Tài nguyên du lịch ...20 Huyện đảo Cô Tô hội tụ nhiều tiềm năng thuận lợi cho phát triển du lịch sinh thái biển cao cấp như:...20 - Cô Tô còn giữ được vẻ nguyên sơ của môi trường sinh th
Trang 1UỶ BAN NHÂN DÂN HUYỆN CÔ TÔ
BÁO CÁO TỔNG HỢP QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN
KINH TẾ - XÃ HỘI HUYỆN CÔ TÔ ĐẾN NĂM
2020, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030
Trang 2Cô Tô, tháng 6 năm 2014 MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 4
I Tính cấp thiết của qui hoạch 4
II Quan điểm, mục tiêu 5
III Nhiệm vụ qui hoạch 6
IV Các căn cứ lập quy hoạch 8
V Phương pháp nghiên cứu 9
PHẦN 1: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÁC NGUỒN LỰC PHÁT TRIỂN 10
KINH TẾ XÃ HỘI HUYỆN CÔ TÔ 10
1.1 Nguồn lực và điều kiện tự nhiên 10
1.1.1 Vị trí địa lý 10
1.1.2 Đặc điểm khí hậu và tài nguyên khí hậu 11
1.1.3 Tài nguyên đất 13
1.1.4 Tài nguyên nước 16
1.1.5 Nguồn lợi biển và tài nguyên rừng 17
1.1.6 Tài nguyên du lịch 20
Huyện đảo Cô Tô hội tụ nhiều tiềm năng thuận lợi cho phát triển du lịch sinh thái biển cao cấp như: 20
- Cô Tô còn giữ được vẻ nguyên sơ của môi trường sinh thái nước, không khí trong lành, cấu tạo kiến trúc địa chất, địa hình và địa mạo dải bờ biển giàu hình ảnh và nên thơ, đặc biệt hấp dẫn với các bãi biển tự nhiên như Hồng Vàn, Vàn Chải và hai bãi biển tại đảo Cô Tô con Cô Tô cũng có những cánh rừng nguyên sinh với nhiều loài động, thực vật quý hiếm, có hệ sinh thái biển phong phú và đặc biệt có loài sinh vật biển quý hiếm như bò biển , rất thích hợp với du lịch nghỉ dưỡng, phù hợp với du lịch biển hiện nay của nước ta 20
1.2 Nguồn vốn đầu tư phát triển 21
1.3 Các điều kiện môi trường, xã hội và dân cư 22
PHẦN 2: HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI HUYỆN CÔ TÔ TRONG GIAI ĐOẠN 2001-2012 27
2.1 Đánh giá chung về phát triển kinh tế xã hội 27
2.1.1 Tăng trưởng và phát triển kinh tế 27
2.1.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế 28
2.1.3 Thu ngân sách 37
2.1.4 Việc làm và mức sống dân cư 38
3.1.5 Các lĩnh vực văn hoá - xã hội 39
Trang 32.3 Đánh giá những thuận lợi và khó khăn 44
2.3.1 Những điểm thuận lợi của huyện trong phát triển kinh tế - xã hội 44
2.3.2 Những khó khăn hạn chế 45
PHẦN 3: PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI HUYỆN ĐẢO CÔ TÔ ĐẾN NĂM 2020 TẦM NHÌN 2030 47
3.1 Quan điểm và mục tiêu phát triển 47
3.1.1 Quan điểm phát triển 47
3.1.2 Mục tiêu phát triển 48
3.2 Luận chứng các phương án tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế 49
3.2.1 Luận chứng ba phương án phát triển 49
3.2.2 Lựa chọn phướng án (luận giải tính khả thi) 53
3.3 Quy hoạch phát triển các ngành, lĩnh vực 55
3.3.1 Định hướng phát triển ngành nông, lâm,ngư nghiệp 55
3.3.2 Định hướng phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp 61
3.3.3 Định hướng phát triển du lịch - thương mại 68
3.4 Định hướng phát triển các lĩnh vực xã hội 78
3.4.1 Phát triển nguồn nhân lực 78
3.4.2 Giáo dục 80
3.4.3 Y tế 81
3.5 Định hướng xây dựng kết cấu hạ tầng huyện đảo và trên mỗi đảo 83
3.5.1 Hạ tầng giao thông vận tải 83
3.5.2 Hạ tầng điện 87
3.5.3 Hạ tầng cấp nước sinh hoạt 87
3.5.4 Hạ tầng xử lý nước thải 88
3.5.5 Hạ tầng xử lý chất thải rắn 89
3.5.6 Hạ tầng bưu chính viễn thông và công nghệ thông tin 90
3.5.7 Hạ tầng thương mại, chợ 90
3.6 Bảo vệ môi trường 91
3.7 Công tác an ninh, quốc phòng 92
3.8 Luận chứng phát triển theo lãnh thổ 93
3.8.1 Phương hướng sử dụng đất 94
3.8.2 Định hướng phát triển đô thị 96
3.9 Danh mục các chương trình dự án ưu tiên đầu tư 97
PHẦN 4: GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ ĐẢM BẢO THỰC HIỆN QUY HOẠCH ĐỊNH HƯỚNG CHUNG 100
4.1 Giải pháp huy động vốn đầu tư 100
4.1.1 Định hướng chung 101
Trang 44.2 giải pháp phát triền nguồn nhân lực 103
4.2.1 Đối với cán bộ viên chức nhà nước 103
4.2.2 Giải pháp đối với lao động trong các khu vực kinh tế 104
4.2.3 Giải pháp thu hút nhân tài 105
4.3 Các giải pháp khác 106
4.4 Tổ chức thực hiện 106
4.4.1 Công khai quy hoạch 106
4.4.2 Giám sát thực hiện qui hoạch 107
4.5 Kiến nghị 107
PHỤ LỤC 109
LỜI MỞ ĐẦU
I Tính cấp thiết của qui hoạch
Trong giai đoạn vừa qua, phát triển kinh tế của huyện Cô Tô đã đạt được những kết quả quan trọng như cơ sở hạ tầng có những thay đổi lớn (điện, giao thông, trường học, đô thị) tăng trưởng kinh tế cao, thu nhập bình quân đầu người được cải thiện, cơ cấu kinh tế dịch chuyển theo hướng tích cực với xu hướng giảm dần giá trị đóng góp của khu vực nông-lâm-thủy sản và tăng đóng góp của khu vực dịch vụ Tuy nhiên, so với lợi thế và tiềm năng, huyện còn chưa phát huy hết để có sự phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững Bình quân thu nhập/người/năm còn thấp hơn nhiều so với mặt bằng chung của tỉnh Quảng
Trang 5vào khai thác tài nguyên sẵn có là chủ yếu mà chưa tận dụng và phát huy hết những lợi thế sẵn có Một tiềm năng và lợi thế lớn của Cô Tô đó là khả năng phát triển du lịch hiện mới chủ yếu bùng nổ theo hướng tự phát nên dịch vụ cung cấp và đáp ứng chỉ ở mức bình dân và chưa theo hướng phát triển bền vững, có giá trị gia tăng cao.
