1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

GIÁO dục TÍNH tự TIN CHO TRẺ 5 6 TUỔI THÔNG QUA TRÒ CHƠI ĐÓNG KỊCH ở TRƯỜNG mầm NON

166 2,4K 24

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 166
Dung lượng 4,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vớitrẻ lứa tuổi mầm non “học bằng chơi, chơi mà học”, trò chơi đóng kịch dựa theo tác phẩm văn học là một trong những hoạt động được trẻ em yêu thíchbởi nó vừa mang tính nghệ thuật vừa l

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

- -BÙI THỊ HẰNG NGA

GIÁO DỤC TÍNH TỰ TIN CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI

THÔNG QUA TRÒ CHƠI ĐÓNG KỊCH Ở TRƯỜNG MẦM

NON

Chuyªn ngµnh: Gi¸o dôc häc (Gi¸o dôc mÇm non)

M· sè: 60.14.01.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Như Mai

Trang 2

Hà Nội - 2016 LỜI CẢM ƠN

Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn chânthành nhất tới cô giáo PGS.TS Nguyễn Thị Như Mai – người đã trực tiếp, tậntình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến Ban chủ nhiện khoa và cácthầy cô giáo trong khoa Giáo dục Mầm non đã tận tâm giảng dạy và giúp đỡtôi trong suốt thời gian tôi học tập tại Khoa

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến phòng sau Đại học, trường Đại học Sưphạm Hà Nội đã tạo điều kiện cho chúng tôi được học tập và bảo vệ luận văncủa mình

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến tập thể giáo viên trường Mầm nonThực hành Sư phạm - Thành phố Uông Bí - Quảng Ninh và các cháu học sinhlớp 5 - 6 tuổi đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài

Cuối cùng, xin được gửi lời tri ân sâu sắc đến gia đình và bạn bè tôi những người luôn động viên tôi, giúp đỡ tôi những lúc khó khăn để tôi có thểhoàn thành được nghiên cứu này

-Luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót, kính mong sự chỉ dẫn,góp ý của quý thầy cô, bạn đọc để luận văn của tôi ngày một hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà nội, tháng 10 năm 2016

Tác giả

Bùi Thị Hằng Nga

Trang 3

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

: Giáo viên: Tiêu chí: Trò chơi đóng kịch: Tác phẩm văn học: Thực nghiệm: Tính tự tin

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2

4 Giả thuyết khoa học 3

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 3

7 Phương pháp nghiên cứu 4

8 Kế hoạch nghiên cứu 4

9 Cấu trúc luận văn 5

Chương 1: Cơ sở lí luận về giáo dục tính tự tin cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua trò chơi đóng kịch ở trường mầm non 6

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 6

1.1.1 Xu hướng 1, nghiên cứu về đặc điểm, bản chất của tính tự tin 6

1.1.2 Xu hướng 2, nghiên cứu vai trò của tính tự tin 8

1.1.3 Xu hướng 3, nghiên cứu những yếu tố ảnh hưởng đến tính tự tin 10

1.1.4 Xu hướng 4, nghiên cứu các biện pháp giáo dục tính tự tin 12

1.2 Lý luận về tính tự tin và giáo dục tính tự tin cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường mầm non 15

1.2.1 Khái niệm "Tính tự tin" và “Giáo dục tính tự tin” cho trẻ 5 -6 tuổi 15

1.2.2 Những biểu hiện tính tự tin của trẻ 5 - 6 tuổi 19

1.2.3 Nhiệm vụ, nội dung giáo dục tính tự tin cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường mầm non .23 1.3 Lí luận về giáo dục tính tự tin cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua trò chơi đóng kịch ở trường mầm non 25

1.3.1 Lí luận về trò chơi đóng kịch 25

Trang 5

1.3.2 Ý nghĩa của trò chơi đóng kịch đối với giáo dục tính tự tin cho trẻ 5 - 6

tuổi ở trường mầm non 28

1.3.3 Biện pháp giáo dục tính tự tin cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua trò chơi đóng kịch ở trường mầm non 32

Kết luận chương 1 39

Chương 2: Thực trạng giáo dục tính tự tin và mức độ biểu hiện Tính tự tin của trẻ 5 - 6 tuổi trong trò chơi đóng kịch ở trường mầm non 41

2.1 Tổ chức khảo sát 41

2.1.1 Mục đích khảo sát 41

2.1.2 Nội dung khảo sát 41

2.1.3 Địa bàn và khách thể khảo sát 41

2.1.4 Phương pháp khảo sát 42

2.1.5 Tiêu chí đánh giá và thang đánh giá 43

2.2 Kết quả khảo sát thực trạng giáo dục tính tự tin cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua trò chơi đóng kịch ở một số trường mầm non trên địa bàn thành phố Uông Bí - Quảng Ninh 46

2.2.1 Thực trạng nhận thức của giáo viên về tính tự tin và việc sử dụng biện pháp giáo dục tính tự tin cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua trò chơi đóng kịch ở trường mầm non 46

2.2.2 Thực trạng mức độ biểu hiện tính tự tin của trẻ 5 - 6 tuổi trong trò chơi đóng kịch ở trường mầm non 53

Kết luận chương 2 61

Chương 3: Biện pháp giáo dục tính tự tin cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua trò chơi đóng kịch ở trường mầm non và thực nghiệm sư phạm 62

3.1 Đề xuất một số biện pháp giáo dục tính tự tin cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua trò chơi ở trường mầm non 62

3.1.1 Các nguyên tắc đề xuất biện pháp 62

Trang 6

3.1.2 Các biện pháp đề xuất 65

3.2 Thực nghiệm một số biện pháp giáo dục tính tự tin cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua trò chơi đóng kịch ở trường mầm non 80

3.2.1 Mục đích thực nghiệm: 80

3.2.2 Đối tượng, phạm vi và thời gian thực nghiệm 80

3.2.3 Quy trình thực nghiệm 81

3.2.4 Tổ chức thực nghiệm 83

3.2.5 Kết quả thực nghiệm và phân tích kết quả 84

Kết luận chương 3 98

KẾT LUẬN 100

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 104

PHỤ LỤC

DANH MỤC BẢN

Trang 7

Bảng 2.1 Tiêu chí đánh giá mức độ biểu hiện TTT của trẻ 5-6 tuổi trong

TCĐK ở trường MN 44

Bảng 2.2: Thực trạng sử dụng biện pháp GDTTT cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua TCĐK ở trường MN (N = 30) 49

Bảng 2.3a: Thực trạng mức độ biểu hiện TTT của trẻ 5 - 6 tuổi trong TCĐK ở một số trường MN trên địa bàn TP Uông Bí 53

Bảng 2.3b Mức độ biểu hiện TTT của trẻ 5 - 6 tuổi ở một số trường MN trên địa bàn TP Uông Bí (theo các tiêu chí) 56

Bảng 3.1a Mức độ biểu hiện TTT của trẻ nhóm TN và ĐC trước TN

(tính theo tỉ lệ %) 85

Bảng 3.1b Mức độ biểu hiện tính tự tin của nhóm TN và ĐC trước TN (tính theo độ phân tán điểm số) 85

Bảng 3.1c Mức độ biểu hiện tính tự tin của trẻ nhóm TN và ĐC trước TN (theo các tiêu chí) 86

Bảng 3.2a Mức độ biểu hiện TTT của trẻ nhóm TN và ĐC sau TN (tính theo %) 87

Bảng 3.2b Mức độ biểu hiện TTT của trẻ nhóm TN và ĐC sau TN (tính theo độ phân tán điểm số và kiểm định) 88

Bảng 3.2c Mức độ biểu hiện TTT của trẻ nhóm TN và ĐC sau TN (theo các tiêu chí) 89

Bảng 3.3a So sánh kết quả mức độ biểu hiện TTT của trẻ nhóm TN và ĐC trước và sau TN (tính theo tỷ lệ %) 93

Để thấy rõ sự tiến bộ của nhóm TN so với ĐC sau thực nghiệm, tiến hành so sánh mức độ biểu hiện TTT của 2 nhóm theo từng tiêu chí: 94

Bảng 3.3b So sánh mức độ biểu hiện TTT của trẻ nhóm TN và ĐC

trước và sau TN (tính theo tiêu chí) 94

Bảng 3.3c So sánh mức độ biểu hiện TTT của trẻ nhóm TN và ĐC

trước và sau TN theo độ phân tán điểm số và kiểm định kết quả 96

Trang 8

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.3a Mức độ biểu hiện TTT của trẻ 5 - 6 tuổi ở một số trường MN

trên địa bàn TP Uông Bí (tính theo %) 54

Biểu đồ 3.2a Mức độ biểu hiện TTT của trẻ nhóm TN và ĐC sau TN

(tính theo %) 87

Biểu đồ 3.2c Mức độ biểu hiện TTT của trẻ nhóm TN và ĐC sau TN

(tính theo tiêu chí) 89

Biểu đồ 3.3b1 Mức độ biểu hiện TTT của trẻ nhóm TN trước và sau TN

(tính theo tiêu chí) 95

Biểu đồ 3.3b2 Mức độ biểu hiện TTT của trẻ nhóm ĐC trước và sau TN

(tính theo tiêu chí) 95

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Lứa tuổi mầm non, chặng đường phát triển đầu tiên với tốc độ nhanh vàđặc biệt nhạy cảm, là giai đoạn “vàng” của sự phát triển và cũng là thời cơ

“vàng” của giáo dục Đúng như sự khẳng định của A.Macarenco, những gì

mà trẻ con không có được trước 5 tuổi thì sau này rất khó hình thành và khi

sự hình thành nhân cách ban đầu lệch lạc thì sau này giáo dục lại rất khókhăn Giai đoạn từ 0 đến 6 tuổi là quãng đời có tầm quan trọng đặc biệttrong quá trình phát triển chung của trẻ em bởi chính giai đoạn này những néttính cách cơ bản trong nhân phẩm trẻ được hình thành và để lại dấu ấn suốtcuộc đời Khi nhấn mạnh ý nghĩa của thời kỳ đó, nhóm tác giả Nguyễn ÁnhTuyết, Nguyễn Thị Như Mai và Đinh Thị Kim Thoa đã trích lời L.N.Tônxtôi:

“Tất cả những gì mà đứa trẻ sẽ có sau này khi trở thành người lớn đều thu nhận được trong thời kì thơ ấu Trong quãng đời còn lại những cái mà nó thu nhận được chỉ đáng một phần trăm những cái đó mà thôi” [50, 235]

