1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Nghiên cứu châm cứu điều trị một số bệnh thường gặp ở gia súc

107 597 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 18,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo Nguyễn Hùng Nguyệt, Đoàn Thị Kim Dung 2003 [34], sáchchâm cứu thú y viết: Châm và cứu là hai cách điều trị khác nhau, nhưng cùng một nguyên lýtác động lên huyệt và đi theo các đường

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm gần đây ngành nông nghiệp nói chung, ngành chănnuôi nước ta nói riêng đã có những thành tựu thay đổi rõ rệt về chất lượng

và số lượng, với chủ trương đa dạng hóa các loại hình sản xuất nhằm đápứng nhu cầu của xã hội ngày càng cao

Năm 1995, nước ta có khoảng 21.000 con bò sữa, đến năm 2000 tănglên 30.084 con Theo số liệu thống kê năm 2003 nước ta có gần 67.000 con

bò sữa (Cục khuyến nông, khuyến lâm Bộ NN và PTNT 06/2003) và đếnnay có khoảng 100.000 con Dự kiến của Bộ NN và PTNT đến năm 2010nâng tổng số bò sữa lên 200.000 con, cung cấp khoảng 40% nhu cầu về sữacho nhân dân

Châm cứu là một phương pháp phòng chữa bệnh có tác dụng điều khí

và trấn đau của Y học cổ truyền Á Đông [4]

Thực hiện kết hợp Y học hiện đại với Y học cổ truyền, giới Y học nước

ta đã phát triển cả về lý luận lẫn ứng dụng châm cứu và đã thu được nhiều kếtquả tốt Tác dụng kỳ diệu của châm cứu đã thu hút việc nghiên cứu của cácchuyên gia của nhiều nước trên thế giới Những kết quả của họ cũng đã gópphần làm sáng tỏ phần nào bản chất và cơ chế của châm cứu [47]

Theo Nguyễn Hùng Nguyệt, Đoàn Thị Kim Dung (2003) [34], sáchchâm cứu thú y viết:

Châm và cứu là hai cách điều trị khác nhau, nhưng cùng một nguyên lýtác động lên huyệt và đi theo các đường Kinh Lạc để điều hòa chức năng của

cơ thể gia súc

Châm là dùng kim châm vào huyệt để điều hòa kinh khí lập lại thế cânbằng Âm Dương mỗi khi bị bệnh

Trang 2

Cứu là dùng sức nóng của mồi lá ngải cứu đốt trên huyệt và cũng là đểđiều hòa kinh khí lập lại thế cân bằng Âm Dương mỗi khi bị bệnh.

Hai cách chữa bệnh đó đã trở thành một nguyên lý chung, nên thuậtngữ gọi chung là phương pháp chữa bệnh bằng châm cứu

Từ cơ sở lý luận của châm cứu đã phát triển thành nhiều phương phápchữa bệnh khác nhau (Theo Nguyễn Hùng Nguyệt, sách châm cứu thú y(1990) ) [33]

Châm kim vào huyệt kết hợp với xung điện gọi là điện châm điều trị.Tiêm các loại thuốc thông thường vào huyệt gọi là thủy châm Đó làphương pháp điều trị kết hợp Y học cổ truyền với Y học hiện đại

Dùng năm, bảy, chín đến mười chiếc kim tạo thành một chùm kim nhưmột chiếc búa gõ để tác động lên huyệt, đường Kinh Lạc, dọc cột sống có tácdụng chữa bệnh tốt gọi là mai hoa châm trong điều trị Châm cứu còn có tácdụng giảm đau, vô cảm hay nâng cao ngưỡng đau gọi là phương pháp châm

tê Như vậy châm cứu gây được tê trong phẫu thuật và chỉnh hình [101]

Ngoài ra còn có phương pháp khác như: Xoa, day, chích, miết, bấm,…Trong đó phương pháp xoa, bấm huyệt dọc cột sống có tác dụng giảm đau cácchứng bệnh và điều hòa khí huyết trong cơ thể gia súc gọi là phương pháp án

ma hay xoa bóp, bấm huyệt Tác dụng chữa bệnh của châm cứu đã đượckhẳng định ở nhiều nước Nó trở thành một phương pháp chữa bệnh được ưachuộng vì an toàn, có hiệu quả, dễ thực hiện, tiết kiệm và không độc hại nhưđiều trị bằng thuốc Châm cứu là phương pháp chữa bệnh không dùng thuốc,hiện nay đang được nhiều nước trên thế giới quan tâm Chủ trương của Đảng

và Nhà nước ta hiện nay là phát triển ngành chăn nuôi sạch Những sản phẩmthịt trứng sữa của những gia súc đang điều trị bằng thuốc sẽ có sự tồn dưthuốc, sản lượng sẽ bị giảm, mà đáng lo ngại sự tồn dư kháng sinh trong sản

Trang 3

giảm sản lượng thịt trứng sữa và không tồn dư thuốc trong sản phẩm Mặtkhác châm cứu điều trị một số bệnh thường gặp ở gia súc như: Nội khoa,ngoại khoa, sản khoa, truyền nhiễm, trong đó một số bệnh sinh sản ở bò, hiệnnay nan giải nhất là hiện tượng rối loạn sinh sản, chậm sinh, sát nhau, bại liệt,ngành Thú y đang tập trung giải quyết bằng mọi biện pháp Ở nước ta việcứng dụng châm cứu điều trị bệnh cho gia súc trong ngành Thú y còn chưađược chú ý Xuất phát từ vấn đề nêu trên, chúng tôi tiến hành đề tài:

"Nghiên cứu châm cứu điều trị một số bệnh thường gặp ở gia súc”.

2 Mục tiêu của đề tài nghiên cứu này nhằm:

1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của châm cứu điều trị một số bệnh thườnggặp ở gia súc

2 Nghiên cứu phương pháp châm cứu điều trị một số bệnh thường gặp

ở gia súc

3 Hiệu quả châm cứu điều trị một số bệnh ở gia súc, so với phươngpháp thú y khác và góp phần làm phong phú phương pháp chữa bệnhcho gia súc

Để thực hiện ba mục tiêu trên đề tài cần giải quyết các nhiêm vụ sau:

1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của châm cứu trong điều trị bệnh sát nhau,chậm sinh, bại liệt, co giật ở lợn và chó,bại liệt ở chó

2 Nghiên cứu phương pháp châm kim trong điều trị bệnh sát nhauchậm sinh, bại liệt, co giật ở lợn và chó, bại liệt ở chó

3 Nghiên cứu phương pháp cứu mồi ngải đốt trên huyệt trong điều trịhiện tượng chậm sinh ở bò

4 So sánh hiệu quả của châm cứu điều trị với các phương pháp kháctrong Thú y

5 Để đưa ra một phác đồ, một đơn huyệt tối ưu nhất trong điều trị bệnhcho gia súc

Trang 4

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Tình hình nghiên cứu

1.1.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước.

Châm cứu xuất hiện rất sớm trong lịch sử các nước phương Đông như:Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam, Triều Tiên,…Nó được đúc kết từ nhữngkinh nghiệm thực tế trong quá trình đấu tranh phòng chống bệnh tật hàng mấyngàn năm của nhân lao động [16 ]

Cuối thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX điện châm được du nhập qua cácnhà truyền giáo Gia tô từ các nước phương tây ( Pháp, Hà Lan, Bồ Đào Nha,Tây Ba Nha ) vào các nước phương Đông Cũng vào thời gian này khoa họcvật lý đã phát triển, với sự phát minh ra điện nhiều nhà bác học đã liên tiếpđưa ra những dòng điện khác nhau vào nghiên cứu ứng dụng chữa bệnh [24 ] Năm 1865, năm đầu tiên dùng dòng điện Faraday nhổ răng cũng thànhcông [32 ]

Năm 1770, Bertholon (tu sỹ) chữa khỏi một ca đau răng đã ba năm bằngviệc dùng dòng điện tạo ra do sự phóng điện của tụ kiểu Chai-Leyden [9 ] Năm 1785, J H Van Swinder đã mô tả kỹ thuật gây tê cổ điển trong nhakhoa [9 ]

Năm 1910, Robinovich dùng dòng điện có tần số 6000-7000Hz, điện thế54V để mổ cắt cụt ngón tay [9 ]

Đầu thế kỷ XX ứng dụng các xung điện được nghiên cứu sử dụng mạnhhơn nhờ công trình của Leduc, Lapigue [24 ]

Trang 5

Năm 1929-1932, P D Bernard nghiên cứu các dòng xung điện hình sintrên cơ sở phân tích, tổng hợp các tác dụng sinh lý của các dòng điện đó và đãđưa các dòng xung điện đó vào chữa bệnh [32 ].

