Những đặc thù này chi phối nhiều đến công tác hạch toán kế toán của mỗi đơn vị trọng ngành, đặc biệt là trong hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành, cụ thể đó là: - Sản phẩm xây l
Trang 1Bước sang nền kinh tế thị trường, sự cạnh tranh buộc các doanh nghiệp phải tự thân vận động: tính toán yếu tố đầu vào, sử dụng các yếu tố này thế nào
là hợp lý, hiệu quả nhất Lúc này, mục tiêu hiệu quả kinh doanh được các doanh nghiệp đặc biệt chú trọng vì nó quyết định đến sự sống còn của bản thân doanh nghiệp đó Bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng luôn tìm những giải pháp nhằm hạ giá thành và nâng cao chất lượng sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra
Để làm được điều này đòi hỏi các doanh nghiệp phải tìm cho mình hướng
đi đúng đắn, bên cạnh đó còn phải có một chế độ kế toán hợp lý, phù hợp với đặc thù sản xuất kinh doanh của mình Bởi vì việc tính toán và tập hợp chi phí để tính giá thành sản phẩm quyết định trực tiếp đến hiệu quả sản xuất kinh doanh và các chỉ tiêu kinh tế khác của doanh nghiệp, do đó, các doanh nghiệp phải tổ chức công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm chính xác, kịp thời, đúng phương pháp, đúng chế độ quy đinh
Công ty cổ phần Vinam là một doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực xây dựng cơ bản Được thành lập nhằm huy động vốn và sử dụng đồng vốn có hiệu quả, trong suốt quá trình hoạt động, công ty đã có được uy tín trong toàn tỉnh Để có được kết quả này là do ngay từ đầu, ban lãnh đạo công ty đã xác định được tầm quan trọng của việc xây dựng, tổ chức công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm, coi đây là vấn đề cơ bản gắn liền với kết quả cuối cùng trong sản xuất kinh doanh
Trang 2Sau một thời gian thực tập tại Công ty cổ phần Vinam, được tìm hiểu thực
tế công tác kế toán tại công ty, thấy rõ được tầm quan trọng của công tác kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm, em đã lựa chọn đề tài:
"Hoàn thiện công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại Công ty cổ phần Vinam "
Khóa luận tốt nghiệp ngoài phần mở đầu và kết luận được kết cấu theo 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về công tác kế toán chi phí sản xuất và
tính giá thành sản phẩm xây lắp tại các công ty xây lắp
Chương 2: Thực trạng công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm xây lắp tại Công ty cổ phần xây lắp Vinam
Chương 3: Phương hướng hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và
tính giá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần Vinam
Trang 3CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM XÂY
LẮP TẠI CÁC CÔNG TY XÂY LẮP
1.1 Đặc điểm hoạt động kinh doanh ảnh hưởng đến công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp
1.1.1 Đặc điểm của sản phẩm xây lắp ảnh hưởng đến tổ chức công tác
kế toán CPSX và tính giá thành sản phẩm xây lắp
XDCB là ngành sản xuất vật chất độc lập, có chức năng tái sản xuất tài sản cố định cho tất cả cách ngành trong nền kinh tế quốc dân đồng thời tạo nên
cơ sở vật chất cho xã hội Vì thế, sản phẩm và quá trình tạo ra sản phẩm ngành xây lắp có những đặc thù riêng Những đặc thù này chi phối nhiều đến công tác hạch toán kế toán của mỗi đơn vị trọng ngành, đặc biệt là trong hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành, cụ thể đó là:
- Sản phẩm xây lắp là những công trình xây dựng, vật kiến trúc… có quy
mô lớn, kết cấu phức tạp mang tính đơn chiếc, thời gian sản xuất sản phẩm xây lắp lâu dài…
- Sản phẩm xây lắp được tiêu thụ theo giá dự toán hoặc giá thoả thuận với chủ đầu tư (giá đấu thầu), do đó tính chất hàng hoá của sản phẩm xây lắp không thể hiện rõ (vì đã quy định giá cả, người mua, người bán sản phẩm xây lắp có trước khi xây dựng thông qua hợp đồng giao nhận thầu…)
- Sản phẩm xây lắp cố định tại nơi sản xuất còn các điều kiện sản xuất (xe máy, thiết bị thi công, người lao động…) phải di chuyển theo địa điểm đặt sản phẩm
- Sản phẩm xây lắp từ khi khởi công cho đến khi hoàn thành công trình bàn giao đưa vào sử dụng thường kéo dài Nó phụ thuộc vào quy mô, tính phức
Trang 4tạp về kỹ thuật của từng công trình Quá trình thi công được chia thành nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn lại chia thành nhiều công việc khác nhau, các công việc thường diễn ra ngoài trời do đó chịu tác động rất lớn các nhân tố môi trường như nắng, mưa, lũ lụt
Xuất phát từ những đặc điểm trên, công tác kế toán trong doanh nghiệp xây lắp nói chung cũng như công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp nói riêng có những điểm khác biệt như:
- Đối tượng hạch toán chi phí có thể là hạng mục công trình, các giai đoạn công việc của hạng mục công trình hoặc nhóm các hạng mục công trình… từ đó xác định phương pháp hạch toán chi phí thích hợp
- Đối tượng tính giá thành là các hạng mục công trình đã hoàn thành, các giai đoạn công việc đã hoàn thành, khối lượng xây lắp có tính dự toán riêng đã hoàn thành… từ đó xác định phương pháp tính giá thành thích hợp: phương pháp tính trực tiếp, phương pháp tổng cộng chi phí, phương pháp hệ số hoặc tỷ lệ…
- Xuất phát từ đặc điểm của phương pháp lập dự toán trong XDCB dự toán được lập theo từng hạng mục chi phí Để có thể so sánh kiểm tra chi phí sản xuất xây lắp thực tế phát sinh với dự toán, chi phí sản xuất xây lắp được phân loại theo chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sử dụng máy thi công, chi phí sản xuất chung
1.2.1 Yêu cầu và nhiệm vụ của công tác quản lý CPSX và tính giá thành sản phẩm xây lắp
- Xác định đúng đắn đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành sản phẩm xây lắp
- Phản ánh đầy đủ, chính xác, kịp thời toàn bộ chi phí sản xuất thực tế phát sinh
- Kiểm tra đối chiếu thường xuyên việc thực hiện các chi phí vật tư, nhân công máy thi công và các dự toán chi phí khác
Trang 5- Tính giá thành sản phẩm xây lắp chính xác, kịp thời theo đúng khoản mục giá thành.
