- Tiến hành khảo sát thực tế hoạt động marketing tại cơ quan TTTVTrường Đại học Hà Nội, từ đó thấy được hiệu quả của việc áp dụng marketingtrong hoạt động TTTV tại đây.- Nhận xét, đánh g
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA THÔNG TIN - THƯ VIỆN
- -PHẠM THỊ NGÂN
HOẠT ĐỘNG MARKETING TẠI THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀ NỘI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌCNGÀNH: THÔNG TIN – THƯ VIỆN
Hệ đào tạo: Chính quy Khóa học: QH - 2008 - X
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: Th.S TRỊNH KHÁNH VÂN
HÀ NỘI - 2012
Trang 2MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 1
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Những đóng góp của đề tài 2
6 Cấu trúc của Khóa luận 3
NỘI DUNG 4
Chương 1: Tổng quan về marketing và marketing trong hoạt động Thông tin - Thư viện 4
1.1 Tổng quan về marketing 4
1.1.1 Khái niệm marketing 4
1.1.2 Các quan điểm marketing cơ bản 5
1.1.3 Vai trò của marketing 9
1.2 Marketing trong hoạt động Thông tin - Thư viện 11
1.2.1 Định nghĩa marketing trong hoạt động Thông tin - Thư viện 11
1.2.2 Vai trò của marketing trong hoạt động Thông tin - Thư viện 12
1.2.3 Các thành tố marketing trong hoạt động Thông tin - Thư viện 15
Chương 2: Hoạt động marketing tại Thư viện Đại học Hà Nội 20
2.1 Khái quát về Thư viện Trường Đại học Hà Nội 20
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 20
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ 22
2.1.3 Đội ngũ cán bộ 23
Trang 32.1.4 Cơ sở vật chất và nguồn lực thông tin 24
2.1.5 Đặc điểm người dùng tin và nhu cầu tin 28
2.2 Thực trạng hoạt động marketing tại Thư viện Đại học Hà Nội 29
2.2.1 Sản phẩm thông tin - thư viện 29
2.2.1.1 Nguồn tài liệu gốc 29
2.2.1.2 Sản phẩm thông tin sau quá trình xử lý 31
2.2.1.3 Dịch vụ thông tin 33
2.2.2 Chi phí sản phẩm 41
2.2.3 Hoạt động phân phối sản phẩm 42
2.2.4 Hoạt động marketing truyền thông 44
2.2.4.1 Quảng cáo 44
2.2.4.2 Quan hệ cộng đồng 48
2.2.4.3 Chiêu thị 49
Chương 3: Nhận xét và một số giải pháp thúc đẩy hoạt động marketing tại Thư viện Trường Đại học Hà Nội 51
3.1 Nhận xét 51
3.1.1 Ưu điểm 51
3.1.2 Hạn chế 53
3.2 Một số giải pháp thúc đẩy hoạt động marketing trong hoạt động TTTV Trường Đại học Hà Nội 54
3.2.1 Phát triển nguồn lực thông tin, đa dạng hóa các sản phẩm và dịch vụ 54
3.2.2 Đào tạo và bồi dưỡng kiến thức về marketing cho cán bộ thư viện 55
3.2.3 Đầu tư kinh phí cho hoạt động marketing 56
3.2.4 Xây dựng chiến lược marketing cho hoạt động Thông tin - Thư viện 56
3.2.5 Một số giải pháp khác 57
KẾT LUẬN 60
Danh mục tài liệu tham khảo 61
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong thời đại ngày nay thông tin đã trở thành nguồn lực quan trọngcho sự phát triển xã hội loài người, nắm được thông tin đồng nghĩa với việcnắm được tri thức Chính vì vậy, vai trò của các cơ quan thông tin – thư viện(TTTV) trong việc cung cấp, chia sẻ thông tin ngày càng được khẳng định
Một cơ quan TTTV muốn chia sẻ nguồn thông tin tri thức mình có tớibạn đọc cần phải xây dựng chiến lược marketing hoàn hảo Marketing chính làcầu nối giữa trung tâm TTTV với người dùng tin (NDT) Tuy nhiên marketingtrong hoạt động TTTV hiện nay vẫn đang là một vấn đề mới mẻ Vai trò củamarketing vẫn chưa được chú trọng và đề cao Do đó cần phải làm rõ vàkhẳng định vai trò của marketing trong hoạt động TTTV
Đề tài nghiên cứu “Hoạt động marketing tại Thư viện Trường Đại học Hà Nội” nhằm tiến hành tìm hiểu, nghiên cứu hoạt động marketing tại
Thư viện Trường Đại học Hà Nội, từ đó khẳng định vai trò của marketing vàđưa ra ra một số giải pháp thúc đẩy hoạt động marketing trong hoạt độngTTTV tại Thư viện Trường Đại học Hà Nội
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của đề tài nhằm khẳng định vai trò quan trọng của marketingtrong hoạt động TTTV Trường Đại học Hà Nội, đồng thời đưa ra một số kiếnnghị nhằm nâng cao hơn nữa vai trò của marketing trong hoạt động TTTV
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Tìm hiểu cơ sở lý luận về marketing và marketing trong hoạt độngTTTV
Trang 5- Tiến hành khảo sát thực tế hoạt động marketing tại cơ quan TTTVTrường Đại học Hà Nội, từ đó thấy được hiệu quả của việc áp dụng marketingtrong hoạt động TTTV tại đây.
