Từ những lí do trên, tôi đã đi sâu tìm hiểu về việc sử dụng sơ đồ đoạn thẳng trong giải toán với mong muốn góp phần nâng cao chất lượng dạy giải toán cho học sinh.. - Mặc dù học sinh đã
Trang 1HƯỚNG DẪN HỌC SINH LỚP 4 GIẢI TOÁN BẰNG “SƠ ĐỒ
ĐOẠN THẲNG”
A PHẦN MỞ ĐẦU
I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Việc giải bài toán có tầm quan trọng lớn và từ lâu đã là một trong những vấn đề trung tâm của phương pháp dạy học toán Đối với học sinh tiểu học nói chung, học sinh lớp 4 nói riêng, có thể coi việc giải toán là một hình thức chủ yếu của việc học toán Từ trước đến nay, giải toán đã trở thành hoạt động trí tuệ sáng tạo, hấp dẫn đối với nhiều học sinh và giáo viên trong trường phổ thông nói chung và trường tiểu học nói riêng Vấn đề cốt lõi để giải được bài toán là nhận dạng bài toán, hiểu
và tóm tắt được bài toán, lựa chọn được phương pháp thích hợp để giải bài toán
Do đó đòi hỏi học sinh phải được trang bị kiến thức cũng như kĩ năng vận dụng các phương pháp giải toán Do đặc điểm tư duy của học sinh tiểu học còn mang tính cụ thể, tư duy trừu tượng của các em chưa thực sự phát triển, nên việc đơn giản hóa các bài toán là một trong những phương pháp mang lại hiệu quả cao trong việc giải toán cho các em Có nhiều cách để đơn giản hóa các bài toán, trong đó sử dụng sơ đồ đoạn thẳng là một biện pháp Khi dùng sơ đồ đoạn thẳng để biểu diễn mối quan hệ trong bài toán, nghĩa là chúng ta đã chuyển nội dung bài toán từ kênh chữ sang kênh hình Vì thế, đối với giáo viên điều đầu tiên là phải nắm được việc dạy giải toán ở tiểu học, nắm được phương pháp giải toán, trên cơ sở đó rèn cho các em kĩ năng giải toán
Từ những lí do trên, tôi đã đi sâu tìm hiểu về việc sử dụng sơ đồ đoạn thẳng trong giải toán với mong muốn góp phần nâng cao chất lượng dạy giải toán cho
học sinh Đó cũng chính là lí do tôi chọn đề tài: “Rèn kĩ năng giải toán có lời văn bằng phương pháp sơ đồ đoạn thẳng cho học sinh lớp 4”.
II PHẠM VI ĐỀ TÀI:
Do thời gian và kinh nghiệm còn hạn chế, trong đề tài này tôi chỉ trình bày một số phương pháp hướng dẫn học sinh lớp 4B trường Tiểu học Quỳnh Thắng B -Quỳnh Lưu - Nghệ An năm học 2016 - 2017
B PHẦN NỘI DUNG
I THỰC TRẠNG:
Thực tế qua giảng dạy tôi thấy các em chưa ham học, sao nhãng việc học hành, chất lượng môn toán còn thấp nguyên nhân là do:
1 Nguyên nhân từ học sinh
- Một số em thực sự một số em ngại học giải các bài toán có lời văn, một là do mất căn bản ở lớp dưới, hai là các em ít khi đạt điểm cao ở dạng toán này
- Học sinh chưa có ý thức để nhận biết rõ tầm quan trọng của việc học Toán, nên còn lười học, ít đọc sách tham khảo không quan tâm đến việc học và làm bài tâp của mình
Trang 2- Học sinh bị hổng kiến thức ngay từ các lớp dưới Khả năng tiếp thu bài còn chậm Không chịu học thuộc các công thức, quy tắc giải toán
- Hầu hết các em học sinh tiểu học còn hiếu động chưa có lòng kiên trì và quyết tâm cao, thấy khó hoặc lời văn dài là các em lùi bước
- Khi làm bài các em không đọc kĩ đề bài.Về nhà một số em chưa chuẩn bị bài Hiện nay các trò chơi giải trí ngoài xã hội, trên ti vi khá hấp dẫn đã lôi kéo các em ham chơi khiến cho học sinh xao lãng việc học hành dẫn đến học yếu các môn nhất