Xã hội ngày càng phát triển đòi hỏi con người phải vươn lên, tìm cáchkhẳng định mình và chắc chắn không thể thiếu tính tự tin bởi tự tin là cơ sởcủa thành công Tính tự tin là phẩm chất nhân cách quan trọng có giá trị nhânvăn được hình thành trong quá trình hoạt động của con người Tự tin rất quantrọng đối với mỗi con người, là tiền đề giúp ta chiến thắng mọi khó khăn điđến thành công Có ở mọi người, mọi lứa tuổi tự tin là điều kiện đảm bảo chocon người phát huy cao độ mọi tiềm năng của bản thân, thích nghi với điềukiện biến đổi của tự nhiên, xã hội Một đứa trẻ tự tin được giáo dục tốt, sẽ làmột công dân gương mẫu tính cực của xã hội sau này Trẻ 5 - 6 tuổi đang hìnhthành nhân cách, tính tự tin là một trong những phẩm chất nhân cách cầnđược quan tâm, hình thành để chuẩn bị những tiền đề cần thiết cho trẻ bướcvào trường phổ thông

Trang 10

Văn học là nguồn suối không cạn của tri thức, là kinh nghiệm sống màcon người cần tiếp thu và phát triển Chính vì vậy, tác phẩm văn học có vị trí,sức mạnh riêng trong sự nghiệp giáo dục nói chung và giáo dục trẻ mầm nonnói riêng Nó trở thành nội dung và phương tiện hữu hiệu để giáo dục trẻ Với

trẻ lứa tuổi mầm non “học bằng chơi, chơi mà học”, trò chơi đóng kịch dựa

theo tác phẩm văn học là một trong những hoạt động được trẻ em yêu thíchbởi nó vừa mang tính nghệ thuật vừa là trò chơi giúp trẻ tích cực, hứng thútham gia hoạt động, là cơ hội để trẻ bộc lộ, phát huy được nhiều thế mạnh củabản thân và qua đó tính tự tin được hình thành và phát triển

Tuy nhiên thực tiễn giáo dục mầm non hiện nay vấn đề giáo dục tính tựtin thông qua trò chơi đóng kịch cho trẻ chưa nhận được sự quan tâm đầy đủ.Giáo viên chưa thực sự nhận thức được vai trò, tầm quan trọng, ý nghĩa đặcbiệt của việc giáo dục tính tự tin thông qua trò chơi đóng kịch, do đó họ chưadành thời gian, tâm sức, cũng như việc tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt độngnày Trò chơi đóng kịch còn đơn điệu và chưa có sự sáng tạo, chính vì vậykhông thu hút được sự chú ý của trẻ Với mong muốn hình thành và phát triểntính tự tin cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua việc cho trẻ tham gia trò chơi đóng kịch

để nhập vai và thể hiện hành động vai theo cách riêng của mình, đề tài “Giáo

dục tính tự tin cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua trò chơi đóng kịch ở trường mầm non” được lựa chọn nghiên cứu.

Trang 11

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Biện pháp GDTTT cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua TCĐK ở trường MN

4 Giả thuyết khoa học

Có thể GDTTT cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua TCĐK ở trường MN Mức

độ tự tin của phần lớn trẻ 5 - 6 tuổi được nghiên cứu ở mức trung bình Nếuxây dựng và áp dụng được một số biện pháp GDTTT thông qua TCĐK theohướng tạo điều kiện cho trẻ mạnh dạn nhập vai, chủ động thể hiện vai diễntrên sân khấu thì sẽ góp phần giúp trẻ tự tin hơn

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Nghiên cứu cơ sở lí luận về GDTTT cho trẻ 5 - 6 tuổi thông quaTCĐK ở trường MN

5.2 Tìm hiểu thực trạng sử dụng biện pháp GDTTT cho trẻ 5 - 6 tuổi

và mức độ biểu hiện TTT của trẻ 5 - 6 tuổi trong TCĐK ở một số trường MNtrên địa bàn thành phố Uông Bí - Quảng Ninh

5.3 Đề xuất và tiến hành TN một số biện pháp GDTTT cho trẻ 5 - 6tuổi thông qua TCĐK ở trường MN

6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

- Về đối tượng: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu biện pháp GDTTT cho

trẻ 5 - 6 tuổi thông qua TCĐK ở trường MN và mức độ biểu hiện TTT của trẻtrong TCĐK

- Mẫu nghiên cứu: 150 trẻ 5 - 6 tuổi tại 4 trường MN: Trường MN

Thực hành Sư Phạm, Trường MN Yên Thanh, Trường MN Quang Trung,Trường MN Nam Khê và 30 GV trực tiếp giảng dạy trẻ 5 - 6 tuổi trên địa bànthành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh

- Địa bàn nghiên cứu: một số trường MN trên địa bàn Thành phố Uông

Bí - tỉnh Quảng Ninh

Trang 12

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận

Sử dụng phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, hệ thống hóa cácvấn đề lí luận có liên quan đến đề tài nghiên cứu

7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.1 Phương pháp quan sát

Quan sát những biểu hiện của TTT ở trẻ trong TCĐK ở một số lớp 5 - 6 tuổi.Quan sát hoạt động của GV đối với trẻ 5 - 6 tuổi nhằm tìm hiểu nhữngbiện pháp GDTTT cho trẻ ở độ tuổi này

7.2.2 Phương pháp đàm thoại

Trò chuyện, trao đổi với GV MN nhằm tìm hiểu nhận thức, thái độ của

họ đối với việc GDTTT cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua TCĐK ở trường MN

7.2.3 Phương pháp điều tra bằng phiếu Anket

Dùng phiếu điều tra ý kiến của GV ở các trường MN về sự hiểu biết vềTTT và thực trạng sử dụng biện pháp GDTTT cho trẻ 5 - 6 tuổi thông quaTCĐK ở trường MN

7.2.4 Phương pháp thực nghiệm

Kiểm chứng giả thuyết đặt ra và thử nghiệm các biện pháp đề xuất.+ TN phát hiện: Dùng để phát hiện mức độ biểu hiện TTT của trẻ 5 - 6tuổi trong TCĐK ở trường mầm non

+ TN tác động: Dùng để tác động sư phạm nhằm GDTTT của trẻ đượcnghiên cứu

7.3 Nhóm phương pháp xử lí số liệu

Sử dụng một số công thức toán học thống kê có liên quan: công thứctính tỉ lệ %, công thức tính điểm trung bình cộng, độ lệch chuẩn, kiểm địnhgiá trị lệch chuẩn để lượng hoá kết quả nghiên cứu thực nghiệm

8 Kế hoạch nghiên cứu

- Từ tháng 10 đến tháng 11: Xác định tên đề tài và xây dựng đề cươngnghiên cứu;

Trang 13

- Từ tháng 11 đến tháng 12: Xây dựng cơ sở lí luận

- Từ tháng 01 đến tháng 6: Khảo sát thực trạng, đưa ra một số biệnpháp, tiến hành thực nghiệm và xử lí số liệu

- Từ tháng 6 đến tháng 10: Hoàn thành và bảo vệ luận văn

9 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được chia thành 3 chương:

- Chương 1: Cơ sở lí luận về giáo dục tính tự tin cho trẻ 5 - 6 tuổi thông

qua trò chơi đóng kịch ở trường mầm non

- Chương 2: Thực trạng giáo dục tính tự tin và mức độ biểu hiện tính

tự tin của trẻ 5 - 6 tuổi thông qua trò chơi đóng kịch ở trường mầm non

- Chương 3: Biện pháp giáo dục tính tự tin cho trẻ 5 - 6 tuổi thông quatrò chơi đóng kịch ở trường mầm non và thực nghiệm sư phạm

Trang 14

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ GIÁO DỤC TÍNH TỰ TIN CHO TRẺ 5

- 6 TUỔI THÔNG QUA TRÒ CHƠI ĐÓNG KỊCH Ở TRƯỜNG MẦM

NON

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

TTT là vấn đề đã được quan tâm từ lâu và trở thành đối tượng nghiêncứu của nhiều ngành khoa học, trong đó có ngành tâm lý học và giáo dục học.Trong lịch sử đã có nhiều công trình nghiên cứu khẳng định vai trò quantrọng, có tính chất quyết định của TTT đối với cuộc sống xã hội và hình thànhnhân cách con người Như vậy, về TTT có nhiều công trình nghiên cứu, tuynhiên có thể đưa ra các xu hướng sau

1.1.1 Xu hướng 1, nghiên cứu về đặc điểm, bản chất của tính tự tin

1.1.1.1 Ở nước ngoài

Nhà tâm lý học Gael Lindefield trong tác phẩm “Giúp trẻ tự tin” đã

dành hẳn một chương để trình bày vấn đề “Hiểu thêm về sự tự tin” Ban đầu ông đưa ra khái niệm “Người tự tin là người cảm thấy hài lòng về mình”

nhưng sau đó ông thấy rằng định nghĩa còn nhiều điểm thiếu xót, cần nghiềnngẫm về bản chất của sự tự tin và phân tích các yếu tố cấu thành nên nó và

đưa ra khái niệm “Sự tự tin ưu việt” với sức mạnh “phụ” được chiết xuất ra từ

sự ảnh hưởng qua lại, có tính tương hỗ cho nhau một cách liên tục giữa thànhphần bên trong và bên ngoài của nó [10, 16]

Nếu như Gael Lindefield đưa ra biểu hiện bên trong và bên ngoài của

TTT thì theo Rudaki: “TTT chính là trụ cột của tinh thần phong độ, khiến

con người cởi mở lạc quan, làm tiêu trừ và ngăn ngừa sinh sản lòng tự ti, biết

xử lý vấn đề một cách quyết đoán, nhanh gọn” [40, 107]

Nhóm tác giả Marjorie R.Simic, Melinda Mc Clain và Michael Shermis

(người Mỹ) trong cuốn "The Confident Learn: Help your child succeed in school"

cho rằng một đứa học trò đầy tự tin là một đứa trẻ biết đánh giá cao bản thân

Trang 15

Đinh Viễn Trí, Đông Phương Tri khi đề cập vấn đề “Chiếc chìa khóa

vàng để đi tới thành công” đã nhắc đến yếu tố “Tự tin” đầu tiên trong 3 yếu tố

của chìa khóa vàng là: “Tự tin”, “Dũng khí” và “Lòng nhiệt tình” Theo đó,

tác giả cho rằng: “Tự tin chính là một chiếc quyền trượng, một khi bạn có sự

tự tin thì cách nhìn cuộc sống và nhìn vào chính bản thân bạn cũng sẽ thay đổi, khí chất sẽ càng ưu tú hơn, bạn sẽ càng lạc quan hơn” [57, 35]

Từ những lí luận ban đầu về TTT, các nhà nghiên cứu đã phát triểnthêm và dần hình thành việc rèn luyện TTT Tự tin là một phần vốn có tronghành vi của loài người, nhưng nếu không được luyện tập để phát huy thì sẽtàn lụi theo thời gian, con người trở lên nhút nhát, sợ sệt, nhu nhược Điềunày dễ đưa con người đến chiều hướng vô dụng Tự tin không những để thựchiện một một đích tức thời, mà đó là một quá trình, một lịch trình trưởngthành của con người trong một thời gian dài

