điểm làm nòng cốt)

2 Có cốt cán tốt (tức là chi bộ xã phải nắm và có những đảng viên tíchcực tham gia trực tiếp và lãnh đạo)

3 Quần chúng thực sự yêu cầu (tức là quần chúng thấy hợp tác xã là tốt,

là có lợi cho họ, họ thật muốn tham gia)

4 Có cán bộ chính trị và cán bộ quản lý hợp tác xã

Tổ chức tổ đổi công, hợp tác xã sản xuất nông nghiệp phải luôn nắm vững

ba nguyên tắc tự nguyện, cùng có lợi và quản lý dân chủ [48, tr.615 – 616].Phương châm chung tổ chức phong trào hợp tác hóa hiện nay vẫn là tíchcực lãnh đạo, tiến bước vững chắc Tích cực lãnh đạo tức là nơi nào có điềukiện thì phải đưa quần chúng tiến lên và phải tích cực chuẩn bị những điều kiện

đó, không phải chờ đợi, bị động Tiến bước vững chắc là đảm bảo phong tràotốt chứ không phải kìm hãm phong trào chậm lại

Hợp tác hóa là một phong trào cách mạng quần chúng, phải tích cực lãnh

Trang 18

đạo nhưng phải chuẩn bị điều kiện cho thật tốt Hiện nay có khuynh hướng chorằng chỉ cần nhấn mạnh tích cực lãnh đạo, đứng về một mặt thì tinh thần tíchcực đó là đúng, nhưng nếu tách rời phương châm tiến bước vững chắc là khôngđúng Quần chúng yêu cầu tiến lên hợp tác xã sản xuất nông nghiệp, đó là mộtbiểu hiện tốt, nhưng nếu chưa đủ điều kiện để tổ chức hợp tác xã thì phải giảithích cho quần chúng tích cực tham gia và củng cố tổ đổi công tạo điều kiện để

tổ chức tốt các hợp tác xã, cần khuyến khích tinh thần tiến lên của quần chúng,tích cực vươn lên để lãnh đạo quần chúng, nhưng không bị động, đi đến thiếuthận trọng, làm không tốt [48, tr 617 – 618]

Mặc dù quan điểm chỉ đạo là vậy, nhưng khi chủ trương được thực hiện,các tổ chức đảng và chính quyền ở các địa phương đã nhận thức và triển khaivới một khí thế cách mạng đặc biệt Nhiều nơi đã áp dụng biện pháp cưỡng chếnông dân vào hợp tác xã Vì vậy, phong trào hợp tác hóa nông nghiệp đã pháttriển với một tốc độ không ngờ Đến cuối năm 1958, toàn miền Bắc đã xâydựng được 4.723 hợp tác xã- vượt xa con số 244 hợp tác xã dự kiến ban đầu[63, tr14]

Trước sự phát triển không bình thường của các hợp tác xã, ngay từ rấtsớm, trong đội ngũ cán bộ quản lý các cấp đã nảy sinh những ý kiến trái chiều

về vấn đề hợp tác hóa nông nghiệp Tại Hội nghị nông nghiệp miền Bắc lầnthứ nhất tổ chức tại Thanh Hóa, tháng 12 năm 1958, đại biểu của 12 đơn vịcho rằng: hợp tác hóa nông nghiệp đã trở thành phong trào quần chúng rộngrãi; đại biểu của 13 đơn vị khác nhận định: hợp tác hóa nông nghiệp mới chỉ

là bước đầu, chưa trở thành một phong trào quần chúng rộng lớn Đặc biệt, cómột số ý kiến cho rằng quần chúng chưa có yêu cầu hợp tác hóa nông nghiệp[63, tr.14]

Giữa lúc hợp tác xã nông nghiệp đang trên đà phát triển mạnh mẽ, tháng

4 năm 1959, Hội nghị Trung ương lần thứ 16 đã họp Hội nghị đã đánh dấubước phát triển của phong trào hợp tác hóa nước ta Trong báo cáo “Kiên

Trang 19

quyết đưa nông thôn miền Bắc nước ta qua con đường hợp tác hóa nôngnghiệp tiến lên chủ nghĩa xã hội” của đồng chí Trường Chinh tại Hội nghị đãkhẳng định muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội cần tiến hành cải tạo các thànhphần kinh tế cá thể, xây dựng chế độ sở hữu tập thể “Kinh tế ở miền Bắcnước ta hiện nay có nhiều thành phần: thành phần kinh tế quốc doanh, thànhphần kinh tế hợp tác xã, thành phần kinh tế cá thể của nông dân và thợ thủcông, thành phần kinh tế tư bản chủ nghĩa nhà nước Thành phần kinh tế cáthể của nông dân và thợ thủ công chiếm một phần lớn trong nền kinh tế quốcdân Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, một mặt phải ra sức pháttriển nền kinh tế quốc doanh và kinh tế hợp tác xã; mặt khác phải tích cực cảitạo các thành phần kinh tế cá thể và kinh tế tư bản chủ nghĩa tư doanh, đemchế độ sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể thay thế dần cho chế độ sở hữu tưnhân về tư liệu sản xuất” [48, tr.300].

Tại Hội nghị, Trung ương Đảng đã ra Nghị quyết về vấn đề hợp tác hóanông nghiệp, coi “hợp tác hóa nông nghiệp là khâu chính trong toàn bộ sợidây chuyền cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc nước ta, đồng thời góp phầnquan trọng đẩy mạnh cuộc đấu tranh thực hiện thống nhất tổ quốc [49, tr.367].Mục đích và yêu cầu của cuộc vận động hợp tác hóa nông nghiệp nhằm:

a, Cải tạo quan hệ sản xuất cá thể ở nông thôn, xây dựng quan hệ sảnxuất tập thể, xóa bỏ sự bóc lột kinh tế của phú nông, đem chế độ sở hữu tậpthể của nông dân lao động thay thế dần cho chế độ sở hữu cá thể về những tưliệu sản xuất chủ yếu, vĩnh viễn xóa bỏ giai cấp bóc lột và chế độ người bóclột người ở nông thôn Trên cơ sở lao động tập thể và kỹ thuật cải tiến từ thấpđến cao là đẩy mạnh phát triển nông nghiệp và mọi mặt sản xuất khác ở nôngthôn, đồng thời tạo điều kiện để đẩy mạnh công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩanước nhà; không ngừng nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nông dân,làm cho nông dân ăn no, mặc ấm, ở tốt, có sức khỏe, có văn hóa

b, Tăng cường đoàn kết nông thôn, củng cố khối liên minh công nông,

Trang 20

củng cố Mặt trận dân tộc thống nhất và chính quyền dân chủ nhân dân, củng

cố dân quân và xây dựng lực lượng hậu bị, củng cố nền chuyên chính dân chủnhân dân

c, Nâng cao trình độ giác ngộ xã hội chủ nghĩa của cán bộ, đảng viên vàđoàn viên, giáo dục tư tưởng xã hội chủ nghĩa cho quần chúng nông dân, củng

cố và phát triển Đảng và Đoàn Thanh niên Lao động, tăng cường sự lãnh đạocủa Đảng ở nông thôn

d, Góp phần vào sự nghiệp củng cố miền Bắc, đưa miền Bắc tiến dần lênchủ nghĩa xã hội, làm cơ sở vững mạnh cho cuộc đấu tranh nhằm thực hiệnthống nhất nước nhà [49, tr.370 – 371]

Trung ương Đảng đã xác định thái độ cụ thể đối với từng tầng lớp ở nôngthôn, đó là: “Dựa hẳn vào bần cố nông và trung nông lớp dưới, đoàn kết chặtchẽ với trung nông, hạn chế đi đến xóa bỏ sự bóc lột kinh tế của phú nông, cảitạo tư tưởng phú nông, ngăn ngừa địa chủ ngóc đầu dậy, tiếp tục mở đường chođịa chủ lao động cải tạo thành con người mới; kiên quyết đưa nông dân vào conđường hợp tác hóa nông nghiệp tiến lên chủ nghĩa xã hội” [49, tr372]

Để đưa phong trào hợp tác hóa nông nghiệp đi đến thành công, Hội nghị

đã vạch ra ba nguyên tắc: tự nguyện, cùng có lợi và quản lý dân chủ Phươngchâm chỉ đạo chung là tích cực lãnh đạo, vững bước tiến lên; quy hoạch vềmọi mặt, sát với từng vùng; làm tốt, vững, nhanh, gọn

Cũng tại Hội nghị, Trung ương đã thảo luận và quyết định nhiều vấn đềquan trọng về bước đi, những chính sách cụ thể về công hữu hóa tư liệu sảnxuất, về quản lý dân chủ, phân phối thống nhất, về tổ chức bộ máy quản lý vàquy định về trích lập các quỹ cho hợp tác xã…

Về bước đi, Hội nghị chỉ rõ: “Nói chung phong trào hợp tác hóa nôngnghiệp phải đi từ thấp đến cao và phải tiến theo ba bước: tổ đổi công có mầmmống xã hội chủ nghĩa, hợp tác xã bậc thấp nửa xã hội chủ nghĩa và hợp tác

xã bậc cao hoàn toàn xã hội chủ nghĩa” [49, tr328]