là môn Toán ( đặc bệt là học sinh lớp 4)
- Một số em do chưa có phương pháp học tập đúng đắn ( Học vẹt , bắt chước bài mẫu, sắp xếp thời gian chưa khoa học, hợp lí ….) nên càng ngày càng bị mất căn bản của môn Toán dẫn đến học yếu Không hiểu đề Toán dẫn đến không biết suy luận tìm dữ liệu Một số em do học yếu nên rất sợ học
- Mặc dù học sinh đã biết cách tóm tắt bài toán bằng sơ đồ đoạn thẳng từ lớp 3, song khi gặp các dạng toán có nhiều đại lượng, nhiều mối quan hệ hoặc những bài toán hợp, quan hệ giữa các yếu tố chưa tường minh, một số yếu tố đưa ra dưới dạng ẩn học sinh còn lúng túng
2 Nguyên nhân từ giáo viên :
- Một số giáo viên chưa được quan tâm sâu sát đến từng đối tượng học sinh nhất là học sinh học yếu, tổ chức các hoạt động học tập tích cực trên lớp cho học sinh chưa thực sự khoa học
- Chưa kiểm tra nghiêm ngặt và liên tục các yêu cầu do mình đề ra
- Chưa nhiệt tình lắm trong công tác phụ đạo học sinh yếu Toán
- Sử dụng phương pháp dạy học chưa được linh hoạt
- Một số giáo viên còn xem nhẹ phần tóm tắt các dạng toán giải có lời văn
- Các hoạt động dạy học còn mang tính rập khuôn chưa có tính chủ động sáng tạo
- Giáo viên chưa chú ý đến những học sinh yếu không hiểu được đề toán, chưa biết dùng sơ đồ đoạn thẳng để tóm tắt và giải
-Chưa thật sự chú trọng đến việc các em tự lập sơ đồ mà thường đưa ra sơ đồ cho học sinh giải toán
3.Nguyên nhân từ phụ huynh học sinh.
- Đa số phụ huynh làm nghề nông, cuộc sống còn khó khăn, luôn bận bịu với công việc ít có thời gian quan tâm đến việc học của con cái, một số phụ huynh hạn chế về trình độ văn hoá nên gặp không ít khó khăn trong việc dạy học con khi ở nhà
- Một số gia đình còn giao việc dạy học con mình cho nhà trường và giáo viên chủ nhiệm Không quan tâm kiểm tra xem lực học của con như thế nào?
II CÁC GIẢI PHÁP
a Xác định các dạng toán cần sử dụng PP dùng sơ đồ đoạn thẳng để giải.
b Tìm hiểu nội dung và điều kiện sơ đồ hoá được đề toán đồng thời sử dụng
thành thạo phương pháp quy nạp hoàn toàn và không hoàn toàn
c Xác định mối quan hệ của các dạng toán và hệ thống kiến thức của các lớp
trong bậc học để từ đó định hướng, dẫn dắt các em thực hành một cách có hiệu quả
về sử dụng sơ đồ đoạn thẳng trong giải toán
Trang 3d Vận dụng linh hoạt các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học như
làm việc cá nhân, đàm thoại dẫn dắt, phiếu học tập, trao đổi nhóm, chia sẻ với nhau…để học sinh tự tìm ra cách vẽ sơ đồ, từ đó các em vận dụng sáng tạo vào việc giải các bài toán
Trong quá trình hướng dẫn học sinh cần tiến hành theo các bước sau:
Bước 1: Tìm hiểu đề toán (bước này câu hỏi giáo viên đặt ra rất quan trọng) Bước 2: Phân tích các điều kiện của bài toán, biểu diễn các đại lượng trên sơ
đồ đoạn thẳng
Bước 3: Dựa trên sơ đồ lập kế hoạch giải
Bước 4: Thực hiện các thao tác giải đó là lời giải và phép tính
Bước 5: Kiểm tra đánh giá lời giải (thử lại kết quả)
Qua các bước đó học sinh cần đạt các yêu cầu về giải toán bằng sơ đồ đoạn thẳng:
