1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Mo mường hòa bình một số vấn đề lý luận và thực tiễn

79 862 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 6,87 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cuốn sách Người Mường - Địa lý nhân văn và xã hội học [13] của J.Cuisinier dành một chương nói về cơ cấu, quá trình tổ chức đám tang củangười Mường, trong đó có các lễ thức và cách tiến

Trang 1

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

PHẠM VĂN HÙNG

CHUYÊN ĐỀ CHUYÊN SÂU I

MO MƯỜNG HÒA BÌNH MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

-Chuyên ngành: Triết học

Mã số: 62 22 03 01

HÀ NỘI - 2016

Trang 2

MỤC LỤC 2

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn chuyên đề 1

1 55

Vương Anh, Hoàng Anh Nhân (1986), Tuyển tập truyện thơ Mường (Thanh Hóa),Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội 55

2 55

Vương Anh, Bùi Nhị Lê, Phạm Tố Châu, Lê Thành Hiểu (1997), Mo (sử thi và thần thoại) dân tộc Mường, Nxb Văn hoá dân tộc, Hà Nội 55

3 55

Đinh Văn Ân (2002), Mo - Đường lên trời, Nxb Văn hoá dân tộc, Hà Nội 55

4 55

Đinh Văn Ân (2005), Mo - kể chuyện Đẻ đất đẻ nước, Nxb Văn hoá dân tộc, Hà Nội 55

6 55

J Chevalier, A Gheerbrant (2002), Từ điển biểu tượng văn hoá thế giới, Nxb Đà Nẵng, Đà Nẵng 55

7 55

Nguyễn Từ Chi (2003), Góp phần nghiên cứu văn hóa và tộc người, Nxb Văn hóa dân tộc - Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, Hà Nội 55

8 55

9 55

10 55

Nguyễn Trọng Chuẩn (2006), Lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam, Tập 1, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội 55

11 55

L Codiere (1997), Về văn hoá và tín ngưỡng truyền thống người Việt Nam, Nxb Văn hoá - Thông tin, Hà Nội 55

12 55

Phạm Văn Công (1974), "Mo Đẻ đất đẻ nước và đời sống của người Mường", Kỷ yếu hội nghị chuyên đề Đẻ đất đẻ nước, Ty văn hoá Thanh Hoá, tr 117-120 55

13 55

J Cuisinier (1995), Người Mường - Địa lý nhân văn và xã hội học, Nxb Lao động, Hà Nội 55

14 55

Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh - Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn (2008), Nhân học đại cương, Nxb Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Hồ Chí Minh 55

Trang 3

VIII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 55

16 56

Quách Điêu (1925) "Hoà Bình tỉnh quan lang sử khảo", Tạp chí Nam Phong, (100), tr 15-22 56

17 56

19 56

Trần Văn Đoàn (2004), "Tổng quan về thông diễn học", Tạp chí Nghiên cứu con người, (3), tr 57-69 56

20 56

Tạ Đức (2013), Nguồn gốc người Việt - người Mường, Nxb Tri thức, Hà Nội 56

21 56

M Eliade (2005), "Cái thiêng và cái phàm" (Đỗ Lại Thuý giới thiệu, Huyền Giang dịch), Tạp chí văn học nước ngoài, (1), tr.192-201 56

23 56

Trần Văn Giàu (1957), Vũ trụ quan, Nxb Xây dựng, Hà Nội 56

24 56

Pirre Grossin (1997), Tỉnh Mường Hoà Bình (Lê Gia Hội dịch), Nxb Lao động, Hà Nội 56

25 56

Nguyễn Thị Song Hà (2011), Nghi lễ trong chu kỳ đời người của người Mường ở Hoà Bình, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội 56

26 56

Đinh Hồng Hải (2013), "Âm giới và biểu tượng vũ trụ luận trong tang ma của người Mường", Tạp chí Văn hoá dân gian, (3), tr 24-29 56

27 56

28 56

Nguyễn Hùng Hậu (2005), Đại cương triết học Việt Nam, Nxb Thuận Hoá, Huế 56

29 56

Hêghen (1999), Mỹ học, Tập 1, (Phan Ngọc dịch), Nxb Văn học, Hà Nội 56

32 56

Du Minh Hoàng (1954), Nhân sinh quan mới (Trần Quang dịch), Nxb Sự thật, Hà Nội 56

33 57

34 57

Hội khoa học lịch sử Việt Nam (2006), "Những vấn đề nhân học tôn giáo", Tạp chí Xưa & Nay, Nxb Đà Nẵng, Đà Nẵng, tr 18-27 57

35 57

Trang 4

đẻ nước, Ty văn hoá Thanh Hoá, Thanh Hóa tr 162-163 57

37 57

Trương Sỹ Hùng, Bùi Thiện (1995), Vốn cổ văn hoá Việt Nam, Tập 1, Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội 57

38 57

Trương Sỹ Hùng, Bùi Thiện (1995), Vốn cổ văn hoá Việt Nam, Tập 2, Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội 57

39 57

Trương Sỹ Hùng (2014), Sử thi thần thoại Mường, Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội 57

40 57

Vi Xuân Hương (1974), "Cuộc đấu tranh giữa con người với thiên nhiên trong Đẻ đất đẻ nước", Kỷ yếu hội nghị chuyên đề Đẻ đất đẻ nước, Ty văn hoá Thanh Hoá, Thanh Hóa, tr 89-91 57

41 57

Đàm Quang Kế (1997), Hệ thống nhân vật trong sử thi thần thoại Đẻ đất đẻ nước, (Luận văn thạc sỹ văn học), Trường Đại học sư phạm Hà Nội, Hà Nội 57

42 57

Vũ Ngọc Khánh (1974) "Mấy vấn đề xung quang Đẻ đất đẻ nước", Kỷ yếu hội nghị chuyên đề Đẻ đất đẻ nước, Ty văn hoá Thanh Hoá, Thanh Hóa, tr 44-54 57

43 57

Vũ Ngọc Khánh (1997), "Đẻ đất đẻ nước và một số tư liệu có liên quan đến dân tộc học", Tạp chí Dân tộc học, (2), tr 23-29 57

44 57

Phúc Khánh (1961), Thử tìm hiểu những yếu tố tư tưởng triết học trong thần thoại Việt Nam, Nxb Sự thật, Hà Nội 57

45 57

Nguyễn Văn Khoả (2004), Thần thoại Hy Lạp, Nxb Văn học, Hà Nội 57

46 58

Bùi Văn Kín (1976) "Tựa", Đẻ đất đẻ nước - Thơ dân gian dân tộc Mường, Nxb Văn học, Hà Nội 58

47 58

49 58

50 58

Đặng văn Lung, Bùi Thiện, Bùi Văn Nợi (1996), Mo Mường (Mo Mường và nghi lễ tang ma), Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội 58

51 58

Trang 5

Đặng Văn Lung (1998), "Giới thiệu tác phẩm", Đẻ đất đẻ nước - Sử thi Mường, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội 58

53 58

54 58

55 58

56 58

C Mác và Ph.Ăngghen (1994), Toàn tập, Tập 19, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 58

57 58

C Mác và Ph.Ăngghen (1994), Toàn tập, Tập 20, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 58

60 58

Ngọc Mai (1974), "Kẻ tạo nên sự sống là những bà lành, côn khôn, cái khéo", Kỷ yếu hội nghị chuyên đề Đẻ đất đẻ nước, Ty văn hoá Thanh Hoá, Thanh Hóa, tr 160-162 58

64 59

Hồ Chí Minh (1996), Toàn tập, Tập 8, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 59

65 59

Phùng Thị An Na (2015), Nhân sinh quan của người Việt qua Folklore Việt Nam, (Luận án tiến sĩ), Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội 59

66 59

67 59

Phan Đăng Nhật (1990), "Những yếu tố nhân văn của mo lên", Tạp chí Văn hoá dân gian, (4), tr 41-45 59

68 59

Phan Đăng Nhật (2001), Nghiên cứu sử thi Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội 59

69 59

70 59

Đinh Đại Niên (1956), Nhân sinh quan cộng sản chủ nghĩa, Nxb Sự thật, Hà Nội 59

71 59

Bùi Văn Nợi (2012), Mo Mường, Nxb Văn hoá dân tộc, Hà Nội 59

72 59

Trần Thế Pháp (1960), Lĩnh Nam chích quái, (Đinh Gia Khánh, Nguyễn Ngọc San dịch), Nxb Văn hoá, Hà Nội 59

73 59

Hoàng Phê (1998), Từ điển tiếng Việt, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội 59

Trang 6

yếu hội nghị chuyên đề Đẻ đất đẻ nước, Ty văn hoá Thanh Hoá, Thanh Hóa,

tr 166 59

75 59

Bùi Kim Phúc (2004), Nghi lễ Mo trong đời sống tinh thần người Mường, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội 59

76 59

77 59

78 60

79 60

Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch tỉnh Hòa Bình (2015), Báo cáo đề dẫn về công tác kiểm kê và lập hồ sơ di sản văn hóa mo Mường tỉnh Hòa Bình, Hòa Bình 60

80 60

81 60

82 60

83 60

84 60

85 60

86 60

Lê Đắc Tất (2004), "Vũ trụ không chỉ hiện lên trong kính chiếu yêu Big Bang", Báo An ninh cuối tháng, (35), tr 45 - 47 60

87 60

88 60

Bùi Văn Thành (2009), Những bình diện cấu trúc của Mo Mường, (Luận án tiến sĩ văn học), Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Hà Nội 60

89 60

90 60

91 60

Thích Chơn Thiện (1999), Lý thuyết nhân tính qua kinh tạng Pàli, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh 60

92 60

93 60

Bùi Thiện (2002), Diễn xướng Mo - Trượng - Mỡi, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội 60

94 61

Bùi Thiện (2010), Truyện dân gian dân tộc Mường, Tập 1, Nxb Văn hoá dân tộc, Hà Nội 61

95 61

Trang 7

Bùi Thiện (2010), Văn hoá dân gian Mường, Nxb Văn hoá dân tộc, Hà Nội.61 97 61

Bùi Thiện (2015), Đẻ đất đẻ nước và phong tục đạo lý nhân văn Mường, Nxb Văn hoá dân tộc, Hà Nội 61

98 61

Nguyễn Tất Thịnh (2011), Hành trình nhân sinh quan: Phản tỉnh trên đường trải nghiệm, Nxb Thông tin và truyền thông, Hà Nội 61

99 61

Ngô Đức Thịnh, Frank Proschan (2005), Folklore - một số thuật ngữ đương đại, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội 61

100 61

Ngô Đức Thịnh (2006), Văn hoá, văn hoá tộc người và văn hoá Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội 61

101 61

Ngô Đức Thịnh (2012), Hát văn, Nxb Văn hoá dân tộc, Hà Nội 61

102 61

103 61

104 61

X.A Tôcarev (1994), Những hình thức tôn giáo sơ khai và sự phát triển của chúng, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 61

105 61

Tổng hội Hội thánh Tin lành Việt Nam - Miền Bắc (2005), Kinh thánh Cựu Ước và Tân Ước, Nxb Tôn giáo, Hà Nội 61

106 61

Nguyễn Thế Trắc (2008), Mạn đàm nhân sinh, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội 61

107 61

Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia - Viện văn học (1999), Tuyển tập văn học dân gian Việt Nam, Tập 1, Thần thoại truyền thuyết, Nxb Giáo dục, Hà Nội 61

108 61

109 61

Trần Từ (1971), "Cõi sống và cõi chết trong quan niệm cổ truyền của người Mường", Tạp chí nghiên cứu lịch sử (140), tr 42-53, 63 61

110 61

Trần Từ (1996), Người Mường ở Hoà Bình, Hội khoa học lịch sử Việt Nam, Hà Nội 61

111 62

Trang 8

Bùi Huy Vọng (2010), Tang lễ cổ truyền người Mường, Quyển 1, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội 62

114 62

Bùi Huy Vọng (2011), Tang lễ cổ truyền người Mường, Quyển 2, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội 62

115 62

Bùi Huy Vọng (2011), Tang lễ cổ truyền người Mường, Quyển 3, Nxb Lao động, Hà Nội 62

116 62

Lê Trung Vũ (1975), Truyện cổ Mèo, Nxb Văn hoá, Hà Nội 62

117 62

Nguyễn Hữu Vui - Nguyễn Ngọc Long đồng chủ biên (2002), Giáo trình triết học Mác - Lênin (Dùng trong các trường đại học, cao đẳng), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 62