- Xác định đúng đắn, bàn giao thanh toán kịp thời khối lượng công tác xây lắp hoàn thành
- Kiểm tra định kỳ và đánh giá khối lượng thi công dở dang theo nguyên tắc quy định, lập báo cáo về chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp một cách kịp thời
1.2 CPSX và phân loại CPSX trong đơn vị xây lắp
1.2.1 Khái niệm CPSX
Chi phí sản xuất của đơn xây lắp là toàn bộ chi phí về lao động sống, lao động vật hoá phát sinh trong quá trình sản xuất và cấu thành nên giá thành của sản phẩm xây lắp
Quá trình sản xuất của ngành xây lắp là quá trình tiêu hao các lao động sống và lao động vật hoá để tạo nên giá trị sử dụng của các sản phẩm để phục vụ cho nhu cầu của con người Để hiểu đúng khái niệm chi phí sản xuất cần phân biệt chi phí và chi tiêu Theo đó, chi phí là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí về lao động sống và lao động vật hoá cần thiết cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh mà doanh nghiệp phải chi ra trong một kỳ kinh doanh Ngược lại, chi tiêu là sự giảm đi đơn thuần các loại vật tư, tài sản, tiền vốn của doanh nghiệp, bất kể nó được dùng vào mục đích gì Chi phí và chi tiêu không những khác nhau về lượng mà còn khác nhau về thời gian, có những khoản chi tiêu kỳ này nhưng chưa được tính vào chi phí (chi mua nguyên vậtl liệu về nhập kho nhưng chưa sử dụng) và có những khoản tính vào chi phí kỳ này nhưng thực tế chưa chi tiêu (chi phí trích trước)
1.2.2 Phân loại CPSX
Trang 6Tùy thuộc vào yêu cầu về quản lý mà chi phí sản xuất trong các đơn vị xây lắp nói được phân loại theo những tiêu thức như sau:
1.2.2.1 Phân loại CPSX theo yếu tố chi phí
Theo tiêu thức này, chi phí được phân theo 7 yếu tố như sau:
- Yếu tố chi phí nguyên liệu, vật liệu
- Yếu tố chi phí nhiêu liệu, động lực sử dụng vào quá trình sản xuất – kinh doanh trong kỳ
- Yếu tố chi phí tiền lương và các khoản phụ cấp lương
- Yếu tố chi phí BHXH, BHYT, KPCĐ
- Yếu tố chi phí khấu hao tài sản cố định
- Yếu tố chi phí dịch vụ mua ngoài
- Yếu tố chi phí khác bằng tiền
1.2.2.2 Phân loại CPSX theo khoản mục chi phí trong giá thành sản xuất
Để thuận tiện cho việc tính giá thành sản phẩm, chi phí lại được phân loại theo khoản mục như sau:
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
- Chi phí nhân công trực tiếp
- Chi phí sử dụng máy thi công
- Chi phí sản xuất chung
1.2.2.3 Các cách phân loại chi phí khác
Ngoài ra, tuỳ thuộc vào yêu cầu quản lý và đặc điểm sản xuất kinh doanh của từng đơn vị, chi phí sản xuất còn được phân loại theo các cách sau:
Phân loại chi phí sản xuất theo mối quan hệ giữa chi phí và đối tượng chịu chi phí Theo cách phân loại này, chi phí sản xuất của doanh nghiệp được chia thành chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp
Trang 7Phân loại CPSX theo mối quan hệ giữa chi phí và khối lượng sản phẩm hoàn thành Theo cách này, chi phí sản xuất của doanh nghiệp được chia thành chi phí cố định (bất biến) và chi phí biến đối (khả biến).
1.3 Giá thành sản phẩm xây lắp
1.3.1 Khái niệm giá thành sản phẩm
Giá thành sản phẩm xây lắp là biểu hiện bằng tiền của lao động sống, lao động vật hoá phát sinh trong quá trình sản xuất có liên quan tới khối lượng xây lắp đã hoàn thành Giá thành công trình, hạng mục công trình hoàn thành toàn bộ
là giá thành sản phẩm cuối cùng của sản xuất xây lắp
Giá thành sản phẩm xây lắp là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh chất lượng hoạt động sản xuất, quản lý của doanh nghiệp, kết quả việc sử dụng các loại vật tư, tài sản trong quá trình sản xuất cũng như các giải pháp thiết kế kỹ thuật mà doanh nghiệp thực hiện nhằm mục đích sản xuất ra khối lượng sản phẩm nhiều nhất với mức chi phí thấp nhất Giá thành sản phẩm còn là căn cứ để tính toán, xác định hiệu quả kinh tế các hoạt động sản xuất của doanh nghiệp
1.3.2 Phân loại giá thành sản phẩm xây lắp
Để đáp ứng yêu cầu quản lý, hạch toán và kế hoạch hoá giá thành cũng như yêu cầu xây dựng giá cả hàng hoá, giá thành được phân loại theo các chỉ tiêu như sau:
1.3.2.1 Căn cứ vào cơ sở số liệu, thời điểm tính giá thành
Theo cách phân loại này, giá thành sản phẩm xây lắp được chia thành:
* Giá thành dự toán: (Zdt): là tổng số các chi phí dự toán để hoàn thành một khối lượng xây lắp Giá thành dự toán được xác định trên cơ sở các định mức theo thiết kế được duyệt và khung giá quy định đơn giá xây dựng cơ bản áp dụng vào vùng lãnh thổ, từng địa phương do cấp có thẩm quyền ban hành
Zdt = Giá trị dự toán - Lợi nhuận dự toán
Trong đó:
Trang 8- Giá trị dự toán là chỉ tiêu dùng làm căn cứ cho các đơn vị xây lắp xây dựng kế hoạch sản xuất của đơn vị đồng thời để các cơ quan quản lý nhà nước giám sát hoạt động của các đơn vị xây lắp.
- Lợi nhuận dự toán là chỉ tiêu nhà nước quy định để tích luỹ cho xã hội
do ngành xây dựng sáng chế tạo ra
- Giá thành kế hoạch (Zkh): là giá thành được xây dựng từ những điều kiện
cụ thể của đơn vị xây lắp trên cơ sở phấn đấu hạ so với giá dự toán bằng các biện pháp tăng cường quản lý kỹ thuật, vật tư, thi công, các định mức và đơn giá áp dụng cho đơn vị xây lắp
1.2.3.2 Theo phạm vi phát sinh chi phí, giá thành được chia thành hai loại
- Giá thành sản xuất (còn gọi là giá thành công xưởng): là chỉ tiêu phản ánh tất cả những chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất, chế tạo sản phẩm trong phạm vi phân xưởng sản xuất Bao gồm: chi phí NVL trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí máy thi công và chi phí sản xuất chung tính cho những sản phẩm, những công trình, những hạng mục công trình đã hoàn thành
- Giá thành tiêu thụ (giá thành toàn bộ công trình): là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ các khoản chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất tiêu thụ sản
Trang 9phẩm chi phí sản xuất, quản lý và bán hàng) Do vậy, giá thành tiêu thụ còn gọi
là giá thành đầy đủ hay giá thành toàn bộ
1.4 Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp
Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp có mối quan hệ mật thiết với nhau Về bản chất, cả chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp đều là những hao phí về lao động sống, lao động vật hoá mà doanh nghiệp phải chi ra trong quá trình sản xuất Tuy nhiên, về lượng thì hai chỉ tiêu này lại có giới hạn ghi nhận các mục chi phí khác nhau Trong khi chi phí sản xuất luôn gắn với từng thời kỳ phát sinh chi phí nên bao gồm cả chi phí sản phẩm dở dang cuối kỳ
và sản phẩm hỏng thì giá thành lại không bao gồm chi phí sản xuất của sản phẩm
dở dang cuối kỳ và sản phẩm hỏng nhưng lại bao gồm chi phí sản xuất của sản phẩm dở dang cuối kỳ trước chuyển sang
Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp được phản ánh qua công thức sau:
+
Chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ
-Chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ
1.5 Nội dung hạch toán chi phí sản xuất
1.5.1 Đối tượng và phương pháp hạch toán CPSX
* Xác định đối tượng hạch toán chi phí sản xuất chính là việc xác định giới hạn tập hợp chi phí mà thực chất là xác định nơi phát sinh chi phí và nơi chịu chi phí Đối với các đơn vị xây lắp, do tính chất phức tạp của quy trình công nghệ, sản phẩm sản xuất mang tính đơn chiếc, có cấu tạo vật chất riêng, mỗi công trình, hạng mục công trình có dự toán thiết kế thi công riêng nên tuỳ thuộc vào yêu cầu quản lý và đặc điểm tổ chức sản xuất mà có thể lựa chọn một trong các phương pháp tập hợp chi phí như sau:
1.5.1.1 Đối tượng kế toán tập hợp CPSX
Trang 10- Tập hợp chi phí sản xuất theo công trình, hạng mục công trình
- Tâp hợp chi phí theo đơn đặt hàng
- Tâp hợp chi phí sản xuất theo đơn vị thi công
1.5.1.1 Phương pháp kế toán tập hợp CPSX
Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất là một phương pháp hay hệ thống các phương pháp đuợc sử dụng để tập hợp và phân loại các chi phí sản xuất trong phạm vi giới hạn của đối tượng hạch toán chi phí Về cơ bản, phương pháp hạch toán chi phí bao gồm các phương pháp hạch toán chi phí theo sản phẩm, theo đơn đặt hàng, theo giai đoạn công nghệ, theo phân xưởng, theo nhóm sản phẩm… Về thực chất, khi vận dụng các phương pháp hạch toán chi phí sản xuất trong công tác kế toán hàng ngày chính là việc kế toán mở các thẻ (sổ) chi tiết hạch toán chi phí sản xuất theo từng đối tượng đã xác định, phản ánh các chi phí phát sinh có liên quan đến đối tượng, hàng tháng tổng hợp chi phí theo từng đối tượng
1.5.2 Nội dung hạch toán chi phí sản xuất
1.5.2.1 Hạch toán chi phí nguyên vật liêu trực tiếp
* Nội dung và nguyên tắc hạch toán
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp là những chi phí về vật liệu chính, vật liệu phụ, được xuất dùng trực tiếp cho hoạt động xây lắp Đây là khoản mục chi phí chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí của công trình xây lắp Để xác định lượng tiêu hao vật chất trong sản xuất và đảm bảo tính chính xác của giá thành công trình xây dựng thì trong quá trình hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, kế toán phải tôn trọng các nguyên tắc sau:
- Vật liệu sử dụng cho việc xây dựng hạng mục công trình nào thì phải tính trực tiếp cho hạng mục công trình đó, trên cơ sở các chứng từ gốc có liên quan theo số lượng thực tế đã sử dụng và theo giá thực tế xuất kho
Trang 11- Cuối kỳ, hạch toán hoặc khi công việc đã hoàn thành phải tiến hành kiểm
kê số vật liệu lĩnh về chưa sử dụng hết ở các công trình, bộ phận sản xuất để ghi giảm chi phí vật liệu trực tiếp sử dụng cho công trình, đồng thời phải tổ chức hạch toán và đánh giá đúng đắn giá trị phế liệu thu hồi (nếu có) theo từng đối tượng sử dụng
sử dụng
+
Trị giá NVL còn lại cuối kỳ chưa sử dụng
-Trị giá phế liệu thu hồi (nếu có)
- Đối với vật liệu sử dụng liên quan đến nhiều đối tượng tập hợp chi phí (vật liệu xây dựng luân chuyển) thi phải tính toán phân bổ cho từng đối tượng Việc tính toán phân bổ có thể tiến hành theo nhiều tiêu thức khác nhau như số lần sử dụng, khối lượng xây lắp hoàn thành…Công thức phân bổ như sau:
Chi phí phân bổ cho
Tiêu thức phân bổ cho
Tỷ lệ (hệ số) phân bổTrong đó:
Tổng tiêu thức phân bổ
* Tài khoản sử dụng: Tài khoản 621 – Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp Tài khoản này được mở chi tiết từng công trình, hạng mục công trình
* Quy trình hạch toán
Trang 12Sơ đồ 1.1 Trình tự hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
1.5.2.2 Hạch toán chi phí nhân công trực tiếp
Chi phí nhân công trực tiếp là tiền lương, tiền công phải trả cho công nhân trực tiếp thực hiện khối lượng công việc xây lắp, công nhân phục vụ xây lắp, bốc
dỡ vật liệu trong phạm vi mặt bằng xây lắp và công nhân chuẩn bị, kết thúc thu gọn hiện trường thi công không phân biệt công nhân trong danh sách hay thuê ngoài Trong quá trình hạch toán chi phí nhân công trực tiếp của hoạt động xây lắp, kế toán phải chú ý những nguyên tắc sau:
- Tiền lương, tiền công phải trả cho công nhân sản xuất có liên quan đến công trình, hạng mục công trình nào thì phải hạch toán trực tiếp cho công trình, hạng mục công trình đó trên cơ sở các chứng từ gốc về lao động và tiền lương như: bảng chấm công, hợp đồng làm khoán, bảng thanh toán lương…
- Ngoài việc tập hợp tiền lương theo các đối tượng sử dụng lao động kế toán còn phải phân loại tiền lương theo thành phần, quỹ lương như: lương sản phẩm, lương thời gian, các khoản phụ cấp…
TK 621
TK 152 (611)
(611)
Trị giá NVL xuất kho
Dùng trực tiếp cho sản xuất
TK 133
Mua vật liệu (không qua kho)
sử dụng ngay cho sản xuất
Trang 13- Các khoản trích theo lương tính trên tiền lương phải trả công nhân trực tiếp thi công (BHXH, BHYT, KPCĐ) không được tính vào chi phí nhân công trực tiếp mà được hạch toán vào chi phí sản xuất chung của hoạt động xây lắp.
* TK sử dụng: TK 622 – Chi phí nhân công trực tiếp Trong hoạt động xây lắp, tài khoản này được mở chi tiết theo từng công trình, hạng mục công trình
theo lương của CNTTSX
Trích trước tiền lương nghỉ phép
của công nhân sản xuất
các đối tượng chịu chi
phí Kết chuyển CPNCTT cho
Trang 141.5.2.3 Hạch toán chi phí máy thi công
Chi phí sử dụng máy thi công là toàn bộ chi phí về sử dụng máy để hoàn thành khối lượng xây lắp bao gồm: chi phí khấu hao cơ bản, chi phí sửa chữa lớn, sửa chữa nhỏ, tiền lương của thợ điều khiển máy và chi phí khác của máy thi công Việc hạch toán chi phí máy thi công phụ thuộc vào hình thức sử dụng máy thi công, tổ chức đội máy thi công chuyên thực hiện các khối lượng thi công bằng máy hoặc giao máy thi công cho các đối tượng xây lắp hoặc đi thuê ngoài máy thi công
* Tài khoản sử dụng: TK 623 – Chi phí sử dụng máy thi công
Nếu đơn vị đi thuê máy, trường hợp này máy thi công không thuộc tài sản của đơn vị, có thể xảy ra các trường hợp như sau:
Chỉ thuê máy thi công không kèm theo nhân công điều khiển và phục vụ máy Đơn vị đi thuê phải trả đơn vị cho thuê một khoản tiền theo định mức quy định kèm theo hợp đồng (gồm khấu hao theo đơn giá ca máy + tỷ lệ định mức về chi phí quản lý) đơn vị thuê máy cũng tự hạch toán chi phí sử dụng máy
Trong trường hợp thuê máy theo khối lượng công việc Bên thuê máy chỉ phải trả cho bên cho thuê máy theo khối lượng công việc và theo đơn giá thoả thuận với công việc máy đã hoàn thành
Sau đây là quy trình hạch toán chi phí sử dụng máy thi công trong hai trường hợp:
Trang 15Sơ đồ 1.3: Trình tự hạch toán chi phí máy thi công nếu doanh nghiệp tổ chức đội
xe, máy thi công riêng và có phân cấp hạch toán cho đội máy có tổ chức kế toán riêng
sử dụng máy thi công Tổng hợp chi phí