- Nhận xét, đánh giá những ưu, nhược điểm trong hoạt động marketingtại Thư viện Trường Đại học Hà Nội
- Đề xuất các giải pháp thúc đẩy hoạt động marketing hiệu quả hơn tạiThư viện Trường Đại học Hà Nội
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Marketing trong hoạt động TTTV
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Phạm vi về không gian: Thư viện Trường Đại học Hà Nội
+ Phạm vi về thời gian: Hoạt động Marketing tại Thư viện từ khi thànhlập đến nay
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu
Trang 66 Cấu trúc của Khóa luận
Ngoài phần lời cảm ơn, mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo,bài niên luận có cấu trúc:
Chương 1: Tổng quan về marketing và marketing trong hoạt độngThông tin - Thư viện
Chương 2: Hoạt động marketing tại Thư viện Trường Đại học Hà NộiChương 3: Nhận xét và một số giải pháp thúc đẩy hoạt động marketingtại Thư viện Trường Đại học Hà Nội
Trang 7NỘI DUNG CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ MARKETING VÀ MARKETING TRONG
HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN – THƯ VIỆN 1.1 Tổng quan về marketing
1.1.1 Khái niệm marketing
Thuật ngữ marketing được sử dụng khoảng từ đầu thế kỉ XX Cũngtương tự như một số thuật ngữ được sử dụng phổ biến trong hoạt động TT-TV(như sản phẩm thông tin, dịch vụ thông tin, quản trị thông tin,…) Có rấtnhiều khái niệm cũng như dấu hiệu nhận biết khác nhau về marketing Chođến nay đã có nhiều quan điểm khác nhau về Marketing
Hiệp hội marketing Hoa Kỳ đưa ra định nghĩa: Marketing là quá trìnhlập và thực hiện kế hoạch, định giá, khuyến mãi và phân phối sản phẩm, dịch
vụ và ý tưởng để tạo ra sự thay đổi, thỏa mãn những mục tiêu của khách hàng
và tổ chức
Tuy nhiên theo quan điểm của Philip Kotler, ông được coi là ngườisáng lập ngành marketing hiện đại đã định nghĩa ngắn gọn: Marketing là hoạtđộng của con người hướng tới việc thỏa mãn nhu cầu và ước muốn thông quatiến trình trao đổi
Định nghĩa của Philip Kotler mang tính chất tương đối tổng hợp, kháhợp lý và được nhiều người đồng tình Định nghĩa này nhấn mạnh đến vai trò
và quan hệ của các chủ thể tham gia vào quá trình marketing Điều này cónghĩa là để có quá trình marketing phải có các yếu tố: Con người với nhu cầucủa mình; sản phẩm có thể đáp ứng được nhu cầu của con người; các phươngthức để con người có được sản phẩm đáp ứng được nhu cầu của mình
Trang 8Trên đây là một số quan điểm tiêu biểu về marketing Các quan điểmnày chủ yếu được đưa ra dựa trên những phương diện khác nhau Vì vậy nhìnmột cách tổng thể hoạt động marketing được xem là toàn bộ những gì cùnghướng đến mục tiêu là cùng nhận diện nhu cầu thực tế của thị trường kháchhàng có mục tiêu, và tiến hành đáp ứng thị trường này Điều đó có liên quanđến việc nghiên cứu thị trường khách hàng, phân tích nhu cầu của họ, xâydựng và thông qua các quyết định đến chiến lược thiết kế, định giá, chiêu thị
Công thức này muốn nhấn mạnh marketing (còn gọi là marketing hỗnhợp) là sự kết hợp chặt chẽ và linh hoạt 4 thành tố P trên nền thị trường, để tácđộng lên thị trường
Trên đây là những quan điểm khá đầy đủ và chính xác về hoạt độngmarketing, có thể xem đó là những khái niệm sơ lược về marketing nói chung
Để hiểu sâu hơn hoạt động marketing trong hoạt động TT-TV, chúng sẽ ta đitìm hiểu kĩ hơn qua các quan điểm khác
1.1.2 Các quan điểm marketing căn bản
Như chúng ta đã biết quan điểm marketing là yếu tố quyết định đếnphương châm hành động của người triển khai hoạt động marketing và phụthuộc vào mục đích của chủ thể tiến hành marketing Sau đây là 5 quan điểmmarketing căn bản từ góc độ của các chuyên gia marketing Việc trình bày các
Trang 9quan điểm marketing này nhằm giúp hiểu rõ bản chất và tác động của mỗiquan điểm Bởi trong mỗi trường hợp cụ thể, sự áp dụng và kết hợp các quanđiểm này cũng rất uyển chuyển, tức là bản thân sự kết hợp đó cũng phải biếnđổi theo thời gian và hoạt động thực tiễn, do đó đối với mỗi quan điểm vàtrong những hoạt động thực tiễn khác nhau thì vai trò của marketing lại cóphần khác nhau.
* Quan điểm marketing trọng sản phẩm
Nội dung của quan điểm là nếu tạo ra được sản phẩm có chất lượng tốtthì chắc chắn phạm vi phổ biến sản phẩm đó trên thị trường sẽ lớn, sản phẩm
đó sẽ được sử dụng nhiều trên thị trường Mục đích của marketing là khôngngừng hoàn thiện chất lượng của sản phẩm Việc quan tâm đến chất lượng sảnphẩm, xét cho cùng là quan tâm đến việc không ngừng nâng cao khả năng đápứng của người dung đối với người dung trên cơ sở nghiên cứu nhu cầu và khảnăng của người dùng trong quá trình sử dụng sản phẩm Và vì thế, khi đã xácđịnh được rõ sản phẩm là cần thiết và phù hợp với người dung, thì việc cungcấp ra thị trường những sản phẩm có chất lượng ngày càng cao sẽ có ý nghĩanâng cao vai trò và vị thế của nhà cung cấp sản phẩm trong xã hội
Trường hợp để áp dụng quan điểm marketing trọng sản phẩm là khi sảnphẩm đã khẳng định được vị trí trên thị trường và trên thực tế có nhiều chủ thểtham gia vào việc tạo lập, cung cấp sản phẩm, đồng thời, khả năng đáp ứngnhu cầu khách hàng của sản phẩm còn nhiều hạn chế (tính hoàn thiện của sảnphẩm chưa cao, sản phẩm mới, đang trong quá trình phát triển)
* Quan điểm marketing trọng sản xuất
