Hiện nay dạy và học bộ môn Hoá học trong trường THPT vẫn còn trong tình trạng khối lượng kiến thức khá nhiều và đa dạng, thời lượng học ít, quá tải về lượng kiến thức, thiếu tích hợp các vấn đề kinh tế xã hội và môi trường khiến học sinh không nhận thấy vai trò của môn Hóa và không có hứng thú trong việc học môn Hoá.Hiện nay vấn đề về môi trường và bảo vệ môi trường đang là vấn đề cấp thiết. Nhiệm vụ của môn Hóa cũng rất quan trọng trong việc cung cấp và giáo dục cho học sinh biết phát hiện các hiện tượng ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng của nó với cuộc sống và cách khắc phục ô nhiễm môi trường.Môn Hoá có nhiều cơ hội để kết hợp nội dung giảng dạy giáo dục môi trường có hiệu quả. Tuy nhiên phần lớn giáo viên chỉ mới kết hợp bài giảng với một số kiến thức giáo dục môi trường đơn giản và phương pháp chủ yếu vẫn là thuyết trình. Ngày nay, việc đổi mới phương pháp dạy và học ở trường phổ thông đang diễn ra theo hướng giáo viên là người tổ chức hướng dẫn để học sinh tích cực hoạt động tìm tòi tri thức mới cũng như vận dụng kiến thức vào thực tế cuộc sống. Như vậy vấn đề đặt ra là người giáo viên phải không ngừng nâng cao vốn tri thức của mình, sử dụng các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học đa dạng hơn. Học sinh cũng phải dần rèn luyện khả năng tự học cao hơn. Chính công tác giáo dục môi trường cũng phải được đổi mới theo hướng trên. Chương trình Hóa học THPT có một số bài tập liên quan đến vấn đề giáo dục môi trường nhưng còn quá ít trong các sách giáo khoa, sách tham khảo, chưa rõ ràng nội dung giáo dục và định hướng giáo dục môi trường. Các tư liệu tham khảo cho giáo viên còn tản mạn, chưa hệ thống và chưa được chính thống. Trong quá trình công tác, qua các đợt sinh hoạt chuyên môn nhóm, nghiên cứu tài liệu, qua trao đổi thảo luận chúng tôi nhận thấy nhiều nội dung của chương trình hóa học có thể soạn giảng tích hợp cùng bài dạy để giáo dục môi trường cho học sinh có hiệu quả. Đồng thời trong quá trình học tập thông qua các bài học và bài tập gắn liền thực tiễn bảo vệ môi trường học sinh tỏ ra rất hứng thú, yêu thích môn học hơn, ham tìm hiểu và nhớ rất lâu những kiến thức khi chính các em là người khám phá ra mối liên quan đến những vấn đề thiết thực cấp bách của cuộc sống. Khi được hỏi ý kiến về việc xây dựng một hệ thống bài giảng tích hợp giáo dục môi trường cho quá trình tổ chức hoạt động dạy học thì toàn bộ giáo viên đều nhất trí đây là một giải pháp hay và có tính khả thi trong việc nâng cao hiệu quả dạy học bộ môn.Vì lí do đó chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu và thực hiện đề tài “Nâng cao hiệu quả và hứng thú học tập cho học sinh thông qua bài giảng tích hợp giáo dục môi trường”. Trong khuôn khổ đề tài, chúng tôi thực hiện nghiên cứu xây dựng 2 bài dạy dạy trong Chương trình Hóa học 12 (ban Cơ bản) tích hợp giáo dục môi trường và xây dựng hệ thống bài tập tích hợp liên quan đến giáo dục môi trường để vận dụng vào giảng dạy nhằm giúp học sinh tích cực, chủ động và dễ dàng tiếp cận với những vấn đề gắn liền thực tiễn là môi trường, nguồn gây ra ô nhiễm môi trường và bảo vệ môi trường, nâng cao hứng thú học, niềm yêu thích môn học và nâng cao chất lượng học tập bộ môn.
