LỜI CAM ĐOANEm xin cam đoan nội dung chuyên đề thực tập với đề tài “ Thúc đẩy xuất khẩu hàng may mặc sang thị trường Mỹ của Tổng Công ty Cổ phần dệt may Hà Nội HANOSIMEX” đã viết là kết
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan nội dung chuyên đề thực tập với đề tài “ Thúc đẩy xuất khẩu hàng may mặc sang thị trường Mỹ của Tổng Công ty Cổ phần dệt may Hà Nội (HANOSIMEX)” đã viết là kết quả nghiên cứu của cá
nhân, thu thập thông tin thực tế và một số tài liệu tham khảo khác về các lĩnh vực chuyên ngành dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Thị Hường.
Chuyên đề dưới đây không sao chép bất cứ chuyên đề thực tập nào khác Nếu vi phạm em xin chịu hoàn toàn trách nhiệm.
Hà Nội, ngày 20 tháng 5 năm 2016
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thanh Huyền
Trang 2MỤC LỤC
Trang 32 Hình 2.1 Cơ cấu tổ chức của HN Tổng Công ty cổ phần Dệt
May Hà Nội (HANOSIMEX)
38
3 Hình 2.2 Khái quát quy trình xuất khẩu hàng hoá trực tiếp
tại Tổng công ty cổ phần Dệt May Hà Nội
50
4 Bảng 2.1 Cơ cấu kim ngạch xuất khẩu theo khu vực thị
trường của Công ty giai đoạn 2011 - 2015
40
5 Bảng 2.2 Cơ cấu mặt hàng may mặc xuất khẩu của Công ty
giai đoạn 2011-2015
42
6 Bảng 2.3 Bảng 2.3 Cơ cấu hình thức xuất khẩu hàng may
mặc của Công ty giai đoạn 2011 – 2015
9 Bảng 3.1 Kế hoạch xuất khẩu hàng may mặc sang thị trường
Mỹ của Công ty dến năm 2020
73
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới và hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra ngày càng sâu rộng, đã và đang mang lại những cơ hội tốt cùng với những thách thức không nhỏ cho mỗi quốc gia trong thời gian qua, đòi hỏi mỗi quốc gia phải chủ động, tích cực tham gia để khai thác có hiệu quả các nguồn lực, để đạt được vị trí thuận lợi và ngày càng tăng trong phân công lao động quốc
tế Trong đó, đẩy mạnh xuất nhập khẩu là hoạt động quan trọng để đưa đất nước
hội nhập với nền kinh tế thế giới
Dệt may được coi là một trong những thế mạnh của nền công nghiệp Việt Nam đặc biệt là trong lĩnh vực xuất khẩu Với lợi thế riêng biệt như nguồn lao động dồi dào, vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên thuận lợi, ngành dệt may đã có nhiều đóng góp đáng kể cho sự phát triển của nền kinh tế quốc dân Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ngành dệt may càng chứng tỏ là một ngành mũi nhọn thể hiện qua kim ngạch xuất khẩu ngày càng tăng qua các năm và trong cơ cấu xuất khẩu ngành luôn chiếm tỉ trọng lớn Có thể nói ngành dệt may Việt Nam
đã có những bước đi khá vững chắc và đầy triển vọng nhưng so với tiềm năng vốn có và so với vị thế xuất khẩu của các nước trong khu vực thì Việt Nam vẫn cần phấn đấu rất nhiều Một trong những vấn đề đặt ra hiện nay của ngành dệt may xuất khẩu là tìm kiếm thị trường tiêu thụ
Là một thành viên trực thuộc Tập đoàn Dệt May Việt Nam, Tổng công ty Dệt May Hà Nội (Hanosimex) cũng đã có những đóng góp nhất định vào sự phát triển của Tập đoàn nói riêng cũng như của toàn ngành dệt may nói chung Trải qua hơn
30 năm hình thành và phát triển, Tổng công ty đã tạo được vị trí vững chắc trên thị trường nội địa và từng bước vươn ra thị trường quốc tế Xuất phát từ khó khăn chung trong việc khai thác thị trường của ngành Công ty đã và đang chú trọng thực hiện các biện pháp đẩy mạnh xuất khẩu sang các thị trường lớn, đặc biệt là thị trường có sức tiêu thụ cao như Mỹ Qua thời gian thực tập tại Tổng Công ty cổ phần Dệt May Hà Nội, nhận thấy được tầm quan trọng của việc đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm sang thị trường Hoa Kỳ, cùng với những kiến thức đã được học ở giảng
đường, em xin phép chọn và nghiên cứu đề tài : “Thúc đẩy xuất khẩu hàng may
mặc sang thị trường Mỹ của Tổng Công ty dệt may Hà Nội (HANOSIMEX)” làm
đề tài thực tập
Trang 52 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục tiêu
Mục tiêu của đề tài là phân tích và đánh giá thực trạng đẩy mạnh xuất khẩu hàng may mặc của Tổng Công ty Cổ phần dệt may Hà Nội, từ đó, đề xuất những giải pháp để đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu hàng may mặc của Tổng Công ty Cổ phần dệt may Hà Nội đến năm 2020
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Chương 1 Giải quyết được các vấn đề sau:
− Phân tích tổng quan về ngành may mặc cũng như tình hình xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam
− Phân tích đặc điểm của thị trường may mặc Mỹ
− Tầm quan trọng của đẩy mạnh xuất khẩu hàng may mặc sang thị trường
Mỹ của Tổng Công ty Cổ phần dệt may Hà Nội trong giai đoạn 2011 -2015
− Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu hàng may mặc sang thị trường Mỹ của Tổng công ty dệt may Hà Nội
Chương 2 Giải quyết được các vấn đề sau:
− Giới thiệu khái quát về quá trình hình thành và phát triển của Tổng Công
ty Cổ phần dệt may Hà Nội
− Phân tích thực trạng đẩy mạnh xuất khẩu hàng may mặc của Công ty sang thị trường Mỹ thông qua các khía cạnh: kết quả của hoạt động đẩy mạnh xuất khẩu sang các thị trường quốc tế nói chung và thị trường Mỹ nói riêng, các biện pháp đẩy mạnh xuất khẩu mà Công ty thực hiện trong giai đoạn 2011-2015
− Phân tích tình hình thực hiện các chỉ tiêu đánh giá của hoạt động đẩy mạnh xuất khẩu hàng may mặc sang thị trường Mỹ của Công ty giai đoạn 2011 – 2015
− Đánh giá những ưu điểm, những tồn tại và nguyên nhân của những tồn tại trong hoạt động thúc đẩy xuất khẩu hàng may mặc sang thị trường Mỹ của Công ty giai đoạn 2011 - 2015
Chương 3 Giải quyết được các vấn đề sau:
− Chỉ ra những cơ hội và thách thức đối với xuất khẩu hàng may mặc sang thị trường Mỹ
− Dựa vào mục tiêu phát triển của Công ty đến năm 2020 đề xuất các định hướng đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may
Trang 6− Đưa ra các giải pháp đối với Công ty và những kiến nghị đối với Nhà nước nhằm thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của Công ty.
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Đẩy mạnh xuất khẩu hàng may mặc sang thị trường Mỹ của Tổng Công ty
Cổ phần dệt may Hà Nội
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
Chuyên đề tập trung nghiên cứu hoạt động xuất khẩu hàng may mặc ra thị trường quốc tế nói chung và thị trường Mỹ nói riêng của Tổng Công ty Cổ phần dệt may Hà Nội trong giai đoạn 2011 – 2015, đề xuất giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng may mặc sang thị trường Mỹ đến năm 2020
Chương 2: Thực trạng thúc đẩy xuất khẩu hàng may mặc sang thị trường
Mỹ của Tổng công ty dệt may Hà Nội giai đoạn 2011 – 2015
Chương 3: Định hướng một số giải pháp kiến nghị thúc đẩy xuất khẩu hàng may mặc sang thị trường Mỹ của Tổng công ty dệt may Hà Nội đến năm 2020
Trang 7CHƯƠNG 1 TẦM QUAN TRỌNG VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU HÀNG MAY MẶC SANG THỊ TRƯỜNG
MỸ CỦA TỔNG CÔNG TY DỆT MAY HÀ NỘI.
Mục tiêu của Chương 1 là giới thiệu những nét khái quát về Tổng Công ty
cổ phần Dệt May Hà Nội và phân tích đặc điểm thị trường may mặc tại Mỹ để từ
đó phân tích được tầm quan trọng của việc thúc đẩy xuất khẩu đối với Công ty trong giai đoạn 2011 - 2014 Đồng thời chương 1 cũng phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu hàng may mặc của Công ty trong giai đoạn 2009-2012 để thấy được những nhân tố này đã tác động theo hướng tích cực hay tiêu cực đến hoạt động xuất khẩu hàng may mặc của Công ty Những phân tích này sẽ là cơ sở để đánh giá thực trạng xuất khẩu hàng may mặc của Công ty cũng như các biện pháp mà công ty đã thực hiện nhằm thúc đẩy xuất khẩu hàng may mặc của mình sang thị Mỹ trong giai đoạn 2011 - 2014 ở Chương 2
Để đạt được mục tiêu trên, nhiệm vụ của Chương 1 là cần phải trả lời được các câu hỏi sau:
(1) Quá trình hình thành và phát triển của Tổng Công ty cổ phần Dệt May
Hà Nội như thế nào?
(2) Thị trường dệt may Mỹ có đặc điểm gì nổi bật?
(3) Mục tiêu, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Công ty ra sao?
(4) Tầm quan trọng của đẩy mạnh xuất khẩu hàng may mặc sang thị trường
Mỹ đối với Công ty trong giai đoạn 2011 – 2014?
(5) Những nhân tố nào ảnh hưởng và ảnh hưởng theo hướng nào đến hoạt động xuất khẩu hàng may mặc sang thị trường Mỹ của Công ty trong giai đoạn
2011 -2014?
1.1 TỔNG QUAN VỀ NGÀNH MAY MẶC VÀ TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU HÀNG MAY MẶC CỦA VIỆT NAM.
1.1.1 Tổng quan về ngành may mặc Việt Nam.
Ngành dệt may Việt Nam trong nhiều năm qua luôn là một trong những ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam Với sự phát triển của công nghệ kĩ thuật, đội ngũ lao động có tay nghề ngày càng chiếm tỉ lệ lớn và sự ưu đãi từ các chính
Trang 8sách nhà nước, ngành dệt may đã thu được nhiều kết quả đáng khích lệ, vừa tạo
ra giá trị hàng hóa, vừa đảm bảo nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.Trải qua hơn 20 năm liên tục phát triển, đến nay ngành dệt may đã vươn lên trở thành ngành kinh tế hàng đầu cả nước Hiện cả nước có khoảng 6.000 doanh nghiệp dệt may; thu hút hơn 2,5 triệu lao động; chiếm khoảng 25% lao động của khu vực kinh tế công nghiệp Việt Nam Theo số liệu của VITAS, mỗi 1 tỷ USD xuất khẩu hàng dệt may có thể tạo ra việc làm cho 150 - 200 nghìn lao động, trong đó có 100 nghìn lao động trong doanh nghiệp dệt may và 50 - 100 nghìn lao động tại các doanh nghiệp hỗ trợ khác Kim ngạch xuất khẩu của ngành tăng đều qua các năm, năm 2015 đạt 22,81 tỷ USD (chiếm 14,07% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước), trong đó các thị trường chính nhập khẩu hàng dệt may của Việt Nam năm 2015 là: Hoa Kỳ đạt 10,96 tỷ USD, tăng 11,7%; sang EU đạt 3,47 tỷ USD, tăng 4,2%; sang Nhật Bản đạt 2,79 tỷ USD, tăng 6,3%; sang Hàn Quốc đạt 2,13 tỷ USD
- Điểm mạnh
Trước hết, trang thiết bị của ngành may mặc đã được đổi mới và hiện đại hoá đến 90% Các sản phẩm đã có chất lượng ngày một tốt hơn, và được nhiều thị trường khó tính như Hoa Kỳ, EU, và Nhật Bản chấp nhận Bên cạnh đó, các doanh nghiệp dệt may đã xây dựng được mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhiều nhà nhập khẩu, nhiều tập đoàn tiêu thụ lớn trên thế giới Bản thân các doanh nghiệp Việt Nam cũng được bạn hàng đánh giá là có lợi thế về chi phí lao động,
kỹ năng và tay nghề may tốt Số người trong độ tuổi lao động Việt nam cao, trong khi dệt may là ngành thâm dụng lao động Do đó, đây là một trong những lợi thế cạnh tranh của dệt may Việt Nam
Việt Nam được đánh giá cao nhờ ổn định chính trị và an toàn xã hội, có sức hấp dẫn lớn đối với các thương nhân và các nhà đầu tư nước ngoài Chính phủ có những biện pháp ưu tiên và khuyến khích đầu tư vào ngành dệt may như ưu đãi thuế nhập khẩu cho các nguyên liệu thô với mục đích sản xuất các sản phẩm may tái xuất khẩu trong 3-4 tháng, miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp,…
Cuối cùng, bản thân việc Việt Nam tích cực tham gia hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, xây dựng mối quan hệ gắn bó với nhiều nhà nhập khẩu, nhiều tập đoàn tiêu thụ lớn cũng mở rộng tiếp cận thị trường cho hàng xuất khẩu nói chung và hàng dệt may xuất khẩu nói riêng
Trang 9- Điểm yếu
Bên cạnh những điểm mạnh kể trên,ngành dệt may Việt Nam vẫn còn một
số hạn chế nhất định:
Thứ nhất: May xuất khẩu phần lớn theo phương thức gia công, công tác
thiết kế mẫu, mốt chưa phát triển, tỷ lệ làm hàng theo phương thức FOB thấp, hiệu quả sản xuất thấp Trong khi đó, ngành dệt và công nghiệp phụ trợ còn yếu, phát triển chưa tương xứng với ngành may, không đủ nguồn nguyên phụ liệu đạt chất lượng xuất khẩu để cung cấp cho ngành may, do đó giá trị gia tăng không cao Như đã phân tích ở trên, tính theo giá so sánh, giá trị sản phẩm của ngành dệt luôn tăng chậm hơn so với giá trị sản phẩm của ngành may mặc, cho thấy sự phụ thuộc của ngành may mặc đối với nguyên phụ liệu nhập khẩu
Thứ hai: Hầu hết các doanh nghiệp dệt may là vừa và nhỏ, khả năng huy
động vốn đầu tư thấp, hạn chế khả năng đổi mới công nghệ, trang thiết bị Chính quy mô nhỏ đã khiến các doanh nghiệp chưa đạt được hiệu quả kinh tế nhờ quy
mô, và chỉ có thể cung ứng cho một thị trường nhất định Do đó, khi thị trường gặp vấn đề, các doanh nghiệp dệt may sẽ gặp khó khăn trong việc điều chỉnh phương thức thâm nhập thị trường và/hoặc chuyển đổi sang thị trường khác Những khó khăn, ít nhất là ban đầu, trong việc chuyển đổi định hướng sang thị trường nội địa trong thời điểm các thị trường xuất khẩu chính như Hoa Kỳ, EU đều gặp suy thoái kinh tế chính là những dẫn chứng tiêu biểu
Thứ ba: Kỹ năng quản lý sản xuất và kỹ thuật còn kém, đào tạo chưa bài
bản, năng suất thấp, mặt hàng còn phổ thông, chưa đa dạng Năng lực tiếp thị còn hạn chế, phần lớn các doanh nghiệp dệt may chưa xây dựng được thương hiệu của mình, chưa xây dựng được chiến lược dài hạn cho doanh nghiệp
