1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

SKKN 2016 Xây dựng và sử dụng bài tập CHƯƠNG NITƠ PHOTPHO gây HỨNG THÚ

17 508 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 430,47 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong dạy học hoá học, bài tập hóa học vừa là mục đích, vừa là nội dung, phương pháp dạy học và cũng là phương tiện dạy học hiệu quả để phát triển các năng lực và rèn kĩ năng cho học sinh. Giải bài bài tập hóa học với tư cách là một phương pháp dạy học, có tác dụng rất tích cực đến việc giáo dục, rèn luyện và phát triển toàn diện học sinh. Đồng thời, nó cũng là thước đo thực chất sự nắm vững kiến thức và kĩ năng hóa học của học sinh. Song việc sử dụng bài tập hóa học trong dạy học chưa thực sự được giáo viên chú trọng đúng mức. Giáo viên còn tập trung rèn kĩ năng giải bài tập hóa học để đáp ứng yêu cầu thi cử, chưa chú ý đến việc sử dụng bài tập để phát triển các năng lực cho học sinh, lơ là những nội dung liên quan đến thực tiễn, các hiện tượng thiên nhiên, ít áp dụng những phương pháp tích cực… Đôi khi những nội dung liên quan đến thực tiễn, sản xuất nhưng không có trong sách giáo khoa, giáo viên ít liên hệ hoặc ít nhắc tới. Chính vì lí do đó, nhiều học sinh không biết học hóa học để làm gì. Học sinh hầu như không hào hứng, không mong chờ tới giờ học. Các bài tập hóa học trong chương trình Hóa học phổ thông chưa được chú trọng xây dựng theo hướng gắn với tình huống, bối cảnh thực tiễn nên gây cảm giác khô khan, hàn lâm, giảm hứng thú học tập đối với học sinh. Hứng thú là một thuộc tính tâm lí – nhân cách của con người. Hứng thú có vai trò quan trọng trong học tập và làm việc. M. Gorki từng nói: “ Thiên tài nảy nở từ tình yêu đối với công việc”. Cùng với sự tự giác, hứng thú làm nên tính tích cực nhận thức, giúp học sinh học tập đạt kết quả cao, có khả năng khơi dậy mạch nguồn sáng tạo.

Trang 1

MỤC LỤC

Thông tin chung về sáng kiến 2

I Mô tả giải pháp đã biết 2

II Nội dung giải pháp đề nghị công nhận sáng kiến II.1 Nội dung giải pháp mà tác giả đề xuất 3

II.2 Tính mới, tính sáng tạo: 8

II.3 Khả năng áp dụng, nhân rộng: 8

II.4 Hiệu quả, lợi ích thu được do áp dụng giải pháp: 8

Tài liệu tham khảo 11

PHỤ LỤC 1 Phụ lục 1: Bài tập gây hứng thú 12

2 Phụ lục 2: Xây dựng bài tập gây hứng thú 17

3 Phụ lục 3: Thiết kế một số giáo án minh họa 29

Trang 2

THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN

1 Tên sáng kiến: Xây dựng và sử dụng các bài tập gây hứng thú trong giảng dạy

chương Nitơ-Photpho (Hóa học 11).

2 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Giảng dạy bộ môn Hóa học THPT, nghiên cứu khoa

học hóa học trong đời sống thông qua các tình huống thực tiễn

3 Tác giả:

Họ và tên: Phạm Văn Chiến

Ngày/tháng/năm sinh: 20 / 02 / 1983

Điện thoại DĐ:

4 Đơn vị áp dụng sáng kiến:

Tên đơn vị: Trường THPT Đồ Sơn

Địa chỉ: Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng

Điện thoại:

I Mô tả giải pháp đã biết: (Mô tả giải pháp đã biết; ưu điểm, hạn chế của giải pháp

đã, đang áp dụng tại cơ quan đơn vị).