Năm 1945 ở Pháp Roger de la Fuye và Paul Nogier đã cho kích thíchđiện qua kim và dùng thuật ngữ "electro - acupuncture" để đặt tên cho phươngpháp điện châm Từ đó đến nay đã có rất nhiều tác giả Đức, Pháp, Anh, NhậtBản, Trung Quốc,… nghiên cứu tác động của dòng điện lên huyệt và phươngpháp điện châm dần trở thành phương pháp điều trị quan trọng trong châmcứu nói riêng cũng như trong Y học cổ truyền nói chung [19]

Châm cứu có hiệu quả tốt trong việc điều trị và phẫu thuật Cho đếnnay nó được nhiều nước trên thế giới đánh giá rất cao Năm 1946 Hội châmcứu Quốc tế (Societe Internatinaled Acupuncture) (SIA) ra đời [36] Từ đónhiều nước trên thế giới đã ứng dụng châm cứu, nghiên cứu tìm hiểu bản chấtcủa châm cứu

Đặc biệt là sau khi Trung Quốc công bố với thế giới những kết quả vềchâm tê của mình [9], từ năm 1971 đến nay, các nước đã nghiên cứu và ứngdụng châm cứu sâu hơn và rộng hơn

Từ những năm 60, nhất là những năm đầu của thập kỷ 70 Trung Quốc

đã tiến hành nghiên cứu châm tê về các mặt thần kinh, thể dịch và đã cónhững kết quả tốt [9] Trên cơ sở kết quả nghiên cứu về châm tê của TrungQuốc và những tiến bộ khoa học kỹ thuật mới, có thuyết " cửa kiểm soát" củaMelzack và Wall (1965) [90]

Về ứng dụng châm cứu ở các nước: Liên Xô (cũ), Pháp, Áo, Nhật Bản,Triều Tiên, Canada, Mỹ, Balan, Đức, Hungari đã đi sâu nghiên cứu và đạtđược nhiều kết quả trong chữa bệnh và trong phẫu thuật [7]

Trang 6

Trong Hội nghị châm cứu quốc tế ở Baden (1971), Hội nghị lần thứ 11,

đã có nhiều tham luận về lý thuyết, thông báo kết quả thực hành và đã đánhgiá cao nền Y học phương Đông [59]

1.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước.

Châm cứu được sử dụng ở nước ta từ lâu đời An Kỳ Sinh đời VuaHùng (287 Trước Công Nguyên), Thôi Vỹ đời Thục An Dương Vương (257-

207 Trước Công Nguyên) là thầy châm cứu giỏi ( truyện "Lĩnh nam tríchquái"), Bảo Cô (309-363 Trước Công Nguyên), Tuệ Tĩnh (Thế kỷ 14) có giớithiệu học thuyết Kinh Lạc huyệt vị và ghi chép việc dùng châm cứu điều trịmột số bệnh trong bộ “Hồng nghĩa giác tự y thư”, Nguyễn Đại Năng đời nhà

Hồ (Thế kỷ 15) đã viết cuốn "Châm cứu tiệp hiệu diễn ca", Nguyễn Trực (Thế

kỷ 15) để lại cuốn sách “Bảo anh lương phương”, “Chữa bệnh bằng châm cứu

- xoa bóp”, Hải Thượng Lãn Ông (Thế kỷ 18) viết cuốn "Y tôn tâm lĩnh" có

sử dụng châm cứu chữa một số bệnh về nhi khoa…

Thừa kế và phát huy vốn quý của cha ông, châm cứu Việt Nam đã kếthợp với Y học hiện đại, ngày càng phát triển với nhiều hình thức: Thể châm,nhĩ châm, thủy châm, mai hoa châm, điện châm, châm tê

Năm 1957, Viện nghiên cứu Đông y, Hội Đông y Việt Nam được thànhlập Tháng 10/1968 Hội Châm cứu Việt Nam ra đời Cho đến nay châm cứuđược phổ cập rộng rãi từ trạm y tế xã đến cơ sở y tế Trung ương

Châm cứu đã thành công trong điều trị những chứng bệnh thôngthường, mở ra một hướng sáng sủa điều trị những chứng bệnh khó chữa [39].Ngoài ra còn ứng dụng châm tê trong nhiều loại phẫu thuật đã đạt kết quả tốt.Châm tê ở Việt Nam được tiến hành bởi các nhóm: Nhóm giáo sư Hoàng BảoChâu, Bùi Quang Hiền làm tại bệnh viện Việt Đức, nhóm bác sỹ Trương Kim

Du nghiên cứu tại viện chống lao Trung ương, Hoàng Đình Cầu là người đầu

Trang 7

Nguyễn Tài Thu đã cùng các Quân y viện 108, 110, 103, 105, 7… đã nghiêncứu ứng dụng châm tê trong 60 loại phẫu thuật: Cắt Amydan, mổ ruột thừa,thoát vị bẹn, mổ sọ não, vết thương vùng bụng, ghép xương tứ chi, châm tê đểphục vụ thương bệnh binh trong ngoại khoa chấn thương và đã phối hợp vớicác bệnh Viện dân y châm tê để mổ dạ dày, tử cung, buồng trứng,…[54,55].

1.1.3 Tình hình nghiên cứu châm cứu trong thú y.

Trên thế giới có nhiều nhà khoa học nghiên cứu châm cứu thú y Đặcbiệt ở Trung Quốc có rất nhiều tài liệu về châm cứu thú y, đã trở thành mônhọc trong các trường chuyên nghiệp từ những năm 1974 [113]

Về châm cứu điều trị đã có: Châm cứu điều trị bệnh bại liệt dạ cỏ

có Alvares (1971) [98], Chuchin (1989) [83], châm cứu điều trị thử trênngựa

Về châm tê đã có: Châm tê trên thỏ Lee (1976) [88], châm tê để cắt bỏbuồng trứng của chó Young (1979) [97], châm tê để mổ trên bò có Brunner(1975) [108], Kothbauer O (1977) [86]

Ở Việt Nam, vào khoảng 947- 948 trước Công Nguyên tổ tiên ta đãbiết chích máu ở tĩnh mạch cổ ngựa để chữa bệnh say nắng [31] Trong

“Châm cứu tiệp hiệu diễn ca” có trình bày điều trị cho gia súc bằng phươngpháp châm cứu [30] và sách “Hồng nghĩa giác tự y thư” cũng có phần ghichép một số kinh nghiệm chữa bệnh bằng châm cứu gia súc [68] Vũ HuyNhân (1963) [37] điều trị cúm bò bằng châm cứu Phạm Thị Xuân Vân đãtiến hành châm tê trên gia súc [73,74] và đã điều trị một số bệnh bằngphương pháp châm cứu [51,75,77,78] Nguyễn Hùng Nguyệt (2004) đãchâm cứu điều trị bệnh sát nhau, bệnh bại liệt ở gia súc và thuỷ châm điềutrị bệnh tiêu chảy ở bê nghé [35]

Hội thảo Quốc tế Châm cứu Thú y ở Mexico (2006), Hội thảo lần thứnhất, đã giới thiệu tóm tắt cơ sở lý luận Châm cứu Thú y và báo cáo một số

Trang 8

kết quả nghiên cứu châm cứu thú y ứng dụng trên gia súc đã được đánh giácao nền Y học cổ truyền dân tộc Việt Nam

1.2 Bệnh sản khoa ở bò

Giá trị kinh tế của bò chiếm tỷ trọng cao trong ngành chăn nuôi ở nhiềunước trên thế giới Để khai thác đặc điểm này, các nước phát triển trên thếgiới không ngừng đầu tư để cải tạo giống bò và áp dụng các biện pháp nângcao khả năng sinh sản của chúng, đặc biệt là đàn bò sữa Các nhà Thú y quantâm đặc biệt đến vấn đề bệnh ở bò trong đó có bệnh sản khoa bởi lẽ nó gâytổn thất lớn trong chăn nuôi Theo Winker (1982) [72] ở Mỹ bệnh sản khoa ở

bò đã làm tổn thất nặng nề về kinh tế chăn nuôi

Ở các nước ngành chăn nuôi bò phát triển (Mỹ, Úc, Anh, Canada…) đểhạn chế bệnh sản khoa nhiều công trình nghiên cứu đã tập trung giải quyết có kết quả và khống chế được bệnh tật

D.I.Mizef (1972) [14] công bố kết quả áp dụng thành tựu khoa học mớiđiều trị bệnh sát nhau ở bò Tác giả tiêm nội động mạch dung dịch Novocain 0,5% kết hợp với kháng sinh đã mang lại kết quả khả quan

I.P.Izaovu (1974) [14] lại dùng Sinestrol và Pitvitril hoạt tính tiêm dưới

da để điều trị bò sát nhau

Andria manga (S.), Stephan (J.) và Thibier (M.) (1984) [80] đã nghiêncứu vấn đề dịch tễ với sự quan tâm đặc biệt đến chu kỳ tính để hạn chế bệnhviêm tử cung ở bò

Bretzlaff (K.N.), Whitmore (H.L.) và Spahr (S.L.) (1982) [81] đãchỉ ra biện pháp cải thiện và điều trị những vấn đề sau khi sinh của đàngia súc cho sữa