1.1.2 Tình hình xuất khẩu hàng may mặc Việt Nam.
Dệt may là ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, đang tăng trưởng với tốc độ hai con số, kim ngạch xuất khẩu 2005-2015 là 19%/năm, đóng góp từ 10%-15% GDP hàng năm Doanh thu ngành Dệt may chủ yếu đến từ hoạt động xuất khẩu, đóng góp tới hơn 80% doanh thu toàn ngành.Việt Nam hiện là một trong 5 nhà xuất khẩu dệt may hàng đầu thế giới với thị phần 4%-5%, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu thường xuyên nằm trong nhóm những quốc gia tăng mạnh nhất Theo số liệu của Tổng cục thống kê, trong năm 2015, kim ngạch xuất khẩu đạt 22,8 tỷ USD (tăng 9,03% so với năm 2014) Tuy nhiên, đóng góp lớn vào giá trị
Trang 10xuất khẩu lại thuộc về các doanh nghiệp FDI, với tỷ trọng chiếm tới khoảng 60%-70%, cho thấy khoảng cách lớn về năng lực cạnh tranh so với các doanh nghiệp nội địa
(Đvt:%)
Nguồn: Tổng hợp số liệu từ Tổng cục Hải quan, 12/2015
Hình 1.1 Thị phần xuất khẩu dệt may của Việt Nam tháng 12 năm 2015
Tốc độ tăng trưởng cao, tuy nhiên giá trị gia tăng của ngành còn thấp Ngành công nghiệp dệt may Việt Nam hiện nay chỉ tham gia vào phần thứ 3 trong chuỗi cung ứng dệt may toàn cầu là Cắt và May, sản xuất theo phương thức gia công đơn giản, thiếu khả năng cung cấp trọn gói Nguyên phụ liệu dệt may vẫn phụ thuộc lớn vào nhập khẩu (khoảng 60%-70%), chủ yếu từ thị trường Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc Về cơ cấu mặt hàng xuất khẩu, hàng dệt may Việt Nam xuất khẩu ra thế giới chủ yếu là áo jacket, áo thun, quần, áo sơ mi và quần áo trẻ em Trong đó, năm 2015, xuất khẩu mặt hàng áo jacket chiếm 23%,
Trang 11áo thun chiếm 20%, áo sơ mi chiếm 5%, quần chiếm 17%, quần áo trẻ em chiếm 6% trong cơ cấu mặt hàng xuất khẩu.
Thị trường xuất khẩu chủ lực của Việt Nam trong năm 2015 vẫn là các nền kinh tế lớn như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc Trong đó, Hoa Kỳ là thị trường đứng đầu kim ngạch nhập khẩu với giá trị nhập khẩu đạt 9,15 tỷ USD, tăng 12,32% so với cùng kỳ năm trước và chiếm 46,9% tổng kim ngạch xuất khẩu của ngành EU là thị trường nhập khẩu dệt may lớn thứ 2 từ Việt Nam với giá trị nhập khẩu là 2,7 tỷ USD, tăng 14,4% so với cùng kỳ năm trước Đứng thứ 3 là Nhật Bản với kim ngạch nhập khẩu đạt 2,27 tỷ USD, tăng 5,67%
so với cùng kỳ năm trước Bên cạnh đó, các thị trường khác cũng có kim ngạch nhập khẩu dệt may lớn như Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông với giá trị nhập khẩu lần lượt là: 537,4 triệu USD; 206,03 triệu USD; 193,27 triệu USD Đây tiếp tục là những thị trưởng xuất khẩu triển vọng của Dệt may Việt Nam trong thời gian tới
1.2 ĐẶC ĐIỂM CỦA THỊ TRƯỜNG MAY MẶC MỸ.
1.2.1 Xu hướng tiêu dùng và nhu cầu sản phẩm may mặc của thị trường Mỹ.
Cùng với thị trường EU và Nhật Bản, Mỹ là một trong ba thị trường tiêu thụ hàng may mặc lớn nhất thế giới Mỹ có dân số đông thứ ba thế giới, năm 2015 dân số Mỹ vào khoảng 320 triệu người, để thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng hàng năm
Mỹ phải nhập khẩu một lượng hàng hóa cực lớn, do vậy Mỹ được xem là thị trường khá hấp dẫn, lý tưởng của ngành dệt-may Việt Nam Đa số sống ở thành thị có mức thu nhập cao (thu nhập bình quân năm của người dân Mỹ 2015 là 41.355 USD) do vậy người dân Mỹ sẵn sàng chi trả những khoản tiền lớn cho nhu cầu may mặc của họ Ngoài dân số đông thứ ba thế giới với thu nhập bình quân đầu người cao, điều khiến cho Mỹ trở thành thị trường tiêu thụ khổng lồ là thói quen tiêu xài và nợ của người dân ở nước này Người Mỹ sẵn sàng mua chịu
và trả nợ dần từ những thứ đắt tiền đến quần áo, giày dép…
Thị trường may mặc Mỹ rất đa dạng, phong phú Người dân Mỹ rất chú trọng đến thời trang, nhãn hiệu hàng hóa, tính thời trang, mẫu mốt và thị hiếu thể hiện rất rõ trong phong cách của người Mỹ.Sự đa dạng và khác biệt trong phong cách ăn mặc của họ tạo nên cầu thị trường phong phú Một đặc điểm nữa là ở Mỹ chênh lệch thu nhập giữa các tầng lớp dân cư rất lớn và tình trạng này ngày càng
Trang 12có xu hướng gia tăng Sự chênh lệch thu nhập này tạo ra một thị trường tiêu thụ với phân khúc hết sức đa dạng Cơ cấu dân số cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến mức tiêu dùng hàng may mặc, dân số Mỹ với cơ cấu trẻ đang trở thành lực lượng tiêu thụ quan trọng do họ có thu nhập cao và tỷ lệ đầu tư mua sắm lớn, ngoài ra
họ cũng quan tâm đến mẫu mã, kiểu dáng trong khi đó, đối tượng trung niên lại thường quan tâm đến chất lượng và giá cả của sản phẩm Sự phân hóa nhu cầu thành những phân đoạn thị trường đặc trưng là tín hiệu cho phép các nhà sản xuất tập trung phát huy ưu thế trong từng phân đoạn thị trường mục tiêu
1.2.2 Tình hình cung ứng sản phẩm may mặc trên thị trường Mỹ.
Trong giai đoạn 2011-2015, sản xuất dệt may nội địa của thị trường Mỹ có dấu hiệu suy giảm so với những năm trước đây Toàn cầu hóa khiến sụt giảm sản xuất trong nước ở những ngành cần lao động giản đơn như may mặc là một xu thế tất yếu ở những nước phát triển như Hoa Kỳ Do chỉ tập trung sản xuất những ngành mà sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao, cần lao động phức tạp nên số lượng sản phẩm thuộc những ngành thủ công như dệt may trong thị trường nội địa của Hoa Kỳ là không nhiều Tuy nhiên nguồn cung về sản phẩm may mặc trong thị trường này luôn dồi dào và đa dạng do quốc gia này có số lượng nhập khẩu hàng may mặc lớn từ các thị trường bên ngoài Theo thống kê, Mỹ nhập khẩu hàng dệt may từ hơn 100 nước và vùng lãnh thổ, trong đó Trung Quốc, các nước ASEAN và các nước OECD là những nước xuất khẩu lớn nhất vào Mỹ Nhóm nước Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan và Hàn Quốc là các nước xuất khẩu hàng may mặc vào thị trường Mỹ nhiều nhất Các nước ASEAN cũng là những nước xuất khẩu nhiều tại thị trường này, trong đó đóng góp nhiều nhất là Việt Nam, Indonesia, Thái Lan và Philippines Mexico và Canada là hai nước bạn hàng truyền thống của Mỹ Những năm trước đây, hai nước này luôn dẫn đầu trên thị trường dệt may Mỹ do tận dụng được các ưu thế về địa lý cũng như về các điều kiện ưu đãi trong thương mại Tuy nhiên, mấy năm gần đây, do vấp phải
sự cạnh tranh khốc liệt từ phía hàng dệt may của Trung Quốc, Ấn Độ và các nước châu Á khác nên hai nước này đã đánh mất dẩn vị trí của mình Như vậy có thể nói nguồn cung chủ yếu của hàng may mặc ở thị trường Mỹ chủ yếu thuộc về các quốc gia châu Á như Trung Quốc, Ấn Độ, Pakistan, Bangladesh, Hàn Quốc, các nước ASEAN trong khi thị phần của ngành sản xuất dệt may nội địa Hoa
Kỳ và các nước châu Âu đang ngày càng thu hẹp
Trang 131.2.3.Hệ thống pháp luật của Mỹ.
1.2.3.1 Quy định về thuế quan, hạn ngạch:
Muốn nhập khẩu vào thị trường Mỹ trước hết các doanh nghiệp nên nghiên cứu kỹ hệ thống thuế nhập khẩu của Hoa Kỳ Hệ thống thuế quan của Mỹ là Biểu Thuế quan hài hoà của Hợp chúng quốc Hoa kỳ (Harmonized Tariff Schedule - HTS) Ðược chính thức thông qua ngày 1 tháng 1 năm 1989, hệ thống này được xây dựng dựa trên Hệ thống Mô tả hàng hoá và Mã số Hài hoà của Hội đồng Hợp tác Hải quan, một tổ chức liên chính phủ có trụ sở tại Brúc-xen Ðược coi là hệ thống hài hoà, hệ thống thuế quan này được hầu hết các quốc gia thương mại lớn
sử dụng Hầu hết các loại thuế quan của Mỹ đánh theo tỷ lệ trên giá trị - tức là mức thuế được xác định bằng một tỷ lệ phần trăm trên giá trị hàng nhập khẩu Mức thuế suất của Mỹ biến động từ dưới 1% đến gần 40%, riêng đối với hàng dệt may nhập khẩu thường phải chịu thuế cao hơn.Hiện nay, thị trường Mỹ có khoảng 1.000 dòng thuế nhập khẩu dệt may với mức thuế suất 17%-20% đối với từng loại mặt hàng
Danh mục điều hòa thuế quan Mỹ (HTS) là hệ thống quy định chi tiết danh pháp quốc tế về thuế suất và phân chia hàng hóa thành 2 nhóm và 17 chương Nhìn chung, biểu thuế nhập khẩu vào Mỹ sẽ được tính theo 1 trong 3 phương pháp sau
+ Thuế suất trị giá: là thuế suất tính theo tỷ lệ % giá trị hàng hoá nhập khẩu Đây là thuế suất phổ thông, hầu hết các hàng hóa nhập khẩu vào Mỹ đều được tính theo phương thức này
+ Thuế suất đặc định Là một loại thuế cụ thể đánh vào một hàng hoá cụ thể
+ Thuế suất phối hợp là mức thuế suất áp dụng cho cả hai phương pháp tính thuế trên
Áp mã thuế nhập khẩu: Luật pháp Hoa kỳ cho chủ hàng được chủ động xếp ngạch thuế cho các mặt hàng nhập và nộp thuế theo kê khai
Định giá tính thuế hàng nhập khẩu: Nguyên tắc chung là đánh thuế theo giá giao dịch, những giá giao dịch không phải là giá theo hoá đơn mà là giá cộng thêm các chi phí khác, như tiền đóng gói…
Trang 14Quy định về hạn ngạch : Có hai loại hạn ngạch là hạn ngạch tuyệt đối và hạn ngạch tính theo thuế suất Hạn ngạch tuyệt đối là hạn ngạch hạn chế về số lượng, hạn ngạch tính theo thuế suất được áp dụng cho một số lượng hàng hóa nhập khẩu được quy định với mức thuế suất thấp trong một thời gian nào đó Tuy nhiên kể từ ngày 1/1/2015.Mỹ đã hoàn toàn xóa bỏ hạn ngạch đối với hàng dệt may nhập khẩu.