Trong bối cảnh thế giới và Việt Nam có xu hướng điều chỉnh mục tiêu và định hướng phát triển kinh tế theo hướng xanh, những định hướng phát triển đưa ra trong bản “Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội huyện đảo Cô Tô thời
kỳ 2000-2010” xây dựng năm 2000 đã được UBND tỉnh Quảng Ninh phê duyệt tại Quyết định số 2784/QĐ-UB ngày 31 tháng 10 năm 2000 hiện không phù hợp với bối cảnh mới hiện nay Cụ thể hơn, tỉnh Quảng Ninh đã lựa chọn phương hướng phát triển kinh tế của tỉnh đó là “chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế
từ “nâu” sang “xanh”, từ khu vực có giá trị gia tăng thấp sang khu vực có giá trị gia tăng cao và bền vững
Chính vì vậy, để thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế - xã hội của huyện nhanh hơn, thống nhất và phù hợp với quan điểm và mục tiêu chung của tỉnh Quảng
Ninh đã chọn, việc nghiên cứu xây dựng “Quy hoạch tổng thể phát triển KTXH
huyện Cô Tô đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030" là cần thiết và cấp bách
làm cơ sở cho huyện đề ra các giải pháp nhằm tận dụng tối đa các nguồn lực để xây dựng và phát triển nhằm đưa Cô Tô trở thành đô thị sinh thái biển trong giai đoạn tới
II Quan điểm, mục tiêu
- Đánh giá thực trạng phát triển kinh tế - xã hội huyện 5 năm gần đây
- Xây dựng Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội huyện Cô Tô đến năm 2020, tầm nhìn đến 2030 cần đảm bảo phù hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, vùng lãnh thổ và của quốc gia Tạo bước đột phá nhằm xây dựng và phát triển huyện đảo Cô Tô trở thành đô thị sinh thái biển trong tương lai gần; trở thành pháo đài vững chắc bảo vệ chủ quyền biển đảo vùng Đông Bắc của Tổ quốc
- Xây dựng các chương trình, dự án ưu tiên và đề xuất các giải pháp để triển khai thực hiện giai đoạn 2011 – 2020, tầm nhìn 2030
Trang 6III Nhiệm vụ qui hoạch
1 Phân tích, đánh giá các yếu tố tự nhiên, kinh tế, xã hội đối với mục tiêu phát triển của huyện trong tỉnh và vùng, bao gồm:
- Vị trí địa lý, mối quan hệ lãnh thổ và khả năng phát huy các yếu tố này cho quy hoạch phát triển của huyện
- Đặc điểm khí hậu và tài nguyên khí hậu và dự báo khả năng khai thác chúng
- Phân tích, đánh giá phát triển và dự báo dân số, phân bố dân cư gắn với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và các giá trị văn hoá phục vụ phát triển
- Phân tích, đánh giá hệ thống kết cấu hạ tầng về mức độ đáp ứng yêu cầu phát triển cao hơn
- Phân tích, đánh giá quá trình phát triển và hiện trạng phát triển kinh tế -
xã hội của huyện
2 Phân tích, dự báo ảnh hưởng của các yếu tố trong nước và quốc tế đến phát triển kinh tế, xã hội của huyện; tác động của quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, của vùng đến phát triển kinh tế – xã hội của huyện
3 Đánh giá về các lợi thế so sánh, hạn chế và cơ hội cùng các thách thức đối với phát triển huyện trong thời kỳ quy hoạch
4 Luận chứng mục tiêu, quan điểm và phương hướng phát triển kinh tế,
xã hội phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh và vùng lãnh thổ, bao gồm:
- Xác định vị trí, vai trò của huyện đối với nền kinh tế của tỉnh và vùng,
từ đó luận chứng mục tiêu và quan điểm phát triển của huyện Tác động của quy hoạch tỉnh, quy hoạch ngành đối với huyện trong thời kỳ quy hoạch Luận chứng mục tiêu phát triển (gồm cả mục tiêu tổng quát và mục tiêu cụ thể)
- Đối với mục tiêu kinh tế: tăng trưởng kinh tế (tính theo giá trị sản xuất), giá trị xuất khẩu, một số sản phẩm, lĩnh vực chủ yếu và tỷ trọng đóng góp của huyện đối với tỉnh, đóng góp vào ngân sách, năng suất lao động và khả năng cạnh tranh có so sánh với bình quân chung của tỉnh
- Đối với mục tiêu xã hội: mức tăng việc làm, giảm thất nghiệp, giảm đói nghèo, mức độ phổ cập về học vấn, tỷ lệ tăng dân số, tỷ lệ lao động qua đào tạo,
Trang 7- Đối với mục tiêu môi trường: giảm mức độ ô nhiễm môi trường và mức đảm bảo các yêu cầu về môi trường trong sạch theo tiêu chuẩn môi trường - TCVN Đưa ra các chính sách, biện pháp đối với một đô thị xanh, sạch phù hợp
và trở thành huyện đảo sinh thái
- Nhiệm vụ và giải pháp đạt mục tiêu Luận chứng phát triển cơ cấu kinh
tế, định hướng phát triển và phân bố các ngành và lĩnh vực then chốt và các sản phẩm quan trọng và lựa chọn cơ cấu đầu tư (kể cả đề xuất các chương trình, dự
án đầu tư trọng điểm trong giai đoạn 5 năm đầu và cho thời kỳ quy hoạch)
- Luận chứng phát triển nguồn nhân lực và các giải pháp phát triển và đào tạo nguồn nhân lực;
- Luận chứng phương án tổng hợp về tổ chức kinh tế, xã hội trên lãnh thổ huyện (lựa chọn phương án tổng thể khai thác lãnh thổ);
- Tổ chức lãnh thổ hệ thống đô thi, điểm dân cư tập trung, khu vực phát triển du lịch; Phát triển hệ thống làng nghề cá; khu thương mại, hệ thống chợ gắn với các điểm dân cư
- Tổ chức lãnh thổ khu vực nông thôn; phát triển các vùng cây trồng, vật nuôi, nuôi trồng và đánh bắt thủy sản hàng hoá
- Xác định phương hướng phát triển cho những lãnh thổ đang kém phát triển và những lãnh thổ có vai trò động lực; phát triển các vùng khó khăn gắn với ổn định dân cư, xoá đói giảm nghèo
- Xác định biện pháp giải quyết chênh lệch về trình độ phát triển và mức sống dân cư giữa đô thị và nông thôn và giữa các tầng lớp dân cư;
- Quy hoạch phát triển kết cấu hạ tầng đảm bảo yêu cầu trước mắt và lâu dài của các hoạt động kinh tế, xã hội của huyện và gắn với huyện khác trong tỉnh:
a) Lựa chọn phương án phát triển mạng lưới giao thông của huyện trong tổng thể mạng lưới giao thông của cả tỉnh
b) Phương án phát triển thông tin liên lạc, bưu chính viễn thông
c) Phương án phát triển mạng lưới chuyển tải điện gắn với mạng lưới chuyển tải điện của cả tỉnh
d) Phương án phát triển các công trình thuỷ lợi, dự trữ nước ngọt và cấp
Trang 8đ) Lựa chọn phương án phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng xã hội và phúc lợi công cộng Phát triển mạng lưới giáo dục đào tạo (cả đào tạo nghề), hệ thống
y tế- chăm sóc sức khỏe và các cơ sở văn hoá - xã hội
- Định hướng quy hoạch sử dụng đất (dự báo các phương án sử dụng đất căn cứ vào định hướng phát triển ngành, lĩnh vực)
- Luận chứng danh mục dự án đầu tư ưu tiên
- Luận chứng bảo vệ môi trường; xác định những lãnh thổ đang bị ô nhiễm trầm trọng, những lãnh thổ nhạy cảm về môi trường và đề xuất giải pháp thích ứng để bảo vệ hoặc sử dụng các lãnh thổ này
- Xác định các giải pháp về cơ chế, chính sách nhằm thực hiện mục tiêu quy hoạch; đề xuất các chương trình, dự án đầu tư trọng điểm có tính toán cân đối nguồn vốn để bảo đảm thực hiện và luận chứng các bước thực hiện quy hoạch; đề xuất phương án tổ chức thực hiện quy hoạch:
a) Giải pháp về huy động vốn đầu tư
b) Giải pháp về đào tạo nguồn nhân lực
c) Giải pháp về khoa học công nghệ, môi trường
d) Giải pháp về cơ chế, chính sách
đ) Giải pháp về tổ chức thực hiện
IV Các căn cứ lập quy hoạch
- Nghị định số 92/2006/NĐ-CP ngày 07/9/2006 của Chính phủ về việc lập, phê duyệt và quản lý Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội; Nghị định số 04/2008/NĐ-CP ngày 11/01/2008 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 92/2006/NĐ-CP ngày 07/9/2006;
- Quyết định số 145/2004/QĐ-TTg ngày 13/8/2004 của Thủ tướng Chính phủ về phương hướng chủ yếu phát triển kinh tế-xã hội vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020
- Quyết định số 491/2009QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính Phủ về việc ban hành bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới
- Quyết định số 800/2010/QĐ-TTg ngày 4/6/2010 của Thủ tướng Chính Phủ về việc phê duyệt chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn
Trang 9- Chị thị số 2178/CT-TTg ngày 2/12/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường công tác quy hoạch.
- Thông tư số 03/2008/TT-BKH ngày 01/7/2008 của Bộ KH&ĐT về việc hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 04/2008/NĐ-CP ngày 11/01/2008 sửa đổi;
- Quyết định số 01/2012/QĐ-BKH ngày 12/2/2012 của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư về việc ban hành định mức chi phí cho lập, thẩm định quy hoạch và điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch ngành và quy hoạch phát triển các sản phẩm chủ yếu;
- Thông báo số 108-TB/TW ngày 1/10/2012 của Ban Chấp hành Trung ương về Đề án “Phát triển kinh tế-xã hội nhanh, bền vững; bảo đảm vững chắc quốc phòng, an ninh và thí điểm xây dựng hai đơn vị hành chính-kinh tế đặc biệt Vân Đồn, Móng Cái Quảng Ninh”
- Nghị quyết số 06-NQ/TU ngày 20/3/2012 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy
về việc tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác xây dựng chiến lược, lập, quản lý
và thực hiện quy hoạch
- Nghị quyết số 13 của Tỉnh về kế hoạch phát triển KT-XH 2011-2015 và 2016-2020
- Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội tỉnh Quảng Ninh đến năm
2020, tầm nhìn đến năm 2030
- Quy hoạch xây dựng vùng tỉnh Quảng Ninh đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 và ngoài năm 2050
V Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thống kê: thu thập, nghiên cứu các số liệu, công trình, tài liệu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu
- Phương pháp điều tra thực địa, kết hợp phỏng vấn trực tiếp
- Phương pháp chuyên gia: hội thảo lấy ý kiến của chuyên gia các ngành, các địa phương về định hướng, quy hoạch phát triển kinh tế xã hội
- Phương pháp phân tích dự báo: được sử dụng để phân tích, đánh giá các thông tin về thị trường làm căn cứ để quy hoạch
Trang 10- Phương pháp làm việc nhóm và cùng tham gia giữa đơn vị tư vấn lập quy hoạch, UBND huyện, các đơn vị trực thuộc UBND huyện và các đơn vị liên quan khác.
NỘI DUNG QUI HOẠCH
PHẦN 1: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÁC NGUỒN LỰC PHÁT TRIỂN
KINH TẾ XÃ HỘI HUYỆN CÔ TÔ 1.1 Nguồn lực và điều kiện tự nhiên
1.1.1 Vị trí địa lý
Cô Tô là huyện đảo nằm ở phía Đông tỉnh Quảng Ninh, với tọa độ địa lý: Từ
20055’ đến 21015’7” vĩ độ Bắc Từ 107035’ đến 108020’ kinh độ Đông Huyện Cô
Tô cách đất liền 100km về phía đông bắc Vịnh Bắc Bộ, có tổng chiều dài biên giới biển tiếp giáp với Trung Quốc gần 200km từ khơi đảo Trần đến ngoài phía đông đảo Bạch Long Vĩ của Hải Phòng
Phía Bắc giáp đảo Cái Chiên (huyện Hải Hà), đảo Vĩnh Thực (thị xã Móng Cái)
Phía Nam giáp vùng biển đảo Bạch Long Vĩ - Hải Phòng
Trang 11Phía Tây giáp huyện Vân Đồn tỉnh Quảng Ninh.