Trang 1MỤC LỤC
I TÓM TẮT 2
II GIỚI THIỆU 3
III PHƯƠNG PHÁP 1 Khách thể nghiên cứu: 12
2 Thiết kế nghiên cứu: 12
3 Quy trình nghiên cứu: 13
4 Đo lường: 14
IV PHÂN TÍCH DỮ LIỆU 1 Kết quả: 15
2 Phân tích dữ liệu: 16
3 Bàn luận: 18
V KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 19
VI TÀI LIỆU THAM KHẢO 20
VII PHỤ LỤC 1 Phụ lục 1: Kế hoạch nghiên cứu 21
2 Phụ lục 2: Giáo án tích hợp bài 14 - Vật liệu Polime 22
3 Phụ lục 3: Giáo án tích hợp bài 33 - Hợp kim của sắt 25
4 Phụ lục 4: Bài kiểm tra sau tác động 27
5 Phụ lục 5: Kết quả bảng điểm 29
Trang 2I TÓM TẮT
Hiện nay dạy và học bộ môn Hoá học trong trường THPT vẫn còn trong tình trạng khối lượng kiến thức khá nhiều và đa dạng, thời lượng học ít, quá tải về lượng kiến thức, thiếu tích hợp các vấn đề kinh tế xã hội và môi trường khiến học sinh không nhận thấy vai trò của môn Hóa và không có hứng thú trong việc học môn Hoá
Hiện nay vấn đề về môi trường và bảo vệ môi trường đang là vấn đề cấp thiết Nhiệm vụ của môn Hóa cũng rất quan trọng trong việc cung cấp và giáo dục cho học sinh biết phát hiện các hiện tượng ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng của nó với cuộc sống
và cách khắc phục ô nhiễm môi trường
Môn Hoá có nhiều cơ hội để kết hợp nội dung giảng dạy giáo dục môi trường có hiệu quả Tuy nhiên phần lớn giáo viên chỉ mới kết hợp bài giảng với một số kiến thức giáo dục môi trường đơn giản và phương pháp chủ yếu vẫn là thuyết trình Ngày nay, việc đổi mới phương pháp dạy và học ở trường phổ thông đang diễn ra theo hướng giáo viên là người tổ chức hướng dẫn để học sinh tích cực hoạt động tìm tòi tri thức mới cũng như vận dụng kiến thức vào thực tế cuộc sống Như vậy vấn đề đặt ra là người giáo viên phải không ngừng nâng cao vốn tri thức của mình, sử dụng các phương pháp, hình thức
tổ chức dạy học đa dạng hơn Học sinh cũng phải dần rèn luyện khả năng tự học cao hơn Chính công tác giáo dục môi trường cũng phải được đổi mới theo hướng trên
Chương trình Hóa học THPT có một số bài tập liên quan đến vấn đề giáo dục môi trường nhưng còn quá ít trong các sách giáo khoa, sách tham khảo, chưa rõ ràng nội dung giáo dục và định hướng giáo dục môi trường Các tư liệu tham khảo cho giáo viên còn tản mạn, chưa hệ thống và chưa được chính thống Trong quá trình công tác, qua các đợt sinh hoạt chuyên môn nhóm, nghiên cứu tài liệu, qua trao đổi thảo luận chúng tôi nhận thấy nhiều nội dung của chương trình hóa học có thể soạn giảng tích hợp cùng bài dạy để giáo dục môi trường cho học sinh có hiệu quả Đồng thời trong quá trình học tập thông qua các bài học và bài tập gắn liền thực tiễn bảo vệ môi trường học sinh tỏ ra rất hứng thú, yêu thích môn học hơn, ham tìm hiểu và nhớ rất lâu những kiến thức khi chính các em là người khám phá ra mối liên quan đến những vấn đề thiết thực cấp bách của cuộc sống Khi được hỏi ý kiến về việc xây dựng một hệ thống bài giảng tích hợp giáo dục môi trường cho quá trình tổ chức hoạt động dạy học thì toàn bộ giáo viên đều nhất trí đây là một giải pháp hay và có tính khả thi trong việc nâng cao hiệu quả dạy học bộ môn
Vì lí do đó chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu và thực hiện đề tài “Nâng cao hiệu quả và hứng thú học tập cho học sinh thông qua bài giảng tích hợp giáo dục môi trường” Trong khuôn khổ đề tài, chúng tôi thực hiện nghiên cứu xây dựng 2 bài dạy
dạy trong Chương trình Hóa học 12 (ban Cơ bản) tích hợp giáo dục môi trường và xây dựng hệ thống bài tập tích hợp liên quan đến giáo dục môi trường để vận dụng vào giảng dạy nhằm giúp học sinh tích cực, chủ động và dễ dàng tiếp cận với những vấn đề gắn liền thực tiễn là môi trường, nguồn gây ra ô nhiễm môi trường và bảo vệ môi trường, nâng cao hứng thú học, niềm yêu thích môn học và nâng cao chất lượng học tập bộ môn