Theo quan điểm này thì mấu chốt để phát triển và mở rộng phạm vi sửdụng sản phẩm chính là sản phẩm cần tốt và giá rẻ Mục đích là không ngừng
Trang 10hoàn thiện quá trình tạo lập sản phẩm, để có thể vừa tạo ra được sản phẩm cóchất lượng tin cậy, vừa giảm được chi phí cho việc tạo lập sản phẩm đó ở mứcthấp nhất Theo quan điểm này thì cần quan tâm đến vấn đề tối ưu hóa dâychuyền công nghệ để tạo nên mọi sản phẩm Theo hướng này, hiệu quả kinh tếtrực tiếp đối với việc tạo ra sản phẩm sẽ đạt được ở mức cao, do đó quyền lợi
về kinh tế được đảm bảo Đây là một trong những yếu tố đặc biệt kích thíchviệc sử dụng sản phẩm, nó có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển thịtrường
Chỉ áp dụng quan điểm marketing trọng sản xuất khi nhu cầu về sảnphẩm rõ rang, và đặc biệt quan hệ cung cầu còn chưa cân bằng theo hướngcung thấp hơn so với cầu cũng như chi phí để tạo nên sản phẩm là lớn và rấtlớn
* Quan điểm marketing trọng việc bán
Mục đích của marketing trọng việc bán là làm cho người dùng hiểucàng đầy đủ, càng rõ về sản phẩm cũng như cách mà họ có thể nhận được sảnphẩm Đó là nguyên nhân làm cho sản phẩm được truyền bá rộng trên thịtrường Mục đích mà người theo đuổi quan điểm marketing trọng việc bánchính là việc mang đến cho người dùng sự hiểu biết về sản phẩm là để bánđược càng nhiều sản phẩm càng tốt Quan điểm này xuất phát từ quyền lợingười bán chứ không xuất phát từ quyền lợi của người mua
* Quan điểm marketing trọng marketing
Theo quan điểm này, nền tảng và định hướng chiến lược hoạt động,phát triển của nhà cung cấp sản phẩm phụ thuộc chặt chẽ và trực tiếp vàokhách hàng, vào thị trường Do đó hệ thống sản phẩm được tạo ra và cung cấp
sẽ bảo đảm đáp ứng được mọi dạng nhu cầu khách hàng
Trang 11Đối với hầu hết các quốc gia, đặc biệt thuộc nhóm đang phát triển,trong quá trình chuyển đổi thì không hẳn mọi nhu cầu của khách hàng đềumang tính tích cực Đôi khi, nhu cầu thông tin của một cá nhân/ nhóm cá nhânnào đó lại không phù hợp với xu thế phát triển chung của cộng đồng, ảnhhưởng đến trật tự chung của cộng đồng Tuy nhiên các cá nhân này lại luôn cókhả năng và sẵn sang chi trả thỏa đáng cho các sản phẩm thông tin dạng này,chính vì thế đã tạo ra một động lực, một sự kích thích đáng kể đối với ngườitạo lập và cung cấp.
* Quan điểm marketing vị xã hội
Trong quá trình phát triển phù hợp với xu hướng chung của nhân loại,con người luôn tồn tại những nhu cầu cần được thỏa mãn thông qua hệ thốngsản phẩm tương ứng Các nhà cung cấp sản phẩm cần nghiên cứu để tạo lập racác sản phẩm loại thuộc loại này, và việc làm đó là nhằm mục tiêu góp phầntrực tiếp vào quá trình phát triển bền vững của xã hội Mục đích củamarketing là không ngừng tạo ra các sản phẩm mới, thế hệ mới để nâng caokhả năng đáp ứng các loại nhu cầu chính đáng và lành mạnh của con người,
để thúc đẩy sự phát triển của xã hội
Có thể thấy quan điểm này tự nó đã khẳng định được vai trò và vị trícủa các nhà tạo lập, cung cấp các sản phẩm trong xã hội nói chung Nhận thức
và nhu cầu nhận thức của con người không ngừng được nâng cao Cùng vớiquá trình đó nhu cầu của con người nói chung cũng luôn thay đổi, biến động.Cũng trong quá trình đó, những cá nhân, nhóm cá nhân đặt lợi ích và quyềnlợi chung của cả cộng đồng sẽ ngày càng bị thu hẹp lại Tuy nhiên để dần tiếpcận đến triển vọng một xã hội, vì thế quan điểm marketing vị xã hội, nhất làđối với loại sản phẩm đặc thù là thông tin, còn luôn cần đến, và chúng thể hiệncác yếu tố trình độ và chính sách phát triển của mỗi cộng đồng, quốc gia
Trang 12Trên đây là 5 quan điểm marketing căn bản nhìn từ các khía cạnh vàlĩnh vực khác nhau trong đời sống xã hội Cũng từ những quan điểm này dẫnđến các cách nhìn nhận về vai trò của marketing có phần khác nhau
1.1.3 Vai trò của marketing
Marketing có nhiều vai trò và chức năng khác nhau và marketing có thể
sử dụng với nhiều mục đích và có nhiều cách tiếp cận khác nhau do đómarketing có thể được tiến hành bằng nhiều phương thức khác nhau, đồngthời lại luôn cần biến đổi để thích ứng với môi trường và mục đích của mỗi cơquan, tổ chức (chủ thể triển khai marketing)
Như đã nói ở trên, marketing luôn luôn biến đổi theo mục đích của chủthể tiến hành marketing và tùy vào từng lĩnh vực cụ thể, nên việc hiểu đượcvai trò bản chất của marketing nói chung là một vấn đề tương đối Theo cách
lí giải của các chuyên gia marketing như B.Cronin, C.H.Lovelock, hay nhưC.B.Weinberg… họ lí giải vai trò của marketing dựa vào chính bản chất của
nó Nhìn tổng thể vai trò của marketing chính là quy trình marketing hoànhảo, những vai trò ấy là hệ thống liên kết chặt chẽ với nhau: Nghiên cứu, nắmbắt nhu cầu - Quản lí, xây dựng kế hoạch - Thỏa mãn, đáp ứng nhu cầu
Sau đây là một số lí giải cụ thể về vai trò của marketing:
* Marketing có vai trò nghiên cứu, nắm bắt nhu cầu của cá nhân hoặc tập thể (người dùng/khách hàng)
Marketing là quá trình nghiên cứu nhằm điều chỉnh để hợp lí hóa sựtrao đổi giữa chủ thể marketing và khách hàng của mình; giữa chủ thểmarketing và môi trường của chủ thể đó Thông qua quá trình nghiên cứu giúpcho chủ thể marketing nhận diện, dự báo và sau đó kiểm soát khách hàng của
Trang 13mình bằng những sản phẩm mới Quá trình đó chính là nghiên cứu về nhu cầucủa khách hàng.