118 62

Trần Quốc Vượng, Nguyễn Dương Bình (1970), "Một vài nhận xét về mối quan hệ Việt - Mường và quá trình phân hoá giữa tộc Mường và tộc Việt", Thông báo khoa học trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, Sử học, Tập 5, Nxb Giáo dục, Hà Nội 62

119 62

Lý Tế Xuyên (1972), Việt điện U Linh, Bản dịch của Trịnh Đình Dư từ bản gốc A751 thư viện khoa học (Đinh Gia Khánh tu chỉnh và hiệu đính cho lần tái bản), Nxb Văn học, Hà Nội 62

120 62

Nguyễn Như Ý (2008), Đại từ điển tiếng Việt, Nxb Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh 62

121 62

122 62

123 62

124 62

125 62

PHỤ LỤC

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn chuyên đề

Mo Mường là nghi lễ tín ngưỡng trung tâm trong đời sống tinh thầncủa người Mường, đồng thời được xem là "bách khoa tri thức" của người tiềnViệt - Mường và người Mường còn tồn tại và lưu hành đến ngày nay trongnền văn hoá Mường Nó góp phần tạo nên diện mạo tư tưởng và văn hóa củangười Mường trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam Chúng tôi chọn đề tài

Mo Mường Hòa Bình - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn để nghiên cứu

trong chuyên đề xuất phát từ các lý do sau:

Thứ nhất, Hòa Bình là quê hương tập trung sinh sống của người

Mường từ lâu đời Điều kiện địa lý, lịch sử, xã hội ở đây đã hình thành lênmột nền văn hoá Mường đặc trưng và phát triển Mo Mường đến các giá trịđiển hình Một số vùng mường ở Hoà Bình có sự phân hoá rõ ràng giữa Mo,Trượng, Mỡi(1), có những dòng Mo Mường lớn, nhiều lễ thức, quy mô lễ thức

đồ sộ và vốn lời ca phong phú Việc bảo lưu Mo Mường và thực hiện nghi lễtang ma Mường ở Hoà Bình cho đến nay vẫn dựng lại được đầy đủ quy mô vàtính chất của nghi lễ Mo Mường truyền thống

Thứ hai, từ khi được phát hiện, Mo Mường Hoà Bình đã thu hút sự

quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, tuy nhiên, nghiêncứu Mo Mường Hòa Bình vẫn tồn tại những khoảng trống và "độ vênh" Bởi

vì, Mo Mường Hòa Bình là nghi lễ tín ngưỡng của một dân tộc thiểu số bị hạnchế trong phổ biến và giao lưu; Mo Mường Hòa Bình có quy mô lớn, mangtính nguyên hợp, hàm chứa các giá trị tư tưởng, văn hoá thuộc nhiều lĩnh vựckhác nhau Do vậy, muốn nghiên cứu Mo Mường Hòa Bình thì phải xem xétdưới nhiều góc độ, phải bóc tách nhiều tầng lớp giá trị và phải hiểu nó trongmối quan hệ của nhiều ngành khoa học, trong đó có triết học

1() Mo là nghi lễ được tổ chức trong đám tang để cúng tiễn đưa linh hồn người chết về mường Ma (thế giới của người chết) Trượng là nghi lễ tín ngưỡng có nhiệm vụ đánh đuổi ma tà hại người, bảo vệ người, chữa bệnh cho người sống (ông trượng) Mỡi là nghi lễ tín ngưỡng có nhiệm vụ bảo vệ, chăm sóc vía, đuổi ma tà,

chữa bệnh cho người ốm (bà mỡi).

Trang 10

Thứ ba, nghiên cứu Mo Mường Hòa Bình sẽ góp phần làm sáng tỏ nguồn

gốc, nội dung và giá trị độc đáo của Mo Mường Hòa Bình trong kho tàng tưtưởng, văn hóa Việt Nam và nhân loại Qua đó, cung cấp thêm những căn cứkhoa học để thúc đẩy quá trình đưa Mo Mường Hòa Bình trở thành di sản vănhóa phi vật thể đại diện của nhân loại2 Việc nghiên cứu này còn cần thiết vì nógóp phần thực hiện chủ trương của Đảng ta là: "Xây dựng nền văn hoá Việt Namtiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc" [15, tr 213], đồng thời phải "khai thác vàphát triển mọi sắc thái và giá trị văn hoá, nghệ thuật của các dân tộc trên đấtnước tạo ra sự thống nhất trong tính đa dạng và phong phú của nền văn hoáViệt Nam" [15, tr 42]

Thứ tư, từ sau năm 1945, sự thống trị của tầng lớp lang đạo Mường

sụp đổ cùng với sự xóa bỏ của chế độ quân chủ ở nước ta, Mo Mường HòaBình đã có những biến đổi lớn vì cơ sở kinh tế - xã hội quy định sự tồn tại của

Mo đã thay đổi Bên cạnh đó, những quy định về nếp sống mới đã loại bỏnhiều hủ tục, mê tín và đơn giản hóa Mo Mường Hòa Bình Trong giai đoạnhiện nay, trước những tác động của quá trình đổi mới, hội nhập, Mo MườngHòa Bình nói riêng, tang lễ Mường nói chung đang có những biến đổi lớn.Quá trình biến đổi đó mang lại một số yếu tố mới tích cực nhưng cũng làmmai một nhiều giá trị của Mo Mường Hòa Bình

Thứ năm, để hoàn thành đề tài luận án Khía cạnh triết học trong Mo Mường Hòa Bình, thì việc nghiên cứu Mo Mường Hòa Bình - Một số vấn đề

lý luận và thực tiễn là yêu cầu bắt buộc để nghiên cứu sinh tiếp tục nghiên

cứu về vũ trụ quan và nhân sinh quan trong Mo Mường Hòa Bình Thông quachuyên đề, nghiên cứu sinh từng bước củng cố kỹ năng nghiên cứu khoa học

và có cơ hội được trình bày những kết quả nghiên cứu ban đầu để đón nhậnnhững ý kiến góp ý của các nhà khoa học trong Hội đồng chấm chuyên đề Từ

2 Hiện nay, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đang phối hợp với Ủy ban nhân dân tỉnh Hòa Bình cùng với các nhà khoa học tiến hành nghiên cứu, thẩm định và lập hồ sơ đề nghị UNESCO công nhận Mo Mường Hòa Bình là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Trang 11

đó, giúp nghiên cứu sinh tiếp tục có những định hướng trong quá trình nghiêncứu để hoàn thành luận án.

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của chuyên đề

2.1 Mục đích nghiên cứu

Chuyên đề tập trung làm rõ bản chất, cấu trúc, cơ sở hình thành và xuhướng biến đổi của Mo Mường Hòa Bình, đồng thời đề xuất một số kiến nghịnhằm bảo tồn, phát huy giá trị và hạn chế yếu tố tiêu cực của Mo Mường HòaBình hiện nay

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tổng quan tình hình nghiên cứu, trình bày những vấn đề mà chuyên

đề tiếp tục nghiên cứu

- Làm rõ bản chất, cấu trúc, cơ sở hình thành và tồn tại của Mo MườngHoà Bình, đồng thời khái quát một số xu hướng biến đổi của Mo Mường HoàBình hiện nay

- Đề xuất một số kiến nghị nhằm bảo tồn, phát huy giá trị và hạn chế yếu tốtiêu cực của Mo Mường Hòa Bình

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của chuyên đề

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là Mo Mường Hoà Bình

Trang 12

- Chuyên đề sử dụng một số lý thuyết nghiên cứu chuyên ngành khácnhư lý thuyết tương đối văn hoá, lý thuyết chức năng, lý thuyết vùng văn hoá,

lý thuyết biểu tượng(3)

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Chuyên đề dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vậtlịch sử, kết hợp với các phương pháp cụ thể như: phương pháp thống nhấtgiữa lịch sử và logic, phương pháp thống nhất giữa phân tích và tổng hợp,phương pháp so sánh, phương pháp thông diễn học, phương pháp điền dã,phương pháp hệ thống - cấu trúc và một số phương pháp khác

5 Đóng góp mới về khoa học của chuyên đề

- Chuyên đề làm rõ bản chất, cấu trúc và cơ sở hình thành, tồn tại của

Mo Mường Hòa Bình

- Chuyên đề khái quát một số xu hướng biến đổi của Mo Mường HòaBình Từ đó, tác giả đề xuất một số kiến nghị nhằm bảo tồn, phát huy giá trị,hạn chế yếu tố tiêu cực của Mo Mường Hòa Bình

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của chuyên đề

- Kết quả nghiên cứu của chuyên đề góp phần bổ sung thêm một số vấn

đề lý luận và thực tiễn về Mo Mường Hòa Bình

- Chuyên đề có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong học tập, nghiêncứu và giảng dạy những môn học liên quan đến tư tưởng triết học Việt Nam,tín ngưỡng và văn hóa dân gian Việt Nam

- Chuyên đề giúp nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học, đồng thờigiải quyết một phần nhiệm vụ nghiên cứu trong luận án của nghiên cứu sinh

7 Kết cấu của chuyên đề

Ngoài phần mở đầu, tổng quan, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục,chuyên đề gồm 2 chương, 4 tiết

TỔNG QUAN

1 Các công trình nghiên cứu về bản chất và cấu trúc của Mo

3() Trong khuôn khổ dung lượng của một chuyên đề, chúng tôi không có điều kiện trình bày nội dung của các

lý thuyết này vì phải ưu tiên cho phần nội dung của chuyên đề

Trang 13

Mường, trong đó có Mo Mường Hòa Bình

Những nghiên cứu dân tộc học, văn hoá, cho thấy người Mường vàngười Việt có cùng nguồn gốc là cư dân tiền Việt - Mường(4) Do những biếnđộng và yêu cầu của lịch sử mà vào khoảng thế kỷ X, người Việt và ngườiMường đã chia tách thành hai dân tộc như ngày nay Người Mường sống ởvùng đồi núi và được xếp vào hàng dân tộc thiểu số cho nên họ ít chịu sựcưỡng bức văn hoá của phong kiến phương Bắc như người Việt Thực tế đódẫn đến trong suốt thời kỳ phong kiến, người Mường và văn hoá Mường chưađược quan tâm Những nghiên cứu về người Mường và văn hóa Mường, trong

đó có Mo Mường mới thực sự được quan tâm nghiên cứu bắt đầu từ thập niên

30 của thế kỷ XX

Cuốn sách Người Mường - Địa lý nhân văn và xã hội học [13] của

J.Cuisinier dành một chương nói về cơ cấu, quá trình tổ chức đám tang củangười Mường, trong đó có các lễ thức và cách tiến hành diễn xướng MoMường Theo J.Cuisinier, đám tang của người Mường diễn ra trong 12 ngày

đêm, trong đó có 10 đêm đọc Mo liên tục Đêm thứ nhất - Các thủ tục nhập quan; đêm thứ hai - Kể Đẻ đất đẻ nước; đêm thứ ba - Nhìn Mường; đêm thứ tư

- Đi thăm tổ tiên; đêm thứ năm - Đi hầu kiện; đêm thứ sáu - Cuộc bán hoa; đêm thứ bảy - Xin đuông; đêm thứ tám - Mo xuống; đêm thứ chín - Vần Va; đêm thứ mười - Nhắn nhủ, dạy cư xử cách sống Mô tả cơ cấu và tiến trình diễn

xướng Mo Mường trong tang lễ của người Mường như trên, tác giả được xem

là người đầu tiên giới thiệu về Mo Mường Tuy nhiên, do mục đích nghiên cứuchung về người Mường, tác giả mới chủ yếu miêu tả Mo Mường chứ chưa cóđiều kiện để nghiên cứu sâu nghi lễ này Trong phần nghi lễ ma chay, tác giảchỉ thuật lại quá trình chuẩn bị cho các buổi đọc Mo trong tang lễ mà không nóilên giá trị nhiều mặt của Mo Mường trong tang lễ của người Mường

4() Hiện nay, đa số các nhà nghiên cứu ở Việt Nam nhất trí với quan niệm người Việt và người Mường có cùng nguồn gốc là người tiền Việt - Mường (người Lạc Việt) Tuy nhiên, một số nhà nghiên cứu (điển hình

là Tạ Đức) cho rằng, người Việt và người Mường là hai tộc người có nguồn gốc khác nhau Trong chuyên đề này, chúng tôi đồng ý với quan niệm của đa số các nhà nghiên cứu ở Việt Nam