1.1.1.1 Ở Việt Nam

Những năm gần đây vấn đề về TTT cũng được các nhà giáo dục ViệtNam quan tâm nghiên cứu TTT là cơ sở tâm lý của sự phát triển và thànhcông của đời người, với số đông người, trí lực bình thường cộng thêm TTTcao là có thể đạt được thành công

Tác giả Nguyễn Thị Mĩ Lộc trong cuốn “Giáo dục giá trị sống và kĩ

năng sống cho trẻ MN” cho rằng: “Mỗi khi trẻ có cảm giác thành công, sự tự tin lại lớn dần lên Tự tin là một đức tính chỉ có thể có được nhờ vào việc rèn luyện và học hỏi Sự tự tin lớn dần lên nhờ cảm giác được yêu thương, tôn trọng và thấy mình có giá trị ” [28, 123]

Trong bài báo “Những nghiên cứu nâng cao lòng tự tin của học sinh”,

Nguyễn Huy Tú cho rằng “Lòng tự tin là một hiện tượng tâm lí phức tạp Nó

được hình thành trong quá trình tương tác của nhiều thuộc tính tâm lí khác nhau và tồn tại trong mối quan hệ chặt chẽ với những thuộc tính nhân cách

Trang 16

đó” [56, 25]

Như vậy các tác giả trong nước và nước ngoài đều đề cập đến TTT ởnhiều khía cạnh khác nhau, tuy nhiên về cơ bản đều cho rằng tự tin như làphần vốn có trong hành vi, là phẩm chất nhân cách, xuất hiện khi con ngườicòn nhỏ, ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới sự thành công của mỗi người

1.1.2 Xu hướng 2, nghiên cứu vai trò của tính tự tin

1.1.2.1 Ở nước ngoài

Nhà tâm lý học Nga T.P.Xkripkina đã cho thấy trong hàng loạt vấn đềnghiên cứu nhân cách của các nhà tâm lý học Nga, vấn đề vai trò của TTT đã

được đề cập đến Tự tin là điều kiện để phát triển nhân cách, nghiên cứu sự tự

tin là rất quan trọng để hiểu rõ cơ chế hình thành một nhân cách sáng tạo, chủđộng, độc lập bởi thiếu tự tin là nguyên nhân của mọi thất bại

Trong thực tế không ít người cảm thấy số phận của mình lận đận, cứloay hoay mãi mà vẫn thất bại trong cuộc sống và trong công việc Bời vì họthường hay dựa dẫm vào người khác, họ không biết mình có những khả năng

gì, do đó họ không biết đánh giá bản thân mình Người thiếu tự tin vì thếtrong chừng mực nào đó không thành đạt trong cuộc sống Nhưng trong thực

tế không phải ai cũng tìm hiểu, khám phá nó để củng cố tự tin của mình đểsống tích cực hơn

George Matthew Adams trong cuốn “You can - Không gì là không thể”

cho rằng: “Tự tin giống như sống lưng của con người… Thiếu lòng tự tin, con người sẽ chẳng làm nên trò chống gì… Tự tin là nền tảng của thành công, giúp con người rèn luyện bản lĩnh, nhân cách và nắm bắt kịp thời các cơ hội” [11, 21]

Tạo cho trẻ sự tự tin là việc làm vô cùng quan trọng Nếu trẻ cảm thấy

tự tin chúng sẽ có can đảm khám phá mọi thế giới xung quanh dù chỉ một lần.Đây là một điều đáng quan tâm khi trẻ lên 5 - 6 tuổi, tức là lúc trường học sẽtrở thành một môi trường quan trọng trong cuộc đời của trẻ Mỗi ngày trẻ có

Trang 17

những trải nghiệm mới về học tập và trẻ cần có sự tự tin để ứng phó giảiquyết những trải nghiệm đó, mỗi ngày, trẻ cũng có những trải nghiệm mới về

xã hội khi trẻ giao tiếp với những bạn cùng lớp, nhưng nếu trẻ thiếu tự tin, trẻ

sẽ không thích tham gia nhiều vào các hoạt động Như vậy, các tác giả đề caovai trò TTT đối với quá trình phát triển đời người, phát triển lý thuyếtGDTTT lên một nấc thang mới cao hơn

1.1.2.2 Ở Việt Nam

Cũng giống như quan điểm của nhiều tác giả nước ngoài, các tác giảViệt Nam cũng đề cao vai trò của TTT đối với sự hình thành và phát triểnnhân cách con người

Tác giả Hữu Khánh cho rằng trong việc nuôi dạy trẻ, điều quan trọng

là làm cho trẻ có được TTT bởi “đứa trẻ tự tin là đứa trẻ sau này sẽ đi bằng chính đôi chân, nghị lực và trí tuệ của nó Đứa trẻ tự tin sẽ làm nhẹ đi rất nhiều nỗ lực dạy dỗ của gia đình, nhà trường và xã hội Khi trẻ tự tin sẽ giúp trẻ có nhiều cơ hội thành đạt trong cuộc sống” [26, 7]

Nhóm tác giả Dương Tân - Nguyễn An trong cuốn “Sức mạnh tính cách” đã trích lời Napoleon để khẳng định vai trò của TTT: “Ngấm ngầm

thừa nhận mình không có năng lực, không nghi ngờ gì nữa, đã tạo cơ hội cho thất bại” [42, 188]

Tác giả Hà Sơn trong cuốn "Hình thành lòng tự tin cho trẻ" có viết: "Tự

tin là sức mạnh thần kỳ, chúng biến cái không thể thành cái có thể, biến cái

có thể trở thành hiện thực" [35, 141]

Cùng với quan điểm đó, tác giả Minh Thư cho rằng: “Tự tin chính là

sự thăng hoa của khả năng và sáng tạo Khi trẻ có lòng tự tin thì chúng sẽ dám làm, dám xử lí và nắm bắt vấn đề trong cuộc sống Qua đó dần dần tích luỹ được các kinh nghiệm sống, tự rèn luyện những kĩ năng sống thiết thực cho bản thân” [47, 57]

Trang 18

Nguyễn Thanh Huyền trong luận án Tiến sĩ “Các biện pháp giáo dục

tính tự lực cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua chế độ sinh hoạt” đã đề cập đến vai trò của TTT trong cơ chế thể hiện của tính tự lực “Tạo cho trẻ sự tự tin, cảm giác an toàn” là một trong sáu nguyên tắc để xây dựng biện pháp giáo dục tính tự lực cho trẻ 5 - 6 tuổi: “Khi trẻ thiếu lòng tin vào bản thân sẽ không thể hoạt động tự lực Nếu gặp thất bại nhiều, trẻ dễ chán nản, mất lòng tin vào bản thân” [20, 96]

Nguyễn Thị Ngọc Tuý trong đề tài “Một số biện pháp GDTTT cho trẻ

5 - 6 tuổi trong trường mầm non” đã khẳng định: “TTT như là một khát vọng

để hướng tới tương lai và giúp cho trẻ đối mặt với những khó khăn trong học tập và đời sống, giúp cho con người vững vàng, biết điều khiển bản thân mình để đạt được kết quả như mong muốn và thành công trong cuộc sống”

[48, 7]

Có thể nói, các nhà tâm lí - giáo dục học đã nâng lên một bước khi chorằng tự tin không chỉ là liều thuốc chữa bệnh bất an mà tự tin còn được thể hiệntrong tất cả các lĩnh vực của đời sống, giúp con người vượt qua được khó khăn

để vươn tới thành công và xem tự tin như một điều kiện của sự hình thành vàphát triển nhân cách toàn diện Do đó GDTTT cho trẻ ngay ở lứa tuổi MN làđiều cần thiết để góp phần hình thành và phát triển nhân cách cho trẻ

1.1.3 Xu hướng 3, nghiên cứu những yếu tố ảnh hưởng đến tính tự tin

1.1.3.1 Ở nước ngoài

Gael Lindefield đã đặt ra câu hỏi “Sự tự tin đến và biến mất như thế

nào? Chẳng nhẽ một số đứa trẻ ra đời lại mang sẵn gien tự tin? Có những đứa trẻ sinh ra để làm tổng thống?”

Trước hết, ông khẳng định vai trò của yếu tổ bẩm sinh trong việc phát triển TTT bởi“mỗi người trong chúng ta khi sinh ra dù ít, dù nhiều đều có

Trang 19

sẵn trong người một cái hộp nhỏ đựng những nguyên liệu cơ bản để tác thành lên sự tự tin sau này” [10, 18]

Tuy nhiên, “không thể khẳng định một đứa trẻ thật sự tự tin, cho dù nó được thừa hưởng một gia sản quí báu của cha mẹ là “gien hướng ngoại”,

TTT còn bị chi phối bởi nhiều yếu tố khác như: giáo dục, đặc điểm tâm lí cá

nhân, môi trường và tích tích cực của mỗi cá nhân, “điều quan trọng không phải chúng ta là ai, làm nghề gì mà chính là điều chúng ta sẽ được nuôi nấng, dạy bảo và động viên làm công việc gì” [10, 19].

Bàn về các yếu tố ảnh hưởng đến TTT, tác giả Jean Charier cũng

khẳng định: “Tình trạng sức khoẻ cũng góp phần làm ảnh hưởng tới sự tự tin của mỗi con người trước khó khăn trong cuộc sống” Thêm vào đó, chính ông

đã trả lời câu hỏi “Tại sao bạn lại nhút nhát? Bởi vì ban thiếu ý chí! Bởi vì bạn có tự ti, mặc cảm không tự biết đến khả năng của mình thực sự như thế nào và bởi vì bạn sợ” [23, 19]

Sa Tư trong cuốn Lòng tự tin đưa ra yêu cầu “Khắc phục sợ hãi và

nhút nhát” bằng cách: chuyển nỗi sợ hãi, bất an, nhút nhát thành lòng tự tin,

đầy tính thách thức Cần tin tưởng vào sức mạnh tinh thần, cảm thấy mình đủ

khả năng gánh vác trách nhiệm Cần tin tưởng vào khả năng thành công, “hễ tin là làm, hễ làm là có kết quả” [34, 17]

1.1.3.2 Ở Việt Nam

Tác giả Hữu Khánh trong cuốn “37 phương pháp đơn giản GDTTT

cho trẻ” cho rằng tự tin không phải tự dưng mà có, “loại trừ yếu tổ bẩm sinh của đứa trẻ về thể chất, sức khoẻ, thần kinh thì chính thái độ và sự giáo dưỡng của cha mẹ mang tính chất quyết định” [26, 11]

