Chính vì những lý do trên, tác giả đã lựa chọn đề tài “ Tìm hiểu công tác phát triển, khai thác và chia sẻ nguồn tài nguyên số tại Trung tâm Thông tin - Thư viện Đại học Giao thông Vận t
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, sự phát triển của khoa học công nghệ tác động hết sức to lớnđến mọi mặt của đời sống xã hội, kinh tế và đặc biệt là hoạt động thông tin -thư viện Khi nói đến sự bùng nổ của thông tin và sự gia tăng của nền kinh tếtri thức thì không thể không nhắc đến sự biến đổi của hoạt động thông tin - thưviện đến sự biên tập và cung ứng thông tin nhằm đáp ứng nhu cầu phát triểnchung đó Trong điều kiện đó, từng cơ quan thông tin - thư viện nói riêng và hệthống các cơ quan thông tin thư viện nói chung phải tự biến đổi sao cho phùhợp nhất
Hiện nay, nhu cầu của đông đảo người dùng tin về tài nguyên thông tin rấtcao và đa dạng, hình thức sử dụng các nguồn tài nguyên thông tin cũng khôngcòn bó hẹp trong lĩnh vực các ấn phẩm dạng in hoặc đĩa CD-ROM/DVD nữa
mà mở rộng ra nhiều loại hình thông tin khác nhau đặc biệt là thông tin dạng
số, thông tin trực tuyến Chính vì vậy các thư viện truyền thống đã tự chuyểnđổi để nhằm giải quyết bài toán về quản trị, phát triển nguồn tài nguyên thôngtin mới Các mô hình thư viện hiện đại dần ra đời và việc hình thành, pháttriển thư viện số đang trở thành một xu thế tất yếu của hoạt động thông tin -thư viện nói riêng và hoạt động cung cấp thông tin tri thức nói chung
Đứng trước những xu thế thời đại đó của ngành, các cơ quan thông tin thư viện Việt Nam mặc dù còn nhiều khó khăn nhưng cũng không ngững nỗlực nhằm hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật, chuyên môn nhằm xây dựng một môhình thư viện hiện đại phù hợp với bối cảnh chung và phù hợp với điều kiệncủa cơ quan mình Việc xây dựng và phát triển một thư viện điện tử, thư viện
-số rất khó khăn và tốn kém, yêu cầu thời gian khá dài
Trang 2Thư viện của các trường đại học, cao đẳng Việt Nam là những cơ quanthông tin - thư viện được đầu tư mạnh và có hoạt động tương đối tốt hiện nay.Các thư viện đang dần dần áp dụng các công nghệ, thành tựu phát triển côngnghệ thông tin hiện đại nhằm quản lý nghiệp vụ chuyên ngành, phát triển môhình thư viện số phù hợp nhất Tuy vậy việc áp dụng công nghệ thông tin vàohoạt động của các thư viện còn sơ lược và thiếu tính đồng bộ, chuẩn mực; từ
đó dẫn đến việc hình thành nên các mô hình thư viện số “nửa vời” và thiếu khảnăng mở rộng, phát triển
Trường Đại học Giao thông Vận tải là một trong những cơ sở đào tạohàng đầu của cả nước trong lĩnh vực giao thông, vận tải Nhiều năm qua, Nhàtrường đã đào tạo và cung cấp cho nước ta hàng vạn kỹ sư, cử nhân lành nghề.Trong đó, Trung tâm Thông tin – Thư viện Đại học Giao thông Vận tải (Gọi tắtlàTrung tâm) đã có nhiều đóng góp tích cực trong công tác sự nghiệp đào tạonguồn nhân lực chất lượng cao cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóađất nước của Nhà trường Những năm gần đây, trong xu hướng chung của sựphát triển hoạt động thông tin - thư viện nước nhà và đáp ứng nhu cầu sử dụngthông tin ngày càng đa dạng của người dùng tin, Trung tâm đã bước đầu xâydựng một mô hình thư viện điện tử, thư viện số hiện đại Mô hình đó sẽ vừađáp ứng được việc phát triển nguồn tài nguyên thông tin số của Trung tâm, vừaphục vụ việc khai thác của người dùng tin và tiến xa hơn là việc liên kết, chia
sẻ trong hệ thống thông tin nước nhà
Chính vì những lý do trên, tác giả đã lựa chọn đề tài “ Tìm hiểu công tác
phát triển, khai thác và chia sẻ nguồn tài nguyên số tại Trung tâm Thông tin - Thư viện Đại học Giao thông Vận tải” làm đề tài nghiên cứu khóa luận
chuyên ngành thông tin - thư viện của mình
Trang 32 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở khảo sát thực tế và tìm hiểu qua lý thuyết, Khóa luận bước đầukhái quát về công tác xây dựng phát triển và phục vụ khai thác, chia sẻ nguồntài nguyên thông tin số, tài nguyên thông tin điện tử tại Trung tâm Thông tin –Thư viện Đại học Giao thông Vận tải, đặc biệt là tìm hiểu sâu về công tác pháttriển nguồn tài liệu số tại đây trong thời gian vừa qua; từ đó có thể đưa ra một
đề xuất giải pháp nhằm thúc đẩy công tác này tại Trung tâm
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Tìm hiểu khái quát về Trung tâm Thông tin – Thư viện Đại học Giaothông Vận tải trong công tác phục vụ sự nghiệp giáo dục và đào tạo củaNhà trường;
- Tìm hiểu thực trạng công tác phát triển nguồn tài liệu số tại TTTT-TV
Trang 43 Tình hình nghiên cứu theo hướng đề tài
Nội dung của đề tài tuy không mới nhưng thu hút được nhiều sự quan tâmhiện nay trong ngành thông tin – thư viện Nghiên cứu, tìm hiểu về hoạt độngthông tin – thư viện của Trung tâm Thông tin – Thư viện Đại học Giao thông
vận tải thì đã có một số nghiên cứu như: Luận văn Thạc sỹ “Phát triển dịch vụ Thông tin – Thư viện tại Trường Đại học Giao thông Vận tải” của Bùi Thị Yến
Hường Luận văn đã đề cập tới thực trạng các dịch vụ thông tin – thư viện vàđưa ra các giải pháp hữu hiệu nhằm phát triển các dịch vụ đó tại Trung tâmThông tin – Thư viện Đại học Giao thông vận tải
Đề tài khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Thông tin – thư viện “ Tìm hiểu
dự án hiện đại hóa Trung tâm Thông tin – Thư viện Đại học Giao thông Vận tải” của Trần Thị Kim Dung Nội dung của Khóa luận nêu những vấn đề về
dự án hiện đại hóa hoạt động của Trung tâm, những vấn đề có liên quan đếncông nghệ, phần mềm và những định hướng của Trung tâm trong công tác pháttriển tài liệu số và xây dựng thư viện số nói chung
Đề tài Luận văn Thạc sỹ chuyên ngành Thông tin – Thư viện “Tìm hiểu ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động thông tin – thư viện tại Trung tâm Thông tin Thư viện Đại học Giao thông Vận tải: Thực trạng và giải pháp”
của Đỗ Tiến Vượng Đề tài nêu các vấn đề về ứng dụng công nghệ thông tintrong hoạt động chuyên môn nghiệp vụ và phục vụ tại Trung tâm, một số vấn
đề về công nghệ số hóa tài liệu và xây dựng thư viện số Nêu các giải pháptăng cường công tác này tại Trung tâm
Ngoài ra còn một số đề tài nghiên cứu, khóa luận tốt nghiệp về phát triển
và khai thác, chia sẻ nguồn tài nguyên số tại một số cơ quan thông tin – thưviện khác Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có một đề tài Khóa luận nào nghiêncứu cụ thể về thực trạng công tác phát triển, khai thác và chia sẻ nguồn tài liệu
Trang 5số tại TTTT-TV ĐHGTVT Vì vậy có thể nói, đây là một đề tài mới và rất thiếtthực trong thực tế hoạt động tại Trung tâm.