Chọn thực nghiệm hai tiết dạy trong Chương trình Hóa học 12 (ban Cơ bản) có tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường:
1- Bài 14 Vật liệu Polime (tiết 22 – Chương trình Cơ bản)
Trang 32- Bài 14 Vật liệu Polime (tiết 23 – Chương trình Cơ bản)
Nghiên cứu được 4 thầy cô gồm thầy Bùi Quốc Hùng, cô Phạm Thị Siêng, cô Đỗ Thị Khánh Minh, cô Lê Thị Điệp tiến hành lập kế hoạch, xây dựng và sử dụng giáo án
và hệ thống bài tậptích hợp liên quan đến giáo dục môi trường, thu thập kết quả và phân tích dữ liệu, tiến hành nghiên cứu trên sáu lớp:
Thầy Bùi Quốc Hùng dạy lớp thực nghiệm là lớp 12C9 và lớp đối chứng là lớp 12C5 Trường THPT Thuỷ Sơn – Thuỷ Nguyên – Hải Phòng
Cô Phạm Thị Siêng dạy lớp thực nghiệm là lớp 12C1 và lớp đối chứng là lớp 12C3 Trường THPT Thuỷ Sơn – Thuỷ Nguyên – Hải Phòng
Cô Đỗ Thị Khánh Minh dạy lớp thực nghiệm là lớp 12C2 và lớp đối chứng là lớp 12C6 Trường THPT Thuỷ Sơn – Thuỷ Nguyên – Hải Phòng
Sáu lớp này có xuất phát điểm đồng đều về ý thức thái độ và kết quả học tập Các lớp thực nghiệm được giảng dạy qua các bài tích hợp giáo dục môi trường, được kiểm tra đánh giá thông qua hệ thống bài tập tích hợp chủ đề liên quan đến môi trường Các lớp đối chứng được giảng dạy các bài trên theo cách truyền thống thông thường, không tích hợp nhiều đến nội dung giáo dục môi trường, được kiểm tra đánh giá bởi chính những bài trắc nghiệm được xây dựng bên trên
Kết quả nghiên cứu cho thấy, tác động của phương pháp dạy bài giảng có tích hợp nội dung giáo dục môi trường theo hướng tích cực đã có ảnh hưởng rõ rệt đến kết quả của học sinh Học sinh lớp thực nghiệm có kết quả cao hơn lớp đối chứng Điểm kiểm tra đầu ra các lớp thực nghiệm có giá trị trung bình là 7,2 Điểm kiểm tra đầu ra của lớp đối chứng có giá trị trung bình là 6,1 Kết quả kiểm chứng T-test cho thấy có nghĩa là có sự khác biệt rõ rệt giữa điểm trung bình của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng Hứng thú học tập của học sinh lớp thực nghiệm cũng tăng lên nhiều đối với các tiết học không được tích hợp nhiều giáo dục môi trường gắn liền với thực tiễn vấn đề đời sống cấp thiết Điều đó chứng minh rằng, việc giảng dạy tích hợp giáo dục môi trường là
Hiện nay dạy và học bộ môn Hoá học trong trường THPT vẫn còn trong tình trạng khối lượng kiến thức khá nhiều và nặng, thời lượng học ít, quá tải về lượng kiến thức, thiếu tích hợp các vấn đề kinh tế xã hội và môi trường khiến học sinh không nhận thấy vai trò của môn Hóa và không có hứng thú trong việc học môn Hoá
Chương trình Hóa học THPT có một số bài tập liên quan đến vấn đề giáo dục môi trường nhưng còn quá ít trong các sách giáo khoa, sách tham khảo, chưa rõ ràng nội dung giáo dục và định hướng giáo dục môi trường Các tư liệu tham khảo cho giáo viên
Trang 4còn tản mạn, chưa hệ thống và chưa được chính thống Giáo viên gặp rất nhiều khó khăn trong việc tích hợp giáo dục môi trường vào giảng dạy cho phù hợp, khó khăn cả về nội dung tích hợp, về kiến thức liên hệ với môi trường, về phương pháp giảng dạy tích hợp cũng như cả về cách thức tích hợp,…
2 Nêu các hiện tượng ô nhiễm môi trường hàng ngày cho việc giới thiệu bài học mới, cách nêu vấn đề này thường tạo hứng thú, bất ngờ cho học sinh
3 Nêu các hiện tượng ô nhiễm môi trường hàng ngày và cách khắc phục ô nhiễm môi trường thông qua các bài tập tính toán, cách nêu vấn đề này có thể giúp cho học sinh lĩnh hội được vấn đề cần truyền đạt
4 Nêu các hiện tượng cách khắc phục ô nhiễm môi trường bằng các câu chuyện khôi hài, gây cười, có thể xen vào bất cứ lúc nào trong tiết học, hướng này góp phần tạo không khí học tập thoải mái, đó cũng là cách kích thích niềm đam mê học Hóa
5 Tiến hành các thí nghiệm thông qua thực tiễn, sau khi học xong bài giảng Cách nêu vấn đề này làm học sinh căn cứ vào kiến thức đã học tìm cách giải thích hoặc
