1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TÀI LIỆU THAM KHẢO đề TÀI BIẾN đổi cơ cấu XÃ hội GIAI cấp ở THÀNH PHỐ VŨNG TÀU HIỆN NAY

76 389 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 590 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sau 30 năm thực hiện đường lối đổi mới, xã hội ở Việt Nam đã diễn ra một quá trình biến đổi to lớn trên tất cả các mặt, các lĩnh vực của đời sống xã hội cả về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội... Sự biến đổi về kinh tế (kết cấu kinh tế) đã dẫn đến sự biến đổi về cơ cấu xã hội, nhất là cơ cấu xã hội giai cấp. Sự biến đổi của cơ cấu xã hội giai cấp trên đất nước ta thời gian vừa qua đặt ra nhiều vấn đề về chính trị, xã hội cần nghiên cứu và giải quyết, đó là những thách thức của sự mất cân đối về cơ cấu giai cấp, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu nguồn nhân lực…

Trang 1

Sau 30 năm thực hiện đường lối đổi mới, xã hội ở Việt Nam đã diễn ramột quá trình biến đổi to lớn trên tất cả các mặt, các lĩnh vực của đời sống xãhội cả về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Sự biến đổi về kinh tế (kết cấukinh tế) đã dẫn đến sự biến đổi về cơ cấu xã hội, nhất là cơ cấu xã hội - giaicấp Sự biến đổi của cơ cấu xã hội - giai cấp trên đất nước ta thời gian vừaqua đặt ra nhiều vấn đề về chính trị, xã hội cần nghiên cứu và giải quyết, đó lànhững thách thức của sự mất cân đối về cơ cấu giai cấp, cơ cấu ngành nghề,

cơ cấu nguồn nhân lực…sự phân hóa giữa thành thị và nông thôn, giữa ngườigiàu và người nghèo, giữa các giai tầng trong xã hội, vấn đề giữ vững địnhhướng xã hội chủ nghĩa trong xây dựng và phát huy cơ cấu xã hội - giai cấpcủa thời kỳ quá độ; xây dựng và củng cố khối liên minh giai cấp giữa giai cấpcông nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, tạo nền tảng củng cốkhối đại đoàn kết toàn dân tộc; v.v…

Thành phố Vũng Tàu thuộc tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu là một thành phốbiển, du lịch và dịch vụ dầu khí, nằm trong tam giác phát triển kinh tế khuvực miền Đông Nam Bộ Trong hơn hai thập kỷ vừa qua, với những điềukiện thuận lợi về tự nhiên đã tạo điều kiện cho thành phố Vũng Tàu pháttriển năng động, cơ cấu kinh tế về công nghiệp và dịch vụ tăng mạnh, theo

đó cơ cấu xã hội - giai cấp cũng có những biến đổi Biến đổi cơ cấu xã hội

- giai cấp ở thành phố Vũng Tàu vừa tạo điều kiện thuận lợi cho sự pháttriển kinh tế - xã hội của thành phố, đồng thời nó cũng làm xuất hiện nhữngvấn đề xã hội cần tháo gỡ

Nắm vững hiện trạng và dự báo xu hướng biến đổi về cơ cấu xã hội giai cấp có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với lãnh đạo, chính quyền thànhphố, để trên cơ sở đó có những giải pháp phát triển kinh tế bền vững, củng cố

Trang 2

-nền tảng chính trị - xã hội của chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ quá độ, trongquá trình đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng thành phố giàumạnh Để sự biến đổi cơ cấu xã hội - giai cấp diễn ra có kế hoạch, chủ động,giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong quá trình phát triển đòi hỏi Đảng

bộ thành phố Vũng Tàu phải điều chỉnh sự biến đổi cơ cấu xã hội theo hướng

nào? Vì vậy, chủ đề “Biến đổi cơ cấu xã hội - giai cấp ở thành phố Vũng Tàu hiện nay” có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc.

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ BIẾN ĐỔI CƠ CẤU XÃ HỘI - GIAI CẤP Ở THÀNH PHỐ VŨNG TÀU,

TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU HIỆN NAY 1.1 Một số vấn đề lý luận về biến đổi cơ cấu xã hội - giai cấp

1.1.1 Cơ cấu xã hội, cơ cấu xã hội – giai cấp

Cơ cấu xã hội

Để hiểu rõ cơ cấu xã hội - giai cấp, trước hết cần làm rõ quan niệm về cơcấu xã hội

Cơ cấu xã hội là một khái niệm, thuật ngữ của một số ngành khoa học:triết học, chính trị học, chủ nghĩa xã hội khoa học, xã hội học… Tùy theo đốitượng, góc độ nghiên cứu mà các khoa học có quan niệm về cơ cấu xã hộikhác nhau và tập trung nghiên cứu một phân hệ, hay một loại hình, lát cắt đặctrưng của cơ cấu xã hội

Mặc dù xuất phát từ cách tiếp cận khác nhau và đưa ra các ý kiến khácnhau, nhưng về cơ bản, các quan niệm đều chỉ ra rằng: cơ cấu xã hội là môhình các mối quan hệ mang tính chức năng - cấu trúc giữa các thành phần cơbản trong một hệ thống xã hội; những thành phần cơ bản trong một hệ thống

xã hội và mối liên hệ, quan hệ giữa chúng tạo cơ sở, điều kiện cho sự vậnđộng, phát triển của hệ thống xã hội trong mỗi thời kỳ lịch sử cụ thể: “Cơ cấu

xã hội là cách thức tổ chức của một hệ thống xã hội nhất định; là sự thống

Trang 3

nhất tương đối bền vững của các nhóm xã hội, tạo nên tính ổn định và pháttriển của hệ thống xã hội” [14, tr.112-113].

Tuy còn có những ý khác nhau trong nội dung quan niệm về cơ cấu xãhội, song trong phân tích cơ cấu xã hội, thường phân tích và làm rõ: các yếu

tố cấu thành hệ thống xã hội (trả lời câu hỏi: hệ thống xã hội được cấu thànhbởi các yếu tố nào?); vị trí, vai trò, vị thế của các yếu tố cơ bản cấu thành hệthống xã hội (vị trí, chức năng của mỗi yếu tố); mối liên hệ giữa các yếu tốcấu thành hệ thống xã hội; tính quy luật của các mối liên hệ giữa các yếu tố

tạo nên tính chỉnh thể của hệ thống xã hội Như thế, hạt nhân trong quan niệm, phân tích cơ cấu xã hội là các yếu tố cấu thành hệ thống xã hội và mối liên hệ giữa chúng Đó là hai mặt của cơ cấu xã hội.

Hiện nay còn có những tên gọi, cách tiếp cận khác nhau về yếu tố cấuthành hệ thống xã hội: thành phần xã hội, thành tố xã hội, nhóm xã hội, tậpđoàn xã hội,… Xã hội học hướng chủ yếu vào các nhóm xã hội; triết học; Chủnghĩa xã hội khoa học hướng chủ yếu vào các tập đoàn xã hội, các giai cấp vàtầng lớp xã hội; chính trị học hướng chủ yếu vào các thành phần xã hội Cáckhoa học xã hội ở một số nước phương Tây hướng chủ yếu vào nghiên cứucác nhóm xã hội, với tính cách là yếu tố cấu thành hệ thống xã hội Các khoahọc xã hội mác xít hướng chủ yếu vào nghiên cứu các tập đoàn xã hội, thànhphần xã hội (giai cấp, tầng lớp xã hội, đoàn thể chính trị - xã hội) với tínhcách là yếu tố cấu thành hệ thống xã hội

Dù còn có cách tiếp cận, định danh các yếu tố cấu thành hệ thống xã hộikhác nhau, song nhìn chung, cơ cấu xã hội gồm các yếu tố (phân hệ, loạihình) cơ bản: cơ cấu xã hội - giai cấp; cơ cấu xã hội - lãnh thổ; cơ cấu xã hội -dân số (nhân khẩu); cơ cấu xã hội - tộc người; cơ cấu xã hội - tôn giáo

Trong các yếu tố (phân hệ, loại hình) cơ bản, cơ cấu xã hội - giai cấp giữ

vị trí, vai trò then chốt, phản ánh tính chất chính trị - xã hội của hệ thống xã hội

và quy định các phân hệ cơ cấu khác Phân tích cơ cấu xã hội - giai cấp là “chìakhóa” để tìm hiểu bản chất chính trị - xã hội của hệ thống xã hội và hiểu rõ các

Trang 4

phân hệ cơ cấu xã hội khác Chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định, lịch sử xã hộiloài người cho thấy, sự phân hóa xã hội diễn ra sớm nhất, nhưng phân chia xãhội thành giai cấp là sự phân chia lớn nhất, chủ yếu nhất, sâu sắc nhất “Chúng

ta phải luôn luôn cần phải thấy rõ rằng, sự phân chia xã hội thành giai cấp nhưthế trong quá trình lịch sử là sự kiện căn bản” [25,tr.81] Vấn đề giai cấp, cơcấu xã hội - giai cấp chi phối mọi lĩnh vực của dời sống xã hội, mọi hoạt động

xã hội, mọi thành viên xã hội Mỗi con người, dù ở vị trí xã hội nào cũng bị chiphối bởi quan điểm của một giai cấp nhất định

Cơ cấu xã hội – giai cấp

Cơ cấu xã hội - giai cấp là một yếu tố, một phân hệ, một loại hình của cơcấu xã hội Đã và đang có các quan niệm về cơ cấu xã hội - giai cấp

Giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học: “Cơ cấu xã hội - giai cấp là hệthống các giai cấp và tầng lớp xã hội tồn tại khách quan, hoạt động hợp pháptrong một chế độ xã hội nhất định, chủ yếu là thông qua những mối quan hệ

về sở hữu tư liệu sản xuất, về quản lý, về phân phối, về địa vị chính trị - xãhội giữa các giai cấp và tầng lớp đó” [20, tr.280]

Theo T.S Phùng Văn Thiết, dưới góc độ chủ nghĩa duy vật lịch sử: Cơ cấu

xã hội - giai cấp là một loại hình cơ bản của cơ cấu xã hội với tư cách một chỉnhthể bao gồm các giai tầng xã hội khác nhau được gắn kết với nhau bởi nhữngmối quan hệ qua lại tất yếu (những mối quan hệ phản ánh tập trung tính chất,trình độ phát triển của các quan hệ kinh tế - xã hội giữa chúng) [36, tr, 9]

Từ điển Bách khoa Việt Nam: “Cơ cấu xã hội giai cấp, khái niệm sửdụng để chỉ các giai cấp và tầng lớp xã hội tồn tại trong một xã hội nhất định;

vị trí của các giai cấp và tầng lớp xã hội; vai trò của chúng và mối liên hệ giữachúng với nhau trong xã hội đó Cơ cấu xã hội giai cấp xuất hiện cùng vớigiai cấp, do sự phát triển của phân công lao động xã hội và chế độ tư hữu về

tư liệu sản xuất”, “Cơ cấu xã hội - giai cấp giữ vai trò quan trọng trong pháttriển xã hội” [38, tr.640]

Trang 5

Tuy còn có ý kiến khác nhau, song về cơ bản, quan niệm về cơ cấu xã

hội - giai cấp có những nội dung cơ bản: Một là, khái niệm để chỉ các giai cấp

và tầng lớp xã hội tồn tại trong một xã hội nhất định; hai là, vị trí, vai trò của các giai cấp, tầng lớp xã hội trong một xã hội; ba là, mối liên hệ giữa các giai cấp, tầng lớp xã hội trong một xã hội Từ đó, có thể quan niệm: Cơ cấu xã hội

- giai cấp là khái niệm để chỉ các giai cấp và tầng lớp xã hội tồn tại trong một xã hội nhất định; vị trí, vai trò của các giai cấp, tầng lớp xã hội và mối liên hệ giữa các giai cấp, tầng lớp xã hội trong một xã hội, những mối quan

hệ về sở hữu tư liệu sản xuất, về quản lý, về phân phối, về địa vị chính trị, địa

vị xã hội giữa các giai cấp và tầng lớp đó

Ba nội dung cơ bản trong quan niệm về cơ cấu xã hội - giai cấp: giai cấp

và tầng lớp xã hội; vị trí, vai trò của các giai cấp và tầng lớp xã hội; mối liên

hệ giữa các giai cấp và tầng lớp xã hội Khi phân tích cơ cấu xã hội - giai cấp

của một xã hội cụ thể phải làm rõ 3 nội dung: Một là, định danh các giai cấp,

tầng lớp xã hội và số lượng của từng giai cấp và tầng lớp xã hội trong xã hội;