Điều kiện cơ bản để xây dựng hợp tác xã nông nghiệp là phải có cơ sở

Trang 21

đổi công tốt; quần chúng nhân dân lao động thực sự yêu cầu; phải có cốt cánlãnh đạo Muốn chuyển từ hợp tác xã bậc thấp lên bậc cao phải có đầy đủ bayếu tố: thứ nhất, năng suất lao động và hiệu quả sản xuất của hợp tác xã đóphải cao, đời sống các hộ xã viên phải được đảm bảo; thứ hai, xã viên phảigiác ngộ lý tưởng xã hội chủ nghĩa, phải có tinh thần đoàn kết, tương trợ, giúp

đỡ lẫn nhau; thứ ba, cán bộ quản lý phải được bồi dưỡng vững về nghiệp vụ,thực hiện đúng nguyên tắc quản lý dân chủ, được xã viên tín nhiệm

Quan hệ chặt chẽ đến bước đi là vấn đề quy mô hợp tác xã Hội nghị chorằng căn cứ vào trình độ kỹ thuật sản xuất và kinh nghiệm quản lý mà quyđịnh quy mô tổ chức hợp tác xã Hướng chung là: “Nên làm từ nhỏ đến lớn,lúc đầu tùy theo khả năng lãnh đạo và tình hình quần chúng mà tổ chức hợptác xã vừa và nhỏ, sau đó dần dần phát triển thêm xã viên, hoặc là hợp nhiềuhợp tác xã nhỏ gần nhau lại thành những hợp tác xã lớn trong phạm vi thônhay một xã” [49, tr.331]

Đi đôi với củng cố hợp tác xã, Hội nghị cho rằng phải có kế hoạch pháttriển và củng cố tổ đổi công, chủ yếu là đưa tổ đổi công từng vụ, từng việc lênthường xuyên có bình công chấm điểm Việc xây dựng tổ đổi công thườngxuyên có bình quân chấm điểm tốt là rất cần thiết để đảm bảo xây dựng hợp tác

xã một cách vững mạnh và ngay ở những nơi hợp tác xã đã phát triển và chi bộlãnh đạo tốt, nếu xây dựng được tổ đổi công có bình quân chấm điểm cũng cólợi cho phong trào Vì vậy, phải ra sức củng cố và phát triển tổ đổi công

Để đưa phong trào hợp tác hóa nông nghiệp đi đến thắng lợi, Ban Chấphành Trung ương cũng chỉ ra rằng xây dựng hợp tác xã nông nghiệp phải gắnvới cải tiến kỹ thuật, đẩy mạnh sản xuất Nhiệm vụ hợp tác hóa nông nghiệp

có hai nội dung lớn Về chính trị, nhằm xây dựng quan hệ sản xuất mới, xóa

bỏ quan hệ sản xuất cũ, xóa bỏ bóc lột và xóa bỏ giai cấp Về kinh tế nó tạo ralực lượng sản xuất to lớn, mạnh mẽ trên cơ sở đó cải tiến và áp dụng kỹ thuậtrộng rãi, nâng cao sản xuất Phải trên cơ sở hợp tác hóa mà cải tiến kỹ thuật.Như vậy, Hội nghị Trung ương lần thứ 16 (khóa II) đã đánh dấu định

Trang 22

hình tư tưởng cải tạo nông nghiệp của Đảng Từ chỗ xác định dần dần làmcho nông dân tự nguyện, tự giác đi vào con đường làm ăn tập thể sang tíchcực cải tạo các thành phần kinh tế cá thể và kinh tế tư bản chủ nghĩa tư doanh,đem chế độ sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể thay dần cho chế độ sở hữu tưnhân về tư liệu sản xuất Từ đây, khái niệm hợp tác hóa nông nghiệp gắn liềnvới chủ nghĩa xã hội, coi đó là mô hình tất yếu phù hợp với bản chất của chủnghĩa xã hội.

Ngày 25 tháng 9 năm 1959, Ban Bí thư tiếp tục ra Chỉ thị số 154-CT/TW

Về việc tiếp tục củng cố hợp tác xã sản xuất nông nghiệp Chỉ thị đã khẳng

định những kết quả đạt được của phong trào hợp tác hóa nông nghiệp từ năm

1958 Bên cạnh những thành tựu đạt được, phong trào hợp tác hóa nôngnghiệp còn vấp phải những khó khăn như phát triển chưa đều, số lượng tăngnhanh nhưng chất lượng còn yếu; đại bộ phận hợp tác xã mới xây dựng, chưakinh qua một vụ sản xuất và thu hoạch, trình độ giác ngộ xã hội chủ nghĩa của

xã viên còn thấp, công tác quản lý lao động, quản lý sản xuất và quản lý tài vụcòn lúng túng; lực lượng lãnh đạo trong các hợp tác xã còn yếu, có nơi tổchức chưa ổn định, ban quản trị và ban kiểm soát nhập làm một…Trong khiphát triển hợp tác xã, có nơi còn rụt rè, chưa đáp ứng yêu cầu của quần chúng,nhưng nhiều nơi vẫn còn lối lướt nhanh, làm dối, chuẩn bị cơ sở không tốt,phát động quần chúng không sâu, thậm chí có nơi còn mệnh lệnh gò ép, thậmchí kết nạp thêm cả gián điệp [49, tr.667 – 668]

Trên cơ sở đó Ban Bí thư đã nhận định “Củng cố hợp tác xã sản xuấtnông nghiệp không phải chỉ là một công tác quan trọng trực tiếp trước mắt,

mà còn là một công tác thường xuyên, lâu dài, quyết định việc đưa phongtrào hợp tác hóa tiến lên Nội dung vấn đề củng cố hợp tác xã sản xuất nôngnghiệp gồm cả ba mặt: chính trị, kinh tế và tổ chức, nhằm đảm bảo hoànthành thắng lợi vụ mùa, đồng thời chuẩn bị cơ sở cho việc phát triển trongđợt này Chỉ có đảm bảo sản xuất tốt vụ mùa thì mới củng cố được hợp tác

Trang 23

xã Vì thế, việc củng cố hợp tác xã phải gắn liền với công tác sản xuất vụmùa [49, tr.669].

Về bước đi của phong trào hợp tác hóa nông nghiệp, Chỉ thị khẳng định:

“Công tác củng cố hợp tác xã hiện nay không những là một yêu cầu cấp bách

để phát huy khả năng phấn đấu cuả quần chúng, giành thắng lợi vụ mùa, màđồng thời là một công tác có tác dụng quyết định trong việc thúc đẩy phongtrào hợp tác hóa nông nghiệp tiến lên sau này Đưa quần chúng lao động vàocác hợp tác xã, chuyển các hợp tác xã bậc thấp lên bậc cao, không ngừngcủng cố các hợp tác xã, chú trọng nâng cao ý thức giác ngộ xã hội chủ nghĩacủa xã viên, tăng cường công tác quản lý kinh tế trong các hợp tác xã cho phùhợp với yêu cầu phát triển của sản xuất [49, tr.841]

Để tiến hành công cuộc vận động hợp tác hóa nông nghiệp, giành thắnglợi quyết định cho chủ nghĩa xã hội ở nông thôn, Đảng phải tăng cường sựlãnh đạo cuộc vận động hợp tác hóa nông nghiệp về mọi mặt: tư tưởng, chínhtrị, tổ chức và kế hoạch, động viên toàn Đảng, toàn dân tích cực tham gia vàủng hộ phong trào hợp tác hóa nông nghiệp

Sau Hội nghị Trung ương lần thứ 16 (khóa II) và Chỉ thị số 154-CT/TW

của Ban Bí thư về Về việc tiếp tục củng cố hợp tác xã sản xuất nông nghiệp,

cuộc vận động hợp tác hóa nông nghiệp được triển khai đều khắp và trở thànhmột phong trào rộng lớn Đến mùa thu năm 1960, toàn miền Bắc đã căn bảnhoàn thành xây dựng hợp tác xã bậc thấp, thu hút trên 2,4 triệu nông dân,chiếm 85,8% số hộ, với 76% diện tích ruộng đất đi vào làm ăn tập thể Vàothời điểm này, đã có 3.643 hợp tác xã bậc cao và xuất hiện một số hợp tác xã

có quy mô toàn xã ở một số địa phương Tháng 8 năm 1960, Ban Bí thưTrung ương đã ra Chỉ thị 221 khẳng định “căn bản hoàn thành hợp tác xã trênmiền Bắc” và nhận định: phong trào diễn ra “nhanh, lành mạnh, nói chung làtốt” [63, tr.16]