Huyện Cô Tô là một quần đảo, trong đó có 3 đảo lớn: đảo Cô Tô, đảo Thanh Lân và đảo Trần Diện tích tự nhiên toàn huyện thường xuyên thay đổi, do có sự tích tụ và bồi đắp của đất đai Theo Quyết định mới nhất của Thủ tướng Chính phủ số 272/QĐ-TTg ngày 27/02/2007, diện tích tự nhiên của huyện là 47,43 km2 (4.743,37 ha) chiếm 0,8% diện tích đất đai tự nhiên của tỉnh Quảng Ninh Cô Tô có 3 đơn vị hành chính gồm 2 xã và thị trấn.Đảo Cô Tô cách đất liền khoảng 60 hải lý, gần ngư trường khai thác hải sản lớn của cả nước; Đảo Trần nằm ở vị trí Đông Bắc của huyện, cách khu kinh tế mở Móng Cái khoảng 35 km, nằm trong khu vực cửa khẩu, cách đường hàng hải quốc tế Hải Phòng - Bắc Hải 30 km
Với vị trí địa lý nêu trên, Cô Tô là một huyện đảo nằm ở vị trí có nhiều tiềm năng phát triển kinh tế trên biển, du lịch, giao lưu kinh tế với nhân dân Trung Hoa Quần đảo Cô Tô có vị trí chiến lược, đặc biệt quan trọng về an ninh quốc phòng để làm cơ sở vạch đường cơ bản khi hoạch định đường biên giới trên biển của nước ta Có vị trí thuận lợi để phát triển dịch vụ cứu hộ cứu nạn trên biển
Huyện Cô Tô còn có ví trí quan trọng tạo thành điểm kết nối và tuyến du lịch, giải trí Hạ Long - Cửa Ông - Vân Đồn – Cô Tô
1.1.2 Đặc điểm khí hậu và tài nguyên khí hậu
a Khí hậu, thời tiết
Quần đảo Cô Tô có chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa, có mùa đông lạnh mang tính chất khí hậu hải dương Do chịu ảnh hưởng và tác động của biển đã tạo ra những tiểu vùng sinh thái hỗn hợp miền núi ven biển
- Nhiệt độ không khí
Nhiệt độ trung bình năm 22,70C, dao động từ 170 - 280C, nhiệt độ trung bình cao nhất từ 270 - 300C, nhiệt độ tối cao tuyệt đối 36,20C Về mùa đông, nhiệt độ trung bình thấp nhất từ 13,50 - 15,80C, nhiệt độ tối thấp tuyệt đối 4,40C
- Lượng mưa
Cô Tô là huyện nằm phía Đông tỉnh Quảng Ninh, nơi có mưa lớn Lượng mưa tương đối cao so với toàn tỉnh, trung bình năm là 1.707,8 mm, năm cao
Trang 12nhất 2.561,8 mm, thấp nhất khoảng 908 mm Tuy vậy, lượng mưa phân bố không đều trong năm và phân làm 2 mùa rõ rệt:
- Mùa mưa nhiều kéo dài 5 tháng, thường từ tháng 5 đến tháng 9 Lượng mưa chiếm 78 - 80% tổng lượng mưa cả năm Lượng mưa cao nhất vào khoảng
396 mm vào tháng 8 hàng năm
- Mùa mưa ít: Từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau, lượng mưa chỉ chiếm 20
- 22% tổng lượng mưa năm, tháng có mưa ít nhất là tháng 12, tháng 1 và tháng
2 từ 20 - 26 mm
- Độ ẩm không khí
Độ ẩm không khí trung bình hàng năm là 84%, tương đương mức trung bình của các huyện, thị xã trong tỉnh Độ ẩm không khí thường thay đổi theo mùa và các tháng trong năm, tháng 3 và 4 có độ ẩm cao nhất tới 90%, thấp nhất vào tháng 10 và 11 là 77 - 78%
5 đến tháng 10 hay gặp dông tố, đặc biệt tháng 6 đến tháng 8 cơn dông thường xuất hiện từ 15 đến 20 ngày, khi có dông thường hay gây ra mưa to, gió mạnh tạo ra vùng gió xoáy làm ảnh hưởng xấu đến các phương tiện hoạt động trên biển
Gió mùa đông bắc: Xuất hiện vào mùa khô từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau, tốc độ gió trung bình từ 4-6 m/s Đặc biệt gió mùa đông bắc tràn về thường lạnh và mang theo giá rét, thời tiết khô hanh, thường ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp, gia súc, gia cầm
Bão: Quần đảo Cô Tô là một trong những nơi chịu ảnh hưởng của bão nhiều nhất nước ta, bão thường xuất hiện vào thời kỳ từ tháng 6 đến tháng 11, nhiều nhất là tháng 6 và tháng 8, ảnh hưởng của bão đối với vùng này là rất lớn,
vì bão thường gây ra gió mạnh từ 40 - 50 m/s và mưa lớn từ 300 - 400 mm/ngày
Trang 13- Sương có hai loại sương mù và sương muối Sương muối ít xảy ra, nếu
có thì sương muối thường xuất hiện vào cuối tháng 12 và tháng 1 năm sau Sương mù hàng năm có khoảng từ 15 - 30 ngày
Như vậy thời tiết khí hậu đáng lưu ý nhất trên huyện đảo là mưa và bão
lũ Mưa tập trung theo mùa đã gây ra thừa nước về mùa mưa nhiều và thiếu nước khá gay gắt vào mùa mưa ít Bão lũ có thể gây ra những thiên tai, thảm họa ảnh hưởng xấu đến sự phát triển kinh tế - xã hội Vì vậy, khi bố trí các ngành sản xuất và xây dựng cần tính tới thời kỳ mưa và gió bão trên đảo
b Thuỷ văn và hải văn
Nhìn chung chế độ thuỷ văn ở huyện Cô Tô phân bố không đều theo hai mùa, hệ thống sông suối trên đảo ít và ngắn, dốc, hay bị khô hạn về mùa đông
Huyện đảo Cô Tô là khu vực có chế độ hải văn điển hình cho vùng vịnh Bắc Bộ, phụ thuộc vào gió mùa Vào thời điểm có gió mùa Đông Bắc, sóng biển thống trị có hướng Đông Bắc - Tây Nam, biên độ lớn và tương đối ổn định Mùa hè sóng hướng Nam có biên độ nhỏ hơn sóng hướng Đông Bắc Mùa mưa bão sóng đạt tới 6m Thủy triều dao động lớn từ 3,95-4,95m
Tóm lại: Huyện đảo Cô Tô nằm trong vành đai kinh tế vịnh Bắc Bộ có vị
trí chiến lược về kinh tế, chính trị, an ninh, quốc phòng trên biển Đặc biệt Huyện có vị trí tiền tiêu trên biển của vùng Đông bắc Tổ quốc, gần các trung tâm kinh tế lớn của vùng như Hạ Long, Hải Phòng và các trung tâm du lịch như Vân Đồn, Móng Cái, đây là các yếu tố quan trọng để phát triển kinh tế tổng hợp của huyện
Tuy vậy, huyện Cô Tô cũng chịu nhiều thách thức lớn trước sóng gió, bão
tố của thiên nhiên, nằm cách xa đất liền và phải thường xuyên đối mặt với những vi phạm chủ quyền lãnh thổ trên biển và vùng biển của nước ta
Trang 14này phân bổ ở thị trấn Cô Tô, xã Thanh Lân và xã Đồng Tiến, gồm có 3 đơn vị đất là:
Bãi cát ven sông, ven biển: đơn vị đất này gồm có 1 đơn vị phân loại đất
phụ là: Bãi cát ngập triều, loại đất này thường ở địa hình thấp ngoài đê biển và thường xuyên ảnh hưởng của chế độ thuỷ triều
Đất cồn cát trắng vàng: loại đất này chủ yếu thành phần cơ giới là cát, ở
địa hình cao tạo thành những cồn cát dài, và được phân bổ ở các xã, thị trấn trong huyện Loại đất này có một đơn vị phân loại đất phụ là: Đất cồn cát trắng vàng điển hình, đất này có đặc điểm là: có phản ứng chua (pHKCL: 4,50 ở tầng đất mặt) Hàm lượng chất hữu cơ ở các tầng đều rất nghèo Dung tích hấp thụ (CEC) thấp: 4,40mg/100g đất ở tầng mặt và tăng dần theo chiều sâu Thành phần
cơ giới chủ yếu là cát thô, cát vật lý > 95%
Đất cát biển: loại đất này phân bố ở xã Đồng Tiến và thị trấn Cô Tô Đơn vị
đất này được chia làm 2 đơn vị đất phụ là:
- Đất cát biển điển hình: phân bố ở xã Đồng Tiến, thường ở địa hình cao hoặc vàn cao, hình thành chủ yếu do sự hoạt động của sông và biển Thành phần cơ giới
từ cát pha đến cát mịn Đất có phản ứng chua, hàm lượng chất hữu cơ ở các tầng đều nghèo Dung tích hấp thu thấp
- Đất cát biển giây sâu: phân bố ở xã Đồng Tiến và thị trấn Cô Tô, đất có quá trình hình thành cũng giống đất cát biển điển hình, song ở điều kiện địa hình thấp hơn nên thường xuất hiện tầng giây ở độ sâu dưới 50cm Phản ứng của đất chua
pHKCL: 4,49-5,22 Hàm lượng hữu cơ và đạm tổng số ở tầng đất mặt nghèo, tương ứng là: 1,01% và 0,48% Lân tổng số và dễ tiêu ở tất cả các tầng đất Kali tổng số và
dễ tiêu nghèo (<0,5mg/100g đất), canxi và manhê trao đổi thấp, lượng canxi trao đổi chiếm ưu thế hơn so với manhê Dung tích hấp thụ (CEC) rất thấp, thành phần cơ giới cát mịn là chủ yếu
Nhóm đất Giây
Đất Giây được hình thành từ các vật liệu không gắn kết, trừ các vật liệu có thành phần cơ giới thô và trầm tích phù sa có đặc tính phù sa Chúng biểu hiện đặc tính Giây mạnh ở độ sâu 0-50cm Đất Giây phân bố ở các xã Thanh Lân và Đồng Tiến
Đất Iây có một đơn vị đất là đất Giây chua
Đất Giây chua có một phân loại đất phụ là đất Giây chua điển hình Đất Giây
Trang 15mặt khá, càng xuống sâu hàm lượng chất hữu cơ giảm Đạm tổng số ở tầng đất mặt khá (0,160%), và càng xuống sâu đạm tổng số càng giảm Lân tổng số và dễ tiêu ở lớp đất mặt nghèo 0,041% và 2,6 mg/100g đất Kali tổng số trung bình; kali dễ tiêu khá Lượng cation kiềm trao đổi thấp, dung tích hấp thụ (CEC) đạt trên 101đl/100g đất Thành phần cơ giới của đất từ thịt trung bình ở tầng mặt, xuống sâu các tầng dưới có thành phần cơ giới cát pha.