* Marketing quản lí, xây dựng kế hoạch
Marketing có chức năng quản lí, nhằm thực hiện việc gắn kết một tổchức, cơ quan (chủ thể triển khai marketing) với toàn bộ môi trường bênngoài
Marketing có vai trò xây dựng kế hoạch nhằm kiểm soát một cách tíchcực nhu cầu của cá nhân, tổ chức nhằm đáp ứng nhu cầu của cộng đồng kháchhàng thông qua việc thiết lập cầu nối với môi trường của mỗi tổ chức Tạo sựlinh hoạt và mức thích ứng cao nhất giữa chủ thể marketing và môi trườnghoạt động
* Marketing thỏa mãn, đáp ứng nhu cầu mong muốn của các nhân, tập thể
Marketing chính là những việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu của cá nhân
và tổ chức (khách hàng) Sau quá trình nghiên cứu, lập kế hoạch thì marketing
có nhiệm vụ đáp ứng nhu cầu của khách hàng bởi các sản phẩm được tạo ra đãđược nghiên cứu sao cho phù hợp với nhu cầu của họ
Nhìn chung hoạt động marketing có vai trò cùng hướng đến mục tiêunghiên cứu, nhận diện nhu cầu thực tế của thị trường khách hàng, và tiến hànhviệc đáp ứng thị trường này Điều đó cũng chính là việc nghiên cứu thị trườngtrên khách hàng, phân tích nhu cầu của họ, xây dựng và thông qua các quyếtđịnh đến chiến lược thiết kế, định giá, chiêu thị và phổ biến sản phẩm, từ đóthỏa mãn nhu cầu của khách hàng cũng chính là đạt mục đích của chủ thể tiếnhành marketing
Trang 14Tùy vào đặc thù riêng của từng chủ thể tiến hành marketing màmarketing có những vai trò cụ thể khác nhau Ví dụ như đối với hoạt độngKinh tế của một doanh nghiệp, vai trò của marketing sẽ khác với hoạt độngThông tin - thư viện của một cơ quan Trong hoạt động kinh tế, vai trò củamarketing sẽ là nắm bắt những nhu cầu của khách hàng nhằm mục đích cuốicùng là đem lại lợi nhuận cao nhất cho doanh nghiệp, còn đối với hoạt độngcủa một thư viện thì vai trò của marketing chính là nghiên cứu nhu cầu củangười dùng tin về sử dụng nguồn thông tin ra sao và như thế nào để thư viện
ấy có hướng bổ sung nguồn tài liệu Đây chỉ là một dẫn chứng đơn giản từ cáccách tiếp cận khác nhau để khẳng định vai trò của hoạt động marketing.Nhưng nhìn chung với bất cứ hoạt động nào, lĩnh vực nào vẫn phải kể đến cácvai trò cơ bản nhất của marketing như đã nêu ở trên Đó chính là vai trò:Nghiên cứu, nắm bắt nhu cầu - Quản lí, xây dựng kế hoạch - Thỏa mãn, đápứng nhu cầu
1.2 Marketing trong hoạt động thông tin - thư viện
1.2.1 Định nghĩa marketing trong hoạt động thông tin - thư viện
Trong lĩnh vực TTTV, Từ điển giải nghĩa Thư viện học và Tin học Anh
- Việt đưa ra định nghĩa về marketing như sau: “Marketing – tiếp thị: Mộtnhóm hoạt động có mục đích dùng để cổ vũ cho sự trao đổi một cách xâydựng và đáp ứng giữa nhà cung cấp dịch vụ thư viện và truyền thông vớingười đang sử dụng hay có thể là người sử dụng những dịch vụ này Nhữnghoạt động này liên quan đến sản phẩm, giá cả, phương pháp giao hàng vàphương thức quảng bá sản phẩm” [5] Trong nền kinh tế tri thức, với sự bùng
nổ của thông tin, việc tìm ra những chiến lược marketing đúng đắn là mốiquan tâm hàng đầu của những nhà TTTV Những chiến lược này sẽ quyếtđịnh đến hoạt động của cơ quan TTTV
Trang 151.2.2 Vai trò của marketing trong hoạt động thông tin - thư viện
Muốn khẳng định vai trò của marketing trong hoạt động TTTV, trướchết chúng ta hãy đi trả lời câu hỏi: Tại sao cần marketing trong hoạt động thưviện và cơ quan thông tin?
- Người dùng tin chưa nhận thức đủ và hình thành thói quen trong việckhai thác và sử dụng các sản phẩm và dịch vụ tại các Thư viện đại học
- Các Thư viện Đại học chưa chủ động giới thiệu các sản phẩm và dịchthông tin đến với người dùng tin
- Việc xây dựng “hình ảnh” thư viện như là một trung tâm tài nguyêncho việc giảng dạy và học tập chưa được các thư viện đại học chú trọng
- Hiệu quả khai thác sử dụng các nguồn lực thông tin của Thư viện đạihọc còn chưa cao
- Hiệu quả khai thác sử dụng các nguồn lực thông tin của Thư viện đạihọc còn chưa cao
- Sự đầu tư của các cơ quan chủ quản, các tổ chức tài trợ…đối với cácThư viện Đại học còn hạn chế
- Hoạt động Marketing chưa được các Thư viện Đại học quan tâm vàđầu tư đúng mức
Khi trả lời câu hỏi này cũng có nghĩa là chúng ta đã phần nào làm sáng
tỏ vai trò quan của marketing đối với hoạt động TTTV Từ câu trả lời cho câuhỏi trên, chúng ta có thể khẳng định vai trò của marketing trong hoạt độngTTTV
-> Marketing quan tâm giải quyết các vấn đề: sử dụng tối ưu các nguồn
lực hiện có của mỗi cơ quan TTTV; tìm kiếm tạo lập và thu hút các nguồn lựcbên ngoài; hỗ trợ, khuyến khích người dùng tin khai thác và sử dụng các sảnphẩm và dịch vụ thông - tin thư viện; và cải thiện hình ảnh của hệ thống thông
Trang 16tin - thư viện
-> Marketing đem lại sự hiểu biết đầy đủ cho người sử dụng về vị trí,
vai trò của thư viện cũng như cán bộ thông tin – thư viện trong xã hội từ đógiúp cán bộ thư viện xây dựng hình ảnh tích cực trong bạn đọc về thư viện
mình Để thực hiện được vai trò này thì người cán bộ thư viện chính là “linh
hồn” của thư viện.