Yêu cầu 1: Từ đề bài đã cho học sinh phải thiết lập được các mối liên hệ và phụ thuộc giữa các dại lượng cho trong bài toán đó Muốn làm việc này ta thường dùng các đoạn thẳng thay cho các số ( số đã cho, số phải tìm trong bài toán ) để minh họa các quan hệ đó Ta phải chọn độ dài các đoạn thẳng và cần sắp xếp các đoạn thẳng đó một cách thích hợp để có thể dễ dàng thấy được mối liên hệ và phụ thuộc giữa các đại lượng, tạo một hình ảnh cụ thể, giúp ta suy nghĩ tìm tòi cách giải bài toán
Yêu cầu 2: Học sinh biết phân tích, phán đoán suy luận nhanh có tư duy lô gíc và cách khái quát cao
Yêu cầu 3: Rút ra được kinh nghiệm cho bản thân, diễn đạt được cách tìm ra các đại lượng
Trong chương trình Toán 4, tôi thường vận dụng PP giải toán dùng “ Sơ đồ đoạn thẳng” để hướng dẫn HS giải các dạng toán điển hình cụ thể như sau:
* Dạng 1: Tìm hai số khi biết tổng và hiệu
Khi dạy dạng Toán này giáo viên phải cho học sinh xác định được đâu
là tổng của hai số ? Đâu là hiệu của hai số? Muốn vẽ được sơ đồ đoạn thẳng đúng thì phải tìm được tổng hai số đó và hiệu 2 số đó
Ví dụ 1:
Bài toán 1: Cả hai lớp 4A và 4B trồng được 250 cây Lớp 4A trồng được ít hơn
lớp 4B là 50 cây Hỏi mỗi lớp trồng được bao nhiêu cây?
Bước 1: Tìm hiểu đề toán
- HS đọc kĩ đề toán
- GV nêu câu hỏi giúp HS phân tích đề toán
+ Bài toán cho biết gì?
( Tổng số cây hai lớp trồng được 250 cây, biết lớp 4B trồng nhiều hơn lớp 4A
là 50 cây)
+ Bài toán hỏi gì? ( Mỗi lớp trồng được bao nhiêu cây)
Bước 2: Phân tích điều kiện của bài toán biểu diễn các đại lượng trên sơ đồ đoạn thẳng
Nếu ta biểu diễn số cây của lớp 4A bằng một đoạn thẳng, thì số cây của lớp 4B là một đoạn thẳng dài hơn.( Chú ý: Điểm xuất phát của hai đoạn thẳng phải dóng với nhau bởi rất nhiều em chưa hiểu nên khi vẽ sơ đồ đoạn thẳng thường hay
Trang 4vẽ tự do: đoạn vẽ thụt vào, đoạn vẽ thụt ra nên không chính xác và các em không hiểu được)
- Giáo viên yêu cầu HS vẽ từng bước theo hướng dẫn và đến từng học sinh kiểm tra, động viên, giúp đỡ những em còn hạn chế
- Theo bài ra ta có sơ đồ:
? cây
Lớp 4A
Lớp 4B
? cây
Bước 3: Dựa trên sơ đồ lập kế hoạch giải Bước 4: Giải bài toán Bài giải Lớp 4A trồng được số cây là: (250 – 50 ) : 2 = 100 ( cây ) Lớp 4B trồng được số cây là: 250 – 100 = 150 ( cây ) Đáp số: 4A:100 cây 4B: 150 cây Bước 5: Kiểm tra đánh giá lời giải ( thử lại ) 100 + 150 = 250 (cây) Khi dạy dạng Toán khó có bài người ta dấu tổng, dấu hiệu hoặc dấu cả tổng cả hiệu Muốn vẽ được sơ đồ đoạn thẳng đúng thì phải tìm được tổng hai số đó và hiệu 2 số đó Ví dụ: Bài toán 2.( Giao lưu Violimpic Toán ). Tổng của 3 số là 1999 Số thứ nhất lớn hơn tổng của hai số kia là 67 đơn vị Số thứ hai lớn hơn số thứ ba là 48 đơn vị Tìm 3 số đó * Tìm hiểu và phân tích đề: - Bài toán cho biết gì ? + Biết tổng 3 số là 1999.Số thứ nhất hơn tổng số thứ 2 và số thứ 3 là 67 đơn vị + Số thứ 2 hơn số thứ 3 là 48 đơn vị - Bài toán yêu cầu gì? + Tìm 3 số đó? Học sinh đọc kĩ để tìm hiểu xem tổng của 3 số là mấy và hiệu của nó là đâu rồi giải bài toán Hướng dẫn HS vẽ sơ đồ: - Vậy ta có sơ đồ các số như thế nào?( Số thứ nhất và tổng của số thứ hai và số thứ ba) Giải Từ bài toán ta có thể vẽ sơ đồ biểu thị quan hệ giữa số thứ nhất và tổng của hai số kia
50 cây 250 cây
Trang 5?