Hai là, vị trí, vai trò, vị thế của từng giai cấp, tầng lớp xã hội và chỉ rõ giai cấp nào giữ vai trò chủ đạo trong xã hội; Ba là, hình thức, tính chất mối liên

hệ giữa các giai tầng xã hội và hạt nhân của mối liên hệ đó, làm nền tảng cho

sự kết dính giữa các giai cấp, tầng lớp trong xã hội

Khái niệm cơ bản trong nghiên cứu cơ cấu xã hội - giai cấp là các giai cấp vàtầng xã hội Về định nghĩa giai cấp, phải đứng vững trên lập trường của chủ nghĩa

Mác - Lênin Giai cấp là những tập đoàn người khác nhau về quan hệ đối với tư

liệu sản xuất, vai trò tổ chức lao động xã hội trong tổ chức quản lý sản xuất, khác

nhau về thu nhập, về địa vị trong chế độ kinh tế - xã hội nhất định Tầng lớp xã hội

là một tập hợp người có địa vị kinh tế, xã hội và có những lợi ích như nhau

Các giai cấp, tầng lớp xã hội cơ bản trong xã hội hiện nay: giai cấp côngnhân, giai cấp nông dân, tầng lớp trí thức

Giai cấp công nhân là giai cấp hình thành và phát triển cùng với quá

trình phát triển của nền công nghiệp ngày càng gắn với hiện đại, với lực

Trang 6

lượng sản xuất có tính chất xã hội ngày càng cao; là lực lượng sản xuất cơbản tiên tiến, trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia vào quá trình sản xuất, chủyếu là sản xuất ra của cải vật chất và cải tạo các quan hệ xã hội; là lựclượng lãnh đạo và tổ chức tiến trình lịch sử từ chủ nghĩa tư bản lên chủnghĩa xã hội Ở các nước tư bản chủ nghĩa, giai cấp công nhân là nhữngngười không có hoặc về cơ bản không có tư liệu sản xuất phải làm thuê chogiai cấp tư sản và bị giai cấp tư sản bóc lột giá trị thặng dư; ở các nước xãhội chủ nghĩa, họ là những người cùng nhân dân lao động làm chủ tư liệusản xuất chủ yếu và cùng nhau hợp tác lao động vì lợi ích chung của toàn

xã hội trong đó có lợi ích chính đáng của bản thân họ

Giai cấp nông dân là giai cấp của những người lao động sản xuất vật

chất trong nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp,… trực tiếp sử dụng (canhtác) một tư liệu sản xuất cơ bản và đặc thù, gắn với thiên nhiên là đất, rừng,biển để sản xuất ra nông sản Theo sự phân tích khoa học của Lênin, nông dân

có “bản chất hai mặt”: là những người lao động và là những người tư hữunhỏ Giai cấp nông dân vốn có cơ cấu không thuần nhất, không có sự cố kếtchặt chẽ cả về kinh tế lẫn tư tưởng và tổ chức Họ không có hệ tư tưởng riêng,

mà tư tưởng của họ phụ thuộc vào hệ tư tưởng của giai cấp thống trị xã hộiđồng thời, là lực lượng sản xuất và lực lượng chính trị - xã hội đông đảo nhấttrong những nước nông nghiệp

Trí thức là một “tầng lớp xã hội đặc biệt”, gồm những người lao động trí

óc phức tạp và sáng tạo, có trình độ học vấn đủ để am hiểu và hoạt độngchuyên sâu trong lĩnh vực lao động của mình Trí thức có phương thức laođộng đặc thù, chủ yếu là lao động trí tuệ cá nhân Do vậy, họ phải thườngxuyên thể hiện và nâng cao khả năng tư duy khoa học độc lập Trí thức trựctiếp hoạt động chủ yếu trong các lĩnh vực nghiên cứu, giảng dạy, ứng dụngcác khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật, khoa học xã hội và nhân văn, vănhọc nghệ thuật, lãnh đạo và quản lý Sản phẩm lao động trực tiếp nhất của tríthức là những giá trị lý luận, lý thuyết khoa học; những giá trị tinh thần

Trang 7

Những giá trị đó tuy không quyết định nhất đối với tồn tại xã hội, song lại tácđộng quyết định đến năng suất lao động, chất lượng sản xuất, tốc độ tăngtrưởng và phát triển của xã hội trên cả đời sống vật chất lẫn đời sống tinhthần Ngày nay khoa học và công nghệ ngày càng trở thành lực lượng sảnxuất trực tiếp của xã hội nên vai trò của trí thức ngày càng quan trọng Tríthức không có hệ tư tưởng riêng, chủ yếu vì không có phương thức sản xuấtriêng và địa vị kinh tế xã hội độc lập Vai trò và tư tưởng của họ đều phụthuộc vào giai cấp thống trị xã hội [20].

Cùng với ba giai tầng xã hội cơ bản, trong xã hội, trong mỗi hệ thống xãhội cụ thể còn có những tầng lớp xã hội, nhóm xã hội khác như: tầng lớpdoanh nhân, tầng lớp tiểu tư sản, nhóm xã hội lưu manh, v.v… Đồng thời,trong mỗi giai cấp và tầng lớp xã hội còn có sự phân chia thành nhiều loại,với thứ bậc địa vị xã hội khác nhau Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộngsản, C.Mác, Ph.Ăngghen đã viết: “Trong những thời đại lịch sử trước, hầukhắp mọi nơi, chúng ta đều thấy xã hội hoàn toàn chia thành từng nấcthang địa vị xã hội Ở La Mã thời cổ đại, chúng ta thấy có quý tộc, hiệp sĩ,bình dân, nô lệ; thời trung cổ thì có lãnh chúa phong kiến, chư hầu, thợ cả,thợ bạn, nông nô và hơn nữa, hầu như trong mỗi giai cấp ấy, lại có những

thứ bậc đặc biệt nữa” [28, tr.597].

Hiện nay, để xác định các giai tầng trong xã hội, thường căn cứ vào thànhphần kinh tế Nghĩa là, căn cứ vào hình thức sở hữu tư liệu sản xuất và phâncông lao động xã hội, trong đó hình thức sở hữu tư liệu sản xuất là chính Xácđịnh thành phần xã hội trong mỗi giai cấp, tầng lớp xã hội, thường lấy tiêu chínghề nghiệp để định danh Ví dụ: giai cấp công nhân có: công nhân côngnghiệp, công nhân dịch vụ… giai cấp nông dân có: nông dân nông nghiệp,nông dân ngư nghiệp, nông dân diêm nghiệp… Như thế để thấy rằng, cơ cấu xãhội - giai cấp đa dạng, phức tạp, khó định danh, khó nhận diện và đo lường Như thế, trong nghiên cứu về cơ cấu xã hội - giai cấp của một hệ thống

xã hội, vấn đề quan trọng đầu tiên là định danh (đặt tên) cho các tầng lớp xã

Trang 8

hội, đối với các thành phần xã hội trong các giai cấp và tầng lớp xã hội.Cùng với việc định danh là xác định các dấu hiệu, tiêu chí, chỉ báo để đolường các giai cấp, tầng lớp xã hội.

1.1.2 Biến đổi cơ cấu xã hội – giai cấp

1.1.2.1 Quan niệm, nội dung, tính chất biến đổi cơ cấu xã hội - giai cấp Quan niệm, nội dung biến đổi cơ cấu xã hội - giai cấp

Biến đổi cơ cấu xã hội - giai cấp phản ánh trạng thái của biến đổi xã hội; khái niệm dùng để chỉ quá trình thay đổi về kết cấu và tính chất quan

hệ xã hội giữa các giai cấp và tầng lớp trong một hệ thống xã hội, ở những thời điểm xác định.

Biến đổi xã hội, thuật ngữ dùng để chỉ những thay đổi về mặt xã hội củamột nhóm xã hội, một cộng đồng hoặc toàn bộ xã hội; sự thay đổi về xã hội sovới trước, khác trước; quá trình thay đổi kết cấu xã hội, tính chất quan hệ xã hội Biến đổi xã hội và biến động xã hội, tiến bộ xã hội, cách mạng xã hội cóđiểm chung và riêng Điểm chung, biến đổi xã hội, biến động xã hội, tiến bộ

xã hội, cách mạng xã hội - hệ khái niệm phản ánh sự vận động của xã hội với

tính chất, đặc điểm, tình trạng và quy mô khác nhau Điểm riêng: Biến động

xã hội - sự vận động xã hội ở trạng thái thường xuyên, không ở trạng thái tĩnh; Biến cố xã hội - những sự kiện xã hội xảy ra trong đời sống xã hội, có

thể làm thay đổi xã hội, có thể không làm thay đổi xã hội như: một cuộc biểu

tình, một cuộc đình công,…; Tiến bộ xã hội - sự vận động của xã hội theo

chiều hướng được xã hội mong đợi, nhiều người tán thành, thường là kết quả

của hoạt động xã hội có ý thức; Cách mạng xã hội - sự vận động của xã hội

mang tính chất căn bản, làm thay đổi trật tự xã hội, chế độ xã hội và nhữngthể chế xã hội, đưa xã hội từ trạng thái này sang trạng thái khác về chất

Biến đổi xã hội là những thay đổi xã hội ảnh hưởng tới nhiều người,nhiều nhóm xã hội; nếu chỉ tác động tới một số ít người, không được xác định

là biến đổi xã hội Biến đổi xã hội là hiện tượng xã hội phổ biến, song ở mỗithời điểm khác nhau, quy mô, tính chất biến đổi xã hội khác nhau (biến đổi vĩ

Trang 9

mô, vi mô) Trong một hệ thống xã hội và giữa các hệ thống xã hội có sự khácnhau về quy mô, tính chất và hậu quả của biến đổi xã hội Về dạng thức, cóbiến đổi xã hội có kế hoạch và biến đổi xã hội không kế hoạch Hệ lụy xã hộicủa biến đổi xã hội đa dạng, phức tạp, khó nhận diện và đo lường, phản ánhchủ yếu thông qua tính chất các quan hệ xã hội, sự ổn định và phát triển xãhội theo mục tiêu của giai cấp cầm quyền xác định Tóm lại, sự xáo trộn, thay

đổi trong cấu trúc xã hội và tính chất quan hệ xã hội là hai đặc trưng, đồng

thời là hai dấu hiệu cơ bản để nhận biết biến đổi xã hội

Nội dung biến đổi xã hội chủ yếu: Biến đổi cơ cấu xã hội, phân tầng xã hội,

phân hóa xã hội và biến đổi chuẩn mực, lối sống xã hội Như thế, biến đổi cơ cấu

xã hội - giai cấp là một nội dung của biến đổi xã hội, cụ thể hơn đó là biến đổi cơcấu xã hội, quá trình thay đổi về kết cấu và tính chất quan hệ xã hội giữa các giaicấp và tầng lớp trong một hệ thống xã hội, ở những thời điểm xác định

Biến đổi cơ cấu xã hội - giai cấp trên những nội dung chủ yếu: Một là,

biến đổi về số lượng, về quy mô của từng giai cấp, tầng lớp xã hội trong xã

hội; hai là, biến đổi về vị trí, vai trò của các giai cấp, tầng lớp xã hội trong hệ thống xã hội; ba là, biến đổi về mối liên hệ giữa các giai cấp, tầng lớp xã hội

trong hệ thống xã hội

Biến đổi về số lượng, về quy mô của từng giai cấp, tầng lớp xã hội là sựthay đổi so với khác trước về số lượng của từng giai cấp, tầng lớp xã hội,cũng như sự thay đổi so với khác trước về số lượng của các thành phần (các

bộ phận) trong các giai cấp và tầng lớp xã hội; sự thay đổi so với khác trước

về quy mô tổ chức của từng giai cấp, tầng lớp xã hội Nghiên cứu biến đổi về

số lượng, về quy mô của từng giai cấp, tầng lớp xã hội phải trả lời cho đượccâu hỏi: trong quãng thời gian vừa qua (5 năm, 10 năm,…) các giai cấp, tầnglớp xã hội nhiều lên, ít đi hoặc giữ nguyên về số lượng; quy mô tổ chức củatừng giai cấp, tầng lớp xã hội phát triển, mở rộng hay suy giảm, thu hẹp

Biến đổi về vị trí, vai trò của các giai cấp, tầng lớp xã hội là sự thay đổi

so với trước về vị trí, vai trò của từng giai cấp, tầng lớp xã hội trong phát triển

Trang 10

kinh tế - xã hội của hệ thống xã hội; trong mối quan hệ với sự ổn định và pháttriển của hệ thống xã hội; đồng thời làm rõ vị trí, vai trò của giai cấp giữ vaitrò lãnh đạo, chủ đạo trong xã hội Nghiên cứu biến đổi về vị trí, vai trò củacác giai cấp, tầng lớp xã hội phải trả lời cho được câu hỏi: trong quãng thờigian vừa qua (5 năm, 10 năm,…) vị trí, vai trò của các giai cấp, tầng lớp xãhội trong phát triển kinh tế - xã hội, ổn định và phát triển của hệ thống xã hộităng lên, suy giảm hay giữ nguyên; vị trí, vai trò của giai cấp giữ vai trò lãnhđạo, chủ đạo trong xã hội tăng lên, suy giảm hay giữ nguyên.