1.2.3.2 Quy định về xuất xứ hàng hóa:
Hàng Dệt May nhập khẩu vào Mỹ phải tuân thủ theo những quy định nghiêm ngặt về tờ khai xuất xứ hàng hoá Tờ khai xuất xứ hàng hoá phải được đính kèm với lô hàng xuất vào Mỹ Luật Hải quan của Mỹ cũng quy định rằng xuất xứ của của sản phẩm phải được giải trình rõ ràng và trung thực Ðiều này vô cùng quan trọng đối với những sản phẩm muốn vào Mỹ thông qua các chương trình miễn thuế một chiều như GSP, CBI, và ATPA Ðối với những sản phẩm đủ điều kiện được ưu đãi thuế trong ba chương trình này, ít nhất 35% chi phí sản xuất trực tiếp của hàng này phải nằm trong nước được hưởng lợi Quốc gia cuối cùng nơi mà lô hàng Dệt May được xuất khẩu vào Hoa Kỳ không nhất thiết là nơi xuất xứ hàng hoá Một sản phẩm hàng Dệt May nhập vào Mỹ được xem là một sản phẩm của một lãnh thổ hay quốc gia nhất định là nơi duy nhất mà sản phẩm đó được trồng, chế biến hay chế biến toàn bộ Cụ thể:
- Với sản phẩm là sợi, chỉ hay chỉ tơ: Nước xuất xứ là nơi tơ hay sợi được
xe hay chế biến
- Với sản phẩm là vải: nước xuất xứ là nơi dệt thành vải
- Với quần áo: nước xuất xứ là nơi quần áo được lắp ráp toàn bộ
Tờ khai xuất xứ hàng hóa được nộp cho Hải quan Mỹ ngay khi hàng nhập
Tờ khai xuất xứ được dùng cho việc nhập khẩu hàng dệt may mà chỉ có nguồn gốc xuất xứ từ một quốc gia hoặc chỉ được gia công tại một quốc gia khác nơi mà
nó được sản xuất Thông tin cần có là ký hiệu nhận dạng, mô tả hàng và số lượng, quốc gia xuất xứ và ngày nhập khẩu
1.2.3.3 Quy định về luật bảo vệ người tiêu dùng.
Nghĩa vụ của người sản xuất và người bán Người sản xuất, người bán hang
có nghĩa vụ cung cấp thông tin đầy đủ, trung thực về sản phẩm cho khách hàng gồm phẩm chất, đặc tính, giá cả… Đối với các sản phẩm Dệt May khi xuất vào
Mỹ, phải chú ý tới các quy định về luật bảo vệ nhẵn mác như: Luật xác định sản phẩm sợi dệt, Luật xác định sản phẩm sợi len… Đặc biệt nhà sản xuất và người
Trang 15bán phải tuân thủ quy định của pháp luật về vấn đề bào hành hàng hoá.Đối với các sản phẩm Dệt May khi xuất vào Mỹ, phải chú ý tới các quy định về luật bảo
vệ nhãn mác như: Luật xác định sản phẩm sợi dệt, Luật xác định sản phẩm sợi len…
Quyền lợi của khách hàng Khách hàng có quyền “ không chấp nhận” sản phẩm của bên bán.Khách hàng có quyền không chấp nhận hàng nếu khi mua phát hiện ra rằng hàng hoá đó phát hiện ra hàng có lỗi Quyền huỷ bỏ sau khi đã nhận hàng Khi khách nhận hàng và sau đó phát hiện gia sản phẩm không đáp ứng được nhu cầu mong muốn như trong hợp đồng mua sản phẩm thì khách hàng
có quyền huỷ bỏ quyền nhận hàng và yêu cầu bồi hoàn các chi phí
1.2.3.4 Quy định về luật chống bán phá giá, trợ giá và biện pháp chống trợ giá trong thị trường Hoa Kỳ.
Vấn đề bán phá giá, trợ giá và các biện pháp chống trợ giá của Mỹ được điều chỉnh bởi Luật thuế 1930 (Tariff Act of 1930) và năm 1995, được sửa đổi thành Luật Hiệp định vòng đàm phán Urugoay (URAA) khi kết thúc vòng đàm phán Urugoay/GATT
Bán phá giá là việc hàng hoá nhập khẩu được bán với giá thấp hơn mức giá công bằng, gây ảnh hưởng đến ngành công nghiệp trong nước của nước nhập khẩu sản xuất mặt hàng tương tự Mỹ có quyền áp đặt thuế chống phá giá lên hàng nhập khẩu để bù lại mức giá Việc xác định bán phá giá được tính trên cơ sở
so sánh mức giá bán tại Mỹ với mức giá của sản phẩm tương tự tại thị trường trong nước hoặc một nước thứ 3
Trợ giá là trường hợp các nhà sản xuất được Chính phủ trợ cấp trực tiếp hoặc gián tiếp và việc nhập khẩu hàng hóa được trợ cấp đó gây ảnh hưởng hoặc gây đe dọa đến nền công nghiệp sản xuất sản phẩm tương tự đó ở Mỹ
1.2.4 Quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và Mỹ
Tháng 7/1995 Mỹ bình thường hoá mối quan hệ với Việt Nam, 10/12/2002 Việt Nam- Mỹ ký Hiệp định Thương mại song phương Đây là một thỏa thuận lớn đối với Hoa Kỳ vì nó mở ra một thị trường lớn mạnh và đầy tiềm năng cho hàng nông nghiệp, các loại hình dịch vụ và hàng hóa chế tạo của Mỹ Thỏa thuận này cũng mở cửa cho Việt Nam tham gia vào hệ thống thương mại quốc tế dựa trên luật lệ Qua thỏa thuận này, Việt Nam sẽ trở nên minh bạch hơn
Trang 16trong các hoạt động điều tiết thương mại, tăng cường quyền tự do kinh tế cho người dân và tạo nên một sân chơi bình đẳng hơn cho các công ty Việt Nam và các công ty nước ngoài.
7/11/2006 Việt Nam gia nhập Tổ chức WTO tạo đà cho sự phát triển quan
hệ cho kinh tế giữa hai nước Việt Nam có thể tiếp cận thị trường xuất khẩu và nhập khẩu của Mỹ một cách ổn định và dễ dàng hơn, từ đó, số lượng và chất lượng hàng hóa, dịch vụ xuất nhập khẩu sẽ tăng theo Gia nhập WTO cũng thúc đẩy quá trình tự do hóa nhập khẩu, từ đó cho phép tiếp cận với các đầu vào nhập khẩu của Mỹ (công nghệ, trang thiết bị và phương pháp quản lý hiện đại) cũng như hàng hóa tiêu dùng đa dạng và rẻ hơn; các đầu vào nhập khẩu rất quan trọng đối với một nền kinh tế đang hiện đại hóa nhanh chóng như Việt Nam
Đặc biệt, 4/2/2016 Mỹ và Việt Nam cùng ký kết Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) Do việc xóa bỏ mức thuế cao của các nước TPP, đặc biệt là Mỹ, thu nhập của Việt Nam trong năm 2025 khi ký kết TPP được kỳ vọng
sẽ cao hơn 13% và xuất khẩu sẽ tăng hơn 37%, đặc biệt phần lớn những nguồn thu này trước mắt đến từ việc sản xuất và xuất khẩu các mặt hàng quần áo và giày dép, vốn là những mặt hàng đang tăng trưởng của Việt Nam Một TPP toàn diện sẽ mang lại lợi ích cho tất cả các thành viên TPP và tạo cho Việt Nam một hướng tiếp cận mới đáng kể vào những thị trường lớn như Nhật và Mỹ đối với các mặt hàng xuất khẩu chủ lực như hàng may mặc Đây chính là điều kiện thuận lợi nhất để Việt Nam thúc đẩy xuất khẩu sang thị trường đầy tiềm năng này
1.3 TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC THÚC ĐẨY HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU HÀNG MAY MẶC.
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế ngày nay hoạt động xuất khẩu đóng vai trò đặc biệt quan trọng Xuất khẩu là một trong những hoạt động kinh tế đối ngoại chủ yếu của một quốc gia Hoạt động xuất khẩu là một nhân tố cơ bản thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng và phát triển Để hiểu rõ hơn tầm quan trọng của việc thúc đẩy xuất khẩu hàng may mặc, trong mục này em xin phép phân tích tầm quan trọng của việc thúc đẩy xuất khẩu xét trên ba đối tượng kinh tế chính mà hoạt động xuất khẩu tác động lên đó là: Công ty Cổ phần may Hà Nội, người tiêu dùng trên thị trường Mỹ và đối với Việt Nam nói chung
Trang 171.3.1 Đối với Cổng ty cổ phần may Hà Nội.
1.3.1.1 Doanh thu đến từ hoạt động xuất khẩu của công ty luôn chiếm tỷ trọng lớn.
Đối với ngành dệt may nói chung, doanh thu đến từ hoạt động xuất khẩu chiếm 80% tổng doanh thu của ngành Năm 2015, doanh thu toàn ngành đạt 28,51 tỷ USD, trong đó doanh thu đến từ hoạt động xuất khẩu đạt 22,81 tỷ, điều
đó cho thấy hoạt động xuất khẩu đóng góp một lượng doanh thu đáng kể cho ngành may mặc Nguyên nhân là do thị trường tiêu thụ của xuất khẩu rộng lớn, nhu cầu đa dạng dẫn đến số lượng tiêu thụ nhiều hơn thị trường nội địa Chính bởi vậy mà doanh thu đến từ hoạt động xuất khẩu chiếm đa số Điều đó cũng cho thấy được tầm quan trọng của hoạt động xuất khẩu trong việc đóng góp thu nhập vào GDP cho toàn xã hội
Đối với Công ty Hanosimex doanh thu xuất khẩu chiếm hơn 50% và là một trong những nguồn thu ổn định của công ty Trong nền kinh tế thị trường, để doanh nghiệp tồn tại và phát triển điều đầu tiên là doanh thu phải bù đắp được chi phí và đảm bảo thu về lợi nhuận Doanh thu là điều kiện tiên quyết quyết định
sự tồn tại và hoạt động của cả Công ty Đối với doanh nghiệp thương mại, hoạt động xuất khẩu được xem như nền tảng cơ bản để doanh nghiệp thu hồi vốn và tìm kiếm lợi nhuận Mặt khác đây là nguồn thu khá ổn định do Công ty đã có những bạn hàng lâu năm với số lượng đơn đặt hàng là thường xuyên và liên tục Bởi vậy hoạt động xuất khẩu là một trong những phương thức chủ yếu được Công ty lựa chọn để tạo ra doanh thu Nhận thấy xuất khẩu có vai trò quan trọng đối với toàn ngành may mặc nói chung và đối với bản thân Công ty nói riêng nên việc thúc đẩy xuất khẩu là việc làm vô cùng cần thiết
1.3.1.2 Xuất khẩu giúp doanh nghiệp mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm.
Tiêu thụ sản phẩm là một bộ phận quan trọng của hoạt động thương mại doanh nghiệp Hàng hoá được sản xuất ra, mua về phải được tiêu thụ, đó là điều kiện quyết định sự tồn tại của một doanh nghiệp Thông qua xuất khẩu doanh nghiệp có thêm nhiều cơ hội để tiêu thụ sản phẩm của mình Mục đích của các công ty khi thực hiện hoạt động xuất khẩu là: Tăng doanh số bán hàng: Khi thị trường trong nước trở lên bão hoà thì xuất khẩu là hoạt động làm tăng doanh số bán hàng của công ty khi mở rộng thị trường quốc tế Xuất khẩu tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mở rộng thị trường, mở rộng quan hệ kinh doanh với các
Trang 18bạn hàng cả trong và ngoài nước, trên cơ sở hai bên cùng có lợi, tăng doanh số và lợi nhuận, đồng thời phân tán và chia sẻ rủi ro, mất mát trong hoạt trong hoạt động kinh doanh, tăng cường uy tín kinh doanh của doanh nghiệp.