Nếu doanh nghiệp thực hiện theo phương thức bán lao vụ máy lẫn nhau giữa các bộ phận
Tập hợp chi phí khấu hao
máy thi công
Tập hợp các khoản chi phí
phải trả bằng tiền khác
Trang 16Sơ đồ 1.4: Trình tự hạch toán chi phí máy thi công nếu doanh nghiệp không
tổ chức đội máy thi công riêng hoặc có tổ chức nhưng không tổ chức kế toán
riêng cho đội
1.5.2.4 Hạch toán chi phí sản xuất chung
Chi phí sản xuất chung là các khoản chi phí sản xuất của đội xây dựng công trường xây dựng bao gồm: lương nhân viên quản lý đội xây dựng, khoản trích BHXH, BHYT, KPCĐ được trích theo đúng tỷ lệ quy định(19%) trên tiền lương phải trả công nhân viên trực tiếp xây lắp (trong danh sách lao động của đơn vị), nhân viên quản lý đội, công nhân sử dụng máy thi công, khấu hao TSCĐ dùng chung cho hoạt động của đội và những chi phí khác có liên quan đến hoạt động của đội
Trang 17* Tài khoản sử dụng: TK 627 – Chi phí sản xuất chung TK này có 6 tài khoản cấp 2
Chi phí nhân viên quảnh lý, các
khoản đóng góp của công nhân trực tiếp
ti pế
Thuế GTGT đầu vào được khấu trừ
Trang 181.5.2.5 Tổng hợp CPSX, kiểm kê đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ
Hạch toán tổng hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản xuất xây lắp được thực hiện trên TK 154 – Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang Trên TK này các chi phí trực tiếp xây lắp công tình sẽ được hạch toán theo từng đối tượng tập hợp chi phí, là công trình hay hạng mục công trình Quá trình hạch toán tổng hợp thể hiện trên bảng tổng hợp chi phí sản xuất và giá thành
Giá thành thực tế công tác xây lắp hoàn thành bàn giao, nghiệm thu Cuối kỳ kết chuyển CPNVLTT
Trang 19khối lượng xây lắp dở dang trong kỳ chưa được chủ đầu tư nghiệm thu và chấp nhận thanh toán
Nhìn chung, việc tính giá sản phẩm dở dang trong xây lắp phụ thuộc vào phương thức thanh toán, khối lượng xây lắp hoàn thành bàn giao giữa người nhận thầu và người giao thầu Nếu quy định thanh toán sản phẩm xây lắp sau khi hoàn thành toàn bộ thì sản phẩm dở dang là phần chi phí phát sinh từ lúc khởi công đến cuối kỳ đó Nếu quy định thanh toán sản phẩm xây lắp theo điểm dừng
kỹ thuật hợp lý (xác định được giá dự toán) thì sản phẩm dở dang là khốil ượng xây lắp chưa đạt tới điểm dừng kỹ thuật hợp lý đã quy định và được tính giá theo chi phí thực tế của hạng mục công trình đó cho các giai đoạn, tổ hợp công việc
đã hoàn thành và giai đoàn còn dở dang theo giá dự toán của chúng Trên cơ sở tài liệu cuối kỳ, giá trị xây lắp dở dang sẽ được tính như sau:
+ Gtrị KL XL DD Ckỳ theo dự toán
1.7 Tính giá thành sản phẩm xây lắp
1.7.1 Đối tượng và kỳ tính giá thành
Đối tượng tính giá thành chính là các loại sản phẩm, công việc, lao vụ Trong các đơn vị xây lắp, đối tượng kế toán chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành phù hợp với nhau, do đó, đối tượng tính giá thành sản phẩm xây lắp là các hạng mục công trình, các giai đoạn công việc đã hoàn thành, các đối tượng công tác xây lắp có dự toán riêng đã hoàn thành
Sau khi xác định được đối tượng tính giá thành, kế toán cũng phải xác định kỳ tính giá thành Kỳ tính giá thành chính là thời gian mà kế toán tổng hợp
số liệu thực tế cho từng đối tượng để tính giá thành, thường là từ khi công tình khởi công cho đến khi hoàn thành bàn giao hoặc đạt đến điểm dừng kỹ thuật hợp
Trang 20lý Kỳ tính giá thành thường phụ thuộc vào đặc điểm tổ chức kinh doanh, chu kỳ sản xuất, thời gian thi công xây dựng hoặc hình thức bàn giao công trình của từng doanh nghiệp Kế toán luôn phải xác định trước kỳ tính giá thành để đảm bảo công tác tính giá thành hợp lý, khoa học.
1.7.2 Phương pháp tính giá thành sản phẩm xây lắp
Để tính giá thành công tác xây lắp hoàn thành có thể áp dụng nhiều phương pháp tính giá thành như:
- Phương pháp tính giá thành trực tiếp
- Phương pháp tính giá thành theo định mức
- Phương pháp tính giá thành theo đơn đặt hàng
Do đặc điểm của sản xuất xây lắp và phương thực thanh toán khối lượng xây lắp hoàn thành, trong kỳ báo cáo có thể có một bộ phận công trình hoặc khối lượng hoàn thành được thanh toán với chủ đầu tư Vì vậy, trong từng thời kỳ báo cáo ngoài việc tính giá thành các hạng mục công trình đã hoàn thành phải tính giá thành khối lượng công tác xây lắp hoàn thành và bàn giao trong kỳ Giá thành sản phẩm xây lắp trong kỳ báo cáo dược tính theo công thức:
+
Chi phí SXKD phát sinh trong kỳ
-Chi phí SXKD dở dang cuối kỳ
1.8 Tổ chức sổ kế toán trong kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp
Để phản ánh một cách đầy đủ, chính xác các nghiệp vụ kinh tế phát sinh đảm bảo cung cấp thông tin kịp thời về tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh cho những đối tượng khác nhau, các đơn vị kinh doanh nói chung, các đơn vị xây lắp nói riêng phải mở đầy đủ các loại sổ ghi chép và thực hiện quản
lý, bảo quản sổ kế toán theo đúng chế độ kế toán hiện hành
Tùy thuộc vào quy mô của đơn vị kinh doanh, tính chất và quy mô của những nghiệp vụ kinh tế phát sinh, yêu cầu quản lý… mà mỗi đơn vị xây lắp có
Trang 21thể lựa chọn một trong 5 hình thức sổ kế toán: Nhật ký - Sổ cái; Nhật ký chung; Chứng từ ghi sổ; Nhật ký – Chứng từ; Hình thức kế toán trên máy vi tính Trong
đó, hình thức Nhật ký sổ cái là hình thức ghi sổ có từ lâu đời, việc ghi chép không quá phức tạp, áp dụng cho những đơn vị có quy mô sản xuất kinh doanh vừa và nhỏ, các nghiệp vụ kinh tế phát sinh ít Đặc trưng cơ bản của hình thức
sổ này: tất cả các nghiệp vụ kinh tế phát sinh đều được ghi vào sổ Nhật ký – Sổ cái theo trình tự thời gian phát sinh và nội dung kinh tế của nghiệp vụ đó
Hình thức Nhật ký – Sổ cái bao gồm các loại sổ sau:
- Sổ Nhật ký – Sổ cái
- Các sổ, thẻ kế toán chi tiết
Sơ đồ 1.7: Quy trình ghi sổ phần hành kế toán chi phí sản xuất và tính giá
Báo cáo kế toán
Sổ chi tiết chi phí sản xuất
Bảng tổng hợp chi phí theo yếu tố Thẻ tính giá thành
Trang 22((1.6 Kiểm kê đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ
TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN VINAM
2.1 Tổng quan về Công ty cổ phần Vinam
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của công ty
Công ty Vinam được thành lập vào ngày 15 tháng 01 năm 2007 là tiền thân của Công ty Cổ Phần Đầu Tư Tài Nguyên và Năng Lượng Việt Nam, Có Số ĐKKD: 0103015917 do Sở Kế Hoạch Đầu Tư Hà Nội Cấp ngày 14 tháng 02 năm 2007 .( Viết thêm cho em ) trên cơ sở sáp nhập Công ty xây dựng I và Công ty xây dựng II Trước đó, Công ty xây dựng I với khoảng hơn 820 công nhân, chịu trách nhiện thi công trong toàn tỉnh: các công trình dân dụng cấp 3, 4
và các loại nhà máy của tỉnh, các cơ quan, trường học, đồn biên phòng Công ty
Trang 23xây dựng II mới thành lập sau năm 1975, lực lượng còn non yếu, số lượng công nhân ít, vào khoảng 300 công nhân.