Số thứ nhất:
Tổng của số thứ 2
và thứ 3: ?
Từ sơ đồ (1) ta có: Số thứ nhất là: (1999 + 67) : 2 = 1033 Tổng của số thứ 2 và thứ 3 là: 1033 - 67 =966 Từ đó ta có sơ đồ thứ 2 biểu thị quan hệ giữa số thứ 2 và số thứ 3 như thế nào? - Học sinh tìm cách vẽ: ?
Số thứ 2: 48 966 (2) Số thứ 3:
Từ sơ đồ (2) ta có:
Số thứ 2 là: (966+48) : 2 = 507
Số thứ 3 là: 996 - 507 = 459
Đáp số: Ba số cần tìm là: 1033; 507; 459
Bước 5: Kiểm tra đánh giá lời giải ( thử lại )
Tổng 3 số: 1033 + 507 + 459 = 1999
*Dạng 2: Dạng tìm 2 số khi biết tổng và tỉ số của chúng
Ví dụ: Bài toán 1 ( toán 4 - Bài tập trang 90).
Hai kho chứa 125 tấn thóc, trong đó số thóc ở kho thứ nhất bằng 3/2 số thóc ở kho thứ hai Hỏi mỗi kho chứa bao nhiêu tấn thóc ?
* Tìm hiểu và phân tích đề
- Bài toán cho biết gì ?
+ Có 125 tấn thóc chứa trong 2 kho Trong đó kho thứ nhất bằng 3/2 số thóc
ở kho thứ hai
- Bài toán hỏi gì ?
Tìm số tấn thóc ở mỗi kho?
• Hướng dẫn vẽ sơ đồ đoạn thẳng:
- Bài toán thuộc dạng toán gì? ( Tìm hai số khi biết tổng và tỉ số của hai số đó)
- Hai số phải tìm đó là những gì?( Số thóc ở kho thứ nhất và kho thứ hai)
- Tỉ số của hai số là gì?( 3/2)
- Tỉ số 3/2 cho em biết gì? ( Nếu số thóc ở kho thứ nhất gồm 3 phần bằng nhau thì số thóc ở kho thứ hai gồm 2 phần như thế)
?
Trang 6- Hãy vẽ một đoạn thẳng biểu thị số thóc ở kho thứ nhất sau đó vẽ một đoạn thẳng biểu thị số thóc ở kho thứ hai (Chú ý: Điểm xuất phát của hai đoạn thẳng)
- Tổng của hai số là gì? ( Tổng số thóc của kho thứ nhất và kho thứ hai)
- Điền các thông tin đầy đủ trên sơ đồ theo đề bài
Từ đề ra của bài ta vẽ được sơ đồ:
? tấn
Kho thứ nhất:
Kho thứ hai:
? tấn
Giải:
Tổng số phần bằng nhau là 3+2 = 5 phần
Số thóc chứa ở kho thứ nhất ( số lớn)
(125 : 5) x 3 = 75 (tấn)
Số thóc chứa ở kho thứ hai ( số bé)
125 - 75 = 50 tấn
Đáp số: Kho thứ nhất: 75 tấn
Kho thứ hai: 50 tấn
* Kiểm tra đánh giá lời giải ( thử lại )
Tổng hai kho: 75 + 50 =125 tấn
Bài toán 2: Một xưởng may lúc đầu có số công nhân nữ bằng
3
2
số công nhân nam Sau đó 8 công nhân nam nghỉ việc nhà máy nhận thêm 15 công nhân nữ thì lúc này nhà máy có tổng số công nhân là 167 người Hỏi lúc đầu nhà máy có bao nhiêu công nhân nam, công nhân nữ?