Nhóm đất Đỏ vàng
Đất Đỏ vàng được hình thành trên các loại đá sa thạch Hình thái phẫu diện đất thường có màu vàng đỏ, hoặc vàng nhạt, tầng đất hình thành dày hay mỏng thường chịu tác động tổng hợp của các yếu tố hình thành đất Đất Đỏ vàng được phân bố ở các xã và thị trấn trong huyện
Đất Đỏ vàng có 1 đơn vị đất là đất Vàng nhạt Đơn vị đất này cũng chỉ có 1 đơn vị phân loại đất phụ là: Đất vàng nhạt đá lẫn nhiều ở sâu Loại đất này có phản ứng chua pHKCL: 5,23 Hàm lượng chất hữu cơ nghèo (1,1%) ở lớp đất mặt, càng xuống sâu hơn hàm lượng hữu cơ càng giảm Đạm tổng số trung bình ở tầng mặt Kali tổng số trung bình và dễ tiêu nghèo Lượng canxi và manhê trao đổi thấp Dung tích hấp thu (CEC) đạt trên 101đl/100g đất ở tất cả các tầng đất Thành phần cơ giới
ở lớp đất mặt từ thịt nhẹ đến thịt trung bình
Diện tích đất tự nhiên của huyện Cô Tô được chia đều chủ yếu trên hai hòn đảo lớn là Cô Tô (bao gồm thị trấn và xã Đồng Tiến) và đảo Thanh Lân (xã Thanh Lân) Đất tại thị trấn và xã Đồng Tiến bằng phẳng và thuận lợi cho hoạt động kinh tế và phát triển hạ tầng, đô thị hơn so với xã Thanh Lân
Bảng 1.1: Tổng diện tích đất tự nhiên phân theo địa giới hành chính huyện
Cô Tô (ha)
Trang 16Hiện tại, đất nông nghiệp của huyện Cô Tô chiếm diện tích lớn nhất trong tổng
số diện tích đất tự nhiên (chiếm tới 49,5%) Trong đó, phần lớn diện tích đất nông nghiệp là đất lâm nghiệp (chiếm tới 44% tổng diện tích tự nhiên) Diện tích trồng lúa và hoa màu hàng năm khá nhỏ và có xu hướng giảm Năm 2013 diện tích đất trồng lúa là 120,23 ha, đất trồng màu chỉ là 24ha, diện tích nuôi trồng thủy sản không thay đổi trong vòng 5 năm với 110 ha
Một thế mạnh của huyện Cô Tô đó là diện tích đất chưa sử dụng vẫn chiếm một
tỷ lệ khá lớn (năm 2013 còn 1232,94 ha và chiếm khoảng 30% tổng diện tích đất tự nhiên) Trong đó, đất núi đá không có rừng cây khoảng 33ha; đất đồi núi chưa sử dụng khoảng 513ha; còn lại khoảng hơn 600 ha đất bằng chưa sử dụng Đây là điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện đồng bộ qui hoạch phát triển huyện đảo Cô Tô theo hướng đô thị sinh thái biển trong giai đoạn tiếp theo
Bảng 1.2: Hiện trạng sử dụng đất huyện Cô Tô (ha)
Nguồn: UBND huyện Cô Tô
1.1.4 Tài nguyên nước
Nguồn nước mặt
Khả năng sinh thủy của toàn huyện là khá lớn, vào khoảng 48 triệu m3/năm2, tuy vậy khả năng giữ nước lại rất kém Bởi vì xung quanh huyện đảo là biển bao bọc, địa bàn bị chia cắt thành các hòn đảo nhỏ, sông suối ít, độ dốc lớn nên lượng
Trang 17nước mặt bị thoát nhanh, địa bàn không có hồ lớn tự nhiên Hệ thống sông suối của Cô Tô nhỏ và chỉ hoạt động vào mùa mưa Trên địa bàn huyện có 13 con suối có chiều dài từ 1km trở lên, trong đó đảo Thanh Lân có 9, đảo Cô Tô có 3
và đảo Cô Tô con có 1 con suối Riêng ở đảo Thanh Lân có 3 con suối có lưu vực khá lớn như suối Ngọc Mai dài 0,7 km, lưu vực 0,88 km2; suối Cáp Chán dài 1,9 km, lưu vực 1,03 km2; suối Bắc Vân Xín dài 1,5 km, lưu vực 1,63 km2 Trong những năm vừa qua, huyện đã đầu tư xây dựng đập tạo hồ giữ nước (hồ Trường Xuân,) hiện đủ cung cấp nước cho nhu cầu của người dân địa phương trên đảo và khách du lịch hiện tại, tránh tình trạng thiếu nước trong mùa khô như trước đây Tuy nhiên, lượng nước tại các hồ chứa phụ thuộc khá nhiều vào lượng mưa hàng năm Hơn nữa, nguồn nước dự trữ cũng cần tính tới đáp ứng nhu cầu của khách du lịch cao cấp (lượng nước đối với những du khách này thường sử dụng nhiều hơn) Bên cạnh đó, hệ thống xử lý nước sạch cho toàn huyện vẫn chưa hiện đại, đặc biệt đáp ứng yêu cầu của khách du lịch cao cấp
Nguồn nước ngầm
Trữ lượng nước ngầm tính cho toàn quần đảo vào khoảng 10,65 triệu m3 Mực nước ngầm có độ cao lớn nhất là 4,5m và thấp nhất là 2m Chất lượng nước ngầm từ trung bình đến kém, độ pH cao Có thể khai thác nước ngầm từ quy mô nhỏ đến quy mô trung bình đối với các tầng chứa nước nguồn gốc biển và tầng chứa nước khe nứt trong trầm tích, chất lượng nước nhìn chung tốt, có độ khoáng nhỏ, nước ngọt có thể dùng cho sinh hoạt của nhân dân và nhu cầu sử dụng khác Có thể sử dụng các giếng khoan hoặc đào giếng với độ sâu 8 - 20m
để cung cấp nước, có những khu vực mực nước ngầm chỉ ở độ sâu 4-5 m như ở thôn Hải Tiến, xã Đồng Tiến Một số nơi sát biển hay bị nhiễm mặn Tuy vậy, đến nay chưa có đánh giá về khả năng khai thác nước ngầm Vì vậy trong các năm tới cần khảo sát điều tra để làm rõ trữ lượng và khả năng khai thác Mặt khác, để giữ được nguồn nước ngầm cần tiếp tục bảo vệ diện tích rừng hiện có
và tăng cường trồng rừng mới
1.1.5 Nguồn lợi biển và tài nguyên rừng
Tài nguyên rừng
Tài nguyên rừng của huyện đảo Cô Tô được đánh giá theo diện tích và giá trị của thảm thực vật Năm 2013, huyện Cô Tô có 2.090,57 ha rừng, chiếm 44% tổng diện
Trang 18tích tự nhiên huyện (giảm so với năm 2005 là 2.328,45 ha rừng, chiếm 49,2% diện tích tự nhiên), trong đó rừng tự nhiên là 1080 ha, rừng trồng 1008 ha So với năm
2005 thì diện tích tự nhiên hiện nay có xu hướng tăng lên và diện tích rừng trồng giảm xuống
Giá trị tài nguyên của thảm thực vật: hiện nay rừng trên đảo đa số là rừng non phục hồi sau những giai đoạn bị chặt phá trước năm 1979 Rừng của huyện Cô
Tô còn có nhiều loại cây gỗ thuộc các họ trầm, họ bứa, họ thân dầu, họ đậu, long não, lim, giao, bồ hòn, thông, keo Ngoài cây thân gỗ còn có nhiều loại cây dược liệu như hương nhu, sâm đất, thầu dầu tía trên các đảo
Rừng Cô Tô thuộc loại rừng 3 tầng Dưới tán rừng là tầng cây bụi với các
họ sim, mua, xoài muối, sơn rừng, ngũ gia bì, chân chim Dưới tầng cây bụi là tầng cỏ quyết với các họ ráy, cau, cỏ dương, thài lài, xạ can, rẻ quạt Ngoài ra trên đảo còn có cây bụi, trảng cỏ trên cồn cát với các loài họ phong bai, dừa cạn, xương rồng, rau muống biển; Rừng trồng với các loài chính như thông, phi lao, bạch đàn Cây rừng có độ cao trung bình 10-12m, có nhiều loài cây xanh quanh năm, nhưng cũng có loài cây “thanh ngạch” là loài rụng lá vào mùa đông
Động vật rừng từ xa xưa có khá nhiều nhưng hiện nay ở đảo Thanh Lân
còn có đàn khỉ vàng chừng, một số loài trăn, tắc kè
Tài nguyên biển
Vùng biển Cô Tô có 127 loài thực vật phù du thuộc 31 chi, 3 ngành tảo Động vật phù du có 54 loài thuộc 2 giống của 4 nhóm vỏ giáp, chân chèo Động vật đáy ở độ sâu 5 đến 20m, đã phát hiện được 100 loài chủ yếu là giun
tơ, giáp xác, thân mềm, da gai , các loài có giá trị kinh tế cao như bào ngư, trai ngọc, ốc nón, tôm hùm, hải sâm
Cô Tô rất phong phú và đẹp nổi tiếng với rừng san hô Bắc Vàn, phát triển rộng lớn ở độ sâu 10 - 20 m có 70 loài, 28 giống, 12 họ, trong đó có nhiều loài quý hiếm như san hô đỏ, san hô sừng Rong biển có 74 loài, thuộc 51 giống, 30
họ, 18 bộ, 5 lớp, 4 ngành, trong đó có nhiều loại làm thực phẩm, phân bón với diện tích phân bố khoảng 250 ha, sản lượng có thể khai thác vào khoảng 2.100 tấn/năm