Tháng 1 năm 2002, thực hiện chương trình sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp Nhà nước, mà trọng tâm là cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước, Công ty
cổ phần xây lắp Cao Bằng được thành lập dưới hình thức chuyển từ Doanh nghiệp Nhà nước thành công ty cổ phần, được tổ chức và hoạt động theo luật Doanh nghiệp căn cứ theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số: 1103000010 ngày 22/01/2001 của sở kế hoạch đầu tư tỉnh Cao Bằng Công ty có trụ sở đặt tại
139 Phố Vườn Cam, Phường Hợp Giang, thị xã Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng
Sau đổi mới, công ty ngày càng lớn mạnh về lực lượng máy móc và diện thi công càng ngày càng mở rộng, không chỉ dừng lại ở thi công công trình dân dụng và công nghiệp mà công ty còn mở rộng sang thầu xây dựng công trình thuỷ lợi; công trình đường giao thông (đường, cầu, cống); công trình cấp nước sinh hoạt, công trình thoát nước; sản xuất vật liệu xây dựng: gạch, đá, cát, sỏi Xây lắp đường điện đến 35kv và trạm biến áp; xây lắp điện lạnh trên địa bàn toàn tỉnh Ngoài ra, công ty còn kinh doanh một số dịch vụ như: kinh doanh nhà nghỉ, nhà khách; Cho thuê nhà phục vụ các mục đích kinh doanh (kiốt); Cho thuê kho bãi đỗ xe, máy móc thiết bị xây dựng tăng thêm nguồn thu cho công
ty Với sự nỗ lực của công nhân viên Công ty cổ phần xây lắp Cao Bằng đã đi vào hoạt động và đạt được những thành tựu đáng kể, cùng với các dịch vụ khác
đã góp phần xây dựng công ty ngày càng phát triển
2.1.2 Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty
2.1.2.1 Mục tiêu, nhiệm vụ, chức năng
Về mục tiêu, công ty được thành lập nhằm huy động vốn và sử dụng
đồng vốn có hiệu quả, phát triển sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực xây dựng cơ bản và lĩnh vực kinh doanh khác Theo đăng ký kinh doanh với mục tiêu thu lợi
Trang 24nhuận, tạo việc làm ổn định cho người lao động, tăng cổ tức cho cổ đông, đóng góp cho ngân sách Nhà nước và phát triển Công ty.
Về chức năng, là doanh nghiệp cổ phần, hoạt động theo luật doanh
nghiệp, điều lệ tổ chức và hoạt động của công ty cổ phần đã được Đại hội cổ đông thông qua Chức năng hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực xây dựng cơ bản (dân dụng công nghiệp, giao thông thuỷ lợi và sản xuất vật liệu xây dựng )
và các ngành nghề khác theo đăng ký kinh doanh, trên địa bàn tỉnh Cao Bằng và toàn quốc
Về nhiệm vụ, công ty có nhiệm vụ tổ chức hoạt động kinh doanh xây lắp
như:
−Công trình dân dụng và công nghiệp
−Xây dựng công trình thuỷ lợi
−Công trình đường giao thông (đường, cầu, cống)
−Công trình cấp nước sinh hoạt, công trình thoát nước
−Sản xuất vật liệu xây dựng: gạch, đá, cát, sỏi
−Xây lắp đường điện đến 35kv và trạm biến áp
−Xây lắp điện lạnh
Ngoài ra, công ty còn tổ chức hoạt động kinh doanh dịch vụ như:
−Kinh doanh dịch vụ, nhà nghỉ, nhà khách
−Cho thuê nhà phục vụ các mục đích kinh doanh (kiốt)
−Cho thuê kho bãi đỗ xe, máy móc thiết bị xây dựng
2.1.2.2 Thị trường đầu vào và đầu ra
Hiện nay, công ty thực hiện kinh doanh xây dựng theo hình thức đấu thầu các công trình xây dựng cơ bản trên địa bàn cả nước
2.1.2.3 Kết quả hoạt động kinh doanh
Đơn vị tính: Đồng VN
Trang 25Chỉ tiêu Năm 2009 Năm 2010 Chênh lệch
Doanh thu 54.595.827.225 48.724.449.875 -5.871.377.350 - 11%Chi phí 50.233.246.663 44.082.220.771 -6.151.025.892 - 12%
Lợi nhuận sau
Tổng TS 54.617.393.349 64.079.220.462 9.461.827.113 17%
Vốn chủ sở
Bảng 2.1 Kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty cổ phần Vinam
Qua nghiên cứu kết quả kinh doanh ở bảng trên cho ta thấy từ năm 2009 đến năm 2010, tổng tài sản và nguồn vốn kinh doanh của công
ty đã tăng đáng kể, điều này cho thấy quy mô sản xuất kinh doanh của công ty đang được ngày càng mở rộng thông qua các số liệu cụ thể như sau:
- Về doanh thu, doanh thu năm 2010 giảm nhẹ so với năm 2009 là 5.871.377.350 VNĐ, tương đương 11%
- Về giá vốn, giá vốn năm 2010 cũng giảm so với năm 2009 là 6.151.025.892 VNĐ, tương đương 12%
- Về lợi nhuận sau thuế, tuy doanh thu năm 2010 có giảm so với năm 2009 nhưng lợi nhuận sau thuế vẫn tăng, về số tuyệt đối là 7.885.931 VNĐ tương đương tăng 1% thể hiện nỗ lực của công ty trong việc quản lý tốt chi phí giá thành trong kỳ kinh doanh
Trang 26- Về tổng tài sản, tổng tài sản đã tăng một cách đáng kể năm 2010 so với năm 2009, số tuyệt đối tăng 674.709.270 VNĐ, tương đương tăng 17% Điều này cho thấy quy mô sản xuất kinh doanh của công ty vẫn đang ngày càng được
mở rộng
- Vốn chủ sở hữu cũng tăng 10% tương đương là 674.709.270 VNĐ, điều này cho thấy tình hình kinh doanh của công ty là khả quan, công ty làm ăn có lãi
và lãi tăng hơn trong năm 2010 so với năm 2009
2.1.3 Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý của công ty
Mỗi doanh nghiệp dù là doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hay doanh nghiệp thương mại, dù là doanh nghiệp lớn hay nhỏ cũng đều phải có một bộ máy tổ chức quản lý để doanh nghiệp duy trì hoạt động liên tục Công ty cổ phần xây lắp Cao Bằng là một doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh do đó trong nhiều năm hoạt động đã ngày càng hoàn thiện hơn về bộ máy tổ chức quản
lý và với mỗi giai đoạn hoạt động, mỗi cơ chế quản lý khác nhau thì tổ chức bộ máy quản lý cũng có sự khác biệt nhất định
Chuyển đổi hình thức sở hữu từ công ty nhà nước sang công ty cổ phần,
tổ chức bộ máy quản lý có những đặc thù riêng khác với trước khi tiến hành cổ phần hoá Nếu như trước đây, bộ máy quản lý bao gồm: Đảng uỷ, công đoàn, Ban giám đốc gồm 1 giám đốc và 2 phó giám đốc giúp việc cho giám đốc Công
ty gồm 6 phòng ban (phòng tài chính lao động tiền lương, phòng hành chính quản trị, phòng kế hoạch, phòng kĩ thuật, phòng cung ứng vật tư, phòng tổ chức
kế hoạch), thì hiện nay, bộ máy quản lý của công ty đã được đổi mới để phù hợp hơn với loại hình sở hữu, cơ cấu tổ chức quản lý của công ty được thể hiện thông qua mô hình sau:
Đại hội cổ đông