Năm 2015, tổng kim ngạch xuất khẩu của Tổng công ty đạt 15,633 triệu USD trong khi doanh thu của Tổng công ty đạt … USD, con số kể trên cho thấy hoạt động xuất khẩu có vai trò đáng kể trong việc tăng doanh số của Công ty Có được kết quả đó là nhờ hoạt động xuất khẩu giúp doanh nghiệp mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, đưa hàng may mặc Việt Nam không chỉ đến với người tiêu dùng trong nước mà còn đến với bạn bè quốc tế Với thu nhập bình quân đầu người chưa cao, sức tiêu thụ tại thị trường nội địa còn nhiều hạn chế thì việc mở rộng thị trường tiêu thụ ra quốc tế rõ ràng là biện pháp tốt để tăng doanh thu và lợi nhuận cho các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và cho Công ty Hanosimex nói riêng
1.3.1.3 Tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển và mở rộng quy mô kinh doanh trên thị trường.
Nguồn ngoại tệ do xuất khẩu mang lại giúp doanh nghiệp có thêm nguồn tài chính mạnh để tái đầu tư vào quá trình sản xuất cả về chiều rộng cũng như chiều sâu Để đáp ứng yêu cầu cao của thị trường về quy cách phẩm chất mẫu mã thì doanh nghiệp sản xuất cần phải đổi mới trang thiết bị công nghệ và mở rộng quy
mô sản xuất Mặt khác, muốn thực hiện quá trình đổi mới thì doanh nghiệp cần trang bị cho mình một số lượng vốn nhất định Xuất khẩu đóng góp khoảng 50% doanh thu của công ty, do đó thông qua hoạt động xuất khẩu doanh nghiệp sẽ có thêm một khoản tài chính dùng cho việc đổi mới trang thiết bị và mở rộng quy
mô sản xuất Có thể nói hoạt động xuất khẩu tạo ra những tiền đề kinh tế - kỹ thuật nhằm đổi mới thường xuyên năng lực sản xuất của Công ty Nhờ có nguồn tài chính mà xuất khẩu mang lại, năm 2014 và 2015, Công ty đã đầu tư 1.500 tỷ đồng cho các dự án sản xuất hàng dệt kim, sợi và may mặc để nhân rộng năng lực cung ứng hàng may mặc xuất khẩu Đây là một trong những khoản đầu tư đáng kể giúp Công ty mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh
1.3.1.4 Xuất khẩu nâng cao vị thế của doanh nghiệp, mở rộng thị trường ra thế giới.
Đẩy mạnh xuất khẩu có vai trò tăng cường sự hợp tác quốc tế giữa các nước, nâng cao vị thế, vai trò của doanh nghiệp trên thương trường Nhờ có
Trang 19những mặt hàng xuất khẩu mà doanh nghiệp có điều kiện để thiết lập và mở rộng các mối quan hệ với các doanh nghiệp khác trên thế giới trên cơ sở đôi bên cùng
có lợi Thông qua xuất khẩu, hàng hóa của doanh nghiệp sẽ tham gia vào cuộc cạnh tranh trên thị trường thế giới về giá cả, chất lượng Để phù hợp với thị trường và theo kịp sự phát triển chung của thế giới doanh nghiệp luôn luôn sẵn sàng đổi mới và hoàn thiện cơ cấu sản xuất kinh doanh Xuất khẩu cũng đòi hỏi các doanh nghiệp phải luôn đổi mới và hoàn thiện công việc quản trị sản xuất kinh doanh Doanh nghiệp trong quá trình tiến hành hoạt động xuất khẩu có nhiều cơ hội mở rộng quan hệ làm ăn buôn bán với nhiều đối tác nước ngoài Đây là dịp tốt để bản thân doanh nghiệp có thể học hỏi, tiếp thu những kinh nghiệm quản lý quý báu, tác phong làm việc hiện đại và rất nhiều những kỹ năng kinh doanh cần thiết khác Qua đó, nâng cao năng lực quản lý của các nhà lãnh đạo, góp phần gia tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh.Nhờ có hoạt động xuất khẩu, doanh nghiệp không ngừng hoàn thiện mình từ đó nâng dần vị thế của mình trên thị trường trong nước và cũng như thị trường thế giới
1.3.2 Đối với người tiêu dùng trên thị trường Mỹ.
Mặt hàng dệt may là một mặt hàng thiết yếu đối với đời sống con người Dù cho nền kinh tế có phát triển ở mức độ nào đi chăng nữa thì người ta vẫn phải tiêu dùng hàng dệt may Có chăng chỉ là sự khác nhau ở mức độ nhiều hay ít, cao cấp hay bình dân Với sự lớn mạnh về kinh tế cộng với dân số đông Mỹ được xem là thị trường tiêu thụ hàng dệt may lớn nhất thế giới Chính bởi dân số đông, cầu về may mặc của Mỹ cao nên việc nhập khẩu hàng may mặc sẽ góp phần cung ứng được một lượng hàng hóa cần thiết, mở rộng khả năng tiêu dùng trong nước, đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao cũng như thị hiếu của người dân.Nhập khẩu tạo ra sự cạnh tranh tích cực giữa hàng nội địa và hàng nhập khẩu, giúp sản phẩm dành cho người tiêu dùng ngày càng hoàn thiện hơn Thị trường Mỹ là thị trường thu hút một số lượng lớn các doanh nghiệp đầu tư, do vậy đây là nơi diễn ra cuộc cạnh tranh khốc liệt về giá cả, chất lượng, mẫu mã… hàng hoá giữa các doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp ngoài nước Chính những điều này buộc các doanh nghiệp phải chủ động hơn, sáng tạo hơn hơn, không ngừng nâng cao trình độ quản lý, tăng cường đầu tư đổi mới công nghệ hiện đại… để tự hoàn thiện mình nếu không muốn bị loại bỏ Nhờ có sự cạnh tranh, chất lượng sản phẩm trên thị trường đến tay người dân Mỹ ngày một được nâng cao, từ đó làm tăng mức sống người dân Đây là một trong những quyền lợi
Trang 20mà người tiêu dùng Mỹ được hưởng khi các doanh nghiệp Việt Nam thúc đẩy xuất khẩu sang thị trường này.
Mặt khác, việc nhập khẩu các sản phẩm từ Công ty còn mang lại cơ hội tiếp cận với hàng hóa đa dạng, hiện đại và giá thành thấp hơn so với hàng sản xuất trong nước Trong chiến lược xuất nhập khẩu quốc gia của Mỹ, nước này khuyến khích sản xuất những mặt hàng có hàm lượng công nghệ cao như: hàng điện tử,
đổ gia dụng, máy móc thiết bị… và nhập khẩu những mặt hàng rẻ tiền,cần nhiều lao động như các mặt hàng nông sản, hàng may mặc, giày dép để tận dụng ưu thế về khoa học công nghệ và đảm bảo lợi ích cho người tiêu dùng Theo thống
kê thì các mặt hàng dệt may có xuất xứ từ các nước đang phát triển chiếm trên 55
% tổng trị giá hàng dệt may nhập khẩu vào thị trường Mỹ.Các mặt hàng dệt may đến từ các nước đang phát triển có khả năng tiêu thụ rất lớn trên thị trường Mỹ
do người Mỹ đã nhận thấy ưu thế của các mặt hàng này so với các mặt hàng được sản xuất trong nước, đặc biệt là về khía cạnh giá cả
1.3.3 Đối với nhà nước Việt Nam.
1.3.3.1 Xuất khẩu tạo nguồn vốn cho nhập khẩu, phục vụ công nghiệp hóa đất nước.
Công nghiệp hóa đất nước theo những bước đi thích hợp là con đường tất yếu để phát triển đất nước Quá trình toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, một số nước bắt đầu chuyển sang nền kinh tế tri thức yêu cầu nước ta phải bắt kịp xu thế đó Để công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong một thời gian ngắn đòi hỏi phải có số vốn lớn để nhập khẩu máy móc, thiết bị, công nghệ tiên tiến Nguồn vốn để nhập khẩu có thể được hình thành từ nhiều nguồn như: đầu tư trực tiếp nước ngoài, kinh doanh dịch vụ thu ngoại tệ vay nợ, nhận viện trợ, xuất khẩu hàng hoá, trong đó xuất khẩu là nguồn trực tiếp và quan trọng nhất, hơn thế nữa không tạo ra tình trạng phụ thuộc vào nước ngoài Hoạt động xuất khẩu tạo được nguồn vốn, ngoại tệ lớn, góp phần quan trọng trong việc cải thiện cán cân thanh toán, tăng lượng dự trữ ngoại tệ, qua đó tăng khả năng nhập khẩu máy móc thiết bị phục vụ phát triển kinh tế, phục vụ quá trình Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá Thông qua việc xuất khẩu những mặt hàng có thế mạnh chúng ta có thể phát huy được lợi thế so sánh, sử dụng lợi thế các nguồn lực trao đổi thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến Đây là yếu tố then chốt trong chương trình Công nghiệp
Trang 21hoá - Hiện đại hoá đất nước đồng thời phát triển các ngành công nghiệp sản xuất hay xuất khẩu có tính cạnh tranh ngày càng cao hơn.
1.3.3.2 Xuất khẩu góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển.
Cơ cấu sản xuất và tiêu dùng trên thế giới đã và đang thay đổi một cách mạnh mẽ Đó là thành quả của cuộc cách mạng khoa học, công nghệ hiện đại Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quá trình công nghiệp hóa phù hợp với xu thế phát triển kinh tế thế giới là tất yếu đối với nước ta Đẩy mạnh xuất khẩu được xem như là một yếu tố quan trọng kích thích sự tăng trưởng kinh tế Như chúng
ta biết, việc đẩy mạnh xuất khẩu cho phép mở rộng quy mô sản xuất, nhiều ngành nghề mới ra đời phục vụ hoạt động xuất khẩu, do đó gây phản ứng dây chuyền giúp cho các ngành kinh tế khác phát triển theo Và như vậy kết quả sẽ là: Tăng tổng sản phẩm xã hội và nền kinh tế phát triển nhanh Chẳng hạn như gia công, sản xuất, xuất khẩu hàng may mặc phát triển thì nó tất yếu nó sẽ kéo theo sự phát triển của ngành dệt, ngành trồng bông, và các ngành sản xuất máy móc thiết bị, tư liệu phục vụ cho ngành may mặc Có thể lấy một dẫn chứng nhỏ như sau: kim ngạch xuất khẩu dệt may năm 2015 là 28 tỷ USD (tăng 16% so với năm 2014) kéo theo nhu cầu về bông tăng cao, kết quả ngành công nghiệp trồng bông được đầu tư mở rộng, sản lượng bông trong nước tăng từ 1,27 nghìn tấn lên 1,36 nghìn tấn Xuất khẩu cũng tạo ra khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ, góp phần cho sản xuất ổn định và phát triển Xuất khẩu tạo những tiền đề kinh tế - kỹ thuật nhằm cải tạo và nâng cao năng lực sản xuất trong nước Và từ
đó có thể tạo ra nguồn vốn lớn cũng như công nghệ tiên tiến từ bên ngoài vào Việt Nam nhằm hiện đại hóa nền kinh tế đất nước và tạo ra một năng lực sản xuất mới Thông qua xuất khẩu, hàng hóa của Việt Nam sẽ tham gia vào cuộc cạnh tranh trên thị trường thế giới về giá cả, chất lượng Cuộc cạnh tranh này đòi hỏi chúng ta phải tổ chức lại sản xuất, hình thành cơ cấu sản xuất luôn thích nghi được với thị trường
1.3.3.3 Xuất khẩu góp phần đổi mới trang thiết bị và công nghệ sản xuất.
Xuất khẩu có vai trò kích thích đổi mới trang thiết bị và công nghệ sản xuất
Sự tồn tại,phát triển của hàng hóa xuất khẩu phụ thuộc vào chất lượng, giá cả do
đó phụ thuộc vào kỹ thuật công nghệ sản xuất chúng Để đáp ứng yêu cầu cao của thị trường thế giới về quy cách phẩm chất mẫu mã của sản phẩm thì một mặt các doanh nghiệp sản xuất phải luôn luôn tìm tòi sáng tạo để cải tiến, nâng
Trang 22cao chất lượng công nghệ sản xuất, mặt khác người lao động phải nâng cao tay nghề, phải học hỏi kinh nghiệm Thực tiễn cho thấy khi thay đổi thị trường buộc chúng ta phải tìm hiểu, nghiên cứu và việc đòi hỏi phải thay đổi mẫu mã, chất lượng sản phẩm sẽ tất yếu xảy ra, điều này kéo theo sự thay đổi trang thiết bị, máy móc, đội ngũ lao động Mặt khác, các doanh nghiệp phải đổi mới và hoàn thiện công tác quản trị sản xuất và kinh doanh, nâng cao tay nghề người lao động Xuất khẩu tăng góp phần thúc đẩy năng suất lao động toàn nền kinh tế tăng (năm 2015 năng suất lao động tăng 6.4% so với năm 2014) Xuất khẩu tạo ra những tiền đề kinh tế - kỹ thuật nhằm đổi mới thường xuyên năng lực sản xuất trong nước Nói cách khác, xuất khẩu là cơ sở tạo thêm vốn kỹ thuật công nghệ tiên tiến từ thế giới bên ngoài vào Việt Nam nhằm hiện đại hoá nền kinh tế đất nước Thúc đẩy xuất khẩu có vai trò tác động đến sự thay đổi cơ cấu kinh tế ngành theo hướng sử dụng có hiệu quả nhất lợi thế so sánh của đất nước Đây là yếu tố then chốt trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá Đồng thời với sự phát triển của ngành công nghiệp chế tạo cho phép công nghiệp chế biến hàng xuất khẩu áp dụng kỹ thuật tiên tiến, sản xuất ra hàng hoá có tính cạnh tranh cao trên thị trường thế giới, giúp cho ta có nguồn lực công nghiệp mới Điều này, không những cho phép tăng sản xuất về mặt số lượng, tăng năng suất lao động
mà còn tiết kiệm chi phí lao động xã hội
1.3.3.4 Xuất khẩu có tác động tích cực tới việc giải quyết việc làm và cải thiện đời sống của nhân dân.
Đối với các ngành nghề mà sản phẩm của nó có khả năng xuất khẩu như dệt may sẽ tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho người lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp cho xã hội Nhờ thúc đẩy hoạt động xuất khẩu, doanh nghiệp mở rộng quy mô sản xuất đồng thời nhu cầu về lao động cũng tăng lên, góp phần giải quyết vấn đề việc làm cho nhiều lao động, đặc biệt là lao động ở khu vực nông thôn Ví dụ đối với Công ty Hanosimex, năm 2013, dự án nhà máy Sợi Đồng Văn sau 7.5 tháng xây dựng và lắp máy đã đi vào hoạt động, chỉ trong vòng 1 tháng hoạt động đã sử dụng 260 lao động ,dự án nhà máy May Nam Đàn với công suất thiết kế 5.1 triệu sản phẩm may dệt kim/năm đã đưa vào hoạt động từ tháng 5/2013, đến tháng 10/2013 đã sử dụng 455 lao động địa phương Có thể nói xuất khẩu phát triển tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tồn tại và mở rộng quy mô sản xuấtđồng thời cũng tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho người lao động Theo tờ International Trade nếu xuất khẩu tăng 1 tỷ USD sẽ tạo ra 35000 đến 400000 việc làm cho
Trang 23người lao động, còn với các nước đang phát triển như Việt Nam thì có thể tạo ra được 50000 việc làm cho người lao động.