Biến đổi về mối liên hệ giữa các giai cấp, tầng lớp xã hội trong hệ thống xãhội là sự thay đổi so với trước về tính chất, quy mô của mối liên hệ giữa các giaicấp, tầng lớp xã hội Nghiên cứu biến đổi về mối liên hệ giữa các giai cấp, tầnglớp xã hội phải trả lời cho được câu hỏi: trong quãng thời gian vừa qua (5 năm,

10 năm,…) tính chất, quy mô của mối liên hệ giữa các giai cấp, tầng lớp xã hộităng lên, suy giảm hay giữ nguyên; liên minh giữa các giai tầng xã hội cơ bảntrong hệ thống xã hội tăng lên, suy giảm hay giữ nguyên; khối đoàn kết giữa cácgiai tầng xã hội cơ bản trong hệ thống xã hội tăng lên, suy giảm hay giữ nguyên

Từ sự phân tích trên, nghiên cứu (đo lường) biến đổi cơ cấu xã hội - giai

cấp trên các nội dung (tiêu chí, dấu hiệu) chủ yếu: Thứ nhất, nghiên cứu biến

đổi về số lượng, về quy mô của từng giai cấp, tầng lớp xã hội và các thành

phần (các bộ phận) trong các giai cấp và tầng lớp xã hội Thứ hai, nghiên cứu

biến đổi vị trí, vai trò của các giai cấp, tầng lớp xã hội trong phát triển kinh tế

- xã hội, ổn định và phát triển của hệ thống xã hội; làm rõ vị trí, vai trò của

giai cấp giữ vai trò lãnh đạo, chủ đạo trong xã hội Thứ ba, nghiên cứu biến

đổi tính chất, quy mô của mối liên hệ giữa các giai cấp, tầng lớp xã hội; liênminh giữa các giai tầng xã hội cơ bản trong hệ thống xã hội; đoàn kết giữa cácgiai tầng xã hội cơ bản trong hệ thống xã hội

Nghiên cứu về biến đổi cơ cấu xã hội - giai cấp phải chỉ rõ mức độ: tăng lên (phát triển), suy giảm hay giữ nguyên (không phát triển) của các giai cấp

và tầng lớp xã hội, cùng với vị trí, vai trò và mối liện hệ của nó Những đánh

Trang 11

giá đó được xem xét trong một khoảng thời gian 5 năm, 10 năm, 20 năm, Nghĩa là, phải tiến hành so sánh giữa trước và sau (so sánh lịch đại), đồngthời kết hợp so sánh đồng đại (so sánh giữa các giai cấp và tầng lớp xã hội ởcùng một thời điểm, trước và sau) để tìm xu hướng biến đổi của từng giai cấp

và tầng lớp xã hội nói riêng, biến đổi cơ cấu xã hội - giai cấp nói chung Đểphản ánh được sự biến đổi đó phải tổng hợp, phân tích số liệu thống kê, điềutra khảo sát thực tiễn khoa học, công phu

Khái niệm cơ cấu xã hội, cơ cấu xã hội - giai cấp gắn bó chặt chẽ với kháiniệm hệ thống xã hội Lý luận và thực tiễn chỉ rõ rằng, cơ cấu xã hội, cơ cấu xã hội

- giai cấp luôn luôn là cơ cấu xã hội, cơ cấu xã hội - giai cấp của một hệ thống xãhội xác định, không có cơ cấu xã hội, cơ cấu xã hội - giai cấp chung chung, trừutượng Do đó, nghiên cứu biến đổi cơ cấu xã hội - giai cấp là nghiên cứu biến đổicấu trúc xã hội của một hệ thống xã hội xác định: biến đổi cơ cấu xã hội - giai cấp ởViệt Nam; biến đổi cơ cấu xã hội - giai cấp của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; biến đổi cơcấu xã hội - giai cấp của thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, v.v…

Từ đó cho thấy, nghiên cứu biến đổi cơ cấu xã hội - giai cấp phải được đặttrong thời gian và không gian cụ thể Ví dụ: nghiên cứu biến đổi cơ cấu xã hội -giai cấp trên đất nước Việt Nam từ khi thực hành công cuộc đổi mới (năm 1986)đến năm 2011; nghiên cứu biến đổi cơ cấu xã hội - giai cấp của thành phố VũngTàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, giai đoạn 2000 - 2010 Tính thời gian và không

gian là hệ quy chiếu, trục ngang - trục dọc của biểu đồ phản ánh sự biến đổi cơ

cấu xã hội - giai cấp của một hệ thống xã hội

Tính chất, hệ lụy xã hội của biến đổi cơ cấu xã hội - giai cấp

Biến đổi cơ cấu xã hội - giai cấp mang tính giai cấp, tính lịch sử, tính quốc gia và tính quốc tế.

Cơ cấu xã hội - giai cấp bao giờ cũng là cơ cấu xã hội - giai cấp hệ thống

xã hội cụ thể Mà ở các hệ thống xã hội, sự phát triển của nó luôn luôn bị chiphối bởi lập trường, quan điểm của giai cấp giữ vị trí, vai trò thống trị xã hội

Do đó, sự biến đổi của cơ cấu xã hội - giai cấp luôn mang tính giai cấp Ở hình

Trang 12

thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa, cơ cấu xã hội - giai cấp và sự biến độngcủa nó bị chi phối bởi lý luận, quan điểm, đường hướng của giai cấp tư sản Ởcác nước đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, cơ cấu xã hội - giaicấp và sự biến động của nó bị chi phối bởi lý luận, quan điểm, đường lối củagiai cấp vô sản, thông qua sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.

Biến đổi cơ cấu xã hội - giai cấp mang tính lịch sử Trong tiến trìnhlịch sử, nhân loại đã trải qua các hình thái kinh tế - xã hội: nô lệ, phongkiến, tư bản, xã hội chủ nghĩa Và tương ứng với mỗi hình thái kinh tế - xãhội là một kết cấu xã hội - giai cấp đặc trưng, điển hình, vừa có tính kế thừa,vừa có tính phát triển

Biến đổi cơ cấu xã hội - giai cấp mang tính quốc gia và tính quốc tế.Nghĩa là, nó vừa có tính riêng của từng quốc gia, vừa có tính chung của cácquốc gia, mang tính quốc tế Nó phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị,văn hóa, xã hội và quá trình hội nhập quốc tế của mỗi quốc gia, dân tộc

Biến đổi cơ cấu xã hội - giai cấp vừa là sự phản ánh, vừa tác động đến sự

ổn định và phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời tiềm ẩn nguy cơ xung đột xã hội.

Cơ cấu xã hội - giai cấp luôn luôn song hành với điều kiện kinh tế - xãhội nhất định Biến đổi cơ cấu xã hội - giai cấp phản ánh sự phát triển kinh tế

- xã hội của một quốc gia, một địa phương Nó là một dấu hiệu, một tiêu chíđánh giá sự phát triển kinh tế - xã hội của các hệ thống xã hội

Biến đổi cơ cấu xã hội - giai cấp về thực chất là biến đổi số lượng, chấtlượng, quy mô tổ chức lực lượng xã hội cơ bản, lực lượng lao động cơ bản trong

xã hội; là biến đổi vị trí, vị thế, vai trò của các lực lượng xã hội cơ bản, lực lượnglao động cơ bản trong xã hội; là biến đổi tính chất liên hệ giữa các lực lượng xãhội cơ bản, lực lượng lao động cơ bản trong xã hội Nếu những biến đổi đó thuậnchiều với sự phát triển xã hội, điều hòa lợi ích giữa các lực lượng xã hội cơ bản,lực lượng lao động cơ bản trong xã hội thì hệ thống xã hội đó ổn định, phát triểnđúng định hướng của giai cấp thống trị, lãnh đạo xã hội và ngược lại

Trang 13

Từ đó cho ta thấy, để kinh tế - xã hội phát triển phải quản lý cho được sựbiến đổi cơ cấu xã hội - giai cấp V.I Lênin đã chỉ ra “Kết cấu xã hội và chínhquyền có nhiều biến đổi, nếu không tìm hiểu các biến đổi này thì không thểtiến một bước trong bất kỳ lĩnh vực xã hội nào Vấn đề tiền đồ phụ thuộc vào

sự tìm hiểu của các biến đổi ấy” [24, tr.221]

1.1.2.2 Yếu tố tác động, chi phối biến đổi cơ cấu xã hội – giai cấp

Thể chế kinh tế, cơ cấu kinh tế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hình thức

sở hữu và phân công lao động xã hội tác động, chi phối biến đổi cơ cấu kinh

tế chi phối biến đổi cơ cấu xã hội - giai cấp

Thể chế kinh tế, chế độ phân chia quyền hạn và trách nhiệm giữa nhànước và doanh nghiệp, trung ương và địa phương, xử lý lợi ích giữa họ; baogồm thể chế quản lý các mặt: kế hoạch, tài chính, vật tư, lao động…Thể chếkinh tế là tổng hòa các chế độ quản lý kinh tế, phản ánh quan hệ sản xuất ở

khía cạnh lợi ích kinh tế Thể chế kinh tế phát huy tác dụng thông qua các thể

chế khác, chủ yếu là thể chế chính trị; nghĩa là thông qua sự quy định của hệthống pháp luật Sự tác động của thể chế kinh tế đến biến đổi cơ cấu xã hội -giai cấp là vấn đề lợi ích kinh tế Lợi ích kinh tế tạo động lực của sự chuyểndịch giai cấp xã hội, sự tăng lên hay giảm đi của từng giai cấp, tầng lớp xã hội Trong đề tựa tái bản Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, Ph Ăngghen viết:

“Tư tưởng cơ bản và chủ đạo của “Tuyên ngôn” là: trong mỗi thời đại lịch sử,sản xuất kinh tế và cơ cấu xã hội, cơ cấu này tất yếu phải do kinh tế mà ra; cảhai cái đó cấu thành cơ sở lịch sử chính trị và lịch sử tư tưởng của thời đại ấy”[29, tr.11] Theo đó, cơ cấu kinh tế và cơ cấu xã hội làm thành nền tảng lịch

sử chính trị và lịch sử tư tưởng của mỗi thời đại; và, cơ cấu xã hội, trong đó

có cơ cấu xã hội - giai cấp bị quy định bởi cơ cấu kinh tế Cơ cấu kinh tế làtính thứ nhất, cơ cấu xã hội là tính thứ hai Thực tiễn ở nước ta cho thấy,trong thời kỳ thực hành cơ chế tập trung, bao cấp, với hai thành phần kinh tế

cơ bản: quốc doanh và tập thể, trong xã hội có hai giai cấp cơ bản: côngnhân, nông dân và tầng lớp trí thức; từ khi thực hiện cơ chế kinh tế nhiều

Trang 14

thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nướctheo định hướng xã hội chủ nghĩa, trên đất nước ta xuất hiện nhiều thànhphần kinh tế, theo đó cơ cấu xã hội - giai cấp đa dạng, đa diện, với nhiều giaicấp, tầng lớp, nhóm xã hội.

Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta là nhân tố có ý nghĩaquyết định trực tiếp tác động đến biến đổi cơ cấu xã hội - giai cấp ở nước ta.Công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay làcông nghiệp hóa, hiện đại hóa và nền kinh tế thị trường theo định hướng xãhội chủ nghĩa Quá trình ấy trước hết là một quá trình kinh tế, mà quy luậtkinh tế hàng đầu và cơ bản nhất là quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tínhchất, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Việc đẩy nhanh công nghiệphóa, hiện đại hóa đồng nghĩa với nó là sự thúc đẩy nhanh những biến đổitrong cơ cấu kinh tế, đặc biệt là cơ cấu thành phần kinh tế Thông qua việclàm biến đổi cơ cấu thành phần kinh tế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa trởthành nhân tố có ý nghĩa quyết định đối với việc đẩy nhanh các xu hướng biếnđổi của cơ cấu xã hội - giai cấp ở nước ta hiện nay theo các chiều hướng khácnhau Sau những năm tiến hành đổi mới, nước ta cơ bản thoát ra khỏi khủnghoảng kinh tế - xã hội và bước vào giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiệnđại hóa Quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và sự phát triểnmạnh mẽ của cách mạng khoa học và công nghệ đã tạo ra sự biến đổi nhanhchóng và sâu sắc của cơ cấu kinh tế và phân công lao động xã hội, trở thànhnhững đòn bẩy, những sức kích thích chủ yếu và trực tiếp cho quá trình biếnđổi cơ cấu xã hội - giai cấp ở nước ta

Hình thức sở hữu, phân công lao động xã hội cùng là yếu tố tác động, chiphối biến đổi cơ cấu xã hội - giai cấp ở nước ta Từ một nền kinh tế chỉ duy trìhai hình thức sở hữu cơ bản là sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể; với haithành phần kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể, đến nay trên đất nước ta đãduy trì đồng thời nhiều hình thức sở hữu, hình thành nhiều thành phần kinh tếvới những hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh đa dạng, đan xen hỗn hợp

Trang 15

Mỗi thành phần kinh tế đều có vai trò quan trọng riêng của nó trong phát triểnkinh tế, ổn định xã hội, củng cố quốc phòng và an ninh, góp phần tích cực

thực hiện mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” Trong đó, thành phần kinh tế nhà nước luôn giữ vị trí, vai trò chủ đạo, là lực

lượng vật chất quan trọng và là công cụ để Nhà nước định hướng, điều tiết vĩ

mô nền kinh tế Thành phần kinh tế tập thể đang phát triển với các hình thức

đa dạng, và từng bước khẳng định vị trí, vị thế, vai trò của mình trong nềnkinh tế nhiều thành phần Thành phần kinh tế tư nhân (kinh tế cá thể, kinh tếtiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân) trong những năm đổi mới vừa qua đã pháttriển mạnh và có nhiều đóng góp cho sự phát triển kinh tế - xã hội đất nước,đặc biệt trong việc khai thác tài nguyên và giải quyết việc làm cho nhữngngười lao động từ lao động giản đơn đến lao động có tay nghề cao Thành

phần kinh tế tư bản nhà nước dưới các hình thức liên doanh, liên kết giữa kinh

tế nhà nước với kinh tế tư nhân trong nước và ngoài nước có vị trí, vai trò rấtquan trọng trong thực hiện chiến lược kinh tế vĩ mô, nắm giữ và phát triểnmột số ngành kinh tế then chốt, thực hiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiệnđại hóa và hội nhập kinh tế thế giới trong xu thế toàn cầu hoá kinh tế.Thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài không chỉ đem lại công ăn, việclàm cho người lao động, nó còn góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế và côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Với sự đa dạng của các thành phần kinh tế, đa dạng các hình thức sở hữutất yếu xuất hiện sự da dạng các lợi ích; các lợi ích này đan cài nhau, nó nằmtrong nhau, vừa là nhân vừa là quả của nhau Lợi ích của mỗi thành phần kinh

tế không thể tách rời với lợi ích của nền kinh tế Trong lợi ích của mỗi thànhphần kinh tế có lợi ích của mỗi cá thể trong thành phần kinh tế đó Lợi ích củabản thân mỗi cá thể của các thành phần kinh tế và lợi ích của mỗi thành phầnkinh tế luôn được chủ sở hữu của nó đặt lên trước hết Trong phân tích kết cấu

xã hội không thể không nghiên cứu các vấn đề xã hội nảy sinh giữa các giai tầng

xã hội mà căn nguyên của nó là từ lợi ích của mỗi thành phần kinh tế, và gốc rễ

Trang 16

sâu xa của nó chính từ hình thức sở hữu Đa sở hữu là tất yếu trong thời kỳ quá

độ lên chủ nghĩa xã hội, đa sở hữu làm cho cơ cấu xã hội - giai cấp biến đổi

Chế độ chính trị, quan điểm của giai cấp cầm quyền và chính sách nhà nước giữ vai trò quan trọng quyết định trực tiếp đến biến đổi cơ cấu xã hội - giai cấp

Chính trị, toàn bộ những hoạt động có liên quan đến quan hệ giai cấp,

dân tộc, các tầng lớp xã hội, nòng cốt của nó là vấn đề chính quyền, sử dụng

quyền lực nhà nước đối với toàn xã hội Chế độ chính trị, đường lối của giai

cấp cầm quyền, chính sách của nhà nước quyết định đến biến đổi cơ cấu xã

hội - giai cấp, trực tiếp nhất là chủ trương, kế hoạch, chính sách phát triển kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn.

Lịch sử xã hội loài người cho thấy, các giai cấp cầm quyền, thông quachính đảng và nhà nước của mình để xác định hướng phát triển kinh tế - xãhội, đồng thời cũng hoạch định kế hoạch phát triển các giai cấp, tầng lớp xãhội làm thành kết cấu xã hội, cơ sở và nền tảng xã hội cho chế độ xã hội dựđịnh xây dựng Không có giai cấp cầm quyền nào lại không có chính sáchphát triển giai cấp, tầng lớp xã hội đặc trưng, nền tảng cho chế độ xã hội màgiai cấp đó lãnh đạo xây dựng Đây là một nội dung của cuộc đấu tranh giaicấp, đấu tranh dân tộc

Biến đổi cơ cấu xã hội - giai cấp thuộc phạm trù chính trị - xã hội, phảnánh một quá trình xã hội cơ bản nhất của con người trong một xã hội có đốikháng giai cấp Theo đó, những biến đổi cơ cấu xã hội - giai cấp ở nước tahiện nay, phụ thuộc một cách quyết định vào vai trò của các chủ thể, đặc biệt

là sẽ chịu tác động to lớn bởi đường lối, chính sách kinh tế - xã hội của Đảng

và Nhà nước ta Đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta sẽ can thiệpvào quá trình, các quan hệ kinh tế theo những chiều hướng và mức độ khácnhau, qua đó tác động đến những biến đổi cơ cấu xã hội - giai cấp Nếu thựchiện tốt các chức năng “định hướng sự phát triển; trực tiếp đầu tư vào một sốlĩnh vực để dẫn dắt nỗ lực phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa; thiết

Trang 17

lập khuôn khổ luật pháp, có hệ thống chính sách nhất quán để tạo môi trường

ổn định và thuận lợi cho giới kinh doanh làm ăn phát đạt; khắc phục hạn chế,mặt tiêu cực của cơ chế thị trường; phân phối và phân phối lại thu nhập quốcdân, quản lý tài sản công và kiểm kê, kiểm soát toàn bộ hoạt động kinh tế, xãhội” [8, tr.203] như Đại hội lần thứ VIII của Đảng đã đề ra, thì đường lối,chính sách của Đảng, Nhà nước không những sẽ trực tiếp tạo dựng một nềntảng kinh tế vững chắc để đẩy nhanh những biến đổi tích cực trong cơ cấu xãhội - giai cấp ở nước ta hiện nay, mà còn gián tiếp tạo dựng được một cơ sở

ổn định để khẳng định tính chất không thể đảo ngược của những biến đổi ấytheo định hướng xã hội chủ nghĩa

Thực tiễn đất nước ta cũng đã cho thấy, khi Đảng, Nhà nước ta chủtrương thực hành cơ chế tập trung, bao cấp, với hai thành phần kinh tế, trong

xã hội có hai giai cấp và một tầng lớp xã hội cơ bản; khi Đảng, Nhà nước tachủ trương thực hành kinh tế thị trường, với nhiều thành phần kinh tế, trong

xã hội xuất hiện nhiều giai tầng, nhóm xã hội

Biến đổi cơ cấu xã hội - giai cấp thực chất là biến đổi của những tậpđoàn người và có liên quan đến toàn bộ đến đời sống cộng đồng của conngười, nên cần phải được trực tiếp tác động bởi một loại công cụ, phươngtiện tương ứng, đó là hệ thống chính sách xã hội Chính sách xã hội làchính sách đối với con người, luôn được thực hiện bởi con người và nhằmphục vụ lợi ích của những tập đoàn người xác định Chính vì vậy, tính chấtkhoa học và nhân văn của chính sách xã hội không thể tách rời phươnghướng chính trị - giai cấp của nó

Lịch sử mô hình xã hội chủ nghĩa đã đổ vỡ trước đây đã minh chứngđiều đó Một trong những nguyên nhân dẫn đến sự đổ vỡ ở Liên Xô và Đông

Âu trên lĩnh vực cơ cấu xã hội - giai cấp thì chính những bất cập trong đườnglối, chính sách của Đảng và Nhà nước trước tình trạng biến đổi và biến dạng

cơ cấu xã hội - giai cấp là thủ phạm gây nên sự đổ vỡ đó Lúc đầu, sự áp đặtmột hệ thống kinh tế cứng nhắc nhằm bảo đảm an toàn cho chế độ xã hội chủ

Trang 18

nghĩa theo quan điểm nhấn mạnh vai trò hàng đầu của chính trị đã dẫn đếnmột xã hội trì trệ, thiếu sức sống Sau đó, lại là một xã hội hỗn loạn đến mứckhông thể kiểm soát và định hướng nổi, với tư cách là hệ quả trực tiếp củaviệc từ bỏ những nguyên tắc xã hội chủ nghĩa trong việc hoạch định chínhsách kinh tế của quá trình cải tổ Đây là lối đi chúng ta đã tránh được trongquá trình đổi mới vừa qua.

Đặc điểm văn hóa, xã hội của đất nước tác động, chi phối đến sự biến đổi cơ cấu xã hội - giai cấp ở nước ta.

Văn hóa là hoạt động sáng tạo ra các giá trị của một dân tộc, một cộngđồng người; biểu hiện cụ thể ở các luật lệ, quy định, phong tục, tập quán,…và

hệ quả của quá trình văn hóa hóa xã hội: thói quen trong sản xuất và sinh hoạt,tâm lý xã hội, tâm lý cộng đồng, tâm lý tộc người, tạo nên những nét riêng,mang tính bản sắc Những thói quen trong sản xuất và sinh hoạt, tâm lý xã hội,tâm lý cộng đồng, tâm lý tộc người, mang tính văn hóa truyền thống là mộttrong những yếu tố vừa kìm hãm, vừa thúc đẩy sự chuyển dịch lao động, sự thayđổi về giai tầng xã hội và tính chất giai cấp trong các giai cấp, tầng lớp xã hội

Xã hội, ở khía cạnh rộng nhất, toàn bộ hình thức cộng đồng (tập hợp, tổchức) của con người Trong xã hội (cộng đồng xã hội, tổ chức xã hội), các cánhân, nhóm xã hội được sắp đặt theo một thứ bậc tôn ti nghiêm ngặt và quan

hệ giữa họ tuân theo chuẩn mực, quy ước,…nhất định, qua đó mà tạo nên sự

cố kết cộng đồng Tính cộng đồng là đặc trưng cơ bản nhất của xã hội, của xãhội Việt Nam Tính cộng đồng, nét đẹp trong truyền thống xã hội Việt Namtạo ra một lực cản đối với sự chuyển dịch về lãnh thổ, về việc làm, hạn chếđến biến đổi cơ cấu xã hội - giai cấp, chủ yếu là sự biến đổi về số lượng.Song, tính cộng đồng lại tạo nên sự gắn kết giữa các giai cấp và tầng lớp xãhội, cơ sở và nền tảng cho việc củng cố khối liên minh giai cấp, khối đại đoànkết toàn dân tộc vì mục tiêu chung

Nét đặc trưng của toàn bộ tiến trình biến đổi xã hội Việt Nam trong lịch sử

là hình thái xã hội mới ra đời không trên cơ sở phủ định, mà trái lại, luôn trên cơ

Trang 19

sở bảo tồn và cải biến hình thái xã hội cũ cho phù hợp với yêu cầu mới Trởlại lịch sử, chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy một phương thức sản xuất xãhội chủ nghĩa đương đại, do nhiều nguyên nhân, đặc biệt do yêu cầu chi phốicủa cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, nên khôngnhững chưa được phát triển mà còn bao chứa vô số các biến dạng đang tồntại Trước đó là một quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa bị chủ nghĩa thực dân

và chiến tranh làm thui chột, một phương thức sản xuất phong kiến nhưng cókhuynh hướng chống tư hữu hóa và tập trung lớn về ruộng đất Tình hình đó