tự tái tạo lại kiến thức qua các hiện tượng găp ở nhà giúp học sinh biết cách ứng dụng kiến thức đã học vào cuộc sống
6 Tiến hành nêu và giải thích các vấn đề về môi trường thường có liên quan đến bài học Cách này giúp học sinh không còn cảm thấy khó hiểu vì có những vấn đề lý thuyết nếu đề cập theo tính đặc thù bộ môn sẽ khó hiểu hơn khi gắn nó với thực tiễn hàng ngày
3 Một số nghiên cứu
3.1 Mục tiêu giáo dục trường phổ thông
3.1.1 Mục tiêu của môn hóa học trong trường phổ thông
Môn hoá học trong trường THPT giữ một vai trò quan trọng trong việc hình thành
và phát triển trí dục của học sinh, mục đích của môn học muốn học sinh hiểu đúng hoàn chỉnh, nâng cao tri thức hiểu biết về thế giới, con người thông qua các bài học hoá học
Mục tiêu bộ 3 của môn Hoá học:
Trang 53.1.2 Nhiệm vụ môn hóa học ở trường THPT
Hóa học là một trong những môn học then chốt ở bậc trung học, có ba nhiệm vụ lớn trong việc đào tạo nguồn nhân lực:
- Đào tạo nghề có chuyên môn về Hoá học, phục vụ cho việc phát triển kinh tế xã hội, đặc biệt cho sự hóa học hóa đất nước
- Góp phần vào việc đào tạo chung cho nguồn nhân lực, coi học vấn hóa học là một bộ phận hỗ trợ
- Góp phần phát triển nhân cách toàn diện cho thế hệ công dân tương lai có ý thức
về vai trò của hóa học trong đời sống, sản xuất, khoa học của xã hội hiện đại
3.1.3 Quan điểm đổi mới dạy học hóa học ở trường THPT
Bảo đảm tính khoa học, hiện đại, thực tiễn, đặc thù môn hóa học ở 3 góc độ:
- Nội dung hóa học gắn với thực tiễn đời sống, xã hội, cộng đồng
- Nội dung hóa học gắn với thực hành thí nghiệm
- Bài tập hóa học phải có nội dung thiết thực
Những vấn đề đó đã được thực hiện trong SGK hóa học mới nhưng còn cần bổ sung và phát triển, cần có thêm những tư liệu hỗ trợ dạy học và các hình thức tổ chức dạy học phù hợp
3.2 Tích hợp các vấn đề môi trường trong dạy học ở trường THPT
3.2.1 Tích hợp trong dạy học
3.2.1.1 Khái niệm tích hợp dạy học
Là quá trình dạy học trong đó có sự lồng ghép, liên hệ những tri thức khoa học, những quy luật chung gần gũi với nhau, qua đó HS không chỉ được lĩnh hội tri thức khoa học môn chính mà cả tri thức khoa học được tích hợp
3.2.1.2 Các dạng tích hợp
+ Dạng lồng ghép
Kiến thức môi trường có sẵn trong môn hóa học như là 1 bộ phận cấu thành với các mức độ lồng ghép khác nhau:
- Kiến thức môi trường là 1 phần, 1 chương: chương 9 lớp 12
- Kiến thức môi trường là 1 mục, 1 đoạn, 1 ý trong bài học (thường gặp nhất)
- Kiến thức giáo dục môi trường nằm trong phần bài đọc thêm
+ Dạng liên hệ
Kiến thức môi trường không có trong SGK một cách rõ ràng, GV phải bổ sung kiến thức có liên quan giúp HS liên hệ và vận dụng Hình thức có thể là: ví dụ hoặc
thông tin minh họa, câu hỏi liên hệ, bài tập về nhà, các bài đọc thêm
3.2.1.3 Nguyên tắc khi tích hợp giảng dạy
- Đảm bảo tính đặc trưng và tính hệ thống của bộ môn, tránh mọi sự gượng ép, ảnh hưởng đến khả năng lĩnh hội của HS cả về kiến thức khoa học của bộ môn lẫn nội dung và ý nghĩa của giáo dục
- Tránh làm nặng nề thêm các kiến thức sẵn có Xem xét và chọn lọc những nội dung có thể lồng ghép vào giảng dạy một cách thuận lợi nhất và đem lại hiệu quả cao nhất nhưng vẫn tự nhiên và nhẹ nhàng Tránh sự lồng ghép, liên hệ gượng ép làm mất tác dụng giáo dục
Trang 6- Phải đảm bảo nguyên tắc vừa sức
3.2.1.4 Nguyên tắc khi lựa chọn nội dung tích hợp
- Không làm thay đổi tính đặc trưng môn học, không biến bài học bộ môn thành bài học môi trường
- Khai thác nội dung môi trường có chọn lọc, có tính tập trung vào chương mục nhất định, không tràn lan, tùy tiện
- Phát huy cao độ hoạt động tích cực nhận thức của HS và kinh nghiệm thực tế các em đã có, tận dụng tối đa mọi khả năng để HS tiếp xúc trực tiếp với thực tế
3.2.2 Các phương pháp dạy học tích hợp
- Phương pháp giảng giải, thảo luận, nhóm, đàm thoại