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là thực
trạng công tác phát triển, khai thác và chia sẻ nguồn tài liệu số tại Trung tâmThông tin – Thư viện Đại học Giao thông vận tải
Phạm vi nghiên cứu: Phạm vi nghiên cứu về mặt không gian là tại Trung
tâm Thông tin – Thư viện Đại học Giao thông Vận tải Phạm vi nghiên cứu vềmặt thời gian là từ năm 2003 trở lại đây
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận:
Dựa trên cơ sở sự chỉ đạo, lãnh đạo của Đảng và Nhà nước về hoạt độngthông tin – thư viện nói chung và việc xây dựng, chia sẻ nguồn tài nguyên sốtrong bối cảnh hiện nay
Dựa trên cơ sở lý luận của ngành thư viện học và thông tin học
Nghiên cứu, tìm hiểu qua các đề tài nghiên cứu, lý luận về hoạt động thưviện, về tài liệu khoa học lý luận-chính trị và các tài liệu có liên quan khác
Dựa trên cơ sở lý luận về việc số hóa tài liệu, phát triển nguồn tài nguyên
số và khai thác, chia sẻ nguồn tài nguyên số
Phương pháp nghiên cứu:
Để tiến hành nghiên cứu đề tài này, tác giả đã sử dụng những phương phápnghiên cứu sau:
Trang 6Phương pháp tham khảo, thống kê, phân tích và tổng hợp thông tin từ cácnguồn tài liệu khác nhau;
Phương pháp khảo sát thực tế tại Trung tâm Thông tin-Thư viện Đại họcGiao thông Vận tải;
Cung cấp các thông tin khái quát về thực tế công tác phát triển, khai thác
và chia sẻ nguồn tài liệu số tại Trung tâm Thông tin – Thư viện Đại học Giaothông Vận tải
Đưa ra một số đề xuất giải pháp nhằm nâng cao công tác phát triển khaithác và chia sẻ nguồn tài liệu số tại Trung tâm
Khi hoàn thành, Khóa luận có sẽ trở thành một tài liệu bổ ích giúp thamkhảo về nội dung này trong ngành thông tin – thư viện
Trang 8NỘI DUNG CHƯƠNG 1 TÀI LIỆU SỐ VỚI CÔNG TÁC PHỤC VỤ
GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TẠI TRUNG TÂM THÔNG TIN- THƯ VIỆN ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI
1.1 Những vấn đề lý luận về tài liệu số
1.1.1 Các khái niệm chung
Có thể nói, trong những thập niên cuối thế kỷ XX cùng với sự phát triểnkhông ngừng của công nghệ thông tin là sự bùng nổ đến chóng mặt của thôngtin và sự hình thành nền kinh tế tri thức
Các tài liệu số ngày càng đóng vai trò quan trong trọng quá trình biến đổinày Tuy chưa được định nghĩa thống nhất thế nào là tài liệu số, nhưng nó cũngđược sự quan tâm đặc biệt; gắn liền với khái niệm về tài liệu số là các kháiniệm về thư viện số, thư viện điện tử, tài liệu điện tử và bộ sưu tập số Làm rõnhững khái niệm này phần nào có thể hình dung về nguồn tài liệu số trong các
cơ quan thông tin – thư viện hiện đại
Khái niệm thư viện số và các khái niệm liên quan
Thực tế, trước khi có các thư viện số và khái niệm thư viện số được địnhhình thì thư viện điện tử đã ra đời và phát triển liên tục tới hiện nay Tuy nhiên,mặc dù ra đời sớm hơn nhưng cũng như thư viện số, thư viện điện tử (TVĐT)
là một khái niệm chưa được định nghĩa một cách thống nhất, nó có thể vẫn cònlẫn lộn hoặc đồng nghĩa với các khái niệm như “ Thư viện ảo”, “ Thư viện số”,
“ Thư viện đa phương tiện”…
Trang 9TVĐT có thể được định nghĩa như sau: “Một hệ thống thông tin trong đócác nguồn thông tin dều có sẵn dưới dạng có thể xử lý được bằng máy tính vàtrong đó tất cả các chức năng bổ sung, lưu trữ, bảo quản, tìm kiếm, truy cập vàhiển thị đều sử dụng kỹ thuật số”.[6]
Khái niệm TVĐT có thể dùng theo nghĩa tổng quát nhất cho mọi loại hìnhthư viện đã được tin học hóa toàn bộ hoặc một số sản phẩm, dịch vụ TVĐT cóthể được coi như là nơi người sử dụng có thể tới để thực hiện những công việc
mà họ vẫn thường làm với thư viện truyền thống, nhưng đã được điện tử hoá Khái niệm TVĐT có liên quan trực tiếp tới sự bùng nổ thông tin trên Internet
và Web, các thiết bị lưu trữ thông tin đa phương tiện
Cùng lúc với sự bùng nổ thông tin và sự manh nha của nền kinh tế tri thức
là sự hình thành và bùng nổ của kỹ thuật số hóa làm tăng khả năng đáp ứngnhu cầu ngày một gia tăng về lưu trữ, tổ chức và phân phối thông tin trong xãhội Thư viện số (TVS) dần dần hình thành như một xu thế tất yếu, tạo ra mộtcuộc cách mạng trong lĩnh vực thư viện – thông tin Một tìm kiếm Google tiếnhành vào đầu tháng 4/2010 về “digital library” hoặc “digital libraries” cho tới340.000.000 kết quả.[15]
Tuy vậy, khái niệm thư viện số hiện nay vẫn còn là một điều tranh cãi.Với nhiều giả thiết và nhìn từ các góc độ khác nhau nên có những khái niệmtương đối khác nhau về thư viện số
Hiệp hội Thư viện số Hoa Kỳ (DLF) định nghĩa như sau: “Thư viện số làmột tổ chức cung cấp tài nguyên bao gồm các nhân viên chuyên biệt giúp lựachọn, tổ chức, cung cấp khả năng truy xuất thông minh, chỉ dẫn, phân phối,bảo quản tính toàn vẹn và sự thống nhất của các bộ sưu tập theo thời gian đểđảm bảo sao cho chúng luôn sẵn có để truy xuất một cách dễ dàng và kinh tế
Trang 10nhất đối với một cộng đồng người dùng hoặc một nhóm cộng đồng ngườidùng.”[15]
Theo một cách tiếp cận khác, năm 1994 Gladney đưa ra khái niệm vềTVS như sau: “Một TVS phải là một tập hợp các thiết bị máy tính, hệ thốnglưu trữ, truyền thông cùng với nội dung số và phần mềm để tái tạo và thúc đẩy
mở rộng các dịch vụ thông tin của các thư viện truyền thống chứa các tài liệutrên giấy và các vật mang tin khác vẫn làm như thu thập,biên mục, tìm kiếm vàchia sẻ thông tin Một dịch vụ TVS phải bao gồm các dịch vụ chính yếu củacác thư viện truyền thống và khai thác tối đa các lợi ích của công nghệ lưu trữ
số, tìm kiếm thông tin và truyền thông số”.[15]
Tại Việt Nam, theo Vũ Thị Ngọc Liên: “Thư viện số là một thư viện điện
tử cao cấp trong đó toàn bộ các tài liệu của thư viện đã được số hóa và đượcquản lý bằng một phần mềm chuyên nghiệp có tổ chức giúp người dùng dễdàng truy cập, tìm kiếm và xem được nội dung toàn văn của chúng từ xa thôngqua hệ thống mạng thông tin và các phương tiện truyền thông” [15]
Nhưng dù hiểu như thế nào đi chăng nữa thì TVS là cơ hội đặc biệt cho
thư viện truyền thống đổi mới phương thức phục vụ cho người dùng tin, đảmbảo hiệu quả, chất lượng cho đối tượng phục vụ Qua đây, cũng có thể khẳngđịnh thư viện số và thư viện điện tử hoàn toàn không phải là một, nhưng hai
mô hình thư viện hiện đại này cũng có mối liên hệ chặt chẽ và giống nhau ởnhiều điểm
Khái niệm tài liệu số và các khái niệm liên quan
Liên quan tới tài liệu số và để hiểu rõ về tài liệu số cần nắm rõ và phânbiệt khái niệm gần với nó là tài liệu điện tử Đồng thời, các khái niệm có liên
Trang 11quan trực tiếp tới tài liệu số như bộ sưu tập số, số hóa cũng cần được hiểu mộtcách rõ ràng.
Hiểu một cách ngắn gọn thì tài liệu điện tử được xem như các tài liệuđược trình bày và lưu trữ trên vật mang tin điện tử và có thể truy cập đượcthông qua hệ thống máy tính điện tử và mạng máy tính Các vật mang tin cóthể là băng từ, đĩa từ, các vật lưu trữ thông tin của máy tính khác
Vào năm 1995, F.W Lancaster đã phác thảo một lịch sử ngắn gọn về tàiliệu điện tử như sau:
- Sử dụng máy tính để tạo ra những ấn bản in trên giấy thông thường
- Phân phối văn bản bằng hình thức điện tử nơi mà phiên bản điện tửtương đương chính xác với phiên bản in ấn
- Xuất bản những ấn phẩm nhỏ hơn bản in băng hình thức điện tử, cóthêm đặc điểm phụ trội khả năng nghiên cứu, điều khiển dữ liệu và thông báokhả năng thông qua sự tương xứng hình ảnh
- Tạo ra những ấn bản hoàn toàn mới và khai thác khả năng thật sự củađiện tử học, chẳng hạn như những siêu văn bản, âm thanh, phương tiện truyềnthông cao…
Tài liệu số (TLS) là những tài liệu được tạo lập và lưu giữ, khai thác trênmáy tính Tài liệu số có thể được xây dựng thông qua việc xử lý các file vănbản, các bảng biểu hoặc được chuyển đổi sang dạng số từ những tài liệu dạngkhác Tài liệu cũng được đề cập đến như là những tài liệu điện tử
Trang 12Theo các khái niệm về TLS và TLĐT, có thể thấy sự giống và khác nhaugiữa hai loại tài liệu này Tuy nhiên, trong phạm vi hạn hẹp của Khóa luận nàyxin không đề cập đến vấn đề này.