đã góp phần quyết định vào việc đưa đến cho xã hội ta hiện nay một cơ cấu

xã hội - giai cấp quá độ cùng với sự tồn tại, phát triển trong sự đan xen, tácđộng qua lại phức tạp giữa các giai tầng thuộc nhiều thời đại kinh tế khôngnguyên nghĩa khác nhau

Sự hình thành các giai tầng xã hội do sản xuất vật chất, kết cấu kinh tếquy định Song, mỗi giai cấp, tầng lớp xã hội chỉ được xác định và khẳng định

là giai cấp, tầng lớp xã hội trong điều kiện có một số lượng nhất định, có quy

mô tổ chức nhất định và khẳng định một vị trí, vai trò trong xã hội nói chung,

phát triển kinh tế - xã hội nói riêng Sự tự ý thức về giai tầng xã hội giữ vai trò

quan trọng trong sự tồn tại, phát triển của các giai tầng xã hội Điều kiện vănhóa, xã hội của đất nước ta vừa tạo ra sự thuận lợi, vừa tạo ra những cản trởcho quá trình ý thức và phát huy ý thức tự giác về vị trí, vị thế, vai trò của giaitầng xã hội trong các tầng lớp dân cư Nó vừa kìm hãm, vừa thúc đẩy sự biếnđổi cơ cấu xã hội - giai cấp ở nước ta hiện nay

Hiện trạng một cơ cấu xã hội - giai cấp không đồng bộ, khi gặp điều kiệnphù hợp sẽ dễ dàng tăng quy mô và nhịp độ biến dạng Mục tiêu giữ vững ổnđịnh chính trị - xã hội, duy trì định hướng xã hội chủ nghĩa trong quá trình đổimới cơ cấu xã hội - giai cấp ở nước ta sẽ trở nên khó khăn hơn khi hiện tượngphân tầng, phân hóa gia tăng, khi xảy ra những xáo trộn lớn về vị thế xã hộicủa các giai tầng, cũng như khi xảy ra hiện tượng dịch chuyển lẫn nhau rấtphức tạp giữa các giai tầng như hiện nay

Trang 20

Việc chúng ta cùng một lúc vừa phải triệt bỏ những di hại từ quá khứ, vừaphải kế thừa có chọn lọc và phát triển những giá trị đích thực của truyền thốngdân tộc sẽ làm tăng thêm tính quanh co, phức tạp của những biến đổi cơ cấu xãhội - giai cấp đã, đang và sẽ diễn ra Vì vậy, trong thời gian tới, biến đổi cơ cấu

xã hội - giai cấp ở nước ta còn nhiều diễn biến nhanh chóng, phức tạp nhưng ít

có khả năng xảy ra đột biến lớn, nhất là những đột biến xấu khó có thể xảy ra.Đặc điểm trên đây bao hàm những tiền đề thuận lợi cho việc nhận thức

và xử lý các quan hệ giai cấp Điều đó sẽ giúp cho Đảng, Nhà nước tậndụng được mọi nguồn lực của từng giai tầng và của cả cộng đồng dân tộcnhằm thực hiện các mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội nóichung, cũng như xây dựng và củng cố cơ cấu xã hội - giai cấp của chế độ

xã hội chủ nghĩa

Mở cửa, hội nhập trong xu thế toàn cầu hóa, sự chống phá của các thế lực thù địch là một trong các yếu tố tác động, chi phối đến biến đổi cơ cấu

xã hội - giai cấp.

Mối quan hệ quốc tế luôn là một nhân tố quan trọng, đưa đến cho nước ta

cả những thuận lợi và khó khăn, thời cơ và thách thức trong quá trình đổi mới cơcấu xã hội - giai cấp theo định hướng xã hội chủ nghĩa Khu vực châu Á -Thái Bình Dương và Đông Nam Á phát triển năng động của thế giới Nhưng

so với các nước trong khu vực, chúng ta là nước đi sau Là nước đi sau, chúng

ta hoàn toàn có thể rút được những kinh nghiệm từ thành công và thất bại củacác nước đi trước để xác định mô hình chiến lược công nghiệp hóa, hiện đạihóa phù hợp nhất, giải quyết thỏa đáng mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tếvới phát triển bền vững, giữa phát triển kinh tế với giữ vững và ổn định chínhtrị Từ đó mà xác lập một cơ cấu lao động phù hợp và thích ứng với nó là một

cơ cấu xã hội - giai cấp

Hội nhập trong xu thế toàn cầu hóa cũng làm nảy sinh những vấn đề tácđộng đến quá trình biến đổi cơ cấu xã hội - giai cấp ở nước ta theo nhữngchiều hướng và mức độ khác nhau Xu thế này đã cho phép chúng ta ký kết

Trang 21

được ngày càng nhiều hợp đồng kinh tế và xuất khẩu lao động với các nước,phối hợp ngày càng chặt trẽ với họ trong giúp đỡ nhau khắc phục khủnghoảng kinh tế - xã hội…giờ đây do sự đan xen về lợi ích kinh tế, nên sự ổnđịnh về chính trị trong khu vực và ở mỗi nước đã trở thành mối quan tâmchung Tình hình ấy tạo ra cho chúng ta thế và lực mới để chủ động điều tiết,kiểm soát biến động cơ cấu xã hội - giai cấp theo chiều hướng đã vạch ra.Nhưng có một thực tế là bất cứ sự liên hệ, phụ thuộc lẫn nhau nào giữacác nước do xu thế quốc tế hóa nền kinh tế thế giới đưa lại cũng tồn tại đồngthời với sự kiềm chế lẫn nhau giữa họ Hiện nay, một bộ phận không nhỏ tiềmlực kinh tế của đất nước ta đã không nằm trong tầm kiểm soát của Nhà nước,thậm chí lại chịu ảnh hưởng trực tiếp từ những biến động kinh tế, xã hội từbên ngoài Tính chất bấp bênh của bộ phận kinh tế này là một trở lực từ bênngoài gây nên những bất ổn xã hội như: tình trạng thất nghiệp, tranh giànhcông nhân có tay nghề cao, lôi kéo làm chảy máu chất xám đội ngũ trí thức.

Nó ít nhiều tác động đến biến đổi cơ cấu xã hội - giai cấp ở nước ta hiện nay.Một trong những điều đáng quan tâm của nhân tố quốc tế hiện nay là cácthế lực thù địch vẫn chưa chịu từ bỏ âm mưu xóa bỏ chủ nghĩa xã hội trên đấtnước ta Theo đó, một trong những mục tiêu được chúng ưu tiên là lái nhữngbiến đổi cơ cấu xã hội - giai cấp theo định hướng tư sản Để thực hiện mụctiêu này, kẻ thù không từ bỏ một chiến lược nào: từ “chi phối đầu tư” nhằmdùng sức ép kinh tế nhằm mặc cả, nhằm làm mất ổn định chính trị đến “ngoạigiao thân thiện” nhằm gây mơ hồ chính trị trong nhân dân, rồi đến “khoét sâunội bộ” với mục tiêu làm thoái hóa, biến chất một bộ phận nhân dân, chia rẽnội bộ Đảng, “pha loãng” chính trị của các giai tầng cơ bản trong cơ cấu xãhội - giai cấp theo định hướng xã hội chủ nghĩa Đây là một trở lực lớn nhất

từ bên ngoài mà chúng ta luôn phải tính đến, luôn phải đề phòng trong suốtquá trình xây dựng cơ cấu xã hội - giai cấp theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Trang 22

1.1.3 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về giai cấp, tầng lớp

xã hội thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa

1.1.3.1 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với các giai cấp, tầng lớp xã hội trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

Quan điểm cơ bản, chủ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với cácgiai cấp, tầng lớp xã hội trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là: xâydựng toàn diện giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức xãhội chủ nghĩa, làm cho nền tảng chính trị - xã hội của xã hội - xã hội chủnghĩa ngày càng vững chắc Đại hội lần thứ VI của Đảng lần thứ VI chỉ rõ:

“Cần có quan điểm đúng đắn và thống nhất, kèm theo những chính sách, biệnpháp có hiệu quả xây dựng toàn diện giai cấp công nhân, giai cấp nông dân

và tầng lớp trí thức xã hội chủ nghĩa, làm cho nền tảng chính trị - xã hộicủa xã hội mới ngày càng vững chắc, ưu thế của lực lượng xã hội chủ nghĩatrong cuộc đấu tranh giữa hai con đường ngày càng được phát huy mạnhmẽ” [8, tr.96]

Đối với giai cấp công nhân, Đảng chủ trương phát triển về số lượng và

chất lượng, nâng cao chất lượng toàn diện, để xứng đáng là giai cấp tiênphong trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, lực lượng đi đầu trong sựnghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu dân giàu, nướcmạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; lực lượng nòng cốt trong liên minh giaicấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng Cộng sảnViệt Nam lãnh đạo Nghị quyết “Tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân ViệtNam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” trong điềukiện mới của Đảng đã khẳng định: Giai cấp công nhân Việt Nam là một lựclượng xã hội to lớn, đang phát triển, bao gồm những người lao động chân tay

và trí óc, làm công hưởng lương trong các loại hình sản xuất kinh doanh vàdịch vụ có tính chất công nghiệp Xây dựng giai cấp công nhân nước ta lớnmạnh trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là

Trang 23

nhiệm vụ quan trọng và cấp bách của Đảng, Nhà nước, của cả hệ thống chínhtrị, của mỗi người công nhân và của toàn xã hội.

Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổsung phát triển năm 2011) chỉ rõ: “Xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh cả

về số lượng và chất lượng; là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiênphong là Đảng Cộng sản Việt Nam, giai cấp tiên phong trong sự nghiệp xây

dựng chủ nghĩa xã hội” [12, tr 80-81] Đại hội Đảng lần thứ XI ghi rõ:

“Quan tâm giáo dục đào tạo, bồi dưỡng, phát triển giai cấp công nhân cả

về số lượng và chất lượng; nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn,chuyên môn kỹ năng nghề nghiệp, tác phong công nghiệp, kỷ luật laođộng, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hộinhập quốc tế” [12, tr.240-241]

Đối với giai cấp nông dân, Đảng chủ trương, xây dựng về mọi mặt để

nông dân xứng đáng là lực lượng cơ bản, chủ thể trong phát triển nôngnghiệp, nông thôn mới; tạo điều kiện để nông dân tham gia và hưởng lợi từ

quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành

Trung ương Đảng khoá X đã ra Nghị quyết “Về nông nghiệp, nông dân, nôngthôn” Nghị quyết xác định quan điểm, mục tiêu trong giải quyết vấn đề nôngnghiệp, nông dân, nông thôn thời kỳ mới và khẳng định, xây dựng giai cấpnông dân, củng cố liên minh công nhân - nông dân - trí thức vững mạnh, tạonền tảng kinh tế - xã hội và chính trị vững chắc cho sự nghiệp công nghiệphóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.Đại hội XI của Đảng khẳng định: “Xây dựng, phát huy vai trò của giaicấp nông dân, chủ thể của quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn Nângcao trình độ giác ngộ của giai cấp nông dân, tạo điều kiện để nông dân thamgia đóng góp và hưởng lợi nhiều hơn trong quá trình công nghiệp hóa, hiệnđại hóa đất nước Hỗ trợ, khuyến khích nông dân học nghề, chuyển dịch cơcấu lao động, tiếp nhận và áp dụng tiến bộ khoa học, công nghệ, tạo điều kiệnthuận lợi để nông dân chuyển sang làm công nghiệp và dịch vụ Nâng cao

Trang 24

chất lượng cuộc sống của dân cư nông thôn; thực hiện có hiệu quả bền vững

công cuộc xoá đói, giảm nghèo, làm giàu hợp pháp” [12, tr.241]

Đối với tầng lớp (đội ngũ) trí thức, Đảng chủ trương, xây dựng đội ngũ trí

thức lớn mạnh, có chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước Đạihội Đảng lần thứ XI xác định: “Xây dựng đội ngũ trí thức lớn mạnh, có chấtlượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước…Coi trọng vai trò tư vấn,phản biện, giám định xã hội của các cơ quan nghiên cứu khoa học trong việchoạch định đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước và các dự án phát triểnkinh tế, văn hoá, xã hội Gắn bó mật thiết giữa Đảng, Nhà nước với trí thức, giữatrí thức với Đảng, Nhà nước”[12, tr.241-242]