Giống như quan điểm của tác giả Hữu Khánh, tác giả Nguyễn Công

Khanh cũng đề cao vai trò của người lớn trong việc giáo dục trẻ trong bài báo

“Những yếu tố ngăn cản sự hình thành TTT ở trẻ em” Ông cho rằng một

Trang 20

trong những yếu tố ngăn cản sự hình thành TTT ở trẻ em chính là những ảnh

hưởng giáo dục từ người lớn, “người lớn không yêu cầu cao, không giao cho trẻ những nhiệm vụ đòi hỏi sự sáng tạo, làm cho trẻ có nguy cơ thiếu hụt sự trải nghiệm cần thiết để rèn luyện bản lĩnh cho trẻ làm chúng mất cơ hội để trải nghiệm, trở lên thụ động và kém tự tin” [25, 22]

Như vậy, có thể khẳng định vai trò to lớn của cha mẹ, thầy cô giáotrong việc giáo dục tính tự tin cho trẻ

1.1.4 Xu hướng 4, nghiên cứu các biện pháp giáo dục tính tự tin

Từ những kinh nghiệm thực tiễn, các nhà tâm lí, giáo dục cho rằng giáodục tính tự tin không chỉ là nhiệm vụ của gia đình mà còn là nhiệm vụ chungcủa các nhà giáo dục và của xã hội Họ đã đề xuất nhiều biện pháp dành chogia đình và trường học

1.1.4.1 Ở nước ngoài

Theo Gael Lindefield để có thể khai thác hết được những khả năng

tiềm tàng về sự tự tin của đứa trẻ, những chất dinh dưỡng cần thiết với đứa trẻ trong quá trình trưởng thành của nó, bao gồm: “Tình thương, sự che chở, nêu gương tốt, quan hệ rộng, sức khỏe, tiện nghi, nguồn động viên và khen thưởng.” [10, 19-22]

Một số tác giả Marjorie R.Simic, Melinda Mc Clain và Michael

Shermis, tác giả cuốn sách “The Confident Learn: Help your child succeed in school" đề xuất một số biện pháp dành cho gia đình như:

Biện pháp dùng lời: Tâm sự với trẻ nhỏ; Lắng nghe những nỗi sợ hãi

của trẻ; Nhấn mạnh đề cao, khen ngợi những điểm mạnh của trẻ; Tầm quantrọng của việc sử dụng ngôn ngữ; Hãy nói lời yêu thương với trẻ, không mạtsát, đe dọa trẻ; Học tập nghệ thuật khen ngợi; Ôn tồn giải thích cho trẻ hiểunhững điều nó cần làm

Biệp pháp tạo tình huống: Hãy để trẻ có quyền lựa chọn và tham gia

Trang 21

giải quyết vấn đề trong gia đình; Hãy dạy trẻ chịu trách nhiệm về hành độngcủa mình; Dạy trẻ biết cách ứng xử; Làm cho trẻ thấy mình được coi trọng.

Biện pháp cho trẻ tự khám phá: Hãy khuyến khích trẻ tự do khám phá;

Tạo những điều thú vị mới lạ; Hãy cho trẻ làm thử dù rất ít

Biện pháp tập thể: Dạy trẻ tinh thần là việc vì tập thể; Giúp trẻ trong quan

hệ bè bạn; Khuyến khích trẻ khen bạn của nó; Khuyến khích trẻ tham gia cáchoạt động có tính chất đồng đội; Hãy tập cho trẻ biết chia sẻ; Không nên so sánh

Sa Tư đã bàn luận các vấn đề để tạo nên lòng tự tin trong cuộc sống

như: “Nhận thức đúng bản thân, tầm quan trọng của sự chuyển hướng tư tưởng, tin tưởng vững chắc giá trị bản thân Tin tưởng vững chắc giá trị của bản thân, có bản lĩnh vượt qua mọi thử thách, là sức mạnh quyết định để vượt qua thử thách” [34, 130]

Để “Bồi dưỡng lòng tự tin” cần “bí quyết khích lệ bản thân” Cần phát động bản thân bằng những câu nói khích lệ “Lập tức hành động” Bất kể lúc nào, khi câu “Lập tức hành động” từ tiềm thức lóe hiện ra ý thức, thì bạn cần

lập tức hành động” [34, 158,]

1.1.4.2 Ở Việt Nam

Về phương pháp nâng cao lòng tự tin của học sinh, Nguyễn Huy Tú

cho rằng có nhiều con đường tác động nâng cao lòng tự tin: Xác định hệ chuẩn tự đánh giá năng lực nhằm tạo ra ở các em những thể nghiệm thành công, cung cấp chuẩn tự đánh giá ban đầu thấp, sau nâng dần lên thì quá trình

tự đánh giá kết quả hành động của các em sẽ dẫn đến những thể nghiệm thành

công ngày càng sâu sắc và Thuyết phục đặc biệt nghĩa là tìm cách thuyết phục

học sinh rằng, các em sẽ hoàn thành tốt tất cả mọi nhiệm vụ được giao nếucác em cố gắng luyện tập [56, 25]

Tác giả Huỳnh Văn Sơn trong phần kĩ năng thể hiện và nuôi dưỡng sự

tự tin, có viết: “Sẽ không thừa nếu chúng ta rèn luyện sự tự tin từ rất sớm.

Trang 22

Tuy vậy sẽ có thể chấp nhận con bạn còn nhiều hạn chế trong một khoảng thời gian nào đó, sẽ có thể chấp nhận những sai sót nhất định của bạn trong lần đầu tiên nhưng đó chính là những bước đệm để bạn có thể nuôi dưỡng sự

tự tin của bạn lớn dần" [38, 28].

Nếu biện pháp “Biết cách động viên và khen đứa trẻ” được Hữu

Khánh đề cập đến đầu tiên trong hệ thống 37 phương pháp GDTTT cho trẻ

[26, 11] thì tác giả Lê Thị Bừng trong cuốn “Tâm lí học ứng xử” cũng đề cập

đến biện pháp này: “Khen những khả năng, sự gắng sức và tiến bộ của người

ta là thừa nhận tài năng của người ta làm cho người ta phấn chấn, tự tin vào

sự cố gắng vươn lên của mình” [4, 11]

Nguyễn Thị Mĩ Lộc đưa ra cách thức phát triển sự tự tin ở trẻ: “Tôn

trọng trẻ, giúp trẻ xây dựng hình tượng tốt của chính mình; Nói cho trẻ biết

“Con có thể làm được”; Bồi dưỡng tài năng đặc biệt cho trẻ; Củng cố sự tự tin mọi lúc, mọi nơi; Cho phép trẻ mắc sai lầm; Quy định hành vi; Phát triển những ưu điểm.” [28, 124-127]

Tác giả Nguyễn Công Khanh trong bài báo “Những yếu tố ngăn cản

sự hình thành TTT ở trẻ em” cho rằng: “Sự tự tin được hình thành là kết quả của các hành động trẻ tham gia và gặt hái được sự thành công trên các nguyên tắc tích cực khám phá, tích cực thể hiện, trải nghiệm và giầu tương tác… Ngoài ra sự tự tin hình thành từ sự chấp nhận, sẵn sàng đương đầu với khó khăn, làm chủ được các kĩ năng sống” [25, 22]

Ông đưa ra Mô hình phát triển TTT cho trẻ em: tin tưởng trẻ, không

đánh giá thấp trẻ, tạo cơ hội để trẻ khám phá, trải nghiệm, tương tác; khenthưởng, tạo động cơ, thường xuyên kiểm tra, củng cố và làm cho công việc

trở nên vui vẻ và thú vị với các biện pháp như: kiên trì hướng dẫn, khích lệ,

không chê bai, giao cho trẻ những công việc đặc biệt, lập kế hoạch để chuẩn

bị trước tâm thế cho trẻ sẵn sàng tham gia

Trang 23

Như vậy, có thể thấy vấn giáo dục tính tự tin cho trẻ là vấn đề khá phứctạp được các tác giả trong và nước ngoài quan tâm nghiên cứu tìm hiểu vàđưa ra quan điểm của mình Những công trình nghiên cứu trên đã phần nàocho thấy vai trò quan trọng của tính tự tin, các yếu tố ảnh hưởng đến tính tựtin và cách thức phát triển tính tự tin Tuy nhiên, các tác giả chủ yếu nghiêncứu về giáo dục tính tự tin trong gia đình (Gael Lindefield, Trí Đức, HuyKhánh), hoặc nghiên cứu về giáo dục tính tự tin cho học sinh ở trường phổthông (Nguyễn Huy Tú) còn các công trình nghiên cứu về các biện pháp giáodục tính tự tin giành cho giáo viên trong trường mầm non thì chưa nhiều

Hiện nay, có một số tác giả đã có công trình nghiên cứu về GDTTT chotrẻ trong các hoạt động trong trường mầm non Nguyễn Thị Ngọc Túy trong

đề tài Luận văn Thạc sĩ giáo dục học “Một số biện pháp giáo dục tính tự tin cho trẻ 5 - 6 tuổi trong trường mầm non” và Nguyễn Thị Thủy với đề tài“Giáo dục tính tự tin cho trẻ mẫu giáo thông qua hoạt động vui chơi ở trường mầm non” đã đề xuất những biện pháp GDTTT cho trẻ, tuy nhiên

những công trình đề cập về vấn đề GDTTT thông qua TCĐK cho trẻ ở trườngmầm non chưa nhiều

1.2 Lý luận về tính tự tin và giáo dục tính tự tin cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường mầm non

1.2.1 Khái niệm "Tính tự tin" và “Giáo dục tính tự tin” cho trẻ 5 -6 tuổi

1.2.1.1 Khái niệm “Tính tự tin”

Theo “Từ điển Bách khoa Tâm lí học, giáo dục học Việt Nam”, “Tự tin là một thái độ tin tưởng vững chắc vào những khả năng thực tế của mình” [13, 1077]

Theo Gael Lindefield, nếu dừng lại ở định nghĩa “Người tự tin là

người cảm thấy hài lòng về mình” thì khái niệm như vậy là tạm ổn để giao

Trang 24

tiếp chung chung, nhưng khi cố tìm hiểu sâu hơn cái tính chất quan trọng của

“sự hài lòng về mình” thì định nghĩa này còn nhiều điểm thiết sót Vì vậy, cần

nghiền ngẫm về bản chất của sự tự tin, phân tích những thành phần cấu thànhnên nó Các yếu tố tạo nên loại tự tin nội tâm và loại biểu hiện ra bên ngoàitương trợ lẫn nhau, chúng tạo cho ta môt cái gì đó thật mạnh mẽ và hiệu quảhơn ảnh hưởng đến cảm xúc, hành vi của con trẻ [10, 5]

Theo Rudaki: “TTT chính là trụ cột của tinh thần, phong độ, khiến con

người cởi mở lạc quan, làm tiêu trừ và ngăn ngừa sinh sản lòng tự ti, biết xử

lý vấn đề một cách quyết đoán nhanh gọn” [40, 104]