Trong dạy học hoá học, bài tập hóa học vừa là mục đích, vừa là nội dung, phương pháp dạy học và cũng là phương tiện dạy học hiệu quả để phát triển các năng lực và rèn kĩ năng cho học sinh Giải bài bài tập hóa học với tư cách là một phương pháp dạy học, có tác dụng rất tích cực đến việc giáo dục, rèn luyện và phát triển toàn diện học sinh Đồng thời, nó cũng là thước đo thực chất sự nắm vững kiến thức và kĩ năng hóa học của học sinh

Song việc sử dụng bài tập hóa học trong dạy học chưa thực sự được giáo viên chú trọng đúng mức Giáo viên còn tập trung rèn kĩ năng giải bài tập hóa học để đáp ứng yêu cầu thi cử, chưa chú ý đến việc sử dụng bài tập để phát triển các năng lực cho học sinh, lơ là những nội dung liên quan đến thực tiễn, các hiện tượng thiên nhiên, ít

áp dụng những phương pháp tích cực… Đôi khi những nội dung liên quan đến thực tiễn, sản xuất nhưng không có trong sách giáo khoa, giáo viên ít liên hệ hoặc ít nhắc tới Chính vì lí do đó, nhiều học sinh không biết học hóa học để làm gì Học sinh hầu như không hào hứng, không mong chờ tới giờ học

Các bài tập hóa học trong chương trình Hóa học phổ thông chưa được chú trọng xây dựng theo hướng gắn với tình huống, bối cảnh thực tiễn nên gây cảm giác khô khan, hàn lâm, giảm hứng thú học tập đối với học sinh

Hứng thú là một thuộc tính tâm lí – nhân cách của con người Hứng thú có vai

trò quan trọng trong học tập và làm việc M Gorki từng nói: “ Thiên tài nảy nở từ

Trang 3

tình yêu đối với công việc” Cùng với sự tự giác, hứng thú làm nên tính tích cực nhận

thức, giúp học sinh học tập đạt kết quả cao, có khả năng khơi dậy mạch nguồn sáng tạo

Chương Nitơ – photpho có rất nhiều nội dung liên quan đến thực tiễn, kiến thức liên môn, thực nghiệm, bài tập ứng dụng trong các ngành công nghiệp Vì vậy nó tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên vận dụng vào quá trình giảng dạy Nếu giáo viên biết sắp xếp tổ chức hợp lí học sinh vừa lĩnh hội được kiến thức vừa biết được nhiều kiến thức liên quan đến thực tiễn, ứng dụng trong công nghiệp, nông nghiệp… giúp học sinh yêu thích bộ môn Từ đó góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy

II Nội dung giải pháp đề nghị công nhận sáng kiến

II.1 Nội dung giải pháp mà tác giả đề xuất

Bài tập hóa học gây hứng thú là dạng bài tập tạo nên cảm giác hưng phấn, tích cực cho học sinh nhờ các kiến thức mới, gần với thực tiễn, hình ảnh đẹp, các thủ pháp tâm lý (kích thích trí tò mò, các yếu tố gây bất ngờ…)

Một bài tập bình thường, chỉ chứa dữ kiện là các con số cùng với yêu cầu của đề bài sẽ rất dễ dẫn đến sự khô khan, nhàm chán Bài tập có chứa các yếu tố mới lạ, hay kích thích sự tò mò dễ tạo cảm giác hưng phấn cho học sinh khi tiếp xúc với bài tập Làm cho học sinh tích cực nhận thức Hứng thú gây động cơ thúc đẩy quá trình quá trình tiếp nhận tri thức

Kích thích sự tò mò của học sinh Bài tập có chứa các yếu tố gây hứng thú sẽ kích thích được sự say mê, mong muốn khám phá những vấn đề đề bài yêu cầu

Bài tập có chứa yếu tố mới, lạ, thời sự, Đây là đặc điểm khác biệt giữa bài tập gây hứng thú so với các loại bài tập thông thường

Tạo cơ sở, động cơ cho hoạt động nghiên cứu, phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh

Nâng cao chất lượng dạy học môn hóa ở trường phổ thông

Rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo

Cung cấp thêm các thông tin mới lạ, những hiện tượng xung quanh kì thú và hấp dẫn, giúp học sinh duy trì sự chú ý trong một thời gian dài, mức độ tập trung vào hoạt động rất cao từ đó hiệu quả học tập đạt được như ý muốn