Ở Việt Nam nghiên cứu về bệnh sản khoa của trâu bò mới được chútrọng trong những năm gần đây, do việc nhập bò sữa và phát triển ngành chăn

Trang 9

Bạch Đăng Phong (1995) [42] đã nhấn mạnh nghề chăn nuôi bò sữa

ở nước ta đang phát triển, bệnh viêm vú nổi lên hàng đầu đang được cácnhà khoa học kỹ thuật thú y cũng như các nhà kinh doanh bò sữa tập trunggiải quyết

Những bệnh xẩy ra đối với đàn bò sữa nuôi trong hộ gia đình ở ngoạithành Hà Nội, đặc biệt là bệnh sinh sản đã được tác giả Huỳnh Văn Kháng(1995) [25], Nguyễn Văn Thanh (2004) [49], tìm hiểu và đưa ra phương phápđiều trị thích hợp

Tình trạng sinh sản và năng suất sữa phụ thuộc vào tuổi và chu kỳ tiếtsữa của bò lai được tìm hiểu và công bố của các tác giả Nguyễn Trọng Tiến,Đoàn Liên, Mai Thị Thơm (1995) [65]

Đặng Đình Tín, Nguyễn Hùng Nguyệt (1986) [67], Trịnh Quang Phong(1991) [57], Bạch Đăng Phong (1995) [41], Trần Tiến Dũng (2004) [13] đã cónhững công trình nghiên cứu trên các khía cạnh của hiện tượng sinh sản, vôsinh ở gia súc, đều khẳng định rằng: Các quá trình bệnh xảy ra ở cơ quan sinhdục cái là nguyên nhân chính dẫn tới hiện tượng rối loạn sinh sản

1.3 Cơ sở lý luận của châm cứu

1.3.1 Lý luận của y học cổ truyền.

1.3.1.1 Học thuyết Âm Dương [9,10].

Theo nhận thức của người xưa, thế giới vật chất được khởi nguồn từcác hiện tượng tự nhiên, thông qua quan sát lâu dài mà nhận thức được, họphát hiện thế giới này là một khối thống nhất hoàn chỉnh không ngừng vậnđộng và biến hóa Bất cứ sự vật nào đều có hai mặt trái, phải, đối lập nhưnglại thống nhất với nhau Quan hệ bên trong của hai mặt ấy: Chúng tác độnglẫn nhau, vận động không ngừng, không dừng lại trong quá trình phát triển vàtiêu vong Các vấn đề như vậy người xưa dùng hai danh từ Âm Dương đểthuyết minh

Trang 10

Âm Dương luôn luôn biến đổi và biến hóa không ngừng, được chia làm

4 dạng ( Nguyễn Hùng Nguyệt, Đoàn Thị Kim Dung (2003) ) [34]:

Âm Dương tương hỗ: Nói lên sự giúp đỡ nương tựa vào nhau, nhưngđối kháng thì mới tồn tại Như quá trình đồng hóa và dị hóa

Âm Dương đối lập: Cơ thể luôn có mâu thuẫn để Âm Dương ở trạngthái thăng bằng, hoạt động bình thường phải có quá trình đồng hóa dị hóa

Âm Dương phát triển và tiêu vong: Quá trình vận động của cơ thểphải tiêu hao cho cơ thể phát triển Phát triển và tiêu vong có sự chuyểnhóa cho nhau

Âm Dương thăng bằng: Là hai mặt đối lập của quá trình phát triểnkhông ngừng giữ cho cơ thể ở trạng thái thăng bằng

Học thuyết Âm Dương quán triệt trong suốt quá trình phát triển của cơ thể, biểu hiện từ đơn giản đến phức tạp là nói lên sự vật luôn luôn mâu thuẫnnhưng lại thống nhất với nhau Dựa vào đó để biết quá trình sinh lý, bệnh lý

và phòng chữa bệnh cho gia súc

Các cơ quan nội tạng trong cơ thể gồm: Tâm (tim), Can (gan), Phế(phổi), Thận, Tỳ (lách, tụy), huyết, bụng, bên trong, ở dưới, các đường kinh

âm gọi là Âm Vỵ (dạ dày), Bàng quang, Tiểu trường (ruột non), Đạitrường (ruột già), Đởm (mật), bên ngoài, ở trên, lưng, các đường kinhdương gọi là Dương

Âm Dương thăng bằng là phần âm bằng phần dương Âm dương mấtthăng bằng có hai cách: Phần Dương đã lấn phần Âm hoặc phần Âm đã lấnphần Dương

Trang 11

Hình 1 Sơ đồ âm dương

a Âm Dương thăng bằng

b Dương lấn Âm

c Âm lấn Dương

Về mặt sinh lý của gia súc thì Âm Dương cần được cân bằng mới khỏemạnh Trong quá trình phát triển tuy có sinh ra tình trạng mất cân bằng,nhưng cuối cùng sự phát triển vẫn phải khôi phục sự cân bằng, nếu không sẽsinh bệnh Dương trội hơn thì Âm bị bệnh, Âm trội hơn thì Dương bị bệnh

Trang 12

Học thuyết Ngũ Hành dựa trên học thuyết Âm Dương, nhưng được cụthể hoá về sự liên hệ mật thiết giữa cơ thể với các sự vật trong thiên nhiên

Hình 2 Sơ đồ Ngũ Hành

a Ngũ Hành tương sinh

b Ngũ Hành tương khắc

c Quan hệ chế hoáNgũ hành là chỉ 5 vật chất lớn: Kim loại (Kim), Gỗ (Mộc), Nước(Thủy), Lửa (Hỏa), Đất (Thổ) Người xưa cho rằng thế giới vật chất này tất

Trang 13

tính của 5 nguyên tố đó phát triển thành hệ thống và giải thích tất cả cácvấn đề của sự vật.

Học thuyết Âm Dương và Ngũ Hành tuy không đồng thời xuất hiện,nhưng cả hai gặp nhau khi giải thích các hiện tượng tự nhiên rồi sát nhậpthành thuyết: Âm Dương Ngũ Hành

Các quy luật cơ bản của Ngũ Hành:

Quy luật tương sinh: Hỗ trợ nhau, thúc đẩy nhau cùng phát triển gọi làtương sinh Quy luật này là Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim, Kimsinh Thủy, Thủy sinh Mộc

Quy luật tương khắc: Kìm hãm nhau, ức chế nhau gọi là tương khắc.Quy luật này là Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy, Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắcKim, Kim khắc Mộc Nếu tương khắc thì không thể duy trì cân bằng, tươngkhắc mà không tương sinh thì mọi vật sẽ bị diệt vong Cho nên có tương sinhphải có tương khắc để giữ được sự cân bằng tương đối

Quy luật tương thừa, tương vũ: Thừa nghĩa là lấn át, tương thừa nghĩa

là lấn át nhau, khắc chế một cách áp đảo, còn tương khắc là hiện tượng khắcchế lẫn nhau trong trạng thái bình thường của Ngũ hành

Vũ là khinh nhờn, tương vũ là khinh nhờn nhau, chỉ hiện tượng phảnkhắc (chống lại cái khắc mình) Ví dụ: Thổ quá mạnh thì Mộc sẽ không khắcchế nổi theo trạng thái bình thường, khi ấy Thổ sẽ khắc Thủy một cách áp đảo(Tương thừa), ngược lại Thổ quá yếu thì không những nó bị Mộc khắc lại màcòn bị Thủy phản khắc

Học thuyết Ngũ Hành có mối quan hệ chặt chẽ với hoạt động sinh lý, bệnh lý trong cơ quan nội tạng của cơ thể gia súc Kim, Mộc Thủy, Hỏa, Thổ,gắn liền với hoạt động của 5 tạng trong cơ thể là Phế Kim, Can Mộc, ThậnThủy, Tâm Hỏa, Tỳ Thổ Tạng Phủ trong cơ thể quan hệ chặt chẽ, thúc đẩylẫn nhau giữ cho cơ thể ở trạng thái hoạt động sinh lý Vận dụng quy luật

Trang 14

tương sinh, tương khắc để giải thích các hoạt động của các cơ quan nội tạngtrong cơ thể Con người cũng như con vật lúc khỏe mạnh bình thường là lúcTạng Phủ còn tốt, hoạt động bình thường và cân đối nhịp nhàng Ngược lạikhi bị ngoại tà xâm nhập làm đảo lộn chức năng hoạt động hay do cơ năngvật chất nội tạng mất bình thường mà sinh bệnh hoặc khi bị bệnh màkhông điều chỉnh được thì bệnh sẽ phát triển ảnh hưởng đến các TạngPhủ khác.