Đối với các tầng lớp xã hội khác, Đảng ta chỉ rõ, trong thời kỳ quá độ, với

nhiều thành phần kinh tế, sẽ xuất hiện thêm các tầng lớp xã hội khác Đảng chủtrương, quan tâm thích đáng và phát huy khả năng của các tầng lớp dân cư khác

vì sự nghiệp chung của đất nước Đối với tầng lớp doanh nhân, một tầng lớp xã

hội xuất hiện trong thời gian gần đây, Đảng xác định: “Tạo điều kiện xây dựng,phát triển đội ngũ doanh nhân lớn mạnh, có đạo đức nghề nghiệp và tráchnhiệm xã hội cao Phát huy tiềm năng và vai trò tích cực của đội ngũ doanhnhân trong phát triển sản xuất kinh doanh;… tạo việc làm, thu nhập cho ngườilao động, hàng hóa, dịch vụ cho đất nước và xuất khẩu” [12, tr.242] Ngoài ra,Đảng còn định ra chủ trương xây dựng, phát huy vai trò của thế hệ trẻ, phụ

nữ, cựu chiến binh,… trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

1.1.3.2 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về củng cố khối liên minh giai cấp và khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng nước ta, Đảng luôn luôn chủtrương xây dựng, củng cố, phát huy khối liên minh giữa giai cấp công nhânvới giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, khối đại đoàn kết dân tộc

Về liên minh giai cấp, Đảng xác định, liên minh công nhân với giai cấp

nông dân và đội ngũ trí thức tạo nền tảng chính trị - xã hội của xã hội mới

Trang 25

ngày càng vững chắc và thể hiện ưu thế của lực lượng xã hội xã hội chủ nghĩatrong cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh giữa hai con đường ngày càng pháthuy mạnh mẽ Đồng thời, Đảng chỉ rõ: “Động lực chủ yếu để phát triển đấtnước là đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh giữa giai cấp công nhânvới giai cấp nông dân và trí thức do Đảng lãnh đạo, kết hợp hài hòa các lợi ích

cá nhân, tập thể và xã hội, phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của các thànhphần kinh tế, của toàn xã hội” [11, tr.85]

Về củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, Đảng xác định, đoàn kết toàn

dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược trong suốt quá trình cách mạng Quanđiểm xuyên suốt của Đảng ta là: đoàn kết các giai cấp, các tầng lớp, các dântộc, các tôn giáo, mọi giới, mọi lứa tuổi, mọi người; phát huy sức mạnh của cảcộng đồng dân tộc, truyền thống yêu nước và lòng tự hào dân tộc vì mục tiêugiữ vững độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, thực hiện dân giàu, nước

mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh làm điểm tương đồng Từ lịch sử lãnh

đạo cách mạng, Đảng ta đã rút ra bài học kinh nghiệm lớn: “Không ngừngcủng cố, tăng cường đoàn kết, đoàn kết toàn Đảng, đoàn kết toàn dân, đoànkết dân tộc, đoàn kết quốc tế Đó là truyền thống quý báu và là nguồn sứcmạnh to lớn của cách mạng nước ta” [12, tr.65] Trong thời kỳ mới, Đảng xácđịnh: “Xây dựng một cộng đồng xã hội văn minh, trong đó các giai cấp, cáctầng lớp dân cư đoàn kết, bình đẳng về nghĩa vụ và quyền lợi” [12, tr.80].Trong xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, Đảng ta nhấn mạnh, xây dựngkhối đại đoàn kết dân tộc đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, lấy liên minh giai cấpcông nhân, nông dân và đội ngũ trí thức làm nền tảng và cơ sở; xây dựng khối đạiđoàn kết dân tộc vì thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam

xã hội chủ nghĩa; thực hành đoàn kết các dân tộc, “các dân tộc trong đại gia đìnhdân tộc Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, thương yêu, tôn trọng và giúp đỡ nhaucùng tiến bộ” [12, tr.244]; phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoànthể nhân dân trong “tập hợp, đoàn kết nhân dân xây dựng cơ sở chính trị củachính quyền nhân dân; thực hiện dân chủ, giám sát và phản biện xã hội;…tổ

Trang 26

chức phong trào thi đua yêu nước, vận đồng các tầng lớp nhân dân thực hiệncác nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đốingoại” [12, tr.246]; có cơ chế, chính sách phù hợp để tập hợp, phát huy vai tròcủa đồng bào định cư ở nước ngoài hướng về Tổ quốc, đóng góp xây dựngđất nước và góp phần tăng cường hợp tác, hữu nghị với nhân dân các nước,thực hiện đoàn kết quốc tế.

1.2 Thực trạng, nguyên nhân biến đổi cơ cấu xã hội – giai cấp ở thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu hiện nay

1.2.1 Thực trạng biến đổi cơ cấu xã hội – giai cấp ở thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu hiện nay

Thành phố Vũng Tàu nằm ở cửa ngõ ven biển, hướng ra biển Đông củavùng Kinh tế trọng điểm phía Nam và cả nước Phía Đông và phía Nam giápbiển Đông, phía tây giáp vịnh Gành Rái, phía Bắc giáp thị xã Bà Rịa và huyệnTân Thành, huyện Long Đất của Tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu Trong những nămqua, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Tỉnh luôn cao hơn tốc độ tăng trưởng kinh

tế trung bình của các tỉnh Đông Nam Bộ, cao hơn nhiều trung bình cả nước.Cùng với tăng trưởng kinh tế, cơ cấu xã hội - giai cấp đang có những biến đổi

1.2.1.1 Các giai cấp, tầng lớp xã hội của thành phố Vũng Tàu hiện nay Giai cấp công nhân

Ở thành phố Vũng Tàu, giai cấp công nhân chiếm tỷ lệ cao trong dân cư,

là lực lượng lao động chủ yếu Sự phát triển kinh tế - xã hội, phát triển công

nghiệp trong những năm vừa qua đã kéo theo sự phát triển của đội ngũ công nhân về số lượng Năm 2005 tổng số lao động làm việc trong các ngành kinh

tế là 129.222 người, năm 2010 lao động đang làm việc trong các ngành kinh

tế là 152.907 người (tại thời điểm 1.7 hàng năm); trong đó, lao động trong lĩnh vực mang tính chất công nghiệp, năm 2005 là 13.932 người, chiếm

8,42%; năm 2010 là 127.493 người, chiếm 83,35% [48]

Công nhân ở thành phố Vũng Tàu hiện nay chủ yếu là công nhân laođộng trong các ngành công nghiệp, các ngành có tính chất công nghiệp như:

Trang 27

Công nhân lao động trong ngành khai thác mỏ; Công nhân lao động trongngành công nghiệp chế biến thủy hải sản, may mặc, giày da, vận tải, kho bãi,vật liệu xây dựng.

Công nhân lao động trong ngành khai thác mỏ bao gồm: dầu khí và dịch

vụ dầu khí Ngành dầu khí bao gồm: khai thác dầu khí, chế biến các sản phẩm

từ dầu và khí Ngành dịch vụ dầu khí bao gồm: dịch vụ kỹ thuật và dịch vụ đờisống; dịch vụ kỹ thuật dầu khí bao gồm: dịch vụ căn cứ, dịch vụ khoan, dịch vụxây lắp, khảo sát, dịch vụ cung ứng và cho thuê thiết bị, dịch vụ trực thăng,dịch vụ vận tải phục vụ dầu khí, cơ khí…Cùng với sự phát triển của ngành dầukhí, công nhân lao động trong ngành dầu khí tăng nhanh về số lượng, đa dạng

về ngành nghề và là lực lượng công nhân ở thành phố Vũng Tàu

Công nhân lao động ngành công nghiệp chế biến thủy hải sản, may mặc,giày da, vận tải, kho bãi, vật liệu xây dựng…chủ yếu là những người lao độngphổ thông, gia công các sản phẩm, làm công ăn lương theo sản phẩm Số côngnhân có tay nghề cao, có khả năng tiếp thu công nghệ tiên tiến tập trung ở một

số ngành cơ khí; sản xuất và phân phối điện, khí đốt và thông tin liên lạc Sốlượng công nhân lao động ngành công nghiệp chế biến thủy hải sản, maymặc, giày da, vận tải, kho bãi, vật liệu xây dựng khá động, có sự biến đổi về

số lượng, nhưng chậm và ít

Từ sự phân tích trên cho thấy, giai đoạn 2005-2010, ở thành phố

Vũng Tàu, công nhân lao động trong các ngành công nghiệp, mang tính công nghiệp tăng về số lượng, đa dạng về ngành nghề, là lực lượng chủ yếu trong lao động của Thành phố Trong đó, công nhân lao động trong ngành khai thác mỏ (dầu khí và dịch vụ dầu khí) tăng nhiều nhất, chiếm

số lượng đông nhất.

Giai cấp nông dân

Nông dân ở thành phố Vũng Tàu hiện nay là những người lao động tronglĩnh vực thủy hải sản, lâm nghiệp, diêm nghiệp; lao động ở nông thôn, sảnxuất nông nghiệp chiếm tỷ lệ rất thấp trong cơ cấu lao động Số lao động

Trang 28

trong ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, năm 2005 là 5.320, chiếm 4,11%; năm

2010 là 6.250, chiếm 4,00% trong tổng số lao động trong các ngành Số laođộng trong ngành thủy sản, năm 2005 là 11.520, chiếm 8,91%; năm 2010 là13.499, chiếm 8,80% tổng số lao động trong các ngành

Từ số liệu trên cho thấy: nông dân sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp íthơn nông dân thủy sản (4,11% và 4,00% so với 8,91% và 8,80%); sau 5 năm,nông dân sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp suy giảm về số lượng (4,11% sovới 4,00%), nông dân thủy sản cũng giảm về số lượng (8,91% và 8,80%)

Đánh giá chung, giai đoạn 2005-2010, giai cấp nông dân ở thành phố Vũng Tàu suy giảm về số lượng Hiện tượng đó đúng với một thành phố công

nghiệp và du lịch biển, đang chịu nhiều tác động của quá trình công nghiệphóa và đô thị hóa, diện tích đất nông nghiệp ngày càng thu hẹp Hiện nay,Vũng Tàu còn khoảng 50 ha đất nông nghiệp đang được canh tác Thành phố

có Xã Long Sơn được xác định là vùng nông thôn nhưng đất đai khô cằn, đồinúi, người dân chủ yếu sinh sống bằng các ngành nghề phi nông nghiệp, đánhbắt ven bờ, một số ít sinh sống bằng nghề nuôi trồng thủy hải sản

Nông dân Vũng Tàu chuyển dần từ canh tác thuần nông sang các ngànhnghề có thu nhập cao hơn như dịch vụ, du lịch; nông dân cũng không đơnthuần canh tác thuần nông mà kết hợp trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủysản và đánh bắt xa bờ, khai thác thủy sản

Tầng lớp (đội ngũ) trí thức.

Trí thức ở Vũng Tàu trực tiếp hoạt động chủ yếu trong các lĩnh vựcnghiên cứu, giảng dạy, ứng dụng các khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật,khoa học xã hội và nhân văn, văn học nghệ thuật, lãnh đạo và quản lý Về cơbản, họ là những người nằm trong các ngành công nghiệp, các cơ quan, banngành, đoàn thể trong hệ thống chính trị của thành phố

Trước nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, cùng với quá trình công nghiệp

hóa, hiện đại hóa đã làm cho đội ngũ trí thức ở thành phố Vũng Tàu phát triển nhanh về số lượng và có kết cấu ngày càng đa dạng về ngành nghề đào tạo, về

Trang 29

nguồn đào tạo, về lĩnh vực công tác, về đơn vị công tác và cương vị công tác.

Năm 2005, số lượng trí thức hoạt động trong lĩnh vực khoa học và công nghệ chỉ

có 52 người, đến năm 2010 tăng lên là 270 người, tăng 218 người so với năm

2005 Từ số liệu thống kê, cơ quan chức năng của Vũng Tàu xác định, giai đoạn2005-2010, số người tốt nghiệp đại học trở lên tăng bình quân 10% mỗi năm.Như vậy, hiện nay thành phố Vũng Tàu có gần 3.000 người có trình độ học vấnđại học, thạc sĩ, tiến sĩ Tính đến năm 2010, Vũng Tàu đã có 629 thạc sỹ, 99 tiến

sĩ và đang có xu hướng tăng nhanh

Các tầng lớp xã hội khác.