Trang 24

Như vậy, xuất phát từ nhận thức muốn đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa

xã hội, biến nước Việt Nam từ một nước nông nghiệp lạc hậu thành một nước

xã hội chủ nghĩa giàu mạnh, có công nghiệp hiện đại, nông nghiệp hiện đại,văn hóa và khoa học tiên tiến, đưa nền kinh tế Việt Nam chủ yếu dựa trên sởhữu cá thể về tư liệu sản xuất tiến thẳng lên nền kinh tế dựa trên chế độ sởhữu xã hội chủ nghĩa về tư liệu sản xuất, dưới hai hình thức sở hữu toàn dân

và sở hữu tập thể Đảng ta đã chủ trương tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩađối với nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp tư bản chủ nghĩa vàthương nghiệp nhỏ Trong đó cải tạo nông nghiệp là khâu chính trong toàn bộsợi dây chuyền cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và con đường duy nhấtđúng đắn là thực hiện hợp tác hóa nông nghiệp Hợp tác hóa nông nghiệp đãtrở thành nhiệm vụ căn bản trong công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa, là bước

đi tất yếu mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển, đẩy mạnh cách mạng

kỹ thuật để xây dựng quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động về mặtkinh tế Cuộc vận động thành lập hợp tác xã nông nghiệp đã trở thành mộtphong trào mạnh mẽ, rộng lớn

1.2 Xây dựng tổ đổi công, vần công tiến lên hợp tác xã bậc thấp ở tỉnh Hà Đông

1.2.1 Chủ trương của Tỉnh ủy Hà Đông

Hà Đông là một tỉnh thuộc đồng bằng Bắc Bộ, với vị trí địa lý và điềukiện khí hậu thuận lợi cho việc phát triển nền nông nghiệp: khí hậu nhiệt đớigió mùa; ruộng đất phì nhiêu với 91% là đất phù sa sông Hồng, 9% cònlại là phù sa cổ; nguồn nước phong phú với hệ thống sông Hồng, sôngNhuệ, sông Đáy

Sau khi cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi, năm 1956, Hà Đôngtiến hành cải các ruộng đất Trong quá trình cải cách ruộng đất, thực hiệnNghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần 8, khóa II (tháng

Trang 25

8/1955) về đường lối phát triển nông thôn sau cải cách ruộng đất là lãnh đạonông dân dần dần tiến lên chủ nghĩa xã hội, từng bước đưa họ vào con đườnglàm ăn tập thể bằng cách hướng dẫn họ đi vào con đường hợp tác, tương trợthông qua việc củng cố và phát triển rộng rãi hình thức đổi công, hợp tác xã.Tỉnh ủy Hà Đông đã chỉ đạo các huyện ra sức xây dựng tổ đổi công, vầncông, tiến tới xây dựng các hợp tác xã

Ngày 15 tháng 7 năm 1957, Tỉnh ủy Hà Đông ra Chỉ thị số 06/CT nêu rõnhiệm vụ chung của toàn tỉnh trong năm 1957 là: phải củng cố phong trào tổđổi công để làm trung tâm đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp; chấn chỉnh vàkiện toàn bộ máy nông hội; củng cố tổ chức, giáo dục đảng viên, hội viên vànông dân thi đua thực hiện kế hoạch; tích cực bồi dưỡng cán bộ để họ có đủkhả năng lãnh đạo được phong trào tổ đổi công; động viên toàn thể nông dânthực hiện mọi chủ trương, chính sách của Đảng, hướng dẫn nông dân đi vàocon đường hợp tác, tương trợ do Đảng và Chính phủ đề ra [7, tr.4]

Cuối năm 1957, Trung ương Đảng đã chỉ thị giao nhiệm vụ cho Đảng bộ

Hà Đông trong năm 1958, ngoài việc hoàn thành kế hoạch sản xuất, phải đưa60% số hộ nông dân vào tổ đổi công, có 20% là tổ thường xuyên, tổ chức xâydựng 10 hợp tác xã thí điểm, làm nòng cốt cho phong trào hợp tác hóa sau này[1, tr.129]

Bước sang năm 1958, năm đầu của kế hoạch 3 năm phát triển kinh tế vàbước đầu cải tạo nền kinh tế quốc dân theo con đường xã hội chủ nghĩa.Trên tinh thần nhiệm vụ của Trung ương giao, đường lối và nhiệm vụ cơ bảncủa phong trào hợp tác hóa nông nghiệp năm 1958 của tỉnh là: dựa hẳn vàobần nông, đoàn kết chặt chẽ với trung nông, tiến hành rộng rãi tổ chức đổicông, phát triển các hợp tác xã sản xuất sơ cấp và tổ chức một số hợp tác xãcao cấp làm thí nghiệm Trên cơ sở tổ chức của nông dân đẩy mạnh công tácthủy lợi, làm phân bón, chọn giống, cải tiến nông cụ và kỹ thuật canh tác đểnâng cao năng suất

Trang 26

Thực hiện kế hoạch xây dựng tổ đổi công và hợp tác xã thí điểm, Tỉnh

ủy Hà Đông đã tiến hành kiểm điểm, đề ra kế hoạch phát động phong trào đổicông hợp tác Ngày 1 tháng 4 năm 1958, Ban Thường vụ Tỉnh ủy họp xemxét, đánh giá tình hình, sau đó phát động đợt vận động phong trào đổi cônghợp tác từ tháng 4 đến tháng 7 năm 1958 Ban Thường vụ Tỉnh ủy quyết định:lấy vận động đổi công làm khâu chính để đẩy mạnh sản xuất, đồng thời tiếptục củng cố hợp tác xã nông nghiệp Dân Hòa và phát triển thêm hai hợp tác

xã nông nghiệp ở Đại Thắng (Phú Xuyên), Lưu Hoàng (Ứng Hòa) [1, tr.136].Đến ngày 15 tháng 5 năm 1958, Tỉnh ủy lại ra Thông tri bổ khuyết về vậnđộng khôi phục, phát triển củng cố tổi công

Dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy, khắp các huyện, thị xã ở Hà Đông ra sứcđẩy mạnh xây dựng tổ đổi công trên cơ sở hoàn thành công việc thu hoạch vụchiêm và triển khai sản xuất vụ mùa Các địa phương trong Tỉnh tranh thủ lúcnông nhàn tổ chức nông dân học tập mục đích, ý nghĩa của tổ đổi công, mở cáclớp đào tạo, bồi dưỡng tổ trưởng, tổ phó Tính đến đầu tháng 6 năm 1958, Tỉnh

đã có 17% số hộ nông dân lao động tham gia tổ đổi công Ở huyện Thanh Trì,hai xã Đại Hưng và Thanh Hưng trước đây chưa có tổ đổi công, nay đã xâydựng được 56 tổ Tỉnh đã hoàn thành xây dựng hai hợp tác xã thí điểm ở ĐạiThắng (huyện Phú Xuyên), Lưu Hoàng (huyện Ứng Hòa) [1, tr.137]

Những thắng lợi bước đầu là cơ sở để đến ngày 1 tháng 6 năm 1958, BanThường vụ Tỉnh ủy họp Hội nghị và thông qua Nghị quyết “Về việc tiếp tục

mở rộng cuộc vận động đẩy mạnh phong trào đổi công hợp tác, thi đua thựchiện vượt mức kế hoạch về diện tích và năng suất mùa năm 1958” Hội nghịchủ trương: tiếp tục mở rộng cuộc vận động đẩy mạnh phong trào đổi cônghợp tác, thi đua thực hiện vượt mức kế hoạch về diện tích và năng suất vụmùa năm 1958 [6, tr.2] Yêu cầu của cuộc vận động này là: Tuyên truyền,giáo dục làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân thấy rõ tầm quan trọng củavấn đề sản xuất lương thực Giáo dục sâu rộng tinh thần yêu nước, tinh thần

Trang 27

lao động sản xuất xã hội chủ nghĩa, động viên toàn Đảng, toàn dân tích cựctham gia phong trào đổi công hợp tác; Củng cố và mở rộng phong trào đổicông khắp các thôn trong Tỉnh, đạt mức của Trung ương là cuối năm 1958 đạt60% số hộ vào tổ đổi công, trong đó 20% là tổ thường xuyên [6, tr.3]

Đầu tháng 8 năm 1958, Tỉnh ủy Hà Đông tổ chức sơ kết bước một cuộcvận động đổi công và phát động đợt hai Hội nghị Tỉnh ủy họp vào hai ngày

11 và 12 tháng 8 năm 1958, đã đánh giá về phong trào đổi công, nhận thấy:nhìn chung việc phát triển còn rất chậm, chưa rộng khắp Toàn Tỉnh mới chỉđạt 25% tổng số hộ vào tổ đổi công Thống kê 134 xã trong Tỉnh có 1.695xóm thì có 621 xóm chưa có tổ đổi công Nhiều thôn công giáo chưa có tổ đổicông Chất lượng tổ đổi công kém, đại bộ phận là tổ từng vụ, từng việc Số tổbình quân chấm điểm còn quá ít [1, tr.141] Nguyên nhân chủ yếu là do các

cơ sở chưa thấy được tầm quan trọng của các tổ đổi công trong việc đẩy mạnhsản xuất Một số đông cán bộ, đảng viên chưa vào tổ đổi công hoặc vàonhưng chưa thật sự hoạt động, chưa biết lấy ngay tổ đổi công của mình làmkinh nghiệm lãnh đạo chung phong trào của toàn xóm và xã