Ví dụ: Nổi giận hại Can khí, Can khí lấn lên ảnh hưởng tới cơ năng tiêuhóa của Tỳ, Vỵ mà sinh chứng tiêu hóa kém, gọi tắt là Mộc khắc Thổ Trái lạinếu công năng của một Tạng Phủ nào đó bị sa sút hoặc có bệnh, mà được sự

hỗ trợ của một Tạng Phủ hữu quan khác nào đó thì bệnh sẽ giảm, vượt quacơn nguy hại trở lại bình thường Ví dụ: Phế hư thì bổ Tỳ (Tỳ Thổ sinh PhếKim) tức yếu phổi phải bổ Tỳ để ăn uống tốt, tiêu hóa, dinh dưỡng tốt thì mớinuôi dưỡng được Phế

Tóm lại Học thuyết Âm Dương Ngũ hành cho ta thấy cơ thể là mộtkhối thống nhất, mỗi bộ phận đều có sự liên quan mật thiết với nhau, chúngvừa đối lập nhưng lại thống nhất với nhau và trong tương sinh có tương khắc

để tạo ra một hệ tự điều chỉnh bảo tồn sự sống trong quá trình không ngừngvận động và chuyển hóa…(Bảng hệ thống quy loại Ngũ Hành )

1.3.1.3 Học thuyết Tạng phủ [58].

Xuất phát từ quan niệm chỉnh thể, học thuyết này cho rằng mọi hoạtđộng sinh lý của cơ thể là Ngũ Tạng Lục Phủ đã thông qua hệ thống KinhLạc để các tổ chức khí quan trong cơ thể liên kết thành một chỉnh thể hữu cơ

Trang 15

Hình 3 Sơ đồ tạng - phủ.

Tạng chỉ các cơ quan đặc trong cơ thể, gồm Ngũ Tạng: Tâm, Can,

Tỳ, Phế, Thận có công năng tàng trữ tinh khí, chuyển hóa khí huyết và tândịch

Phủ chỉ các cơ quan rỗng gồm Lục Phủ: Đởm, Vị, Tiểu trường, Đạitrường, Bàng quang, Tam tiêu có công năng thu nạp, tiêu hóa, hấp thu vàbài tiết

Ngoài ra còn có não, tủy xương, tử cung, chúng có cấu tạo giống Tạng,

có chức năng giống Phủ cho nên xếp thành một nhóm gọi là Phủ kỳ hằng

Ngũ Tạng:

Tâm - Tâm bào lạc: Tâm chủ thần minh (ý thức, tư duy, tình cảm).Tâm chủ huyết mạch, chỉ đường tuần hoàn trong cơ thể, thở gấp, bồnchồn, đau vùng ngực do Tâm, huyết mạch tắc

Tâm khai khiếu biểu hiện ra mắt, Tâm Hỏa bốc thì lưỡi đỏ, loét, cứnglưỡi Tâm Hỏa vượng thì mắt đỏ, thính lực giảm Tâm bào lạc giống triệuchứng của Tâm

Can: Can tàng huyết có chức năng dự trữ và điều hòa lượng máu

Trang 16

Can khai khiếu ra mắt, Can bị bệnh mắt vàng, Can nội động gây méomiệng, mắt lác, giảm thị lực.

Can chủ sơ tiết, Can có tác dụng thăng phát (sơ) thấu tiết (tiết): Chủquản điều hòa khí huyết của toàn thân

Can chủ gân cơ: Can chỉ quản sự hoạt động của gân cơ, nó chi phối mọivận động của khớp xương, bắp thịt trong toàn cơ thể Can quan hệ biểu lý vớiĐởm, tương sinh Tâm Hoả, tương khắc Tỳ Thổ

Tỳ: Tỳ chủ vận hóa, quản việc tiêu hóa hấp thu vận chuyển đồ ăn uống,đồng thời Tỳ còn thúc đẩy quá trình bài tiết để duy trì sự cân bằng, sự thay cũđổi mới của thủy dịch trong cơ thể Tỳ bị bệnh thì quá trình tiêu hóa hấp thu

bị rối loạn

Trang 17

Bảng quy loại tóm tắt thuộc tính Ngũ Hành

Trong tự nhiên

Ngũ Hành

Quá trình phát triển

5 mùa

5 khí

5 phương

5 tạng

5 phủ

5 thể

5 quân

5 chỉ

5 thanh

5 biến động

5 dịch

Chua Xanh Sáng

Giận dỗi

Tiếng hét

Co quắp

Nước mắt

Tiểu trường Mạch Lưỡi

Vui mừng Cười

Nhăn nhó Mồ hôiNgọt Vàng Xế

Đại trường

Bàng quang Xương Tai Sợ hãi Rên Run

Nước đái

Trang 18

Tỳ thống huyết: Tỳ không ngừng đưa tân dịch vào máu Tỳ hư gây xuấthuyết, giảm tiểu cầu, thiếu máu.

Tỳ chủ tứ chi cơ nhục: Tỳ vận hóa tốt cơ mềm mại, Tỳ hư cơ nhụcmềm yếu nhão

Tỳ khai khiếu ra môi miệng, Tỳ tốt môi miệng hồng, Tỳ khí bất túc thìmôi miệng trắng bệch Tỳ quan hệ với Vỵ, tương sinh Phế Kim, tương khắcThận Thủy

Phế: Phế chủ khí, một mặt chỉ Phế giữ chức năng hô hấp, một mặt chỉ

“Phế triều bách mạch” nghĩa là nó có công năng tham dự sự tuần hoàn củahuyết dịch Phế chịu sự thủy lắng thông điều thủy đạo

Phế chủ bì mào: Lông, da do tinh khí của Phế sinh ra và nuôi dưỡng.Phế khai khiếu ra mũi, Phế khí không thông gây ngạt mũi, khó thở Phếquan hệ với Đại trường, tương sinh Thận Thủy, tương khắc Can Mộc

Thận: Thận chủ tàng tinh, công năng tàng tinh của Thận Thủy chia làmhai loại:

Một là tàng chứa tinh sinh dục chủ quản sự sinh sôi nảy nở

Hai là tàng chứa tinh khí của Tạng Phủ, chủ quản sự sinh trưởng, phátdục và hàng loạt các hoạt động của sự sống khác

Thận khí đầy đủ sung túc thì dẫn đến chí có dư, lực có cường, mọi biểuhiện đều tốt đẹp, sống lâu

Thận chủ thủy đạo, duy trì bài tiết nước tiểu

Thận chủ xương, tủy, thông lên óc: Thận chứa tinh, tinh sinh ra tủy cóliên quan đến bộ não Khi Thận sung túc thì xương, tủy, não ba bộ phận ấyđầy chắc, khỏe mạnh, chân tay rắn chắc, nhanh nhẹn, sinh lực dồi dào, tai mắtsáng Thận tinh không đủ thì thể hiện các chứng và động tác chậm chạp,xương mềm, thiếu máu, còi xương (gia súc non), suy nhược

Trang 19

Thận chủ mệnh hỏa là Thận Dương, duy trì hoạt động sinh lý cho

cơ thể

Thận chủ nạp khí, chức năng hô hấp ở phế dựa vào Thận

Thận khai khiếu ra tai, Thân suy thì tai ù, điếc.Thận quan hệ với Bàngquang, tương sinh Can Mộc, tương khắc Tâm Hỏa

Lục phủ:

Vị: Chứa đựng và làm nát thức ăn, chuyển xuống Tiểu trường Vị quan

hệ với Tỳ thông qua hệ kinh lạc Tỳ với Vị có đặc tính không giống nhau, Tỳchủ thăng ưa ráo ghét ướt, Vị chủ giáng ưa nhuận ghét ráo

Tiểu trường: Nhận thức ăn từ Vị xuống rồi làm nát hấp thu các chấtdinh dưỡng, nước xuống Bàng quang, cặn bã xuống Đại trường Tâm quan hệvới Tiểu trường hoạt động của chúng luôn luôn ăn khớp với nhau

Đại trường: Nơi chứa cặn bã và thải ra ngoài Đại trường quan hệvới Phế

Đởm: Tác dụng chủ yếu của Đởm là tàng chứa nước mật, nước mật làmột thứ dịch thể trong sạch cho nên gọi “ Trung thanh chi phủ” (nơi hội tụ thểdịch trong sạch) Đởm quan hệ với Can Can hỏa vượng gây ra Đởm vượng,Đởm vượng thì sườn đau, Đởm nhiệt gây hoàng đản

Bàng quang: Chức năng chủ yếu là chứa nước tiểu Bàng quangquan hệ với Thận, mệnh môn hỏa suy, Thận khí hư, tiểu tiện không cầmhoặc bí đái

Tam tiêu: Là đường vận hành của nước và nguyên khí Chức năng củaTam tiêu gồm tất cả chức năng của Tạng Phủ Tam tiêu có quan hệ với Tâmbào lạc

Tam tiêu bao gồm:

Thượng tiêu chỉ Tâm, Phế tương đương với Tạng khí vùng lồng ngực

Trang 20

Trung tiêu chỉ Tỳ, Vị tương đương với công năng Tạng Phủ vùngthượng vị.