Khái niệm tài liệu số thường đi kèm với khái niệm về bộ sưu tập số Cóthể hiểu “Bộ sưu tập số là một tập hợp có tổ chức nhiều tài liệu đã được số hoádưới nhiều hình thức khác nhau (văn bản, hình ảnh, Audio, Video…) về mộtchủ đề Mặc dù mỗi loại hình tài liệu có sự khác nhau về cách thể hiện, nhưng
nó đều cung cấp một giao diện đồng nhất mà qua đó các tài liệu có thể truycập, tìm kiếm dễ dàng” [6] Một bộ sưu tập chứa nhiều tài liệu với các dạngthức khác nhau, nhưng lại cung cấp một giao diện đồng nhất; qua đó tất cả cáctài liệu có thể được truy cập, mặc dù cách mà tài liệu đó hiển thị sẽ phụ thuộcvào phương tiện và dạng thức của tài liệu đó
Quá trình chuyển các dạng dữ liệu truyền thống như các bản viết tay, bản
in trên giấy, hình ảnh… sang chuẩn dữ liệu trên máy tính và được máy tínhnhận biết được gọi là số hoá tài liệu Như vậy, số hoá tài liệu là hình thứcchuyển đổi các dữ liệu truyền thống bên ngoài thành dạng dữ liệu số mà máy
tính có thể hiểu được Ưu điểm của số hóa tài liệu:
- Giúp việc lưu trữ, truy xuất, chia sẻ, tìm kiếm thông tin một cách dễdàng
- Linh hoạt trong việc chuyển đổi sang các loại dữ liệu số khác nhau
- Giảm chi phí tối đa cho việc quản lý, không gian lưu trữ
- Có khả năng chỉnh sửa và tái sử dụng dữ liệu
1.1.2 Đặc điểm chung của tài liệu số
Do bản chất tồn tại và lưu trữ hoàn toàn khác biệt với các loại hình tài liệutruyền thống nên tài liệu số chỉ có thể vận động từ truy cập, khai thác và chia
Trang 13sẻ trên máy tính hay mạng các máy tính Do vậy so với tài liệu truyền thống,tài liệu số có những đặc điểm khá nổi bật sau đây:
- Hệ thống đa truy (multi-access): Tính năng này hay còn gọi là tính dễ
dàng truy cập Tài liệu số trực tuyến trên mạng có thể được truy cập vàcung cấp cho nhiều địa điểm truy cập (văn phòng, nhà ở, trường học…)tại mọi thời điểm khác nhau và cũng có thể cung cấp khả năng cho nhiềungười cùng sử dụng một lúc;
- Tốc độ: Tốc độ phổ biến thông tin số hiện nay ngày càng mạnh mẽ và đã
đạt tới mức tức thời nhờ cá phương tiện tin học và viễn thông hiện đại,đặc biệt là mạng Internet Tài liệu số thường cũng được xem như lànhanh hơn nhiều để tìm kiếm, thu thập, hợp nhất thông tin cần thiết vàocác tài liệu khác, bổ sung tìm kiếm và tham khảo chéo giữa các ấn bảnkhác nhau
- Không gian: Mật độ thông tin trong các nguồn tin số rất cao, dày đặc.
Tài liệu điện tử có thể chứa đựng một lượng thông tin rất lớn, nhưngquan trọng hơn là nó có thể chứa đựng những phương tiện truyền đạthỗn hợp như hình ảnh động, âm thanh, hoạt động của đối tượng mà tàiliệu in ấn truyền thống không thể làm được
- Thuận lợi trong bảo trì: Nguồn tài liệu số, tài liệu điện tử có khả năng
tái sử dụng, tính liên tác (Interoperability) trong các thao tác cập nhậtmới, loại bỏ trùng lặp, lỗi thời hay sắp xếp lại
- Bảo hiểm và an toàn: Trong nhiều trường hợp, đặc biệt là các tài liệu
quý hiếm, bản gốc của các tài liệu cần được bảo vệ thì phiên bản tài liệu
số là sự thay thế tối ưu cần thiết cho người dùng tin khai thác
- Chức năng: Một tập dữ liệu số cho phép người sử dụng tiếp cận ấn bản
và phân tích nội dung của chúng bằng các phương thức mới
Trang 141.1.3 Ý nghĩa của tài liệu số
- Tài liệu số và các bộ sưu tập số trong các thư viện sẽ tạo ra một môitrường và cơ hội bình đẳng nhằm mở rộng cho tất cả mọi người đều có cơ hội
sử dụng nguồn tài liệu phục vụ học tập, nghiên cứu bởi các tài liệu số không bịgiới hạn về không gian và thời gian Nó loại bỏ đi những khoảng cách tri thứcgiữa người giàu và nghèo, giữa thành phố và nông thôn, và giữa các quốc giavới nhau Nó giúp cho việc sử dụng cùng một lúc, bởi nhiều người trở nên dễdàng và linh hoạt hơn, không phụ thuộc vào số lượng người dùng, không gianđịa lý và thời gian sử dụng
- Nó giúp tiết kiệm thời gian và chi phí: Cơ quan thông tin – thư viện đỡtốn kém nhiều khoản kinh phí cho xây dựng kho tàng, bổ sung tài liệu, bảoquản và kinh phí trả lương cho nhân viên phục vụ Hơn thế nữa, nó tạo điềukiện cho người dùng tin dễ dành tiếp cận, tiết kiệm thời gian, tiền bạc trong tìm
và sử dụng thông tin
- Khi tài liệu số và các bộ sưu tập số có thể kết hợp với các tài liệu truyềnthống, các dịch vụ thư viện truyền thống sẽ phục vụ có hiệu quả hơn cho đổimới và nâng cao chất lượng phục vụ đại đa số đối tượng người dùng tin Giúpngười dùng tin chủ động trong sử dụng thư viện là công cụ cho việc học tập,nghiên cứu của mình Như vậy, các nguồn tài liệu số góp phần giải phóng kiếnthức, mở rộng đối tượng phục vụ
- TLS và các bộ sưu tập số là một lựa chọn tối ưu để bảo tồn lâu dài cáctài liệu quý hiếm, ngăn chặn những rủi ro hủy hoại do thời gian, thiên tai, khíhậu và tần suất sử dụng
1.2 Vai trò của công tác phát triển, khai thác và chia sẻ liệu số trong phục
vụ giáo dục và đào tạo tại các trường đại học
Nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực để đáp ứng nhu cầu lao động
xã hội là một nhiệm vụ nặng nề của các trường đại học, cao đẳng trong cả
Trang 15nước Với vai trò cung cấp và quản lý thông tin phục vụ giáo dục và học tập,các cơ quan thông tin – thư viện cần nhận thức rõ “đáp ứng nhu cầu thông tinmột cách có hiệu quả như thế nào từ nhiều nguồn thông qua công nghệ mới”.Với sự phát triển của tài liệu số, thông tin trực tuyến thì việc phát triển các tàiliệu số nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng của người dùng tin càng trở lên bứcthiết với các thư viện đại học Không những vậy, việc phát triển tài liệu sốtrong các thư viện hiện nay là một xu thế tất yếu và gắn liền với việc đẩy mạnhquá trình tự động hóa, hiện đại hoạt động thông tin – thư viện.