Làm chỗ dựa cho sự ghi nhớ Khi có hứng thú, sự ghi nhớ là tự nguyện và kiến thức được khắc sâu hơn

Kích thích hứng thú học tập của học sinh, tạo cảm giác thích giải các bài tập hóa học hơn

Có vai trò quan trọng trong việc duy trì tình cảm thầy trò Khi học sinh có hứng thú với môn học thì tình cảm thầy trò cũng trở nên tốt đẹp hơn Đây là một trong những yếu tố giúp xây dựng bầu không khí lớp học, học sinh chủ động và tích cực làm việc, thúc đẩy quá trình lĩnh hội tri thức được hiệu quả hơn

Trang 4

Để vận dụng bài tập hứng thú vào chương này, ta có thể tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau miễn sao phù hợp với đối tượng học sinh, thời gian tiết học và nội dung của bài

Một số hình thức vận dụng bài tập gây hứng thú

- Vận dụng trong kiểm tra bài cũ

- Vận dụng trong dẫn dắt vào bài mới

- Vận dụng trong giảng dạy bài mới

- Vận dụng trong củng cố kiến thức bài học, luyện tập chương

- Vận dụng trong lồng ghép vào hoạt động ngoại khóa

Giải pháp 1 Sử dụng bài tập gây hứng thú trong kiểm tra bài cũ

Trong quá trình giảng dạy, đôi khi giáo viên nên thay đổi không khí lớp học bằng cách kiểm tra bài cũ với những hình ảnh thí nghiệm trong thời gian khoảng 5 phút

Ví dụ 1: Em hãy mô tả và giải thích hiện tượng thí nghiệm của NH 3 trong hình ảnh dưới đây?

Trả lời: Nạp đầy khí NH3 vào bình thủy tinh trong suốt, đậy bằng nút cao su có ống thủy tinh vuốt nhọn xuyên qua Nhúng đầu ống thủy tinh vào một chậu thủy tinh chứa nước có pha thêm dung dịch phenolphtalein Một lát sau, nước trong chậu phun

giảm áp suất trong bình và nước bị hút vào bình Phenolphtalein chuyển thành màu hồng chứng tỏ dung dịch có tính bazơ

* Với câu hỏi này, học sinh không cảm thấy áp lực với nội dung được hỏi mà còn tạo được sự mở đầu sôi nổi cho tiết học bài mới

Ví dụ 2: So sánh thể tích khí NO duy nhất thoát ra (đktc) trong hai thí nghiệm

sau:

TN1: 3,84gam Cu TN2: 3,84gam Cu

80ml HNO3 1M 80ml HNO3 1M và HCl 1M

Trang 5

Trả lời:

TN1: n Hn NO3  n HNO3 0, 08(mol)

3,84

0,06( ) 64

Cu

3Cu + 8H+ + 2NO3 

Ban đầu: 0,06 0,08 0,08 → 0 (mol)

Phản ứng: 0,03 0,08 0,02 → 0,02 (mol)

Còn: 0,03 0 0,06 → 0,02 (mol)

0, 02 22, 4 0, 448( )

NO

TN2:n H n HNO3 n HCl  0, 08 0, 08 0,16(   mol),n NO3   0, 08(mol)

,

3,84

0,06( )

64

Cu

3Cu + 8H+ +2NO3 

Ban đầu: 0,06 0,16 0,08 → 0 (mol)

Phản ứng: 0,06 0,16 0,04 → 0,04 (mol)

Còn: 0 0 0,04 → 0,04 (mol)

0,04 22, 4 0,896( )

NO

Vậy thể tích khí NO (đktc) thu được ở TN2 > TN1

Nhận xét: Cùng một khối lượng kim loại nhưng thể tích khí thu được không

bằng nhau Điều đó tùy thuộc vào chất nào tham gia phản ứng hết Vì vậy chúng ta phải so sánh số mol của Cu, H NO , 3 

trước khi tính toán

Bài tập này, giáo viên dùng để kiểm tra bài cũ về phần tính chất hóa học của axit phản ứng với kim loại tạo ra sản phẩm khử duy nhất