Tháo gỡ những khó khăn, đưa phong trào đi lên, Tỉnh ủy đã phát độngđợt 2 cuộc vận động đổi công trong vụ “gặt mùa làm chiêm” nhằm đạt mức60% số hộ nông dân lao động vào tổ đổi công như kế hoạch Trung ương giao.Hội nghị Tỉnh ủy đề ra một số biện pháp chỉ đạo các ngành, các cấp tổ chứcthực hiện Đợt hai cuộc vận động, các địa phương nhận thức sâu sắc hơn về vịtrí của tổ đổi công với việc thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển Ở cácchi bộ xã, cán bộ, đảng viên, đoàn viên, thanh niên gương mẫu tham gia laođộng, sinh hoạt trong trong tổ đổi công và tích cực làm công tác vận động.Phong trào đổi công hợp tác đang chuyển biến mạnh mẽ, nhiều tổ đưa lênbình công chấm điểm Cũng có nơi quần chúng muốn đưa lên hợp tác xã sảnxuất nông nghiệp

Trước sự phát triển của phong trào tổ đổi công và yêu cầu của quần chúng

Trang 28

nhân dân, Ngày 12 tháng 9 năm 1958, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Hà Đông họpbàn về xây dựng hợp tác xã nông nghiệp Căn cứ báo cáo và đề nghị của cácHuyện ủy và Ban Công tác nông thôn, đối chiếu với những tiêu chuẩn và điềukiện xây dựng hợp tác xã nông nghiệp Trung ương đề ra Ban Thường vụ Tỉnh

ủy quyết định cho các huyện (trừ thị xã Hà Đông) được xây dựng hợp tác xãsản xuất nông nghiệp Đó là: Nam Triều (huyện Phú Xuyên), Tô Hiệu và MinhCường (huyện Thường Tín), Ái Quốc và Đại Thanh (huyện Thanh Trì), ThọNam (huyện Hoài Đức), Song Phượng và Tân Tiến (huyện Đan Phượng), ĐồngLạc (huyện Chương Mỹ), Đại Hưng (huyện Thanh Oai), Đại Cường (huyệnỨng Hòa), Thượng Lâm (huyện Mỹ Đức) [1, tr.143] Sau Hội nghị, BanThường vụ Tỉnh ủy cử một ủy viên Thường vụ và một Tỉnh ủy viên về hai xãThọ Nam (huyện Hoài Đức) và Dân Hòa (huyện Thanh Oai) cùng địa phươngxây dựng, củng cố hợp tác xã, nghiên cứu tình hình, giúp Tỉnh ủy tổng kếtphong trào Như vậy, từ cuối tháng 9 năm 1958, ngoài việc đẩy mạnh xây dựng

tổ đổi công, Tỉnh ủy Hà Đông đã rất chú trọng xây dựng hợp tác xã thí điểm ởtất cả các huyện để rút kinh nghiệm lãnh đạo, chỉ đạo chuẩn bị mở rộng phongtrào hợp tác hóa nông nghiệp

Ngày 17 tháng 11 năm 1958, Ban Chấp hành Tỉnh Hà Đông ra Nghịquyết số 490-NQ/TU của Hội nghị Thường vụ Tỉnh ủy ngày 14, 15 tháng 11năm 1958 về việc tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động đổi công hợp tác, sản xuất

vụ Đông Xuân 1958 – 1959 Nghị quyết chỉ rõ: “Để đảm bảo phát triển sảnxuất, đẩy mạnh phong trào tăng năng suất, phải đặc biệt khắc phục mọi khókhăn, tích cực mở rộng phong trào đổi công hợp tác Cụ thể, trong Đông -Xuân này căn bản hoàn thành việc đưa nông dân vào tổ đổi công, thực hiệnrộng rãi việc bình quân chấm điểm, khoán việc làm cơ sở cho hợp tác xã nôngnghiệp được phát triển bền vững và mở rộng khắp trong Tỉnh Ở những thônxóm nào có phong trào đổi công mạnh, cần chú ý phát triển hợp tác xã sảnxuất nông nghiệp, không hạn chế, tiến tới ít nhất mỗi xã có 1, nơi nào có đủ

Trang 29

điều kiện thì có thể phát triển trên 2 hoặc 3 cái…Song cần nắm vững phươngchâm “tích cực lãnh đạo, tiến bước vững chắc” và nắm vững đường lối giaicấp “dựa hẳn vào bần cố nông và trung nông lớp dưới, đoàn kết chặt chẽ vớitrung nông” Cần phải đi theo đường lối quần chúng, lãnh đạo phải tích cựctuyên truyền, giáo dục nhân dân về hai con đường, lợi ích của tổ đổi công,hợp tác xã sản xuất nông nghiệp Hiện nay huyện nào cũng đã có hợp tác xãsản xuất nông nghiệp, các đồng chí cấp ủy viên và cán bộ đi dự lớp của Trungương mở, nên Tỉnh giao trách nhiệm cho các huyện ủy mở hội nghị tại chỗ đểrút kinh nghiệm việc về xây dựng, lấy thực tế giáo dục chính sách cho cán bộhuyện và xã để tuyên truyền và xây dựng ở những nơi có điều kiện” [5, tr.3].Tháng 11 năm 1958, Ban Chấp hành Trung ương họp hội nghị lần thứ 14

đề ra kế hoạch cải tạo và bước đầu phát triển kinh tế xã hội ở miền Bắc Nộidung chủ yếu của kế hoạch là: Đẩy mạnh cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa đốivới thành phần kinh tế cá thể của nông dân, thợ thủ công và cuộc cải tạo xãhội chủ nghĩa đối với thành phần kinh tế tư bản chủ nghĩa Hội nghị cũng chỉ

rõ, trong hai năm tới chúng ta phải hoàn thành cải tạo xã hội chủ nghĩa đốivới nông nghiệp và các thành phần kinh tế khác

Thực hiện Nghị quyết của Hội nghị Trung ương lần thứ 14, từ ngày 1 đếnngày 7 tháng 1 năm 1959, Đảng bộ tỉnh Hà Đông tổ chức Hội nghị đại biểu toànĐảng bộ Hội nghị chỉ rõ: Nhiệm vụ cải tạo xã hội chủ nghĩa mà khâu chính làhợp tác hóa nông thôn là nhiệm vụ trung tâm của toàn Đảng bộ trong hai nămtới, các cấp, các ngành phải tập trung khả năng làm cho tốt [1, tr.151]

Thực hiện nhiệm vụ cải tạo xã hội chủ nghĩa trên các lĩnh vực, mà khâuchính là hợp tác hóa nông thôn, Tỉnh ủy rất chú ý giải quyết các vấn đề giữaxây dựng, củng cố tổ đổi công với mở rộng hợp tác xã và đẩy mạnh sản xuất.Quá trình chỉ đạo xây dựng các hợp tác xã, Tỉnh ủy vẫn chú trọng chỉ đạo cácđịa phương hoàn thành việc đưa nông dân vào tổ đổi công, đưa tổ từng vụ,từng việc lên thường xuyên có bình công chấm điểm, bảo đảm mức 30% số

Trang 30

hộ nông dân vào tổ, chỉ đạo các địa phương tránh việc xây dựng các hợp tác

xã trong vụ mùa để cho nông dân tiến hành sản xuất

Tỉnh ủy đã uốn nắn những nhược điểm trong quá trình lãnh đạo ở cơ sởnhư: công tác tuyên truyền thiếu liên tục, khi tuyên truyền thì lệch về một phía,chỉ nói đến thuận lợi, ít nói đến khó khăn Ý thức tự lực cánh sinh, cần kiệm xâydựng hợp tác xã chưa cao Việc nâng cao chất lượng tổ đổi công lên bình quânchấm điểm, khoán việc chưa cao Tỉnh ủy thiếu kế hoạch, biện pháp cụ thể để

mở rộng phong trào Ngoài việc nhắc nhở các địa phương, Tỉnh ủy cũng chỉ đạocác địa phương phải nắm vững và tạo đủ 3 điều kiện để xây dựng hợp tác xã: tổđổi công mạnh, có cốt cán lãnh đạo, quần chúng thực sự yêu cầu Xây dựng hợptác xã phải gắn với củng cố, làm tốt công tác quản lý Tỉnh ủy nêu ra 4 điều tốt:Chăm công việc của hợp tác xã như của mình; Lo công việc của hợp tác xã nhưcủa nhà; Yêu công việc của hợp tác xã như của nhà; Quý hợp tác xã như củamình và 2 điều tránh là: tránh làm chơi lấy điểm, không nghĩ đến hợp tác xã;tránh gây khó khăn cho Ban quản trị [9, tr.8]

