Bản thân người viết cũng vậy, đến với tác phẩm văn học, người viết không chỉ chú ý tới đề tài hay nội dung xã hội trực tiếp… mà còn quan tâm đặc biệt đến những tư tưởng mang tính triết l
Trang 1Së GI¸O DôC Vµ §µo t¹o hng yªn
TR¦êng trung häc phæ th«ng phï cõ
S¸ng kiÕn kinh nghiÖm Bíc ®Çu t×m hiÓu néi dung triÕt lÝ trong mét sè t¸c
phÈm th¬ v¨n
Tác giả: Nguyễn Thùy Trang Trình độ chuyên môn: Thạc sĩ Ngữ văn Chức vụ: Phó hiệu trưởng
Nơi công tác: Trường THPT Phù Cừ
Năm học 2013-2014
Trang 2THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1 Tên sáng kiến: “Bước đầu tìm hiểu nội dung triết lí trong một số tác phẩm thơ văn”
2 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Môn Ngữ Văn lớp 11, 12
Chức vụ công tác: PHT - Giáo viên
Nơi làm việc: Trường THPT Phù Cừ
Điện thoại: 0979720207
4 Đồng tác giả: (Không)
5 Đơn vị áp dụng sáng kiến:
Tên đơn vị: Trường THPT Phù Cừ
Địa chỉ: Xã Tống Phan- Huyện Phù Cừ- Tỉnh Hưng Yên
Điện thoại: 03213.854232
Trang 3MỤC LỤC
THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN 2
MỤC LỤC 3
PHẦN MỞ ĐẦU 4
I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI 4
1 Lí do khách quan: xuất phát từ cơ sở lí luận và thực tiễn 4
2 Lí do chủ quan 4
II PHẠM VI ĐỀ TÀI 5
III NHIỆM VỤ, MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI 5
IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5
PHẦN NỘI DUNG 6
I.VÀI NÉT VỀ TRIẾT LÍ TRONG THƠ VĂN 6
1 Thế nào là triết lí trong văn học? 6
2 Các dạng triết lí 6
2.1 Dạng 1: Triết lí trực tiếp 6
2.2 Dạng 2: Triết lí gián tiếp 7
3 Nội dung triết lí 7
3.1 Triết lí về văn chương nghệ thuật 7
3.2 Triết lí về cuộc đời, con người 8
3.3 Triết lí về một vấn đề chính trị, xã hội 8
4 Phân loại tác phẩm mang nội dung triết lí 9
4.1 Căn cứ vào lượng nội dung triết lí 9
4.2 Căn cứ vào dạng triết lí 9
II HƯỚNG DẪN HỌC SINH TÌM HIỂU NỘI DUNG TRIẾT LÍ TRONG MỘT SỐ TÁC PHẨM THƠ VĂN 10
1 Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân 10
2 Chí Phèo của Nam Cao 14
3 Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu 16
4 Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên 21
5 Một số tác phẩm khác 25
5.1 Hai đứa trẻ của Thạch Lam 25
5.2 Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài 25
5.3 Ai đã đặt tên cho dòng sông? của Hoàng Phủ Ngọc Tường 25
PHẦN KẾT LUẬN 26
TÀI LIỆU THAM KHẢO 27
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1 Lí do khách quan: xuất phát từ cơ sở lí luận và thực tiễn
Nghiên cứu bức hoạ kinh điển Nàng Môna Lisa của Leonardo de Vinci –
tác phẩm thuộc sở hữu của chính phủ Pháp hiện được trưng bày tại bảo tàng Louvre ở Paris nước Pháp, Giáo sư Margaret Living Stone thuộc Đại học Harvard (Mỹ) đã cho rằng sự quyến rũ ở gương mặt của nàng Môna Lisa thực chất không phải bộ mặt của nàng Lisa thay đổi hay màu sơn thay đổi mà là do
sự thay đổi ở mắt người xem: điều khiến chúng ta yêu thích Môna Lisa chính là
bộ mặt cô ấy luôn thay đổi mỗi khi chúng ta nhìn làm cho cô ấy dường như sống động hơn Thiết nghĩ, văn chương đích thực không thể thiếu chất Môna Lisa,
không thể vắng nụ cười bí ẩn làm mê hoặc lòng người Văn chương cũng như