Vấn đề phát triển tài liệu số và các bộ sưu tập số đang là đề tài quan trọngđối với các thư viện đại học Việt Nam Nhiều nơi đã nhận thức được vai tròquan trọng của việc phát triển nguồn tài liệu này và đã có những bước đi khởiđầu cho quá trình đó Tuy nhiên cũng cần phải thấy sự hạn chế trong các chínhsách phát triển tài liệu số, sự khó khăn trong các nguồn lực phục vụ cho côngtác này tại các thư viện
Có nhiều phương thức khác nhau để phát triển nguồn tài liệu số tại thưviện các trường đại học ở nước ta Dựa theo phương thức mua, bán thì thườngtập trung vào một số nguồn tài liệu là các tạp chí, e-book có thời hạn sử dụnghạn chế và chủ yếu nguồn tiền từ các dự án đầu tư; Dựa theo phương thức liênkết, trao đổi thì các thư viện đại học hiện chưa thực hiện được do còn hạn chế
về nguồn tin, hạn chế trong việc liên kết thành một hệ thống thống nhất…; Dựatheo phương thức khai thác trực tuyến, cũng chỉ giới hạn ở một phạm vi hẹpvới các trang thông tin trực tuyến mở; Dựa theo phương thức số hóa các tàiliệu sẵn có hoặc được thu thập là hướng đi đúng đắn nhất nhưng cũng cần lưu
ý tới vấn đề kinh phí, nhân lực và kỹ thuật
Trang 16Một vấn đề khác cần được quan tâm, đó là khai thác và chia sẻ tài liệu số
vó vai trò gì? Như thế nào? Và được tổ chức ra sao trong một quy mô còn hạnchế như tại Việt Nam Vấn đề khai thác, chia sẻ tài liệu số của cơ quan thôngtin – thư viện là điều cốt lõi để kiểm chứng tính hiệu quả của dự án xây dựngnguồn tài liệu số, cho thấy tính hữu ích của một nguồn tin hiện đại và phù hợpvới nhu cầu của người dùng tin hay không Nó cũng cho thấy tiềm lực thôngtin số của thư viện đó Vì vậy vấn đề khai thác, chia sẻ tài liệu số được các thưviện đặc biệt quan tâm
Khai thác tài liệu số thường được dùng cho những người dùng tin củachính thư viện đó Người dùng tin khi có tài khoản tại thư viện có thể tiếp cậntới mọi nguồn tài liệu số của thư viện thông qua các sản phẩm và dịch vụ hiện
có của thư viện đó Đây là những người dùng chính trong khai thác nguồn tàiliệu số của thư viện
Chia sẻ tài liệu số là một dạng của chia sẻ nguồn lực thông tin – thư viện.Theo Allen Ken: Chia sẻ nguồn lực thông tin là biểu thị một phương thứchoạt động nhờ đó các chức năng thư viện được nhiều thư viện cùng chia sẻ
Còn theo Philip Senell: Chia sẻ nguồn lực chỉ là một hình thức mới củathuật ngữ đã quen thuộc, đó là hợp tác thư viện
Theo tiến sỹ Lê Văn Viết: “ Mượn, chia sẻ tài nguyên thông tin giữa cácthư viện là hình thức bạn đọc khi sử dụng nguồn lực thông tin của các thư viện,
cơ quan thông tin khác trong cả nước lẫn nước ngoài để đáp ứng nhu cầu đọc
và đáp ứng nhu cầu đọc, thông tin của người dùng tin thư viện mình Như vậy
có thể mượn, chia sẻ thông tin trong nước và mượn chia sẻ thông tin quốc tế.Mượn, chia sẻ tài liệu thông tin giữa các thư viện có mục đích tạo ra nhữngđiều kiện tốt nhất để thảo mãn một cách toàn diện và kịp thời những yêu cầu về
Trang 17tài liệu, thông tin của các cơ quan Đảng và Nhà nước, các tổ chức kinh tế, khoahọc, giáo dục, văn hóa, các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội, xã hội nghềnghiệp và cá nhân, đồng thời phát huy hiệu quả cao nhất vốn tài liệu, thông tincủa các thư viện, cơ quan thông tin trong nước”.
Trong quy mô việc cùng khai thác, chia sẻ nguồn tài liệu số giữa các thưviện đại học với nhau, thì việc tốn kém kinh phí là không đáng kể Thậm chí,việc chia sẻ này còn giúp các thư viện tránh được sự trùng lặp và lãng phí Ýtưởng và giá trị của việc chia sẻ thông tin đã được Bernard Shaw diễn đạt hìnhtượng rằng: “Nếu mỗi người có một quả táo mà trao đổi với nhau thì kết cụmỗi người vẫn chỉ có một quả táo Nhưng nếu mỗi người có một ý tưởng vàtrao đổi với nhau thì kết quả mỗi người sẽ có hai ý tưởng”
Công cụ hỗ trợ trực tiếp cho việc khai thác, chia sẻ tài liệu số là máy tính,mạng máy tính và các phương tiện đa phương tiện khác như: máy đọc đĩa, máyquét… Đồng thời cần có sự hỗ trợ của phần mềm nhằm đọc, chuyển tải các tàiliệu số
Như vậy, công tác phát triển, khai thác và chia sẻ nguồn tài liệu số có mốiliên hệ chặt chẽ với nhau Sự tác động qua lại giữa chúng giúp củng cố cácnguồn tin số hóa của thư viện Góp phần quan trọng vào việc đổi mới và nângcao chất lượng giáo dục, đào tạo tại các trường đại học hiện nay
Trang 181.3 Trung tâm thông tin - thư viện Đại học Giao thông Vận tải trước
nhiệm vụ phát triển, khai thác và chia sẻ nguồn tài liệu số
1.3.1 Vài nét về Trung tâm Thông tin – Thư viện Đại học Giao thông Vận Tải
1.3.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Trung tâm Thông tin – Thư viện Đại học Giao thông Vận tải
Quá trình hình thành và phát triển của Trung tâm Thông tin – Thư việnĐại học Giao thông vận tải gắn liền cùng với quá trình ra đời và phát triển củaTrường Đại học Giao thông Vận tải Ban đầu vào năm đầu thành lập, năm
1962 Trung tâm chỉ là một bộ phận nhỏ trực thuộc Ban Giáo vụ của trườnggồm có 2 cán bộ đảm trách mọi công việc của thư viện với cơ sở vật chất vàvốn tài liệu rất nghèo nàn
Trong những năm chống Mỹ, Trung tâm cùng với Nhà trường nhiều lần
sơ tán để phục vụ đảm bảo việc dạy và học được thông suốt
Năm 1980 bộ phận Thư viện của Nhà trường được tách ra thành 2 bộ phậnkhác nhau là Tổ Giáo trình gồm 5 người thuộc Phòng Giáo vụ và Tổ Thư việngồm 7 người thuộc Ban nghiên cứu khoa học Đến năm 1984, được chính thứctrở thành một đơn vị độc lập trực thuộc Ban Giám hiệu Nhà trường
Theo Quyết định số 73QĐ – BGD&ĐT ngày 21/02/2002 Thư viện Đạihọc Giao thông Vận tải được chính thức đổi tên thành Trung tâm Thông tin –Thư viện Đại học Giao thông Vận tải (sau đây gọi tắt là Trung tâm)
Cuối năm 2002, đầu năm 2003 Trung tâm được thụ hưởng dự án đầu tư ởmức A, B của Ngân hàng Thế giới nên đã được đầu tư về trang thiết bị hiện đại
và hệ thống máy tính nhằm nâng cao chất lượng hoạt động thông tin thư viện
Trang 19Năm 2004 với dự án giáo dục ở mức C đã đưa Trung tâm trở thành một trongnhững thư viện hiện đại hàng đầu tại khu vực miền Bắc.
Với những thành tích đã đạt được, Trung tâm đã nhiều lần được Nhàtrường, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Giao thông Vận tải khen thưởng và độngviên
1.3.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của Trung tâm
Chức năng:
Trung tâm Thông tin Thư viện Trường Đại học Giao thông Vận tải vì vậy
có những chức năng cơ bản sau:
- Chức năng phục vụ nguồn tài liệu, thông tin cho công tác giáo dục, đàotạo và nghiên cứu khoa học, xây dựng nguồn nhân lực có đủ trình độ đápứng xây dựng và phát triển giao thông vận tải của đất nước
- Chức năng nghiên cứu, thu thập, bổ sung, xứ lý tài liệu khoa học kỹthuật công nghệ giao thông vận tải và các tài liệu khác thuộc các lĩnhvực có liên quan phục vụ giảng dạy, học tập, nghiên cứu khoa học củacán bộ, giảng viên và sinh viên nhà trường
Trang 20- Xây dựng hệ thống tra cứu, tìm tin, thiết lập mạng lưới truy nhập và tìmtin tự động hóa, tổ chức cho bạn đọc khai thác và sử dụng hợp lý, thuậnlợi và có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin của Trung tâm
- Quản lý và sử dụng hiệu quả tài sản của Trung tâm được giao, gồm toàn
bộ hệ thống cơ sở vật chất trang thiết bị, hệ thống tài nguyên thông tin
- Phát triển mối quan hệ hợp tác với các thư viện, cơ quan thông tin, tổchức khoa học, xuất bản về lĩnh vực giao thông vận tải trong và ngoàinước
- Nghiên cứu, đẩy mạnh phát triển chuyên môn nghiệp vụ thư viện
1.3.1.3 Cơ cấu tổ chức và đội ngũ cán bộ của Trung tâm
Cơ cấu tổ chức:
Hiện nay, ngoài Ban Giám đốc có nhiệm vụ điều hành và quản lý chungcác hoạt động cơ bản thì Trung tâm còn được phân chia ra các phòng ban chứcnăng với các nhiệm vụ cụ thể sau:
- Phòng nghiệp vụ (Tầng 4)
- Phòng mượn (Tầng 4)
- Hệ thống các phòng đọc bao gồm: Phòng đọc tiếng Việt (Tầng 5); phòngđọc ngoại văn, báo – tạp chí, luận án, luận văn (Tầng 6); phòng đọc điện tử(Tầng 7) Các phòng đọc này đều được tổ chức theo hình thức phòng đọc mở,phục vụ người dùng tin sử dụng tài liệu tại chỗ
Cơ cấu tổ chức của Trung tâm được thể hiện qua sơ đồ sau:
Trang 21Đội ngũ cán bộ:
Hiện nay Trung tâm Thông tin Thư viện Đại học Giao thông Vận tải bao gồm
19 cán bộ Trong đó:
- Ban Giám đốc: 2 người
- Nhân viên nghiệp vụ và phục vụ: 17 người
Số lượng cán bộ được bố trí như sau:
- Ban Giám đốc: 02 người
- Phòng nghiệp vụ: 05 người
- Phòng mượn: 04 người
- Phòng đọc tiếng Việt: 03 người
- Phòng đọc ngoại văn, báo – tạp chí, luận văn: 02 người
Phòng đọc điện tử
Phòng hội thảo
Phòng mượn
Phòng đọc tiếng Việt
Phòng đọc sách ngoại, luận văn
BAN GIÁM ĐỐC
Trang 22Do đội ngũ cán bộ Trung tâm còn thiếu về số lượng trong khi lại phải thựchiện một khối lượng công việc rất lớn, quản lý một trung tâm với các trangthiết bị hiện đại nên về mặt tổ chức lao động theo các phòng ban chưa thậtchuyên môn hóa Cán bộ giữa các phòng nghiệp vụ, phòng đọc và mượn liêntục phải luân chuyển cho nhau
1.3.1.4 Cơ sở vật chất, trang thiết bị của Trung tâm
Trung tâm hiện nay đang có một hệ thống cơ sở vật chất khá hiện đại vàđồng bộ Hầu hết các trang thiết bị của Trung tâm đều được thụ hưởng từ dự án
ở mức C của Ngân hàng thế giới năm 2003, các trang thiết bị mới và cấu hình
ổn định từ hệ thống máy chủ, máy trạm, hệ thống an ninh, bàn ghế, giá sách…Nằm trong hệ thống toàn nhà 7 tầng (nhà A8), Trung tâm có diện tích gần
Trang 23Tất cả các phòng đọc và mượn của Trung tâm đều được trang bị hệ thốngmáy điều hòa nhiệt độ với 13 tủ điều hòa nhiệt độ 50.000 BTU và 20 máy điềuhòa nhiệt độ 18.000 BTU.