Công tác đào tạo cán bộ được quan tâm Các địa phương đã đào tạo được17.726 cán bộ mới, bồi dưỡng cho 10.597 cán bộ quản trị và kiểm soát Nhiềunơi đã kết hợp chặt chẽ giữa phong trào hợp tác hóa nông nghiệp với cuộc vậnđộng sản xuất và cải tiến kỹ thuật làm nội dung thiết thực củng cố hợp tác xã Ngày 25 tháng 9 năm 1959, Ban Bí thư ra Chỉ thị 154 – CT/TW Về việctiếp tục củng cố hợp tác xã sản xuất nông nghiệp, sau khi nhận được Chỉ thịcủa Trung ương, Tỉnh ủy Hà Đông đã họp hội nghị mở rộng, nhận định tìnhhình phong trào trong toàn tình, nêu phương hướng chung là: “Củng cố thậtvững chắc các hợp tác xã đã xây dựng, đi đôi với phát triển xã viên vào hợptác xã cũ, xây dựng hợp tác xã mới ở khắp các thôn trong tỉnh, đảm bảo mứcchung đến hết tháng 12 năm 1959 đạt 40% số hộ nông dân lao động vào hợptác xã Hết năm phải đưa 90% số hộ nông dân lao động vào tổ đổi công, trong

đó 30% số tổ thường xuyên có bình công chấm điểm khoán việc” [18, tr.1]

Trang 31

Để củng cố, mở rộng, nâng cao chất lượng của các hợp tác xã sản xuấtnông nghiệp, tạo điều kiện cho năm 1960 nhanh chóng trở thành cao trào hợptác hóa, Ban Công tác Nông thôn đã phân loại các hợp tác xã để bồi dưỡng vàphát triển Hợp tác được phân làm 3 loại: khá, trung bình và kém

Bước sang năm 1960, năm cuối cùng của kế hoạch 3 năm cải tạo, pháttriển kinh tế, Trung ương đã nên lên phương hướng chung cuối năm 1959 và

cả năm 1960 là: “Tiếp tục phát triển và củng cố tổ đổi công, nhất là đưa tổđổi công từng vụ, từng việc lên thường xuyên có bình công chấm điểm, làm

cơ sở cho việc phát triển hợp tác xã; đồng thời phát triển và mở rộng phongtrào hợp tác hóa một cách vững chắc, có kế hoạch về mọi mặt, có lãnh đạochặt chẽ Đi đôi với phát triển phải rất coi trọng việc củng cố những hợp tác

xã đã có về các mặt: tổ chức, chính sách, nghiệp vụ, làm cơ sở kinh tế, chínhtrị trong các hợp tác xã ngày càng vững chắc và dần dần nâng cao phongtrào hợp tác hóa lên từng bước có kế hoạch Song song với việc phát triển vàcủng cố tổ đổi công, hợp tác xã, phải đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, lấylương thực làm chính, đồng thời chú trọng trồng trọt, phát triển kinh doanhnhiều nghề…[19, tr.2]

Dựa vào phương hướng chung của Trung ương, từ ngày 20 đến ngày 24tháng 1 năm 1960 Hội nghị Tỉnh ủy Hà Đông đã họp, đề ra phương hướng,nhiệm vụ của phong trào hợp tác hóa nông nghiệp trong toàn tỉnh năm 1960là: “ra sức mở rộng và củng cố phong trào cải tạo xã hội chủ nghĩa ở nôngthôn Mục tiêu phấn đấu chủ yếu của chúng ta là căn bản hoàn thành cải tạonông nghiệp nửa xã hội chủ nghĩa ở tỉnh ta trong năm 1960, tức là đưa trên60% số nông hộ trong tỉnh vào hợp tác xã bậc thấp Cần đặc biệt chú ý đẩyphong trào ở thôn xã tỷ lệ nông hộ vào hợp tác xã còn thấp để theo kịp vớiphong trào, đảm bảo cho phong trào tiến được đều Việc đưa lên hợp tác xãbậc cao, hoàn toàn xã hội chủ nghĩa chỉ tiến hành mở rộng thí điểm” [3, tr.5]

Về quy mô hợp tác xã: trong năm 1960, để phù hợp với trình độ lãnh đạo

Trang 32

và quản lý, tổ chức hợp tác xã trung bình từ 70 – 80 hộ Các hợp tác xã vững,kinh doanh được 1, 2 vụ thì mới tổ chức trên dưới 100 hộ; số hợp tác xã trên

100 hộ chỉ nên làm với tinh thần mở rộng thí điểm [3, tr.5]

Về chất lượng: phải thường xuyên gắn liền với việc phấn đấu nâng caochất lượng về mọi mặt của phong trào hợp tác xã nông nghiệp lên một bước,đưa phong trào đi vào bề sâu Về chính trị, tư tưởng, làm cho xã viên có ýthức tự giác và tăng năng suất lao động, coi lao động là vinh quang, tôn trọng

kỷ luật; tiếp tục phân rõ ranh giới giữa lao động và bóc lột, giữa nông dân vàđịa chủ, giữa ta và địch, giữa hai con đường xã hội chủ nghĩa và tư bản chủnghĩa Nâng cao ý thức tập thể, yêu quý hợp tác xã của xã viên Chống tưtưởng bảo thủ và khuyến khích tinh thần “dám nghĩ, dám làm”, gương mẫuchấp hành chủ trương, chính sách của Đảng, Chính phủ [3, tr.6]

Về quản lý: phấn đấu đưa hết các hợp tác xã lên trình độ khoán nhiềuviệc, khoán sản lượng Kiên quyết làm cho các hợp tác xã dẫn đầu phong tràosản xuất, đảm bảo hoàn thành tốt mọi kế hoạch của Nhà nước Đẩy mạnhđược phong trào cải tiến kỹ thuật trong trồng trọt, chăn nuôi, thả cá Đặc biệtphát động phong trào cải tiến nông cụ thật sâu rộng, đảm bảo gắn liền được 3cuộc vận động: hợp tác hóa, cải tiến kỹ thuật và sản xuất một cách thườngxuyên để phát huy được tính hơn hẳn của kinh tế tập thể [3, tr.6]

Nhiệm vụ hợp tác hóa nông nghiệp cả năm 1960 có tiến hành được thuậnlợi hay không là do việc củng cố các hợp tác xã hiện có và thực hiện nhiệm vụsản xuất Đông Xuân 1959 – 1960 có được tốt hay không Do đó, Nghị quyết

đã chỉ rõ nhiệm vụ trước mắt là: “Tập trung lực lượng, củng cố tốt hợp tác xã

về các mặt tư tưởng, chính sách, tổ chức, nghiệp vụ gắn liền với sản xuấtĐông - Xuân thắng lợi toàn diện vượt bậc và vững chắc, chuẩn bị điều kiện để

mở rộng và đẩy mạnh phong trào hợp tác hóa nông nghiệp vào giữa năm và

cả năm 1960 [3, tr.6] Tỉnh ủy nhấn mạnh về tầm quan trọng đặc biệt và cấpbách của công tác củng cố hợp tác xã, củng cố và phát triển tổ đổi công, đẩy

Trang 33

mạnh sản xuất Đông - Xuân hiện nay: “vô luận khó khăn đến thế nào vẫn phảiđảm bảo làm thật tốt Không chấp nhận một lý do nào làm buông lỏng, coinhẹ công tác này” [3, tr7].

Thực hiện chủ trương của Đảng về cải tạo nông nghiệp, thương nghiệp,thủ công nghiệp và tư bản tư doanh, Đảng bộ tỉnh Hà Đông luôn coi hợp táchóa nông nghiệp là con đường đúng đắn để xây dựng chế độ sở hữu tập thể,xóa bỏ chế độ tư hữu Trong quá trình lãnh đạo, Đảng bộ đã đề ra nhiều Nghịquyết, Chỉ thị chỉ đạo công tác phát triển tổ đổi công và phát triển các hợp tác

xã Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ Hà Đông, phong trào hợp tác hóa nôngnghiệp của tỉnh đã đạt được nhiều kết quả

1.2.2 Chỉ đạo xây dựng tổ đổi công, hợp tác xã nông nghiệp

Đưa nông dân vào con đường làm ăn tập thể xã hội chủ nghĩa là một chủtrương lớn của Đảng trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc.Tuy nhiên, khi đưa nông dân vào hợp tác xã nông nghiệp thì một vấn đề đặt ra

là quá trình vận động, xây dựng, quản lý và sự vận hành của các hợp tác xãnhư thế nào để thực sự đem lại lợi ích cho người nông dân, làm cho ngườinông dân thiết tha, gắn bó, cống hiến công sức mình vào hợp tác xã Đây làvấn đề lớn quyết định sự thành bại của phong trào xây dựng các hợp tác xãnông nghiệp Trong khi nông dân chưa quen với lề lối làm ăn tập thể, sự chỉđạo thực hiện của các cấp còn nhiều lúng túng, cán bộ thiếu kinh nghiệm, bỡngỡ trong quản lý thì vấn đề nâng cao năng suất lao động khẳng định tính ưuviệt của lối làm ăn tập thể là rất khó khăn

Mặc dù còn nhiều khó khăn, nhưng với sự nỗ lực của toàn Đảng bộ, cán

bộ và nhân dân, phong trào đổi công tiến tới xây dựng hợp tác xã nông nghiệp

Hà Đông bước đầu đã thu được những thành tích đáng kể

Thực hiện chủ trương của Đảng, tổ đổi công của tỉnh Hà Đông đã đượcxây dựng từ trong cuộc kháng chiến chống Pháp Tính đến cuối năm 1953,tỉnh đã xây dựng được 143 tổ, một số tổ đã đi vào hoạt động có nề nếp, đề cao