rượu, cần phải có chất lượng sao cho càng lâu càng nồng, phải chứa một cái gì
bí ẩn say lòng người như chất men Triết lí tựa như chất men say lòng người, như lớp sơn màu tạo nên sức lôi cuốn cho nàng Môna Lisa Mà nếu thiếu, văn
chương sẽ thiếu đi ý vị đậm đà, trở nên nhạt nhoà bởi vẻ đẹp sinh thành của triết
lí là sâu sắc Chính tính triết lí sẽ tạo thế đứng vững chắc cho tác phẩm, làm nên
vẻ đẹp ở bề sâu bề xa cần khám phá Triết lí nâng tầm nhận thức nơi người đọc, nâng tầm tác phẩm, nâng tầm thời đại cho những trang văn Đúng như một nhận
định đã viết: dõi theo từng trang viết về cảnh đời, về số phận con người không ít khi ta phải lắng lại Dù ở dạng thức này hay dạng thức khác chính tính triết lí, châm ngôn khiến ta lắng lại trong suy ngẫm và nhận ra rằng đây vẫn luôn là vẻ đẹp có tính chiều sâu trong văn chương nghệ thuật.
Đi tìm nội dung triết lí trong thơ văn, cũng đồng nghĩa với cuộc hành trình dần khám phá vẻ đẹp lắng kết của tác phẩm Và hơn nữa là để đáp ứng kịp thời nhằm nâng cao chất lượng các kì thi nhất là thi Tốt nghiệp THPT, thi Đại học - Cao đẳng, thi HSG các cấp Cũng là để bắt nhịp với đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát huy hơn nữa vai trò chủ động, tính tích cực của HS
2 Lí do chủ quan
Văn là chuyện đời, chuyện người, cũng có khi là chuyện mình,… và văn
là những suy ngẫm, những chiêm nghiệm sâu sắc của người cầm bút Những triết lí mang tính phổ quát được khái quát lên từ những suy ngẫm, những chiêm nghiệm sâu sắc ấy sẽ trở thành điểm sáng trí tuệ thu hút sự chú ý của người đọc Người đọc từ chỗ nắm bắt được đến hiểu, thấu, thấm rồi để khoái cảm ngân ra
Trang 5trong lòng Bản thân người viết cũng vậy, đến với tác phẩm văn học, người viết không chỉ chú ý tới đề tài hay nội dung xã hội trực tiếp… mà còn quan tâm đặc biệt đến những tư tưởng mang tính triết lí.
Với những lí do trên, người viết chọn Bước đầu tìm hiểu nội dung triết lí trong một số tác phẩm thơ văn làm đề tài cho sáng kiến kinh nghiệm của mình
Đồng thời, đề tài còn nêu rõ nội dung triết lí trong một số tác phẩm khác
mà triết lí chỉ như một nét chấm phá.
III NHIỆM VỤ, MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI
Sáng kiến kinh nghiệm sẽ cố gắng làm rõ những nội dung triết lí trong một số tác phẩm thơ văn và đưa ra phương pháp, các bước tiến hành tìm hiểu những nội dung triết lí đó
Thực hiện đề tài, người viết chân thành mong muốn được trao đổi, thảo
luận với các thầy cô, bạn bè đồng nghiệp Để từ đó giúp HS nâng cao khả năng khám phá, nhận thức về nhiều mặt trong cuộc sống, luôn chủ động sẵn sàng trong các kì thi
IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Người viết đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:
- Phương pháp thống kê, phân loại
- Phương pháp phân tích tác phẩm
- Phương pháp khái quát, tổng hợp
- Phương pháp so sánh
Mặc dù nội dung triết lí đậm đà trong một số tác phẩm thơ văn nhưng khi
hướng dẫn HS đọc - hiểu văn bản ta không thể đi theo hướng tìm hiểu nội dung triết lí Nội dung triết lí trong một số tác phẩm thơ văn được tìm hiểu thích hợp khi ta khái quát vấn đề, luyện đề và là chuyên đề giảng dạy cho HS lớp chuyên Văn