Trang 27Sơ đồ 2.2 Mô hình bộ máy tổ chức của Công ty cổ phần xây lắp Cao Bằng
2.1.3.1 Đại hội cổ đông
Đại hội cổ đông là cơ quan quyết định cao nhất của công ty gồm:
- Đại hội cổ đông thành lập
- Đại hội cổ đông thường niên
- Đại hội cổ đông bất thường
Nghị quyết của đại hội cổ đông có giá trị khi được các cổ đông đại diện nắm giữ 51% vốn điều lệ công ty thông qua
2.1.3.2 Hội đồng quản trị
Hội đồng quản trị gồm 5 thành viên, là Bộ máy quản lý công ty có toàn quyền nhân danh công ty quyết định mọi vấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợi của công ty Trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của đại hội cổ đông (theo điều lệ quy định)
Giám đốc điều hành giúp việc giám đốc P Giám đốc - KT trưởng
Phòng kế toán tài vụ
Phòng kế hoạch kỹ thuật
Các đội sản xuất
Trang 28Hội đồng quản trị có toàn quyền nhân danh công ty quyết định mọi vấn
đề liên quan đến mục đích, quyền lợi của công ty phù hợp với pháp luật
Hội đồng quản trị có trách nhiệm, lãnh đạo điều hành hoạt động của công ty có hiệu quả bằng Nghị quyết Đại hội cổ đông; Nghị quyết của Hội đồng quản trị; Trình Đại hội cổ đông, các báo cáo hoạt động của Hội đồng quản trị kết quả sản xuất kinh doanh, phương án phân phối lợi nhuận; báo cáo về chia cổ tức, lập các quỹ; Bổ nhiệm, miễn nhiệm trong toàn công ty; Duyệt phương án tổ chức
bộ máy và các đơn vị trực thuộc; Kiến nghị: bổ xung hoặc sửa đổi điều lệ Công ty; Quyết định triệu tập, chuẩn bị nội dung, tổ chức Đại hội cổ đông; Quyết định trả lương, trả thưởng cho toàn công ty; Quyết định tuyển dụng và thi hành kỷ luật đối với cán bộ công nhân viên; Xem xét chuyển nhượng các cổ phần
2.1.3.3 Ban kiểm soát
Ban kiểm soát là tổ chức thay mặt cổ đông, để kiểm soát mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty Ban kiểm soát có 3 thành viên, do đại hội cổ đông bầu và miễn nhiệm với số phiếu quá bán, ban kiểm soát có thể được bầu lại với số nhiệm kỳ không hạn chế
2.1.3.4 Ban giám đốc
Ban giám đốc gồm: Giám đốc công ty do Hội đồng quản trị bổ nhiệm và miễn nhiệm, giúp việc giám đốc có các phó giám đốc, kế toán trưởng do Hội đồng quản trị bổ nhiệm và miễn nhiệm, theo đề nghị của giám đốc
trách nhiệm về hoạt động sản xuất kinh danh của công ty theo pháp luật, theo nghị quyết của đại hội cổ đông, theo điều lệ và quy chế của công ty
−Bảo toàn và phát triển vốn kinh doanh
Trang 29−Xây dựng và trình Hội đồng quản trị, kế hoạch hàng năm, kế hoạch dài hạn
−Đề nghị Hội đồng quản trị bổ nhiệm, miễn nhiệm phó giám đốc, kế toán trưởng và các chức danh trưởng phó phòng, đội trưởng đội phó và các bộ phần trong công ty
−Ký kết các hợp đồng kinh tế theo luật, theo quyết định giá mua, giá bán, thiết bị, nguyên liệu, sản phẩm (trừ những mặt hàng nhà nước quy định giá bán)
−Báo cáo trước HĐQT về tình hình sản xuất kinh doanh của công ty
−Đề nghị HĐQT bổ nhiệm, miễm nhiệm, khen thưởng, kỷ luật các chức danh cán bộ quản lý và công nhân viên dưới quyền
−Đại diện cho Công ty cổ phần xây lắp Cao Bằng, trong việc khởi kiện các
vụ kiện có liên quan đến quyền lợi của công ty
2.1.3.5 Khối phòng chức năng
2.1.3.5.1 Phòng tổ chức hành chính
trong các mặt công tác sau
−Điều chỉnh điểm để trả lương hàng năm
−Lập kế hoạch đào tạo và đào tạo lại cho cán bộ công nhân viên, hàng năm
tổ chức thi tay nghề cho công nhân lao động
−Tiếp thu triển khai thực hiện các chế đôi chính sách của nhà nước đối với người lao động
Trang 30−Quản lý trang thiết bị hành chính, văn phòng phẩm, điện tín điện thoại, nhà cửa điện nước, quản lý con dấu, giấy giới thiệu, công văn đi đến
−Công tác lễ tân
−Quản lý xe con đi công tác
−Tham gia xây dựng quy chế quản lý công ty và đôn đốc thực hiện
−Quản lý công tác tự vệ và bảo vệ toàn công ty: Xây dựng nội quy, quản lý khu chung cư công ty
−Quyết toán chi phí hành chính một năm 2 lần Nộp phòng kế toán tài vụ vào ngày 5/1 và 5/7 hàng năm
2.1.3.5.2 Phòng kế toán tài vụ
giúp việc giám đốc
−Tổ chức hợp lý bộ máy kế toán ở đơn vị
−Tổ chức thực hiện các phương pháp kế toán, các nguyên tắc kế toán và chế
độ kế toán hiện hành, tổ chức vận dụng hình thức kế toán hợp lý, các phương tiện kỹ thuật tính toán hiện có nhằm đảm bảo chất lượng của thông tin kế toán
−Xác định rõ mối quan hệ giữa các bộ phận trong bộ máy kế toán, với các
bộ phận quản lý khác trong đơn vị về các công tác có liên quan đến công tác của đơn vị mình
−Tổ chức hướng dẫn các bộ phận chuyên môn, chấp hành chế độ quản lý kinh tế tài chính nói chung và chế độ kế toán nói riêng, tổ chức kiểm tra kế toán nội bộ đơn vị
−Ghi chép, phản ánh kịp thời chính xác trung thực các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của toàn đơn vị theo đúng yêu cầu nghiệp vụ về chế độ chính sách của nhà nước
Trang 31−Phát hiện và quản lý kịp thời những vi phạm tài sản công ty, vi phạm chế
độ thu chi tài chính để lãnh đạo công ty xử lý
−Phân tích kịp thời các hoạt động kinh doanh giúp Giám đốc có những quyết định đúng đắn trong quá trình điều hành sản xuất
−Nghiêm cứu, lập hồ sơ dự thầu, đấu thầu, soạn thảo các hợp đồng kinh tế
về việc giao nhận thầu
−Tiếp nhận, phổ biến các thông tin về giá cả, chế độ chính sách, các thông
tư, Nghị dịnh về xây dựng đến các đơn vị trực thuộc có liên quan trong toàn công ty, nhằm đảm bảo việc kinh doanh có lãi
−Tham mưu cho các đội nhận thầu trong công tác lập quyết toán công trình nhằm đảm bảo tính đúng, tính đủ các chi phí sản xuất, đúng chế độ chính sách của nhà nước
−Thường xuyên học tập, nghiên cứu và phổ biển các biện pháp về quản lý tiên tiến nhằm nâng cao năng suất lao động, kinh doanh có hiệu quả, từ đó nâng cao đời sống cán bộ công nhân viên và phát triển sản xuất
−Thường xuyên học tập, nghiên cứu và phổ biến các biện pháp kỹ thuật thi công tiên tiến, đôn đốc kiểm tra việc thi công các công trình đảm bảo tiến độ, đúng thiết kế và thực hiện đúng các quy trình, quy phạm kỹ thuật của nhà nnước
Trang 32−Kiểm tra, duy trì việc đôn đốc áp dụng tốt hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001 - 2000.