Hạ tiêu chỉ Can, Thận, Bàng quang, Tiểu trường, Đại trường tươngđương với công năng Tạng Phủ vùng bụng

1.3.1.4 Học thuyết Kinh Lạc [40,68].

Kinh là đường đi thông khắp mọi nơi và ở sâu, Lạc là màng lưới nốitiếp chằng chịt, phân bố ở toàn thân, do các kinh phân nhánh ra và ở nông[54]

Kinh Lạc là đường giao thông liên lạc của sự vận hành khí huyết đithông suốt trong cơ thể liên kết giữa các bộ phận ở trên - dưới, trước - sau,trái - phải, trong - ngoài, nông - sâu giữa các Tạng Phủ với đầu mặt, thânmình, chân tay, cân cốt của cơ thể thành một khối thống nhất Kinh Lạc là nơiphản ánh trạng thái sinh lý của cơ thể, là nơi dẫn truyền tác nhân gây bệnhcũng như dẫn truyền các kích thích vào Tạng Phủ để chữa bệnh [53,54,61]

Vì vậy người xưa cho rằng: Kinh Lạc có tác dụng đối với sự sống chếtcủa con người và gia súc, sự phát triển của bệnh tật, phòng bệnh và chữabệnh, do vậy người thầy thuốc không thể không hiểu biết về kinh lạc [110]

Nhận thức của ngày nay về hệ Kinh Lạc có rất nhiều ý kiến khác nhau,sau đây là một số ý kiến có tính đại diện:

Darinhian [5] cho rằng hệ Kinh Lạc của con người mang tính tượngtrưng như kinh tuyến, vỹ tuyến của Trái Đất Bản thân Trái Đất không có kinhtuyến, vỹ tuyến Để thuận tiện cho cuộc sống con người vẽ nên kinh tuyến, vỹtuyến của Trái Đất [11]

Hệ Kinh Lạc được coi như một hệ thống riêng biệt, các tác giả đã trìnhbày những nghiên cứu của mình theo các hướng khác nhau:

Trang 21

Trung Cốc Nghĩa Hùng (Nhật Bản) [8,78] qua nghiên cứu điện trở qua

da, lượng thông điện qua da thấy, trên da có những đường dẫn điện cao mà sựphân bố của nó tương tự như đường đi của các đường Kinh Mạch chính.Nhiều tác giả Pháp, Liên Xô (cũ), Trung Quốc đã lặp lại được kết quả này

Kim Bong Han (Triều Tiên) [29] cho rằng Kinh Lạc là một hệ thống cócấu trúc riêng, có đặc điểm sinh lý, sinh hóa riêng, trong đó có dịch Bong Hantuần hoàn Nhiều tác giả Châu âu không tìm được hiện tượng theo công bốcủa Kim Bong Han

Darras [29] cho rằng Kinh Lạc là những giải nước ion hóa Các đườngion bao phủ khắp cơ thể này đã tạo nên một hệ tự điều chỉnh Gần đây Darrascũng đã chụp được những đường tương ứng với đường Kinh

Học viện Y học Vũ Hán, Dương Kế Châu ( Trung Quốc ) [9,109] chorằng Kinh Lạc là hệ thống thông tin của cơ thể, trong đó huyệt là nơi thu phátgia công tin tức, Kinh Lạc là kênh truyền tin các đường liên kết ngược xuôi.Thủ thuật bổ tả là chất lượng của tin tức Đắc khí là biểu hiện của tin tức đãđược hấp thu

Mạnh Triệu Uy (Trung Quốc) [113] cho rằng Kinh Lạc là hệ thống thứ

3 của cơ thể và có thể có cấu trúc riêng biệt

Hệ Kinh Lạc có liên quan đến hệ thần kinh, mạch máu Nhiều tác giảLiên Xô (cũ), Trung Quốc, Việt Nam đối chiếu đường đi của Kinh Mạch vớigiải phẫu thần kinh mạch máu Khi châm vào 309 huyệt được nghiên cứu thấykim đã trực tiếp tác động ở gần thần kinh mạch máu Cảm giác đắc khí là cảmgiác biểu hiện sự phản ứng của thần kinh I30I

Trang 22

Sơ đồ vận hành khí huyết của 14 kinh mạch.

Kinh gồm 4 phần: 12 kinh chính, Bát mạch kỳ kinh, 12 kinh biệt, 12kinh cân Lạc gồm 3 phần: 15 lạc biệt, 365 lạc tôn Nhưng trong đó, trọng yếunhất là 12 Kinh chính và 2 mạch Nhâm, Đốc của Bát mạch kỳ kinh, mà Đông

y gọi tắt là 14 Kinh Mạch chính [53,61] Phân bố của 14 Kinh Mạch chínhtrên cơ thể gia súc ( Theo Nguyễn Hùng Nguyệt, Đoàn Thị Kim Dung, sách

Nhâm

m chạ

34

78

0

11

12

Nhâm mạch

34

78

0

12

Đốc mạch Túc Thiếu dương Đởm Thủ Thiếu dương Tam tiêu Túc Thái dương Bàng quang Thủ Thái dương Tiểu trường Túc Dương minh Vị

Thủ Dương minh Đại trường

Thủ Quyết âm Tâm bào

Túc Quyết âm Can

Túc Thiếu âm Thận

Thủ Thiếu âm Tâm

Túc Thái âm Tỳ

Thủ Thái âm Phế

Trang 23

Tiền túc thái âm Phế kinh: Đi từ Đại trường lên Phế, có một nhánh đi ramặt trong của chân trước.

Tiền túc dương minh Đại trường kinh: Bắt đầu từ mặt ngoài của ngónchân đi lên đến sống mũi vòng xuống mép, xuống cổ và đi vào trong xương

bả vai đi xuống vòng ngực và đến Đại trường

Hậu túc thái âm Tỳ kinh: Bắt đầu từ ngón chân đi ở mặt trong của đùilên bụng lên ngực và tới xoang miệng

Hậu túc dương minh Vị kinh: Đi từ cánh mũi vòng xuống mặt đến dạdày và đi đến ngón chân thứ 2 ở mặt ngoài chân sau

Tiền túc thái âm Tâm kinh: Gồm hai nhánh, một nhánh đi từ Tiểu trường,một nhánh đi từ Tâm ra đến hõm nách, vòng lên đầu xuống mặt trong củachân trước ra đến ngón đeo

Trang 24

Tiền túc thái dương Tiểu trường kinh: Bắt đầu từ ngón đeo đi ở mặt sau phíangoài chân trước lên phía sau của vai đến cổ, có một nhánh lên đến mắt vàmột nhánh vòng qua bả vai đi xuống Tiểu trường

Hậu túc thiếu âm Thận kinh: Đi từ gan bàn chân ở phía sau, đi lên mặtsau của chân, lên Thận, đến bụng ngực và đi thẳng lên cổ, vào trong xoangmiệng

Hậu túc thái dương Bàng quang kinh: Bắt đầu từ mặt đi xuống sau gáydọc hai bên cột sống xuống Bàng quang, đi xuống mặt ngoài của đùi và vòngxuống đến móng đeo chân sau

Trang 25

Tiền túc quyết âm Tâm bào kinh: Đi từ trong ngực ở vùng màng baotim, đi ra mặt trong chân trước xuống đến ngón thứ 3 ( ngựa ngón thứ 2).

Tiền túc thái dương Tam tiêu kinh: Bắt đầu đi từ ngón chân thứ tư đi lên mặt ngoài của chân đến cổ, gáy vòng ra sau tai đến dưới mắt

.Hậu túc quyết âm Can kinh: Đi từ mặt trong của xương bàn, đi ở mặttrong của chân vòng qua khớp khoeo lên đến bộ phận sinh dục, men theovòng cạnh sườn, đi lên dọc theo khí quản đến tận hai lỗ mũi

Hậu túc thiếu dương Đởm kinh: Bắt đầu đi từ đuôi mắt, vòng ra sau taixuống đến vai, đi ở mặt trong của vòng xương sườn qua ngực, qua bụng ra

KinhThận

Thận

Kinh Bàng quang Quang

Trang 26

mặt ngoài của đùi, đi xuống chân sau mặt ngoài đến tận cùng ngón thứ tư.

Mạch Đốc: Đi dọc trên lưng bắt đầu từ nhân trung đến chóp đuôi

Kinh Can Đởm

Trang 27

Mạch Nhâm: Đi dọc theo đường trắng bắt đầu từ hậu môn cho tới hàmdưới

Có thể nói học thuyết Kinh Lạc là một phần lý luận không thể thiếu của

Y học cổ truyền, nó là cơ sở quan trọng cho chẩn đoán, điều trị cũng như việcphòng bệnh của Y học cổ truyền [61]

1.3.1.5.Quan niệm về Huyệt.