Các tác giả Nga như T.P Xkripkina, X.L.Rubinxtein, B.X.Bratus chỉ

ra rằng không tin vào bản thân dẫn đến sự chối bỏ tính cá nhân của mình, luôntìm kiếm những điểm tựa bên ngoài chứ không phải ở bản thân mình, vì vậy

họ dễ trở thành phụ thuộc và không tự thân vận động được Sự tự tin được coinhư khả năng của con người đi ra khỏi giới hạn của bản thân

Tác giả Lê Bích Ngọc trong cuốn “Những kĩ năng sử dụng bộ chuẩn phát

triển cho trẻ em 5 tuổi ở Việt Nam” phân chia các giá trị trong chuẩn thành các nhóm: Nhóm giá trị để tồn tại; Nhóm giá trị để biết; Nhóm giá trị để làm và Nhóm giá trị để cùng chung sống Tự tin thuộc Nhóm giá trị để biết “Tự tin là tin vào bản thân mình: tự tin có được nhờ sự trải nghiệm giá trị của chính cá nhân bằng so sánh với yêu cầu của giá trị Tự tin được thể hiện ở hành vi (phong cách, ứng xử), nội tâm (không tự ti, mặc cảm).Giá trị tự tin thể hiện ở năng lực nhận thức được những giá trị của bản thân, tin tưởng vào khả năng của mình, tin tưởng vào những lựa chọn, giải quyết vấn đề của bản thân” [33,

84]

Theo Nguyễn Huy Tú, “Lòng tự tin là một dạng biểu hiện của tự ý thức, là

lòng tin của một người vào năng lực hoàn thành nhiệm vụ nào đó của mình” [56, 25]

Trong luận án Tiến sĩ của Nguyễn Thanh Huyền với đề tài “Các biện pháp

Trang 25

giáo dục tính tự lực cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua chế độ sinh hoạt tại trường MN”

có viết: “Sự tự tin (niềm tin vào bản thân) là một phẩm chất của thế giới quan, là

sự kết tinh những hiểu biết và tình cảm của bản thân đối với mình và ý chí của mình, là sự tin tưởng vào năng lực của mình khi hành động" [20, 36]

Theo Mô hình rèn luyện trí tuệ xúc cảm và kĩ năng sống thế hệ mới

-You can do it Education: “Sự tự tin nghĩa là cảm thấy tôi có thể làm được điều đó Tự tin cũng có nghĩa là tôi không sợ mắc lỗi hay luôn cố gắng làm những việc mới lạ Tự tin còn có nghĩa là đứng thẳng người và nói giọng rõ ràng (không quá to, không quá nhẹ nhàng)” [62, 7]

Như vậy, thuật ngữ "tự tin" được các tác giả sử dụng không hoàn toàngiống nhau, song nội hàm khái niệm "tự tin" thì khá thống nhất: tự tin là tinvào bản thân mình, nhận thức rõ được bản thân

Từ những nghiên cứu ở trên, trong đề tài này, khái niệm "Tính tự tin"được lựa chọn như sau:

Tính tự tin là một phẩm chất nhân cách, là khả năng tin vào bản thân của mỗi người, giúp họ có sức mạnh, ý chí để tiến hành chắc chắn một việc nào đó.

Nội hàm của khái niệm tính tự tin gồm hai vấn đề luôn thống nhất và

bổ sung hỗ trợ nhau là khả năng tin tưởng vào bản thân và sức mạnh, ý chí để

tiến hành chắc chắn một việc nào đó Đúng như tác giả Nguyễn Thanh Bình

nhận định: “càng nhận thức dược khả năng của mình, con người càng có khả năng sử dụng các kĩ năng sống khác một cách có hiệu quả” [4, 18] Khi trẻ

biết tin tưởng vào khả năng, phẩm chất của mình, tin tưởng vào bản thân thì

sẽ có thể tiến hành chắc chắn một việc nào đó, và ngược lại khi trải nghiệmthành công niềm tin vào bản thân càng được củng cố hơn

Tính tự tin được hình thành trên cơ sở cá nhân có nhu cầu, khả năng vàmong muốn tin tưởng vào sức lực của bản thân để thực hiện các nhiệm vụ đặt

ra, tự tìm kiếm cách thức riêng để giải quyết các nhiệm vụ đó Tự tin phải đi

Trang 26

đôi với nỗ lực, bền bỉ và kiên trì phấn đấu Tự tin là dám chịu trách nhiệm vềviệc mình làm và chủ động tìm cách khắc phục mọi hoàn cảnh khó khăn

Tính tự tin cũng như bất cứ phẩm chất nhân cách nào khác của nhâncách đều được hình thành, phát triển trong hoạt động và thông qua hoạt độngcủa con người trong sinh hoạt cũng như trong giao tiếp giữa con người vớicon người và con người với thế giới xung quanh

1.2.1.2 Khái niệm giáo dục tính tự tin cho trẻ 5 - 6 tuổi

Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của giáo dục là sựtruyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử xã hội của các thế hệ loài người,nhờ có giáo dục mà các thế hệ nối tiếp nhau phát triển, tinh hoa văn hoá nhânloại và dân tộc được kế thừa, bổ sung và trên cơ sở đó mà xã hội loài ngườikhông ngừng tiến lên

Theo Nguyễn Sinh Huy trong cuốn “Giáo dục học đại cương”: “Giáo

dục là hoạt động chuyên môn của xã hội nhằm hình thành và phát triển nhân cách con người theo những yêu cầu của xã hội trong những giai đoạn lịch sử nhất định” [22, 80]

Theo nhóm tác giả Nguyễn Ánh Tuyết, Nguyễn Thị Như Mai - Đinh Thị

Kim Thoa trong cuốn “Tâm lí học trẻ em lứa tuổi MN (từ lọt lòng đến 6 tuổi)”:

“Giáo dục đó là quá trình mà thế hệ cha anh truyền lại kinh nghiệm lịch sử - xã hội cho các thế hệ mới nhằm chuẩn bị cho họ bước vào cuộc sống

và lao động để đảm bảo sự phát triển hơn nữa của xã hội và của cá nhân

Với trẻ thơ, giáo dục nhằm phát triển các chức năng tâm lí, hình thành những cơ sở ban đầu của nhân cách con người, chuẩn bị cho những giai đoạn phát triển sau được thuận lợi” [50, 77]

Từ các nghiên cứu trên có thể đưa ra khái niệm:

Giáo dục tính tự tin cho trẻ 5 - 6 tuổi là quá trình truyền lại những kinh nghiệm - xã hội cho trẻ nhằm phát triển các chức năng tâm lí tăng cường khả

Trang 27

năng tin vào bản thân của trẻ, giúp trẻ có sức mạnh ý chí để tiến hành chắc chắc một nhiệm vụ nào đó.

Không ai sinh ra đã có ngay sự tự tin Tự tin là nguồn khích lệ lớn dốivới hầu hết mọi người, là động lực để chúng ta cố gắng đạt được mục tiêu vàdành được nhiều thành tích quan trọng Vì vậy, gia đình, nhà trường và xã hội

có trách nhiệm vô cùng to lớn trong việc phát triển TTT cho trẻ

1.2.2 Những biểu hiện tính tự tin của trẻ 5 - 6 tuổi

1.2.2.1 Quan điểm của các tác giả về những biểu hiện của tính tự tin

Theo Gael Lindefield, trong mỗi con người nói chung cũng như con

trẻ nói riêng có hai loại tự tin biểu hiện rất rõ ràng: Tự tin bên trong và Tự tin thể hiện ra bên ngoài [10, 6]

* Tự tin bên trong: Có 4 dấu hiệu làm tiêu chuẩn chính để đánh giá

một người có được sự tự tin bên trong: Luôn tự hào về bản thân và tính ích

kỷ: Biết rõ khả năng của bản thân; Luôn biết những mục tiêu cụ thể; Tư tưởng lạc quan: [10, 7-10]

* Sự tự tin thể hiện ra bên ngoài: Qua các kĩ năng trong bốn lĩnh vực

sau: Kỹ năng giao tiếp; Tính quyết đoán; Kỹ năng trình bày, lập luận trước đám đông; Khả năng kiểm soát những cảm xúc của bản thân: [10, 13-15]

Hai loại biểu hiện bên trong và bên ngoài của TTT luôn gắn quyện, hỗ trợlẫn nhau thành một thể thống nhất, chúng sẽ tạo cho ta một cái gì đó thật mạnh

mẽ và hiệu quả hơn trong hoạt động Có những trẻ có thừa TTT bên trong nhưnglại không thể nào thể hiện được những điểm mạnh cho mọi người nhìn thấy Chonên các nhà giáo dục phát triển hài hòa giữa yếu tố bên trong và bên ngoài của

sự tự tin, tạo cho trẻ môi trường thuận lợi, an toàn giúp cho trẻ hình thành vàphát triển TTT một cách đầy đủ hơn, cả tự tin bên trong và bên ngoài

Nguyễn Hồng Thuận trong Luận án tiến sĩ "Một số biện pháp tác động của

gia đình nhằm phát triển tính tự lập cho trẻ 5 - 6 tuổi" cũng dựa trên quan điểm của

Trang 28

Gael Lindefield đưa ra hai loại tự tin: Tự tin bên trong và Tự tin biểu hiện ra bênngoài Để mọi người xung quanh nhận rõ TTT của mình cần phát triển các kĩ năngtrong 4 lĩnh vực sau: kỹ năng giao tiếp; kỹ năng tự ra quyết định; kỹ năng trình diệntrước bạn bè và kỹ năng kiểm soát những xúc cảm [45, 37-38]

Trong cuốn Giáo dục Kĩ năng sống tác giả Nguyễn Thanh Bình có đề

cập đến vấn đề TTT trong một số kĩ năng như Kĩ năng nhận biết và sống với chính mình và Kĩ năng nhận biết và sống với người khác Nếu con người có

lòng tự trọng cao hay tích cực, người đó sẽ cảm nhận tốt về bản thân, tự tin vàquí trọng bản thân; cảm thấy mình còn có giá trị đối với người khác; cư xử tốt

và cảm thấy mạnh mẽ, kiên định bảo vệ những giá trị và niềm tin của bản thânnếu phải đương đầu với những ý nghĩ hoặc những việc làm trái ngược của bạn

bè cùng lứa hoặc của người khác” [4, 18]

Tác giả Hữu Khánh đưa ra biểu hiện TTT của trẻ như: “Tự khẳng định

mình trong việc chơi, việc học và tự lập trong sinh hoạt hàng ngày; Dám bảo

vệ quan điểm của mình ngay cả khi nói chuyện với người lớn; Thể hiện rõ rệt

sự dũng cảm và bình tĩnh khi gặp khó khăn nguy hiểm hay khi va vấp thất bại; Dễ kết thân với bè bạn; Làm việc gì cũng kiên trì làm cho đến cùng; Không hùa vào ý kiến của đa số, khi chúng cho rằng ý kiến đó không đúng; Thường có ý kiến độc lập, song biết phục thiện khi thấy ý kiến đó không đúng” [26, 8]

Lê Bích Ngọc trong cuốn “Những kĩ năng sử dụng bộ chuẩn phát triển cho trẻ em 5 tuổi ở Việt Nam” cho rằng: “Trẻ 5 tuổi bộc lộ sự tự tin qua việc

cố gắng thực hiện công việc đến cùng, mạnh dạn nói lên ý kiến của bản thân, chủ động làm một số công việc hằng ngày, sẵn sàng giúp đỡ bạn, thích thú khi hoàn thành công việc yêu thích” [33, 70].