−Nắm chắc tình hình thực hiện sản lượng, tham gia quyết toán tài chính 6 tháng và cả năm (1 năm 2 lần)
−Kiểm tra vật tư định mức hàng tháng của các đội theo giá trị sản lượng thực hiện
−Phòng hỗ trợ các đội nhận thầu, thanh toán khối lượng hoàn thành
−Hỗ trợ các đội nhận thầu, hoàn chính thủ tục thanh lý hợp đồng, thanh toán dứt điểm (nếu đội có ý kiến đề xuất và gửi đầy đủ hồ sơ liên quan)
−Đôn đốc thanh toán các khoản nợ đọng kéo dài
−Tổng hợp theo dõi thanh lý hợp đồng các công trình hết thời gian bảo hành
−Phòng cùng ban Giám đốc tiếp cận các chủ đầu tư mà công ty tham gia thi công, sau đó phòng có trách nhiệm đôn đốc và báo cáo kết quả
−Báo cáo kết quả công tác tháng, phương hướng kế hoạch tháng tiếp theo bằng văn bản
−Xây dựng kế hoạch tiếp cận chủ đầu tư những dự án mới
−Đề xuất các biện pháp tháo gỡ khó khăn trong các công việc liên quan đến công tác xây dựng cơ bản với lãnh đạo bằng văn bản những công việc ngoài khả năng của phòng
−Tiếp nhận các thông tin phản hồi từ khách hàng về chất lượng sản phẩm
Trang 332.1.3.5.5 Các đội sản xuất
Chức năng: là 1 đơn vị sản xuất kinh doanh, do công ty cổ phần xây lắp thành lập và cán bộ quản lý đội hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực xây dựng
cơ bản, theo giấy phép đăng ký kinh doanh của công ty, đội nhận thầu không có
tư cách pháp nhân, thực hiện hạch toán báo sổ toàn phần mọi hoạt động kinh tế của đội
Nhiệm vụ: đội tự tìm kiếm hoặc cùng công ty tìm kiếm việc làm cho đội
−Công ty tìm được việc giao cho đội theo hợp đồng giao việc
−Tự tổ chức vật tư nhân lực, tiền vốn để thực hiện hợp đồng đã ký kết
−Tự tổ chức hạch toán đúng yêu cầu nghiệp vụ, đúng chế độ chính sách về quản lý tài chính kế toán
−Đảm bảo đời sống cán bộ công nhân viên, bảo toàn các nguồn vốn được giao, nộp đủ nghĩa vụ với công ty và có tích luỹ phát triển sản xuất của đội
Như vậy, mỗi phòng ban đều có một chức năng, nhiệm vụ riêng nhưng lại
có mối quan hệ mật thiết với nhau, chịu trách nhiệm trước ban giám đốc của công ty, mặt khác, ban giám đốc lại chịu sự giám sát của Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát Vị trí, chức năng, nhiệm vụ của các phòng ban khác nhau nhưng mục đích cuối cùng vẫn là sự sống còn và phát triển của công ty trong nền kinh
tế thị trường
Với cách tổ chức quản lý như trên, công ty đã tạo điều kiện quản lý về kinh
tế kỹ thuật với từng đội thi công Như vậy có thể thấy bộ máy sản xuất của công
ty cổ phần Xây lắp Cao Bằng rất linh hoạt giúp giám đốc thu được đầy đủ và kịp thời các thông tin từ các phòng ban và nhân viên, đặc biệt là hệ thống thông tin
kế toán
2.1.4 Đặc điểm bộ máy kế toán và công tác kế toán của công ty
Trang 34Để phát huy vai trò quan trọng trong công tác quản lý sản xuất kinh doanh
và do đặc điểm sản xuất xây lắp có sản phẩm là những công trình xây dựng, vật kiến trúc có quy mô lớn, kết cấu phức tạp mang tính đơn chiếc, thời gian sản xuất sản phẩm xây lắp lâu dài, hình thức quản lý là tổ chức nhận thầu xây lắp, công ty có các đội nhận thầu hạch toán độc lập, vì thế bộ máy kế toán của công
ty được tổ chức theo hình thức phân tán
2.1.4.1 Đặc điểm bộ máy kế toán
Tổ chức bộ máy kế toán của công ty được khái quát thông qua mô hình:
Sơ đồ 1.2 Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán của Công ty cổ phần Vinam
Ghi chú
Quan hệ chỉ đạo
Quan hệ đối chiếu
Chức năng và nhiệm vụ của từng thành viên cấu thành bộ máy kế toán được quy định cụ thể như sau:
Trang 35−Tổ chức hướng dẫn các bộ phận chuyên môn thực hiện tốt công việc được giao, tổ chức kiểm tra kế toán nội bộ đơn vị 1 năm 2 lần (ngày 15/08->20/08 kiểm tra quyết toán tài chính, định mức vật tư cả năm) Qua kết luận kiểm tra tài chính 6 tháng và cả năm các đội có dấu hiệu mất cân đối về tài chính, phòng kế toán sẽ tạm dừng giao dịch, báo cáo Giám đốc và Hội đồng quản trị giải quyết.