Trang 14

Cuốn sách Người Mường ở Hoà Bình [110] của Trần Từ là công trình

tập hợp nhiều bài viết của tác giả về người Mường, văn hóa Mường và MoMường Thông qua việc quan sát quá trình diễn xướng lời của ông Mo, các lễthức Mo và vật lễ Mo trong những đêm cử hành tang lễ, tác giả nhận định:

"Bố mo không xuất thần nhưng lại dẫn tinh linh người chết đi hai chuyến lênmường Trời và qua mường Ma, mà bố mo kể lại bằng lời mo Tôi nghĩ rằngđây là hình thức đã nhạt của Saman giáo" [110, tr 347] Về vai trò của ông

Mo và lời Mo trong tang lễ, Trần Từ cho rằng việc sử dụng sức mạnh siêu

nhiên của bố mo để gây áp lực đối với người chết bị hạn chế trong vùng từ Kẹ cho đến Đạp ma(5) Qua các đêm mo, người hành lễ chỉ làm hai việc là thuyếtphục ma bằng lời lẽ và hướng dẫn ma tiến hành các chuyến đi

Quách Xuân Hiền trong bài viết "Đẻ đất đẻ nước và kho tàng văn học dân gian Mường" [31] cho rằng, Mo Mường không chỉ là lời văn cúng tế để

tiễn hồn người chết vì người Mường cử hành Mo trong nhiều dịp như đámcưới, đám hội, Theo tác giả, nếu hiểu Mo theo nghĩa tôn giáo hoàn toàn thìchỉ có Mo lên trời, Mo cầu hồn (xin đuông), Mo nhìn (đứng trên mường Trờinhìn xuống trần gian), Mo vườn hoa (hồn được đi chơi vườn thượng uyển củavua trời) Đó là những bài Mo thực sự để tiễn linh hồn người chết và dẫn hồnlên trời Những bài nói về quy tắc ăn ở, sinh hoạt, ước mơ cầu cho con cáikhôn ngoan, nhà cửa đề huề, gia súc yên ổn, tuy có gọi là Mo nhưng về bản

chất không phải là Mo Ngay cả Đẻ đất đẻ nước, tuy vẫn gọi là Mo và vẫn

đọc để tiễn linh hồn người chết nhưng cũng chỉ là mượn dịp đám tang để giúpngười sống ôn lại lịch sử từ khi có trời đất đến thành lập các bản mường Nộidung Mo kể chuyện ít liên quan đến người chết, không cầu mong gì cho hồnngười chết nên không nên coi nó là bài ca tôn giáo Tuy nhiên, tác giả mắcphải mâu thuẫn khi khẳng định trong hệ thống Mo, có thể xem Mo kể chuyệnnhư một bài Mo trung tâm và chung quanh còn thêm các loại Mo lên trời vàhàng loạt bài ca nghi lễ khác

Năm 1976, một phần Mo Mường Hoà Bình đã được in trong cuốn sách

5() Kẹ và Đạp ma là tên gọi hai lễ thức của Mo Mường trong công trình nghiên cứu của Trần Từ.

Trang 15

Đẻ đất đẻ nước - Thơ dân gian dân tộc Mường [92] dày 267 trang của tập thể

tác giả Bùi Thiện, Quách Giao, Thương Diễm Ba tác giả đã gộp tư liệunghiên cứu, sưu tầm lại với nhau để đối chiếu và nhận thấy có 10 trong số 21roóng(6) của Mo Tlêu(7) có sự trùng hợp gồm: Đẻ đất, Đặt năm tháng, Đẻ trứng Điếng, Xin lửa, Trồng dâu nuôi tằm, Làm nhà, Hỏi vợ, Cổn chu kéo lội, Đốt nhà tranh Chu, Săn Muông Trong quá trình gộp tư liệu sưu tầm, cả ba nhà

nghiên cứu thống nhất loại bỏ phần chứa đựng yếu tố được coi là mê tín dị

đoan ra khỏi cuốn sách Cuốn sách mắc phải hạn chế khi đặt các roóng Nhìn Mường, Đối kiện và Cuổi lìa vào phần phụ lục, đồng thời coi nó chỉ như một

bộ phận có liên quan tới Mo Đẻ đất đẻ nước Việc làm này của các tác giả đã

phá vỡ tính hệ thống của Mo Mường xuất phát từ sự chi phối của tư tưởng bàitrừ mê tín dị đoan thời kỳ đó(8) Một vài roóng Mo còn sắp xếp lộn xộn, cónhiều dị bản ghi được ở các vùng Kim Bôi, Tân Lạc hay hơn, dài hơnnhưng không được đưa vào trong cuốn sách Tuy còn một số hạn chế nhưngcuốn sách đã thể hiện sự cố gắng ban đầu của Bùi Thiện, Thương Diễm,Quách Giao trong quá trình nghiên cứu, sưu tầm Mo Mường Lời Mo từnguyên gốc tiếng Mường dịch sang tiếng Việt ít nhiều lột tả được những nétđộc đáo của người Mường

Bài viết "Tựa" của Bùi Văn Kín trong cuốn Đẻ đất đẻ nước - Thơ dân gian dân tộc Mường [46] đề cập những điểm cơ bản về Mo Mường.

Tác giả viết: "Trong lễ cúng hồn có hai phần: Phần thứ nhất gồm một sốbài bản với nội dung mang nặng tính chất mê tín, thần bí dẫn dắt hồn ngườichết đi làm các thủ tục để về bên ma cho yên ấm Phần thứ hai gồm một sốbài bản với nội dung kể lại cho hồn người chết và tất cả người còn sống

cùng nghe, phần này gọi là Đẻ đất đẻ nước" [46, tr 5] Như vậy, theo Bùi

Văn Kín, Mo Mường gồm phần mê tín và phần không mê tín Phần mê tín

6() Roóng trong tiếng Mường có nghĩa là "một đoạn", tương đương với từ róng trong tiếng Việt Roóng Mo

tương ứng với chương Mo Một số vùng mường gọi là cát Mo, áng Mo, rằng Mo.

7() Mo Tlêu còn được gọi là Mo kể chuyện hay Mo Đẻ đất đẻ nước.

8() Thời kỳ này, Mo Mường bị coi là hiện tượng mê tín, dị đoan Nhiều địa phương đã cấm tổ chức nghi lễ Mo trong đám ma, nhiều ông mo bị tịch thu đồ nghề, bị cấm làm Mo Do vậy, để tránh những rắc rối, các nhà

nghiên cứu, sưu tầm chỉ tập trung vào phần Mo kể chuyện, bởi đây là phần Mo có nội dung nói về thần thoại

và truyền thuyết của người Mường.

Trang 16

lă nghi lễ tín ngưỡng, phần không mí tín lă nghệ thuật Câch phđn chia năy

có tính chất phiến diện vă chưa phản ânh đúng sự tồn tại của Mo Mườngtrong thực tế Mặc dù vậy, về cơ bản, ông đê thấy được phần năo tínhnguyín hợp của Mo Mường biểu hiện trín phương diện tín ngưỡng văphương diện nghệ thuật Nhận xĩt về quâ trình diễn xướng Mo của ông mo,tâc giả cho rằng, câc băi bản của Mo thứ tự trước sau đều do ông Mo quyếtđịnh, những băi bản thuộc về thủ tục theo quan niệm của người Mườngnhất thiết phải mo trước, còn câc băi bản khâc thì có thể tuỳ ông mo giagiảm trước sau Theo nhận xĩt năy, chúng ta hiểu Mo Mường có phần bấtbiến vă phần khả biến Tuỳ từng điều kiện, hoăn cảnh của mỗi tang lễ mẵng mo sử dụng phần bất biến vă điều chỉnh phần khả biến cho phù hợp

Cuốn sâch Tuyển tập truyện thơ Mường (Thanh Hóa) [1] của Vương

Anh vă Hoăng Anh Nhđn ra đời dựa trín khối tư liệu khổng lồ sưu tầm được

từ trước, đặc biệt lă từ những người Mường hiểu biết, thông thạo ngôn ngữ.Trong quâ trình nghiín cứu, hai tâc giả đê cố gắng sắp xếp cho trật tự văn bảnphù hợp với câc sự kiện lịch sử dđn tộc, tđm lý tình cảm con người, phong tụctập quân vă nếp sống, nếp nghĩ dđn tộc Mường, đồng thời đảm bảo tính chínhxâc của ngôn ngữ trong quâ trình dịch sang tiếng Việt Tuy nhiín, cuốn sâchmắc phải một số sai lầm trong câch gọi tín khoa học vă dịch thuật Phần lời

Mo chuyển sang tiếng Việt chứa khâ nhiều yếu tố hiện đại với lối văn vầnchau chuốt khiến người đọc thích thú nhưng đê lăm cho tính dđn tộc trong MoMường mất đi khâ nhiều

Trong khi nhóm của Vương Anh (Thanh Hoâ) vă Bùi Thiện (Hoă Bình)

mới chỉ dừng lại quan tđm đến Mo Mường ở Mo Tlíu thì cuốn sâch Sử thi thần thoại Mường [39] của Trương Sỹ Hùng lại quan tđm tới toăn bộ cấu trúc nội dung của Mo Mường bao gồm Mo Tuông, Mo Vâi vă Mo Tlíu(9) Tâc giả nhận

9() Trương Sỹ Hùng vă một số nhă nghiín cứu tiếp cận cấu trúc lời Mo Mường theo ba bộ phận gồm: Mo Tuông, Mo Vâi vă Mo Tlíu Mo Tuông bao gồm câc roóng Mo kể về sự tích câc đồ dùng; mời câc vị thần linh

về ban sức mạnh thiíng cho chuông, thanh kiếm vă mời gọi sư tổ về giúp ông Mo hănh nghề Mo Vâi lă những

roóng Mo nói về cảnh vật vă cuộc sống ở mường Ma vă mường Trời (có nhă nghiín cứu gọi lă Mo xuống - Mo

Trang 17

thấy các nhà nghiên cứu hầu như chưa quan tâm tới hai phần đầu của MoMường, khiến hai phần đầu gần như ở trạng thái bị bỏ rơi Khắc phục nhượcđiểm của những nhà nghiên cứu đi trước, Trương Sỹ Hùng chú tâm tìm hai phầnđầu ở địa bàn lưu hành thuộc Hòa Bình, Thanh Hóa và ghi chép được 20 roóng

Mo Ông là nhà nghiên cứu đầu tiên thấy rằng cần nghiên cứu Mo Mường trongmột chỉnh thể thống nhất, không chia tách Mo Mường ra để chọn lấy phần đượccoi là có giá trị và bỏ phần khác bị coi là không có giá trị Việc xét Mo Mườngtrong tổng thể thống nhất đã góp phần khẳng định Mo Mường là một đối tượngnghiên cứu khoa học nhất quán mà trước đó chưa ai làm được

Cuốn sách Vốn cổ văn hoá Việt Nam [37] được hoàn thành từ sự kết hợp

phần tư liệu của Trương Sỹ Hùng và phần tư liệu của Bùi Thiện nghiên cứu,sưu tầm được ở vùng mường Vang(10) Đến công trình này, Mo Mường có diệnmạo tương đối hoàn chỉnh Hai tác giả hoạch định bản trục và lấy 6 dị bản đểkhảo tả Phần tiếng Việt là sự ráp lại, đối chiếu, so sánh, chọn lựa từ nguồn tưliệu nghiên cứu, sưu tầm của Bùi Thiện trong suốt 20 năm, được Trương SỹHùng chỉnh lý, phần tiếng Mường do Bùi Thiện phiên âm Bản Mo Mường

trong Vốn cổ văn hoá Việt Nam bao gồm 61 roóng với khoảng 20.292 câu thơ

Mo, mỗi roóng đều có chú thích và khảo dị cần thiết, tạo thuận lợi cho nhữngngười làm công tác nghiên cứu sau này không mất nhiều thời gian tra cứu và sosánh giữa các dị bản Cuốn sách đã kế thừa thành tựu nghiên cứu của nhómVương Anh và nhóm Bùi Thiện trước đó nên đảm bảo tính chính xác cao hơn.Khi xem xét lời Mo của các nhóm đã được công bố thì bản lời Mo ở Hoà Bìnhđảm bảo tính khoa học và được sử dụng để tiếp tục nghiên cứu về Mo Mường

Cuốn sách Mo (sử thi và thần thoại) dân tộc Mường [2] là văn bản Mo

đồ sộ, tập hợp toàn bộ thành quả nghiên cứu, sưu tầm sau nhiều năm lăn lộn

lên) Mo Tlêu kể về quá trình hình thành vũ trụ, lịch sử vạn vật, muôn loài và nguồn gốc thủy tổ loài người.