Theo Mô hình rèn luyện trí tuệ xúc cảm và kĩ năng sống thế hệ mới You can do it Education đưa ra những ví dụ về thái độ tự tin như sau:

Trang 29

-1 Tự tin trong học tập: Lựa chọn để tham gia vào một hoạt động, một

môn học mới và khó khăn Tự làm một bài tập, một việc khó mà không cầnngười khác giúp đỡ Giọng nói to rõ ràng, dễ nghe Cố gắng hết sức để trả lờinhững câu hỏi hoặc vấn đề khi chưa chắc chắn câu trả lời;

2 Tự tin xã hội: Gặp và nói chuyện với một người mới Chia sẻ ý kiến

của mình với người khác Có tính trách nhiệm và tham gia nhiệt tình vào cáchoạt động của trường lớp Bắt đầu cuộc giao tiếp [62, 7]

Mô hình cũng chỉ rõ “Thói quen tư duy phát triển sự tự tin”: Chấp

nhận bản thân, chấp nhận rủi ro, biết tự lập, tôi tin tôi có thể làm được

1.2.2.1 Biểu hiện tính tự tin của trẻ 5 - 6 tuổi:

Từ các nghiên cứu của các tác giả, có thể đưa ra những biểu hiện TTTcủa trẻ 5 - 6 tuổi như sau:

* Thái độ khi tham gia hoạt động:

- Tin tưởng vào bản thân, biết rõ khả năng của bản thân;

- Lạc quan, tin tưởng mình sẽ thành công nhiều hơn là thất bại khi làmmột điều mới;

- Biết chấp nhận bản thân khi mắc lỗi và chấp nhận rủi ro Bình tĩnh khigặp khó khăn, nguy hiểm;

- Tự hào, sung sướng, trân trọng thành quả của mình làm ra, thích đượctán dương, khen thưởng;

- Mạnh dạn, sẵn sàng tham gia vào các hoạt động, có tinh thần tráchnhiệm, cố gắng hoàn thành công việc được giao;

* Tính quyết đoán, khả năng bày tỏ ý kiến:

- Quyết đoán, tự đưa ra quyết định và xử lý tình huống khi tham giahoạt động;

- Biết tìm cách vượt qua khó khăn, tự làm và chịu trách nhiệm, không ỷlại vào bạn bè hay cô giáo, chỉ nhờ người khác khi cần thiết;

Trang 30

- Bày tỏ ý kiến của mình một cách trực tiếp, thẳng thắn và mạnh dạnbảo vệ ý kiến của mình, không chạy theo đa số nhưng sẵn sàng sửa sai khibiết ý kiến của mình chưa đúng.

* Kĩ năng giao tiếp và thể hiện trước đám đông:

- Chủ động trong giao tiếp, dễ dàng bắt chuyện với người xung quanh,

trò chuyện với mọi người tự nhiên, linh hoạt; giọng nói to, rõ ràng, dễ nghe; \

- Cử chỉ, điệu bộ phù hợp với lời nói, tác phong hồn nhiên, thoải mái,ứng xử dõng dạc, đàng hoàng;

- Biết lắng nghe và hiểu người khác nói, không rụt rè e sợ và giữ bìnhtĩnh khi đứng nói trước đám đông

* Khả năng biểu cảm và kiểm soát cảm xúc của bản thân:

- Sử dụng phối hợp các phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ như nétmặt, cử chỉ, ánh mắt, điệu bộ, động tác để thể hiện sắc thái biểu cảm một cách

tự nhiên, phù hợp;

- Thể hiện rõ ràng các cung bậc cảm xúc trên khuôn mặt một cách tự nhiên;

- Tự kiềm chế xúc cảm của bản, không bị xúc động thái quá trước một

sự kiện bất ngờ

* Khả năng đánh giá và tự đánh giá:

- Tự đánh giá bản thân;

- Biết phát huy thế mạnh và khắc phục nhược điểm của bản thân;

- Tham gia nhận xét, đánh giá bạn

Tóm lại: TTT của trẻ 5 - 6 tuổi được bộc lộ khá rõ trong các hoạt động

của trẻ Do đặc điểm tâm lí cá nhân nên ở mỗi trẻ TTT lại có những biểu hiệnkhác nhau và ở những mức độ khác nhau Đúng như quan điểm của GaelLinderfield, cần phát triển hài hòa giữa yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài

của sự tự tin “Có những đứa trẻ có thừa lòng tự tin bên trong nhưng lại không thể nào thể hiện những điểm mạnh cho mọi người thấy… Bởi vì chúng

Trang 31

chưa bao giờ được học cách thể hiện những ưu thế của sự tự tin bên trong của chúng, nên chúng luôn thua kém người khác và có thể dẫn đễn kết quả là chúng sẽ trở lên chán nản, nhụt trí” [10, 17]

Điều đáng lo ngại là nhiều gia đình và trường học chỉ quan tâm đếnviệc giáo dục con trẻ những kĩ xảo để đạt được sự tự tin bên ngoài mà chưaquan tâm đến giáo dục phát triển TTT bên trọng Ngoài ra, có những trẻ chỉ tự

tin ở hoạt động này nhưng không tự tin ở hoạt động khác, thậm chí có những

trẻ e dè, nhút nhát trong tất cả các hoạt động Bởi vậy, cần phải có các biệnpháp phù hợp nhằm giáo dục, phát triển TTT qua đó giúp trẻ tự tin hơn

1.2.3 Nhiệm vụ, nội dung giáo dục tính tự tin cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường mầm non

Chương trình giáo dục mầm non hiện nay có kế thừa những ưu việt củacác chương trình chăm sóc giáo dục trẻ trước đây, được phát triển trên cácquan điểm đảm bảo đáp ứng sự đa dạng của các vùng miền, các đối tượng trẻ,hướng đến sự phát triển toàn diện và tạo cơ hội cho trẻ được phát triển

Nội dung GDTTT trong Chương trình giáo dục mầm non thể hiện cụ

thể trong trong mục tiêu của giáo dục mầm non: “ Hình thành và phát triển

ở trẻ em những chức năng tâm sinh lí, năng lực và phẩm chất mang tính nền tảng, những kĩ năng sống cần thiết phù hợp với lứa tuổi ” [1, 1]

Trong “Lĩnh vực phát triển tình cảm - xã hội”, vấn đề GDTTT cũng được

đề cập: “Giáo dục trẻ mạnh dạn, tự tin, lễ phép” trong giao tiếp Trong lĩnh vực

“Giáo dục phát triển tình cảm và kĩ năng xã hội” yêu cầu về nội dung “Mạnh dạn, tự tin và hồn nhiên”; có đề cập:“Thể hiện sự tự tin, tự lực” [1, 55].

Tài liệu bồi dưỡng phát triển năng lực nghề nghiệp giáo viên, Module

39, Giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mầm non, “Mục tiêu chung về giáo dục kĩnăng sống cho trẻ mầm non hướng tới hình thành những giá trị về ý thức bản

thân như An toàn, tự lực, tự tin, tự trọng… Giá trị tự tin gồm các kĩ năng về

Trang 32

nhận ra giá trị của bản thân, trình bày ý kiến, thể hiện khả năng” [2, 24]

Như vậy, Chương trình giáo dục mầm non và các tài liệu về giáo dụctrẻ có đề cập đến vấn đề GDTTT, coi đây là nhiệm vụ cần thiết và quan trọngtrong quá trình giáo dục và chăm sóc trẻ Tuy nhiên, việc giáo dục này chủyếu mới chỉ dừng lai ở những yêu cầu đối với trẻ, còn nhiệm vụ và nội dunggiáo dục vẫn chưa cụ thể, chưa có những đúc kết, đánh giá hiệu quả trên cơ sởnhững công trình nghiên cứu khoa học

Căn cứ vào mục tiêu giáo dục mầm non và các tài liệu có liên quan, đề tàimạnh dạn đề xuất nhiệm vụ và nội dung GDTTT cho trẻ mầm non như sau:

1.2.3.1 Nhiệm vụ giáo dục tính tự tin cho trẻ

- Giúp trẻ có những hiểu biết cần thiết về bản thân, biết và tin tưởng vào

khả năng của bản thân, có sức mạnh để hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình;

- Hình thành, củng cố, phát triển các kĩ năng thể hiện tính tự tin cho trẻ;

- Bồi dưỡng cho trẻ có thái độ đúng đắn đối với việc phát triển TTT

1.2.3.1 Nội dung giáo dục tính tự tin cho trẻ:

- Nội dung 1: Giáo dục cho trẻ nhận biết về bản thân, luôn tin tưởng vào khả năng của bản thân:

+ Biết đặc điểm cơ thể bản thân và chức năng của chúng, biết năng lựccủa bản thân và những hoạt động mình có thể làm;

+ Nhận thức trạng thái, suy nghĩ, hành động của bản thân, từ đó yêuquí, tin tưởng vào khả năng của bản thân

- Nội dung 2: Giáo dục cho trẻ khả năng thể hiện tính tự tin:

+ Khẳng định bản thân là người tự tin, có giá trị và vui sướng vớinhững những thành quả đạt được;

+ Mạnh dạn, tự tin, trong giao tiếp, không run sợ khi đứng nói trướcđám đông;

+ Có kĩ năng tổ chức hoạt động cho bản thân (kĩ năng tự đặt mục đích,

Trang 33

lập kế hoạch sơ bộ và thực hiện hành động), biết lựa chọn phương tiện đểthực hiện hoạt động đạt kết quả;

+ Dễ đồng cảm, chia sẻ với bạn bè xung quanh, bày tỏ tình cảm phùhợp, đúng lúc;

+ Quyết đoán, tự quyết định và xử lý tình huống trong từng hoàn cảnh

cụ thể, không ỷ lại vào người khác, chỉ nhờ người khác khi cần thiết;

+ Kiên trì, vượt khó khăn để hoàn thành công việc được giao Vữngvàng trước những thất bại, thiếu sót của bản thân

- Nội dung 3: Giáo dục cho trẻ thái độ phát triển tính tự tin:

+ Tin tưởng vào bản thân: Biết rõ khả năng của bản thân, có sức mạnh

để hoàn thành tốt nhiệm vụ;

+ Dám chấp nhận thử thách: dám làm một việc mới lạ mà không chắc

chắn sẽ thành công và có ý nghĩ rằng bản thân đã cố gắng hết mình dù có thểmình không làm được điều đó;

+ Tôi tin tôi có thể làm được: khi làm một điều mới, luôn tin tưởng

rằng mình sẽ thành công nhiều hơn là thất bại;

+ Luôn sẵn sàng tự lập: Có thể làm một việc gì đó mà không cần phụ

thuộc vào người khác;

+ Sẵn sàng thể hiện: mong muốn thể hiện bản thân là người có khả

năng, có giá trị;

+ Biết chấp nhận bản thân: Nếu mắc lỗi, đó không phải là điều đáng

sợ, hãy sửa chữa lỗi lầm và thể hiện

Như vậy, tính tự tin có được khi trẻ trực tiếp tham gia hoạt động ởtrường mầm non cũng như cuộc sống hằng ngày của trẻ, bởi khi tham gia hoạtđộng, trẻ sẽ nhận biết được giá trị bản thân mình và các mối quan hệ xungquanh, trẻ tìm được cách giải quyết vấn đề một cách dứt khoát trong các tìnhhuống cụ thể từ đó trẻ nhanh chóng hòa nhập và thích nghi với cuộc sống

Trang 34

Với những nội dung giáo dục trên, giáo viên mầm non cần lồng ghép trongquá trình chăm sóc và giáo dục trẻ.