Nguồn lợi cá có 120 loài, có 13 loài có giá trị kinh tế cao, bao gồm cá nổi
và các đáy
Trang 19Cá nổi phân thành 2 nhóm là nhóm cá ít di chuyển và nhóm cá di cư xa
Trong đó cá ít di chuyển có cá trích xương (Sardinella jusieu), cá lầm (Dussumieri hasseltii), cá cơm (Engraulidate), cá nục (Decapterus) chúng tạo thành những đàn cá địa phương Cá di cư xa như cá ngừ, cá bạc má, cá nhám Từng loài cá di chuyển theo các mùa khác nhau Cá trích xương có thời gian xuất hiện rộ vào vụ Nam Cá lầm, cá nục có thời gian xuất hiện gần như quanh năm và xuất hiện rộ vào cuối vụ Bắc đến đầu vụ Nam Cá bạc má, cá dầu, cá chỉ vàng, cá lẹp thời gian xuất hiện chính là vào vụ Nam Cá ngừ có hiện tượng di
cư xa nhất, mùa đông chúng sống ở những khu vực phía Nam biển Đông, tháng
4 các đàn cá ngừ di chuyển vào vịnh Bắc Bộ và đi lên phía Bắc vịnh Cá chuồn
và một số loài thuộc họ cá khế khi nhiệt độ hạ thấp vào mùa đông, chúng rời khỏi vịnh Bắc Bộ
Cá đáy có nhiều loài như họ cá phèn (Mullidae), họ cá mối (Symodidae),
họ cá lượng (Nemipteridae), họ cá trác (Pricanthis), họ cá miễn sành (Spridae),
họ cá hồng (Lutjanidae), họ cá sạo (Pomadasyidae), v.v
Ngoài ra còn có Cá mực gồm 6 loài, mực ống chủ yếu là mực Trung Hoa
tập trung nhiều ở đông nam đảo Thanh Lân, sản lượng khai thác có thể đạt 50
tấn/năm Cô Tô có bãi tôm với diện tích khoảng 200 hải lý vuông, độ sâu 11-23m,
đáy tương đối bằng phẳng, chất đáy cát pha bùn Tôm bị khai thác quá mức nên
nguồn lợi suy giảm nhanh, hiện tại tôm còn rất ít Cô Tô có trai ngọc là một đặc
sản quý, phù hợp với điều kiện tự nhiên của Cô Tô nên trong tự nhiên trai ngọc phát triển tốt Hiện nay trai ngọc tự nhiên vẫn tồn tại ở Cô Tô, nhưng trữ lượng
chưa được điều tra để xác định Hải sâm và bào ngư cũng là hai loài đặc sản của
Cô Tô Ở phía Đông quần đảo có điều kiện tự nhiên phù hợp với sự phát triển của
cả 2 loại hải sản này Tuy nhiên, trữ lượng tự nhiên chưa được điều tra xác định
Ở vùng biển Cô Tô có 3 bãi cá điển hình là: bãi cá đáy Bạch Long Vĩ, bãi cá nổi ven bờ Quảng Ninh và bãi cá nổi Bạch Long Vĩ
Bãi cá đáy Bạch Long Vĩ có phạm vi từ 19030’N - 20030’N và 107000E -
108030’E độ sâu trên dưới 50m chất đáy là bùn cát, cát bùn Diện tích 2.115 hải
lý vuông (7.254,2km2), trữ lượng 39.128 tấn, khả năng khai thác 19.562 tấn, mật
độ 5,39 tấn/km2 Các loại cá tầng đáy chủ yếu: cá miễn sành, (Paragryrops edita),
cá mối thường (Saruidatum), cá lượng (Nemipterus), cá phèn khoai (Upeneusbensasi), cá nục sồ (Desapterus maruadsi), cá trác (Priacanthus)
Trang 20Bãi cá nổi ven bờ Quảng Ninh có phạm vi từ Nam Long Châu đến khu vực
Thương Hạ Mai và Thanh Lân - Cô Tô lên tới đảo Vĩnh Thực Cá tập trung tương đối dày trong vụ Nam, ở độ sâu từ 10-30m Trong vụ Nam ở khu vực liền bờ thường gặp các đàn cá nổi Các loại cá nổi chủ yếu: cá mực sồ (Decapterus hasselti), cá cơm (Engraolidea), cá trích xương (Sardinella jussieu)
Bãi cá nổi Bạch Long Vĩ nằm chủ yếu ở Đông và Đông Bắc đảo Bạch
Long Vĩ ở độ sâu 35-55m, đây là bãi cá nổi tốt nhất cho vụ Bắc ở vịnh Bắc Bộ Các loại cá nổi chủ yếu: cá nục sồ, cá trích, cá lầm Mật độ cá phân bố dầy ở phía Bắc bãi cá
1.1.6 Tài nguyên du lịch
Huyện đảo Cô Tô hội tụ nhiều tiềm năng thuận lợi cho phát triển du lịch sinh
thái biển cao cấp như:
- Cô Tô còn giữ được vẻ nguyên sơ của môi trường sinh thái nước, không khí
trong lành, cấu tạo kiến trúc địa chất, địa hình và địa mạo dải bờ biển giàu hình ảnh và nên thơ, đặc biệt hấp dẫn với các bãi biển tự nhiên như Hồng Vàn, Vàn Chải và hai bãi biển tại đảo Cô Tô con Cô Tô cũng có những cánh rừng nguyên sinh với nhiều loài động, thực vật quý hiếm, có
hệ sinh thái biển phong phú và đặc biệt có loài sinh vật biển quý hiếm như bò biển , rất thích hợp với du lịch nghỉ dưỡng, phù hợp với du lịch biển hiện nay của nước ta
- Nằm ở vị trí địa lý ngoài khơi vịnh Bắc Bộ, thiên nhiên đã ban tặng Cô Tô những nét độc đáo, bí ẩn của tự nhiên Bờ biển của đảo có vị thế khác hẳn với các đoạn bờ biển trên đất liền thuộc tuyến Hạ Long-Bạch Long Vĩ Bãi biển sạch, đẹp với dải cát trắng mịn, lại có sóng biển lớn là điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch thể thao lướt ván, lướt sóng và bơi lặn Các bãi biển trên đảo
Cô Tô còn có đặc điểm độc đáo là sườn ngầm khá sâu rất tiện cho bơi lội, hợp với nhu cầu du khách tắm biển và thích khám phá
- Đào còn giữ được vẻ nguyên sơ, các bãi tắm và đất ven bãi biển chưa bị chia nhỏ (đảo Coto con phù hợp cho phát triển khu nghỉ dưỡng cao cấp vì chưa có dân sinh sống và trên đảo Cô Tô to còn nhiều vị trí phù hợp phát triển du lịch sinh thái biển)
- Với hàng nghìn ngư dân đánh bắt trên biển cũng như các tàu bè đánh bắt xa đất liền của các địa phương khác gần huyện nên Cô Tô có điều kiện thuận lợi
Trang 21phát triển thành dịch vụ hậu cần, làng nghề cá trên địa bàn huyện (đã được phê duyệt dịch vụ) Đây chính là một trong những điểm thu hút khách du lịch và tạo thành tuyến thăm quan du lịch làng nghề cá, bắt ốc, câu mực đêm, chế biến mực, cá khô
- Đặc biệt, tương lai khu kinh tế hành chính đặc biệt Vân Đồn hình thành Cô Tô
sẽ có điều kiện thuận lợi thu hút khách du lịch và tạo kết nối đối với Vân Đồn từ
đó tạo ra chuỗi du lịch nghỉ dưỡng hấp dẫn du khách
1.2 Nguồn vốn đầu tư phát triển
Đầu tư phát triển
Nguồn vốn đầu tư của huyện hiện tại chủ yếu vẫn phụ thuộc vào nguồn vốn ngân sách từ cấp trên do nguồn thu ngân sách trên địa bàn dù có xu hướng tăng những vẫn rất nhỏ Trên địa bàn huyện có rất ít doanh nghiệp hoạt động và qui
mô của các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất nhỏ nên trong vài năm tới nguồn thu phục vụ đầu tư từ nguồn này vẫn chưa có sự đột biến
Tuy nhiên, kể từ năm 2010, huyện Cô Tô đã được tỉnh Quảng Ninh hỗ trợ ngân sách khá lớn Dù là huyện đảo nhưng các điều kiện căn bản cho phát triển như trường học, mẫu giáo, trạm y tế, trung tâm thể thao văn hóa, đã được đầu tư khá đây đủ và khang trang Năm 2013, vốn đầu tư do cấp huyện quản lý giảm mạnh do các hạng mục cơ bản phục vụ đời sống của người dân trên đảo đã được hoàn thiện
Hình 1.1: Vốn đầu tư xây dựng thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp huyện
quản lý (tỷ đồng)
Trang 22Bên cạnh nguồn vốn đầu tư từ ngân sách cấp trên cấp thì lãnh đạo huyện cũng
đã chủ động xin các nguồn tài trợ từ các doanh nghiệp khác trên địa bàn tỉnh cũng như ngoài tỉnh nhằm phát triển cơ sở hạ tầng trên địa bàn huyện phục vụ người dân
Bên cạnh nguồn vốn ngân sách và nguồn vốn tài trợ, trong vài năm gần đây, nguồn vốn của người dân địa phương trên đảo là nguồn vốn đầu tư phát triển quan trọng, đặc biệt từ khi có điện lưới năm 2013, người dân trên đảo bắt đầu đầu tư xây dựng các nhà hàng, khách sạn, nhà ở và đầu tư cho sản xuất tăng mạnh (theo ước tính của lãnh đạo huyện khoảng hàng trăm tỷ và bằng vốn đầu