-> Marketing giúp cho người sử dụng nhận biết về các dịch vụ, sản
phẩm thông tin mà thư viện có và chất lượng của chúng từ đó thu hút ngàycàng đông bạn đọc tới sử dụng thư viện Như chúng ta đã biết, trọng tâmchính của mỗi thư viện là dịch vụ bạn đọc và marketing là cần thiết cho sựthành công và sự tiếp tục tồn tại của một thư viện Marketing hiệu quả sẽ cungcấp cơ hội cho người sử dụng nhận biết về các dịch vụ của thư viện và giá trịcủa nó Hiện nay rất nhiều người sử dụng chưa nhận biết về các dịch vụ củathư viện cung cấp cho mình, vì nhiều thư viện đại học không cung cấp dịch vụ
tư vấn chuyên đề cho bạn đọc Với lý do này, hầu hết các sinh viên khôngnhận biết một cách đầy đủ về sự sẵn sàng giúp đỡ tìm tài liệu theo chuyên đềcũng như các vấn đề có liên quan đến thông tin Họ xem thư viện là nơi đểnghiên cứu và cán bộ thư viện là người giữ sách hơn là người cung cấp thôngtin Trong hoàn cảnh đó người cán bộ thông tin - thư viện cần chủ độngmarketing các nguồn tin và dịch vụ của mình để tạo ra sự nhận biết về giá trịcủa thư viện cho bạn đọc
-> Marketing giúp thư viện xây dựng được các mối quan hệ với các cơ
quan tổ chức, các nhà tài trợ, và người sử dụng thư viện Muốn dịch vụ thưviện có chất lượng thì thư viện cần xây dựng mối quan hệ giữa người sử dụng
và cán bộ thư viện Cán bộ phục vụ cần chủ động giúp đỡ người sử dụng vàbiết làm thế nào để giúp người sử dụng cũng như đánh giá được nhu cầu của
Trang 17người sử dụng Hơn nữa, cán bộ thư viện cần phát triển khả năng tạo ra môitrường thân thiện, xây dựng tính tự tin trong mỗi người sử dụng Nhiều nghiêncứu cho biết phẩm chất của cán bộ thư viện quyết định tỉ lệ sử dụng thư việncủa người đọc Nếu cán bộ thư viện thân thiện, có chuyên môn vững, người sửdụng sẽ bị thuyết phục bằng có chuyên gia thông tin đáng tin cậy và dễ gầngủi trong thư viện đó.
-> Marketing giúp thư viện hiểu được nhu cầu, mong muốn và yêu cầu
tin của mỗi nhóm người dùng tin, từ đó xây dựng các dịch vụ và tạo ra các sảnphẩm thông tin phù hợp nhằm đáp ứng tối đa nhu cầu tin của họ Với lý donày marketing có mối quan hệ hai chiều, một mặt giúp cán bộ thư viện nắmđược nhu cầu tin của người sử dụng, mặt khác giúp người sử dụng nhận biếtcác dịch vụ và sản phẩm thông tin có giá trị trong thư viện
-> Marketing còn là vũ khí quan trọng giúp thư viện có thể cạnh tranhvới các cơ quan thông tin khác trong kỷ nguyên Internet Marketing tốt có thểđem lại những hỗ trợ về tài chính cũng như vật chất từ các cơ quan quản lý,các tổ chức chính trị xã hội, các tổ chức phi chính phủ cũng như từ phía người
sử dụng thư viện
Có thể nói Marketing là hoạt động cần thiết cho sự vận hành của cácthư viện đại học trong việc nâng cao khả năng phục vụ thông tin góp phầnphát triển hoạt động đào tạo và nghiên cứu của nhà Trường Một thư viện cónguồn tài liệu phong phú, cơ sở vật chất hiện đại, có chính sách hỗ trợ đặc biệtcho NDT, và có rất rất nhiều ưu điểm Nhưng thư viện đó lại không cho bạnđọc thấy được thư viện mình có những gì và thư viện sẽ đem lại cho NDTnhững gì, điều này đồng nghĩa với việc thư viện đó không có gì
Trang 181.2.3 Các thành tố marketing trong hoạt động Thông tin - Thư viện
Như chúng ta đã nói trong phần trước, hoạt động marketing (còn gọi làmarketing hỗn hợp được hình thành qua công thức:
Giá thành sản phẩm dịch vụ
Sản phẩm dịch vụ thông tin
Phổ biến thông tin
Chiêu thị sản phẩm thông tin – thư viện
Trang 19* Sản phẩm (Product)
Sản phẩm là một khái niệm được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vựccủa xã hội, không chỉ trong lĩnh vực TTTV mà còn được sử dụng nhiều trongcác lĩnh vực như sản xuất, kinh doanh… và sản phẩm nhằm thỏa mãn nhu cầutrực tiếp hoặc gián tiếp của con người
Theo quan điểm của marketing: sản phẩm là thứ có khả năng thỏa mãnnhu cầu, mong muốn của khách hàng, cống hiến những lợi ích cho họ và cóthể đưa ra chào bán trên thị trường nhằm thu hút sự mua sắm và tiêu dùng
Philip Kotler cũng có quan điểm sản phẩm là những cái gì có thể cungcấp cho thị trường, do thị trường đòi hỏi và thỏa mãn nhu cầu của thị trường
Quan điểm sản phẩm trong lĩnh vực TTTV, sản phẩm được hiểu là tất
cả những gì cơ quan TT-TV có thể cung cấp cho người dùng tin, nhằm đápứng nhu cầu thông tin của họ
Sản phẩm TT-TV trong hoạt động marketing gồm:
Tài liệu gốc (sách, báo, tạp chí,…)
Sản phẩm TTTV là kết quả của quá trình xử lý thông tin và các công cụgiúp khai thác thông tin (CSDL, mục lục,…)
Dịch vụ TTTV: Những hoạt động phục vụ, đáp ứng nhu cầu thông tincủa người dùng tin (dịch vụ mượn trả, dịch vụ photocopy,…)
Sản phẩm là một bộ phận quan trọng của hoạt động TTTV Một cơquan TTTV nếu có hệ thống sản phẩm tốt, đa dạng, phong phú, hiện đại lạicộng với dịch vụ phù hợp sẽ phát huy tối đa mọi nguồn lực trung tâm đó có,điều ấy cũng có nghĩa trung tâm TTTV ấy đã hoàn thành tốt một công đoạntrong hoạt động marketing
Trang 20* Phân phối sản phẩm (Place)
Có rất nhiều cách hiểu về phân phối, trên thực tế phân phối chính làcách thức để cung cấp sản phẩm và dịch vụ của chủ thể đến người tiêu dùng,thông qua những cách thức ấy người sử dụng nắm bắt và hiểu được sản phẩm