Trang 6PHẦN NỘI DUNG
Trước khi hướng dẫn HS đến với nội dung triết lí trong một tác phẩm cụ
thể nào đó, GV cần phải hướng dẫn HS tìm hiểu chung về triết lí trong thơ văn
I.VÀI NÉT VỀ TRIẾT LÍ TRONG THƠ VĂN
1 Thế nào là triết lí trong văn học?
Ở phần này, GV cung cấp cho HS những kiến thức cơ bản nhất về triết lí
và triết lí trong văn học
- Triết lí: Quan niệm chung của con người về những vấn đề nhân sinh và
xã hội
- Triết lí trong tác phẩm Văn học: Những quan niệm về cuộc đời, con
người, về văn chương nghệ thuật … của nhà văn được phát biểu trong tác phẩm văn học
2 Các dạng triết lí
Có hai dạng triết lí cơ bản:
2.1 Dạng 1: Triết lí trực tiếp
- Khái niệm: Triết lí trực tiếp là dạng triết lí nhà văn phát biểu quan niệm
trực tiếp trên câu văn, nổi trên câu chữ Đây là dạng triết lí dễ nhận thấy và nó
có thể vượt ra khỏi những văn cảnh cụ thể của tác phẩm để sống cuộc đời độc lập Nói như Nguyễn Quốc Khánh: Triết lí trực tiếp là những kết luận có tính phổ quát cao vượt lên trên cái cụ thể, cảm tính, được rút ra, đúc rút lại sau các
ý tưởng, hình ảnh thơ cụ thể.
- Ví dụ: Hồn Trương Ba, da hàng thịt của Lưu Quang Vũ là một vở kịch
có nội dung triết lí sâu sắc Một tư tưởng mang tính triết lí sâu sắc của vở kịch
đã được tác giả gửi vào lời nhân vật Hồn Trương Ba trong cuộc đối thoại với Đế
Thích ở cảnh VII: Không thể bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo được Hay trong truyện ngắn Đời thừa, nhà văn Nam Cao đã mượn lời của nhân vật Hộ để phát biểu quan niệm về tính sáng tạo trong văn chương: Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay, làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho Văn chương chỉ dung nạp nhũng người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi, và sáng tạo những cái gì chưa có
Trang 72.2 Dạng 2: Triết lí gián tiếp
- Khái niệm: Triết lí gián tiếp là triết lí ẩn Quan niệm của nhà văn không
được phát biểu trực tiếp trên câu chữ mà qua hình tượng nghệ thuật, người đọc
tự lĩnh hội quan niệm và đúc rút thành những châm ngôn Bởi vậy nó không thể tách ra đứng độc lập mà chỉ có sự sống khi nằm trong văn cảnh cụ thể Dạng
triết lí này khó nắm bắt hơn dạng triết lí trực tiếp
- Ví dụ: Mở đầu bài thơ Vội vàng, nhà thơ Xuân Diệu không chỉ bộc bạch
ước muốn táo bạo: ước muốn níu giữ hương sắc của cuộc đời, niềm vui ngây ngất, say đắm trước vẻ đẹp của cuộc sống mà còn cho thấy quan niệm nhân sinh
tích cực của nhà thơ: cái đẹp chẳng phải ở chốn bồng lai tiên cảnh nào, cái đẹp không ở đâu xa mà ở ngay cuộc đời này Hãy đón nhận và tận hưởng hết mình khi còn có thể.