tư của 20 năm trước đây cộng lại) Đây là nguồn vốn đầu tư quan trọng giúp huyện mở rộng và đa dạng hóa các loại hình dịch vụ phục vụ khách du lịch cũng như người dân trên đảo
1.3 Các điều kiện môi trường, xã hội và dân cư
Cộng đồng dân cư
Dân cư huyện Cô Tô chủ yếu là dân nhập cư từ nhiều địa phương khác nhau trong cả nước ra xây dựng kinh tế mới như Hải Phòng, Nam Định, Thái Bình, Thanh Hóa, Hà Tĩnh,… Dân cư chủ yếu tập trung tại tại trung tâm của huyện là thị trấn Cô Tô
Do mục đích sinh kế chính của người dân trên đảo khi ra xây dựng kinh tế mới
là khai thác và đánh bắt thủy, hải sản (trước năm 1979 Cô Tô là nơi có nhiều loại hải sản quý hiếm và cũng là nơi từng đạt năng suất đánh bắt cao nhất miền Bắc với 18 tấn/lao động/1 năm) nên hiện tại nghề này vẫn chiếm phần lớn lao động làm việc
Trong vài năm gần đây, dù ngành du lịch đã có sự bùng nổ tại Cô Tô về số lượng khách du lịch thu hút nhưng tính chuyên nghiệp của người dân vẫn chưa cao, hầu hết lao động chưa qua đào tạo và hoạt động theo hình thức hộ gia định nhằm phục vụ khách bình dân, kinh doanh theo mùa vụ là chủ yếu Đặc biệt, kiến thức và nhận thức về du lịch cao cấp còn rất hạn chế Văn hóa tiêu dùng, sinh hoạt và vấn đề môi trường còn nhiều vấn đề bất cập cần điều chỉnh và nâng cao nhận thức
Dân số và nguồn nhân lực
Trang 23Trong 5 năm vừa qua, dân số huyện Cô Tô không ngừng tăng hàng năm từ 4.992 người năm 2009 lên 5553 người tính tới năm 2013, tăng 561 người Tốc
độ tăng dân số của huyện khá nhanh khi năm 2011 tăng tới 3,1%, năm 2012 tăng 3,5%, năm 2013 dù tốc độ tăng giảm hơn nhưng vẫn tăng 2,4% Tính đến 15/9/2013, huyện Cô Tô có tổng số 1.662 hộ với 5.602 nhân khẩu (so với 1.623
hộ trên địa bàn huyện với 5.556 nhân khẩu tính đến 1/4/2013) Như vậy, chỉ trong vòng khoảng gần nửa năm nhưng số hộ và dân số cũng đã có sự gia tăng khá nhanh Trong đó, tổng số người trong độ tuổi lao động là 3.530 người (chiếm 63%) Do phần lớn dân cư tập trung trên đảo Cô Tô nên số lượng lao động tập trung chủ yếu tại thị trấn Cô Tô và xã Đồng Tiến, xã Thanh Lân do có địa hình ít bằng phẳng hơn nên lao động tập trung cũng ít hơn
Hình 1.2: Dân số huyện Cô Tô 5 năm gần đây
Tỷ lệ lao động qua đào tạo của Cô Tô vẫn khá nhỏ, lệ lao động qua đào tạo toàn huyện là 807 người (23,48% tổng số lao động); trong đó xã Thanh Lân đạt 23,84%, xã Đồng Tiến đạt 21,25% Tuy nhiên, hiện phần lớn lao động được đào tạo tập trung làm việc trong các cơ quan nhà nước, còn lại lao động trong khu vực nông-lâm-ngư nghiệp và dịch vụ vẫn chủ yếu làm theo kinh nghiệm và chưa qua đào tạo.
Bảng 1.3: Lao động phân theo trình độ chuyên môn tính đến 15/9/2013
tt Chỉ tiêu Tổng số Trình độ chuyên môn kỹ thuật
Trang 24Hộ Nhân khẩu Số người trong độ tuổi lao
động
Học nghề
Trung học chuyên nghiệp
Cao đẳng Đại học
Tổng số: 1.662 5.602 3.530 469 197 131 152
Nguồn: Phòng Lao động và TBXH huyện Cô Tô (2014)
Hiện tại, lao động của huyện tập trung chủ yếu trong khu vực nông nghiệp và khu vực dịch vụ Cụ thể, lao động nông nghiệp chiếm 20,99%; ngư nghiệp chiếm 27,11%; dịch vụ du lịch và thương mại chiếm 24,81%; cơ quan nhà nước chiếm 11,55%; lĩnh vực công nghiệp xây dựng nhỏ nhất khi chỉ chiếm 2,88% trong lực lượng lao động
Bảng 1.4: Lao động phân theo ngành nghề huyện Cô Tô (tính đến 15/9/2013)
Cơ quan nhà nước nghiệpNông nghiệpNgư nghiệpLâm
Công nghiệp - xây dựng
Dịch vụ,
DL, thương mại
Nguồn: Phòng Lao động và TBXH huyện Cô Tô (2014)
Tỷ lệ lao động có việc làm thường xuyên toàn huyện năm 2013 là 2.720 người, chiếm 88,51%; trong đó xã Thanh Lân đạt 93,02%; xã Đồng Tiến đạt 91,1% Tuy nghiên, số lao động không thường xuyên có việc làm vẫn khá lớn với 631 người, chiếm khoảng 18% tổng số lao động Do đặc thù hoạt động và làm việc của lao động tại huyện Cô Tô theo mùa vụ khá rõ (du lịch, đánh bắt) nên tỷ lệ
Trang 25lao động không có việc làm thường xuyên cao cũng là điều khó tránh khỏi với thực trạng kinh tế của huyện như hiện nay.
Bảng 1.5: Tình trạng việc làm của lao động huyện Cô Tô (tính đến 1/4/2013)
Không tham gia hoạt động kinh tế
Tổng số 2.348 631 445 12
Nguồn: Phòng Lao động và TBXH huyện Cô Tô (2014)
Nhìn chung, chất lượng nguồn nhân lực của huyện Cô Tô hiện nay vẫn khá thấp, tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo vẫn còn khá lớn Phần lớn lao động trong khu vực nông nghiệp và dịch vụ du lịch hoạt động theo kinh nghiệm và tự học hỏi lẫn nhau là chính Những kiến thức về hoạt động kinh doanh du lịch mới chỉ đáp ứng được nhu cầu du lịch bình dân, chưa đáp ứng được nhu cầu du lịch trung cấp và cao cấp Vì vậy, kế hoạch đào tạo cho lao động và kiến thức-văn hóa du lịch cao cấp đối với người dân nói chung cần phải thực hiện ngay từ bây giờ nhằm đáp ứng mục phát triển kinh tế dựa vào du lịch trong giai đoạn tới
Hệ thống xử lý rác thải và vấn đề môi trường
Trong vài năm gần đây, huyện đã có nhiều cố gắng trong công tác bảo vệ môi trường như đặt thùng rác tới tận khu dân cư của thị trấn và 2 xã, có đội thu gom rác sinh hoạt, tuyên truyền giữ vệ sinh môi trường nên vấn đề môi trường cũng
có nhiều cải thiện Tuy nhiên, do nhận thức của người dân về vấn đề môi trường
và thói quen tiêu dùng cũ nên tình trạng vứt rác bừa bãi gây ô nhiễm môi trường vẫn diễn ra khá phổ biến Việc thu gom rác trên các bãi biển tại các xã, thị trấn trong những tháng cao điểm về khách du lịch còn nhiều hạn chế
Ủy ban nhân dân huyện đã ra thông báo chấn chỉnh công tác sử dụng đất đai và bảo vệ môi trường của các cơ sở chế biến sứa và tiến hành kiểm tra việc xây
Trang 26dựng hệ thống xử lý nước thải của các cơ sở chế biến sứa biển, yêu cầu các cơ
sở chế biến sứa khẩn trương hoàn thành việc xây dựng hệ thống xử lý nước thải trước khi đi vào hoạt động vụ tiếp theo Qua kiểm tra vẫn phát hiện 33 cơ sở vi phạm về bảo vệ môi trường
Hiện tại, huyện cũng đang đầu tư xây dựng hệ thống xử lý rác thải sinh hoạt (công nghệ đốt rác) ngay trên đảo dự kiến hoàn thành trong năm 2014 sẽ xử lý tối đa rác thải sinh hoạt trên địa bàn huyện Đây là điều kiện tốt giúp giải quyết những tác động về môi trường trong dài hạn, đặc biệt không ảnh hưởng tới hoạt động du lịch và giúp huyện trở thành đô thị sinh thái tiên phong ở Việt Nam.Công tác quản lý và bảo vệ môi trường tự nhiên khoáng sản cũng được lãnh đạo huyện và các cấp đặc biệt quan tâm như việc quản lý và bảo vệ rừng, đặc biệt diện tích rừng tự nhiên ngày càng gia tăng Huyện cũng đã có văn bản qui định nghiêm cấm việc khai thác, đánh bắt hủy diệt bằng chất nổ, hóa chất,…nhằm bảo vệ sinh thái tài nguyên và động thực vật phát triển bền vững
Trang 27PHẦN 2: HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI HUYỆN CÔ
TÔ TRONG GIAI ĐOẠN 2001-2012
.