Ở thành phố Vũng Tàu hiện nay có các tầng lớp xã hội khác: chủ cácdoanh nghiệp vừa và nhỏ, chủ nhà hàng vừa và nhỏ, tiểu thương, những ngườigiúp việc gia đình Giai đoạn 2005-2010, chủ các doanh nghiệp vừa và nhỏ,chủ các nhà hàng vừa và nhỏ tăng về số lượng, nhưng không nhiều và cóchiều hướng giảm; những người làm thuê và giúp việc trong các gia đình tăngnhiều, năm 2005 là 4.500 người, năm 2010 là 5.241 người

Chủ doanh nghiệp vừa và nhỏ, chủ nhà hàng vừa và nhỏ hình thành, pháttriển trong những năm đổi mới, tuy không nhiều về số lượng, song có nhữngđóng góp vào tăng trưởng kinh tế, góp phần tạo ra sự ổn định chính trị - xãhội cho Thành phố, đặc biệt là tạo ra việc làm, khai thác lợi thế của khai thác

mỏ và du lịch Ngoài ra, ở Vũng Tàu cũng có những người thuộc diện “lưumanh xã hội”… song số lượng không nhiều, chưa tạo ra các hiện tượng xã hộigây nên những bức xúc xã hội, làm tăng tính phức tạp xã hội

1.2.1.2 Vị thế, vai trò của các giai cấp, tầng lớp xã hội trong phát triển kinh tế - xã hội ở thành phố Vũng Tàu hiện nay

Giai đoạn 2006-2010, giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, đội ngũ trí thức vẫn giữ vững là lực lượng lao động xã hội chủ yếu, các giai tầng

xã hội cơ bản và có những đóng góp to lớn vào phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Vũng Tàu Trong đó, đóng góp của giai cấp công nhân là nổi trội nhất, rõ nét nhất.

Trang 30

Trong giai đoạn 2006-2010, mặc dù có ảnh hưởng không nhỏ do nhữngyếu tố kinh tế trong nước và quốc tế tác động, nhưng ngành công nghiệp,tiểu thủ công nghiệp của Vũng Tàu vẫn giữ được tốc độ phát triển cao,công nghiệp chế biến hải sản vẫn duy trì sản xuất bảo đảm hàng xuất khẩu,ngành thương mại dịch vụ tiếp tục phát triển, vốn đầu tư tăng bình quân 29

%/năm; doanh thu tăng bình quân 35 %/năm Doanh thu thương mại năm

2010 đạt 20.100 tỷ đồng, tăng gấp 3,1 lần so với năm 2006 Doanh thu dịch

vụ năm 2010 đạt 6.400 tỷ đồng, tăng gấp 4,2 lần so với năm 2006 Dịch vụ

du lịch phát triển, số lượt khách đến tham quan du lịch năm 2010 đạt gần 3triệu lượt, doanh thu năm 2010 đạt 1.500 tỷ đồng, tăng gấp 3,52 lần so vớinăm 2006 Những tăng trưởng đó khẳng định vị thế, vai trò của ngành côngnghiệp, dịch vụ đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của Vũng Tàu, qua đócũng khẳng định vị thế, vai trò của những lao động trong ngành côngnghiệp dịch vụ, của giai cấp công nhân đối với sự phát triển của Vũng Tàunhững năm vừa qua

Những năm vừa qua, nông lâm, ngư nghiệp ở Thành phố Vũng Tàu làlĩnh vực đang chịu sự biến động mạnh do tác động của những chủ trương pháttriển kinh tế - xã hội của Thành phố, nhất là ngư dân Nông dân ở Vũng Tàuđang có sự biến động mạnh Nông dân thuần nông ngày càng giảm và còn rất

ít, nhiều nông dân đã chuyển sang làm dịch vụ, có nông dân trở thành chủtrang trại, có nông dân mở xưởng cơ khí sửa chữa, cung ứng máy móc cho sảnxuất nông nghiệp, khai thác thủy hải sản Tuy vậy, những lao động trong ngành

nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, những nông dân vẫn có những đóng góp lớn vào phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Vũng Tàu, vai trò của nông dân ngày càng được khẳng định, vị thế ngày càng được nâng cao Trong

những năm qua, nông nghiệp có tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 13,91 %/năm, năm 2010 doanh thu ước đạt 27 tỷ đồng, các ngành trồng trọt, chăn nuôi

có chiều hướng giảm do quá trình đô thị hóa vì hiện chỉ còn khoảng 50 ha đấtnông nghiệp đang được canh tác Trong giai đoạn 2006-2010, sản lượng khai

Trang 31

thác thuỷ sản tăng bình quân hằng năm 9 %/năm, năm 2010 sản lượng đạt125.000 tấn, sản lượng nuôi trồng tăng bình quân 2 % năm, năm 2010 đạt2.400 tấn, tổng doanh thu năm 2010 là 2.680 tỷ đồng Hiện nay toàn Thành phố

có 1.828 tàu cá, tổng công suất 242.300 CV, trong đó có 968 tàu cá có côngsuất từ 90 CV trở lên Ngành thuỷ sản Vũng Tàu cũng là một trong nhữngngành đi đầu trong việc đầu tư trang thiết bị Diện tích nuôi trồng thủy sản hiệnnay có khoảng 2.000 ha, số lượng tàu thuyền tăng cả về số lượng lẫn chấtlượng Sản lượng đánh bắt hàng năm luôn tăng trưởng ổn định

Trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và khoa họccông nghệ đang trở thành lực lượng sản xuất vật chất trực tiếp thì vai trò củatầng lớp trí thức trong phát triển kinh tế - xã hội ở Vũng Tàu ngày càng tăng

Vị thế, vai trò của đội ngũ trí thức thể hiện ở sự phát triển của ngành khai thác

mỏ, dịch vụ dầu khí Nếu không có đội ngũ trí thức với số lượng ngày càngtăng, trí tuệ ngày càng đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thì côngnghiệp khai thác mỏ, dịch vụ dầu khí không thể đạt những kết quả mang tầm

cỡ quốc tế như hiện nay Hiện nay, ở thành phố Vũng Tàu đã hình thành mộtđội ngũ chuyên gia, cán bộ quản lý, công nhân kỹ thuật ở các lĩnh vực thăm dò

và khai thác dầu khí, luyện cán thép, bưu chính viễn thông, công nghệ tin học

và điện tử Đặc biệt, nhiều trí thức là cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật Việt Namđang sống và làm việc ở thành phố Vũng Tàu đã từng bước thay thế vị trí, côngviệc do người nước ngoài trước đây đảm nhiệm Sự lớn lên về chất của đội ngũcông nhân trí thức được kiểm nghiệm qua việc tham gia vào phân công laođộng trong nước, trong khu vực và trên thế giới

Tầng lớp doanh nhân là những người thành đạt trong sản xuất kinhdoanh được tập hợp bởi những con người xuất thân từ các giai tầng xã hộikhác nhau Các doanh nhân có vai trò tích cực trong phát triển sản xuất kinhdoanh, giải quyết việc làm cho người lao động, nâng cao chất lượng sảnphẩm, tạo dựng và giữ gìn thương hiệu hàng hoá Việt Nam, góp phần nângcao vị thế của đất nước trên trường quốc tế

Trang 32

Cùng với các giai tầng xã hội chủ yếu, ở thành phố Vũng Tàu đã xuấthiện nhiều nhóm xã hội, hiện tại chưa thể định danh họ thành các tầng lớptrong xã hội, dù các nhóm này có số lượng không nhỏ Những tầng lớp này đã

và đang đóng góp vào tăng trưởng, sự phát triển, ổn định của Thành phố tronggiai đoạn hiện nay và những năm tiếp theo

1.21.3 Về liên minh giai cấp, khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở thành phố Vũng Tàu hiện nay

Trong suốt những năm qua, về cơ bản thành phố Vũng Tàu đã hoànthành các chỉ tiêu kế hoạch do Đại hội Đại biểu Đảng bộ thành phố lần thứIV,V đề ra Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm vượt chỉ tiêu nghịquyết đề ra Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng Nhìn chung tình hìnhkinh tế - xã hội của thành phố Vũng Tàu trong giai đoạn 2006-2010 phát triểntốt, bộ mặt đô thị có rất nhiều đổi thay tích cực Đời sống các tầng lớp nhândân từng bước được nâng cao, số hộ nghèo giảm nhanh Công tác y tế, giáodục, chăm sóc gia đình thương binh liệt sĩ, gia đình có công với cách mạng,người già và trẻ mồ côi được thực hiện tốt Trật tự, an toàn xã hội, an ninh,quốc phòng được giữ vững Có được thành quả đó chính là nhờ Đảng bộ vàchính quyền thành phố đã củng cố và phát huy được vai trò liên minh giữagiai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, sức mạnh củakhối đại đoàn kết toàn dân dân tộc ở địa phương

Về liên minh giai cấp ở thành phố Vũng Tàu hiện nay.

Xây dựng khối liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân vàđội ngũ trí thức bảo đảm cho tính bền vững lâu dài, sự cố kết các tầng lớp nhândân và sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc là một trong những nội dungquan trọng luôn được cấp ủy, chính quyền thành phố Vũng Tàu đặc biệt quantâm lãnh đạo, chỉ đạo Đại đa số dân cư ở thành phố Vũng Tàu là công nhân,nông dân, trí thức, do đó, chủ trương củng cố và phát huy liên minh giai cấp đápứng nhu cầu, lợi ích, nguyện vọng của công nhân, nông dân, trí thức và về cơbản phù hợp với nhu cầu, lợi ích của các tầng lớp xã hội khác Những năm vừa

Trang 33

qua, với sự nỗ lực của lãnh đạo, chính quyền, với chủ trương và biện pháp thực

hiện đúng, với sự đồng lòng của các giai tầng xã hội, khối liên minh giai cấp giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức được củng cố bền vững, phát huy vai trò trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Thành phố.

Những thành công của thành phố Vũng Tàu trên các lĩnh vực chính trị,kinh tế, văn hóa, xã hội có sự đóng góp rất to lớn của giai cấp công nhân,nông dân, trí thức Quá trình “trí thức hóa” trong những người lao động trênlĩnh vực công nghiệp, khai thác mỏ, dịch vụ dầu khí; “công nhân hóa” trongnhững người lao động trên lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy,hải sản,… thể hiện rõ hơn tính chất liên minh giai cấp ở thành phố Vũng Tàutrong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa Tuy vậy, hình tháiliên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thứcchưa thật rõ nét; tính chất liên minh chưa thật sâu đậm

Về khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở thành phố Vũng Tàu hiện nay.

“Phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong tiến trình xây dựng và thựchiện các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, vì lợi ích chung của nhân dân,dựa vào dân, phát huy vai trò chủ động, sáng tạo của nhân dân là một bàihọc kinh nghiệm chung cho tất cả các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thểcủa Thành phố” [5, tr.26-27] Trên thực tế, trong tiến trình đổi mới, đẩymạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Thành phố luôn quan tâm xây dựngkhối đại đoàn kết toàn dân tộc Mặc dù chịu nhiều tác động của những lợiích kinh tế, sự phân hóa trong các giai tầng về mức sống, nhưng ở thành phốVũng Tàu không có tình trạng mất đoàn kết nghiêm trọng trong nhân dân

Khối đoàn kết toàn dân được củng cố vững chắc và phát huy sức mạnh trong phát triển kinh tế, xã hội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn của Thành phố Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”

được chú trọng, nâng cao nội dung và chất lượng Đến nay, thành phố có79,13% khu phố đạt danh hiệu khu phố văn hóa, 94,12% số hộ dân đạt giađình văn hóa Hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể có bước phát

Trang 34

triển vững chắc, góp phần xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh, thực hiệnthắng lợi các chỉ tiêu, nhiệm vụ kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, anninh của Thành phố Thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, vai trò làm chủcủa nhân dân được phát huy [6, tr.21-25].