1.3 Lí luận về giáo dục tính tự tin cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua trò chơi đóng kịch ở trường mầm non

1.3.1 Lí luận về trò chơi đóng kịch

1.3.1.1 Khái niệm trò chơi đóng kịch

Theo tác giả Đinh Văn Vang, “Trò chơi đóng kịch là trò chơi đóng vai

theo tác phẩm văn học (truyện ngụ ngôn, cổ tích, thần thoại ) nhờ trí tưởng tượng sáng tạo và cảm xúc của mình trẻ tái hiện lại tính cách nhân vật trong tác phẩm văn học” [58, 115].

Theo tác giả Nguyễn Thị Hòa, bản chất của trò chơi đóng kịch là “trẻ tái

tạo, mô phỏng lại các nhân vật theo một tác phẩm văn học có sẵn” [14, 182]

Từ các khái niệm trên có thể hiểu:

Trò chơi đóng kịch - một loại hình vui chơi đặc biệt và độc lập thực sự của trẻ mẫu giáo ở trường mầm non - là trò chơi đóng vai theo tác phẩm văn học, trong đó trẻ chỉ biểu diễn những chủ đề có sẵn, theo đó nội dung chơi, vai chơi, hành động chơi được xác định theo nội dung của tác phẩm văn học.

TCĐK mang tính nghệ thuật cao nhưng vẫn là trò chơi của trẻ nên nómang đầy đủ những tính chất của trò chơi là trẻ được vui vẻ, thoải mái thểhiện cảm xúc chân thực mà trẻ cảm nhận được trong TPVH, được thỏa thuậnvai chơi, được sáng tạo theo ý thích của mình Trẻ biểu diễn những chủ đề cósẵn theo TPVH cụ thể Trò chơi này dựa vào chủ đề của một câu chuyện cổtích hoặc của một truyện ngắn các em đóng những vai nhất định nào đó và táihiện lại mọi sự kiện theo trình tự của chúng TCĐK là một hình thức quá độsang hoạt động thẩm mỹ, hoạt động nghệ thuật

1.3.1.2 Đặc trưng của trò chơi đóng kịch

Trong Chương trình giáo dục mầm non, TCĐK là một trò chơi trong

Trang 35

tổng số 11 hoạt động chơi của trẻ mẫu giáo ở trường MN [1, 59] Đặc biệt,TCĐK cũng là một trong các phương pháp giúp trẻ cảm thụ sâu sắc TPVHtrong hệ thống các phương pháp thực hành cho trẻ làm quen với TPVH, mộttrong các hoạt động học của trẻ mẫu giáo ở trường mầm non

Theo Tài liệu bồi dưỡng phát triển năng lực nghề nghiệp GV, Module

39, Giáo dục kĩ năng sống cho trẻ MN, TCĐK là một một bộ phận của

“Phương pháp trò chơi (bao gồm các phương pháp trải nghiệm, trò chơi, giao việc, những phương pháp này giúp trẻ bắt chước, tập thử và tích cực thực hành thường xuyên các kĩ năng sống” [2, 37]

Trong TCĐK nội dung chơi, vai chơi, hành động chơi được xác địnhtrước dựa theo cốt truyện có sẵn trong TPVH (chứ không phải do trẻ tự nghĩra) Đây là điểm làm cho TCĐK gần gũi với các trò chơi có luật

Nội dung và tính chất hoạt động của trẻ phụ thuộc vào nội dung của tácphẩm Nội dung có sẵn đó sẽ xác định thành phần trẻ tham gia trò chơi, lờinói của các nhân vật và trình tự xảy ra các sự kiện Điều này một mặt giúp trẻ

dễ dàng hơn vì nội dung chơi có sẵn, quan hệ giữa các nhân vật trong trò chơi

đã được xác định trước và xác định những hành động của nhân vật trong khichơi Tuy nhiên trẻ sẽ phải miêu tả, phản ảnh các nhân vật y hệt như chúngvốn có trong tác phẩm cùng với tất cả những nét đặc trưng của họ trong hành

vi và lời nói bởi nếu trẻ làm khác đi thì TCĐK sẽ không còn nữa Đúng như

tác giả Đinh Văn Vang đã nói: “Để tham gia trò chơi này, trước hết trẻ phải

cảm thụ được TPVH, nắm được cốt truyện, tính cách nhân vật, trên cơ sở đó tái hiện lại tính cách nhân vật theo một kịch bản Do vậy trò chơi này phù hợp với lứa tuổi mẫu giáo, khi mà vốn sống, lời nói của trẻ đã khá phát triển”

[58, 115]

TCĐK là một dạng trò chơi sáng tạo, là một hoạt động nghệ thuật ở

trường MN được trẻ em yêu thích Trong TCĐK, trẻ không chỉ biến mình

Trang 36

thành người lớn mà phải biết “hoá thân” thành các nhân vật với nội tâmphong phú, phức tạp với những cá tính khác biệt, với những hành động vừathực tế, vừa kỳ ảo Để tái tạo, mô phỏng được nhân vật, trẻ phải trải qua mộtquá trình lao động nghệ thuật gần giống như người nghệ sĩ Mặt khác, TCĐK

có vai, có chủ đề, nội dung và hoàn cảnh tượng trưng, đặc điểm này khiến cho

nó gần gũi với các trò chơi đóng vai có chủ đề Có thể nói đây là một biến thể của trò chơi đóng vai theo chủ đề

TCĐK mang tính chất sáng tạo và nó gần với hoạt động nghệ thuật, cụ

thể là kịch nói, trò chơi mang tính nghệ thuật nhưng nó không phải là mộthoạt động nghệ thuật mà chỉ là trò chơi Tính nghệ thuật và tính chất chơi làhai yếu tố kết hợp chặt chẽ với nhau trong nội dung chơi cũng như quá trình

tổ chức trò chơi

Như vậy TCĐK vừa là trò chơi vừa là nghệ thuật kịch, vừa mang tínhchất thực vừa mang tính chất chơi, hoàn toàn phù hợp với trẻ mẫu giáo, đượctrẻ tiếp nhận một cách tích cực và đầy hứng thú cần được chú ý tổ chứcthường xuyên và khích lệ nhiều trẻ tham gia

1.3.2 Ý nghĩa của trò chơi đóng kịch đối với giáo dục tính tự tin cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường mầm non

Theo tác giả Đinh Văn Vang, TCĐK của trẻ 5 - 6 tuổi “có khi trở

thành chủ đề lớn, trung tâm của trò chơi đóng vai theo chủ đề” [58, 125]

TCĐK của trẻ lứa tuổi này có những điểm phát triển hơn so với ở lứatuổi trước: Kịch bản dài hơn, ngôn ngữ trong kịch bản phong phú, giàu hìnhảnh, mang nhiều sắc thái hơn; hành động nhân vật đa dạng, kịch tính hơn; sốlượng nhân vật tham gia một vở kịch cũng nhiều hơn, điều này đặt ra yêu cầucao hơn về khả năng diễn xuất theo tính cách của nhân vật của trẻ

TCĐK có ý nghĩa trong giáo dục trẻ mẫu giáo nói chung và đặc biệt có

ý nghĩa trong GDTTT cho trẻ 5 - 6 tuổi nói riêng TCĐK là cơ hội để trẻ phát

Trang 37

triển các kĩ năng cần thiết đúng như tiến sĩ Jane.M.Healy đã nói: “Thông qua

các trò chơi mang tính chất diễn kịch để học tập các kĩ năng sinh hoạt xã hội

sẽ càng có hiệu quả hơn so với cách dạy qua lời nói của người lớn” [24, 77]

TCĐK được trẻ em rất yêu thích bởi đây vừa là một trò chơi, vừa làmột hoạt động nghệ thuật Yếu tố chơi và yếu tố nghệ thuật được kết hợp chặtchẽ trong nội dung cũng như trong quá trình tổ chức có tác dụng kích thích trẻtích cực hoạt động trong suốt cuộc chơi Khác với trò chơi đóng vai có chủ

đề, TCĐK thực sự hấp dẫn bởi hoàn cảnh chơi, vai chơi của trò chơi được xâydựng trên thế giới cổ tích rất gần gũi, thân thuộc với trẻ thơ, những đạo cụ hóatrang và bài trí sân khấu ngộ nghĩnh, lí thú tạo cho trẻ sự tự tin, hứng thú khitham gia trò chơi

TCĐK là môi trường thuận lợi để GDTTT cho trẻ, đặc biệt là trẻ mẫu

giáo bởi đây là hoạt động đòi hỏi khả năng thu thập và xử lí thông tin một cách sáng tạo Việc tìm kiếm phương tiện thể hiện, tìm kiếm cách phối hợp

ngôn ngữ nói và ngôn ngữ cơ thể để thể hiện sắc thái biểu cảm về nhân vậtgiúp trẻ lĩnh hội được ngôn ngữ giàu hình ảnh, học được giọng nói diễn cảm

rõ ràng và trẻ hoàn thiện mình hơn Trẻ sẽ học ở đó lòng dũng cảm, tính trungthực, tình yêu quê hương đất nước, yêu những điều thiện, bênh vực nhữngngười yếu đuối, lên án những cái xấu, cái ác…

TCĐK như một loại hình nghệ thuật phát triển năng lực cảm xúc, tưởng tượng, sáng tạo, sự tập trung chú ý Đây là hoạt động mang tính biểu

hiện tái tạo và thể hiện giúp tư duy và óc tưởng tượng của trẻ làm việc tíchcực, giúp trẻ phát triển lời nói, quan hệ giao tiếp trao đổi tình cảm, giúp trẻhọc nói lên cảm xúc của mình làm phong phú đời sống tinh thần, giúp trẻ cảmthụ cái đẹp, tạo sự tự tin cho trẻ, góp phần hình thành và phát triển những thóiquen tốt như tính tổ chức kỉ luật, tự chủ, sự tự tin, mạnh dạn trước mọi người

Để nhập vai tốt, ngoài việc cảm thụ tốt TPVH, trẻ phải suy nghĩ, tái tạo

Trang 38

và thể hiện các đặc điểm nổi bật về nhân vật cho nên việc hiểu tính cách nhânvật chưa đủ mà quan trọng hơn trẻ phải tự tin sử dụng các phương tiện thểhiện nhằm tạo ra hình tượng nhân vật sinh động, hấp dẫn Đồng thời phảitưởng tượng mình đang ở vị trí nhân vật, trải nghiệm các cảm xúc của nhânvật Điều này kích thích trẻ sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, biết yêu quý, trântrọng và tự tin thể hiện khả năng của mình Sự mô phỏng của TCĐK là yếu tốcần thiết cho sự hình thành các hành vi của TTT ở trẻ, vì vậy TCĐK là mộthoạt động thuận lợi để hình thành và phát triển TTT cho trẻ.