ấy và họ sẽ có được sản phẩm và dịch vụ ấy qua một cách thức phân phốiriêng của từng chủ thể Việc cung cấp sản phẩm đúng nơi và thời điểm màkhách hàng yêu cầu là một yếu tố quan trọng nhất của phân phối Ngày nay,khi xã hội phát triển thêm rất nhiều thể thức phân phối sản phẩm khác nhau,không chỉ tồn tại thể thức phân phối sản phẩm trực tiếp mà còn xuất hiện thểthức phân phối sản phẩm gián tiếp thông qua một đối tượng trung gian
Trong hoạt động TT- TV các phương thức, thể thức phân phối, phổ biếnloại hình sản phẩm là rất đa dạng, phong phú Việc phổ biến, phân phối cóliên quan mật thiết tới khái niệm truy cập đến sản phẩm từ phía người dùng tin(NDT) Tại các thư viện truyền thống, điều đó có liên quan tới các quy địnhcủa việc phục vụ NDT (giờ mở cửa, các quy định mượn trả tài liệu…), còn tạicác thư viện điện tử thì đó là các chính sách và giải pháp về công nghệ xácnhận quyền được phép truy cập, khai thác, sử dụng dịch vụ
* Giá cả (Price)
Giá cả là chi phí khách hàng phải bỏ ra để đổi lấy sản phẩm hay dịch vụcủa nhà phân phối, là giá cả quy định được xác định trên cơ sở các chi phí cấuthành sản phẩm, các khoản chi phí cấu thành để sản phẩm lưu hành trên thịtrường Trong hoạt động TT-TV giá cả còn chịu chi phối của nhiều yếu tốkhác (tập quán sử dụng thông tin, khả năng chi trả của NDT, chính sách pháttriển của quốc gia, chính sách hỗ trợ…)
Trang 21Giá cả được hiểu không chỉ là tiền hay vật chất mà còn là thời gian haycông sức khách hàng bỏ ra để có được sản phẩm Đặc biệt trong hoạt độngTTTV yếu tố giá cả thuộc về vấn đề phi lợi nhuận, do đó giá cả NDT phải bỏ
ra khi có được thông tin thường không tính bằng tiền, chính vì vậy tại các cơquan TTTV thành tố giá cả không ảnh hưởng nhiều đến hoạt động marketingtại thư viện, nó chỉ được xem như một yếu tố thúc đẩy hoạt động TTTV pháttriển mạnh hơn
*Truyền thông marketing (Promotion)
Có thể nói thành tố thứ 4, truyền thông marketing được người tiêu dùnghiểu chính là quảng cáo, chiêu thị là tất cả các hoạt động để khách hàng biếtđến sản phẩm và dịch vụ của chủ thể truyền thông, từ đó kích thích nhu cầu sửdụng của họ tới sản phẩm và dịch vụ của mình
Truyền thông marketing chính là các giải pháp kích thích, quảng cáo,chiêu thị cho sản phẩm đến với NDT Hoạt động này nhằm đảm bảo việckhách hàng nhận biết sản phẩm, dịch vụ, có ấn tượng tốt về sản phẩm của chủthể Những hoạt động này chủ yếu là quảng cáo, catalog, quảng cáo qua mạnginternet, báo chí, hay qua các mối quan hệ liên kết Trên thực tế không phảiNDT nào cũng biết đến sản phẩm mà mình cần, các lợi ích mà sản phẩm đemlại, cũng như cách thức khai thác và sử dụng sản phẩm đó Do vậy hoạt độngchiêu thị sản phẩm đã phần nào giải quyết được hạn chế đó
Trong hoạt động TTTV, trên thực tế hoạt động truyền thông marketingđóng vai trò rất quan trọng đến hoạt động cụ thể của thư viện song phần nhiềucác cơ quan TTTV không quan tâm nhiều đến hoạt động này, họ chủ yếu quantâm đến việc tạo ra sản phẩm, dịch vụ và phân phối chúng cho NDT, theocách hiểu đó chính NDT có nhu cầu và tự tìm đến sản phẩm chứ không phảichủ thể marketing chủ động đưa sản phẩm, dịch vụ đến với NDT
Trang 22Như vậy 4 thành tố trong công thức trên kết hợp chặt chẽ và linh hoạtvới nhau tạo ra hoạt động marketing trên nền thị trường Một chiến lượcmarketing hoàn hảo là phải chứa đựng tất cả 4 yếu tố ấy 4 yếu tố này bao quáttoàn bộ hoạt động của một cơ quan TTTV Thực hiện marketing cũng cónghĩa hoàn thành tốt vai trò của một cơ quan TTTV.
Trang 23CHƯƠNG 2 HOẠT ĐỘNG MARKETING TẠI THƯ VIỆN TRƯỜNG
ĐẠI HỌC HÀ NỘI 2.1 Khái quát về Thư viện Trường Đại học Hà Nội
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển
Trường Đại học Hà Nội là trường đại học đào tạo chuyên ngành ngoạingữ được thành lập năm 1959 Đây là cơ sở đào tạo, cung cấp nguồn nhân lựctrình độ đại học, sau đại học có khả năng sử dụng ngôn ngữ nước ngoài, đápứng nhu cầu của thị trường lao động trong và ngoài nước Ngoài ra, trườngĐại học Hà Nội được Bộ Giáo dục và Đào tạo giao nhiệm vụ đào tạo ngoạingữ cho lưu học sinh, nghiên cứu sinh, thực tập sinh đi học nước ngoài; bồidưỡng, nâng cao trình độ ngoại ngữ cho cán bộ chuyên môn, cán bộ quản lýcủa các Bộ, ban, ngành Trung ương và địa phương trong cả nước
Hiện tại nhà trường có 16 khoa, đào tạo hơn 7000 sinh viên, hơn 100nghiên cứu sinh cùng hơn 350 học viên cao học
Chỉ tiêu tuyển sinh của Trường qua các năm chỉ tính sinh viên hệ chínhquy thường là 1300 – 1500 Ngoài số lượng sinh viên chính quy còn có một số
là nghiên cứu sinh, học viên cao học, hệ cử tuyển, thạc sĩ…
Trường Đại học Hà Nội có khả năng giảng dạy các ngoại ngữ: Anh,Nga, Pháp, Trung quốc, Đức, Nhật, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Italia, HànQuốc, Bungari, Hung-ga-ri, Séc, Slô-văk, Ru-ma-ni, Thái, A rập… Trong sốcác ngoại ngữ nêu trên có 10 chuyên ngành đào tạo cử nhân ngoại ngữ, 4chuyên ngành tiếng đào tạo thạc sỹ và tiến sỹ
Mục tiêu đào tạo của nhà trường không chỉ cung cấp kiến thức mà còncoi trọng định hướng phát triển năng lực làm việc cho sinh viên Chính vì vậy,
Trang 24nhà trường đã thực hiện phương châm mở rộng quy mô, đa dạng hóa loại hìnhđào tạo đi đôi với nâng cao chất lượng đào tạo.