- Phương pháp tham quan, điều tra, khảo sát, nghiên cứu thực địa
- Phương pháp khai thác kinh nghiệm thực tế để giáo dục
- Phương pháp thí nghiệm
- Phương pháp giao bài tập về nhà
- Phương pháp hoạt động thực tiễn
- Phương pháp đóng vai
- Phương pháp động não
- Phương pháp học tập theo dự án
- Phương pháp nêu gương
- Phương pháp tiếp cận kĩ năng sống
3.2.3 Giáo dục môi trường ở trường phổ thông
3.2.3.1 Nhiệm vụ của giáo dục môi trường ở trường phổ thông
Giáo dục môi trường (GDMT) là một nhiệm vụ quan trọng trong việc đào tạo thế
hệ trẻ ở các trường học, trong đó có trường phổ thông GDMT nhằm mục tiêu nâng cao nhận thức, rèn luyện kĩ năng, hình thành thái độ và hành vi đúng đắn cho học sinh trong việc bảo vệ môi trường (BVMT), được cụ thể qua 3 nhiệm vụ sau:
- Làm cho học sinh nhận thức rõ đặc điểm của môi trường tự nhiên, vai trò của môi trường đối với đời sống và sự phát triển của xã hội loài người, những tác động của con người làm cho môi trường biến đổi xấu đi và hậu quả của nó
- Trên cơ sở nhận thức đó, giáo dục cho học sinh lòng yêu thiên nhiên, biết quý trọng các phong cảnh đẹp, các di tích văn hóa lịch sử, ý thức bảo vệ giữ gìn môi trường sống trong lành và sạch đẹp cho mình, cho mọi người và chống lại những hành vi hóa hoại hoặc gây ô nhiễm môi trường
- Trang bị cho học sinh một số phương pháp và kĩ năng bảo vệ môi trường để họ
có thể thực hiện các nhiệm vụ BVMT ở địa phương
3.2.3.2 Phương hướng giáo dục môi trường ở trường phổ thông
- Việc GDMT được tích hợp vào các môn học ở trường phổ thông theo phương hướng: Thông qua kiến thức các môn học để lồng ghép hoặc liên hệ các kiến thức GDMT, nhằm trang bị cho học sinh một hệ thống kiến thức về môi trường và các biện pháp bảo vệ môi trường tương đối đầy đủ
- Việc GDMT phải được triển khai thông qua toàn bộ hệ thống trường học
Trang 7- Nội dung và phương pháp GDMT phải phù hợp với mục tiêu đào tạo từng cấp học và đặc điểm tâm lí nhận thức của học sinh theo từng lứa tuổi khác nhau
- Chú ý khai thác tình hình thực tế của môi trường địa phương và những biện pháp ngăn ngừa thay đổi có hại của môi trường đối với sản xuất và cuộc sống của nhân dân địa phương
3.2.3.3 GDMT cho HS thông qua dạy học hóa học phổ thông
Trong dạy học hóa học, cần chú ý các nội dung cơ bản sau đây về GDMT:
- Cung cấp cho học sinh những khái niệm cơ bản như môi trường, môi sinh, khí quyển, thuỷ quyển, ô nhiễm môi trường, chất gây ô nhiễm, hiệu ứng sinh học của quá trình gây ô nhiễm, tác hại của các chất và qúa trình gây ô nhiễm
- Các phương pháp ô nhiễm môi trường có liên quan đến hóa chất và hóa học: ô nhiễm qua môi trường không khí (các khí độc hóa học như: CO, CO2, Cl2 thường phát sinh quanh ta, các chất thải công nghiệp gây ô nhiễm…); ô nhiễm qua nước (một số kim loại như chì, thuỷ ngân, kiềm, axit, phân bón hóa học, thuốc trừ sâu…); ô nhiễm qua con đường ăn, uống, sinh hoạt (chất độc hóa học như chất độc màu da cam…)
- Các phương pháp chống ô nhiễm môi trường và ý thức bảo vệ môi trường sống nói chung và môi trường sống của gia đình, của địa phương
3.2.4 Các vấn đề môi trường trong chương trình hóa học phổ thông
Các vấn đề về KTXHMT trong chương trình hóa học ở trường THPT có thể khái quát trong các nội dung chính sau đây:
3.2.4.1 Không khí, khí hậu
- Bầu khí quyển Trái đất, khí hậu
- Tầm quan trọng của cây xanh
- Hiệu ứng nhà kính, lỗ thủng tầng ozon
- Bụi, các tác nhân gây ô nhiễm
3.2.4.2 Nước
- Vòng tuần hoàn nước, sự phân bố nước trên Trái đất
- Khai thác, sử dụng nước, lọc nước
- Sự ô nhiễm tầng nước mặt, nước ngầm, nước biển
- Các tác nhân gây ô nhiễm
- Chất tẩy rửa tổng hợp, cách xử lý nước thải
3.2.4.3 Đất đai và sản xuất nông nghiệp
- Ảnh hưởng của độ pH đối với động vật và thực vật
- Các tác nhân gây ô nhiễm