10() Mường Vang là một trong bốn vùng mường lớn nhất của Hòa Bình trước đây Hiện nay, mường Vang thuộc huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình

Trang 18

thực tế của của Vương Anh và một số người khác(11) ở Thanh Hoá Nội dungsách giới thiệu về Mo tang lễ - một kho sử thi Mường đồ sộ với hai ngôn ngữ

Việt và Mường Quy mô văn bản Mo gồm 113 roóng, có độ dài mỗi phần

khoảng 22.989 câu thơ Mo Cả phần đầu của lời giới thiệu, phần phụ lục vànội dung sách dày 2173 trang Cuốn sách đã chứng tỏ một tầm mới của nhữngngười làm công tác nghiên cứu, sưu tầm và dịch thuật Mo Mường Đây là mộtcông trình công phu được hoàn thành sau một quá trình lâu dài nghiên cứu,sưu tầm của các tác giả

Bài viết "Mo ma trong đám tang của người Mường" của Đặng Văn Lung in trong cuốn sách Mo Mường (Mo Mường và nghi lễ tang ma) [51] Trong bản Mo chỉ có phần dịch tiếng Việt gồm 35 roóng với độ dài khoảng 12.780 câu thơ Mo này, Đặng Văn Lung chia Mo Mường thành bốn loại: Mo

Lễ, Mo Vải, Mo Vái và Mo Ma Cách phân chia này chưa chính xác và có phần

mang tính chủ quan vì người Mường không có hiện tượng tín ngưỡng nào gọi

là "Lễ", chỉ có hiện tượng Vái và Vải Vái và Vải là những hiện tượng tínngưỡng có đối tượng, chức năng, nội dung và phương thức diễn xướng hoàntoàn khác với Mo Ma và không gọi là Mo Ngay cả người thực hiện nghi lễ nàycũng không được gọi là ông mo mà gọi là ông Trượng Ông mo làm Mo Macòn ông trượng thì làm Vải, làm Vái và chữa bệnh theo hình thức mê tín Tuyvậy, có trường hợp, một người có thể làm cả hai, nhưng cách gọi thì phân biệt

rõ ràng: Làm Vái, làm Vải thì gọi là ông trượng, làm lễ đám ma thì gọi là ông

mo Việc xác định cách gọi ông mo hay ông trượng là dựa vào chức năng hành

lễ chứ không phải gọi cho chính con người ấy

Năm 2010, nhà xuất bản văn hóa dân tộc lần lượt giới thiệu hai côngtrình nghiên cứu rất công phu của Bùi Thiện về các loại hình nghi lễ tín

ngưỡng của người Mường bao gồm Mo, Trượng, Mỡi là Đẻ đất đẻ nước và

11() Công trình Mo (sử thi và thần thoại) dân tộc Mường do Vương Anh chủ biên cùng với sự tham gia của

Bùi Nhị Lê, Phạm Tố Châu, Lê Thành Hiểu.

Trang 19

phong tục đạo lý nhân văn Mường [97] và Tế trời đất, tổ tiên, mại nhà xe dân tộc Mường [95] Tổng văn bản của hai công trình này có 121 roóng với gần 44.000 câu thơ, trong đó riêng phần lời Mo là 77 roóng tương ứng với khoảng 33.464 câu thơ Mo Trong Đẻ đất đẻ nước và phong tục đạo lý nhân văn Mường, tác giả đã giới thiệu những nội dung quan trọng nhất của Mo Mường bao gồm phần Mo Đẻ đất đẻ nước(12); các roóng Mo chuyển kiếp về với tổ và

đạo lý Mường; tế trời đất, tổ tiên và mại nhà xe; cầu mát lành Trong Diễn xướng Mo - Trượng - Mỡi, tác giả cũng giới thiệu đôi nét về Mo - Trượng -

Mỡi đồng thời làm rõ điểm giống và khác nhau giữa chúng Theo Bùi Thiện,

Mo Mường là một loại hình diễn xướng sử thi dân gian của người Mường nênkhó xác định được cụ thể và chính xác lịch sử hình thành của nó Mo - Trượng

- Mỡi giống nhau ở chỗ đều mang tính tự sự dân gian, trong diễn xướng thì cả

ba loại hình này đều vượt lên hoàn cảnh nghi thức để phản ánh nhận thức về vũtrụ và đạo lý nhân văn Mường Tuy nhiên, Mo - Trượng - Mỡi có giai điệu,giọng hát, cách khấn lễ riêng Mo chỉ hành lễ cho người qua đời (hồn), Mo tứctang ca trong tang lễ dùng để cúng hồn cho người chết Trượng, Mỡi có mụcđích cúng lễ chạy chữa cho người bị ốm, cúng vía cho người sống

Cuốn sách Mo Mường [71] của Bùi Văn Nợi được hoàn thành sau

một thời gian dài nghiên cứu, sưu tầm Mo Mường ở huyện Tân Lạc - HòaBình, có phần lời Mo bằng cả tiếng Mường và phiên âm tiếng Việt Dunglượng lời Mo của mỗi phần gồm khoảng 20.000 câu thơ Mo được sưu tầm

ở Mường Bi(13) Tác giả chia cơ cấu của Mo Mường theo thời gian làm Mogồm 16 đêm Mo Nhìn chung, công trình đã giới thiệu khá trọn vẹn lời Motrong nếp Mo của một ông mo cụ thể ở Hòa Bình Tuy nhiên, cũng giốngnhư một số công trình khác, tác giả mới chỉ xem xét Mo Mường thuần túy

12() Bùi Thiện chia Mo Đẻ đất đẻ nước thành hai phần gồm Sử thi về vũ trụ, về cuộc chiến sinh tồn và đạo lý trong tang hiếu và thờ lễ.

13() Mường Bi là mường lớn nhất trong các vùng mường ở Hòa Bình trước đây Hiện nay, mường Bi thuộc địa phận huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình.

Trang 20

ở phần lời và xác định nó là sử thi thần thoại.

Trong cuốn sách Sử thi Mường [69], Phan Đăng Nhật cho rằng, Mo chủ

yếu được dùng trong đám ma Mo đám ma có hai bộ phận chính gồm Mo dẫnđường và Mo kể chuyện Mo nhất thiết phải trình diễn trước quan tài là Mo dẫnđường, nó gắn chặt với tín ngưỡng, gắn chặt với mục đích của lễ tiễn hồnngười chết Người ta chỉ được phép hát Mo dẫn đường khi có người chết Mo

kể chuyện chủ yếu do ông Mo trình diễn trước quan tài nhưng cũng có trườnghợp Mo này được người dân thường hát kể trong những hoàn cảnh khác nhau

trong sinh hoạt và lao động Tác giả xác định Mo Đẻ đất đẻ nước là sử thi cổ sơ

- sáng thế tiêu biểu, đồng thời khẳng định cái mà chúng ta gọi là sử thi thìngười Mường gọi là Mo Tác giả có phần phiến diện khi phân chia Mo thành

Mo dẫn đường và Mo kể chuyện vì còn nhiều bộ phận Mo khác cấu thành MoMường mà không thuộc về hai loại Mo này Tác giả khẳng định Mo Mường là

sử thi cũng không chính xác vì Mo là một nghi lễ tang ma do nhiều yếu tố cấuthành Khi đồng nhất Mo Mường với sử thi, tác giả đã tách lời Mo ra khỏichỉnh thể Mo và chỉ xem xét Mo thuần túy trên phương diện văn học

Trong cuốn sách Tang lễ cổ truyền người Mường, Quyển 3 [115], Bùi

Huy Vọng khẳng định Mo là nghi lễ quan trọng nhất trong tang ma của ngườiMường Để tổ chức nghi lễ Mo phải có các yếu tố, điều kiện là: có người chết,ông Mo, đủ điều kiện vật chất (đồ lễ, đạo cụ, ), có thời gian đủ tiến hành Nghi

lễ Mo trong tang lễ cơ bản có hai phần gồm: lễ thức, cách trình bày các mâmcúng và đồ vật cần có trong nghi lễ; ông Mo và nội dung lời Mo Trong côngtrình này, tác giới thiệu 10 roóng Mo với khoảng 5.924 câu thơ Mo, đồng thờitrình bày 10 nghi lễ Mo tương ứng là các lễ thức và nội dung lời Mo

Trong luận án tiến sĩ "Những bình diện cấu trúc của Mo Mường" [88],

Bùi Văn Thành áp dụng phương pháp hệ thống - cấu trúc để phân chia cấu trúc

Mo Mường thành ba bộ phận cơ bản gồm: lễ thức Mo, diễn xướng Mo và ngônbản Mo Trong mỗi bộ phận cấu thành Mo, tác giả đều có những phân tích để

Trang 21

chỉ ra quá trình phát sinh các yếu tố cấu thành Mo Mường, từ đó, giúp hìnhdung được quá trình vận động và quy mô đồ sộ của nó Những kết quả mà luận

án đạt được có ý nghĩa quan trọng để tiếp cận và có cái nhìn về Mo Mường

Năm 2010, Ủy ban nhân dân tỉnh Hòa Bình giới thiệu cuốn sách Mo Mường Hoà Bình [111], trong đó, phần lời Mo được kết cấu thành bốn phần gồm: Mo sử thi, Mo nhòm, Mo cuổi lìa(14), Mo nghi lễ Lời Mo có cả phần

phiên âm tiếng Mường và dịch sang tiếng Việt với quy mô văn bản đồ sộgồm 46 roóng, mỗi phần có khoảng 24.536 câu thơ Mo Nội dung tư liệu của

Mo Mường Hoà Bình được sưu tầm từ 12 ngày đêm Mo thông qua việc phục

dựng lại một đám tang cổ truyền của người Mường ở xóm Lầm - trung tâmcủa mường Bi xưa(15) Mo Mường Bi có cốt cách riêng, cổ xưa hơn và độcđáo hơn, nội dung chưa bị thêu dệt nhiều; nội dung ngắn gọn nhưng phảnánh một cách đầy đủ và khúc triết về văn hoá Mường nói chung Do vậy, cóthể lấy Mo ở Mường Bi để giới thiệu mang tính đại diện cho các vùngMường khác ở Hoà Bình

Nếu như nghiên cứu, sưu tầm Mo Mường ở Hòa Bình và Thanh Hóa đãđược thực hiện trong một thời gian khá dài thì việc nghiên cứu và sưu tầm MoMường ở vùng Sơn La mới được tiến hành chưa lâu Đến thời điểm này, cóhai cuốn sách nghiên cứu, sưu tầm về Mo Mường ở vùng Phù Yên - Sơn Lavới cả phần phiên âm tiếng Mường và dịch ra tiếng Việt do nhà nghiên cứu

văn hóa dân gian Đinh Văn Ân thực hiện gồm: Mo - Đường lên trời [3] với

43 roóng, trong đó phần phiên âm tiếng Mường khoảng 9.620 câu thơ Mo và

Mo - kể chuyện Đẻ đất đẻ nước [4] với 10 roóng, trong đó phần phiên âm

tiếng Mường khoảng 3.570 câu thơ Mo

Như vậy, nghiên cứu về bản chất và cấu trúc của Mo Mường, trong đó

14() Mo cuổi lìa là phần Mo nói về việc linh hồn người chết dặn dò và chia lìa (cuổi lìa) người sống trước khi

ra đi vĩnh viễn về thế giới riêng của họ - thế giới mường Ma.

15() Năm 2002, Hội Văn học - Nghệ thuật tỉnh Hòa Bình đã tiến hành phục dựng 12 đêm Mo Mường trong

khuôn khổ đề tài nghiên cứu khoa học Nghiên cứu, sưu tầm Mo Mường ở Mường Bi, Tân Lạc - Hòa Bình.