* Thay vì dùng lời kèm với những con số, giáo viên nên đưa ra bài tập dưới dạng hình vẽ dễ hình dung, kích thích tính tò mò của học sinh Đây là dạng bài tập phát triển

tư duy của học sinh, có phương pháp giải đặc biệt Để giải được bài tập này, học sinh

phương pháp giải nhanh bài toán dư với dạng phương trình ion

Giải pháp 2 Sử dụng bài tập gây hứng thú khi dẫn dắt vào bài mới

Nhà thơ vĩ đại của Mỹ Henry Wadsworth Longfellow đã viết: “Mở đầu là một

nghệ thuật vĩ đại” Ấn tượng đầu tiên là rất quan trọng Mỗi bài học đều có phần mở

đầu thuyết phục, vì phần mở đầu sẽ dẫn dắt cả tiết học Thực tế đã chứng minh rằng:

Chỉ khi nào có sự chuẩn bị sẵn sàng, học sinh mới có thể học tốt.

Mở đầu bài giảng là một trong những yếu tố quyết định tính toàn vẹn của bài học, có tác dụng phát huy tính tích cực, sáng tạo cho học sinh, tạo không khí hứng khởi cho các em khi bắt đầu vào bài học mới Một giờ học mở đầu tốt giúp cho tiết học đạt hiệu quả cao

Ví dụ 1: Đối với bài 12 - Phân bón hóa học ( SGK hóa học 11 - cơ bản), trước

khi vào bài, giáo viên đặt câu hỏi: Người nông dân thường dùng vôi để bón ruộng

nhưng tại sao không nên trộn chung vôi với phân ure để bón?

Trang 6

Giáo viên gọi một hoặc hai học sinh trả lời câu hỏi

Giáo viên chuyển ý: Để giải đáp xem câu trả lời của các bạn có chính xác không, chúng ta sẽ nghiên cứu bài học hôm nay: Bài 12 - Phân bón hóa học.

Khi dạy xong mục 3 - Phân urê (SGK hóa học 11 – cơ bản), giáo viên yêu cầu học sinh nhận xét câu trả lời của các bạn đã trình bày ở đầu buổi học

Giáo viên gọi học sinh trình bày câu trả lời, sau đó cho các bạn nhận xét và cuối cùng giáo viên chốt lại kiến thức

Trả lời: Khi trộn vôi với urê bón cho ruộng, có phản ứng:

CO(NH2)2 +2H2O → (NH4)2CO3

(NH4)2CO3 +Ca(OH)2 → CaCO3↓+2NH3↑+ 2H2O

bón ruộng

* Cách dẫn dắt này gây ra tình huống có vấn đề cho bài học, giúp kích thích tính

tò mò, gây hứng thú Học sinh phải cố gắng tìm hiểu kỹ kiến thức để trả lời câu hỏi giáo viên đưa ra và xem bạn mình trình bày câu trả lời ở đầu buổi có đúng hay không

Ví dụ 2: Khi mở đầu vào bài 10 – Photpho (SGK hóa học 11 - cơ bản), giáo viên

nêu một hiện tượng thực tiễn thường gặp mà học sinh có thể chưa biết rõ nguyên nhân

Giáo viên dẫn dắt: Trong “Văn tế thập loại chúng sinh”, thi hào Nguyễn Du đã

viết:

“ Lập lòe ngọn lửa ma trơi Tiếng oan văng vẳng tối trời còn thương”

Vậy “ma trơi” là gì? Các nhà văn tưởng tượng ra chăng? Hiện tượng “ma trơi”

có thật hay không? Nếu chúng ta đi qua các nghĩa trang vào ban đêm, một số ngôi mộ tỏa ra những ngọn lửa màu xanh lập lòe mà dân gian thường gọi là “ma trơi” Bài học hôm nay sẽ giúp chúng ta hiểu rõ nguyên nhân về hiện tượng này: Bài 10 – photpho.