- Phân hóa học và các loại thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ thực vật
Trang 83.2.4.6 Môi trường xã hội, môi trường đạo đức
- Đạo lý môi trường toàn cầu và sự phát triển bền vững
- Trách nhiệm của con người với môi trường
- Chiến tranh hóa học và chiến tranh hạt nhân
3.2.5 Mục tiêu giảng dạy hóa học và vấn đề giáo dục môi trường và giải quyết
ô nhiễm môi trường
3.2.5.1 Kiến thức
+ Ô nhiễm môi trường không khí
- HS cần hiểu được thành phần hóa học của không khí sạch
- HS cần phân biệt được không khí sạch và không khí bị ô nhiễm dựa vào thành phần các chất hóa học, các vi khuẩn, bụi trong không khí
- HS có thể nêu được không khí bị ô nhiễm thường gần các khu công nghiệp, bệnh viện, khu vệ sinh và hậu quả do ô nhiẽm không khí gây ra
+ Ô nhiễm môi trường nước
- HS cần hiểu được thành phần hóa học của nước sạch
- HS cần phân biệt được nước sạch và nước bị ô nhiễm dựa vào thành phần các chất hóa học, các vi khuẩn trong nước
- HS có thể nêu được nước bị ô nhiễm thường gần các khu công nghiệp, bệnh viện, khu vệ sinh và hậu quả do ô nhiễm nguồn nước gây ra
+ Ô nhiễm môi trường đất
- HS cần phân biệt được đất sạch và đất bị ô nhiễm dựa vào thành phần các chất hóa học, các vi khuẩn, có trong đất
- HS có thể nêu được đất bị ô nhiễm thường gần các khu công nghiệp, bệnh viện, khu vệ sinh và hậu quả do ô nhiễm đất gây ra
- HS hiểu được nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường trong đó có nguyên nhân là sản xuất hóa học, sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu
3.2.5.2 Kỹ năng
+ Nhận biết môi trường bị ô nhiễm bằng phương pháp hóa học
Để chống ô nhiễm môi trường thì điều đầu tiên, HS cần biết được một số biện pháp nhận biết môi trường bị ô nhiễm HS cần nêu được một số thí dụ trong cuộc sống
và trong học tập hóa học đặc biệt bằng phương pháp hóa học đã biết HS có thể vận dụng những nội dung đã học về dung dịch, nhận biết các chất, các ion và phân biệt các chất vô cơ đã học để hiểu được
Nội dung cần chốt lại:
- Quan sát, dựa vào màu sắc, mùi
- Dùng một số hóa chất để xác định các ion gây ô nhiễm bằng phương pháp phân tích hóa học
- Dùng các dụng cụ đo như nhiệt kế, sắc kí, máy đo pH để xác định nhiệt độ, các ion và độ pH của đất, nước
+ Vai trò của hóa học trong việc xử lí chất ô nhiễm
- HS cần biết được nguyên tắc chung của việc xử lí chất thải bằng phương pháp hóa học
Trang 9- HS cần biết một số biện pháp cụ thể trong sản xuất, đời sống: xử lí khí thải, xử lí chất rắn thải, xử lí nước thải
Một số biện pháp xử lí chất thải trong phòng thí nghiệm là:
Bước 1: Phân loại chất thải, xác định tính chất đặc trưng của mỗi loại
Bước 2: Chọn cách xử lí cho phù hợp dựa vào tính chất hóa học của mỗi chất hoặc loại chất
Bước 3: Xử lí bằng phương pháp hóa học và phương pháp vật lí
- HS cần chốt được: Để xử lí chất thải theo phương pháp hóa học, cần căn cứ vào tính chất lí hóa học của mỗi loại chất thải để chọn chất khử cho phù hợp
Trong nghiên cứu này chúng tôi có đề cập đến 1 khía cạnh hoá học và môi truờng trong giảng dạy môn hoá học với mục đích góp phần giúp học sinh dễ hiểu, gần gũi với môi trường, để hoá học không còn mang đặc thù của môn học khó hiểu như một thuật ngữ khoa học, và từ đó có ý thức bảo vệ môi trường nhất là trong khi cả thế giới đang chịu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu toàn cầu
Trong giới hạn của đề tài chúng tôi không có tham vọng giải quyết mọi vấn đề giữa hoá học và môi trường mà chỉ nêu lên một vài suy nghĩ đề xuất của nhóm coi đó là kinh nghiệm qua một vài ví dụ với mong muốn tạo ra và phát triển phương pháp dạy hoá học hiệu quả cao hơn qua các bài giảng hoá học
Trong đề tài nghiên cứu, chúng tôi chọn thực nghiệm giảng dạy hai tiết trong
Chương trình Hóa học 12 (ban Cơ bản) có tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường là Bài