Trang 22

có Mo Mường Hoà Bình mới chỉ thật sự được các nhà nghiên cứu trong nướcquan tâm từ những năm thập niên 60 của thế kỷ trước Những tư liệu chúng ta

có được trước đó hầu như là những ghi chép và nghiên cứu về người Mườngcủa một số học giả phương Tây Họ có đóng góp rất lớn khi để lại cho chúng tanhững tư liệu mang tính khởi điểm về Mo Mường cho dù còn tản mạn Quátrình nghiên cứu, sưu tầm Mo Mường từ những năm 60 của thế kỷ XX đến naythu được những kết quả quan trọng Trong vòng nửa thế kỷ, các nhà nghiêncứu, sưu tầm đã nhiệt huyết làm việc và giới thiệu được nhiều công trình về MoMường có quy mô từ vài nghìn đến vài chục nghìn câu thơ Mo Các công trìnhnày đã mang lại cho chúng ta hiểu biết ngày càng đầy đủ về Mo Mường nóichung và Mo Mường Hòa Bình nói riêng

2 Các công trình nghiên cứu về cơ sở hình thành và xu hướng biến đổi của Mo Mường, trong đó có Mo Mường Hòa Bình

Trong quá trình khảo sát, chúng tôi nhận thấy có rất ít công trìnhnghiên cứu đề cập trực tiếp đến cơ sở hình thành và xu hướng biến đổi của

Mo Mường Hòa Bình Một số bài viết khẳng định Đẻ đất đẻ nước (Mo Tlêu)

ra đời sớm hơn Mo Tuông và Mo Vái Tuy nhiên, xung quanh vấn đề thời điểm ra đời của Đẻ đất đẻ nước lại tồn tại nhiều quan điểm khác nhau.

Nhà nghiên cứu Cao Huy Đỉnh trong bài viết: "Về quá trình hình thành dị bản Đẻ đất đẻ nước sưu tầm ở Thanh Hóa" [17] cho rằng, Đẻ đất

đẻ nước đã hình thành và hoàn chỉnh trên cơ sở người Mường đã là một tộc

người cụ thể (như hiện nay) ở trên một vùng cư trú có đặc điểm địa lý - vănhóa nhất định, đã phân biệt với các tộc người khác, nhưng cũng đã tựnguyện gia nhập vào cộng đồng vương quốc Đại Việt bao gồm nhiều tộcngười, trong đó người Việt làm chủ thể Đây là thời kỳ hình thành và tồntại các vùng Mường Thời kỳ đó bao gồm quá trình tách khối Lạc Việtthành người Việt và người Mường, lúc kinh tế vùng đồng bằng đã pháttriển cao, lúc có sự giao lưu mạnh mẽ với văn hóa Hán và hình thành ngôn

Trang 23

ngữ, văn học truyền miệng Mường Khác với quan điểm của Cao Huy Đỉnh,

tác giả Phan Hồng Ngư trong bài viết: "Hình thành nên tác phẩm Đẻ đất đẻ nước là do sự gia công của nhiều thời đại" [66] cho rằng, Đẻ đất đẻ nước là

kết quả của một quá trình hình thành trong những giai đoạn muộn hơn giai

đoạn ra đời của thần thoại hay sử thi Theo tác giả, không nên xem Đẻ đất đẻ nước xuất hiện trong một thời kỳ nào nhất định Nó là kết quả của cả một quá

trình, có sự gia công của nhiều thời đại, và có sự đóng góp của nhiều nền vănhóa, trong đó có cả văn hóa Mường, Kinh ở các giai đoạn khác nhau

Nhận định của Cao Huy Đỉnh và Phan Hồng Ngư trong hai bài viết trên

không thể trả lời được câu hỏi Mo Mường ra đời vào khoảng thời gian nào vì Đẻ đất đẻ nước đã lưu hành rất sớm trong dân gian trước khi được quy tụ vào Mo

Mường ở giai đoạn muộn hơn Quan điểm của hai nhà nghiên cứu, giúp địnhhướng cho chúng tôi nhận thức về sự hình thành Mo Mường trên cơ sở các yếu

tố tự nhiên, kinh tế - xã hội và văn hóa trong một quá trình lịch sử lâu dài

Trong cuốn sách Diễn xướng Mo - Trượng - Mỡi [93], Bùi Thiện nhận

định: "Thời gian ra đời của các ông mo cũng chỉ khoảng năm trăm năm, bởi lẽ

ở trên bàn thờ của ông mo lâu năm nhất cũng chỉ có đến chín đời" [93, tr 20].Theo tác giả, không ai có thể nắm được cụ thể nguồn gốc xuất xứ của Mo.Trong dân gian Mường tồn tại một số huyền thoại giải thích Mo có từ thời đẻđất đẻ nước, Mo do Phật truyền dạy hay do người Mường phát minh ra và saunày học thêm của người mường Trời Sự giải thích về nguồn gốc ra đời của

Mo Mường được Bùi Thiện nêu ra như trên có tính huyễn hoặc và không giúptìm ra được sự thật về nguồn gốc ra đời Mo Mường Yếu tố huyễn hoặc ấykhông chỉ được thêu dệt nên bởi tâm thức dân gian mà còn do chính các ông

mo đã chủ đích làm cho nó trở nên ly kỳ, linh thiêng trước cộng đồng

Trong cuốn sách Tang lễ cổ truyền người Mường, Quyển 1 [113], Bùi

Huy Vọng khẳng định, sơ khởi của nghi lễ đám tang Mường chắc chắn chưa

có Mo mà chỉ có một ông thầy hay một người phụ trách lo phần cúng khấn

Trang 24

trong các nghi lễ Khi xã hội Mường phát triển đến một giai đoạn nhất địnhvới nền văn học dân gian phong phú gồm các truyện thơ dân gian thì nghi lễ

Mo mới xuất hiện trong tang lễ của người Mường Theo tác giả, ngườiMường không có chính sử ghi chép nên không thể nào biết chính xác nghề

Mo ra đời từ khi nào Đồng quan điểm với Bùi Thiện, tác giả cho rằng khi căn

cứ vào các đời làm Mo của một nôổ16 Mo thể hiện trên mâm thờ thân thư ông

Mo17 thì nghề Mo đã hình thành ở thời Lê Sơ (thế kỷ XV) vì nôổ Mo truyềnnghề được lâu nhất là khoảng 10 đời Như vậy, những ý kiến của Bùi HuyVọng cũng không tiến xa hơn được Bùi Thiện và nó cũng không soi tỏ mộtcách rõ ràng về thời điểm Mo Mường ra đời

Trong bài viết "Sự hình thành, tồn tại và vận động của Mo Mường"

[89], Bùi Văn Thành phân tích cơ sở chủ yếu hình thành Mo Mường ở hai

khía cạnh Thứ nhất, Mo Mường hình thành từ ứng xử của người Mường

trong giải quyết vấn đề về cái chết Sự ứng xử đó xuất phát từ quan niệm tìmmột thế giới khác cho người chết, do con người không dễ dàng chấp nhận sự

mất đi vĩnh viễn của đồng loại Thứ hai, Mo Mường hình thành như là một

sản phẩm sáng tạo văn hóa và như mọi hiện tượng văn hóa khác, sự hìnhthành của Mo chịu sự tác động của môi trường sống, kế mưu sinh, điều kiệnlịch sử, xã hội Như vậy, tác giả đã bước đầu nêu ra những yếu tố thuộc về cơ

sở nhận thức, cơ sở kinh tế xã hội và văn hóa của Mo Mường dù còn ở nhữngnét sơ lược

Trong quá trình nghiên cứu về Mo Mường, đa số các nghiên cứu chủyếu tiếp cận phần lời Mo dưới góc độ văn học dân gian Vì vậy, có rất ítnghiên cứu tiếp cận Mo Mường như một nghi lễ toàn vẹn và đề cập đến xuhướng biến đổi của Mo Mường nói chung, Mo Mường Hòa Bình nói riêng

16 Nôổ Mo là gốc khởi phát của một bộ Mo được sáng tác từ một vị sư tổ với quy mô, giọng điệu, cơ cấu lễ thức và hệ thống lời khác với các bộ Mo khác

17 Mỗi đời làm Mo tương ứng với một đôi đũa và một bát cơm trên mâm thờ Chúng tôi chưa phát hiện ông

mo nào khai man thêm đời làm Mo Tuy nhiên, không loại trừ khả năng có những ông mo cho thêm bát đũa

để tăng thêm uy tín cho nổô Mo của mình.

Trang 25

Bùi Kim Phúc trong cuốn sâch Nghi lễ Mo trong đời sống tinh thần người Mường [75] đê chỉ ra ba xu hướng nhìn nhận về Mo vă học Mo trong cộng đồng người Mường hiện nay Xu hướng thứ nhất, coi Mo lă việc của bậc

giă cả, lă câi thuộc về thời trước, lạc hậu, lỗi thời, vì vậy không nín lưu

truyền Xu hướng thứ hai, coi Mo lă di sản văn hóa quý bâu nhưng họ chưa tự chủ động trong việc học Mo vă bảo tồn Mo Xu hướng thứ ba, coi Mo lă di

sản văn hóa quý bâu, cần phải lưu truyền [75, tr 97] Tâc giả khẳng định,trong quâ khứ vă cả tương lai đê vă sẽ có những "cuộc câch mạng" về Mo vẵng mo được coi lă chủ thể quan trọng nhất trong "cuộc câch mạng đó" Ông

mo phải có những thay đổi trong hănh lễ vă điều chỉnh câch ứng xử để phùhợp với cuộc sống ở từng thời điểm vă hoăn cảnh cụ thể Nhìn chung, cuốnsâch mới chỉ tập trung phđn tích về vai trò của ông mo trong đời sống tinhthần người Mường trong một vùng mường cụ thể lă mường Bi ở Hòa Bình.Phần lời Mo, quâ trình tổ chức Mo không được đề cập, một số xu hướngbiến đổi khâc của Mo chưa được quan tđm Tâc giả cho rằng trong quâ khứ

vă tương lai đê vă sẽ có "những cuộc câch mạng về Mo" lă một nhận địnhkhông phản ânh đúng qua trình biến đổi lđu dăi của Mo Mường vì trong thực

tế, tuy Mo Mường đê có một quâ trình biến đổi nhưng thực sự mới chỉ cómột lần biến đổi mang tính "câch mạng"(18)

Trong cuốn sâch Nghi lễ trong chu kỳ đời người của người Mường ở Hoă Bình [25], Nguyễn Thị Song Hă nhận định, nhận thức của người Mường

ở Hòa Bình về Mo trong tang lễ đê có những thay đổi Người Mường khôngcòn quâ quan trọng việc phải tổ chức Mo linh đình để thể hiện vị thế gia đình

vă tỏ lòng hiếu kính của con châu với cha mẹ, ông bă lúc qua đời Tấm lònghiếu thảo, sự tôn kính của con châu đối với người chết được thể hiện qua cuộc

18() Năm 1945, câch mạng Thâng Tâm thănh công, tầng lớp lang đạo Mường bị xóa bỏ cùng với sự sụp đổ của chế độ quđn chủ tồn tại hăng nghìn năm ở Việt Nam đê tạo ra những biến đổi có tính bước ngoặt trong quâ trình tồn tại của Mo Mường Chúng tôi cho rằng, đđy lă lần biến đổi đê lăm Mo Mường thay đổi về chất vì có nhiều lễ thức Mo vă một số quan hệ xê hội liín quan đến Mo Mường không còn tồn tại

Trang 26

sống hàng ngày, qua việc chăm sóc cha mẹ, ông bà lúc đang còn sống NgườiMường cũng hiểu rằng, nếu tổ chức Mo cho người chết vượt quá khả năngkinh tế của gia đình, phải đi vay mượn nhiều sẽ là một gánh nặng đối với concháu Vì vậy, Mo trong tang lễ Mường sẽ ngày càng được tinh gọn căn cứ vàođiều kiện kinh tế của mỗi gia đình, từng dòng họ, song vẫn đảm bảo đượcnhững lễ thức quan trọng mang đậm sắc thái Mường, đồng thời phù hợp vớiquy định của Nhà nước và từng địa phương Các đêm Mo ngày càng đượcrút ngắn, đa số các cuộc Mo hiện nay được tiến hành trong một đêm Các lễ

thức Mo được giảm bớt, ngoài lễ thức bắt buộc là lễ Dâng ăn, thì mỗi đám

ma có thể tiến hành thêm một vài lễ thức khác theo yêu cầu của tang chủtrong khuôn khổ một đêm Mo

Trong cuốn sách Tang lễ cổ truyền người Mường, Quyển 2 [114], tác

giả Bùi Huy Vọng đã có những phân tích và đánh giá về xu hướng biến đổicủa Mo Mường biểu hiện ở số lượng lễ thức Mo và quan hệ giữa tang chủ vớiông Mo, Chí Chuốc(19) cũng như phường trống kèn trong quá trình tổ chức