TCĐK là cơ hội để trẻ bộc lộ, thể hiện khả năng của bản thân qua đó phát triển tính tích cực cá nhân, tính độc lập - một trong những điều kiện quan

trọng để giúp trẻ tự tin Việc nhập vai theo kịch bản đòi hỏi ở trẻ sự mạnhdạn, tự tin thể hiện suy nghĩ và hành động của mình, tự tin phản ánh chânthực những rung động, xúc cảm về nhân vật theo cách cảm nhận riêng của trẻ

Sự tự ý thức bản thân, tự tin khẳng định mình đã giúp trẻ cố gắng thực hiệnnhiệm vụ trong trò chơi TCĐK là một trong những cơ hội tuyệt vời để trẻ thểhiện TTT bởi đây là hoạt động có đầy đủ điều kiện để đảm bảo sự tác độngđồng bộ lên mọi mặt phát triển của trẻ em về đạo đức, trí tuệ, thẩm mĩ, thểchất và hình thành các kĩ năng ban đầu của con người như một thành viêntrong xã hội biết lao động tích cực, sáng tạo có sự tự tin vào bản thân, có sự

cố gắng, nỗ lực không ngừng để hoàn thiện bản thân

TCĐK không đơn thuần là sự phản ánh các ấn tượng về TPVH mà còn

là sự biểu lộ thái độ, tình cảm của trẻ đối với những gì mà chúng thể hiện qua

đó rèn luyện khả năng thể hiện xúc cảm, tình cảm của trẻ qua các vai diễn

Theo tác giả Nguyễn Ánh Tuyết trong cuốn “Giáo dục học mầm non những

vấn đề lí luận và thực tiễn” thì “việc nhập vai vào nhân vật, trẻ được trải nghiệm những tình cảm tốt đẹp, những kiểu xử trí khôn ngoan để mà học làm người cũng như được trải nghiệm những tật xấu thói hư để mà tránh không

Trang 39

bao giờ phạm phải” [49, 212] Trong quá trình tham gia đóng kịch trẻ có cơ

hội biểu hiện thái độ của mình đối với nhân vật mình đóng với các nhân vậtkhác giúp trẻ điều chỉnh những hành vi, vận động tay chân, điều chỉnh hành

vi ngôn ngữ, mức độ âm thanh, từ ngữ một cách phù hợp Đây cũng là hoạt

động mang màu sắc xúc cảm chân thực mạnh mẽ bởi mọi cái tuy là diễn

nhưng tình cảm và thái độ mà trẻ em biểu hiện trong đó là tình cảm chân thực,hồn nhiên và thẳng thắn vì vậy tham gia TCĐK là cơ hội phát triển ở trẻ nănglực nhận biết, bày tỏ cảm xúc và khả năng hiểu, đáp lại cảm xúc, tình cảm củangười khác

TCĐK là cơ hội tốt để trẻ bộc lộ hay kiềm chế cảm xúc của mình khi đóng

vai các nhân vật trong trò chơi Sự hóa thân vào các nhân vật trong TPVH vớicác biểu hiện tính cách khác nhau, thậm chí đối nghịch nhau, các vai diễn từchính diện đến phản diện đòi hỏi trẻ phải hiểu các nhân vật, phân biệt về đặcđiểm tính cách và tự tin thể hiện vai diễn theo cách cảm nhận của mình từ đólàm cho đời sống tình cảm của trẻ được phát triển với vô vàn các cung bậc khácnhau TCĐK không chỉ làm thỏa mãn những cảm giác tình cảm của trẻ mà còngiúp trẻ mạnh dạn tự tin thể hiện cảm xúc, hành vi của mình

Quá trình tham gia TCĐK thường được tổ chức như một hoạt động

cùng nhau tạo nên sản phẩm chung vì vậy hình thành ý thức, quy tắc hoạt động trong tập thể Sự tương tác, hợp tác trong hoạt động tập thể có ảnh

hưởng tích cực tới sự hình thành bước đầu ở trẻ khả năng phối hợp, biết lắngnghe, biết tranh luận, hình thành cho trẻ lối sống hòa đồng, cởi mở, vui tươi

và hồn nhiên, trong sáng cũng như các phẩm chất đạo đức như: tính kiên trì,thói quen làm việc đến nơi đến chốn, khả năng vượt khó, biết cùng nhau làmviệc, nhường nhịn… Đó cũng là những điều kiện giúp trẻ trở lên tự tin, chủđộng hơn trong học tập và cuộc sống

Việc tham gia biểu diễn trước mọi người chính là món ăn tinh thần ảnh

Trang 40

hưởng đến sự phát triển thể chất, sức khỏe và thể lực giúp trẻ có tinh thầnthoải mái, vui vẻ, các kĩ năng vận động tốt trẻ có thể tự tin tham gia vào cáchoạt động khác Điều này cần thiết để tạo nên một con người tự tin.

Như vậy, ưu thế hơn bất cứ hoạt động nào trong hoạt động vui chơicũng như các hoạt động khác của trẻ mẫu giáo ở trường MN, TCĐK là mộthoạt động mang TTT bởi trò chơi biểu hiện rất rõ ý thức làm chủ, tích cực,độc lập của trẻ Liên quan mật thiết đến sự hình thành TTT cho trẻ, TCĐKcần được những người làm công tác giáo dục MN quan tâm, đặc biệt trongviệc GDTTT cho trẻ

1.3.3 Biện pháp giáo dục tính tự tin cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua trò chơi đóng kịch ở trường mầm non

1.3.3.1 Khái niệm biện pháp giáo dục tính tự tin cho trẻ 5 - 6 tuổi

Biện pháp được hiểu là cách thức cụ thể, là thủ thuật tác động vào quátrình hoạt động có được hiệu quả tốt nhất trong những điều kiện, đối tượngxác định Trong biện pháp gồm các yếu tố: nội dung, phương pháp, phươngtiện, hình thức tổ chức… Những yếu tố này có mối quan hệ tác động qua lạilẫn nhau

Theo Nguyễn Thị Hòa trong cuốn “Giáo trình giáo dục học mầm

non” thì “Biện pháp giáo dục mầm non được hiểu là cách làm cụ thể trong hoạt động hợp tác cùng nhau giữa giáo viên và trẻ nhằm thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục đã đặt ra ở lứa tuổi mầm non” [14, 88]

Có thể đưa ra khái niệm biện pháp giáo dục tính tự tin cho trẻ 5 - 6 tuổithông qua trò chơi đóng kịch trong phạm vi nghiên cứu của đề tài như sau:

“Biện pháp giáo dục tính tự tin cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua trò chơi đóng kịch ở trường mầm non là cách hoạt động cùng nhau giữa cô và trẻ trong trò chơi đóng kịch nhằm giáo dục tính tự tin cho trẻ”.

Việc lựa chọn, thiết kế, tổ chức và triển khai các biện pháp GDTTT cho

Ngày đăng: 24/02/2017, 20:36

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2: Thực trạng sử dụng biện pháp GDTTT cho trẻ 5 - 6 tuổi thông - GIÁO dục TÍNH tự TIN CHO TRẺ 5   6 TUỔI THÔNG QUA TRÒ CHƠI ĐÓNG KỊCH ở TRƯỜNG mầm NON
Bảng 2.2 Thực trạng sử dụng biện pháp GDTTT cho trẻ 5 - 6 tuổi thông (Trang 53)
Bảng 2.3a: Thực trạng mức độ biểu hiện TTT của trẻ  5 - 6 tuổi trong - GIÁO dục TÍNH tự TIN CHO TRẺ 5   6 TUỔI THÔNG QUA TRÒ CHƠI ĐÓNG KỊCH ở TRƯỜNG mầm NON
Bảng 2.3a Thực trạng mức độ biểu hiện TTT của trẻ 5 - 6 tuổi trong (Trang 57)
Bảng 3.2c và biểu đồ 3.2c cho thấy: Đã có sự chênh lệch về mức độ  biểu hiện TTT của trẻ ở nhóm TN và ĐC - GIÁO dục TÍNH tự TIN CHO TRẺ 5   6 TUỔI THÔNG QUA TRÒ CHƠI ĐÓNG KỊCH ở TRƯỜNG mầm NON
Bảng 3.2c và biểu đồ 3.2c cho thấy: Đã có sự chênh lệch về mức độ biểu hiện TTT của trẻ ở nhóm TN và ĐC (Trang 93)
Bảng 3.3a. So sánh kết quả mức độ biểu hiện TTT của trẻ nhóm TN và - GIÁO dục TÍNH tự TIN CHO TRẺ 5   6 TUỔI THÔNG QUA TRÒ CHƠI ĐÓNG KỊCH ở TRƯỜNG mầm NON
Bảng 3.3a. So sánh kết quả mức độ biểu hiện TTT của trẻ nhóm TN và (Trang 96)
Bảng 3.3b. So sánh mức độ biểu hiện TTT của trẻ nhóm TN và ĐC - GIÁO dục TÍNH tự TIN CHO TRẺ 5   6 TUỔI THÔNG QUA TRÒ CHƠI ĐÓNG KỊCH ở TRƯỜNG mầm NON
Bảng 3.3b. So sánh mức độ biểu hiện TTT của trẻ nhóm TN và ĐC (Trang 97)
Hình   thức   thi  đua - GIÁO dục TÍNH tự TIN CHO TRẺ 5   6 TUỔI THÔNG QUA TRÒ CHƠI ĐÓNG KỊCH ở TRƯỜNG mầm NON
nh thức thi đua (Trang 120)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w