Hệ thống máy tính: Trung tâm hiện có 17 máy chủ, 140 máy trạm phục vụcông tác nghiệp vụ của cán bộ, tra cứu của sinh viên và tại phòng đọc điện tử
Hệ thống máy in, máy photo được bố trí tại tất cả các phòng nghiệp vụ vàphòng đọc nhằm phục vụ công tác nghiệp vụ và nhu cầu cảu bạn đọc
Hệ thống an ninh: Tất cả các phòng của Trung tâm đều được lắp đặtcamera phục vụ quản lý bạn đọc Với 30 camera có khả năng lưu trữ hình ảnh,được lắp đặt khoa học
Tại các phòng đọc mở tại tầng 5 và 6 đều được bố trí hệ thống cổng anninh kép RFID nhằm kiểm soát tài liệu, kiểm soát bạn đọc ra vào phòng đọc
Hệ thống máy quét, máy đọc mã vạch tại các phòng nghiệp vu, phòngmượn và các phòng đọc
Trung tâm hiện nay đang sử dụng phần mềm quản trị thư viện tích hợpIlib 4.0 của công ty CMC Phần mềm được ứng dụng trong hầu hết các hoạtđộng nghiệp vụ, công tác phục vụ người dùng tin, giúp ích rất nhiều cho Trungtâm trong việc tự động hóa các hoạt động thông tin – thư viện Phần mềm gồm
8 module nhưng hiện Trung tâm chỉ sử dụng một số module như: Biên mục bổsung, mượn trả, thống kê lượt bạn đọc, quản trị hệ thống…
Trung tâm hiện cũng sử dụng phần mềm quản lý dữ liệu số Dlib nhằmgiúp quản lý và khai thác nguồn tài liệu số của mình
1.3.1.5 Nguồn lực thông tin của Trung tâm
Trung tâm Thông tin Thư viện Đại học Giao Thông Vận tải đã khôngngừng xây dựng và phát triển được một nguồn lực tài nguyên thông tin lớnnhằm đáp ứng nhu cầu của người dùng tin trong trường Vốn tài liệu của Trung
Trang 24tâm rất phong phú thuộc tất cả các ngành đào tạo và nghiên cứu của trườnghiện nay
Bao gồm tất cả các loại tài liệu được xuất bản, in ấn, photo trên giấy theophương pháp in ấn truyền thống như: sách, báo, tạp chí, luận án, luận văn…Cụthể như sau:
Sách giáo trình: 3495 đầu = 84.484 bản
Sách tham khảo: 15.243 đầu = 48.857 bản
Tài liệu tra cứu: 3050 đầu = 3421 bản
Tạp chí: 893 đầu = 3120 bản
Bài giảng: 162 đầu = 324 bản
Luận văn luận án: Trên 2300 bản
Nghiên cứu khoa học: 426 đầu = 426 bản
Báo - tạp chí: gần 200 đầu
+ Báo, tạp chí Tiếng Việt: 77 đầu
+ Tạp chí ngoại văn: 20 đầu
+ Tạp chí đóng quyển: 4191 cuốn
Tài liệu hiện đại:
CSDL thư mục gồm: Tổng số hơn 18962 biểu ghi trong đó:
+ CSDL sách: 14943 biểu ghi
+ CSDL báo, tạp chí đóng quyển: 1933 biểu ghi
+ CSDL luận án, luận văn, đề tài nghiên cứu khoa học: gần 2450 biểu ghi
+ CSDL sách lưu chiểu: 732 biểu ghi
CSDL toàn văn gồm:
Trang 25681 đầu giáo trình, luận án, luận văn và báo cáo khoa học.
8 CSDL toàn văn tiếng Anh – Mỹ, như: CSDL tiêu chuẩn Giao thông Vận tải;Các tiêu chuẩn Giao thông Vận tải của Viện tiêu chuẩn Anh; CSDL DEL…
1.3.1.6 Đặc điểm người dùng tin và nhu cầu tin tại Trung tâm
Người dùng tin là một trong bốn yếu tố cấu thành quan trọng của các cơquan thông tin thư viện Vì vậy, một trong những nhiệm vụ quan trọng củaTrung tâm Thông tin Thư viện Đại học Giao thông vận tải là phục vụ tốt nhấtnhu cầu tin của người dùng tin Đây là mục đích cuối cùng, quan trọng nhấtcủa Trung tâm
Đối tượng người dùng tin chính của Trung tâm là cán bộ quản lý, nghiêncứu, đội ngũ giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên đanghọc tập tại Trường Đại học Giao thông Vận tải
Hiện nay theo thống kê số lượng người dùng tin tại Trung tâm là: khoảngtrên 10000 thẻ Trong đó chủ yếu là sinh viên, học viên cao học và nghiên cứusinh
Nhóm đối tượng người dùng tin là cán bộ quản lý, giảng viên và nghiên cứu
Nhóm đối tượng người dùng tin này là những người có trình độ chuyênmôn, sử dụng thông tin phục vụ công tác quản lý, giảng dạy và nghiên cứukhoa học Nhóm người dùng tin này chiếm khoảng 20 % cơ cấu NDT tại Trungtâm, là những cán bộ có học hàm học vị là Giáo sư, phó giáo sư, tiến sỹ, thạc
sỹ, cao học…
Đặc điểm nhu cầu tin của học là những thông tin có tính chất chọn lọccao, có phạm vi bao quát rộng, những tài liệu có giá trị nghiên cứu và tập trungvào những vấn đề mới, mang tính sáng tạo đột phá trong ngành giao thông vậntải
Trang 26Các tài liệu phản ánh xu thế phát triển trong tương lai của các ngành giaothông vận tải trong nước và thế giới.