Cùng với việc củng cố và phát huy vai trò nòng cốt của liên minhgiữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức trongxây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, Thành phố còn chú trọng làm tốtcông tác tôn giáo, dân tộc Công tác tôn giáo luôn được Thành phố quantâm, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức tôn giáo hoạt động Thànhphố cũng đã thực hiện tốt chính sách hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số cócuộc sống khó khăn theo chương trình 134 của Chính phủ Hiện nay, “cácchức sắc và đồng bảo các tôn giáo đã ủng hộ, hưởng ứng thực hiện tốt cácchủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, sống “tốt đời,đẹp đạo”, tích cực tham gia các hoat động xã hội và công tác từ thiệnnhân đạo Đời sống đồng bảo dân tộc thiểu số ngày càng tốt hơn Đã tổchức thành công Đại hội các dân tộc thiểu số lần thứ nhất” [6, tr 21]

1.2.2 Nguyên nhân biến đổi cơ cấu xã hội – giai cấp ở thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu hiện nay

Thứ nhất, nguyên nhân từ sự biến đổi kết cấu kinh tế, chủ yếu là sự phát triển ngành nghề ở thành phố Vũng Tàu giai đoạn 2001-2010

Kết cấu kinh tế là cơ sở đầu tiên, quan trọng nhất làm cho cơ cấu xã hội giai cấp biến đổi Kết cấu kinh tế thay đổi sẽ làm cho cơ cấu xã hội - giai cấpbiến đổi theo

-Đại hội Đảng bộ thành phố Vũng Tàu lần thứ III, IV đã xác định phươnghướng phấn đấu trong những năm vừa qua là: Động viên mọi nguồn lực, tậndụng mọi thời cơ, vượt qua khó khăn thử thách, phấn đấu thực hiện côngnghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo đảm đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhất vàvững chắc theo cơ cấu: Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp - Dịch vụ và dulịch - Hải sản Phát triển lực lượng sản xuất gắn liền với xây dựng quan hệ sản

Trang 35

xuất mới phù hợp trên cả ba mặt sở hữu, quản lý và phân phối, tạo ra công ănviệc làm cho nhân dân luôn được coi là nhiệm vụ trung tâm trong các kỳ đạihội của các cấp ủy và hiện nay là đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.Trong suốt những năm qua, đảng bộ, chính quyền thành phố Vũng Tàuliên tục thực hiện chủ trương dịch chuyển cơ cấu kinh tế theo hướng tỷ trọngnông - lâm - ngư nghiệp giảm dần và tỷ trọng khu vực dịch vụ giảm nhẹ, đẩymạnh phát triển các ngành nghề khai thác mỏ, dịch vụ dầu khí, dịch vụ dulịch… qua từng giai đoạn Trên thực tế, khai thác mỏ, dịch vụ dầu khí, dịch

vụ du lịch phát triển mạnh, tạo ra sự dịch chuyển và hình thành một kết cấukinh tế mang tính công nghiệp, hiện đại Từ sự chuyển dịch kết cấu kinh tế đãlàm gia tăng số lượng giai cấp công nhân, suy giảm giai cấp nông dân

Thứ hai, nguyên nhân từ quan điểm, chủ trương, kế hoạch phát triển kinh tế

- xã hội của Thành ủy, Chính quyền thành phố Vũng Tàu giai đoạn 2001-2010.

Quan điểm, chủ trương, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của Thành

ủy, Ủy ban Nhân dân thành phố Vũng Tàu là một trong những nguyên nhânquan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến những biến đổi cơ cấu xã hội - giai cấp ởthành phố Vũng Tàu hiện nay

Quán triệt phương hướng chiến lược chung của cả nước, của vùng Kinh

tế trọng điểm phía Nam và quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội củatỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu giai đoạn 2006-2015, định hướng đến năm 2020,quan điểm chỉ đạo chung trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội được xácđịnh là: Tập trung khai thác những lợi thế về vị trí địa lý, nắm bắt cơ hội của quyluật phát triển tác động của công nghiệp khai thác dầu khí và lọc hóa dầu, của hệthống kết cấu hạ tầng ở vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam tạo ra những bướcđột phá có tính chất quyết định cho chuyển đổi mạnh mẽ về chất của nền kinh tế;chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tiếp tục nâng nhanh tỷ trọng của cácngành dịch vụ; chuyển dịch cơ cấu công nghiệp, cơ cấu lao động và nâng caomức sống dân cư mạnh mẽ hơn trong các tiểu vùng, tạo ra sự phát triển đồng đềutrên địa bàn Thành phố từ nay đến 2020 Đây là chủ trương, định hướng lớn tácđộng đến sự phát triển các ngành nghề, các lĩnh vực của đời sống xã hội, để đưa

Trang 36

Vũng Tàu đến năm 2020 trở thành đô thị loại I, là trung tâm dịch vụ lớn tầmquốc gia Chủ trương trên là cơ sở cho chính quyền Thành phố xây dựng kếhoạch phát triển kinh tế - xã hội và chỉ đạo thực hiện kế hoạch đó.

Thứ ba, nguyên nhân từ điều kiện tự nhiên, văn hóa, xã hội của thành phố Vũng Tàu giai đoạn 2001-2010.

Những điều kiện tự nhiên, văn hóa, xã hội là một trong những nguyênnhân giữ vị trí quan trọng để tạo ra biến đổi cơ cấu xã hội - giai cấp, điều kiện

để làm cho cơ cấu xã hội - giai cấp biến đổi nhanh hơn Nếu điều kiện đókhông thuận lợi sẽ trở thành lực cản cho phát triển kinh tế - xã hội, làm choquá trình biến đổi cơ cấu xã hội - giai cấp chậm lại, thực hiện liên minh công -nông - trí, thực hiện đại đoàn kết toàn dân sẽ khó khăn hơn

Với vị trí địa lý thuận lợi, thành phố Vũng Tàu có một số tiềm năng mà nhiềuthành phố ở nước ta không có được đó là, kinh tế biển và dịch vụ biển, đặc biệt làkhai thác dầu khí và dịch vụ dầu khí; trung tâm có thể giao lưu với các vùng kinh tếlớn ở phía Nam và là cửa ngõ để mở rộng giao thương với khu vực và thế giới

Về điều kiện tự nhiên, Vũng Tàu còn có nhiều tiềm năng và khả năngkhai thác các tiềm năng tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên vào phát triển kinh tế

xã hội như: tài nguyên đất, tài nguyên nước, tài nguyên rừng, tài nguyên venbiển, tài nguyên khoáng sản

Những điều kiện tự nhiên, văn hóa, xã hội là cơ sở cho việc xác định chủtrương, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của Thành ủy, Ủy ban Nhân dân.Đồng thời, cũng tạo ra lợi thế cho Vũng Tàu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiệnđại hóa, mở cửa và hội nhập quốc tế trong xu thế toàn cầu hóa, thực hiện mụctiêu phát triển kinh tế - xã hội những thập kỷ vừa qua Đó cũng là những điềukiện của sự chuyển dịch cơ cấu xã hội - giai cấp theo định hướng xã hội chủnghĩa sớm có được trên thực tế

Thứ tư, nguyên nhân từ di dịch cư, di dịch chuyển lao động ở thành phố Vũng Tàu giai đoạn 2001-2010.

Di dịch cư, di dịch chuyển lao động cũng là nguyên nhân tác động lớntạo ra sự biến đổi cơ cấu xã hội - giai cấp ở Vũng Tàu những năm vừa qua

Trang 37

Thành phố Vũng Tàu, có ngành công nghiệp dầu khí và hóa dầu, dịch vụ

và thủy sản có tiềm năng lớn Các ngành nghề đó tạo nhu cầu về nguồn laođộng, nhân lực cho các ngành tăng nhanh trong giai đoạn 2001-2005, từ148.362 người năm 2000, tăng lên 192.520 năm 2005; tốc độ tăng bình quânthời kỳ 2001-2005 trên 5,3% năm, đến năm 2010 là 220.455 người với tốc độtăng bình quân trong thời kỳ 2006-2010 là 4,6% So với tốc độ tăng dân sốcủa Thành phố, lực lượng lao động đã cao hơn 1,5%

Có hai lý do, một là lực lượng lao động trong nội bộ đã tăng lên và lý dothứ hai là lao động từ nơi khác chuyển về Trong những năm qua, tỉ lệ tăng dân

số tự nhiên liên tục giảm xuống nhanh, nhưng so với tỉ lệ tăng dân số chung thìdân số cơ học của thành phố Vũng Tàu liên tục tăng, khoảng 2,40% năm 2000,tăng lên khoảng 2,70% năm 2005 và năm 2010 tăng lên 2,78% Với tỷ lệ tăng cơhọc liên tục tăng cao như vậy, cho thấy có dòng di cư từ nơi khác đến Vũng Tàu

cư trú tăng lên Chính sự chuyển cư đã làm gia tăng sự chuyển dịch kết cấu giaicấp, làm cho giai cấp công nhân, đội ngũ trí thức tăng nhanh

Tốc độ tăng của lực lượng lao động làm việc trong các ngành tăng nhanhhơn, khoảng 4,7 % thời kỳ 2001-2005 tăng lên 5,7 % thời kỳ 2006-2010 Lựclượng lao động trong độ tuổi có xu thế giảm trong cùng thời kỳ so sánh, từ5,6% xuống còn 4,5% điều này có nghĩa là lực lượng trực tiếp tăng lên tươngđối so với lực lượng lao động trong độ tuổi Tỷ trọng lực lượng lao động đanglàm việc so với nguồn lao động tăng từ 67,1% năm 2005 tăng lên 69,1% năm2010; Đồng thời tỷ lệ lao động không có việc làm giảm, từ 6,5% năm 2000xuống còn 6,0% năm 2005 và xuống còn 4,9% năm 2010 Mặt khác, lựclượng lao động trẻ tăng khá nhanh, góp phần bổ sung vào lực lượng lao độngcủa Thành phố Lực lượng lao động tăng nhanh có tác động hai mặt: bổ sunglực lượng lao động, đáp ứng yêu cầu của các khu công nghiệp và ngành dầukhí; nhưng đồng thời nó cũng tạo ra áp lực cho các vấn đề xã hội như: cungcấp nước sạch, xây dựng trường học, bệnh viện, nhà ở trở nên khó khăn hơn

Thứ năm, nguyên nhân từ đào tạo nguồn nhân lực của thành phố Vũng Tàu, của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Trang 38

Thành phố Vũng Tàu có vị trí thuận lợi để phát triển các trung tâm đàotạo cho Tỉnh và khu vực Hiện nay, thành phố có 1 trường Cao đẳng Cộngđồng do Hà Lan tài trợ đã và đang hoạt động, Trường Đại học kỹ thuậtSwinburne Vabis (Asutralia) đang được triển khai Ngoài ra, trên địa bàn còn

có 7 phân hiệu của các trường đại học lớn khác nhau trong nước, 01 trườngĐại học của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu Các phân hiệu này đã đào tạo hàng ngànsinh viên cho Tỉnh, Thành phố với nhiều ngành học khác nhau

Xác định nhân lực là một nội dung có tính chất quan trọng đặc biệt trongphát triển kinh tế xã hội, tác động làm cho cơ cấu xã hội - giai cấp biến đổi,một trong những giải pháp nhằm làm biến đổi cơ cấu xã hội - giai cấp, ngay

từ năm 2000, Đảng bộ Thành phố đã xác định đó là: “Nâng cao chất lượng,

hiệu quả của công tác cán bộ, phát hiện lựa chọn quy hoạch đào tạo cán bộ trẻ ưu tú cấp cơ sở có thành tích xuất sắc đề nghị với Tỉnh cho đi đào tạo chính quy đáp ứng nhu cầu đến năm 2010” [4, tr.38] Từ quan điểm, chủ

trương đó, chỉ sau 10 năm, số người có trình độ đại học, cao đẳng tăng liên tục.Năm 2000 có 9.500 người thì đến năm 2010 có 28.385 người Số người cótrình độ trên đại học cũng tăng từ 167 người năm 2000 lên 727 người

Trên đây là những nguyên nhân chủ yếu của sự biến đổi cơ cấu xã hội giai cấp ở thành phố Vũng Tàu hiện nay Mỗi nguyên nhân đều có vị trí, vai tròquan trọng và giữa chúng có quan hệ chặt trẽ với nhau Nguyên nhân chủ yếunhất dẫn đến sự biến đổi cơ cấu xã hội - giai cấp ở thành phố Vũng Tàu giaiđoạn 2001-2010: từ sự biến đổi kết cấu kinh tế, từ quan điểm, chủ trương, kếhoạch phát triển kinh tế - xã hội của Thành ủy, Chính quyền Thành phố và điềukiện tự nhiên, văn hóa, xã hội

-*

Cơ cấu xã hội - giai cấp là phân hệ cơ bản của bất kỳ hệ thống xã hội nào

Nó phản ánh tính chất chính trị - xã hội của hệ thống xã hội Cơ cấu xã hội - giai

Ngày đăng: 25/02/2017, 11:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w