Nội dung này liên quan đến môn Sinh học và kiến thức về hợp chất photphin mà học sinh chưa được trang bị Vì vậy, giáo viên sẽ là người hướng dẫn học sinh trong việc tìm hiểu nguyên nhân của hiện tượng “ma trơi”

Sau khi kết thúc bài học, giáo viên giúp học sinh giải thích hiện tượng như sau: Trong cơ thể (xương động vật), có chứa một hàm lượng photpho Khi chết, các vi khuẩn phân hủy xác tạo thành khí PH3 (photphin) và P2H4 (điphotphin) Khí P2H4 tự

ra ở các nghĩa trang Tuy nhiên ban ngày, ánh sáng quá mạnh nên ta không nhìn thấy hiện tượng ma trơi

2PH3 +4O2

2 4

P H

   P2O5 +3H2O Giáo viên giải thích hiện tượng bị “ma trơi” đuổi: Khi sợ hãi, ta chạy sẽ sinh ra một luồng khí chuyển động, nó làm cho ngọn lửa bay theo

Trang 7

* Giải thích rõ hiện tượng này giúp học sinh thấy rõ các hiện tượng quan sát được trong cuộc sống đều có cơ sở khoa học của nó chứ không phải như quan niệm của một số người theo kiểu mê tín dị đoan

Giải pháp 3 Sử dụng bài tập gây hứng thú trong bài dạy nghiên cứu tài liệu mới

Ví dụ 1: Bài 10 – Photpho (SGK hóa học 11 – Cơ bản): Khi dạy phần tính oxi

hóa của photpho, giáo viên yêu cầu học sinh viết phương trình hóa học của photpho tác dụng với kim loại (Ca, Zn…)

3Zn +2P  t o Zn3P2

Giáo viên thông báo: Zn 3 P 2 (kẽm photphua) là thành phần của thuốc chuột, bị thủy phân rất mạnh, sau đó yêu cầu học sinh trả lời câu hỏi

Câu 1: Vì sao khi chuột ăn phải thuốc này thường đi tìm nước uống?

Câu 2: Hóa chất nào làm cho chuột chết?

Học sinh hoạt động cá nhân để hoàn thành câu trả lời, các bạn khác nhận xét và giáo viên chốt lại kiến thức

Trả lời: Thành phần thuốc chuột là Zn3P2 Sau khi chuột ăn phải, Zn3P2 bị thủy phân rất mạnh, hàm lượng nước trong cơ thể chuột giảm, nó khát và đi tìm nước uống:

Zn3P2 + 6H2O → 3Zn(OH)2↓+ 2PH3↑

Chính PH3 (photphin) đã giết chết chuột

nhanh chết Nếu không có nước, chuột sẽ lâu chết hơn

* Đây là dạng câu hỏi giúp học sinh biết thêm thông tin về thành phần, nguyên tắc phản ứng, độc tính của thuốc chuột Vì thực tế, tôi thường thấy học sinh trả lời như

khát nước Chính Zn 3 P 2 làm chuột chết” Câu trả lời này không chính xác nên giáo

viên hướng dẫn, gợi ý để học sinh trả lời chính xác câu hỏi

Giáo viên thông báo thêm: Vấn đề diệt chuột đang được mọi người quan tâm vì chuột là con vật mang nhiều mầm bệnh truyền nhiễm cho con người và hay phá hoại mùa màng “Thuốc chuột” đang được dùng với mục đích trên Nhưng đây là loại thuốc rất độc nên ảnh hưởng đến sức khỏe và tính mạng con người Vì vậy biết cơ chế hoạt động của nó để diệt chuột hiệu quả và an toàn.