Xuất khẩu đóng góp vào ngân sách quốc gia một nguồn vốn ngoại tệ đáng
kể Đây là nguồn vốn dùng để nhập khẩu mà trong nước chưa sản xuất được nhằm phục vụ nhu cầu ngày càng cao của người dân tạo ra thu nhập để nhập khẩu tư liệu sản xuất phục vụ cho sản xuất hàng nội địa đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người dân Hoạt động xuất khẩu tạo điều kiện thuận lợi cho các dịch vụ cung ứng đầu vào cho hoạt động sản xuất, nâng cao giá trị sản xuất trong nước Nhìn chung các ngành sản xuất trong nước vẫn chưa thể đáp ứng được yêu cầu của quá trình hiện đại hoá chính vì vậy mà chúng ta cần thiết phải nhập khẩu một số trang thiết bị kỹ thuật, công nghệ hiện đại từ nước ngoài vào Việt Nam Nguồn vốn ngoại tệ để nhập khẩu có thể được hình thành từ các nguồn sau: đầu
tư trực tiếp nước ngoài, kinh doanh dịch vụ thu ngoại tệ vay nợ, nhận viện trợ, xuất khẩu hàng hoá Trong đó các nguồn vốn ngoại tệ như: đầu tư trực tiếp nước ngoài, vay nợ, kinh doanh dịch vụ thu ngoại tệ đóng góp không nhiều vào việc tăng thu ngoại tệ, chỉ có xuất khẩu hàng hoá là nguồn thu ngoại tệ lớn của đất nước, nguồn thu này dùng để nhập khẩu các trang thiết bị hiện đại phục vụ công nghiệp, tạo ra các sản phẩm chất lượng tốt hơn, nâng cao mức sống của người dân
1.3.3.5 Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối ngoại của nước ta.
Đẩy mạnh xuất khẩu giúp tăng cường hợp tác quốc tế, nâng cao địa vị và vai trò của nước ta trên thương trường quốc tế Nhờ có những mặt hàng xuất khẩu mà đất nước có điều kiện để thiết lập và mở rộng các mối quan hệ với các nước khác trên thế giới trên cơ sở đôi bên cùng có lợi Hoạt dộng xuất khẩu làm cho các quan hệ kinh tế chặt chẽ hơn, làm tiền đề thúc dẩy các hoạt động kinh tế dối ngoại khác như dịch vụ du lịch, ngân hàng, dầu tư, hợp tác, liên doanh Chúng ta có thể thấy rõ xuất khẩu và các quan hệ kinh tế đối ngoại có tác động qua lại và phụ thuộc lẫn nhau Xuất khẩu là một hoạt động kinh tế đối ngoại Có thể hoạt động xuất khẩu có sớm hơn các hoạt động kinh tế đối ngoại khác tạo điều kiện thúc đẩy các quan hệ này phát triển Chẳng hạn xuất khẩu và công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu thúc đẩy quan hệ tín dụng, đầu tư, mở rộng vận tải quốc tế Mặt khác, chính các quan hệ kinh tế đối ngoại chúng ta vừa kể lại tạo tiền đề cho mở rộng xuất khẩu
Trang 241.4 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN XUẤT KHẨU HÀNG MAY MẶC CỦA TỔNG CÔNG TY DỆT MAY HÀ NỘI TRONG GIAI ĐOẠN 2011- 2015.
Mục tiêu nghiên cứu của mục này là hệ thống được những nhân tố ảnh hưởng cùng với sự tác động của chúng tới hoạt động xuất khẩu hàng may mặc của Tổng Công ty cổ phần Dệt May Hà Nội trong giai đoạn 2011 - 2015
Việc phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu hàng may mặc của Công ty được đi theo hai hướng là các nhân tố khách quan và các nhân
tố chủ quan Từ việc phân tích cơ chế tác động của những nhân tố này để thấy được trong giai đoạn 2011 - 2015, các nhân tố này đã biến động ra sao và tác động theo hướng thuận lợi hay bất lợi đến hoạt động xuất khẩu hàng may mặc của công ty để nhận xét về việc tận dụng những điều kiện thuận lợi và các biện pháp hạn chế bất lợi ảnh hưởng tới hoạt động xuất khẩu hàng may mặc của Công
ty cổ phần Dệt May Hà Nội trong giai đoạn 2011 - 2015
1.4.1 Các nhân tố khách quan ảnh hưởng đến xuất khẩu hàng may mặc sang thị trường Mỹ của Công ty giai đoạn 2011-2015.
Nhân tố khách quan là những nhân tố bên ngoài Công ty, ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động xuất khẩu hàng may mặc của Công ty sang thị trường Mỹ Những nhân tố này tạo ra những thuận lợi hoặc bất lợi đòi hỏi công ty phải nắm bắt và tận dụng
1.4.1.1 Môi trường kinh tế giai đoạn 2011-2015.
- Tình hình kinh tế quốc tế:
Khủng hoảng kinh tế toàn cầu bắt đầu từ năm 2008 đến nay đã trôi qua 6 năm nhưng kinh tế thế giới vẫn biến động đầy bất ổn Tăng trưởng kinh tế khó khăn, thất nghiệp tăng cao, hoạt động thương mại suy giảm, dòng vốn có nhiều biến động, nợ công có xu hướng gia tăng mạnh,… là những hệ lụy vẫn tiếp tục kéo dài sang giai đoạn mới và khiến kinh tế toàn cầu phải đối mặt với muôn vàn khó khăn
Giai đoạn 2011-2015, nhìn chung tình hình kinh tế thế giới tăng
trưởng ở mức khó khăn, nhất là ở nhóm nước phát triển
Bức tranh màu xám của tăng trưởng được ghi nhận ở hầu hết các nhóm nước Tại các nền kinh tế phát triển, tăng trưởng chuyển biến hết sức chậm chạp
Trang 25trong hai năm đầu 2011 – 2012, và chỉ bắt đầu có dấu hiệu lấy lại đà phục hồi từ năm 2013, tuy nhiên quá trình phục hồi vẫn còn khá mong manh Đối với các nền kinh tế đang phát triển và mới nổi, tình hình dường như cũng không mấy sáng sủa hơn Nếu như giai đoạn 2010 trở về trước, tốc độ tăng trưởng của các nền kinh tế này được coi là động lực cho quá trình phục hồi của kinh tế toàn cầu, thì đến giai đoạn 2014-2015 tốc độ tăng trưởng đã bắt đầu chậm lại Tăng trưởng kinh tế chậm tại các nhóm nước phát triển - thị trường xuất khẩu chính tạo ra những bất lợi cho hoạt động thúc đẩy xuất khẩu của Công ty.
Căng thẳng nợ công kéo dài, đặc biệt là ở Mỹ
Thâm hụt ngân sách tại các nước đang phát triển ngày càng trầm trọng hơn sau khủng hoảng tài chính toàn cầu khi các nước đồng loạt phải thực hiện các gói kích thích kinh tế để làm gia tăng chi tiêu của chính phủ, cắt giảm thuế hay cứu trợ cho khu vực tài chính.Tính đến năm 2011, tỷ lệ nợ công bình quân của các nước đang phát triển đã lớn hơn 100%/GDP Mỹ và Nhật Bản cũng không thoát khỏi vòng xoáy này Những khoản chi tiêu khổng lồ trong các gói kích thích được triển khai để vực dậy nền kinh tế sau khủng hoảng đã khiến vấn đề nợ công của Mỹ ngày càng trở nên trầm trọng và đã đẩy nước Mỹ phải đối diện với “vách
đá tài chính” vào cuối năm 2012 với khả năng phải cắt giảm chi tiêu và tăng thuế trên diện rộng Tính đến thời điểm hiện tại tỷ lệ nợ công tại Mỹ đã xấp xỉ 110% GDP, gấp 3 lần so với thời điểm cách đây 10 năm Việc Mỹ cắt giảm chi tiêu để khôi phục nền kinh tế dẫn tới nhu cầu nhập khẩu giảm xuống ảnh hưởng bất lợi đến hoạt động thúc đẩy xuất khẩu của Công ty
Lạm phát giảm đan xen nguy cơ giảm phát.
Giai đoạn 2011 – 2015 cũng ghi nhận những xu thế chuyển biến mang tính tích cực Trước hết, trái với những giai đoạn trước đây khi kinh tế thế giới tăng trưởng nóng, lạm phát luôn là một thách thức đối với việc duy trì sự ổn định của kinh tế toàn cầu, giai đoạn 2011 – 2015 vừa qua, sức ép lạm phát không quá lớn, thậm chí lạm phát có xu hướng giảm ở mức thấp hơn mục tiêu đặt ra ở các nước phát triển, đặt các quốc gia này vào tình trạng phải đối mặt với rủi ro giảm phát trên diện rộng Lạm phát chỉ có xu hướng gia tăng trong năm 2011 với mức tăng đạt đỉnh 5,2% trước các áp lực biến động từ các yếu tố nguồn cung, tuy nhiên lại duy trì xu hướng giảm liên tục trong suốt những năm còn lại, và hiện chỉ dao động ở mức 3,8% Lạm phát có xu hướng giảm dẫn đến giá các nguyên liệu đầu vào giảm tạo điều kiện thuận lợi cho Công ty phát triển xuất khẩu
Trang 26Cân bằng cải thiện nhưng chưa bền vững.
Trước khi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu nổ ra, Mỹ là quốc gia phát triển có mức thâm hụt cao nhất Sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, tình trạng mất cân bằng này đã có xu hướng thu hẹp lại đáng kể, và xu hướng này vẫn tiếp tục duy trì trong giai đoạn 2011 đến nay Tình trạng mất cân đối được thu hẹp lại là do có sự điều chỉnh nhu cầu trong nội tại nền kinh tế của mỗi nước.Đối với các quốc gia có thâm hụt cán cân vãng lai lớn như Mỹ, cầu nội địa và nhu cầu nhập khẩu trong nước giảm năm 2011,2012 nhưng đã bắt đầu tăng vào
2013 Ngược lại, tại các nền kinh tế có mức thặng dư cao, hoạt động xuất khẩu cũng bị tác động mạnh do cầu tiêu dùng thế giới suy giảm Cân bằng kinh tế được cải thiện dẫn đến nhu cầu nhập khẩu tăng lên tạo ra những thuận lợi để Công ty thúc đẩy xuất khẩu
Nhìn chung, giai đoạn 2011-2013, tình hình kinh tế thế giới tăng trưởng khó khăn, cân bằng mặc dù đã có sự lại thiện, song lại chưa bền vững, sự mất cân bằng toàn cầu được thu hẹp ở đây chủ yếu là do tác động của những nhân
tố chu kỳ - do sự giảm sút nhu cầu từ các nước thâm hụt, những điều chỉnh chính sách chưa thúc đẩy được tăng trưởng và việc làm như kỳ vọng Căng thẳng nợ công kéo dài cũng buộc thị trường nhập khẩu (thị trường Mỹ) cắt giảm chi tiêu Đây là yếu tố bất lợi cho hoạt động thúc đẩy xuất khẩu của Công ty sang thị trường Mỹ Tình hình lạm phát, biến động tỷ giá ở giai đoạn này cũng gây ảnh hưởng đến giá nguyên liệu đầu vào và khả năng tiếp cận vốn của công ty, điều này gây ra nhiều bất lợi cho việc thúc đẩy xuất khẩu Tuy nhiên, giai đoạn 2013-2015 kinh tế thế giới đã có những chuyển biến tích cực tác động đến hoạt động thúc đẩy xuất khẩu: kinh tế thế giới có nhiều dấu hiệu phục hồi, lạm phát đang dần được kiểm soát dẫn đến giá nguyên liệu đầu vào giảm, nhu cầu nhập khẩu cũng cao hơn tạo điều kiện thuận lợi cho Công
ty phát triển xuất khẩu
- Tình hình kinh tế trong nước:
Nhờ sự nỗ lực phấn đấu của toàn dân, toàn quân, tình hình kinh tế đã có nhiều chuyển biến tích cực, đúng hướng trên các lĩnh vực Kết quả đạt được: Kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, lạm phát được kiểm soát Kinh tế có bước phục hồi Tái cơ cấu kinh tế đạt kết quả bước đầu Bên cạnh kết quả đạt được,nền kinh
tế trong nước vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế: Kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, lạm phát được kiểm soát nhưng chưa vững chắc Sản xuất kinh doanh còn nhiều khó
Trang 27khăn Nợ xấu còn cao, tái cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng còn chậm so với yêu cầu.