Mo Qua sự phân tích và đánh giá của tác giả, chúng ta nhận thấy, so với Motrong tang lễ cổ truyền, số lượng các lễ thức Mo hiện nay đang có xu hướng

bị cắt giảm nhiều Hiện nay, tang lễ Mường chỉ còn tổ chức từ 3 đến 4 lễ thứcbắt buộc Ông mo trong xã hội Mường hiện nay đang có xu hướng hoạt độngchuyên nghiệp như một nghề Nhiều ông mo coi việc làm Mo như một nghềmưu sinh và trở nên khấm khá vì giờ đây ông mo không chỉ được tang chủ trảcông bằng xôi, thịt, rượu như trước đây mà họ còn được tang chủ trả tiền mặt

Âm nhạc trong Mo được thực hiện không chỉ thuần túy bởi phường trống kèn

mà ở nhiều vùng đã có sự tham gia của những người cao tuổi ở địa phương đểgiảm chi phí cho gia đình tang chủ Từ những biến đổi của lễ thức Mo, quan hệcủa tang chủ với ông mo và thầy Kèn(20), Bùi Huy Vọng nhận định, Mo Mường

19() Chí Chuốc là tên gọi dân gian của người Mường dùng để chỉ nghề của người chuyên đi giúp việc chuẩn bị

cho tang lễ Chí chuốc có trách nhiệm phụ giúp tang chủ và ông mo chuẩn bị đồ cúng tế Trong quan niệm dân gian Mường, Chí Chuốc là người gánh đồ cho linh hồn người chết về thế giới mường Ma

20() Dân gian Mường tôn trọng người thổi kèn trong đám tang nên gọi là Thầy kèn

Trang 27

đang có xu hướng thương mại hoá, đó là hệ quả từ sự chi phối của các quan hệkinh tế thị trường Nói chung, trong công trình nghiên cứu này, Bùi Huy Vọng

đã bước đầu trình bày và phân tích về xu hướng biến đổi của Mo Mường,nhưng vì trọng tâm của cuốn sách là nghiên cứu về tang lễ cổ truyền của ngườiMường nên nội dung này chỉ được tác giả đề cập như một sự gởi mở ban đầu

3 Một số vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu trong chuyên đề

Thứ nhất, hầu hết các công trình nghiên cứu đều tiếp cận Mo Mường

Hòa Bình từ góc độ văn hóa và xem xét nó trong trạng thái ổn định Đa sốcác nhà nghiên cứu chỉ tiếp cận phần lời Mo Mường Hòa Bình và xác định

nó là sử thi Một số công trình đã phân chia cấu trúc, phiên âm tiếng Mường

và dịch sang tiếng Việt khá trọn vẹn về lời của Mo Mường Hòa Bình Đây lànguồn tư liệu quan trọng cho quá trình nghiên cứu của chuyên đề vì ngônngữ chiếm dung lượng lớn trong tổng thể Mo, có giá trị đặc biệt quan trọng,quyết định sự tồn tại và thực hành Mo Mường Hòa Bình Tuy nhiên, ngônngữ Mo Mường Hòa Bình có vô số dị bản nên chúng tôi phải căn cứ vào nộidung lời Mo của nhiều công trình, trong đó tập trung vào một số công trìnhđược giới nghiên cứu đánh giá cao và trung thành với bản tính dân tộcMường khi dịch sang tiếng Việt

Thứ hai, việc nghiên cứu Mo Mường Hòa Bình đòi hỏi không chỉ xem

xét ở phần lời của nó như một tác phẩm văn học mà phải nghiên cứu nó vớitính cách là một nghi lễ tín ngưỡng Các công trình nghiên cứu ít quan tâmđến các bộ phận khác trong cấu trúc của Mo Mường Hòa Bình Chuyên đềnày không có tham vọng trình bày chi tiết các yếu tố hợp thành Mo MườngHòa Bình, nhưng sẽ trình bày những nét cơ bản nhất để có một hình dungtổng quát về nó

Thứ ba, một số công trình nghiên cứu đã đề cập đến cơ sở hình thành

và xu hướng biến đổi của Mo Mường Hòa Bình nhưng do nhiệm vụ nghiêncứu không đặt ra sự phân tích cụ thể các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành

và xu hướng biến đổi của nó Trong một số công trình, xu hướng giản lươc

Trang 28

các lễ thức Mo và sự biến đổi trong đời sống ông mo đã được đề cập đếnnhưng các xu hướng biến đổi khác chưa được quan tâm Các tác giả chưa đềxuất kiến nghị nhằm bảo tồn, phát huy giá trị tích cực, đồng thời hạn chế yếu

tố tiêu cực của Mo Mường Hoà Bình trong cuộc sống Do vậy, chuyên đề sẽdành một dung lượng nhất định để đề cập đến các xu hướng biến đổi của MoMường Hòa Bình, đồng thời chỉ ra nguyên nhân dẫn đến các xu hướng biếnđổi Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất một số kiến nghị nhằm hạn chế yếu tố tiêucực, bảo tồn và phát huy những giá trị tích cực của Mo Mường Hòa Bìnhtrong cuộc sống hiện nay

Thứ tư, Mo Mường Hòa Bình là một nghi lễ tín ngưỡng mang tính

nguyên hợp, có quy mô đồ sộ, phức tạp, bao quát nhiều lĩnh vực phản ánh Dovậy, một vấn đề đặt ra là làm thế nào để nghiên cứu Mo Mường Hòa Bìnhdưới góc độ triết học nhưng không phá vỡ tính chỉnh thể, nguyên hợp của nó.Giải quyết vấn đề này, đòi hỏi chúng tôi trước hết phải tiếp cận Mo MườngHòa Bình như một nghi lễ tang ma toàn vẹn trong quá trình hình thành vàbiến đổi lâu dài Sau đó, chúng tôi phân lập Mo Mường Hòa Bình thành thànhbốn lĩnh vực phản ánh cơ bản: Mo phản ánh tín ngưỡng của người Mường(Mo quy tụ nhiều loại hình tín ngưỡng dân gian Mường); Mo phản ánh nhậnthức của người Mường (Mo biểu hiện quan niệm về tự nhiên, con người và xãhội); Mo phản ánh thực tiễn đời sống của người Mường (Mo chứa đựng kinhnghiệm sản xuất như canh tác lúa, nuôi tằm, dệt lụa, làm nhà, nấu rượu cần vàcác phong tục tập quán như cưới hỏi, sinh nở, tang lễ, ); Mo phản ánh nghệthuật, thẩm mỹ của người Mường (Mo quy tụ các thể loại văn học dân gianthần thoại, sử thi, truyền thuyết, cổ tích, ca dao, tục ngữ , sân khấu, âm nhạc,

vũ đạo, kiến trúc, hội họa, của dân tộc Mường) Từ sự phân lập này, chúngtôi chỉ ra bản chất, cấu trúc và cơ sở hình thành của Mo Mường Hòa Bình

Trang 30

Chương 1

BẢN CHẤT VÀ CẤU TRÚC CỦA MO MƯỜNG HÒA BÌNH 1.1 Bản chất của Mo Mường Hòa Bình

Mo Mường hình thành và gắn bó với cuộc sống của người Mường từlâu đời, đồng thời cũng đã có lịch sử nghiên cứu gần một thế kỷ Tuy nhiên,quan niệm của các nhà nghiên cứu và của bản thân người Mường về MoMường đến nay vẫn còn tồn tại những khác biệt

Đặng Văn Lung khẳng định Mo là một từ gốc Mường được sử dụng đểchỉ ba nghĩa: Người hành lễ trong đám tang (ông mo); lời và nhạc hát lêntrong một đám tang (Mo); từng đơn vị lời và nhạc hát lên trong từng đêm(roóng Mo) Thông thường Mo là những bài ca được sử dụng để tiến hànhtang lễ, nhưng xét kỹ, Mo còn phục vụ các sinh hoạt tín ngưỡng khác như tếthành hoàng, cúng vía, [50, tr 23-24]

Phan Đăng Nhật xác định, Mo là một hình thức diễn xướng phức hợp

có ở các dân tộc Mường, Thái, Tày: "Mo đại bộ phận dùng trong nghi lễ, khicầu cúng như cầu sức khoẻ, cầu được mùa, cúng chữa bệnh, cúng mừng nhàmới, cúng tiễn hồn người chết Có một bộ phận nhỏ dùng ngoài nghi lễ, lúcnghỉ ngơi giải trí, khi vui mâm cơm chén rượu" [69, tr.14]

Bùi Kim Phúc cho rằng, Mo Mường là một loại hình tín ngưỡng củangười Mường và nhận định: "Đối với người Mường thì "Mo" theo nghĩa củađộng từ có nghĩa là xướng lên theo những làn điệu nhất định những bài cúng,những khúc Mo nhòm, những cát Mo kể trong các nghi lễ phục vụ đời sốngcủa từng gia đình và cộng đồng Về mặt danh từ, nó chỉ những người làmnghề Mo (ông Mo) và những bài Mo, những áng Mo" [75, tr 31] Theo tácgiả, tang lễ chỉ là một nghi lễ đặc biệt có sử dụng Mo, ngoài ra Mo còn được

sử dụng ở các nhóm nghi lễ khác như: cầu phúc lộc, gọi linh hồn con người,trừ tà ma để cầu yên và cầu sức khỏe

Trang 31

Mặc dù, quan niệm của Đặng Văn Lung, Phan Đăng Nhật và Bùi KimPhúc có những sự khác biệt nhất định nhưng đều thừa nhận Mo được sửdụng ở nhiều nghi lễ trong sinh hoạt tín ngưỡng của người Mường Tang lễcủa người Mường chỉ là một trường hợp có sự thực hành Mo Tuy nhiên,một số nhà nghiên cứu khác như Trần Từ, Bùi Thiện, Bùi Văn Thành, BùiHuy Vọng, lại khẳng định Mo chỉ được sử dung trong tang lễ.

Trần Từ cho rằng Mo là một từ gốc Thái có ba nghĩa: Danh từ chỉngười hành lễ trong đám tang; danh từ chỉ tang ca mà bố Mo phải xướng lêntrong quá trình hành lễ; động từ chỉ hành động ngâm tang ca lên trong đámtang [110, tr 195]

Bùi Thiện quan niệm, Mo Mường là một loại sử thi dân gian: "Mo chỉhành lễ cho người qua đời (hồn) Mo tức tang ca trong tang lễ Tóm lại, Mocúng hồn người chết còn Trượng và Mỡi cúng vía cho người sống, chạychữa cho người bị ốm được mạnh khỏe Mo còn khác với Trượng và Mỡi vềđiệu ngâm và cách thức hành lễ [97, tr 113]

Bùi Văn Thành giải thích: "Nghĩa từ nguyên của từ Mo có thể đượchiểu là: Tiếng kêu nhại tiếng con thú của người chủ trò trong nghi lễ hoátrang cổ xưa diễn tả việc săn bắn" [88, tr 28] Tuy vậy, vấn đề tại sao ngườiMường vận dụng nghi lễ hoá trang này vào tang lễ còn là ẩn số chưa thể giảithích trọn vẹn Theo tác giả, Mo Mường là nghi lễ tín ngưỡng trung tâmtrong đám tang của người Mường và chỉ được cử hành trong tang lễ

Bùi Văn Nợi cho rằng: "Mo Mường là sử thi thần thoại được diễnxướng trong đám tang của người Mường Mo Mường cùng với nghi lễ làcông việc làm cho cái chết trở thành văn" [71, tr 2] Ông giải thích "côngviệc" bao gồm việc hành Mo và hành lễ, "cái chết" là trong phạm vi của dântộc Mường

Bùi Huy Vọng quan niệm, Mo là một loại hình nghi lễ đặc biệt mangtính linh thiêng, phổ biến, được tiến hành trong tang lễ của người Mườngvới chủ tế là thầy Mo Ở phương diện lời Mo, tác giả cho rằng, Mo là cácbài cúng, các câu chuyện dân gian truyền miệng dạng văn vần được các thầy

Trang 32

Mo diễn xướng trong nghi lễ đám ma theo lối ngâm, vịnh, theo giai điệu vàniêm luật nhất định" [114, tr 94].