* Tìm hiểu và phân tích đề.( Tương tự trên)
- Bài toán cho biết gì ?
- Bài toán hỏi gì ?
- Bài toán thuộc dạng toán nào? ( Tìm hai số khi biết tổng và tỉ số của hai số đó)…
- Để tìm được số công nhân nam và số công nhân nữ ta phải tìm gì trước? ( …tổng số công nhân lúc đầu)
Bài giải
Tổng số công nhân lúc đầu trong nhà máy là:
167 + 8 - 15 = 160 (công nhân)
- Hãy vẽ sơ đồ đoạn thẳng biểu thị số công nhân nam và công nhân nữ và giải bài toán!
Vẽ sơ đồ biểu thị số công nhân nam, nữ lúc đầu:
125 tấn
Trang 7?CN
?CN
Nhìn vào sơ đồ ta thấy 160 công nhân ứng với số phần là:
2 + 3 = 5 (phần)
Số công nhân nữ là:
160 : 5 x 2 = 64 (công nhân)
Số công nhân nam là:
160 - 64 = 96 (công nhân) Đáp số: 64 công nhân nữ
96 công nhân nam
*Dạng 3: Dạng tìm 2 số khi biết hiệu và tỉ số
- Tương tự ta căn cứ vào tỉ số của 2 số để chia các đoạn thẳng biểu diễn cho các số phải tìm bằng những phần bằng nhau Sau đó lấy hiệu chia cho hiệu số phần bằng nhau đó để tính giá trị một phần tiếp đó ta sẽ tìm được các giá trị của từng số theo yêu cầu của bài toán
Bài toán: Mẹ hơn con 25 tuổi Tuổi con bằng
7
2
tuổi mẹ Tính tuổi của mỗi người
* Tìm hiểu và phân tích đề
- Bài toán cho biết gì ?
+ Mẹ hơn con 25 tuổi Tuổi con bằng
7
2
tuổi mẹ
- Bài toán hỏi gì ?
+ Tính số tuổi mỗi người?
Từ đề ra của bài ta vẽ được sơ đồ
? tuổi
Con : 25tuổi
Mẹ :
? tuổi
Bài giải
Hiệu số phần bằng nhau là:
7 – 2 = 5 ( phần ) Tuổi con hiện nay là:
25 : 5 x 2 = 10 ( tuổi) Tuổi mẹ hiện nay là:
25 + 10 = 35 (tuổi) Đáp số: con: 10 tuổi, mẹ: 35 tuổi
160 CN
Nữ:
Nam:
namnam:
Trang 8*Dạng 4: Dùng sơ đồ đoạn thẳng để giải các bài toán có dạng trung bình cộng:
- Dạng này thường được áp dụng từ dạng cơ bản đến các bài tập nâng cao kiến thức cho học sinh Khi sử dụng sơ đồ dạng này giáo viên cần liên hệ cho học sinh thấy được sơ đồ dạng toán này cũng chia thành các phần bằng nhau, mỗi phần bằng nhau chính là trung bình cộng của hai số hay nhiều số
- Vẽ chi tiết trên sơ đồ thể hiện sự tương quan giữa các đại lượng
Ví dụ:
Bài toán 1: Lớp 4A trồng được 21 cây, lớp 4B trồng được 22 cây, lớp 4C
trồng được 29 cây, lớp 4D trồng được số cây bằng trung bình cộng số cây trồng được của 4 lớp Hỏi lớp 4D trồng được bao nhiêu cây?