Kinh tế trong nước nhìn chung khá ổn định, lạm phát được kiểm soát, đầu
tư phát triển sản xuất bắt đầu được chú trọng, nhà nước cũng có những ưu đãi đặc biệt cho ngành dệt may như giảm thuế, giảm lãi suất, hỗ trợ vay vốn nước ngoài tạo điều kiện thuận lợi để thúc đẩy hoạt động xuất khẩu Các chính sách kinh tế vĩ mô còn nhiều bất ổn, trong trường hợp Chính phủ cắt giảm đầu tư công, nâng mặt bằng lãi suất, thay đổi tỷ giá sẽ là những bất lợi ảnh hưởng đến hoạt động thúc đẩy xuất khẩu của Công ty
1.4.1.2 Môi trường chính trị xã hội giai đoạn 2011-2015.
- Tình hình chính trị-xã hội thế giới:
Khủng hoảng nợ công trầm trọng diễn ra ở nhiều quốc gia.
Năm 2011, khủng hoảng nợ công diễn ra trầm trọng ở nhiều quốc gia Bắt nguồn từ Ireland, khủng hoảng nợ công đã lan sang Hy Lạp, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và cả đối với Italia, quốc gia thuộc G7 và là nền kinh tế lớn thứ 4 châu Âu…Trong khi đó, ở bên kia Đại Tây Dương, “cuộc khủng hoảng nợ công” cũng trở thành một vấn đề gây đau đầu đối với nhiều nhà lãnh đạo của nền kinh tế số 1 thế giới là Mỹ, Những khó khăn về kinh tế đã khiến nhiều tổ chức tín dụng uy tín trên thế giới ồ ạt hạ mức tín nhiệm của nhiều nền kinh tế châu Âu và Mỹ Không những thế, nhiều nhà lãnh đạo của các quốc gia này phải đối mặt với nguy cơ và thậm chí là thực tế phải từ chức Năm 2012, Cuộc khủng hoảng nợ công tại khu vực đồng tiền chung châu Âu (Eurozone) vẫn chưa được giải quyết triệt để, trong khi Liên minh châu Âu bất đồng nội bộ, suy giảm ảnh hưởng, dẫn tới những bất
ổn về an ninh trong khu vực Khủng hoảng nợ công đòi hỏi các quốc gia cần tập trung nguồn lực kinh tế để giải quyết tạo ra những bất lợi nhất định cho hoạt động thúc đẩy xuất khẩu của Công ty
Xung đột xảy ra ở nhiều nơi, căng thẳng trên biển Hoa Đông và biển Đông kéo dài.
Giai đoạn 2012-2015 liên tiếp diễn ra các cuộc tranh chấp biển đảo Năm
2012, Trung Quốc tranh chấp căng thẳng với Philippines, tự ý thành lập thành phố Tam Sa, mời thầu dầu khí trong vùng biển của Việt Nam, phát hành hộ chiếu
in bản đồ Trung Quốc có “đường lưỡi bò” Năm 2013 diễn ra cuộc tranh chấp chủ quyền biển đảo gay gắt ở khu vực Đông Bắc Á giữa Trung Quốc với Nhật Bản và Hàn Quốc Năm 2014 cũng là năm có nhiều bất ổn về an ninh khu vực,
Trang 28đặc biệt là tại khu vực biển Đông và biển Hoa Đông; Ngày 2/5/2014, Trung Quốc ngang nhiên kéo giàn khoan Hải Dương-981 cùng hàng trăm tàu tuần tra vào thềm lục địa và đặc quyền kinh tế của Việt Nam trái phép Hành vi trên của Trung Quốc vi phạm trắng trợn chủ quyền hợp pháp của Việt Nam cũng như Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển (UNCLOS) Năm 2015 Trung Quốc tiếp tục các hoạt động bất hợp pháp ý đồ được cho là quân sự hóa các đảo, xây dựng căn cứ nổi trên Biển Đông bất chấp sự phản đối của nhiều quốc gia.
Bên cạnh xung đột ở Biển Đông, giai đoạn 2011-2015 cũng xảy ra nhiều bất ổn chính trị tại một số nước Đông-Nam Á.Tình hình chính trường Thái Lan bất ổn nghiêm trọng từ cuối tháng 10 do mâu thuẫn và xung đột phe phái sâu sắc.Tình hình tại Campuchia trở nên căng thẳng do Đảng Cứu nguy Dân tộc Campuchia đối lập không công nhận kết quả bầu cử Quốc hội khóa V, cho dù Đảng Nhân dân Campuchia giành đa số ghế Các xung đột kéo dài tại Trung Á, Trung Đông, châu Phi, Đông Nam Á,… chưa được giải quyết lại xảy ra nhiều xung đột vũ trang, đảo chính quân sự, tranh chấp biển, đảo tiềm ẩn nhiều rủi ro lớn cho an ninh, ổn định khu vực và thế giới tạo ra những bất lợi cho hoạt động thúc đẩy xuất khẩu
Thảm họa động đất, sóng thần ở Nhật Bản gây ảnh hưởng đến nền kinh
tế thế giới.
Động đất mạnh 9,0 độ richter ngày 11/3 gây ra trận sóng thần khủng khiếp chưa từng có trong hàng thập kỷ qua tại Nhật Bản Hậu quả trận động đất/sóng thần này không chỉ để lại một vùng tan hoang rộng lớn, hay không dừng lại ở những con số 15.400 người bị chết, hơn 8.000 người mất tích, mà còn khiến Nhật Bản phải đối phó với cuộc khủng hoảng hạt nhân tồi tệ nhất thế giới Chính phủ Nhật Bản đã ước tính thiệt hại sau thảm họa động đất và sóng thần là vào khoảng
210 tỷ USD, chưa bao gồm thiệt hại do sự cố tại nhà máy điện hạt nhân Fukushima số 1 Nhật Bản là nền kinh tế lớn thứ 3 thế giới, nên hậu quả thảm họa 11/3 với nước này đương nhiên sẽ ảnh hưởng lâu dài đến nền kinh tế toàn cầu, trong đó có khu vực Đông Á, kìm hãm đà phục hồi và tăng trưởng của nền kinh tế thế giới gián tiếp ảnh hưởng bất lợi đến hoạt động thúc đẩy xuất khẩu của Công ty
Các cuộc khủng bố và làn sóng di cư liên tiếp diễn ra trong năm 2015.
Trang 292015 là năm thế giới trải qua quá nhiều bất ổn, từ làn sóng khủng bố cho đến các cuộc không kích chống khủng bố Được nhắc đến đầu tiên là nước Pháp,
mở màn năm mới 2015, vụ thảm sát của các tay súng ở tòa soạn tạp chí châm biếm Charlie Hebdo ở Paris, tiếp đó, vụ đánh bom và nổ súng đồng thời ở 6 địa điểm tại Paris và khu vực lân cận Đánh bom, tấn công khủng bố cũng diễn ra ở nhiều nước khác ở các châu lục: Mỹ, Mali, Nigeria, Ai Cập, Syria, Iraq, Aftghanistan Nổi lên là nhóm khủng bố Nhà nước Hồi giáo tự xưng IS, các nhóm khác như Boko Haram, al Nusra Front, Houthi, trong khi al-Qaeda và Taliban vẫn hoạt động tích cực IS với sự tàn bạo đã thay đổi chiến thuật khi kêu gọi người Hồi giáo cực đoan tiến hành các vụ tấn công đơn lẻ, nhằm vào không chỉ các nước phương Tây mà cả Nga, Israel và nhiều nơi khác trên thế giới
Khủng bố, chiến tranh khiến làn sóng người di cư từ Iraq, Syria và các nước khác trong khu vực vượt biển tràn sang Châu Âu và Mỹ Tháng 9.2015, Thủ tướng Đức Angela Merkel tuyên bố Đức sẵn sàng tiếp nhận 800.000 người di cư trong năm 2015 khiến dòng người di cư gia tăng đột ngột Hàng nghìn người bỏ mạng trên biển Châu Âu và Mỹ đối mặt với áp lực khủng khiếp vì dòng người di
cư, gây mâu thuẫn trong chính mỗi nước và giữa các nước trong khối trước câu hỏi "tiếp nhận hay không tiếp nhận", với những bài toán về kinh tế, xã hội, an ninh, trong đó có nguy cơ trà trộn của khủng bố Vụ tấn công hàng loạt ở Paris
do những tay súng và chủ mưu là thành viên IS xâm nhập vào Châu Âu trong dòng người di cư Những bất ổn chính trị này đòi hỏi Chính phủ Mỹ phải huy động nguồn lực nhất định để giải quyết, gián tiếp gây ra khó khăn cho hoạt động thúc đẩy xuất khẩu của Công ty
Tình hình chính trị-xã hội tại Mỹ
Bất đồng đảng phái và khả năng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) chấm dứt chính sách kích thích tiền tệ Năm 2011, Mỹ đang phải đối mặt với sự kình địch quyết liệt giữa một bên là phái cực kỳ tự do mà hiện thân là Đảng cộng hòa và phái cực đoan thuộc Tea Party, và bên kia là phái cải cách với đại diện là Tổng thống Barack Obama và Đảng dân chủ Trong khi đó, với gánh nặng nợ nần chồng chất và tỷ lệ thất nghiệp cao, chính phủ Mỹ đứng bên bờ vực phá sản Sự bất bình đẳng về kinh tế cũng như sự tham lam của giới doanh nghiệp ở Mỹ cuối cùng đã làm bùng nổ phong trào "Chiếm Phố Wall" Năm 2014, Ở châu Âu – Đại Tây Dương, hỗn loạn chính trị - xã hội và xung đột đẫm máu giữa các phe phái, các lực lượng chính trị đối lập nhau ở Ukraine đã đẩy quan hệ Mỹ - Nga đến bờ
Trang 30vực của một cuộc chiến tranh lạnh mới và phủ bóng đen bất an lên toàn bộ châu
Âu Hậu quả là những biến động này đã tác động tiêu cực tới tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế số 1 thế giới Tăng trưởng GDP của Mỹ giảm mạnh từ mức 2,8% năm 2012 xuống còn 1,6% năm 2013
Trong xu thế khu vực hóa, toàn cầu hóa thì sự phụ thuộc giữa các nước ngày càng tăng Chính vì thế mỗi biến động của tình hình chính trị - xã hội trên thế giới đều ít nhiều trực tiếp hoặc gián tiếp ảnh hưởng đến nền kinh tế trong nước Lĩnh vực xuất khẩu hơn bất cứ một hoạt động nào khác bị chi phối mạnh
mẽ nhất Các bất ổn chính trị là một rào cản đối với hoạt động xuất khẩu hàng may mặc của Công ty vì sự thay đổi khó lường trong các chính sách sẽ dẫn dến
sự thay đổi cán cân thanh toán quốc tế, lãi suất, tỷ giá hối đoái của các nước này Căng thẳng nợ công sẽ buộc các quốc gia cắt giảm chi tiêu dẫn đến giảm nhu cầu nhập khẩu – gián tiếp gây khó khăn cho hoạt động thúc đẩy xuất khẩu Căng thẳng Biển Đông ở khu vực Châu Á ảnh hưởng trực tiếp đến các doanh nghiệp trong nước, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp xuất khẩu Đối với Công ty Hanosimex và các doanh nghiệp dệt may nói chung thì việc căng thẳng với Trung Quốc tại khu vực Biển Đông được đánh giá là gây ảnh hưởng nghiêm trọng, bởi Trung Quốc là nguồn cung nguyên liệu đầu vào chủ yếu của ngành dệt may, nếu giữa hai quốc gia xảy ra thì doanh nghiệp sẽ gặp phải khó khăn trong việc tìm kiếm nguyên liệu đầu vào Những biến động chính trị ở thị trường Mỹ trong giai đoạn này cũng gây ra những khó khăn nhất định cho nền kinh tế Mỹ, ảnh hưởng gián tiếp đến việc thúc đẩy xuất khẩu của Công ty
- Tình hình chính trị-xã hội trong nước:
Tình hình chính trị - xã hội trong nước cơ bản ổn định, quốc phòng an ninh được tăng cường Các cơ chế chính sách ngày càng thông thoáng và hoàn thiện hơn, giúp các doanh nghiệp rất nhiều trong hoạt động kinh doanh của mình Lực lượng vũ trang nhân dân làm tốt nhiệm vụ bảo vệ độc lập,toàn vẹn lãnh thổ,bảo đảm an ninh quốc gia Công tác xây dựng chỉnh đốn đảng được chú trọng, hệ thống chính trị được củng cố.Theo nghị quyết trung ương 6 (lần 2) khoá 8 nhà nước tiếp tục được xây dựng và hoàn thiện,nền hành chính được cải cách từng bước Quan hệ đối ngoại không ngừng được mở rộng, hội nhập kinh tế quốc tế được tiến hành chủ động và đạt nhiều kết quả tốt Nước ta tăng cường quan hệ hữu nghị hợp tác nhiều mặt với các nước xã hội chủ nghĩa, các nước láng giềng, các nước bạn bè truyền thống, tham gia tích cực các hoạt động thúc đẩy sự hợp
Trang 31tác cùng có lợi trong Hiệp hội các nước Đông Nam Á Có quan hệ thương mại với hơn 170 nước, quan hệ đầu tư với gần 70 nước và vùng lãnh thổ, thu hút đợc nhiều nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài Những thành tựu 5 năm qua đã tăng cường sức mạnh tổng hợp , làm thay đổi bộ mặt của đất nước và của nhân dân, củng cố vững chắc độc lập dân tộc và chế độ xã hội chủ nghĩa, nâng cao vị thế và
uy tín của nước ta trên trường quốc tế Sự ổn định chính trị giúp tạo ra sự tin tưởng để thu hút vốn đầu tư nước ngoài đồng thời các cơ chế thông thoáng cũng tác động thuận lợi tới hoạt động xuất khẩu của công ty
Bên cạnh những mặt tích cực thì tình hình chính trị xã hội nước ta vẫn còn một số hạn chế nhất định Tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị và thiếu việc làm ở nông thôn còn ở mức cao, đang là một trong những vấn đề nổi cộm nhất của xã hội Chất lượng giáo dục và đào tạo thấp so với yêu cầu Đào tạo chưa gắn với sử dụng, gây lãng phí Giáo dục ở miền núi, vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn Môi trường đô thị, nơi công nghiệp tập trung và một số vùng nông thôn bị ô nhiễm ngày càng nặng.Công tác quản lý báo chí văn hoá,xuất bản nhiều mặt còn buông lỏng , để nảy sinh những khuynh hướng không lành mạnh Một số giá trị
và văn hoá và đạo đức xã hội suy giảm Mê tín, hủ tục phát triển Mức sống nhân dân, nhất là nông dân ở một số vùng quá thấp.Chính sách tiền lương và phân phối trong xã hội còn thiếu hợp lý.Sự phân hoá giàu nghèo giữa các vùng, giữa thành thị và nông thôn, giữa các tầng lớp dân cư tăng nhanh chóng.Cơ chế cính sách không đồng bộ và chưa tạo động lực mạnh để phát triển.Một số cơ chế, chính sách còn thiếu, chưa nhất quán, chưa sát với cuộc sống, thiếu tính khả thi Nhiều cấp nhiều ngành chưa thay thế , sửa đổi những quy định về quản lý nhà nước không còn phù hợp , chưa bổ sung những cơ chế , chính sách mới có tác dụng giải phóng mạnh mẽ lực lượng sản xuất Những hạn chế trên gây ảnh hưởng bất lợi đến hoạt động thúc đẩy xuất khẩu của Công ty