Trang 28

1.3.1.5.1 Khái niệm.

Huyệt là nơi tập trung khí huyết, nơi phản ánh cơ năng cuả Tạng PhủKinh Lạc, nó được phân bố khắp mặt ngoài của cơ thể [109] nhưng khôngphải là hình thái tại chỗ của da, cơ, gân, xương [24]

Huyệt không những có quan hệ chặt chẽ với các hoạt động sinh lý vàcác biểu hiện của cơ thể mà còn giúp cho việc chẩn đoán bệnh và phòng chữabệnh một cách tích cực [28]

Huyệt có quan hệ chặt chẽ đến Kinh Lạc, Tạng Phủ, có liên quan đếnchức năng của nhiều cơ quan trong cơ thể [61,62] Tùy theo mối quan hệ giữahuyệt và Kinh Lạc, Tạng Phủ khả năng phòng bệnh và chữa bệnh mỗi huyệt

có khác nhau

Huyệt là nơi kinh khí, vệ khí vận hành qua lại vào ra nơi Tạng PhủKinh Lạc, dựa vào đó mà thông suốt với phần ngoài cơ thể góp phần giữ gìncho các hoạt động sinh lý của cơ thể luôn luôn ở trạng thái bình thường [27]

±Huyệt có mô liên kết lỏng lẻo nhất, theo kết quả nghiên cứu về môhọc của nhiều tác giả [22,23]

Huyệt cũng là cửa ngõ xâm lấn của tà khí lục dâm xâm nhập vào cơ thể đồngthời cũng giúp cho việc chẩn đoán điều trị và phòng bệnh vì nó có liên quanđến hoạt động sinh lý, biểu hiện bệnh lý của cơ thể [ 2,3] Khi sức đề khángcủa cơ thể (chính khí) bị suy giảm, khí huyết không được điều hòa thì tà khílục dâm sẽ xâm lấn gây bệnh cho cơ thể cũng qua các huyệt vỵ Mặt khác khimột Tạng Phủ, Kinh Lạc bị bệnh cũng được phản ánh ra ở huyệt hoặc đaunhức khi ấn vào đau hay màu sắc ở huyệt thay đổi (trắng nhợt, đỏ thẫm) [63]

1.3.1.5.2 Những loại huyệt chính [34].

Trên cơ thể có 3 loại huyệt chính:

Trang 29

+ Kinh huyệt: Gồm tất cả các huyệt nằm trên 12 đường kinh và 2 mạch

Trên cơ thể có 361 tên huyệt thuộc 14 Kinh Mạch chính (bao gồm 52tên huyệt đơn và 309 tên huyệt kép) Như vậy, tổng số huyệt vị trên 14 KinhMạch chính gồm 670 huyệt (52 + 618) Ngoài ra còn có huyệt ngoài kinh vàhuyệt mới được thống nhất là 48 huyệt (theo Hội Châm cứu Tây Thái BìnhDương Seoul-1987) [57]

Trên 12 kinh chính có những huyệt chủ yếu là: 12 huyệt nguyên, 15huyệt lạc, 12 huyệt bối du, 12 huyệt mộ, 60 ngũ du huyệt, 12 huyệt khích, 8huyệt hội, 8 giao hội huyệt [53,61,62]

1.3.1.5.3 Một số nghiên cứu về huyệt.

Theo Hoàng Khánh Hằng, Phạm Minh Đức, Lê Thu Liên (1998) [18],các nhà nghiên cứu Liên Xô (cũ) gọi huyệt châm cứu là điểm sinh học tíchcực, còn các nhà nghiên cứu Anh - Mỹ thì gọi là các điểm sống( vital point),huyệt chiếm một diện tích nhất định trên mặt da và dao động từ 0,4- 10 mm2

(Tykochinskaia E D (1979) )

Theo Kwork G và cộng sự cho rằng huyệt là những vùng da mà tại

đó nhạy cảm hơn, có chức năng đặc hiệu hơn so với cấu trúc xung quanh

nó [87]

Trang 30

Bằng phương pháp đối chiếu giải phẫu với thần kinh mạch máu, một sốtác giả cho rằng đường đi của Kinh Mạch phù hợp với đường đi của các dâythần kinh và mạch máu lớn Vị trí của huyệt chính là điểm đối chiếu lên dacủa thần kinh và mạch máu nằm sâu ở dưới da [82,99] Theo Bossy J (1978)[100], Tykochinskaia E D (1979) [106], Shurin S P (1981) [107], ở đó cócác sợi collagen của da bị biến dạng và có lưới mao mạch lò xo được bao bọcbởi các sợi thần kinh loại Cholinergic không có myelin.

Ở Pháp khi tiến hành đo điện trở ở da một số nhà nghiên cứu Pháp đãthấy các điểm trên da của những bệnh nhân mà khi nắn vào đó gây cảm giácđau có sự tương ứng với các huyệt châm cứu [71]

Năm 1973, J Bossy nhận thấy các huyệt trên cơ thể có độ thông điệncao hơn vùng da xung quanh huyệt [99]

Ở Liên Xô (cũ) kết quả nghiên cứu của Durinian ở Viện nghiên cứuliệu pháp phản xạ [71] cho thấy huyệt có những đặc trưng sau:

- Nhiệt độ cao hơn vùng xung quanh

- Nhạy cảm với đau hơn

- Trao đổi oxy tăng

- Để dòng điện vào ra dễ dàng hơn

- Các tổ chức liên kết xốp hơn

Năm 1998, Nguyễn Văn Tư [70] Trong đề tài nghiên cứu “ Đặc điểmcủa huyệt Tam âm giao và tác dụng của điện châm huyệt này lên một số chỉtiêu sinh lý ” đã nhận thấy :

Huyệt Tam âm giao có : Diện tích 16,32 ± 2,05 mm2

Nhiệt độ da 30,35± 1,23 0 C

Độ thông điện 88,11± 2,92 µA

Điện trở 18,55 ± 2,33 kΩ

Trang 31

Châm cứu có ảnh hưởng khá rõ lên hệ tuần hoàn như nhịp tim, tính dẫntruyền của tim, huyết áp, các động mạch vừa và lớn, mạch vành, mạch não,mao mạch v v [22]

Theo nghiên cứu của giáo sư Đỗ Công Huỳnh [21] huyệt châm cứu làmột cấu trúc có hình thái chức năng riêng biệt Các huyệt có một diện tíchnhất định từ 6-18mm2, có nhiệt độ cao hơn, điện trở da thấp hơn, lượng thôngđiện cao hơn so với vùng da quanh huyệt Tại huyệt ở một độ sâu nhất định córất nhiều sợi thần kinh và nhiều tế bào Labrocytes hay Mastocytes Châm kimđúng huyệt gây được cảm giác đắc khí và qua kim châm cứu có thể ghi đượcnhững điện thế động Kim châm cứu gây tổn thương các tế bào tại huyệt,trong đó có tế bào Labrocytes nên giải phóng nhiều chất có hoạt tính sinh họccao như Histamin, Serotonin Chính các điện thế động phát sinh khi châm kimvào huyệt và các chất có hoạt tính sinh học cao là các yếu tố gây ra các hiệuquả tiếp theo [66]

Bốn mươi huyệt quan trọng được chọn lọc để châm tê của Nguyễn TàiThu ( 1975) đã được giới thiệu trong sách "Nghiên cứu châm tê trong phẫuthuật" Nguyễn Tài Thu, nghiên cứu tác dụng huyệt Phong trì và đã được giớithiệu nhiều trong các ca điều trị mù do teo gai thị, các ca mổ sọ não [54]

Năm 1980-1985, Lê Minh đã nghiên cứu điện trở trên 90 huyệt ở trên

30 nam giới khoẻ mạnh Kết quả thấy rằng các huyệt ở gần trung khu thầnkinh và ở tim (nhất là ở vùng đỉnh đầu) có điện trở thấp hơn các vùng khác

Năm 1981-1985, Phạm Thị Xuân Vân đã sử dụng Neuremeter để xácđịnh các huyệt vùng bụng trên một số gia súc đã nhận thấy độ thông điện trên

da vùng huyệt bao giờ cũng cao hơn so với vùng lân cận và điện trở của huyệtbao giờ cũng thấp hơn so với vùng ngoài huyệt [76] Nguyễn Tài Thu cùngNguyễn Hùng Nguyệt, Phạm Thị Xuân Vân nghiên cứu giảng dạy, vận dụngchâm cứu trong điều trị và phẫu thuật cho động vật

Trang 32

Năm 1985-1987, Hoàng Quang Thuận và cộng sự khi tiến hành đothông số vật lý trên các huyệt và các đường kinh đã nhận thấy sự phân bốđiện thế tại các huyệt trên cơ thể khoẻ mạnh luôn hằng định và có biểu hiệncủa hoạt động điện sinh học [54].