* Học sinh cảm thấy tò mò, tránh được cảm giác nhàm chán đối với những bài học thuần túy chỉ là những phương trình hóa học

Ví dụ 2: Đối với bài 8 - Amoniac và muối amoni (SGK hóa học 11 – Cơ bản):

Khi dạy phần phản ứng nhiệt phân của muối amoni, giáo viên yêu cầu học sinh trả lời

Học sinh hoạt động cá nhân trả lời câu hỏi, sau đó giáo viên chốt lại kiến thức

Trả lời: Muối NH4HCO3 được dùng làm bột nở vì khi trộn với bột và hấp bánh thì NH4HCO3 bị phân hủy dưới tác dụng của nhiệt

Trang 8

Như vậy, khí CO2, NH3 thoát ra làm cho bánh to hơn và xốp.

* Đây là dạng câu hỏi liên quan đến ứng dụng của muối amoni Học sinh phải

quan đến sản phẩm tạo thành của phản ứng

Giáo viên hỏi thêm một câu hỏi: Vì sao không dùng muối (NH 4 ) 2 CO 3 để làm bột

nở trong khi muối này cũng có khả năng bị nhiệt phân cho ra sản phẩm khí?

Trả lời: Không dùng muối (NH4)2CO3 để làm bột nở vì khi nhiệt phân cho ra sản

phẩm là:

o

t

Vậy: Từ phương trình 1 và 2 cho thấy, nếu dùng (NH4)2CO3 thì lượng khí NH3 sinh ra nhiều hơn so với NH4HCO3, gây độc cho người sử dụng và tạo mùi khai do lượng NH3 còn tồn lại trong bánh

* Câu hỏi này thường dùng cho học sinh khá giỏi, vì học sinh trung bình, yếu

chỉ chú ý tới phương trình 1 mà ít quan tâm đến phương trình 2 Câu trả lời này chưa đúng, giáo viên hướng dẫn học sinh phân tích để tìm ra câu trả lời chính xác

Ví dụ 3: Đối với bài 12 – Phân bón hóa học (SGK hóa học 11 – cơ bản), khi dạy

phần I – Phân đạm, giáo viên liên hệ thực tế bằng một bài tập liên quan đến việc bón

phân cho cây trồng ở địa phương như sau: Cần bón bao nhiêu kilogam phân đạm

amoni nitrat chứa 97,5 % NH4NO3 cho 5 hecta cao su, biết rằng 1,00 hecta cao su cần 60,00 kg nitơ (Theo baovecaytrong.com, lượng Nitơ này áp dụng cho cây cao su

ở năm thứ 5 với mật độ 476 cây/1ha ở đất hạng I)

Giáo viên gọi học sinh lên bảng trình bày bài tập, các bạn khác nhận xét, sau đó giáo viên chốt lại kiến thức

Trả lời: Số kg nitơ cần cho 5 hecta cao su là: 5 x 60 = 300(kg)

Mặt khác ta có:

Trong 80 kg NH4NO3 có 28 kg nitơ

Trong 100 kg phân đạm amoni nitrat có 97,5 kg NH4NO3

97,5 kg NH4NO3 có x kg nitơ

97,5 28

34( ) 80

Vậy 100 kg phân đạm amoni nitrat …… 34 kg nitơ

Trang 9

y kg phân dạm ……….300 kg nitơ

100 300

882,35( ) 34

* Cây cao su là cây trồng phổ biến ở địa phương, nó mang lại cảm giác gần gũi, thân quen, giúp học sinh vận dụng để tính được lượng phân đạm cần bón cho diện tích đất của cây trồng trong gia đình

Giải pháp 4 Sử dụng các bài tập gây hứng thú trong củng cố kiến thức bài học, ôn tập chương

Ví dụ 1: Trong bài 13: Luyện tập tính chất của Nitơ – Photpho và hợp chất của

chúng (SGK hóa học 11 – cơ bản), GV đưa ra bài tập liên quan đến kiến thức ứng dụng trong công nghiệp ôtô sử dụng nhiên liệu xăng như sau:

Giáo viên cung cấp thông tin: Vì đặc thù nhiên liệu, động cơ xăng dễ tạo ra khí

xả chứa NO x , CO, C x H y (chưa cháy hết) Để xử lí thật triệt để, thật sạch các chất độc, nhiệt độ phải trên 400 o C Ở nhiệt độ đó, các chất xúc tác được kích hoạt hoàn toàn, thúc đẩy quá trình phản ứng hóa học, đưa 3 loại chất thải có độc tố cao thành các chất không độc Ở lớp khử, NO x bị tách thành khí nitơ và khí ôxi Sau đó, khí ôxi vừa được tách ra cùng với lượng ôxi dư trong khí thải và ôxi cung cấp thêm, dưới tác dụng của chất xúc tác sẽ ôxi hóa CO và C x H y thành các chất không độc như khí CO 2 và hơi nước.