14 Vật liệu Polime (tiết 22 và tiết 23).
5 Giả thuyết nghiên cứu:
a Có, sau tác động kết quả chất lượng học tập sẽ tăng lên
b Có, học sinh sẽ hứng thú hơn đối việc học tập bộ môn
Nếu thiết kế được các giáo án, hệ thống bài tập, tổ chức tốt các hoạt động ngoại khóa có nội dung giáo dục môi trường sẽ kích thích hứng thú học tập, khả năng tự học của HS, nâng cao chất lượng dạy học, góp phần giáo dục toàn diện HS THPT
Trang 10Sáu lớp được lựa chọn tham gia nghiên cứu có nhiều điểm tương đồng nhau về
ý thức đạo đức và học tập (Xét hạnh kiểm năm học lớp 11) và thành tích học tập (điểm
số bộ môn Hoá) ; cụ thể như sau:
Bảng 1: Tương quan học sinh 6 lớp 12 nghiên cứu của trường THPT Thuỷ Sơn
Giáo viên
Học lực (môn Hoá – số HS)
Sĩ
Trên TB
2 Thiết kế nghiên cứu:
Sử dụng thiết kế: Kiểm tra trước tác động và sau tác động đối với các nhóm tương đương Chọn sáu lớp nguyên vẹn: Lớp 12C1, 12C2 và 12C9 là lớp thực nghiệm
và 12C3, 12C5 và 12C6 là lớp đối chứng Chúng tôi dùng bài kiểm tra 15 phút làm bài kiểm tra trước tác động
Kết quả kiểm tra cho thấy điểm trung bình của hai nhóm có khác biệt, do đó chúng tôi dùng phép kiểm chứng T-test để kiểm chứng sự chênh lệch giữa điểm số trung bình của 2 nhóm trước khi tác động:
Bảng 2: Kiểm chứng để xác định các nhóm tương đương (trước tác động)
Đối chứng (12C5) Thực nghiệm (12C9)
Trang 11Do p = 0,204 > 0,05 chênh lệch này có khả năng xảy ra ngẫu nhiên cao nên sự
chênh lệch điểm số trung bình của 2 nhóm thực nghiệm và đối chứng là không có ý nghĩa, hai nhóm 12C9 và 12C5 được coi là tương đương.
Đối chứng (12C3) Thực nghiệm (12C1)
Do p = 0,171 > 0,05 chênh lệch này có khả năng xảy ra ngẫu nhiên cao nên sự
chênh lệch điểm số trung bình của 2 nhóm thực nghiệm và đối chứng là không có ý nghĩa, hai nhóm 12C3 và 12C1 được coi là tương đương.
Đối chứng (12C6) Thực nghiệm (12C2)
Do p = 0,459 > 0,05 chênh lệch này có khả năng xảy ra ngẫu nhiên cao nên sự
chênh lệch điểm số trung bình của 2 nhóm thực nghiệm và đối chứng là không có ý nghĩa, hai nhóm 12C2 và 12C6 được coi là tương đương.
Sử dụng thiết kế: Kiểm tra trước và sau tác động đối với các nhóm tương đương (được mô tả ở bảng 3):
Bảng 3: Thiết kế nghiên cứu
trước tác động Tác động
Kiểm tra sau tác độngLớp thực nghiệm
Sử dụng hệ thống bài tập phân loại
có chọn lọc
O3
Lớp đối chứng
Hai thiết kế này tôi sử dụng phép kiểm chứng T-test độc lập
3 Quy trình nghiên cứu:
Chuẩn bị của giáo viên:
- Nhóm đối chứng: thiết kế bài dạy, quy trình chuẩn bị bài dạy và tiến hành
giảng dạy các tiết Bài 14 Vật liệu Polime (tiết 22, 23) theo phương pháp thông thường.
- Lớp thực nghiệm: thiết kế bài dạy, quy trình chuẩn bị bài dạy và tiến hành
giảng dạy Bài 14 Vật liệu Polime (tiết 22, 23) tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường.
Tiến hành dạy thực nghiệm: thời gian tiến hành thực nghiệm vẫn tuân theo kế hoạch dạy học của nhà trường và thời khóa biểu để đảm bảo tính khách quan
4 Đo lường:
- Bài kiểm tra trước tác động là bài kiểm tra 15 phút trước khi giảng dạy bài tích hợp giáo dục môi trường
- Bài kiểm tra sau tác động là bài kiểm tra 15 phút sau khi học xong các tiết
tích hợp giáo dục môi trường (xem phần Phụ lục 4).