Trang 34

tinh thần tương trợ nhau về giống, vốn, trâu bò, nhân công Tuy nhiên thờigian này, các cấp chính quyền chưa nhận thức được tầm quan trọng của các tổđổi công, các tổ chủ yếu phát triển ở Phú Xuyên và lẻ tẻ ở Ứng Hòa và nam

Mỹ Đức còn các huyện khác hầu như chưa có [95, tr.4]

Trong quá trình cải cách ruộng đất, phong trào đổi công trong tỉnh đượcphát triển rộng rãi Tính đến cuối năm 1956, toàn tỉnh có 1084 tổ, gồm 6.882

hộ, chiếm tỷ lệ 5%, trong đó có 131 tổ là tổ đổi công thường xuyên, với 842gia đình, chiếm 12% số hộ đã vào tổ đổi công [16, tr.1] Phong trào đổi cônggiai đoạn này có tác dụng lớn trong việc thực hiện kế hoạch sản xuất nôngnghiệp, giải quyết được nhiều khó khăn trong sản xuất như: chống hạn, chốngúng, trừ sâu, tương trợ giống vốn, thực hiện các cải tiến kỹ thuật…thu hoạchhoa lợi của nhiều tổ trong vụ chiêm Các tổ đổi công xã Đan Phương (huyệnĐan Phượng) đã đi xa 20km để lấy lá cây về làm được 100 tấn phân xanh; 25

tổ đổi công xã Hữu Hưng (huyện Hoài Đức) làm được 50 tấn phân xanh; tổđổi công của anh Yến (xã Đan Phương) thu hoạch vụ chiêm tổng số trungbình 1 sào 60kg, trong khi ở ngoài tổ đổi công 1 sào chỉ thu được 40kg; chịToàn trong tổ đổi công thu 2 sào được 120kg, còn ông Bích, ông Hiền ở ngoài

tổ 1 sào chỉ thu được 40kg; tổ đổi công ông Cưu (Lưu Nguyên - Ứng Hòa),thu trong tổ 1 sào 40kg cùng cánh đồng so với ông Tho ngoài tổ chỉ thu được30kg [16, tr.18] Việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật trong các tổ đổi côngcũng được thực hiện mạnh mẽ hơn so với ở ngoài tổ Nhìn chung, thu hoạchtrong các tổ đổi công bước đầu đã tăng hơn so với bên ngoài tổ, đã giải quyếtđược những khó khăn trong sản xuất, gây được 1 phần tin tưởng trong quầnchúng nhân dân với tổ đổi công Là cơ sở thực tiễn để vận động nông dân vào

tổ đổi công, tiến tới xây dựng hợp tác xã nông nghiệp

Bước sang năm 1958, thực hiện chủ trương về xây dựng hợp tác xã nôngnghiệp thí điểm được đề ra tại Hội nghị Ban Thường vụ Tỉnh ủy ngày 12tháng 9 năm 1958, quá trình vận động thí điểm xây dựng hợp tác xã nông

Trang 35

nghiệp được tiến hành một cách tuần tự Công tác tuyên truyền giáo dục phátđộng tư tưởng quần chúng gia nhập hợp tác xã được quan tâm Yêu cầu củacông tác này là đi sâu tuyên truyền giáo dục làm cho cán bộ, đảng viên, đoànviên thanh niên lao động, nông dân thấy rõ muốn phát triển được sản xuất, cảithiện đời sống, đấu tranh để hạn chế đi đến tiêu diệt chế độ bóc lột kiểu tưbản, từng bước tiến lên chủ nghĩa xã hội thì cần phải tổ chức hợp tác xã nôngnghiệp, làm cho họ nắm vững được đường lối, chính sách, nguyên tắc xâydựng; thấy được nhiệm vụ nặng nề nhưng vẻ vang; thấy được tương lai tươisáng; đồng thời cũng thấy được những khó khăn, từ đó xác định trách nhiệmcủa mình trong lãnh đạo, tổ chức và củng cố hợp tác xã nông nghiệp.

Đối với quần chúng ở những tổ đổi công là đối tượng xây dựng hợp tác

xã thì yêu cầu là làm cho họ thấy được ý nghĩa, mục đích của xây dựng hợptác xã, nắm được nguyên tắc và những chính sách cụ thể về hợp tác xã Trên

cơ sở đó làm cho quần chúng tự nguyện gia nhập

Đối với quần chúng trong xóm và quần chúng ở xóm khác chưa xâydựng hợp tác xã thì yêu cầu làm cho họ nhận thức rõ mục đích, nội dung chủyếu của hợp tác xã, thấy được nhiệm vụ của họ là phải đoàn kết giúp đỡ hợptác xã, đồng thời cố gắng xây dựng tổ đổi công cho tốt để tiến lên hợp tác xã.Dựa vào nhiệm vụ, yêu cầu trên, công tác tuyên truyền, vận động tiếnhành xây dựng hợp tác xã nông nghiệp trong tỉnh đã tiến hành những bướcthận trọng, đạt được kết quả tốt, đã tuyên truyền, giáo dục cho đảng viên, cán

bộ và quần chúng nhận thấy rõ mục đích, ý nghĩa và những chính sách cụ thểkhi xây dựng hợp tác xã Một số xã đã chú ý lấy lực lượng thanh niên làmnòng cốt trong phong trào, lấy kết quả thực tế của phong trào đổi công làmđiển hình liên hệ, so sánh để cho quần chúng nhận rõ lợi ích của lối làm ăntập thể so với lối làm ăn cá thể Đến cuối năm 1958, tỉnh đã vận động được125.700 hộ vào tổ công, bằng 70% so với tổng số hộ nông dân Số tổ đổi côngthường xuyên đạt 20%; xây dựng được 17 hợp tác xã, với 446 xã viên, bằng0,25% so với tổng số hộ trong tỉnh [1, tr.144]

Trang 36

Năm 1959 – năm thứ hai của kế hoạch 3 năm cải tạo kinh tế, xã hội, trên

cơ sở Nghị quyết 14 và 16 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, phong tràohợp tác hóa trong tỉnh đã có những bước phát triển mạnh mẽ Các địa phương

đã đào tạo được 17.726 cán bộ mới, bồi dưỡng cho 10.597 cán bộ quản trị vàkiểm soát Nhiều nơi đã kết hợp chặt chẽ giữa phong trào hợp tác hóa nôngnghiệp với cuộc vận động sản xuất và cải tiến kỹ thuật làm nội dung thiết thựccủng cố hợp tác xã Đến cuối năm 1959, đầu năm 1960 toàn tỉnh có 1.687 hợptác xã sản xuất nông nghiệp với 92.344 hộ nông dân lao động, bằng 53,7%tổng số nông hộ trong tỉnh [1, tr.169 – 170]

Năm 1960, là năm hoàn thành kế hoạch 3 năm, cũng là năm phải tạođược điều kiện thuận lợi chuẩn bị bước vào kế hoạch 5 năm lần thứ nhất Đưaphong trào hợp tác hóa nông nghiệp trong tỉnh lên cao, hoàn thành kế hoạchNhà nước, Tỉnh ủy đã phát động đợt học tập sửa chữa những thiếu sót trongviệc chấp hành các chính sách hợp tác hóa nông nghiệp Toàn tỉnh có 192 hợptác xã sửa lại về khuyết điểm quản lý ruộng đất, 378 hợp tác xã sửa về cổphần công hữu hóa, 435 hợp tác xã bầu lại Ban quản trị, 179 hợp tác xã bầu

bổ sung ủy viên Ban quản trị Cùng với củng cố, các hợp tác xã còn kết nạpđược 6867 xã viên và xây dựng thêm 53 hợp tác xã mới, đưa tỷ lệ số hộ vàolàm ăn tập thể là 59,16% Việc củng cố tổ đổi công cũng được đẩy mạnh.Thống kê chưa đầy đủ, đến tháng 6 năm 1960, toàn tỉnh còn 940 tổ, gồm13.098 hộ Thông qua đợt củng cố, tỷ lệ đảng viên tham gia xây dựng hợp tác

xã ngày càng gia tăng Huyện Ứng Hòa đạt tới 85% Trong 7 huyện thị (trừThường Tín và Thanh Oai) có 1345 hợp tác xã chỉ có 121 hợp tác xã chưa cóđảng viên, bằng 8,95% [1, tr.171] Công tác củng cố phong trào hợp tác hóatrong tỉnh giúp cho các cấp, các ngành nhận rõ những thiếu sót trong việcchấp hành đường lối chính sách của Đảng về nhiệm vụ cải tạo quan hệ sảnxuất trong nông nghiệp