−Lập báo cáo tài chính năm theo chế độ
−Lập kế hoạch tài chính năm và báo cáo liên quan theo yêu cầu quản lý của các ngành
−Lập dự toán thu ngân sách năm trình giám đốc xem xét quyết định
−Kiểm tra thường xuyên công việc của các bộ phận chức năng nhằm phát hiện và điều chỉnh kịp thời những sai sót trong các khâu: kê khai, hạch toán, báo cáo
−Tổng hợp kế hoạch vay tiền mặt theo tuần của từng đội sản xuất giải quyết chi tiền mặt cho các đội
2.1.4.1.2 Kế toán tổng hợp
−Nhập máy toàn bộ hoá đơn, chứng từ đầu vào của công ty, của đội
−Kê khai thuế đầu vào, đầu ra trên cơ sở hoá đơn, chứng từ của đội nộp tại công ty, lập báo cáo quyết toán thuế, thủ tục hồ sơ hoàn thuế theo quy định
−Quản lý hoá đơn bán hàng, giấy nộp tiền vào ngân sách, báo cáo sử dụng các loại hoá đơn này theo yêu cầu của cơ quan quản lý
−Tổng hợp, báo cáo các khoản thu chi của các đội qua công ty, tính số dư vốn lưu động nộp kế toán trưởng trước kỳ họp giao ban 2 ngày
−Theo dõi và báo cáo kết quả kinh doanh đội thiết bị
−Chịu trách nhiệm về tính chính xác toàn bộ số liệu báo cáo
2.1.4.1.3 Kế toán thanh toán
Trang 36−Viết phiếu thu, chi hàng ngày trình kế toán trưởng ký duyệt mới trình lên Giám đốc
−Viết các hợp đồng vay vốn trung hạn, ngắn hạn theo kế hoạch vay vốn của đơn vị
−Quan hệ thanh toán với Ngân hàng
−Đóng chứng từ, và kiểm tra sổ quỹ tiền mặt, tiền gửi, tiền vay vốn của đơn vị
−Vào sổ chi tiết các nghiệp vụ thu chi của đơn vị, theo dõi các khoản nợ phải thu, phải trả của từng đội, đóng thành lập theo từng năm và lưu theo quy định
−Đối chiếu số liệu với các đội, đối chiếu công nợ, biên bản thanh lý với các đơn vị cung ứng vật liệu với các đội, đối chiếu công nợ, biên bản thanh lý với các đơn vị cung ứng vật liệu ký hợp đồng với công ty
−Tính toán lương hàng tháng, đối chiếu các khoản bảo hiểm, kinh phí công đoàn đưa vào giá thành
−Chịu trách nhiệm về tính chính xác của các số liệu báo cáo trên
2.1.4.1.4 Thủ quỹ
Ngoài nhiệm vụ chính là thu chi tiền mặt ở đơn vị còn đảm nhận thêm một số công việc sau:
−Đối chiếu xăng dầu hàng tháng
−Tập hợp chứng từ liên quan đến tài sản cố định, theo dõi và tính khấu hao TSCĐ theo đúng chế độ
−Theo dõi chi tiết vốn đóng góp của các cổ đông (chuyển nhượng, mua bán
cổ phần)
− Đôn đốc thu các khoản thu bảo hiểm, tạm ứng cá nhân
2.1.4.1.5 Kế toán các đội sản xuất
Trang 37−Tập hợp chứng từ, ghi chép đầy đủ, trung thực các nghiệp vụ kinh tế phát sinh tại đội
−Lập báo cáo tài chính của đội một năm 2 lần nộp phòng kế toán: Báo cáo tài chính 6 tháng đầu năm (ngày 30/7), Báo cáo tài chính cả năm (ngày 20/02), Lập các báo cáo thống kê
−Hàng tháng đối chiếu các khoản thu chi qua công ty, tính lãi vốn lưu động đảm bảo số liệu báo cáo trước cuộc họp giao ban là chính xác (từ ngày 28 đến 02 tháng sau)
−Theo dõi chi tiết nợ phải thu, phải trả của đơn vị mình phụ trách, đối chiếu
số liệu này với kế toán thanh toán
−Lập quyết toán công trình theo sản lượng do đội trưởng hoặc kỹ thuật cung cấp
2.1.4.2 Đặc điểm công tác kế toán
vào ngày 31/12 năm tài chính
−Nguyên tắc ghi nhận tài sản cố định: theo nguyên giá
−Phương pháp khấu hao tài sản cố định: Phương pháp khấu hao đường thẳng
Trang 38−Phương pháp phân bổ chi phí trả trước: theo phương pháp đường thẳng
−Nguyên tắc ghi nhận lợi nhuận chưa phân phối: là số lãi sau khi trừ đi thuế thu nhập doanh nghiệp và các khoản điều chỉnh
−Công ty cổ phần Xây lắp Cao Bằng nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ
2.1.4.2.2 Chế độ chứng từ
Giống như các doanh nghiệp khác, công ty cổ phần Xây lắp Cao Bằng cũng vận dụng các chứng từ theo đúng mẫu chứng từ kế toán mà Nhà nước quy định: các chứng từ kế toán về lao động tiền lương, hàng tồn kho, tiền tệ, tài sản cố định
và một số chứng từ khác Danh mục chứng từ sử dụng trong quá trình hạch toán bao gồm các chứng từ sau:
2.1.4.2.3 Hệ thống tài khoản
Hệ thống tài khoản kế toán của công ty cổ phần Xây lắp Cao Bằng áp dụng
là hệ thống tài khoản kế toán ban hành theo quyết định của Bộ tài chính Bên cạnh đó, do đặc thù sản xuất kinh doanh của mình, công ty còn có những quy định cụ thể các tài khoản chi tiết như sau:
- TK 138 - Phải thu khác
- TK 338 - Phải trả khác
- TK 511 - Doanh thu
2.1.4.2.4 Sổ kế toán áp dụng
Công ty áp dụng hình thức Nhật ký - Sổ cái cho việc
áp dụng kế toán trên máy tính và công tác kế toán của công ty, và thực hiện được tốt công tác quản lý vật tư, quản lý tài sản phục vụ cho hoạt động kinh doanh trong công ty
Hệ thống sổ của công ty bao gồm các sổ tổng hợp và sổ chi tiết theo quy định của Công ty cổ phần xây lắp Cao Bằng
Trang 392.1.4.2.5 Báo cáo kế toán
Công ty lập báo cáo tài chính vào cuối mỗi niên độ kế toán, các báo cáo tài chính sử dụng bắt buộc theo chế độ và chuẩn mực kế toán Việt Nam quy định
2.1.4.2.6 Hình thức ghi sổ
Công ty áp dụng hình thức kế toán Nhật ký - Sổ cái
Ta có thể khái quát những công việc trên thành sơ đồ trình tự ghi sổ như qua sơ đồ:
Sơ đồ 1.3: Trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức Nhật ký - Sổ cái
chi tiết
Sổ, thẻ kế toán chi tiết
BÁO CÁO TÀI CHÍNH
Chứng từ kế toán
Trang 402.2 Thực trạng công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại Công ty cổ phần Vinam.
2.2.1 Kế toán chi phí sản xuất
2.2.1.1 Đặc điểm chi phí sản xuất và đối tượng tập hợp chi phí sản xuất
Chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí về lao động sống cần thiết, lao động vật hoá và các chi phí cần thiết khác
mà doanh nghiệp phải chi ra trong quá trình sản xuất trong một thời kỳ nhất định Theo đó, chi phí sản xuất của đơn vị xây lắp là toàn bộ chi phí về lao động sống và lao động vật hoá phát sinh trong quá trình sản xuất và cấu thành nên giá thành của sản phẩm xây lắp Việc quản lý có hiệu quả các khoản mục chi phí là một công việc hết sức cần thiết đảm bảo lợi nhuận cho công ty
Chi phí sản xuất sản phẩm xây lắp được phân làm 4 loại:
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
- Chi phí nhân công trực tiếp
- Chi phí sử dụng máy thi công
- Chi phí sản xuất chung
Công ty đã xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là các công trình, hạng mục công trình, các giai đoạn của hạng mục công trình từ đó xác định phương pháp trực tiếp để tập hợp chi phí sản xuất Chi phí trực tiếp phục vụ cho công trình, hạng mục công trình nào thì tập hợp cho công trình, hạng mục công trình đó Các chi phí gián tiếp, chi phí chung liên quan đến nhiều công trình, không thể đưa trực tiếp vào giá thành sản phẩm một công trình, hạng mục công trình cụ thể thì tiến hành phân bổ cho các công trình đó theo những tiêu thức thích hợp
Mỗi công trình, hạng mục công trình đều được mở sổ chi tiết chi phí theo từng yếu tố chi phí để tập hợp chi phí sản xuất thực tế phát sinh cho công trình, hạng mục công trình đó Kể từ khi đi vào thi công đến khi