Hình thức kiểm tra là dạng bài tập trắc nghiệm
Trang 12* Tiến hành kiểm tra và chấm bài
Sau khi thực hiện dạy xong các bài học trên, tôi tiến hành bài kiểm tra sau tác động (nội dung kiểm tra trình bày ở phần phụ lục)
Sau đó tiến hành chấm bài theo đáp án đã xây dựng và tổng hợp kết quả
Trang 13IV PHÂN TÍCH DỮ LIỆU
1 Kết quả:
(Xem tổng hợp điểm phần Phụ lục 5)
Từ bảng điểm thu được sau kiểm tra ta có bảng thống kê sau:
Bảng 4: Thống kê điểm kiểm tra sau tác động
GV phụ
Số HS
Điểm / số học sinh đạt điểm Điểm
trung
Thầy Hùng
Lớp 12C9(Lớp thực nghiệm)
Lớp 12C5(Lớp đối chứng) 42 0 0 1 3 8 12 14 2 2 0 6,2
Cô Siêng
Lớp 12C1(Lớp thực nghiệm)
Lớp 12C3(Lớp đối chứng) 43 0 0 1 4 11 10 11 3 3 0 6,1
Cô Minh
Lớp 12C2(Lớp thực nghiệm)
Lớp 12C6(Lớp đối chứng) 38 0 0 1 4 7 10 10 3 3 0 6,2
Bảng 5: So sánh điểm trung bình của bài kiểm tra sau tác động
bìnhThầy Hùng Lớp thực nghiệm (12C9)Lớp đối chứng (12C5) 4342 7,36,2
Bảng 6: So sánh điểm trung bình bài kiểm tra sau tác động
Lớp đối chứng (12C5)
Lớp thực nghiệm (12C9)
Trang 14Điểm trung bình 6,2 7,3
Lớp đối chứng (12C3)
Lớp thực nghiệm (12C1)
Lớp đối chứng (12C6)
Lớp thực nghiệm (12C2)
2 Phân tích:
Như trên đã chứng minh rằng kết quả hai nhóm trước tác động là tương đương Sau tác động kiểm chứng chênh lệch điểm trung bình bằng T–test độc lập cho kết quả p lần lượt là 0,00009 ; 0,00012 hay 0,00010 đều nhỏ hơn nhiều 0,05, cho thấy sự
chênh lệch điểm trung bình nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng rất có ý nghĩa, tức là
chênh lệch kết quả điểm trung bình nhóm thực nghiệm cao hơn nhóm đối chứng là không ngẫu nhiên mà do kết quả của tác động
Chênh lệch giá trị trung bình chuẩn lần lượt là 0,86
3,1
2,63,
2,64,
+ Tỷ lệ % học sinh yếu kém của lớp thực nghiệm trong đa số trường hợp là thấp hơn so với lớp đối chứng
+ Tỷ lệ % học sinh đạt trung bình đến khá, giỏi của các lớp thực nghiệm trong đa
số trường hợp là cao hơn so với với lớp đối chứng
+ Điểm trung bình cộng của học sinh các lớp thực nghiệm dần được nâng cao và luôn cao hơn so với lớp đối chứng
Trang 15Biểu đồ 1: So sánh điểm trung bình trước tác động và sau tác động
của nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng.
Giả thuyết của đề tài “Nâng cao hiệu quả và hứng thú học tập cho học sinh thông qua bài giảng tích hợp giáo dục môi trường” có làm tăng kết quả học tập của HS
các lớp thực nghiệm 12C3, 12C4 và 12C8 trường THPT Thuỷ Sơn làm nâng cao hứng thú và thái độ tích cực học tập của học sinh đã được kiểm chứng
3 Bàn luận:
Trang 16Kết quả điểm trung bình bài kiểm tra sau tác động của nhóm thực nghiệm là 7,2, kết quả điểm trung bình bài kiểm tra tương ứng của nhóm đối chứng là 6,2 Độ chênh lệch điểm số giữa hai nhóm là 1,0, điều đó cho thấy điểm trung bình của hai lớp đối chứng và thực nghiệm đã có sự khác biệt rõ rệt, lớp được tác động có điểm trung bình cao hơn lớp đối chứng.
Chênh lệch giá trị trung bình chuẩn của hai bài kiểm tra là SMD đều trên hoặc thấp nhất cũng bằng 0,80 Điều này có nghĩa mức độ ảnh hưởng của tác động là lớn
Bằng phép kiểm chứng T-test đối với điểm trung bình sau tác động của hai lớp, xác suất ngẫu nhiên cao nhất là p = 0,00012 < 0,05 Kết quả này khẳng định sự chênh lệch điểm trung bình của hai nhóm không phải là do ngẫu nhiên mà là do tác động
Từ kết quả và phân tích kết quả, chúng tôi đã đưa ra một số nhận xét:
- Sử dụng dạy học tích hợp giáo dục môi trường thông qua các hoạt động trên lớp và làm bài tập có liên hệ những vấn đề thực tiễn đã làm cho học sinh ở các lớp thực nghiệm tiếp thu kiến thức một cách chủ động, đạt hiệu quả cao hơn hẳn, mặt khác học sinh ở lớp thực nghiệm còn được rèn luyện cả cách tư duy và kĩ năng giải bài tập hoá học và trả lời các câu hỏi thực tiễn một cách logic, chính xác, khả năng độc lập suy nghĩ được nâng cao dần bằng một chuỗi các vấn đề dẫn dắt logic mà bài tập đưa ra
- Với các học sinh ở lớp đối chứng qua tìm hiểu thấy rằng các em gặp rất nhiều khó khăn trong việc vận dụng kiến thức vào hoàn cảnh mới, do việc tiếp thu kiến thức một cách thụ động nên chất lượng học tập bị hạn chế
Như vậy phương án thực nghiệm đã nâng cao được khả năng tiếp thu kiến thức và vận dụng kién thức của học sinh, khả năng làm việc từng cá nhân cũng như tập thể được phát huy một cách tích cực
* Hạn chế:
Nghiên cứu này vận dụng dạy học tích hợp giáo dục môi trường thông qua các hoạt động trên lớp và làm bài tập có liên hệ những vấn đề thực tiễn, người giáo viên cần phải xây dựng được mối liên hệ giữa các chất ảnh hưởng tới môi trường và xây dựng được hệ thống bài tập liên hệ thực tiễn môi trường