Năm 1995, Lê Văn Sửu, Nguyễn Thị Vân Thái đã dùng nhiệt kế điện tử

để đo điện trở tại huyệt và ứng dụng chẩn đoán trên lâm sàng [45,48]

Năm 1995, Lê Quý Ngưu, kết quả nghiên cứu độ thông điện trên tử thicho thấy: Độ thông điện qua da vùng huyệt và vùng lân cận không có sựchênh lệch như cơ thể sống [32]

Năm 1996, Vũ Văn Lạp trong đề tài nghiên cứu "Đặc điểm huyệt Túctam lý và ảnh hưởng của điện châm huyệt này lên chức năng một số cơ quantrong cơ thể" [26]

Năm 2001, Trần Phương Đông trong đề tài nghiên cứu "Nghiên cứuđặc điểm sinh lý huyệt Phong trì và ảnh hưởng của điện châm huyệt này lênđiện não đồ và điện tâm đồ [15]

Đỗ Công Huỳnh (1991) cho rằng con đường đưa đến hiểu biết về cơchế tác dụng của châm cứu là những biến đổi chức năng của các cơ quantrong cơ thể dưới ảnh hưởng kích thích của các huyệt [22,23] Cũng nhưnhiều tác giả Vogralig V.G (1978) [105], Tykochinskaia E.D (1979) [106]

Những năm gần đây nhiều nhà khoa học đã tập trung nghiên cứu một

số đặc điểm sinh lý của huyệt, bên cạnh đó là các nghiên cứu về đặc điểmhình thái của huyệt và ảnh hưởng của việc tác động lên huyệt đối với một số

cơ quan trên cơ thể người và động vật [22,23.100]

1.3.2 Lý luận của y học hiện đại.

1.3.2.1 Học thuyết thần kinh.

Hoạt động của thần kinh (Theo Nguyễn Hùng Nguyệt, sách châm cứu

Trang 33

Theo Pavlov cơ thể động vật là một khối thống nhất do các cơ quan

và tổ chức cấu tạo nên.Căn cứ vào hoạt động sinh lý, sự ăn khớp của hệthần kinh là hoạt động của cung phản xạ.Cung phản xạ có từ lúc cơ thểnhận được kích thích đến lúc sinh ra phản ứng với sự tham gia của hệ thầnkinh Trung ương

Các loại cảm giác do cơ quan nhận cảm vòng nhẫn Golghi truyền vềTrung ương theo sợi thần kinh to (Sợi A) có Myelin dày tốc độ nhanh Cảmgiác do cơ quan nhận cảm cành hoa truyền theo sợi thần kinh nhỏ (Sợi C) cóMyelin mỏng, tốc độ chậm về Trung ương

Châm cứu là một kích thích gây ra một cung phản xạ mới [60,66,96].Tại nơi châm có những biến đổi: Tổ chức tại nơi châm bị tổn thương sẽ tiết raHistamin, Acetylcholin, Cathecolamin,… nhiệt độ ở đây thay đổi, bạch cầutập trung, phù nề tại chỗ, các phản xạ đổi trục làm co giãn mạch máu…

Tất cả những biến đổi trên tạo thành một kích thích chung của châmcứu Các đường xung động của các kích thích được truyền vào tủy lên não,

từ não xung động chuyển tới các cơ quan đáp ứng hình thành một cung phản

xạ mới

Hiện tượng chiếm ưu thế của Utomski [1,96]: Theo nguyên lý này thìtrong cùng một thời gian ở một nơi nào dó của hệ thần kinh Trung ương (vỏnão) nếu có hai luồng xung động của hai kích thích khác nhau được đưa tới,kích thích nào có luồng xung động mạnh hơn và liên tục hơn sẽ có tác dụngkéo các xung động của kích thích kia tới nó và kìm hãm, tiến tới dập tắt kíchthích kia

Như trên đã trình bày châm cứu sẽ gây một cung phản xạ mới Nếu cường độ kích thích đủ lớn sẽ ức chế được hưng phấn do tổn thương bệnh lýgây ra, tiến tới làm mất hoặc phá vỡ cung phản xạ bệnh lý

Trang 34

Khi nội tạng có bệnh người ta thấy có sự tăng cường cảm giác vùngcùng tiết đoạn với nó như cảm giác đang thay đổi điện sinh vật…Hiện tượngnày xảy ra do những sợi thần kinh cảm giác bị kích thích xung động dẫntruyền vào các tế bào cảm giác sừng lưng của tủy sống gây ra những thay đổi

về cảm giác ở vùng da Mặt khác những kích thích giao cảm làm co mạch, sựcung cấp máu ở vùng da ít đi và làm điện trở vùng da giảm xuống gây ranhững thay đổi về điện sinh vật [79]

Nếu nội tạng có tổn thương dùng châm cứu hay các phương pháp vật lýtrị liệu khác tác động vào các vùng da trên cùng một tiết đoạn với nội tạng sẽchữa được các bệnh ở nội tạng [84]

Nguyên lý về cơ năng sinh lý linh hoạt của hệ thần kinh của Widenski[1] Theo nguyên lý này trong trường hợp thần kinh ở trạng thái yên tĩnh mộtkích thích nhẹ thường gây ra một phản ứng hưng phấn nhẹ, kích thích mạnhthường gây ra một phản ứng hưng phấn mạnh Nhưng nếu thần kinh ở trạngthái bị hưng phấn do các kích thích bệnh lý thì một kích thích mạnh chẳngnhững không gây ra phản ứng hưng phấn mạnh mà còn làm cho hoạt độngthần kinh chuyển sang quá trình ức chế nên có tác dụng điều trị

Theo Head [17] có hai loại cảm giác ngoại thể:

Một là cảm giác nguyên khởi hay là cảm giác đau được dẫn truyền vàotủy sống theo sợi C Sợi này đi vào sừng lưng của tủy sống, ở đó nó tiếp xúcvới nơron thứ hai ở đầu sừng lưng của tủy sống Những xung động đó đượcgia công bước đầu ở bó gai thị trước và bó gai thị sau rồi lên tiểu não-đồi thị-

và đến vỏ đại não (riêng cảm giác nóng lạnh truyền đến gai thị sau)

Hai là cảm giác xúc giác phân biệt như sờ, ép, rung, xoa,… được truyềndẫn theo sợi A vào tủy sống Sợi này không đi vào sừng lưng, chúng chỉ đidọc theo sừng này đến nơron thứ hai nằm trong nhân Goll và nhân Burdach,

Trang 35

Như vậy đường đi của sợi A và C từ ngoài vào tủy sống lên vỏ não,chúng gặp nhau và có quan hệ với nhau ở rãnh keo Rolando Dựa trên vấn đề

đó năm 1965 Melzack và Wall [90] đã đưa lý luận “cửa kiểm soát” để giảithích các vấn đề đau và sau đó được dùng để giải thích cơ chế trấn đau Theotác giả tủy sống có những vai trò của những trung khu nằm trong chất keo củarãnh Rolando và có thể trấn đau khi châm, phụ thuộc vào sự đóng mở cửa tủy

Mở cửa tủy gắn liền với sợi C, đóng cửa tủy được đảm bảo bằng sợi A.Những cảm giác khi châm cứu được truyền vào theo sợi A và nó làm đóngcửa tủy

1.3.2.2 Học thuyết thần kinh thể dịch nội tiết

Thuyết thần kinh thể dịch xuất phát từ thí nghiệm tuần hoàn chéo,truyền dịch não tủy tại Trường Đại học Bắc Kinh Trung Quốc vào năm 1973-

1974 [ 113] Thí nghiệm về tuần hoàn chéo giữa hai con chó, châm cứu vàocon chó thứ nhất, có ảnh hưởng sang con chó thứ hai Thí nghiệm cho thấyrằng trong quá trình châm cứu đã sản sinh ra một chất gây được giảm đau vàchất đó được truyền theo thể dịch từ con chó thứ nhất sang con chó thứ hai

Thí nghiệm về truyền dịch não tủy, sau khi châm cứu con chó thứ nhất

có biểu hiện giảm đau, lấy dịch não tủy từ con chó đó tiêm vào não thất củacon chó không châm cứu, cho thấy con chó thứ hai được tiêm cũng có cảmgiác giảm đau

Năm 1976 ở Mỹ đã khảo sát sự đồng nhất giữa hóa chất gây tê màng vàviệc xác định những điểm va chạm của châm cứu

Công trình của Pomeranz B đã rút ra ba khái niệm chủ yếu [ 92] :

- Châm cứu ức chế các đáp ứng điện của các neurone dẫn truyền sự đauđớn với kích thích cảm thụ đau

- Cắt bỏ tuyến yên nơi sản sinh ra Endorphine, làm mất tác dụng giảmđau không còn tác dụng của châm cứu

Trang 36

- Tiêm Naloxone là một chất đối kháng của Endorphine cũng phá bỏ tácdụng giảm đau của châm cứu [103]