Phân tích:
Ta thấy tổng số cây của 4 lớp được chia thành 4 phần bằng nhau thì số cây của lớp 4D là một phần và tổng số cây của 3 lớp kia sẽ là 3 phần Như thế trung bình cộng số cây của cả 4 lớp chính bằng trung bình cộng số cây của 3 lớp còn lại Học sinh tự vẽ sơ đồ (căn cứ vào các dữ liệu biễu diễn các đại lượng trên sơ đồ) Theo bài ra ta có sơ đồ:
Dựa vào sơ đồ lập kế hoạch giải bài toán
Bài giải
Nhìn vào sơ đồ ta có:
Lớp 4D trồng được số cây là:
(21 + 22 + 29) : 3 = 24 (cây)
Đáp số: 24 cây
còn lại thì số đó chính bằng trung bình cộng của tất cả các số đã cho.
*Dạng 4: Dạng cấu tạo thập phân của số:
Bài toán: Tìm số có 3 chữ số biết rằng nếu viết thêm vào bên trái số đó chữ
số 2 thì được số mới gấp 6 lần số phải tìm
Cách 1: Gọi số phải tìm là abc
(a ≠ 0); a, b, c < 10)
Số mới biết là 2abc
Theo bài ra ta có:
abc x 6 = 2abc
abc x 6 = 2000 + abc (phân tích số)
abc x 6 - abc = 2000 (tìm một số hạng của một tổng)
abc x (6 - 1) = 2000
abc x 5 = 2000 ( một số nhân với một hiệu)
4D 4A+4B+4C
TBC TBC
TBC TBC
Trang 9abc = 2000 : 5 ( Thừa số)
abc = 400
Đáp số: 400 Cách 2: Vì số phải tìm có 3 chữ số nếu khi viết thêm chữ số 2 vào bên trái số
đó thì được số mới hơn số đó là 2000 và gấp 6 lần số phải tìm
Ta có sơ đồ: ?
Bài giải
Số phải tìm: 2000 : ( 6 - 1) = 400
Đáp số: 400 Như vậy qua 2 cách giải thì cách giải thứ 2 vừa đơn giản vừa dễ hiểu, tránh được dài dòng và học sinh càng hiểu hơn bản chất của dạng toán này
Sơ đồ đoạn thẳng còn dùng để giải các bài toán về tuổi ở tiểu học, giải các bài toán về phân số và số thập phân nữa Ở đây phạm vi có hạn tôi chỉ đưa ra một
số dạng điển hình Mỗi sơ đồ lại có một cách giải riêng giúp học sinh giải được nhiều dạng toán từ cơ bản đến nâng cao nhằm giúp học sinh tự phát hiện, tự giải quyết vấn đề của bài học, tự chiếm lĩnh nội dung kiến thức và có thể vận dụng kiến thức đó vào luyện tập thực hành một cách sáng tạo hơn
Sau khi giảng giải làm mẫu và cùng làm với học sinh một số bài thì tôi thấy học sinh hiểu rõ hơn bản chất của bài toán, biết nhận dạng và giải bài toán một cách dễ dàng hơn và đã biết áp dụng để giải các bài toán phức tạp hơn, tránh được
lý lẽ dài dòng khó hiểu Đồng thời các em yêu thích học toán hơn hẳn Trong các tiết học thực hành và học bồi dưỡng tôi ra đề kiểm tra 15 phút in trên phiếu với các
đề bài tuỳ theo từng đối tượng học sinh
* Kết quả trước và sau khi tiến hành các giải pháp hướng dẫn học sinh
sử dụng sơ đồ đoạn thẳng để nâng cao kĩ năng giải toán:
Sau khi áp dụng PP dùng “Sơ đồ đoạn thẳng” trong dạy học giải toán có lời văn thì kĩ năng giải toán của HS khá chắc, phát huy được tính tích cực, tính sáng tạo, sự say mê, hứng thú, chủ động của học sinh trong học tập Mỗi cá nhân học sinh đã tự khám phá, tự phát hiện và giải quyết bài toán thông qua việc thiết lập mối quan hệ giữa kiến thức mới và kiến thức có liên quan đã học bằng kinh nghiệm của bản thân đã được học, trong đời sống hằng ngày