Người Mường ở các vùng mường khác nhau có quan niệm khác nhau

về Mo Mường Người Mường ở mường Vang (huyện Kim Bôi - Hòa Bình) vàmường Động (huyện Lạc Sơn - Hòa Bình) phân biệt sự khác nhau giữa Mo,Trượng và Mỡi: Mo là nghi lễ liên quan đến hồn người chết trong đám tang;Trượng là nghi lễ có nhiệm vụ trừ đuổi ma tà hại người, bảo vệ người, chữabệnh cho người sống; Mỡi là nghi lễ có nhiệm vụ bảo vệ, chăm sóc vía, đuổi

ma tà, chữa bệnh cho người ốm21 Mo khác với Trượng và Mỡi thể hiện qua

sự phân biệt về đối tượng tín ngưỡng, chức năng tín ngưỡng, nội dung vàphương thức tiến hành Hiện nay, người Mường ở vùng mường Bi (huyện TânLạc - Hoà Bình), mường Phù Yên (Sơn La) và các vùng mường ở Thanh Hóagọi nhiều loại nghi lễ như: cúng hồn, cầu sức khỏe, cúng vía, là Mo vànhững người thực hiện nghi lế ấy là ông mo

Từ những quan niệm trên cho thấy, Mo Mường vừa được coi là một loạihình tín ngưỡng riêng biệt, vừa là một nghi lễ tang ma biểu hiện nhiều hình thứctín ngưỡng khác nhau; Mo Mường vừa tồn tại trong nghi lễ tang ma, vừa tồn tại ởcác nghi lễ khác ngoài tang ma; Mo Mường vừa được hiểu là một chỉnh thể thốngnhất gồm nhiều thành tố, vừa được hiểu chỉ là phần lời trong quá trình diễn xướng

và được xác định là một thể loại văn học Nguyên nhân tồn tại những khác biệttrong quan niệm về Mo Mường trước hết xuất phát từ góc độ tiếp cận và thực địanghiên cứu Mo Mường của mỗi nhà nghiên cứu Bên cạnh đó, do Mo Mường cóquy mô đồ sộ, phức tạp, được hình thành do sự quy tụ nhiều yếu tố văn hóaMường, các yếu tố văn hóa này được kết hợp tạo thành chỉnh thể Mo hoặc chúng

có thể tồn tại như một yếu tố độc lập ngoài Mo22

Chúng tôi cho rằng, Mo Mường Hòa Bình nói riêng, Mo Mường nói

21 Trượng và Mỡi có nhiều điểm tương đồng nhưng Trượng do đàn ông đảm nhận (ông trượng ), Mỡi do phụ

nữ đảm nhận (bà mỡi).

22

Trong thực tế, ở mỗi hoàn cảnh, sự kiện, phần lời của Mo, đặc biệt là Mo kể chuyện (Mo Tlêu) có thể được chính ông mo đọc trong những sự kiện ngoài tang lễ như cúng lên nhà mới (đọc đoạn làm nhà), đọc trong khi lao động (đọc chặt cây Chu đồng), ngâm trong lễ cưới hỏi (đoạn Lang Đá Cần lấy vợ), ngâm khi làm lễ cho trẻ mới sinh (đẻ trứng Điếng) Tuy nhiên, khi đó nó không mang bản chất là Mo nữa mà tồn tại với tư cách là một yếu tố văn hóa được sinh hoạt trong cộng đồng, nhưng vì do ông mo đã đọc trong tang lễ nên quen gọi là Mo.

Trang 33

chung chỉ được tổ chức trong tang lễ23 Mo là một chỉnh thể được tạo thành bởi

hệ thống lễ thức và lời ca gắn với quá trình hành lễ của ông mo Các lễ thức

Mo và lời Mo được tạo thành từ sự kế thừa và sáng tạo các yếu tố văn hóaMường của dân gian Mường và ông mo Do vậy, một số yếu tố văn hóa có thểtồn tại độc lập ngoài Mo và không còn thuộc về Mo mặc dù người Mường vàđôi khi là một số nhà nghiên cứu vẫn quen gọi nó là Mo Từ quan niệm của cácnhà nghiên cứu về Mo Mường (chủ yếu là nghiên cứu về Mo Mường ở HòaBình) và thực tế tồn tại của Mo Mường ở Hòa Bình trong sự phân biệt vớiTrượng và Mỡi, chúng tôi quan niệm:

Mo Mường Hòa Bình là nghi lễ tang ma của người Mường ở Hòa Bình được hình thành dựa trên sự kế thừa, kết hợp, vận dụng sáng tạo các yếu tố văn hóa Mường của dân gian Mường và ông mo (trong từng thời điểm, hoàn cảnh cụ thể) để tạo nên hệ thống lễ thức và lời ca nhằm thực hiện các thủ tục tiễn đưa người chết về với tổ tiên của họ ở thế giới mường Ma

Mo Mường Hòa Bình không phải là toàn bộ tang lễ nhưng là nghi lễ

quan trọng nhất, chiếm gần như toàn bộ quá trình tổ chức tang lễ của ngườiMường ở Hòa Bình Người có năng lực thiêng đứng ra tổ chức và thực hiệnnghi lễ Mo được gọi là ông mo hay bố mo; quá trình hành lễ (tiến hành các lễthức Mo và ngâm lời Mo) của ông mo trong nghi lễ Mo được gọi là làm Mohay mo Xét trên phương diện tổng thể, Mo Mường Hòa Bình tương đồng với

Mo Mường Thanh Hóa và Mo Mường Sơn La vì chúng cùng là một loại hìnhnghi lễ và thực hiện cùng một chức năng tín ngưỡng Tuy nhiên, ở phạm vi cụthể thì Mo Mường Hòa Bình khác với Mo Mường ở các vùng khác về quy mô

lễ thức Mo, quy mô lời Mo và nội dung của lời Mo

Trong đám tang của người Mường ở Hòa Bình, một số lễ thức vừa doông Mo, vừa do ông Trượng đảm nhiệm Một số người chỉ làm Trượng nhưng

23 Khẳng định này của chúng tôi dựa trên quan điểm của những nhà nghiên cứu có uy tín về văn hóa Mường

và Mo Mường là Bùi Thiện, Bùi Huy Vọng, Bùi Văn Thành và chuyên gia dân tộc học hàng đầu Việt Nam

và thế giới về dân tộc Mường là Trần Từ (Nguyễn Đức Từ Chi).

Trang 34

không làm Mo, nhưng những người làm Mo thường làm luôn công việc củaTrượng nên người Mường gọi là ông Mo - Trượng Vì vậy, trong lời xưng

danh, các ông mo cũng thương xưng danh mình là Chàng, Trò, Mo, Trượng.

Do vậy, có một số lễ thức trong đám tang vừa có thể coi là của Mo nhưng cũng

có thể coi là của Trượng như lễ thức Nhập quan, Tống trùng, Kẹ và Đạp ma.

Đối tượng chính quyết định sự thực hành nghi lễ Mo là linh hồn ngườichết, tuy nhiên người Mường cũng đồng thời thờ cúng tổ tiên và các vị thầnlinh khác trong tín ngưỡng của họ Thông thường, nghi lễ Mo được tiến hànhtrọn vẹn là dành cho người già Những người chết trẻ24 và chết bất thường thìchủ yếu làm các nghi lễ về trừ tà, trừ trùng rồi làm các thủ tục nhanh gọn đểtiễn đưa người chết về mường Ma

1.2 Cấu trúc của Mo Mường Hòa Bình

Từ quan niệm về bản chất của Mo Mường Hòa Bình sẽ quy định việcxác định cấu trúc của nó Chúng tôi cho rằng, Mo Mường Hòa Bình là mộtnghi lễ tang ma tồn tại trong tính chỉnh thể được tạo thành bởi một hệ thốngcác lễ thức Mo, lời Mo và quá trình hành lễ của ông mo

1.2.1 Hệ thống lễ thức Mo Mường Hòa Bình

Nghi lễ Mo Mường Hòa Bình thể hiện cách ứng xử của người Mườngvới linh hồn người chết, biểu hiện bằng hành động tiễn đưa linh hồn ngườichết về mường Ma và thờ phụng là dâng vật lễ, truyền đạt tri thức văn hoácho linh hồn người chết Hệ thống lễ thức hình thành trên nền tảng quan niệmcủa người Mường về linh hồn và các thế giới liên quan đến linh hồn Sự chịphối của quan niệm Mường về linh hồn và thế giới dẫn đến sự hình thành các

lễ thức Mo Mường Hòa Bình Lễ thức Mo Mường Hòa Bình là tổng hòa củayếu tố cảm xúc tín ngưỡng, hành động tín ngưỡng và vật tín ngưỡng25 Lễthức Mo Mường Hòa Bình tồn tại rất phức tạp do Mo Mường Hòa Bình phải

24 Người Mường không tổ chức tang lễ cho người chết từ khoảng 12 - 13 tuổi trở xuống (tuổi Lân) Những người ở tuổi này sau khi chết được gọi là ma Chenh nên không có Mo trong tang lễ.

25 Cảm xúc tín ngưỡng biểu hiện chủ yếu ở cảm xúc đau buồn của con cháu, thân nhân người chết và trạng thái cảm quan có tính chất lễ hội đối với những người tham dự vào quá trình tổ chức Mo Hành động tín ngưỡng gồm hành động tạo ra tính thiêng của ông mo, của thân nhân người chết và người viếng Vật tín ngưỡng bao gồm vật tạo ra tính thiêng (khót, đòng, trống đồng ) và các vật thờ cúng (đồ tế cho người chết, đồ ăn uống)

Trang 35

thực hiện nhiều nhiệm vụ tín ngưỡng khác nhau Trong tang lễ của ngườiMường ở Hòa Bình, phù hợp với mỗi nhiệm vụ tín ngưỡng là một lễ thứctương ứng Lễ thức Mo Mường Hòa Bình là cơ sở cho sự hình thành lời Motương ứng và góp phần thực hiện chức năng tín ngưỡng của Mo.

Bùi Huy Vọng xác định Mo Mường Hòa Bình26 gồm 10 lễ thức: Mo nhậpsăng thức gọi hồn ra; Đẻ Mo, nhờ Mo; Mo kể công ơn cha mẹ sinh thành; Molên trời; Mo nhìn chạ đống; Mo đẻ đất đẻ nước, đẻ ra muôn loài; Mo cổn chukéo lội - săn muông; Mo trâu; Mo nhà xe; Mo nhắn nhủ [115]

Bùi Văn Nợi sau một thời gian sưu tầm tương đối đầy đủ tư liệu về mộtđám tang lớn của Lang Cun, trên cơ sở nếp Mo của ông mo Bùi Văn Đù27, đãchia kết cấu Mo theo 16 ngày đêm tương ứng với 14 lễ thức: đêm thứ nhất - Tắtnghỉ (tần tịch); đêm thứ hai - Vào áo quan; đêm thứ ba - Nhìn họ; đêm thứ tư,thứ năm - Mo lên trời; đêm thứ sáu - Đi chợ sông Tị (chợ chàng Khò chàngKhen); đêm thứ bảy, thứ tám - Mo vườn hoa; ngày thứ chín - Chơi chúa quan;đêm thứ mười - Lên trời xin đuông; đêm thứ mười một, mười hai - Đi quốc nam(xuống âm phủ); đêm thứ mười ba - Mo trống đồng, mo trâu; ngày thứ mười bốn

- Mo nhà xe, quay xung quanh nhà xe; sáng ngày thứ mười lăm - Bữa cuối (bữatận); ngày thứ mười sáu - Bữa lại mặt [71, tr 22-28]

Bùi Văn Thành cho rằng, Mo Mường Hòa Bình28 có 21 lễ thức cơ bảngồm: Tống Trùng, Nhập quan, Phát tang, Kẹ, Tần tịch, Mở Nài, Đạp ma, Mời ăncơm hồi báo, Thủ tục của ông mo (gồm nhiều lễ thức về các thủ tục ban đầu thểhiện sự thần thiêng của Mo), Nhìn họ - nhìn mường, Lên trời - xuống đất, Ăn cỗnhắm và nghe kể chuyện xưa, Tế trâu, Tế trống đồng, Tế nhà xe, Nhắn lại, Vềrừng, Chia của, Lấp của mả, Nộp lược kéo, Mãn tang [123]

Như vậy, mỗi nhà nghiên cứu xác định Mo Mường Hòa Bình có sốlượng lễ thức khác nhau Số lượng lễ thức thay đổi phụ thuộc vào từng giaiđoạn lịch sử, từng đối tượng của nghi lễ Mo, các quy định xã hội của vùng

26 Thực địa nghiên cứu Mo Mường của Bùi Huy Vọng là ở huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình.

27 Ông mo Bùi Văn Đù ở xóm Kha, xã Địch Giáo, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình.