Nhiệm vụ hợp tác hóa nông nghiệp ở Hà Đông trong những tháng còn lại

Trang 37

khá nặng nề Không những Đảng bộ phải phát triển thêm 21% theo chỉ tiêu

mà còn phải hoàn thành xây dựng hợp tác xã nông nghiệp ở hầu khắp cácthôn xóm

Thực hiện đợt phát triển mùa thu, đợt cuối của cuộc vận động do Trungương chỉ đạo, Tỉnh ủy Hà Đông đã tập trung lãnh đạo, đẩy mạnh công tác vậnđộng nên phong trào hợp tác hóa có bước phát triển lớn so với cả một tiếntrình xây dựng, từ 59,16% tăng lên 88,5% Toàn tỉnh có 1789 hợp tác xã, gồm158.382 hộ với 713.930 nhân khẩu Có 305 hợp tác xã của đồng bào cônggiáo, trong đó 60 hợp tác xã vùng công giáo toàn tòng Bình quân số hộ cônggiáo vào hợp tác xã chiếm tỷ lệ 74,20% Ruộng đất góp vào hợp tác xã là195.642 mẫu, chiếm 76% diện tích toàn tỉnh Trong khi xây dựng hợp tác xãnông nghiệp bậc thấp, Tỉnh ủy chỉ đạo làm thí điểm hợp tác xã bậc cao vớiquy mô lớn hơn Đến tháng 12 năm 1960, tỉnh có 55 hợp tác xã bậc cao với6.388 hộ, bằng 4.03% so với tổng số hộ nông dân trong tỉnh Cả tỉnh có 2 hợptác xã xây dựng trên quy mô toàn xã là Hòa Xá (292 hộ) và Phù Tế (712 hộ).Tuy nhiên, toàn tỉnh vẫn có 4 xã đạt tỷ lệ dưới 50% Huyện Ứng Hòa, haithôn Phượng Viền và Cung Thế chưa xây dựng được hợp tác xã Thôn QuanChâm (Minh Đức) lại xây dựng trên danh nghĩa, thực chất ruộng đất, trâu bòvận thuộc các hộ nông dân quản lý và sử dụng [1, tr.172] Với những kết quảđạt được, đến cuối năm 1960, Đảng bộ Hà Đông đã hoàn thành thắng lợinhiệm vụ hợp tác hóa nông nghiệp

Phương thức làm ăn tập thể bước đầu đã giải quyết được những khó khăntrong sản xuất nông nghiệp Năm 1958, vụ chiêm đầu năm tỉnh đã khắc phụcnhiều khó khăn, nhất là hạn nghiêm trọng, đã chống hạn thắng lợi Tuy nhiên,

cả lúa và hoa màu đều chưa đạt mức kế hoạch Nhà nước, lúa chỉ đạt 68% kếhoạch Nhiều vùng lúa xấu, thu hoạch giảm sút nên tư tưởng nhân dân, cán bộsinh ra bi quan, kém tin tưởng vào tổ đổi công, hợp tác xã Để khắc phục nhữngkhó khăn đó, với chủ trương: tiếp tục mở rộng cuộc vận động đẩy mạnh phong

Trang 38

trào đổi công hợp tác, thi đua thực hiện vượt mức kế hoạch về diện tích vànăng suất vụ mùa 1958 Bước vào vụ mùa, phong trào đổi công hợp tác pháttriển nhanh và khá mạnh, đã thúc đẩy sản xuất phát triển, làm cơ sở để cải tiến

kỹ thuật, giáo dục quần chúng nhân dân đấu tranh với những tư tưởng bảo thủ,tương trợ khắc phục được nhiều khó khăn trong sản xuất Vì vậy, sản xuất nôngnghiệp vụ mùa tuy gặp khó khăn về hạn hán, sâu, thiếu trâu bò, giống, vốn,nhưng trong tổ đổi công đã giải quyết được nhiều và thúc đẩy phong trào thiđua đạt năng suất cao, như 11 tổ đổi công thôn Lưu Đông, xã Ái Quốc (PhúXuyên) đã cuốc 115 mẫu ruộng; trong phong trào chống hạn xã Nam Tiến từ

11 tổ phát triển lên 64 tổ, đã chống hạn được 324 mẫu ruộng bị hạn hán Việccày bừa, cấy, bón phân trong tổ đều làm tốt hơn bên ngoài, như 289 tổ ở ThanhTrì, cấy dày hơn trước 1.725 mẫu, bón bình quân từ 8, 9 gánh phân 1 sào;nhiều tổ đổi công ở các huyện bón từ 8 đến 10, 13, 20 gánh phân 1 sào Phongtrào thi đua phá kỷ lục thực hiện năng suất cao cũng có nhiều tổ thực hiện.Huyện Đan Phượng 120 tổ đổi công thi đua phá kỷ lục 160kg/sào, trong đó tổông Huấn thi đua đạt 180kg/sào Phong trào thi đua thực hiện rộng thí nghiệmcũng sôi nổi trong các tổ đổi công Huyện Ứng Hòa, 248 tổ đổi công thì có1.064 hộ làm ruộng thí nghiệm, huyện Đan Phượng 257 tổ, Thanh Trì 120 tổcũng thi đua làm ruộng thí nghiệm [95, tr.7]

Phong trào thi đua phá kỷ lục đạt năng suất cao và phong trào làm thửaruộng thí nghiệm đã có nhiều ảnh hưởng tốt trong cán bộ và quần chúng, cótác dụng thúc đẩy phong trào thi đua sản xuất để thực hiện vượt mức kếhoạch Các tổ đổi công không những chỉ có tác dụng giải quyết khó khăn nhưchống hạn, trừ sâu, chuẩn bị phân bón, thực hiện cải tiến kỹ thuật, nhiều tổđổi công còn làm nhiệm vụ giúp đỡ nhau về giống, vốn, lương ăn để sản xuất

Tổ đổi công còn có tác dụng trong việc ký hợp đồng thu mua với mậu dịch vàhợp tác xã mua bán Giáo dục chính trị, văn hóa cho tổ viên, từ đó mà nângcao trình độ giác ngộ cho quần chúng

Trang 39

Cùng với hoạt động của tổ đổi công, các hợp tác xã nông nghiệp xâydựng thí điểm bước đầu cũng tỏ rõ tính hơn hẳn của lối làm ăn tập thể so vớilối làm ăn cá thể Vụ mùa năm 1958, Hợp tác xã Dân Hòa thu hoạch bìnhquân được 1090kg/sào.

Những thành tích của tổ đổi công, hợp tác xã nông nghiệp trong vụ mùa

1958 góp phần đưa năng suất lúa của tỉnh lên cao Năng suất lúa bình quântrong tỉnh đạt 23,17 tạ/ha Tuy vụ chiêm hụt 21.500 tấn nhưng tổng sản lượngthóc cả năm vẫn vượt mức kế hoạch là 40.533 tấn, bằng 19,7% Bình quânlương thực đầu người đạt 315kg, vượt 69kg so với năm 1957 [1, tr.145] Sảnxuất nông nghiệp năm 1958 giành thắng lợi to lớn đã tạo điều kiện thuận lợicho việc đẩy mạnh phong trào hợp tác hóa nông nghiệp trong những năm tiếptheo của Tỉnh

Bước sang năm 1959, là năm bản lề của kế hoạch 3 năm cải tạo quan hệsản xuất, việc đẩy mạnh sản xuất, cải tiến kỹ thuật trong các tổ đổi công, hợptác xã càng có ý nghĩa quan trọng góp phần làm nên thắng lợi của công cuộccải tạo kinh tế ở nông thôn Các hợp tác xã nông nghiệp đã thống nhất sửdụng những tư liệu sản xuất chủ yếu của xã viên để củng cố hoa lợi và thốngnhất phân phối hoa lợi cho xã viên Ruộng đất của các hợp tác xã có 122.031mẫu 6 sào, chiếm 46,8% so với tổng diện tích toàn tỉnh, trong đó để lại cho xãviên 2,7% Có 7.394 trâu công hữu; 9.883 trâu thuê, tổng cộng chiếm 56% sốtrâu trong tỉnh Có 4.603 con bò công hữu; 6.800 con bò thuê, chiếm 35%tổng số bò trong tỉnh [3, tr.1] Ngoài ra còn cày, bừa và một số nông cụ khác.Với những tư liệu sản xuất đó, nhiều hợp tác xã trong tỉnh đã dẫn đầu phongtrào sản xuất và cải tiến kỹ thuật, năng suất ruộng đất tăng, ngày càng gắn liềnvới 3 mặt: cải tạo quan hệ sản xuất, cải tiến kỹ thuật và phát triển sản xuất.Bên cạnh những hợp tác xã chuyên làm nông nghiệp, cũng có trên 600 hợptác xã nông nghiệp kinh doanh thêm nghề khác, giải quyết được một phần laođộng dư thừa và tăng thu nhập cho xã viên

Trang 40

Năm 1960, năm cuối cùng của kế hoạch 3 năm cải tạo quan hệ sản xuất.Tuy nhiên do tình trạng hạn hán kéo dài nên các chỉ tiêu kinh tế ở các tổ đổicông, hợp tác xã nông nghiệp đều không đạt được kế hoạch:

Bảng 1: Sản lượng các cây lương thực năm 1960 so với năm 1959 và so với kế hoạch

1959 giảm 85kg Về diện tích cấy vụ lúa chiêm giảm 7.000ha [79, tr.2]