2.1 Đánh giá chung về phát triển kinh tế xã hội
2.1.1 Tăng trưởng và phát triển kinh tế
Tăng trưởng kinh tế huyện Cô tô có xu hướng ngược với xu hương tăng trưởng kinh tế của cả nước nói chung Sau khủng hoảng kinh tế, tăng trưởng kinh tế của huyện tăng vọt hơn hẳn so với 10 năm của giai đoạn trước đó (giai đoạn 2001-2009) Do có những điều kiện thuận lợi riêng nên những tác động của khủng hoảng kinh tế tới huyện Cô Tô không rõ ràng Mặt khác, nguồn thu nhập chính của huyện Cô Tô là khai thác tài nguyên biển và du lịch nhưng chủ yếu là khách du lịch bình dân giá rẻ nên không bị tác động của khủng hoảng kinh tế
Kể từ 2010, tăng trưởng kinh tế huyện Cô Tô có sự gia tăng rõ rệt và xu hướng ngày càng cao và ổn định Đây là dấu hiệu tích cực trong bối cảnh kinh tế cả nước nói chung có những dấu hiệu chững lại và có nhiều khó khăn Những điều kiện cơ sở hạ tầng căn bản cho phát triển như điện, giao thông, y tế, giáo dục được quan tâm đầu tư là yếu tố giúp người dân trên đảo yên tâm đầu tư phát triển kinh tế và tạo ra sức hút đối với khách du lịch trong nước và quốc tế tới Cô
Tô Đó chính là những thay đổi lớn và mang tới kết quả tích cực đối với tăng trưởng kinh tế của huyện ở mức khá cao trong vài năm gần đây
Trang 28Hình 2.1: Tốc độ tăng trưởng kinh tế huyện Cô tô
Nguồn: Phòng Thống kê huyện và báo cáo KT-XH hàng năm
2.1.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Hiện tại, kinh tế của huyện Cô Tô vẫn chủ yếu phụ thuộc vào ngành nông – lâm – thủy sản Tuy nhiên, xu hướng phụ thuộc đang có xu hướng giảm dần khi đóng góp của ngành dịch vụ đang có xu hướng gia tăng và đặc biệt tăng mạnh trong năm 2013
Do được đầu tư nguồn điện lưới nên các hộ dân trên đảo đã đầu tư mạnh xây dựng khách sạn và nhà hàng kết hợp với các hoạt động thúc đẩy và quảng bá du lịch của lạnh đạo huyện Cô Tô Kết quả, lượng khách du lịch và doanh thu từ khu vực này tăng mạnh Về lĩnh vực công nghiệp chế biến, do năm 2013 chế biến sứa tăng mạnh đã dẫn tới doanh thu của ngành này cũng tăng đột biến so với năm 2012 Đây là 2 nguyên nhân chính dẫn tới sự dịch chuyển cơ cấu mạnh của Cô Tô và tổng giá trị sản xuất của ngành dịch vụ và công nghiệp tăng lên chiếm gần 55% Đóng góp của ngành nông nghiêp cũng giảm
Sự tăng nhanh đóng góp của khu vực dịch vụ giúp kinh tế huyện Cô Tô phát triển ổn định hơn và bớt phụ thuộc vào thiên nhiên khi chủ yếu người dân dựa
Trang 29vào đánh bắt, khu vực này có nhiều rủi ro và sự bất ổn đối với phát triển kinh tế Tuy nhiên, ngành công nghiệp chế biến của Cô Tô hiện chủ yếu dựa vào khai thác và chế biến sứa, kết quả kinh doanh của ngành này phụ thuộc rất lớn vào thiên nhiên và lượng sứa người dân thu gom sứa Vì vậy, ngành công nghiệp chế biến có thể nói hiện vẫn là ngành có đóng góp vào kinh tế không ổn định và thiếu bền vững Bên cạnh đó, chế biến sứa hiện vẫn chỉ là sơ chế và xuất thô sang Trung Quốc nên giá trị gia tăng thấp.
Hình 2.2: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện Cô Tô (%)
Nguồn: UBND huyện Cô Tô
Nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp
Nông nghiệp
Tổng diện tích gieo trồng toàn huyện năm 2013 là 212,1 ha Trong đó, diện tích lúa 173 ha, tổng sản lượng đạt 544 tấn, diện tích rau màu đạt 39,1ha Với diện tích đảo qui mô nhỏ, việc trồng lúa hiệu quả không cao và chiếm diện tích đất lớn, tốn nước Vì vậy, huyện nên có chiến lược chuyển đổi sang loại cây trồng khác mang lại giá trị kinh tế cao hơn Nhìn chung, trồng trọt trong lĩnh vực nông
Trang 30nghiệp rất kém hiệu quả về mặt kinh tế và có đóng góp rất hạn chế đối với phát triển kinh tế của huyện.
Chăn nuôi gia súc gia cầm trên toàn huyện vẫn còn nhỏ lẻ, chủ yếu phát triển theo qui mô hộ phục vụ nhu cầu tự cung tự cấp của gia đình Số lượng hàng năm nhìn chung ổn định và có xu hướng tăng nhẹ Tuy nhiên, do những loài vật nuôi này là thức ăn thông dụng thường xuyên nên giá cả thấp và không mang lại lợi nhuận cao
Bảng 2.1: Những sản phẩm nông nghiệp chính huyện Cô tô
Hình 2.3: Sản lượng khai thác gỗ và lâm sản huyện Cô Tô
Trang 31Nguồn: UBND huyện Cô Tô (2014)
Ngư nghiệp
Khu vực nông nghiệp huyện hiện tại chủ yếu vẫn dựa vào khai thác hải sản từ nguồn lợi biển là chủ yếu Tuy nhiên, sản lượng khai thác hàng năm phụ thuộc khá lớn vào điều kiện thiên nhiên và có nhiều rủi ro Có những năm thuận lợi thì sản lượng đánh bắt được nhiều (năm 2010) nhưng ngay sau đó năm 2011 sản lượng lại giảm tới hàng nghìn tấn và có xu hướng giảm dần trong những năm gần đây Xu hướng giảm mạnh một mặt do số lượng lao động chuyển từ khu vực ngư nghiệp sang khu vực dịch vụ ngày càng tăng nhưng một nguyên nhân quan trọng khác đó là nguồn thủy sản có xu hướng giảm nên việc đánh bắt ngày càng khó khăn hơn là nguyên nhân quan trọng sản lượng giảm mạnh
Mặt khác, do phương tiện đánh bắt của bà con ngư dân vẫn khá thô sơ và lạc hậu, các tàu thuyền hầu hết còn nhỏ, kỹ thuật đánh bắt chưa hiện đại cũng có phần ảnh hưởng tới kết quả sản lượng khai thác của huyện
Hình 2.4: Sản lượng thủy sản đánh bắt và nuôi trồng huyện Cô Tô (tấn)
Trang 32Sản lượng nuôi trồng thủy sản của huyện nhìn chung không đáng kể so với tổng sản lượng đánh bắt hàng năm Xu hướng trong vài năm gần đây chỉ tăng không đáng kể so với năm 2010 (từ 100 tấn lên 145 tấn năm 2013) và đây không phải
là ngành mũi nhọn của huyện
Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp (TTCN)
Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn huyện không phải là lĩnh vực thế mạnh do đặc thù về vị trí địa lý và tự nhiên nên qui mô công nghiệp nhỏ lẻ Những lĩnh vực chiếm chủ yếu chỉ có chế biến sứa, muối, nước nắm Giá trị sản xuất tiểu thủ công nghiệp toàn huyện năm 2013 ước đạt 85 tỷ đồng, tăng 537% so với cùng kỳ, với các sản phẩm chủ yếu: sản xuất muối 122 tấn bằng 93,84% kế hoạch, doanh thu ước đạt 366 triệu đồng; nước mắm 13.500 lít, đạt 103,84% kế hoạch, tăng 25% so với cùng kỳ, doanh thu ước đạt 405 triệu đồng; chế biến hải sản (sứa biển) 210.000 thùng
Giá trị sản xuất công nghiệp lớn nhất và mang lại thu nhập khá cao cho người dân của huyện là từ chế biến sứa xuất sang Trung Quốc Tuy nhiên, do đây là ngành sản xuất phụ thuộc rất lớn vào lượng sứa khai thác hàng năm và mỗi năm chỉ diễn ra trong khoảng 3 tháng Nếu thu hoạch sứa mất mùa thì ảnh hưởng trực tiếp tới giá trị sản xuất công nghiệp của huyện Mặt khác, chế biến sứa là
Trang 33ngành gây ô nhiễm môi trường nên huyện cần quản lý hết sức chặt chẽ nếu không sẽ có tác động tiêu cực tới phát triển ngành du lịch.