Kết quả cụ thể của 3 lần kiểm tra ( tuần 10 và tuần 18, tuần 30, năm học 2015-2016) như sau:
2000
Số mới Sốphải tìm
Trang 10Nhìn vào kết quả trên ta thấy rằng việc áp dụng các giải pháp trên đưa lại hiệu quả thiết thực, đặc biệt là tỷ lệ học sinh khá giỏi được tăng lên một cách rõ rệt, không có hiện tượng học sinh xếp loại yếu
III BÀI HỌC KINH NGHIỆM
Giải toán “Bằng sơ đồ đoạn thẳng” đóng vai trò quan trọng trong quá trình
nhận thức và phát triển khả năng tư duy - suy luận - sáng tạo của học sinh trong
cách giải, cách lập luận Giải toán “Bằng sơ đồ đoạn thẳng” đã được nhiều giáo
viên tiến hành, song việc hướng dẫn học sinh hình thành kiến thức thì cần theo một trình tự chặt chẽ, lô-gíc và người dạy cần hướng dẫn học sinh biết “giải mã” các từ khóa của bài toán để biểu diễn sự tương quan giữa các đại lượng của bài toán trên
sơ đồ một cách chính xác giúp học sinh dễ hiểu bài, chủ động chiếm lĩnh tri thức, tạo hứng thú cho các em trong học tập
Để nâng cao hiệu quả giảng dạy toán 4 nói chung và hiệu quả của việc nâng cao kĩ năng giải toán bằng sơ đồ đoạn thẳng của học sinh lớp 4 giáo viên cần làm tốt các việc sau:
- Đối với các bài toán có lời văn, các dạng toán điển hình như đã nêu ở trên cần thiết phải sử dụng sơ đồ đoạn thẳng để giải, giáo viên cần chú trọng khâu hướng dẫn học sinh vẽ sơ đồ đoạn thẳng Muốn vẽ được sơ đồ chính xác trước tiên phải đọc kĩ đề, phân tích đề, tìm ra mối liên hệ phụ thuộc của các đại lượng, hiểu được
đề toán, học sinh biết được bài toán đã cho biết những gì? Yêu cầu phải làm gì? Muốn làm được như vậy thì cần những điều kiện gì? Học sinh hiểu đề như vậy thì mới có thể xác định hướng giải quyết vấn đề được nêu
- Khi vẽ sơ đồ biểu thị bài toán giáo viên phải hướng dẫn học sinh sắp xếp các đoạn thẳng sao cho phù hợp để khi nhìn vào sơ đồ ta thấy ngay được mối tương quan giữa các đại lượng, hạn chế việc vẽ mẫu lên bảng cho học sinh chép lại
- Để đạt được mục tiêu hướng trọng tâm vào trọng tâm, giáo viên cần biết kết hợp một cách hợp lí giữa phương pháp dạy học truyền thống với phương pháp dạy học hiện đại, cụ thể là:
+ Khi dạy nội dung kiến thức giáo viên cần đặt ra các tình huống có vấn đề để học sinh phát hiện ra kiến thức, mới phát huy tính chủ động sáng tạo của học sinh Khi đó giờ học sẽ sôi nổi hơn, học sinh thực sự có hứng thú học bài
+ Trong khi dạy giải toán, sau khi học sinh giải bài tập vào vở giáo viên có thể phát triển đề toán bằng hai cách: Đối với học sinh đại trà giáo viên phải thay đổi số liệu, đối tượng của bài để yêu cầu học sinh giải; đối với học sinh khá giỏi giáo viên yêu cầu học sinh nhìn vào tóm tắt tự đặt đề toán rồi giải
+ Giáo viên cần rèn luyện kĩ năng phân tích đề từ những bài toán cơ bản trong từng nội dung cho học sinh