1.4.1.3 Môi trường cạnh tranh giai đoạn 2011-2015.
Có thể nói khi xâm nhập vào thị trường dệt may thế giới thì đối thủ cạnh tranh khổng lồ và đáng gờm nhất đối với các doanh nghiệp dệt may Việt Nam là Trung Quốc Giai đoạn 2011-2015, tỷ lệ mặt hàng dệt may của Trung Quốc tại
Mỹ luôn chiếm khoảng 37% tổng số mặt hàng nhập khẩu Trung Quốc đã nổi lên
là nước có khả năng chiếm lĩnh thị trường Dệt May lớn nhất thế giới Hàng may mặc Trung Quốc được đánh giá là đa dạng mẫu mã, chất lượng hàng hoá tốt đặc biệt là hàng hoá Trung Quốc được đánh giá là hàng có giá rẻ Điều này đe doạ
Trang 32hàng Dệt May của tất cả các nước có nền công nghiệp dệt may nhỏ lẻ Nguyên nhân chính của các hiện tượng trên là do tại Trung Quốc các nguồn lực đầu vào luôn thấp hơn các đối thủ của mình Để củng cố vị thế của mình chính phủ Trung Quốc đã đưa gia các biện pháp để duy trì và gia tăng khả năng xuất khẩu của mình Hơn nữa chính phủ Trung Quốc luôn luôn quan tâm tới sự gia tăng của may mặc, nhằm chiếm lĩnh thị trường dệt may thế giới Bên cạnh đó: Hàn Quốc, Đài Loan, Thái Lan, Singapore, Philippines… cũng là các nước xuất khẩu hàng may với kim ngạch xuất khẩu cao hơn Việt Nam
Đánh giá các đối thủ của ngành dệt may Việt Nam Thứ nhất, về ưu điểm của các nước, ngành công nghiệp Dệt May của các nước này được tập trung trong các khu công nghiệp, từ đó dẫn tới hiệu quả theo quy mô, giảm các chi phí
cố định trên các đơn vị sản phẩm, tạo sự liên kết chặt chẽ giữa các doanh nghiệp trong ngành, nâng cao hiệu quả cạnh tranh của hàng hoá Các nước này điều có nguồn lao động dồi dào, giá nhân công rẻ và điều quan trọng này là họ có thể chủ động được nguồn nguyên liệu có chất lượng Ngoài ra các doanh nghiệp này chủ động trong công tác Marketing, họ có những biện pháp Marketing sáng tạo quấn hút người tiêu dùng Tại các nước này chính phủ luôn giúp đỡ doanh nghiệp trong khâu xúc tiến thương mại, cung cấp thông tin thương mại đồng thời đưa ra các cảnh báo rủi ro đối với các doanh nghiệp muốn kinh doanh trên thị trường
Mỹ Điều này vừa giúp các doanh nghiệp tiếp cận thành công thị trường Mỹ, đồng thời chính phủ cũng thu hút được một lượng ngoại tệ vô cùng lớn, giải quyết được vấn đề việc làm, kiểm soát được tình trạng thất nghiệp…Hàng may mặc của các nước này đã tập trung phát triển thương hiệu và cho đến này hàng mang nhãn hiệu hàng hoá Trung Quốc, Ấn Độ Đã được công nhận tại thị trường khó tính này, nơi mà các thương hiệu nổi tiếng thế giới có mặt từ khi mới khai sinh Về nhược điểm: Giá cả nhân công tại một số nước như Trung Quốc,
Ấn Độ… đang có xu hướng tăng lên nhanh chóng(chi phí lương cho lao động Trung Quốc tăng trong giai đoạn 2011-2015 là 13% theo cam kết của chính phủ Trung Quốc), cộng với tuổi thọ nghề của công nhân may mặc ngắn nên các doanh nghiệp phải bỏ chi phí lớn trong việc đầu tư vào đào tạo và phát triển nhân công, điều này làm cho giá thành sản phẩm, giảm khả năng cạnh tranh của sản phẩm, một số nước cũng không chủ động được nguồn nguyên liệu sản phẩm Các nước xuất khẩu vào thị trường Mỹ đa số xuất khẩu theo dạng gia công, nhận đơn đặt hàng của các doanh nghiệp tại Mỹ, giá trị gia tăng sản phẩm là rất ít, việc tìm hiểu được phong tục, phong cách ăn mặc của người dân Mỹ là rất khó khăn do
Trang 33nước này đa số là dân nhập cư, tập trung nhiều nền văn hoá khác nhau đây là điều khó khăn cho các doanh nghiệp.
Môi trường cạnh tranh vừa gây ra những tác động bất lợi nhưng đồng lời cũng có những ảnh hưởng thuận lợi đến hoạt động thúc đẩy xuất khẩu của Công
ty Việc có nhiều đối thủ mạnh tham gia vào thị trường gây ra một số bất lợi cho hoạt động thúc đẩy xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam Tuy vậy, các doanh nghiệp Việt Nam vẫn có thể tạo ra lợi thế cạnh tranh từ những nhược điểm của các đối thủ này bằng cách tận dụng nguồn nhân công giá rẻ trong nước, đây
có thể xem như yếu tố giúp hoạt động thúc đẩy xuất khẩu phát triển thuận lợi
1.4.2 Các nhân tố chủ quan ảnh hưởng đến xuất khẩu hàng may mặc sang thị trường Mỹ giai đoạn 2011-2015.
Các nhân tố chủ quan ở đây là các nhân tố thuộc về bản thân doanh nghiệp
mà doanh nghiệp có thể tác động làm thay đổi nó để phục vụ cho hoạt động xuất khẩu của mình Bao gồm các nhân tố sau:
1.4.2.1 Nguồn lực tài chính của doanh nghiệp giai đoạn 2011-2015
Năng lực tài chính của doanh nghiệp thể hiện ở vốn kinh doanh của doanh, lượng tiền mặt, ngoại tệ, cơ cấu vốn …Vốn là một nhân tố quan trọng và nó quyết định đến tốc độ tăng sản lượng của doanh nghiệp, doanh nghiệp phải có đủ một số vốn nhất định nào đó thì mới có thể phát triển sản xuất Nguồn vốn là một trong những điều kiện quan trọng để Công ty Dệt – May Hà Nội phát triển sản xuất kinh doanh Nguồn vốn ban đầu của công ty do nhà nước đầu tư 100% Trong quá trình sản xuất kinh doanh, công ty đã tìm cách huy động mởi nguồn vốn, từ việc vay vốn của các ngân hàng đến huy động vốn nhàn rỗi của người lao động trong công ty cộng với các khoản lợi nhuận hàng năm Công ty đã sử dụng lượng vốn huy động một cách hợp lý sử dụng hợp lý để đầu tư vào mua sắm máy móc thiết bị làm tăng nguồn vốn cố định, tạo điều kiện mở rộng sản xuất kinh doanh, để tái sản xuất, mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng sản phẩm hạ giá thành nhằm tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường Đến nay, công ty dệt may Hà Nội là một trong những công ty có giá trị tài sản lớn trong Tổng công ty dệt may Việt Nam Năm 1990, Công ty được Nhà nước giao vốn
161 tỷ đồng và đến cho đến nay, giá trị tài sản của Công ty đạt khoảng 1500 tỷ đồng (trong đó Vốn Chủ sở hữu đạt 269,634 tỷ đồng) Với số lượng vốn lớn, doanh nghiệp cũng đã có những khoản đầu tư đáng kể nhằm phục vụ tốt cho hoạt
Trang 34động xuất khẩu, đây là điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp thúc đẩy xuất khẩu sản phẩm của mình sang thị trường Mỹ.
1.4.2.2.Cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật của Công ty giai đoạn 2011-2015.
Từ khi được thành lập đến nay, công ty dệt may Hà Nội luôn chú trọng đến khâu đẩu tư cải tiến và đổi mới máy móc, thiết bị để sản xuất ra các sản phẩm có chất lượng ngày càng cao đáp ứng những đòi hỏi ngày càng khắt khe của thị trường Là một doanh nghiệp lớn của Tập đoàn Dệt May Việt Nam, Công ty Dệt May Hà Nội đã bắt đầu sản xuất và kinh doanh từ những năm đầu thập kỷ 80 của thế kỷ trước nên máy móc tương đối hiện đại và đồng bộ, sản xuất gia những sản phẩm đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao của người tiêu dùng Tính đến thời điểm 2015 công ty đã có tổng cộng 7 công ty cổ phần và 4 nhà máy Cơ
sở sản xuất của Hanosimex phân bố khắp các vùng miền như: Bắc Ninh, Hà Đông, Hà Nam,Nam Đàn, TP Vinh, Hồng Lĩnh Tính đến 30/06/2015 Doanh nghiệp đã đầu tư tổng cộng hơn 366 tỷ cho việc mua nhà cửa vật kiến trúc và hơn
734 tỷ trang bị máy móc thiết bị phục vụ sản xuất Cụ thể số lượng máy móc của các nhà máy như sau:
+ Nhà máy sợi Hà Nội: có hơn 100.000 cọc sợi, chuyên sản xuất các loại sợi nồi cọc chất lượng cao
+ Nhà máy sợi Vinh (đóng tại thành phố Vinh - Nghệ An) được trang bị dây chuyền sản xuất sợi nổi cọc với 50.000 cọc sợi và dây chuyền sản xuất sợi
PE với 1994 hộp kéo sợi sản lượng: 3.000 tấn sợi PE / năm
+ Nhà máy dệt nhuộm được trang bị thiết bị dệt cùa châu Âu và Đài Loan
ở các cấp dệt khác nhau, các thiết bị nhuộm của Đài Loan và thiết bị hoàn tất của châu Âu, Nhật với công suất 4.000 tấn vải dệt kim / năm và mộtphòng thí nghiệm nhuộm của châu Âu
+ Nhà máy may Nam Đàn có 17 dây chuyền may sản phẩm dệt kim với
380 máy may và l máy thêu của Nhật cùng các thiết bị phụ trợ khác
+ Nhà máy may Đồng Văn có 17 dây chuyền may sản phẩm dệt kim với
405 máy may và l máy thêu của Nhật cùng các thiết bị phụ trợ khác
+ Nhà máy may Đông Mỹ có 8 dây chuyền may sản phẩm dệt kimvới 207 máy may
+ Nhà máy dệt Denim được khánh thành vào tháng 1/2001 được trang bị các thiết bị dệt, nhuộm hồ, hoàn tất, thiết bị thí nghiệm tiên tiến nhất của châu Âu
và Mỹ
+ Nhà máy dệt Hà Đông được trang bị máy dệt thoi, máy dệt Jacquard và
186 máy may
Trang 35Hàng năm Công ty Dệt May Hà Nội vẫn tiếp tục đầu tư đổi mới công nghệ cho phù hợp với yêu cầu của khách hàng Về công nghệ: Tổng công ty đã đầu tư nhiều máy móc mới như dây truyền chải thô CX-4000 của Italia, máy ghép của Thuỵ Sĩ, máy lạnh CIAT của Pháp…Khâu may đầu tư số lượng lớn máy khâu, máy sén, máy thiết kế mẫu, dây truyền may quần Jeans…So với thế giới thì máy móc của Công ty vẫn còn nhiều hạn chế nhưng so với mặt bằng chung của cả nước thì công nghệ của Công ty Dệt – May Hà Nội là tương đối hiện đại Nhìn chung cơ sở vật chất, trang thiết bị của Công ty tạo điều kiện thuận lợi để Công
ty thực hiện hoạt động thúc đẩy xuất khẩu, tuy nhiên Công ty vẫn cần có sự đầu
tư hơn nữa các trang thiết bị máy móc để giảm chi phí sản xuất, tăng cơ hội cạnh tranh với các nước trong cùng lĩnh vực