28 Nhà nghiên cứu Bùi Văn Thành chủ yếu nghiên cứu Mo ở huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình.

Trang 36

mường và điều kiện của tang chủ

Dựa trên thống kê của các nhà nghiên cứu, hồi ức của người Mường,

sự tồn tại thực tế của Mo Mường Hòa Bình và mức độ phổ biến của các lễthức ở các vùng mường Hòa Bình, chúng tôi xác định nghi lễ Mo Mường HoàBình có 12 lễ thức cơ bản gồm: Nhập quan, Tống Trùng, cúng thần Kẹ, Đạp

ma, Dâng ăn, Thủ tục của ông Mo, Nhìn họ nhìn Mường, Mo lên trời xuống đất, Mo kể chuyện, Mo nhà xe, Chia cắt chia lìa, Về rừng

-(1) Lễ thức Nhập săng: Mỗi người sinh ra tương ứng với một cây silinh hồn trên mường Trời, cây si chết làm người đó chết theo Khi có mộtngười chết, họ hàng, con cháu túc trực bên thi hài và chờ đến giờ lành sẽ đưaxác người chết vào quan tài (săng)

(2) Lễ thức Tống Trùng: Người Mường quan niệm nếu một người chếtvào giờ xấu thì ma Trùng sẽ làm thân nhân người quá cố chết theo nên phải tổchức lễ đuổi ma Trùng, xin ma Trùng nhận đồ lễ để không làm hại đến thânnhân của người chết

(3) Lễ thức cúng thần Kẹ: Khi người sống, hồn (wại) gắn bó với xácnên nó mang những chứng bệnh của xác, vì vậy khi người chết thì phải mờithần Kẹ (vị thần chưa bệnh trên trời) xuống chữa bệnh cho hồn (khang) đểhồn hết bệnh trước khi về với tổ tiên

(4) Lễ thức Đạp ma: Hồn (wại) gắn bó với xác trong suốt cuộc đờicủa một người nên khi người đó chết, nó lưu luyến không chịu rời xác Vìvậy, ông mo phải dùng sức mạnh thiêng để ra lệnh cho hồn (khang) rờikhỏi xác lên ngự trên bàn hương giường thờ để con cháu thờ phụng vànghe lời giáo huấn của ông mo

(5) Lễ thức Dâng ăn: Sau khi hồn đã lên bàn hương giường thờ thìcon cháu dâng cơm, rượu, cho hồn, ông mo mời hồn về ăn nhiều bữa đểhồn được ăn uống no say

(6) Lễ thức Thủ tục của ông mo: Sau khi giải quyết các vấn đề cấp thiếtban đầu cho hồn, ông mo phải tiến hành các thủ tục chiêu tập sức mạnh thiêng

Trang 37

của mình để đủ năng lực tiến hành các công việc tiếp theo trong nghi lễ Mo.Ông mo thực hiện một lễ thức lớn để khởi cầu sư tổ (nôổ) ban phát quyềnnăng linh thiêng và gọi dậy các đồ vật hành lễ (khót khéng, kiếm, mũ áo, cờ,đèn…) phát tiết sức mạnh thiêng Lễ thức này gồm nhiều nghi thức được thựchiện qua nhiều bài khấn: Mời sư tổ, Mượn Mo, Đẻ khót, Gọi khót dậy, Đẻgươm, Kể về đèn, Kể về xống áo ông mo,

(7) Lễ thức Nhìn họ - Nhìn mường: Sau khi đã có năng lực thiêng,ông mo nhờ thân thư29 của mình dẫn dắt hồn đi đến mường Ma để gặp mặt

tổ tiên và xem đất đai, ruộng vườn để chuẩn bị về sống vĩnh viễn ở đó.Trên đường đi, hồn thăm lại các mường là nơi chôn rau cắt rốn của mình.Trong chuyến đi của hồn đến nhận tổ tiên thì con cháu cũng thực hiện sựngưỡng vọng, thờ phụng tổ tiên của mình

(8) Lễ thức Lên trời - Xuống đất: Sau khi Nhìn họ - Nhìn mường, ông

mo nhờ thân thư của mình dẫn hồn lên mường Trời qua chặng đường dài giankhổ để hồn đối kiện, cãi tội cho mình trước toà án vua Trời, hồn chuộc số, xinđuông (hình dáng) mới để tiếp tục được sống ở một kiếp khác

(9) Lễ thức Mo kể chuyện30: Sau khi đã chuẩn bị xong mọi thứ ởmường Ma và hoàn thành các công việc ở mường Trời, hồn người chết trở vềnhà Hồn được nghe ông mo kể về quá trình hình thành trời đất, con người,mường nước, nhà cửa, vật dụng sinh hoạt, sự hình thành lang, vua cùngnhững chiến công của các thế hệ người Mường nhằm hình thành cho hồn sựhiểu biết, lòng tự hào về cội nguồn dân tộc để hồn bước vào cuộc sống mới

(10) Lễ thức Mo nhà xe: Về mường Ma, hồn cần một ngôi nhà đẹp

để sinh sống Vì vậy, thân nhân người chết dâng cho hồn một ngôi nhà

29 Thân thư ông mo hay còn gọi là "thánh thư", "thánh sư", "thiên thư" là anh linh của sư tổ ông mo Thân thư ông mo được coi là một lực lượng siêu nhiên hỗ trợ năng lực thiêng cho ông mo trong quá trình làm Mo Thân thư của ông mo sẽ dẫn hồn người chết thực hiện các chuyến đi lên trời, xuống đất,

30 Người Mường quan niệm việc người chết được nghe Mo kể chuyện là một niềm phấn khởi và cũng là một

ân huệ vì hồn ma có dịp để được biết đến những kiến thức huyền bí cao xa Hành trình lên mường Trời để chuộc số, xin đuông thì người chết nào cũng phải trải qua nhưng phải là người thức giả mới hiểu được lịch sử phát triển của tự nhiên và xã hội trong Mo kể chuyện Vì vậy, thông thường chỉ những nhà sang trọng quyền

quý mới tổ chức được Mo kể chuyện.

Trang 38

(Nhà xe, Nhà thờ trời) để ở và tổ chức lễ hội cho hồn được tham gia vuichơi (ném còn, tấu chiêng, hát ví, mua bán…) lần cuối trong tư cách mộtthành viên của cộng đồng.

(11) Lễ thức Chia cắt chia lìa: Thời khắc vĩnh biệt giữa người chết vớingười sống đã đến, ông mo thay lời người chết nói lời chia biệt và căn dặncon cháu ở lại cách đối nhân xử thế

(12) Lễ thức Về rừng: Ngày chôn người chết, tang chủ tổ chức lễ đưahồn về mường Ma

Mỗi lễ thức trên có chức năng, thành phần tham dự và vật lễ khác nhau.Diễn biến của mỗi lễ thức có sự khác biệt nhưng đều được tiến hành bởi ông mo.Mười hai lễ thức này phản ánh đầy đủ quan niệm và cách ứng xử của ngườiMường với thể xác và linh hồn người chết Cuộc Mo nào thực hiện đầy đủ các lễthức này mới được xem là đã hoàn thành cơ bản nhiệm vụ của người sống vớingười chết Tuy nhiên, trong thực tế, hầu như không có một đám tang nào củalang đạo và dân thường trong xã hội trước đây cũng như đám tang của ngườiMường hiện nay thực hiện đầy đủ các lễ thức trên

1.2.2 Hệ thống lời Mo Mường Hòa Bình

Lời Mo Mường Hòa Bình có quy mô rất lớn, có thể nên tới hơn 30.000câu thơ Mo Một số công trình nghiên cứu tiếp cận theo nội dung và tính chất lời

Mo đã chia lời Mo thành Mo sử thi, Mo nhòm, Mo cuổi lìa, Mo nghi lễ hoặc chia thành các roóng Mo với ba bộ phận là Mo Tuông, Mo Vái và Mo Tlêu Trên thực

tế, chỉ một phần rất ít lời Mo được ông mo sử dụng trong tang lễ của ngườiMường ở Hòa Bình vì không một đám tang nào có thể tổ chức đầy đủ các lễthức Mo và mỗi ông mo chỉ có thể nhớ được một dung lượng lời Mo nhất định.Lời Mo được ông mo ngâm lên trong mỗi cuộc Mo không giống như các côngtrình nghiên cứu, sưu tầm Mo đã công bố Bởi vì, lời Mo đã được các nhà sưutầm công bố là tập hợp lời của nhiều ông Mo trong khi mỗi cuộc Mo chỉ được

mo bằng lời của một ông mo Mỗi ông mo có một hệ thống lời riêng vì chúng

Trang 39

được hình thành từ các nôổ Mo khác nhau Mo Mường Hoà Bình có nhiều nôổ

Mo khác nhau đang tồn tại, tương ứng với nhiều hệ thống lời Mo

Lời Mo Mường Hòa Bình trong quá trình bảo lưu và vận dụng có sựbiến đổi, xuất hiện các dị bản vì Mo chỉ được truyền khẩu31 và do quy mô lời

Mo rất lớn nên các ông mo không thể ghi nhớ đầy đủ và chính xác Sự biếnđổi của lời Mo còn do mỗi vị sư tổ chỉ có khả năng sáng tác một một dunglượng roóng Mo và câu thơ Mo nhất định nên đòi hỏi các ông mo phải sángtác thêm hoặc phải học thêm các ông mo ở các nôổ Mo khác để đáp ứng yêucầu hành lễ Việc biến đổi của lời Mo còn do thực tế hành lễ đòi hỏi, có thể

mo liên tục hay không liên tục trong một đến hai ngày đêm (trong giai đoạnhiện nay) và cũng có thể kéo dài vài ngày đêm, vài tuần, vài tháng (thời kỳtrước năm 1945) nên dung lượng lời Mo cũng thay đổi, được thu gọn hay mởrộng Mo phải thay đổi về lời để phù hợp với từng tên tuổi, gia cảnh, quêhương, địa vị xã hội,… của người chết, đồng thời phải phù hợp với điều kiệnkinh tế của tang chủ và quy định của xã hội ở mỗi nơi, mỗi thời điểm Nănglực và tính chủ động của ông mo cũng quy định sự biến đổi của lời Mo vì mỗiông mo trong khi hành lễ có thể ứng tác thêm hay bớt một số đoạn Mo tuỳtheo hoàn cảnh, thời gian và sức khoẻ của ông

Những yếu tố chi phối nêu trên tất yếu sẽ đưa đến kết quả mỗi cuộc Mo

sẽ có một lời Mo riêng Do vậy, có bao nhiêu đám tang thì sẽ có bấy nhiêu dịbản lời Mo đã, đang và sẽ xuất hiện Mặc dù tồn tại nhiều dị bản khác nhau vềquy mô và một số chi tiết nhưng về cơ bản nội dung lời Mo vẫn có sự thốngnhất Nội dung lời Mo Mường Hòa Bình32 chủ yếu nói về hồn, các thế giớitrong hành trình và tồn tại của hồn Về thực chất, lời Mo nói về con người(người Mường) và thế giới xung quanh Lời Mo chứa đựng phong phú các giátrị phản ánh về hiện thực đời sống lịch sử, xã hội; cách ứng xử với hiện thực

31 Người Mường không có chữ viết riêng, hiện nay hầu hết các ông mo vẫn không sử dụng chữ quốc ngữ để ghi lại lời Mo hay dùng văn bản Mo khi hành lễ Tuy nhiên, một số ông mo có ghi lại lời Mo để dễ học thuộc.

32 Trong khuôn khổ một chuyên đề, chúng tôi không có điều kiện trình bày tóm tắt nội dung phần lời Mo Mường Hòa Bình vì dung lượng lời quá đồ sộ Có thể xem nội dung tóm tắt phần lời Mo Mường Hòa Bình

trong cuốn sách Vốn cổ văn hóa Việt Nam (Trương Sỹ Hùng, Bùi Thiện (1995), Vốn cổ văn hoá Việt Nam, Tập 1, Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội) và cuốn sách Tang lễ cổ truyền người Mường (Bùi Huy Vọng (2011), Tang lễ cổ truyền người Mường, Quyển 3, Nxb Lao động, Hà Nội).

Ngày đăng: 25/02/2017, 17:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w