Trong bài Đàn ghi ta của Lor- ca, phục hiện hình ảnh G Lorca- một con
người yêu tự do, ham cách tân nghệ thuật; mong manh, đơn độc, cô lẻ trong xã hội vạn ác; một số phận bi thảm, một cái chết oan khuất nhưng còn mãi bất tử phải chăng Thanh Thảo muốn gửi tới người đọc quan niệm mang tính triết lí:
nghệ sĩ và khát vọng của nghệ sĩ chân chính luôn mong manh trong xã hội vạn
ác, trước các thế lực tàn bạo song cường quyền chỉ có thể giết chết người nghệ
sĩ còn hình ảnh họ và nghệ thuật chân chính sẽ không bao giờ chết, sẽ bất tử cùng thời gian.
3 Nội dung triết lí
Với các nhà thơ, nhà văn, từ những vấn đề của cuộc sống đời thường, của tình cảm con người, từ những vấn đề về văn chương nghệ thuật đến những vấn
đề lớn lao của dân tộc, đất nước…tất cả đều có thể khơi gợi hứng thú triết luận Bởi vậy nội dung triết lí trong thơ văn rất phong phú đa dạng, bao gồm mọi mặt của đời sống
3.1 Triết lí về văn chương nghệ thuật
Trong truyện ngắn Đời thừa, Nam Cao đã để cho nhà văn Hộ nói về một tác phẩm thật giá trị: một tác phẩm thật giá trị, phải vượt lên bên trên tất cả các
bờ cõi và giới hạn, phải là một tác phẩm chung cho cả loài người Nó phải chứa đựng được một cái gì lớn lao, mạnh mẽ,vừa đau đớn, lại vừa phấn khởi Nó ca tụng lòng thương, tình bác ái, sự công bình…Nó làm cho người gần người hơn
Như vậy, theo Nam Cao một tác phẩm muốn có sức sống trường tồn phải là một tác phẩm có giá trị nhân đạo sâu sắc, hòa giải con người với con người
Với vở kịch lịch sử Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài, quan niệm về văn chương
nghệ thuật, về người nghệ sĩ được nhà viết kịch phát biểu qua hình ảnh Đài Cửu
Trang 8Trùng – biểu tượng cho cái đẹp, cho nghệ thuật và nhân vật – người nghệ sĩ Vũ
Như Tô: không có thứ nghệ thuật cao siêu thuần túy, không có cái đẹp tách rời hiện thực cuộc sống, tách rời cái chân, cái thiện Người nghệ sĩ phải có hoài bão, khát vọng lớn lao nhưng phải biết giải quyết đúng mối quan hệ giữa khát vọng và thực tế cuộc sống Nếu không sẽ bị đốt cháy như Cửu Trùng Đài, sẽ
phải trả giá đắt bằng cả sinh mạng của mình và công trình nghệ thuật mà mình tâm huyết như Vũ Như Tô
3.2 Triết lí về cuộc đời, con người
Đặt các nhân vật vào một tình huống truyện độc đáo, nhà văn Kim Lân
trong Vợ nhặt đã miêu tả một cách cụ thể, chân thực, xúc động từng bước diễn
biến tâm trạng và hành động của họ từ đó làm sáng lên vẻ đẹp tình người, niềm khao khát sống, khao khát hạnh phúc gia đình và niềm tin, niềm hi vọng vào tương lai Đọc những dòng văn miêu tả không khí đầm ấm của gia đình Tràng buổi sáng hôm sau ngày Tràng có vợ, độc giả có thể nắm bắt được thông điệp của nhà văn về giá trị đích thực của vẻ đẹp tình người, của hạnh phúc gia đình,
của niềm khao khát sống, niềm tin niềm hi vọng vào tương lai: vẻ đẹp tình người, niềm khao khát sống, khao khát hạnh phúc gia đình, niềm tin, niềm hi vọng vào tương lai và giá trị đích thực lớn lao của hạnh phúc gia đình mặc dù không có sức mạnh diệt trừ cái đói nhưng ít ra nó không bị cái đói tiêu diệt Nó khiến cho cuộc sống của con người bớt đi sự buồn nản, lay lắt.