Các tài liệu phản ánh những tiến bộ trong công nghệ xây dựng, thiết kế,thi công các công trình giao thông mà Việt Nam đã và đang ứng dụng
Các tài liệu chỉ đạo, lãnh đạo, hoạch định chính sách về giáo dục đại học,giao thông vận tải của Đảng và Nhà nước
Đối với nhóm người dùng tin này có những đặc thù riêng về tuổi tác, thờigian và cương vị công tác nên cần có sự khác nhau về sử dụng các loại hình tàiliệu Với họ thường quan tâm đến các tài liệu sách, báo, tạp chí và các côngtrình nghiên cứu lớn Bên cạnh đó là các nguồn tin trực tuyến, internet và tiếngnước ngoài
Nhóm người dùng tin là học viên cao học, nghiên cứu sinh, sinh viên
Đây là nhóm đối tượng người dùng tin chủ yếu, chiếm 80% cơ cấu ngườidùng tin tại Trung tâm Theo một số liệu thống kê mới đây thì nhóm ngườidùng tin này có khoảng 80% là dành từ 3 – 5 giờ/ngày và dành từ 1 – 3lần/tuần để đến thư viện mượn và đọc sách
Với mục tiêu tăng cường, mở rộng quy mô và phạm vi ngành nghề đàotạo nên số lượng học viên, sinh viên ngày càng đông đảo nên nhu cầu về sửdụng thư viện và khai thác thông tin là rất lớn Họ đều có nhu cầu sử dụngthông tin tư liệu để học tập, nghiên cứu và trao đổi kiến thức
Nội dung thông tin mà họ quan tâm đến là các thông tin mang tính nềntảng kiến thưc cơ sở, lý thuyết chuyên ngành mình đang được đào tạo và theohọc Gồm các lĩnh vực như: Giao thông đường bộ, giao thông đường sắt, giaothông hàng không, kinh tế giao thông, kinh tế tài chính, máy và chế tạo máy,điện tử…
Trang 27Đối với các loại hình thông tin giải trí đối với nhóm người dùng tin nàycũng có nhu cầu lớn, được họ sử dụng sau mỗi giờ học hay vào cuối tuần Vớicác vấn đề về văn hóa, thể thao và du lịch.
Loại hình thông tin ưa thích của họ là những loại hình mang tính chất trựcquan, trực tuyến, qua đĩa CD…
1.3.2 Đặc điểm về nguồn tài liệu số tại Trung tâm
Sau giai đoạn được đầu tư nâng cấp 2002 – 2004, Trung tâm Thông tin –Thư viện Đại học Giao thông Vận tải đã có bước chuyển mình mạnh mẽ cả vềchất và lượng Với những gì đã được đầu tư, Trung tâm đã có được một hệthống cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, vốn tài liệu phong phú, đa dạng Trungtâm dần được hiện đại hóa, tự động hóa trong nhiều khâu nghiệp vụ và phục vụngười dùng tin Trung tâm được đánh giá là một trong những cơ sở thư việnhiện đại hàng đầu của hệ thống thư viện đại học các tỉnh phía Bắc
Trung tâm cũng liên tục bổ sung, phát triển các nguồn tài liệu phục vụcông tác giáo dục và đào tạo của Nhà trường Nhận thức được tầm quan trọngcủa các nguồn tài liệu số - tài liệu điện tử trong việc học tập, nghiên cứu củangười dùng tin trong trường và đáp ứng cho sự phát triển mới; Trung tâm đãtập trung mạnh cho việc xây dựng, phát triển các loại hình cơ sở dữ liệu sốhiện đại dựa trên các phần mềm quản trị thư viện Ilib và phần mềm thư viện sốDlib
Đây là một dạng tài liệu quan trọng đã và đang được Trung tâm đặc biệtquan tâm, tiếp tục xây dựng và phát triển Hiện nay tại Trung tâm cũng đãbước đầu xây dựng được các loại hình CSDL số, kết nối mạng LAN (Mạng nộibộ), WAN (Mạng diện rộng), INTERNET (Mạng toàn cầu) Trung tâm sử
Trang 28dụng phần mềm Ilib 4.0 và phần mềm Dlib nhằm phục vụ công tác phát triển,duy trì, quản lý và phục vụ tra cứu nhanh chóng, cập nhật thường xuyên.
Nguồn tài liệu số - tài liệu điện tử của Trung tâm Thông tin - Thư việnĐại học Giao thông Vận tải giờ đây khá phong phú, đa dạng bao gồm: CácCSDL thư mục, các CSDL toàn văn (trực tuyến và offline), một số sách điện tử
E – Books, hệ thống các đĩa CD-ROM, nguồn tin trực tuyến trên mạngInternet…
Hệ thống CSDL thư mục:
Trước hết, cơ sở dữ liệu là tập hợp các dữ liệu về các đối tượng cần được quản
lý, được lưu giữ đồng thời trên các vật mang tin của máy tính điện tử và đượcquản lý theo một cơ chế thống nhất nhằm giúp cho việc truy cập và xử lý dữliệu được dễ dàng và nhanh chóng
Hiện nay, Trung tâm đã xây dựng được 19780 biểu ghi thư mục Trong đó:
- CSDL sách: 14943 biểu ghi, trong đó:
Sách lẻ: Trên 8990 biểu ghi
Sách bộ biểu ghi chung: 1121 biểu ghi
Sách bộ biểu ghi riêng: 4832 biểu ghi
- CSDL báo – tạp chí: 1933 biểu ghi, trong đó:
Báo – Tạp chí: hơn 461 biểu ghi
Báo – Tạp chí đóng quyển: 1472 biểu ghi
- CSDL luận án, luận văn: trên 2350 biểu ghi, trong đó:
Trang 29Luận án: trên 48 biểu ghi.
Luận văn: trên 1748 biểu ghi
- CSDL đề tài nghiên cứu khoa học: 554 biểu ghi
Cơ cấu, số lượng các loại CSDL thư mục tại TTTT-TV ĐHGTVT được thểhiện trong bảng sau:
- Trung tâm hiện nay cũng số hóa được trên 600 tên luận án, luận văn, đềtài nghiên cứu khoa học từ cấp Bộ trở lên
Hệ thống CSDL trực tuyến:
Bên cạnh các CSDL do Trung tâm tự xây dựng, TTTT-TV ĐHGTVT còn
có các tài nguyên thông tin rất lớn và phong phú qua 8 CSDL trực tuyến Tất
Trang 30cả các CSDL này đều bằng tiếng Anh Đây là các CSDL điện tử do Trung tâmmua từ Dự án giáo dục đại học mức C từ nước ngoài Tuy nhiên trong số cácCSDL trực tuyến này thì có một số CSDL đã hết hạn truy cập từ cuối năm
2009, một số phần của các CSDL được Trung tâm tải về Các CSDL này baogồm:
1 CSDL Tiêu chuẩn Giao thông vận tải: Đây là CSDL bao gồm các tiêu chuẩn
của Hiệp hội kỹ thuật đường sắt và bảo trì đường bộ Mỹ được sử dụng trongthiết kế, xây dựng, bảo trì, nâng cấp và sửa chữa đường sắt, các công trìnhđường sắt, đường bộ và hầm…các tiêu chuẩn cho việc xây dựng đường caotốc, đường đô thị, kiểm soát tiếng ồn trong giao thông, biển báo tín hiệu giaothông…
2 CSDL Tiêu chuẩn giao thông vận tải của Viện tiêu chuẩn Anh (BSI): Đây là
CSDL của Viện Tiêu chuẩn Anh thuộc các lĩnh vực về giao thông đường bộ,
kỹ thuật đường sắt, kỹ thuật máy bay và các phương tiện hàng không khác,thuộc kiến thức về đóng tàu và kiến trúc hàng hải…
3 Tạp chí điện tử của Viện điện – Điện tử - Kỹ thuật Mỹ (IEEASPP Online-All Society Periodicals Package): Đây là một CSDL bao gồm hơn 118 tạp chí
chuyên ngành điện, điện tử và hơn 80.000 bài báo của hơn 50.000 tác giả làcác nhà khoa học, kỹ sư, nghiên cứu và nhà báo về lĩnh vực điện, kỹ thuật điệntại Mỹ và trên thế giới Toàn bộ sưu tập này bao gồm gần 1 triệu tài liệu toànvăn dạng file PDF
4 CSDL Tiêu chuẩn về giao thông vận tải của Viện tiêu chuẩn Anh (BSI):
CSDL này bao gồm 20 tập tài liệu toàn văn dạng file PDF về tiêu chuẩn tronggiao thông vận tải của Viện tiêu chuẩn Anh do Nhà xuất bản British StandardInstitution cung cấp
Trang 315 Tạp chí điện tử toàn văn của Hội kỹ thuật dân dụng Mỹ (ASCE): Đây là
CSDL cung cấp cho người dùng tin tiếp cận đến trên 30 tạp chí toàn văn về kỹthuật dân dụng, thông tin hồi cố về các kỹ thuật thuộc lĩnh vực dân dụng
6 Sách điện tử eBrary: ENGINEERING & TECHNOGY Subject Collection:
Khi người dùng tin có thể truy cập vào trang Web cung cấp sách điện tử này đểtiếp cận tới gần 2000 đầu sách về kỹ thuật cơ khí, kỹ thuật hóa học, công nghệnanno, chế tạo máy hay điều khiển học…
7 Sách điện tử KNOVEL: ENGINEERING Subject Area Collection: Đây là
CSDL cung cấp 377 cuốn sách điện tử tương tác thuộc 7 chủ đề lớn:
Điện và kỹ thuật điện
Cơ học và kỹ thuật cơ học
Điện tử và chất bán dẫn
Kỹ thuật hàng không và Rada
Môi trường và công nghệ môi trường
Vật liệu xây dựng và xây dựng dân dụng
Kỹ thuật tổng quát
8 Sách điện tử: Digital Engineering Library (DEL)
9 CSDL dùng thử: SpringerMeterials
Hệ thống CSDL Offline: Đây là các CSDL điện tử phong phú với nội dung
chủ yếu về các lĩnh vực giao thông vận tải được Trung tâm tải về từ các CSDLnước ngoài sau khi hết hợp đồng khai thác trực tuyến về máy chủ để xử lýnghiệp vụ và xây dựng các CSDL Offline
Trang 32Nguồn thông tin trên mạng Internet: Bên cạnh các nguồn tài liệu toàn văn từ
các CSDL, Trung tâm còn phục vụ người dùng tin các nguồn tin phong phú từcác trang mạng Internet Gắn liền với một số trang tìm kiếm thông thường như:http://www.vista.gov.com