1.4.2.3 Nguồn nhân lực giai đoạn 2011 – 2015.
Nguồn nhân lực được coi là giá trị cốt lõi đối với mỗi doanh nghiệp, vì vậy,
để thực hiện đẩy mạnh xuất khẩu, Công ty cần chú trọng phát triển nguồn nhân lực Để đảm bảo cho sự phát triển vững chắc trên con đường hội nhập, công ty đang từng bước nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công nhân viên Số cán bộ
có trình độ đại học ngày một tăng lên, đồng thời các công nhân trong các nhà máy cũng được đào tạo bài bản để làm chủ được các máy móc, thiết bị ngày càng hiện đại Nhìn chung, trình độ cán bộ công nhân viên của công ty khá cao so với các doanh nghiệp trong cùng ngành Đặc biệt, các cán bộ quản lý được đào tạo
cơ bản ở nhiều trường đại học uy tín trong nước và nước ngoài như Đại học Kinh
tế Quốc dân, Đại học Ngoại Thương, Đại học Hà Nội…Tuy nhiên, số công nhân nghỉ việc hoặc chuyển công tác lại gia tăng nên công ty cũng thường xuyên phải tuyển dụng và đầu tư kinh phí đào tạo công nhân Hàng năm, Công ty vẫn kiên trì trong nhiều năm củng cố tổ chức sắp sếp lao động theo yêu cầu của bộ và liên hiệp xuất khẩu dệt do đó Công ty Dệt – May Hà Nội có bộ máy gọn nhẹ, có hiệu quả và mở ra sự công bằng trong phân phối lực lượng lao động Các lao động cũng thường xuyên được đào tạo bồi dưỡng tay nghề cho phù hợp với yêu cầu của chất lượng và mẫu mã sản phẩm ngày nay Việc chú trọng đào tạo chất lượng nguồn nhân lực giúp Công ty có điều kiện thuận lợi hơn để thực hiện hoạt động thúc đẩy xuất khẩu
Tóm lại chương 1 đã giới thiệu tổng quan về ngành may mặc Việt Nam, đồng thời giới thiệu khái quát về đặc điểm của thị trường may mặc Mỹ cũng như phân tích tầm quan trọng của việc thúc đẩy xuất khẩu may mặc sang thị trường
Trang 36Mỹ của Tổng Công ty cổ phần dệt may Hà Nội Hanosimex giai đoạn 2011-2015 Chương 1 cũng đã phân tích các nhân tố chủ quan và khách quan tác động theo hướng làm tăng hay làm giảm đến hiệu quả hoạt động thúc đẩy xuất khẩu may mặc sang thị trường Mỹ của Công ty Hanosimex trong giai đoạn 2011-2015 Từ những kết quả phân tích này, chương 2 sẽ tập trung nghiên cứu thực trạng thúc đẩy xuất khẩu may mặc sang thị trường Mỹ của Tổng Công ty cổ phần dệt may
Hà Nội (Hanosimex) giai đoạn 2011-2015
Trang 37CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU HÀNG MAY MẶC SANG THỊ TRƯỜNG MỸ CỦA TỔNG CÔNG TY DỆT MAY HÀ NỘI GIAI
ĐOẠN 2011 – 2015
Chương 1 chúng ta đã có được những nhìn nhận tổng quan về tầm quan trọng của việc thúc đẩy xuất khẩu cùng với phân tích các nhân tố tác động tạo ra thuận lợi và bất lợi như thế nào đối với việc thúc đẩy xuất khẩu hàng may mặc của Công ty cổ phần Dệt May Hà Nội sang thị trường Mỹ
Mục tiêu của Chương 2 là đi sâu vào phân tích và đánh giá thực trạng xuất khẩu hàng may mặc của Công ty sang thị trường Mỹ giai đoạn 2011 - 2015
Nhiệm vụ chính của chương 2 là phải làm rõ được những câu hỏi:
(1) Thực trạng thúc đẩy xuất khẩu hàng may mặc sang thị trường Mỹ của Công ty giai đoạn 2011-2015 như thế nào?
(2) Hoạt động xuất khẩu của Công ty giai đoạn 2011-2015 diễn ra theo quy trình nào?
(3) Công ty đã thực hiện những biện pháp nào để thúc đẩy xuất khẩu sang thị trường Mỹ giai đoạn 2011-2015?
(4) Những ưu điểm, tồn tại và nguyên nhân của những tồn tại này trong xuất khẩu hàng may mặc sang thị trường Mỹ của Công ty giai đoạn 2011 - 2015 là gì?Kết cấu của chương 2 gồm 3 phần chính:
2.1 Thực trạng xuất khẩu hàng may mặc của Công ty cổ phần Dệt May Hà Nội giai đoạn 2011-2015
2.2 Các biện pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng may mặc sang thị trường Mỹ của Tổng Công ty cổ phần May Hà Nội áp dụng giai đoạn 2011-2015
2.3 Đánh giá hoạt động xuất khẩu hàng may mặc sang thị trường EU của Công ty Cổ phần may Văn Phú giai đoạn 2011 - 2015
2.1 TỔNG QUAN VỀ TỔNG CÔNG TY DỆT MAY HÀ NỘI (HANOSIMEX) 2.1.1 Giới thiệu chung về Tổng công ty.
Tên công ty: TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN DỆT MAY HÀ NỘI
Tên giao dịch quốc tế: HANOSIMEX
Trang 38HANOSIMEX là một Tổng Công ty lớn nằm trong chuỗi cung ứng Sợi - Dêt - May của VINATEX với các nhà máy sản xuất tại Hà Nội, Bắc Ninh, Hưng Yên, Hà Nam, Nghệ An, Hà Tĩnh
Kinh doanh kho vận, vận tải, văn phòng, nhà xưởng, kinh doanh nhà hàng, khách sạn, siêu thị, các dịch vụ vui chơi giải trí
Đối tác khách hàng chính: Puma, The North Face, Soma, Gap, Champion, Under Armour, Old Navy…
Thị trường xuất khẩu : Mỹ, Nhật, EU, Hàn Quốc, Đài Loan…
2.1.2.Quá trình hình thành và phát triển.
Công ty dệt may Hà Nội (Hanoi Textile and Garment Company -HANOSIMEX), tiền thân là nhà máy sợi Hà Nội - Xí nghiệp liên hợp sợi - dệt kim Hà Nội, là một doanh nghiệp lớn thuộc Tổng công ty dệt may Việt Nam, được khởi công xây dựng năm 1979 với sự hợp tác của hang Unionmatex (CHLB Đức) Từ năm 1979 đến năm 2001, cùng với quá trình sản xuất kinh doanh của mình công ty kết hợp với việc xây dựng thêm các nhà máy và lắp đặt các trang thiết bị để không ngừng cải tiến công nghệ
30/4/1991: Đổi tên Nhà máy Sợi Hà Nội thành Xí nghiệp Liên Hợp Sợi - Dệt Kim Hà Nội Tên giao dịch quốc tế: HANOSIMEX
19/6/1995: Đổi tên Xí nghiệp Liên hợp Sợi - Dệt Kim Hà Nội thành Công
ty Dệt Hà Nội
28/2/2000: Đổi tên Công ty Dệt Hà Nội thành Công ty Dệt May Hà Nội
Trang 392000 đến 2005: Là giai đoạn tiếp tục phát triển không ngừng trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, chuyển đổi mô hình doanh nghiệp và mở rộng hoạt động kinh doanh.
2005 đến 2006: Tập trung cho việc triển khai thực hiện mô hình “Công ty
mẹ - Công ty con ” và thực hiện cổ phần hoá các Công ty thành viên
2/2007: Chuyển thành Tổng công ty dệt may Hà Nội (HANOSIMEX) Cũng trong thời gian này, công ty SX-XNK dệt may Hải Phòng đã tiến hành đại hội cổ đông để trở thành Công ty cổ phần thương mại Hải Phòng – Hanosimex, trong đó Hanosimex chiếm hơn 51% vốn điều lệ
12/2007: Tiến hành đại hội cổ đông để thực hiện chủ trương đổi mới doanh nghiệp của Chính phủ và chuyển thành Tổng công ty cổ phần dệt may Hà Nội (Nhà nước giữ 57% vốn điều lệ), hoạt động từ 01-01-2008
5/2013: Tổng Công ty Cổ phần dệt may Hà Nội gồm: 13 đơn vị thành viên (8 công ty cổ phần, 1 công ty TNHH-MTV và 4 nhà máy thành viên), với gần 4.500 cán bộ công nhân viên với năng lực sản xuất mỗi năm khoảng:
• Sợi các loại: 21.000 tấn/năm (sợi xe: 1.300 tấn)
• Vải dệt kim: 2.600 tấn
• Quần áo dệt kim: 13 triệu SP/năm
• Khăn bông các loại: 13 triệu chiếc (Tương đương 2.000 tấn/năm)
- Hiện nay: Tổng Công ty là một trong số ít đơn vị có chuỗi cung ứng Sợi – Dệt – May hàng đầu Việt Nam
2.1.3.Mục tiêu, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Tổng công ty.
- Mục tiêu, nhiệm vụ:
Tổng Công ty cổ phần dệt may Hà nội hoạt động với mục tiêu: Tạo dựng một cuộc sống tốt đẹp hơn cho mọi người đồng thời không ngừng gia tăng giá trị cho cổ đông Đẩy mạnh xuất khẩu hàng may mặc sang thị trường Châu Mỹ, Châu Âu; tiếp tục mở rộng thị trường xuất khẩu sang các nước trên Thế giới Công ty đề ra nhiệm vụ:
• Sản xuất các sản phẩm sợi phục vụ cho tiêu thụ trên thị trường và cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy dệt trong nội bộ công ty
• Sản xuất và tiêu thụ các loại vải dệt kim, dệt thoi, để phục vụ cho thị trường và cung cấp vải cho các nhà máy may trong nội bộ công ty Sản xuất, tiêu thụ khăn bông , khăn tay và các sản phẩm sản xuất từ vải khăn
• May các loại áo dệt kim, vải kaki theo đơn đặt hàng của khách hàng Kết hợp với việc gia công cho các bạn hàng lâu năm, trao đổi hàng hóa, tiến hành các hoạt động giao dịch thương mại, sẵn sàng hợp tác cùng các bạn hàng trong và ngoài nước để đầu tư thiết bị hiện đại, khoa học công nghệ mới nhằm không
Trang 40ngừng mở rộng năng lực sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm., tạo công ăn việc làm cho các cán bộ công nhân viên trong công ty.
• Sản xuất 1 số sản phẩm phụ như lõi ống, sáp, hơi nước, khí nén phục
vụ cho sản xuất của các nhà máy thành viên và công ty con trong nội bộ công ty
• Kinh doanh và tiêu thụ các mặt hàng dệt may thông qua hệ thống các cửa hàng
• Góp vốn cùng với Công ty thời trang Vinatex của Tập đoàn Dệt – May Việt nam cùng kinh doanh thương mại thông qua siêu thị
• Kinh doanh vận chuyển hàng hoá trong ngành qua chi nhánh Vinatex Hải phòng
• Thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước, chăm lo đời sống vật chất tinh thần cho người lao động; tìm hiểu, khai thác và mở rộng thị trường; dự báo nhu cầu thị
Cơ cấu tổ chức:
Cơ cấu tổ chức của Công ty là cơ cấu điều hành theo chế độ một thủ trưởng, đứng đầu là TGĐ điều hành mọi hoạt động của công ty
Khối phòng ban chức năng:
• Nhiệm vụ cố vấn cho lãnh đạo công ty về các chiến lược đầu tư phát triển, điều hành quá trình sản xuất, thực hiện các nhiệm vụ kinh tế
• Giám sát kĩ thuật, giám sát chất lượng sản phẩm, cho ý kiến chỉ đạo để các nhà máy sản xuất đật hiệu quả cao