Nhìn chung, trong ba năm thực hiện kế hoạch cải tạo xã hội chủ nghĩa đốivới nông nghiệp (1958 – 1960), ta thấy năm 1960 sản lượng lương thực đềukhông đạt với mức Nhà nước đề ra, giảm so với năm 1959 Tuy nhiên, so vớinăm 1957, năm trước khi bước vào kế hoạch 3 năm, sản xuất nông nghiệp trongtỉnh đã có những bước chuyển biến quan trọng trên con đường tiến lên chủ nghĩa

xã hội So với năm 1957, diện tích trồng trọt năm 1960 tăng hơn năm 1957 tới15.000ha; năng suất lúa năm 1957 từ 18,38 kg lên 22,83 tạ năm 1959; năng suấtngô từ 13,88 tạ lên 18,16 tạ năm 1959; Sản lượng lương thực cũng tăng nhiều,riêng lúa năm 1960 tăng hơn 31.000 tấn, năm 1959 tăng 80.000 tấn [79, tr3]

Về phong trào cải tiến kỹ thuật liên hoàn tăng năng suất: Trong năm

1960 cũng như trong kế hoạch 3 năm cải tạo nông nghiệp (1958 – 1960),phong trào cải tiến kỹ thuật trong tỉnh có nhiều tiến bộ ở từng vùng, đối vớitừng loại cây, với mức độ cao - thấp, nhanh - chậm khác nhau:

Ngày đăng: 25/02/2017, 17:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
30. Cô – Kha – Nhép (1955), Học tập cuốn “Bàn về chế độ hợp tác” của Lê - nin, Lê Quang Ngọc dịch, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về chế độ hợp tác
Tác giả: Cô – Kha – Nhép
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1955
41. Đảng Cộng sản Việt Nam (1963), Nghị quyết của Bộ Chính trị về việc vận động “cải tiến quản lý hợp tác xã, cải tiến kỹ thuật nhằm phát triển sản xuất nông nghiệp toàn diện, mạnh mẽ và vững chắc”, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 24, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002, tr96- 114 Sách, tạp chí
Tiêu đề: cải tiến quản lý hợp tác xã, cải tiến kỹ thuật nhằm phát triểnsản xuất nông nghiệp toàn diện, mạnh mẽ và vững chắc
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1963
69. Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 16 khóa (II), “Về hợp tác hóa nông nghiệp” (1959), Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam xuất bản, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về hợp tác hóanông nghiệp
Tác giả: Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 16 khóa (II), “Về hợp tác hóa nông nghiệp”
Năm: 1959
98. Ủy Ban nông nghiệp tỉnh Hà Đông (1962), “Nghị quyết về mở rộng xây dựng tiêu chuẩn kỹ thuật sản xuất nông nghiệp, thành lập các tổ khoa học kỹ thuật trong các hợp tác xã toàn tỉnh”, Chi cục Lưu trữ, Sở Nội vụ, TP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết về mở rộng xây dựngtiêu chuẩn kỹ thuật sản xuất nông nghiệp, thành lập các tổ khoa học kỹ thuậttrong các hợp tác xã toàn tỉnh
Tác giả: Ủy Ban nông nghiệp tỉnh Hà Đông
Năm: 1962
1. Ban Chấp hành Đảng bộ Hà Tây, Lịch sử Đảng bộ Hà Tây, tập 3 (1954 – 1975), Tỉnh ủy Hà Tây, 2002 Khác
2. Ban Chấp hành tỉnh Hà Đông (1963), Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Hà Đông tháng 6 năm 1963, Chi cục Lưu trữ, Sở Nội vụ, TP Hà Nội Khác
3. Ban Chấp hành tỉnh Hà Đông (1960), Nghị quyết Hội nghị Tỉnh ủy Hà Đông từ ngày 20 đến 24 tháng 1 năm 1960 nhận định về phong trào năm 1959 và nhiệm vụ công tác năm 1960 Khác
4. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Hà Tây, Các kỳ Đại hội đảng bộ tỉnh Hà Tây 1947 – 2005, Hà Tây, 2005 Khác
5. Ban Chấp hành tỉnh Hà Đông (1958), Nghị quyết Hội nghị Thường vụ Tỉnh ủy ngày 14, 15/11/1958 về việc tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động đổi công, hợp tác, sản xuất vụ Đông – Xuân 1958 – 1959, Chi cục Lưu trữ, Sở Nội vụ, TP Hà Nội Khác
6. Ban Chấp hành tỉnh Hà Đông (1958), Nghị quyết Thường vụ Tỉnh ủy ngày 1/6/1958 Về việc tiếp tục mở rộng cuộc vận động đẩy mạnh phong trào đổi công hợp tác thi đua vượt mức kế hoạch về diện tích và năng suất vụ mùa 1958, Chi cục Lưu trữ, Sở Nội vụ, TP Hà Nội Khác
7. Ban Chấp hành tỉnh Hà Đông (1957), Tăng cường lãnh đạo kế hoạch sản xuất nông nghiệp năm 1958 và phát động phong trào thi đua đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp trong vụ Đông – Xuân 1957 – 1958, Chi cục Lưu trữ, Sở Nội vụ, TP Hà Nội Khác
8. Ban Chấp hành tỉnh Hà Đông (1959), Phương hướng làm kế hoạch tiếp tục đẩy mạnh sản xuất Đông – Xuân thắng lợi vượt bậc và chuẩn bị vụ mùa năm 1959, Chi cục Lưu trữ, Sở Nội vụ, TP Hà Nội Khác
9. Ban Chấp hành tỉnh Hà Đông (1959), Nghị quyết của Hội nghị Tỉnh ủy ngày 13, 18/4/1959 Về nhiệm vụ và kế hoạch xây dựng, củng cố phong trào đổi công hợp tác trong quý II/1959, Chi cục Lưu trữ, Sở Nội vụ, TP Khác
10. Ban Chấp hành tình Hà Đông (1959), Nhiệm vụ và kế hoạch củng cố phát triển phong trào đổi công hợp tác xã 6 tháng cuối năm 1959, Chi cục Lưu trữ, Sở Nội vụ, TP Hà Nội Khác
11. Ban Chấp hành tỉnh Hà Đông (1960), Nghị quyết của Hội nghị Tỉnh ủy từ ngày 20 – 24/1/1960 Về phong trào đổi công hợp tác năm 1959 và phương hướng, nhiệm vụ năm 1960, Chi cục Lưu trữ, Sở Nội vụ, TP Hà Nội Khác
12. Ban Công tác Nông thôn, (1958), Báo cáo sơ kết bước 1 xây dựng hợp tác xã sản xuất nông nghiệp, Chi cục Lưu trữ, Sở Nội vụ, TP Hà Nội Khác
13. Ban Công tác Nông thôn (1958), Báo cáo sơ kết bước 1 cuộc vận động đổi công, Chi cục Lưu trữ, Sở Nội vụ, TP Hà Nội Khác
14. Ban Công tác nông thôn (1958), Kế hoạch tiếp tục mở rộng cuộc vận động đẩy mạnh phong trào đổi công, hợp tác, thi đua thực hiện vượt mức kế hoạch về diện tích và năng suất vụ mùa 1958, Chi cục Lưu trữ, Sở Nội vụ, TP Hà Nội Khác
15. Ban Công tác nông thôn (1958), Báo cáo Tổng kết xây dựng thí điểm hợp tác xã nông nghiệp xã Dân Hòa, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông, Chi cục Lưu trữ, Sở Nội vụ, TP Hà Nội Khác
16. Ban Công tác nông thôn (1958), Tình hình phong trào đổi công từ sau Cải cách ruộng đất (cuối 1956) cho đến nay (tháng 11 – 1958), Chi cục Lưu trữ, Sở Nội vụ, TP Hà Nội Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Tình hình sử dụng phân bón và diện tích cấy dày - CHỦ TRƯƠNG của ÐẢNG về xây DỰNG hợp tác xã  NÔNG NGHIỆP từ năm 1958 đến năm 1965 (QUA NGHIÊN cứu TRƯỜNG hợp TỈNH hà ÐÔNG)
Bảng 2 Tình hình sử dụng phân bón và diện tích cấy dày (Trang 41)
Bảng 6: Tình hình các huyện xây dựng kế hoạch trong năm 1962 - CHỦ TRƯƠNG của ÐẢNG về xây DỰNG hợp tác xã  NÔNG NGHIỆP từ năm 1958 đến năm 1965 (QUA NGHIÊN cứu TRƯỜNG hợp TỈNH hà ÐÔNG)
Bảng 6 Tình hình các huyện xây dựng kế hoạch trong năm 1962 (Trang 72)
Bảng 9: Bình quân mỗi lao động được phân phối sử dụng trong năm: - CHỦ TRƯƠNG của ÐẢNG về xây DỰNG hợp tác xã  NÔNG NGHIỆP từ năm 1958 đến năm 1965 (QUA NGHIÊN cứu TRƯỜNG hợp TỈNH hà ÐÔNG)
Bảng 9 Bình quân mỗi lao động được phân phối sử dụng trong năm: (Trang 117)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w