Trường Đại học Hà Nội là một trường đại học ngoại ngữ, nên bản thâncác sinh viên của Trường cũng đến từ nhiều nước khác nhau, do đó trường cóquan hệ hợp tác với rất nhiều trường đại học nước ngoài và các tổ chức kháctrong khu vực và trên thế giới Trong quá trình phát triển và hội nhập giáodục, trường đã kết hợp đào tạo với hơn 30 trường đại học nước ngoài; có quan
hệ đối ngoại với trên 60 tổ chức, cơ sở giáo dục quốc tế; có quan hệ trực tiếpvới hầu hết các đại sứ quán nước ngoài tại Việt Nam; tham gia nhiều hoạtđộng văn hóa, giao lưu ngôn ngữ với các tổ chức, cá nhân nước ngoài tại ViệtNam và quốc tế
Cơ quan TTTV Trường Đại học Hà Nội ra đời ngay sau khi Trường Đạihọc Hà Nội được thành lập Thời kì đầu mới thành lập Thư viện hoạt độngtrên cơ sở một tổ công tác phục vụ tư liệu cho trường, trực thuộc phòng giáo
vụ Khi mới thành lập hoạt động thư viện còn nghèo nàn, tài liệu chủ yếu làgiáo trình, sách tham khảo chuyên ngành như: tiếng Nga và ngôn ngữ cácnước Đông Âu (tiếng Ba Lan, tiếng Tiệp Khắc, tiếng Bungari…) Nguồn tàiliệu chủ yếu là sách tài trợ, tặng biếu của các nước trong hệ thống xã hội chủnghĩa
Năm 1967, trước yêu cầu mở rộng quy mô đào tạo và nâng cao chấtlượng giảng dạy, trường Đại học Ngoại ngữ Hà Nội đã mở thêm một sốchuyên ngành như: tiếng Anh, tiếng Pháp Cùng với việc thành lập thêm một
số khoa và bộ môn, vốn tư liệu tăng lên đáng kể
Năm 1984, lãnh đạo nhà trường quyết định tách tổ tư liệu ra khỏi phònggiáo vụ thành một đơn vị độc lập với tên gọi là: “Thư viện Trường Đại họcNgoại ngữ Hà Nội” Trong quá trình hoạt động Trung tâm đã không ngừng
Trang 25nâng cấp cơ sở vật chất kĩ thuật, đổi mới hoàn thiện tổ chức và hoạt động,từng bước ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động nghiệp vụ.
Tháng 12/2003 Thư viện đã đi vào hoạt động tại trụ sở mới và khôngngừng hoàn thiện cơ sở vật chất, trang thiết bị Hiện nay Thư viện đã đi vàohoạt động ổn định và từng bước hiện đại, ngày càng đóng góp vào sự nghiệpgiáo dục đào tạo của Trường Đại học Hà Nội nói riêng và ngành giáo dục đàotạo nói chung
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ
Thư viện Trường Đại học Hà Nội lấy khoa học công nghệ tiên tiến làmnền tảng; lấy mục tiêu, chương trình Đào tạo và NCKH Trường Đại học HàNội định hướng nội dung hoạt động; lấy thông tin và tư liệu làm phương tiệnphục vụ theo tinh thần: “Trung thưc, tận tâm, thân thiện” Trên tinh thần đó,cùng với những bước thay đổi lớn của Nhà trường, Thư viện cũng đã cónhững bước chuyển mình đáng kể nhằm từng bước phục vụ tốt hơn nhu cầutin của các đối tượng cán bộ, giảng viên và sinh viên toàn Trường Trong quátrình xây dựng và phát triển Thư viện không ngừng cải tiến phương thức hoạtđộng nhằm từng bước đáp ứng tốt hơn nhu cầu tin cũng như tạo dựng một môitrường học tập nghiên cứu thuận lợi cho các đối tượng người dùng tin, thựchiện tốt các chức năng, nhiệm vụ sau:
- Thư viện Trường Đại học Hà Nội là giảng đường thứ hai của sinhviên, giáo viên và cán bộ công chức nhà trường Có nhiệm vụ:
- Tham gia đóng góp ý kiến cho Ban Giám hiệu về công tác thông tin,
tư liệu phục vụ cho quá trình đào tạo, giảng dạy và nghiên cứu khoa học củatrường
- Thu thập, bổ sung, trao đổi thông tin tư liệu cần thiết, tiến hành xử lý,
Trang 26cập nhật dữ liệu đưa vào hệ thống quản lý và tìm tin tự động Tổ chức cơ sở
- Kết hợp với các đơn vị chức năng trong trường hoàn thành tốt quản lý,
sử dụng có hiệu quả cơ sở vật chất kỹ thuật, vốn tài liệu của Thư viện
Trong suốt quá trình hoạt động, Thư viện luôn xác định rõ chức năng,nhiệm vụ để từ đó đề ra các kế hoạch cụ thể nhằm hoàn thành tốt các côngviệc được giao, góp phần không nhỏ vào sự nghiệp đào tạo và nghiên cứukhoa học của trường
có nhiều bạn đọc đến nhất Bởi vậy, người ta nói cán bộ thư viện là linh hồncủa thư viện thật có ý nghĩa
Hiện nay, tổng số cán bộ của Thư viện gồm có 22 cán bộ, trong đó có
16 cán bộ tốt nghiệp đại học ngành thông tin – thư viện (thư viện viên), 4người tốt nghiệp ngành công nghệ Thông tin và Điện tử viễn thông (kỹ thuậtviên), 2 cán bộ phụ trách an ninh, môi trường Trong số 22 cán bộ của Thưviện có 1 thạc sĩ, 7 cán bộ đang học cao học, 6 cán bộ đang theo học văn bằng
2 các thứ tiếng Thư viện với một đội ngũ cán bộ thư viện trẻ, dễ dàng tiếp thu
Trang 27những cái mới, có trình độ chuyên môn ngày càng được nâng cao, có khảnăng nắm bắt nhanh sự phát triển của khoa học kỹ thuật, biết sử dụng thànhthạo các trang thiết bị của Thư viện, có tinh thần thái độ phục vụ nhiệt tình,biết tư vấn, hướng dẫn thông tin cho NDT