Các nhà dược lý đang nghiên cứu động dược học của thuốc trong cơthể, để tìm ra các phân tử của thuốc gây ra tác dụng Các phân tử đó gọi là cơquan nhận cảm Họ thấy trong não cơ quan nhận cảm Morphine Như thế cơquan thu nhận đó chỉ phản ứng với Morphine mà trước hết là với chấtEndorphine Về mặt hóa học Edorphine là peptide, còn Morphine là ancaloit,khác nhau rất xa Theo Bernard Roques cho rằng về mặt cấu trúc không gianhai chất gần giống nhau, khác nhau về mặt hóa học, thế mà chúng lại cùngphản ứng trên một cơ quan thu nhận [95]

Năm 1976 lần đầu tiên nhóm Aberdeen và Hans Kosterlitz phát minh

ra Endorphine Chất peptide đầu tiên thuộc loại Endorphine được tìm thấy làEncephaline [93] , có 2 dãy peptide mỗi dãy có 5 axit amin

Năm 1975 Roger đã chiết từ tuyến yên một peptide có 16 axit amin cótính chất của Morphine, peptide này gọi là α - Endorphine [85]

Các nhà khoa học của viện Salk đã chứng minh α - Endorphine là chấttrung gian truyền dẫn của nhiều neurone thần kinh ở khâu não và trong khâunão Còn chất Encephaline cũng có vai trò dẫn truyền, nhưng chủ yếu ở cácnhân đuôi (noyacaude) [95]

Năm 1964 Chu Hao Li phát minh ra tác dụng dược lý của Encephaline

và của α - Endorphine có tác dụng tương tự như β - Lipotropine [90] Peptide

91 axit amin này không có tính chất giống Morphine Khi người ta chế rađược một peptide 30 và một axit amin tận cùng của β - Lipotropine, thì đượcmột chất Endorphine hoạt động mạnh, được gọi là Endorphine có mặt ở trongnão [85] Endorphine tác dụng của nó tương tự như Morphine và cạnh tranhvới Morphine

Trang 37

Vai trò của Endorphine trong sự giảm đau là cơ sở của châm cứu ,lượng Endorphine trong não cao tác dụng lên con đường điều khiển đau Hainhà khoa học Pomeranz và Mayer nếu giả thuyết này đúng thì chất Naloxone

sẽ hủy bỏ tác dụng châm cứu giảm đau [92] Châm cứu gây kích thích tổ chức

cơ thể sẽ gây ra một chuỗi phản ứng hình thành các chất hóa học trung giannhư : Histamin, Bradikinin, Prostaglandin, Serotonin Các chất này quacon đường thể dịch hoặc phản xạ thần kinh thực vật, tới trung tâm thần kinhthực vật và tuyến yên Kích thích giao cảm hoặc phó giao cảm các thụ thể tiết

ra Adrenalin hoặc Cholin, làm thay đổi hoạt động của cơ thể qua con đườngchâm cứu gây ra [66]

Trang 38

- Điều tra tình hình chăn nuôi gia súc ở ngoại thành - Hà Nội và huyện

Ba Vì, tỉnh Hà Tây, qua ba năm 2004- 2006

- Điều tra tỷ lệ mắc các bệnh ở bò : Bệnh sát nhau, hiện tượng chậmsinh, bệnh bại liệt, qua ba năm 2004- 2006

Phần 2: Châm cứu điều trị một số bệnh :

- Châm cứu điều trị bệnh sát nhau ở bò sinh sản

- Châm cứu điều trị hiện tượng chậm sinh ở bò sinh sản

- Châm cứu điều trị bệnh bại liệt ở bò sinh sản

- Châm cứu điều trị hội chứng co giật ở lợn và chó

- Châm cứu điều trị bệnh bại liệt ở chó

- So sánh hiệu quả châm cứu với các phương pháp điều trị thôngthường khác trong Thú y

2.2 Nguyên liệu

2.2.1 Đối tượng nghiên cứu.

Đề tài được tiền hành trên đàn gia súc ở ngoại thành Hà Nội, huyện Ba

Vì tỉnh Hà Tây và Trung tâm nghiên cứu chó nghiệp vụ khoa Chăn nuôi –Thú

y - Trường ĐHNN1 - Hà Nội

2.2.2 Dụng cụ.- Máy điện châm M6 do Viện Châm cứu Việt Nam sản xuất

Trang 39

Tính năng kỹ thuật gồm:

+ E = 6V chạy pin

+ Kênh tả:

Tần số xung 4-5 Hz

Xung kích thích hai chiều

Biên độ xung lớn Udmax = 200V Cường độ dòng I = 0-150 µA.+ Kênh bổ:

Tần số xung thấp 1-3 Hz

Xung kích thích một chiều Biên độ xung nhỏ Udmax = 80V Cường độ dòng điện I = 0-80 µA

Trang 40

- Kim châm: Các cỡ kim do Việt Nam sản xuất từ thép không gỉ dài từ6-20cm, đường kính từ 0,2-1mm.

Trong rất nhiều loại kim khác nhau, như sách "Linh khu" đã ghi lại có 9loại kim, hình dáng và kích thước khác nhau Chín loại kim cổ đó là: Sàmchâm, viên châm, đề châm, phong châm, phi châm, viên lợi châm, hào châm,trường châm và đại châm Ngày nay trong châm cứu thú y, người ta dùng 4loại kim chính, gồm:

+ Kim nhỏ ( hào châm) hình dáng giống như hào châm cổ nhưng kíchthước hơi khác, có nhiều loại ngắn dài khác nhau từ 2 - 5cm

+ Kim dài (trường châm) hình dáng giống như trường châm cổ, có kíchthước từ 10 - 15cm

+ Kim ba cạnh (phong châm) hình dáng giống như phong châm cổ, đầumũi kim giống như quả khế có 3 cạnh và sắc, dùng để phóng huyết hay châmnông vào da

+ Kim hoa mai: Là loại kim mới gồm một chùm kim gắn vào một đầubúa bằng gỗ hay nhựa phần dưới có một cái cán dài 20 - 25cm dùng để gõtrên mặt da

- Máy dò huyệt

- Các dụng cụ cần thiết khác: Bơm kim tiêm, bông cồn tiệt trùng, hộpđựng kim, panh, kéo cong, khay men,…

- Ngải nhung (lá ngải cứu phơi khô bỏ xơ cuống lá)

- Gừng củ, tỏi củ, muối ăn…

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Phương pháp châm.

Châm là dùng kim châm vào huyệt để gây kích thích đạt tới sự phảnứng của cơ thể nhằm mục đích chữa bệnh

Ngày đăng: 24/02/2017, 20:28

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Sơ đồ âm dương - Nghiên cứu châm cứu điều trị một số bệnh thường gặp ở gia súc
Hình 1. Sơ đồ âm dương (Trang 11)
Hình 2. Sơ đồ Ngũ Hành - Nghiên cứu châm cứu điều trị một số bệnh thường gặp ở gia súc
Hình 2. Sơ đồ Ngũ Hành (Trang 12)
Hình 3. Sơ đồ tạng - phủ. - Nghiên cứu châm cứu điều trị một số bệnh thường gặp ở gia súc
Hình 3. Sơ đồ tạng - phủ (Trang 15)
Bảng quy loại tóm tắt thuộc tính Ngũ Hành - Nghiên cứu châm cứu điều trị một số bệnh thường gặp ở gia súc
Bảng quy loại tóm tắt thuộc tính Ngũ Hành (Trang 17)
Sơ đồ vận hành khí huyết của 14 kinh mạch. - Nghiên cứu châm cứu điều trị một số bệnh thường gặp ở gia súc
Sơ đồ v ận hành khí huyết của 14 kinh mạch (Trang 22)
Bảng 3: Tỷ lệ mắc bệnh sát nhau của bò qua các năm - Nghiên cứu châm cứu điều trị một số bệnh thường gặp ở gia súc
Bảng 3 Tỷ lệ mắc bệnh sát nhau của bò qua các năm (Trang 55)
Bảng 6: Kết quả châm cứu điều trị bệnh sát nhau theo đơn huyệt I và II. - Nghiên cứu châm cứu điều trị một số bệnh thường gặp ở gia súc
Bảng 6 Kết quả châm cứu điều trị bệnh sát nhau theo đơn huyệt I và II (Trang 65)
Bảng 7: So sánh tác dụng của các phương pháp điều trị bệnh sát nhau - Nghiên cứu châm cứu điều trị một số bệnh thường gặp ở gia súc
Bảng 7 So sánh tác dụng của các phương pháp điều trị bệnh sát nhau (Trang 66)
Bảng 8: Kết quả điều trị hiện tượng chậm sinh bằng hai phương - Nghiên cứu châm cứu điều trị một số bệnh thường gặp ở gia súc
Bảng 8 Kết quả điều trị hiện tượng chậm sinh bằng hai phương (Trang 72)
Bảng 10.  Kết quả điều trị hội chứng co giật ở lợn và chó - Nghiên cứu châm cứu điều trị một số bệnh thường gặp ở gia súc
Bảng 10. Kết quả điều trị hội chứng co giật ở lợn và chó (Trang 80)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w