Hình 2.5: Gía trị sản xuất công nghiệp hàng năm (giá cố định 2010- triệu
Hình 2.6: Tổng mức bán lẻ hàng hóa (tỷ đồng)
Trang 34Du lịch
Trong những năm vừa qua, huyện đảo Cô tô đã có những bước tiến vượt bậc về lượng khách du lịch tới đảo Từ chỗ rất ít khách du lịch biết đến Cô tô nhưng chỉ sau vài năm số lượng khách thăm quan đã gia tăng đột biến Để đạt được những kết quả trên, huyện đã thực hiện một loạt các hoạt động nhằm quảng bá
và thu hút du khách trong nước và quốc tế Cụ thể:
Tuyên truyền, quảng bá về tiềm năng du lịch của vùng biển đảo Cô Tô trên các phương tiện thông tin đại chúng của huyện, của tỉnh và trung ương thông qua các tin, bài, phóng sự, các trang web điện tử, các trang báo mạng từ trung ương đến địa phương … Huyện đã tổ chức họp báo giới thiệu tiềm năng
và các cơ chế hỗ trợ phát triển du lịch Cô Tô năm 2013 tại Thành phố Hạ Long;
- Cụ thể, 3.500 cuốn lịch có nội dung giới thiệu về du lịch Cô Tô năm
2013, để tặng cho 100% các hộ dân, cơ quan, đơn vị trên toàn huyện và các cơ quan, địa phương khác trong và ngoài tỉnh nhằm tăng cường công tác thông tin tuyên truyền, cung cấp thông tin cho du khách;
- Huyện đã phát hành sổ tay du lịch giới thiệu và cung cấp thông tin về khách sạn, nhà hàng, đi lại có niêm yết giá hàng năm Năm 2013, huyện đã phát hành 30 nghìn quyển Cẩm nang du lịch Cô Tô, phát cho các du khách để du
Trang 35khách biết thông tin về du lịch Cô Tô Trong đó đã cung cấp cơ bản đầy đủ các thông tin về du lịch Cô Tô từ dịch vụ du lịch đến giao thông đi lại, các điểm tham quan, các chương trình du lịch, sản phẩm du lịch…;
- Tổ chức Tuần Văn hóa, Thể thao và Du lịch Cô Tô năm 2013 từ ngày 28/4 đến ngày 01/5/2013 với nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao thu hút sự tham gia đông đảo của khách du lịch và nhân dân cùng tham gia Đây là một trong những hoạt động trọng tâm nhất để quảng bá tuyên truyền thu hút khách du lịch đến với Cô Tô, đây cũng là món ăn tinh thần bổ ích cho nhân dân trên đảo tạo động lực cho nhân dân hăng hái làm du lịch, phát triển kinh tế -
Hình 2.7: Lượng khách du lịch tới đảo hàng năm (người)
Trang 36Nhờ có điện lưới và định hướng phát triển du lịch của huyện; các hộ gia đình trên đảo đã mạnh dạn đầu xây dựng các nhà nghỉ, tăng cường các dịch vụ có chất lượng nhằm phục vụ đa dạng các loại hình khách du lịch Do đó số lượng phòng lưu trú đảm bảo chất lượng phục vụ khách du lịch không ngừng được gia tăng (hiện tại toàn huyện có khoảng trên 20 nhà nghỉ với hơn 200 phòng lưu trú kiên cố, đảm bảo chất lượng, trên 50 hộ làm du lịch cộng đồng với gần 200 phòng, tổng số có thể đảm bảo lưu trú qua đêm cho trên 1.500 khách) và hiện nay một số hộ dân đang xây dựng các nhà nghỉ, dự tính đến đầu năm 2014 toàn huyện sẽ tăng thêm khoảng 20 nhà nghỉ với khoảng 450 phòng)1.
Mặc dù đạt được một số thay đổi lớn nhưng ngành du lịch Cô Tô còn nhiều hạn chế và tồn tại cần được khắc phục: Du lịch Cô Tô tăng trưởng nhanh về số lượng du khách nhưng chất lượng phục vụ chưa cao, tính chuyên nghiệp thấp,
cở sở hạ tầng còn nghèo nàn, không có các khu dịch vụ chất lượng cao, lợi nhuận từ du lịch đóng góp vào GDP của huyện còn thấp; kết quả hoạt động chưa tương xứng với tiềm năng và tài nguyên du lịch vốn có của Cô Tô Năm
2013, tổng doanh thu từ du lịch mới chỉ đạt khoảng hơn 50 tỷ đồng, nghĩa là tổng chi tiêu của 1 khách du lịch tại Coto mới chỉ khoảng 1 triệu/đồng/người/ mỗi lần thăm quan du lịch Với nguồn thu đó là quá nhỏ và điều đó cho thấy
Trang 37những dịch vụ về du lịch chưa phát triển mà chủ yếu mới mang tính tự phát Khách du lịch thu hút mới chỉ là khách bình dân và du lịch bụi giá rẻ.
2.1.3 Thu ngân sách
Nguồn thu ngân sách trên địa bàn huyện khá nhỏ và không tự cân đối được nguồn chi ngân sách trên địa bàn huyện Do hoạt động công nghiệp và dịch vụ vẫn chưa phát triển, các nhà đầu tư còn nhỏ bé và hạn chế về số lượng nên nguồn thu của huyện hàng năm chỉ chiếm khoảng 1/10 chi ngân sách đầu tư trên địa bàn Phần lớn ngân sách phụ thuộc vào nguồn ngân sách tỉnh và các nguồn tài trợ khác Là huyện đảo còn gặp nhiều khó khăn nên nguồn ngân sách từ cấp tỉnh hỗ trợ chủ yếu giúp huyện cân đối thu chi hàng năm không bị thâm hụt
Hình 2.8: Thu chi ngân sách huyện Cô Tô (triệu đồng)
Nguồn: UBND huyện Cô Tô (2014)
Do số lượng doanh nghiệp và các cơ sở sản xuất kinh doanh (hiện toàn huyện chỉ có 6 doanh nghiệp đang hoạt động) trên địa bàn huyện ít và qui mô nhỏ nên nguồn thu ngân sách trên địa bàn hàng năm vẫn khá thấp trong tổng nguồn thu ngân sách Hàng năm thu ngân sách trên địa bàn huyện chỉ bằng khoảng 1/10 tổng nguồn thu ngân sách của huyện Tuy nhiên, với tốc độ thu hút khách du lịch và sự khởi sắc trong hoạt động kinh doanh du lịch như khách sạn, nhà hàng,
Trang 38dịch vụ vận tải hành khách, của người dân địa phương và doanh nghiệp sẽ giúp huyện tăng nguồn thu ngân sách mạnh trong vài năm tới.
Hình 2.9: Thu ngân sách trên địa bàn huyện
Nguồn: Báo cáo KTXH hàng năm huyện Cô Tô
2.1.4 Việc làm và mức sống dân cư
So với tỉnh Quảng Ninh, thu nhập bình quân đầu người của huyện vẫn khá thấp nhưng so với một số huyện như Ba Chẽ, Hải Hà, Tiên Yên thì thu nhập bình quân đầu người của Cô tô lại cao hơn Cụ thể, thu nhập bình quân đầu người ước đạt 1.200 USD/người/năm (tương đương khoảng 24 triệu đồng/người) năm 2012
Tương tự, các tiêu chí khác như tỷ lệ nghèo đói, số giường bệnh và bác sĩ trên 1 vạn dân thì huyện Cô Tô đều có kết quả khá cao so với các huyện vùng sâu vùng xa khác của Quảng Ninh (cụ thể trong bảng)
Bảng 2.2: So sánh một số chỉ tiêu của huyện Cô tô trong tỉnh Quảng Ninh và
các huyện khác năm 2012
TT Hạng mục ĐVT
Tỉnh Quảng Ninh
Huyện
Cô tô
Huyện Hải Hà
Huyện
Ba Chẽ
Huyện Đầm Hà
Huyện Tiên Yên
Trang 39so với mức bình quân của tỉnh Quảng Ninh cũng như của cả nước hiện nay.
Hình 2.10: Tỷ lệ hộ nghèo hàng năm
Nguồn: Báo cáo tổng kết KTXH hàng năm huyện Cô tô
3.1.5 Các lĩnh vực văn hoá - xã hội
Giáo dục
Chất lượng giáo viên của huyện ngày một nâng cao (đạt chuẩn 100%, trên chuẩn đạt 50%) Huyện ủy, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân huyện đã tổ chức buổi gặp gỡ, giao lưu với 47 tân sinh viên và các sinh viên người địa
Trang 40phương đã tốt nghiệp đại học chưa có việc làm nhằm động viên các tân sinh viên phấn đấu đạt thành tích cao trong học tập, rèn luyện và công khai chỉ tiêu biên chế, quy chế thi tuyển công chức, viên chức năm 2013.
Duy trì giữ vững và nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục đúng độ tuổi bậc tiểu học, phổ cập giáo dục trung học cơ sở, phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi, toàn huyện có 07/09 trường đạt chuẩn quốc gia, 02 trường đang hoàn thiện thủ tục đề nghị kiểm tra, công nhận đạt chuẩn quốc gia
Y tế khám chữa bệnh và kế hoạch hóa gia đình
Duy trì tốt công tác quân dân y kết hợp trong khám, chữa bệnh cho nhân dân; chủ động trong công tác phòng, chống dịch bệnh và đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, không để xảy ra dịch bệnh trên địa bàn
Hiện tại đảm bảo bảo 100% số xã thị trấn có trạm y tế, các thôn đều có cán
bộ y tế Các xã và thị trấn đều có bác sĩ và cơ sở vật chất đều đạt chuẩn quốc gia
về y tế cơ sở Các trang thiết bị phục vụ công tác khám chữa bệnh tại bệnh viện
đa khoa huyện đều được đầu tư hiện đại và đồng bộ, hạn chế tối đa số bệnh nhân chuyển tuyến điều trị
Hình 2.11: Số giường bệnh trên địa bàn huyện Cô Tô
Nguồn: UBND huyện Cô Tô
Mặc dù cơ sở vật chất đều đạt chuẩn quốc gia về y tế cơ sở nhưng nhìn chung