Đò Lèn là thi phẩm tiêu biểu cho vẻ đẹp thơ Nguyễn Duy Bài thơ khép
lại với những câu thơ mang đậm vẻ đẹp triết lí:
Tôi đi lính, lâu không về quê ngoại
dòng sông xưa vẫn bên lở, bên bồi
khi tôi biết thương bà thì đã muộn
bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi.
Qua hình ảnh dòng sông xưa vẫn bên lở, bên bồi, hình ảnh bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi, nhà thơ muốn người đọc nhận thức về các vấn đề của cuộc đời: năm tháng, thời gian đi qua, dòng sông có khi vẫn vậy – vẫn bên lở, bên bồi còn con người đã trở thành hư vô từ đó mà khổ thơ có giá trị thức tỉnh bất ngờ: hãy biết yêu thương người khác khi cơ hội đáp đền vẫn còn, đừng để quá muộn!
3.3 Triết lí về một vấn đề chính trị, xã hội
Nội dung triết lí này so với 2 nội dung trên thường ít hơn Trong văn học phổ biến nhất vẫn là những triết lí về cuộc đời, con người, văn chương nghệ thuật Tuy nhiên trong chương trình Ngữ văn THPT vẫn có những tác phẩm
Trang 9mang nội dung này, tiêu biểu là Việt Bắc của Tố Hữu, Đất nước (trích trường ca Mặt đường khát vọng) của Nguyễn Khoa Điềm.
Việt Bắc là bài ca dao của nhà thơ cách mạng Tố Hữu nói về tình cảm cách mạng ân nghĩa thuỷ chung từ đó gửi tới độc giả thông điệp trọng nghĩa, ân tình, thuỷ chung son sắt đã trở thành một truyền thống tốt đẹp của dân tộc.
Đất Nước – Nguyễn Khoa Điềm: Tư tưởng lớn bao trùm đoạn trích và chương V là: Đất Nước của Nhân dân - một chân lí muôn đời:
Để Đất Nước này là Đất Nước Nhân dân
Đất Nước của Nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoại.
Theo Nguyễn Khoa Điềm, tuổi trẻ nói riêng và mỗi công dân nói chung phải có trách nhiệm với Đất Nước:
Em ơi em Đất Nước là máu xương của mình
Phải biết gắn bó và san sẻ Phải biết hóa thân cho dáng hình xứ sở
Làm nên Đất Nước muôn đời…
4 Phân loại tác phẩm mang nội dung triết lí
Có nhiều cách phân loại tác phẩm văn học mang nội dung triết lí Thông thường, người ta dựa vào hai tiêu chí sau:
4.1 Căn cứ vào lượng nội dung triết lí
Những tác phẩm có nội dung triết lí đậm đặc Và nội dung triết lí này có thể làm thành câu hỏi nhiều điểm trong các kì thi ĐH- CĐ, thi HSG các cấp Đó
là những tác phẩm: Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân, Chí Phèo và Đời thừa của Nam Cao, Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu, Một người Hà Nội của Nguyễn Khải, Vội vàng của Xuân Diệu, Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên, Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm, Hồn Trương Ba, da hàng thịt của Lưu
Quang Vũ…
Những tác phẩm có nội dung triết lí giống như nét vẽ chấm phá trong hội
hoạ phương Đông, thậm chí có cảm giác như thiếu vắng Nội dung triết lí của
những tác phẩm này không thể làm thành đề Hai đưa trẻ của Thạch Lam, Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài, Vợ nhặt của Kim Lân, Tràng giang của Huy Cận, Đàn ghi ta của Lorca của Thanh Thảo…thuộc loại tác phẩm này.