http://www.google.com
http://www.yahoo.com
http://www.vinaseek.com
http://www.user.gru.net
Đĩa CD-ROM: Đây là một thiết bị lưu trữ thông tin hiện đại, phổ biến, dễ thực
hiện, chúng được sử dụng để lưu trữ dữ liệu dưới dạng: văn bản, âm thanh,hình ảnh…Với một đĩa CD-ROM có dung lượng trên dưới 700 Mb tươngđương với khoảng 300.000 trang giấy khổ A4 Tại đây, người dùng tin có thểkhai thác thông tin trên đĩa CD-Rom thông qua hệ thống máy tính của Trungtâm tại Phòng đọc điện tử Hiện nay, Trung tâm đang tiếp tục xây dựng cácCSDL trên đĩa CD-ROM để có thể lưu trữ an toàn dữ liệu Đối tượng dữ liệuđược quản lý trong các đĩa là các luận văn thạc sỹ, luận án tiến sỹ, các đề tàinghiên cứu khoa học trong và ngoài trường được thu thập Hiện nay số lượngđĩa CD-ROM tại Trung tâm có số lượng khoảng trên 2500 đĩa
NỘI DUNG
Trang 33CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN, KHAI THÁC
VÀ CHIA SẺ NGUỒN TÀI LIỆU SỐ TẠI TRUNG TÂM
THÔNG TIN - THƯ VIỆN ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI
2.1 Các yếu tố tác động đến công tác phát triển, khai thác và chia sẻ tài
liệu số tại Trung tâm
2.1.1 Yếu tố chính sách, cơ sở pháp lý về sự nghiệp thông tin-thư viện
Trong những năm gần đây, được sự quan tâm chỉ đạo của Đảng và Nhànước, ngành văn hóa nước nhà ngày càng đạt được những thành tựu quantrọng, phát triển mạnh mẽ về mọi mặt Hoạt động thông tin – thư viện cũngđược sự quan tâm đó, ngày càng phát triển đáp ứng nhu cầu thông tin của xãhội Chính sách của Đảng và Nhà nước có những tác động hết sức to lớn đến
sự nghiệp thư viện nước ta
Để đáp ứng tốt hơn nhu cầu thông tin của người dùng tin thì các loại hìnhsản phẩm, dịch vụ mới trong thư viện cũng ra đời Trong đó có tài liệu số, tàiliệu điện tử đã góp phần to lớn làm thay đổi bộ mặt của thư viện Việt Namngày nay Vì vậy, những chính sách của Đảng và Nhà nước cũng cần có nhữngtác động đến lĩnh vực này
Năm 1993, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 25/QĐ – TTg ngày19/01/1993 về một số chính sách nhằm xây dựng và đổi mới sự nghiệp văn hóanghệ thuật Việt Nam
Pháp lệnh Thư viện ra đời chính là cơ sở pháp lý quan trọng cho sự pháttriển của sự nghiệp thư viện Việt Nam Tại chương IV điều 23 của Pháp lênh
có quy định: “Thư viện hoạt động bằng ngân sách nhà nước, được thu phí vớicác hoạt động dịch vụ sao chụp, nhân bản tài liệu, biên dịch phù hợp với pháp
Trang 34luật về bảo vệ quyền tác giả, biên soạn thư mục; phục vụ tài liệu tại nhà haygửi qua bưu điện và một số dịch vụ khác theo yêu cầu của người sử dụng vốntài liệu thư viện”.
Chỉ thị số 58 – CT/TW của Bộ Chính trị về “ Đẩy mạnh ứng dụng côngnghệ thông tin phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đấtnước”
Quyết định số 56/2007/QĐ-TTg ngày 03/05/2007 về Chương trình pháttriển công nghiệp nội dung số Việt Nam đến năm 2010 Trong đó nhấn mạnhđến vai trò, tầm quan trọng của nội dung số, ngân sách và chính sách phục vụcho việc phát triển công nghiệp nội dung số, nguồn thông tin số
Trong những năm qua, các chính sách của Đảng và Nhà nước cũng quantâm chú trọng đến việc thúc đẩy ứng dụng công nghệ thông tin, xây dựng các
mô hình thư viện hiện đại:
- Chính sách phát triển nguồn lực thông tin: Xác định nguồn lực thông tinkhông chỉ bao gồm các tài liệu in ấn truyền thống mà cả các tài liệu điện tử, tàiliệu số như các CSDL trên CD-ROM, nguồn thông tin trên mạng
- Chính sách xây dựng mạng: xem đây là nhiệm vụ quan trọng cần thựchiện trong giai đoạn đến năm 2015, tập trung đầu tư các mạng nội bộ, mạngdiện rộng, tiến tới xây dựng mạng toàn quốc kết nối mọi thư viện
Trung tâm Thông tin – Thư viện Đại học Giao thông Vận tải luôn luônxác định việc phát triển một nguồn lực thông tin số, trong đó có các bộ sưu tập
số do Trung tâm tự xây dựng dựa trên cơ sở các tài liệu nội sinh thu được trongthời gian qua là một trong những mục tiêu hàng đầu Trên thực tế, mặc dù chưaxây dựng cho mình một chính sách cụ thể cho việc phát triển, khai thác và tiến
Trang 35tới chia sẻ nguồn tài liệu số cho mình nhưng Trung tâm cũng bắt đầu tiến hànhcác công việc ban đầu cần thiết cho công tác này Trong những năm qua, đặcbiệt là giai đoạn 2003 – 2006, Nhà trường đã dành nhiều chính sách ưu tiêncho phát triển thư viện, tạo điều kiện xây dựng cơ sở vật chất, tự động hóa hoạtđộng thông tin – thư viện và phát triển ban đầu một hệ thống nguồn tài liệu sốhóa Nhưng chính sách cụ thể chưa có nhưng nằm trong các chính sách chung
về phát triển nguồn lực thông tin có sự ưu tiên nhất định đối với nguồn tin sốhóa Chính sách trong việc nộp các CD-ROM bên cạnh nộp các cuốn luận án,luận văn lên thư viện là một minh chứng cụ thể; chính sách khuyến khíchgiảng viên, cán bộ chuyển bài giảng điện tử của mình lên thư viện hoặc chuyểncác tài liệu từ các hội thảo khoa học lên thư viện…
Để công tác này tại Trung tâm đạt hiệu quả cao, những chính sách về sựnghiệp thông tin – thư viện của Đảng và Nhà nước có vai trò định hướng,những chính sách sát sao của Ban Giám hiệu trường và Ban Giám đốc là cơ sởquan trọng
2.1.2 Yếu tố chức năng, loại hình và quy mô thư viện
Việc xây dựng mô hình thư viện số với các nguồn tài liệu số, các bộ sưutập số phụ thuộc rất lớn vào chức năng, loại hình và quy mô của mỗi thư viện.Mỗi thư viện phụ thuộc vào chức năng của mình để xác định mục tiêu,chiến lược để phát triển nguồn tài liệu số Từ chức năng của mình, thư viện lựachọn loại tài liệu nào là phù hợp nhất để số hóa hoặc xây dựng nên các bộ sưutập số Căn cứ vào loại hình, quy mô và năng lực để có chính sách phù hợp
Việc phát triển và khai thác, chia sẻ nguồn tài liệu số là một quá trình lâudài, đòi hỏi một nguồn lực từ nhân lực, kinh phí, công nghệ
Trang 36Xác định những mặt mạnh, mặt yếu của thư viện mình về công nghệ, nộidung, nguồn tin, nguồn nhân lực;
Nhận diện nhóm người dùng tin chủ yếu nhất sử dụng thường xuyên vànhiều nhất các bộ sưu tập số sau khi được hình thành Mỗi loại hình thư việnlại có những người dùng tin riêng và có nhu cầu tin khác biệt
Căn cứ vào loại hình, quy mô của thư viện mà có nguồn ngân sách vàchính sách phù hợp nhất Những hệ thống tài chính thường cho phép các thưviện hoạt động dưới một lượng ngân sách nhất định, tùy vào loại hình, quy mô
và mục đích tồn tại của thư viện đó
Mỗi loại hình thư viện có những nhiệm vụ, yêu cầu và chức năng khácnhau trong việc phát triển nguồn lực thông tin và phục vụ người dùng tin Quy
mô của thư viện cũng tác động rất nhiều đến việc xây dựng và phát triển cácnguồn tài liệu số Nói đến quy mô của thư viện là nói đến thực lực và tiềmnăng của thư viện Qua thực tế khảo sát, tại Trung tâm có một số điều kiệnnhất định về mặt chủ trương, công nghệ và nhân lực cho việc phát triển nguồntài liệu số và tiến tới xây dựng một thư viện số kết hợp với mô hình thư việntruyền thống được tự động hóa cao
Theo đó, là một loại hình thư viện trường học với chức năng thu thập, xử
lý và cung cấp nguồn tài liệu phục vụ học tập và nghiên cứu trong phạm vitrường đại học mình; Trung tâm thường ưu tiên cho việc phát triển các tài liệu
số có nội dung phù hợp với chương trình đào tạo của Nhà trường; ưu tiên pháttriển các tài liệu là các luận án, luận văn và các bài giảng trong trường; trướcmắt ưu tiên việc phục vụ cho cán bộ, giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viêntrong trường và tiến tới liên kết chia sẻ với các thư viện đại học khác
Trang 37Dựa vào loại hình và chức năng của mình mà Trung tâm xây dựng cácchính sách và có quan điểm phù hợp cho công tác phát triển tài liệu số, cungcấp các sản phẩm và dịch vụ gắn liền với quá trình khai thác và chia sẻ nguồntài liệu này.