Các phản ứng có thể xảy ra qua bộ lọc khí thải (xúc tác Platin, Paladi, Rhodi) bao gồm:

1, 2NO → N2 +O2

2, 2NO2 → N2 +2O2

3, 2NO +O2 → 2NO2 4, 2CO +O2 → 2CO2

5, CxHy +( x+ y/4) O2 → xCO2 +y/2 H2O

Câu hỏi: Phương trình nào ở trên ít có khả năng xảy ra nhất trong bộ lọc khí

thải?

a, 2 b, 3 c, 4 d, 5

(Trích: Đề thi Hóa học quốc gia Australia năm 2013 dành cho học sinh THPT tổ chức tại THPT chuyên Lê Hồng Phong, TP HCM)

Học sinh hoạt động nhóm khoảng 3 phút để hoàn thành câu trả lời Sau đó, giáo viên yêu cầu đại diện nhóm trình bày, cuối cùng giáo viên chốt lại kiến thức

Ví dụ 2: Khi dạy bài 9 - Axit nitric và muối nitrat (SGK hóa học 11 – Cơ

bản), sau khi dạy xong phần A – Axit nitric, GV dùng câu hỏi liên quan đến cao dao tục ngữ trong hóa học để củng cố phần nitơ và những hợp chất của nó

Câu hỏi: Em hãy dùng kiến thức hóa học về nitơ và hợp chất để giải thích hiện tượng tự nhiên sau:

“ Lúa chiêm lấp ló đầu bờ, hễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lên”

Trang 10

Giáo viên tổ chức cho học sinh thảo luận nhóm khoảng 3 phút, sau đó dành thời giản khoảng 1 phút cho các nhóm dán kết quả lên bảng Giáo viên mời đại diện 1 nhóm trình bày khoảng 3 phút

Trả lời: Câu ca dao có ý nghĩa: Vụ chiêm khi lúa đang trổ đòng đòng mà có trận

mưa rào, kèm theo sấm chớp thì sẽ rất tốt và cho năng suất cao sau này Do trong

chớp (tia lửa điện) sẽ tạo điều kiện cho N2 hoạt động:

Sau đó ở điều kiện thường, khí NO bị oxi hóa bởi O2 tạo thành NO2:

4NO2 + O2 + 2H2 O → 4HNO3

tức => "phất cờ mà lên"

* Đây là câu hỏi giáo viên thường dùng khi dạy về nitơ và hợp chất của nitơ

và nó có tác dụng nhất định đối với bộ môn Hóa học trong việc giải thích các hiện tượng tự nhiên Bên cạnh đó, nó còn liên quan đến kiến thức liên môn với bộ môn Sinh học trong nội dung về sự hấp thụ các ion amoni và nitrat của cây trồng

Học sinh lớp 11A 1 năm học 2014-2015 thảo luận trả lời câu hỏi

Ví dụ 3: Sau khi học xong bài 12 - Phân bón hóa học (SGK hóa học 11 – cơ

bản), giáo viên đặt câu hỏi: Vì sao bón nhiều phân đạm amoni thì đất dễ bị chua?

Học sinh hoạt động cá nhân hoàn thành và trình bày câu trả lời Giáo viên yêu cầu các học sinh khác nhận xét phần trình bày của bạn, sau đó chốt lại kiến thức

Trả lời: Khi hòa tan trong nước, muối amoni phân li ra ion NH4 có tính axit, chính ion này làm cho đất bị chua

Phương trình phân li:

Ngày đăng: 25/02/2017, 11:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w