4.2 Căn cứ vào dạng triết lí
Căn cứ vào dạng triết lí, có thể chia thành: Tác phẩm thiên về triết lí trực
tiếp, tác phẩm thiên về triết lí gián tiếp Trong chương trình Ngữ văn 11, 12 nói riêng và chương trình Ngữ văn nói chung không nhiều tác phẩm thiên về triết lí trực tiếp, chủ yếu vẫn là dạng triết lí gián tiếp.Có ba tác phẩm có thể xếp vào
Trang 10loại thiên về triết lí trực tiếp: Đời thừa của Nam Cao, Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên và Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm
Lưu ý: Tùy vào từng đối tượng, khi hướng dẫn HS tìm hiểu vài nét về triết
lí trong thơ văn, GV có thể lấy những VD thích hợp
II HƯỚNG DẪN HỌC SINH TÌM HIỂU NỘI DUNG TRIẾT LÍ TRONG MỘT SỐ TÁC PHẨM THƠ VĂN
1 Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân
Hoạt động của GV và HS Yêu cầu cần đạt
Nguyễn Tuân quan niệm như thế
nào về người nghệ sĩ và thú chơi
II Nội dung triết lí trong Chữ người tử tù.
Chữ người tử tù chứa đựng nội dung triết
lí sâu sắc và chủ yếu ở dạng gián tiếp: nhà văn phát biểu tư tưởng triết lí qua hình tượng, độc giả nắm bắt tư tưởng và xây dựng thành những châm ngôn, những mệnh đề triết lí Chất triết lí đậm đặc của tác phẩm gắn với thế giới quan, nhân sinh quan tiến bộ của người nghệ sĩ suốt đời say mê kiếm tìm cái
khẳng định: nghệ sĩ tài hoa chân chính phải
có tâm sáng Nếu chỉ có Tài không thôi, cái
Trang 11(?) GV yêu cầu HS nhắc lại và
phân tích ngắn gọn lời khuyên
của Huấn Cao để làm sáng lên
quan niệm của nhà văn
-> GV nhận xét, củng cố
(?) Một trong những nội dung
triết lí quan trọng của tác phẩm
là quan niệm về mối quan hệ
giữa Tài và Tâm, Đẹp và Xấu,
Thiện và Ác Em hãy trình bày
cụ thể nội dung này?
-> GV nhận xét, giảng giải
(?) GV gọi HS phân tích ý nghĩa
cảnh cho chữ và lời khuyên của
Huấn Cao để thấy được sự chiến
thắng của ánh sáng đối với bóng
tối, để thấy quan niệm cái đẹp
không thể chung sống lẫn lộn
với cái xấu xa thấp hèn
-> GV nhận xét, củng cố
Tài ấy không đáng trọng
- Chơi chữ là một thú chơi thanh cao, tao
nhã Đây là một thú rất kén người Theo nhà văn Nguyễn Tuân con người chỉ có thể chơi chữ, chỉ có thể thưởng thức được cái Đẹp nếu như giữ được bản chất trong sáng Bởi thế nhà văn nửa người nửa thần này đã để cho Huấn Cao khuyên Quản ngục: tôi bảo thực
đấy, thầy Quản nên tìm về nhà quê mà ở đã, thầy hãy thoát khỏi cái nghề này đi đã, rồi hãy nghĩ đến chuyện chơi chữ Ở đây, khó giữ thiên lương cho lành vững và rồi cũng đến nhem nhuốc mất cả đời lương thiện đi.
2 Quan niệm về mối quan hệ giữa Tài và Tâm, Đẹp và Xấu, Thiện và Ác.
- Tài- Tâm phải đi liền nhau, giá trị thực sự của cái Tài, cái Đẹp là khi gắn với cái Tâm, cái Thiện.
- Dù hiện thực có xấu xa, cái đẹp vẫn sinh sôi nảy nở, vẫn chiến thắng và có tác dụng
cổ vũ con người sống tốt hơn nhưng cái đẹp không thể chung sống lẫn lộn với cái xấu xa, thấp hèn.