Quy mô của Trung tâm hiện nay không phải là nhỏ, có thể nói là mộttrong những đơn vị lớn tại miền Bắc với vốn tài liệu phong phú, được đầu tưhợp lý và có cơ sở vật chất đầy đủ, hiện đại Điều đó tạo điều kiện cho Trungtâm phát triển tài liệu số của mình dựa vào phương thức mua, bán và số hóacác nguồn dữ liệu sẵn có của mình Bên cạnh đó, với quy mô là một thư việntrường đại học nằm trong cơ cấu trường học nên cũng có những điều kiện vềkinh phí, nhân lực và chính sách nằm trong cơ cấu này
2.1.3 Yếu tố người dùng tin và nhu cầu tin
Đối với Trung tâm, với những đối tượng người dùng tin đặc thù là cán bộgiảng viên, học viên và sinh viên nên việc phát triển các nguồn tài liệu số cầnphụ thuộc vào nhu cầu của những đối tượng này Dựa trên những chức năng,nhiệm vụ phục vụ giáo dục, đào tạo và nghiên cứu của Trường để xây dựng vàphát triển các nguồn tài liệu số phù hợp.Sự tác động của người dùng tin và nhucầu tin tới việc xây dựng, khai thác và chia sẻ nguồn tài liệu số tại Trung tâmthể hiện ở nhiều khía cạnh:
Nội dung của thông tin, nguồn tài liệu được cung cấp: Đối với những
nhóm người dùng tin khác nhau thì nhu cầu thông tin cũng khác nhau, thôngtin đặc trưng cho đối tượng – thuộc tính, thông tin cần được xử lý cũng khácnhau Điều đó phụ thuộc vào nhu cầu cụ thể của người dùng tin Đối với nguồntài liệu số, chúng có nội dung hết sức đa dạng, phong phú Và, không phải loạithông tin nào cũng được phát triển, xây dựng để trở thành một tài liệu số, mà
Trang 38từng cơ quan thư viện dựa vào đặc trưng nhu cầu người dùng tin của cơ quanmình mà có chính sách phù hợp trong việc phát triển nguồn tài liệu số, đặc biệt
là về nội dung của những tài liệu này Đối với Thư viện Đại học Giao thôngVận tải, các tài liệu số mà thư viện hướng tới là các tài liệu có nội dung về cáctiêu chuẩn trong ngành giao thông, vận tải, các kỹ thuật xây dựng tiên tiến vàđược cập nhật thường xuyên…
Hình thức thông tin được cung cấp: Đối với nguồn tài liệu số hình thức
mà người dùng tin thường sử dụng là trên máy tính điện tử, một số phương tiện
đa phương tiện Những hình thức này có thể là các CSDL thư mục trực tuyếnhay Offline, CSDL toàn văn, CSDL trên đĩa CD-ROM… Những hình thức nàyhiện nay lại rất được đa số người dùng tin của thư viên ưa chuộng
Hình thức cung cấp thông tin: Đối với đa phần người dùng tin hiện nay,
tâm lý của họ là được tiếp cận và sử dụng nguồn tin ngay tại nhà hoặc tại chínhnơi mình làm việc và thậm chí là bất kỳ đâu Tài liệu số và các bộ sưu tập sốhiện nay hoàn toàn đáp ứng được các yêu cầu này thông qua các hình thứccung cấp thông tin từ xa, thông tin trực tuyến, khai thác qua máy tính và mạngmáy tính cục bộ hoạc toàn cầu Trung tâm hiện nay cần mở rộng hơn các hìnhthức cung cấp thông tin của mình, trong đó có thông tin dạng số
2.1.4 Yếu tố kinh phí, đầu tư tài chính
Như đã nêu ở phần trên, những hệ thống tài chính thường cho phép cácthư viện hoạt động dưới một lượng ngân sách nhất định Việc phát triển các tàiliệu số thường gắn với việc mua các quyền sử dụng hoặc quyền được số hóa;việc mua các quyền sử dụng này thường được thực hiện dựa trên cơ sở hàngnăm Ngoại trừ mạng Internet cho phép truy cập miễn phí, các vấn đề mà
Trang 39người phát triển các nguồn tài liệu số gặp phải là khi tiến hành lập ngân sáchcho việc phát triển bộ sưu tập
Trên thực tế bất kỳ một hoạt động phát triển nguồn tài liệu số nào đều phụthuộc vào tính khả thi của các chính sách ngân sách Nhưng ngân sách tàichính của cơ quan không phải lúc nào cũng đáp ứng được yêu cầu của ngườixây dựng và nhu cầu sử dụng của người dùng tin Vì vậy, ngân sách cần đảmbảo được tính cân đối giữa các loại hình/khổ mẫu tài liệu và hình thức truy cập.Việc xây dựng chính sách về kinh phí và đầu tư về tài chính còn được xácđịnh bởi các yếu tố sau đây:
- Việc ai sẽ là người ra quyết định cho việc duyệt chi ngân sách và muanguồn tài liệu số của cơ quan Có thể đó chính là thủ trưởng của cơ quan,nhưng đó có thể là người đứng đầu của một hệ thống cơ quan sự nghiệp mà cơquan thư viện chỉ là một bộ phận trong đó Ví dụ: một Trung tâm Thông tin –Thư viện của một trường Đại học được duyệt chi ngân sách bởi Hiệu trưởngcủa trường đại học đó
- Giá cả của nguồn tài liệu điện tử, của bộ sưu tập đó thường cao hơn rấtnhiều so với các tài liệu in ấn truyền thống khác Nhưng xem xét đến nhữngyếu tố thuận lợi và những lợi ích to lớn mà các nguồn tài liệu này mang lạitrong tương lai thì xứng đáng để đầu tư ngân sách cho việc thuê, mua chúng.Cũng có những sản phẩm tài liệu số có trị giá hàng chục ngàn đô la và ngườimua bị buộc phải trả tiền thuê bao sử dụng dài hạn
- Sự dao động giá cả ở các nguồn tài liệu số hoàn toàn không thể dự đoánchính xác và nó có thể kéo tỷ lệ lạm phát gia tăng, làm giảm hoặc tăng giá trịcác “gói hàng” tài liệu số mà cơ quan đã mua
Trang 40Hoạt động của Trung tâm dựa hoàn toàn vào nguồn kinh phí do Nhàtrường cấp cho hàng năm Trong đó kinh phí cho việc phát triển các tài liệu sốcũng nằm trong nguồn kinh phí này Một số CSDL toàn văn hiện có của Trungtâm được mua bằng nguồn vốn tài trợ từ Dự án mức C những năm 2006 –2009.
Trung tâm hoàn toàn không có nguồn kinh phí cố định hàng năm dành chophát triển nguồn tài liệu số của mình
Thực tế, nguồn kinh phí hằng năm hoặc theo thời gian hoặc dự án choviệc phát triển nguồn tài liệu số tại Trung tâm chưa được quan tâm đúng mức.Không có một mức kinh phí cố định nào cho công việc này, vì vậy hiện nayviệc xác định đầu tư tài chính cố định cho công tác này tại Trung tâm cần đượcthực hiện nghiêm túc
Đối với công nghệ cho việc tạo lập và vận hành nguồn tài liệu số cần phải đápứng các yêu cầu:
- Công nghệ là công cụ, môi trường để đảm bảo tốt nhất cho các tài liệu
số sau khi được tạo lập sẽ dễ dàng cho duy trì, kiểm soát và thuận tiện chongười dùng tin tiếp cận, sử dụng;