Cơ cấu tổ chức của cơ quan TTTV Đại học Hà Nội:
2.1.4 Cơ sở vật chất và Nguồn lực thông tin
* Cơ sở vật chất
Bộ phận thư viện
Bộ Phận mạng máy tính
Bộ phận tiếp nhận trả lời thông tin
Bộ phận
an ninh giám sát
và môi trường
Bộ phận nghiệp
vụ kỹ thuật
Bộ phận phục vụ thông tin điện tử
BAN GIÁM ĐỐC
Trang 28Trung tâm gồm 4 tầng:
Tầng 1: phục vụ các loại tài liệu tiếng Việt
Tầng 2: phục vụ các loại tài liệu nước ngoài, tài liệu nghe nhìnTầng 3: phục vụ thông tin mạng
Tầng 4: phòng tự học
Sơ đồ bố trí phục vụ tại Thư viện
Trang 29Về cơ sở vật chất kỹ thuật, hiện nay, Thư viện Trường Đại học Hà Nội
có 203 máy tính, trong đó có 3 máy chủ và 200 máy trạm
Dưới sự quan tâm của Ban Giám hiệu nhà trường, Thư viện đã từngbước được đầu tư, nâng cấp, hoàn thiện cơ sở vật chất nhằm đáp ứng nhu cầutin của NDT Hệ thống trang thiết bị của Thư viện hiện có :
- 6 máy in : 1 máy in lazer khổ A3 và 1 máy in khổ A4 có chức năng
in trực tiếp qua mạng; 1 máy in màu khổ A3; 1 máy in thẻ; 1 máy in mã vạch
- 2 tivi 21 inch phục vụ chiếu các video bài giảng ; máy chiếu đa chứcnăng phục vụ tập huấn người sử dụng thư viện và giảng ngoại ngữ qua máytính
Trang 30- Thư viện còn tiến hành khai thác thông tin từ các chảo thu vệ tinhvới 4 đầu giải mã kỹ thuật số thu các kênh chính thống trên thế giới để in rađĩa, đưa vào mạng để phục vụ bạn đọc
Ngoài ra, Trung tâm có 4 đầu DVD kỹ thuật số, 2 đầu video thường, 2máy photocopy tốc độ cao, 30 máy cassette, 2 máy từ hóa và khử từ cho sách,đĩa CD, 3 máy đọc mã vạch cùng với hệ thống camera,cổng từ và hệ thốngđiều hòa hiện đại
Bên cạnh đó, Thư viện còn có hệ thống bàn ghế, tủ kệ gồm 86 bàn, 300ghế, 140 giá sách bằng gỗ, 63 giá sách bằng sắt…là những phương tiện khôngthể thiếu của Thư viện Trường Đại học Hà Nội trong công tác tổ chức, sắpxếp tài liệu
* Nguồn lực thông tin
Hiện nay, Thư viện đang sở hữu một khối lượng vốn tài liệu hết sức đadạng và phong phú Với đặc thù là một trường đào tạo chuyên ngành về ngoạingữ, do vậy phần lớn nguồn tài liệu của Thư viện là ngoại văn với nhiều thứtiếng khác nhau như: tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Trung, tiếng Hàn Quốc,tiếng Nhật, tiếng Ý, tiếng Tây Ban Nha… Ngoài ra còn có nhiều tài liệu giáotrình bằng tiếng Việt để phục vụ cho bạn đọc trong quá trình học tập tiếngnước ngoài Ngoài tài liệu dạng giấy thư viện còn có các dạng tài liệu điện tửdưới dạng cơ sở dữ liệu toàn văn, các đĩa CD-ROM, các cơ sở dữ liệu dữ kiện
Trang 31kế toán… Thư viện có hướng dẫn cụ thể cho sinh viên trên Website và trênphòng máy để có thể truy nhập vào CSDL này.
2.1.5 Đặc điểm người dùng tin và nhu cầu tin
Thư viện có nhiệm vụ quan trọng là đảm bảo nhu cầu thông tin cho họctập, nghiên cứu của cán bộ giảng viên và sinh viên trong trường Trước sựphát triển của nguồn tin cũng như nhu cầu ngày càng đa dạng của người dùngtin chính vì thế Thư viện đã tiến hành phân chia NDT ra thành các nhóm đểthuận tiện cho việc phục vụ và xác định nhu cầu tin của NDT:
* Nhóm sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh
Trang 32Đây là nhóm người dùng tin chủ yếu của Thư viện Số lượng ngàychiếm tỉ lệ cao và ngày càng gia tăng do nhà trường mở rộng chỉ tiêu đào tạovới nhiều chuyên ngành khác nhau Nhu cầu tin của nhóm NDT này chủ yếu
là tìm kiếm tư liệu để phục vụ cho việc học tập, trao đổi kiến thức, hoặc giảitrí sau những giờ học căng thẳng
* Nhóm cán bộ, giảng viên
Sử dụng những nguồn tin theo chuyên ngành của mình để giảng dạy,nâng cao trình độ chuyên môn Ngoài ra họ còn tham khảo các tài liệu liênquan đến chuyên ngành để nghiên cứu khoa học, tạo ra các công trình khoahọc
* Nhóm cán bộ quản lý
Họ vừa là những người quản lý vừa tham gia công tác giảng dạy Nhucầu dùng tin của họ khá đa dạng, nguồn thông tin mang tính chuyên sâu đểphục vụ công tác quản lý cũng như NCKH
2.2 Thực trạng hoạt động marketing tại Thư viện Trường Đại học
Hà Nội
2.2.1 Sản phẩm thông tin – thư viện
2.2.1.1 Nguồn tài liệu gốc
Hiện Thư viện đang sở hữu một khối lượng lớn vốn tài liệu đa dạng vàphong phú Hàng năm, Thư viện được đầu tư với nguồn kinh phí từ 300 – 350triệu để bổ sung vốn tài liệu, bao gồm: sách báo ngoại văn, sách tiếng Việt,các tài liệu chuyên ngành: quản trị kinh doanh và du lịch, quốc tế học, côngnghệ thông tin và tài chính ngân hàng; các tài liệu nước ngoài với các thứtiếng: tiếng Anh, Nga , Pháp, Hàn Quốc