+ Hình ảnh Huấn Cao cho chữ Quản ngục cũng đồng nghĩa với việc Huấn Cao đang sáng tạo cái Đẹp Sáng tạo ngay trong chốn ngục tù ẩm ướt, tăm tối
+ Cảnh cho chữ đã khẳng định sự chiến thắng của ánh sáng đối với bóng tối, của cái đẹp, cái thiện, cái cao thượng đối với cái xấu, cái
ác, cái thấp hèn Ánh sáng của cái đẹp, của thiên lương đã xua tan và đẩy lùi bóng tối của tàn bạo, xấu xa Làm chủ chốn ngục tù là người tử tù – biểu tượng của cái đẹp, cái thiện, của khí phách Nguyễn Tuân đã cho
Trang 12(?) Theo Nguyễn Tuân cái đẹp,
cái thiện có khả năng, sức mạnh
như thế nào?
-> GV nhận xét, hướng dẫn
(?) GV gọi HS nhắc lại dẫn
chứng miêu tả hình ảnh 3 người
trong cảnh cho chữ và phân tích
để thấy được quan niệm của
Nguyễn Tuân
-> GV nhận xét, củng cố
(?) Nhân vật nào trong tác phẩm
đóng vai trò hiện thực hóa sự
dẫn dắt của cái đẹp, cái thiện?
Nguyễn Tuân đã gieo vào lòng
người đọc niềm tin vào sức
mạnh diệu kỳ của cái đẹp, cái
thiện qua nhân vật đó như thế
nào?
-> GV nhận xét, định hướng mở
rộng, liên hệ với Chiếc thuyền
ngoài xa( nghệ sĩ Phùng trước
đọc giả thấy cái đẹp đã lên ngôi
+ Lời khuyên của Huấn Cao với Quản ngục:
ở đây lẫn lộn Ta khuyên thầy Quản nên thay chốn ở đi Chỗ này không phải là nơi để treo một bức lụa trắng với những nét chữ vuông tươi tắn nó nói lên những cái hoài bão tung hoành của một đời con người là lời khẳng định dõng dạc một chân lí: cái đẹp không thể chung sống lẫn lộn với cái xấu xa, thấp hèn.
3 Quan niệm về khả năng, sức mạnh của
cái đẹp, cái thiện.
- Cái đẹp, cái thiện có khả năng quy tụ, gắn kết con người, làm cho con người gần gũi, gắn bó với nhau hơn.
+ Huấn Cao và Quản ngục từ chỗ đối địch nhau đã trở thành tri âm tri kỷ của nhau, gần gũi gắn bó nhau trong niềm đam mê cái đẹp.+ Trong tác phẩm, có tới hai lần Nguyễn Tuân miêu tả hình ảnh ba người trong cảnh
cho chữ: ba cái đầu người đang chăm chú trên một tấm lụa bạch còn nguyên vẹn lần
hồ, ba người nhìn bức châm rồi lại nhìn nhau Ba con người trên hai bình diện xã hội
đang được ánh sáng của cái đẹp, cái thiện quy
tụ, gắn kết
- Cái đẹp, cái thiện còn có sức mạnh dẫn dắt, cảm hóa con người - sức mạnh chinh phục diệu kỳ của cái đẹp, cái thiện Nó làm lòng người thêm trong sạch và phong phú hơn
Nhân vật Quản ngục chính là nhân vật hiện thực hóa sự dẫn dắt, cảm hóa của cái đẹp, cái thiện Lời nói và hành động của Quản ngục sau khi nghe lời khuyên của Huấn Cao ở cuối
tác phẩm: Ngục quan cảm động, vái người tù một vái, chắp tay nói một câu mà dòng nước mắt rỉ vào kẽ miệng làm cho nghẹn ngào: Kẻ
Trang 13cảnh đắt trời cho)
(?) Cái nhìn, cách đánh giá của
em về nhân vật Quản ngục và
thầy thơ lại Theo em, khi đánh
giá hai nhân vật này chúng ta có
thể căn cứ vào nghề nghiệp, thân
phận để đánh giá bản chất?
-> GV nhận xét, định hướng
GV hướng dẫn HS nhận xét
chung
mê muội này xin bái lĩnh có tính dự báo về
một sự thay đổi theo chiều hướng tích cực: Quản ngục sẽ thay chốn ở, sẽ tìm về nhà quê
mà ở và thoát khỏi cái nghề này Điều đó có nghĩa là ánh sáng của thiên lương, của cái đẹp đã có sức mạnh diệu kỳ: soi đường dẫn lối để đời lương thiện không bị nhem nhuốc
Ý tưởng cái đẹp cứu vớt thế giới của
Đôxtôiepxki- người mà Nguyễn Tuân ngưỡng mộ cũng chính là ý nghĩ của ông
4 Quan niệm về cách đánh giá con người
- Nhận xét của Quản ngục cũng chính là cách
đánh giá con người của Nguyễn Tuân: Một
kẻ biết kính mến khí phách, một kẻ biết tiếc, biết trọng người có tài, hẳn không phải là kẻ xấu hay vô tình.
- Xây dựng hình tượng nhân vật Quản ngục
tuy đã trót chọn nhầm nghề mất rồi nhưng lại
có sở nguyện cao quý, có tấm lòng biệt nhỡn liên tài, nhẹ nhàng mà sâu sắc, Nguyễn Tuân cho ta thấy một chân lí để đánh giá con
người: thân phận không phải là hệ quả của bản chất, thân phận thấp hèn không phải do bản chất thấp hèn và ngược lại Và nói như
GS Nguyễn Đăng Mạnh: Chữ người tử tù
của Nguyễn Tuân dạy cho người ta hiểu rằng muốn nên người phải biết kính sợ 3 điều này: cái tài, cái đẹp, cái thiên tính tốt của con người…
-> Khám phá vẻ đẹp của Chữ người tử tù
không thể không tìm đến với vẻ đẹp triết lí Nội dung triết lí phong phú và sâu sắc của tác phẩm cho thấy Nguyễn Tuân đích thực là một nghệ sĩ lớn, lớn bởi tài năng lớn, tâm hồn lớn,
tư tưởng lớn
Trang 142 Chí Phèo của Nam Cao
Hoạt động của GV và HS Yêu cầu cần đạt
GV lưu ý cho HS: Khi tìm hiểu
nội dung triết lí trong Chí Phèo
phải bám vào phong cách nghệ
thuật của Nam Cao
(?) Theo em, tác phẩm Chí Phèo
của Nam Cao có những nội dung
triết lí nào?
-> GV nhận xét, hướng dẫn
(?) Qua những trang văn của
Nam Cao em cảm nhận được,
em hiểu như thế nào về nỗi
thống khổ của con người trong
cuộc sống?
-> GV nhận xét, định hướng và
nhắc lại ý kiến của GS Nguyễn
Đăng Mạnh nói về nỗi thống
khổ của con người được phản
ánh, miêu tả trong Chí Phèo
I Vài nét giới thiệu.
tư đầy đau đớn, dằn vặt của nhà văn Sáng tác của Nam Cao có đầy đủ cả hai dạng triết lí,
lượng triết lí khi đậm đặc, khi chấm phá Nội
dung triết lí phong phú, sâu sắc và đậm đặc
của Chí Phèo ẩn ở bề sâu câu chữ đòi hỏi
người đọc đến với tác phẩm phải bằng cả tâm, trí, và bằng cả khát khao khám phá
1 Nỗi thống khổ của con người trong cuộc sống.
Xây dựng hình ảnh nhân vật Chí Phèo với cuộc đời dằng dặc nỗi khổ đau, bất hạnh; với cách viết tập trung phản ánh nỗi đau đớn về mặt tinh thần nhất là nỗi đau khi Chí Phèo bị
cự tuyệt quyền làm người, nhà văn Nam Cao muốn nói với người đọc về nỗi thống khổ của
con người: trong cuộc đời có nhiều nỗi khổ đau: nỗi khổ không nhà không cửa, không họ hàng thân thích,… song nỗi khổ đau lớn nhất
là nỗi đau đớn về tinh thần nhất là khi ta không được nhìn nhận là người ngay khi vẫn
là người Quan niệm này của Nam Cao đến
nay vẫn còn nguyên giá trị