1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Ứng dụng phần mềm quản trị thư viện tích hợp libol 5 5 tại trung tâm thông tin thư

76 861 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 3,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin và truyền thông như ngày nay đã tạo ra những biến đổi sâu sắc trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người. Thông tin và tri thức ngày càng đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của xã hội loài người, nó đã trở thành vấn đề sống còn trên con đường phát triển của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc. Nhu cầu thông tin ngày càng đa dạng, phong phú và trở nên cấp bách hơn bao giờ hết. Sự nghiệp Thông tin Thư viện trên thế giới và sự nghiệp Thông tin Thư viện ở Việt Nam đang có những chuyển biến mạnh mẽ nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu tri thức và thông tin không ngừng tăng lên của xã hội. Việc áp dụng công nghệ thông tin đã tạo ra một thông tin mới, trong đó hệ thống thư viện và các cơ quan thông tin được xem là những khâu quan trọng trong hệ thống luân chuyển thông tin. Kể từ khi Tim Berners Lee phát minh ra Web, với công nghệ đóng gói thông tin và giao diện đồ hoạ thân thiện, cùng với sự tiến triển nhanh chóng của công nghệ thông tin và truyền thông, Internet đã thực sự trở thành một sinh hoạt bình thường, thậm chí là không thể thiếu trong cuộc sống hàng ngày của mọi người trên hành tinh này. Nếu bảo rằng chính phát minh này đã tạo ra sự bùng nổ sử dụng Internet và bùng nổ thông tin thì lịch sử ngành Thông tin Thư viện đã chịu một tác động lớn, tạo nên bước ngoặt mới trong tiến trình phát triển: công nghệ Web đã chi phối mọi hoạt động của Thông tin Thư viện. Hay nói cách khác Web là công nghệ của ngành Thông tin Thư viện trong hiện tại và tương lai. Nghề thư viện là một nghề rất lâu đời và không ngừng phát triển. Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin và truyền thông thì ngày nay thư viện được xem là cơ sở vật chất cho việc giáo dục con người phát triển toàn diện, tự giáo dục, đào tạo đội ngũ cán bộ và nâng cao trình độ của họ, là cơ sở cho việc học tập không ngừng, tạo nên một “xã hội học tập”. Chính vì thế có thể nói thông tin không ngừng phát triển và nghề thư viện cũng phát triển theo. Đó là một tất yếu. Trong những năm gần đây, Đảng và nhà nước ta ngày càng quan tâm nhiều hơn đến việc xây dựng và phát triển hệ thống thư viện trường học. Bởi đã từ lâu, thư viện trường học đã trở thành một bộ phận không thể thiếu trong nhà trường. Nó là cơ sở vật chất trọng yếu, là trung tâm sinh hoạt văn hoá, khoa học của nhà trường nhằm mở rộng kiến thức, góp phần nâng cao hiệu quả dạy và học. Đồng thời tham gia tích cực và việc bồi dưỡng tư tưởng chính trị, xây dựng nếp sống văn hoá mới cho từng thành viên trong nhà trường. Trường đại học Sư phạm Hà Nội là trường trọng điểm, đầu ngành trong hệ thống của các trường sư phạm, là trung tâm lớn về đào tạo giáo viên có chất lượng cao và nghiên cứu khoa học có trình độ tiên tiến làm nòng cốt thức đẩy sự phát triển của hệ thống sư phạm trong cả nước, góp phần giải quyết các vấn đề then chốt của nền giáo dục quốc dân nói chung và ngành sư phạm nói riêng. Trung tâm Thông tin Thư viện trường Đại học Sư phạm Hà Nội là một bộ phận không thể thiếu trong sự nghiệp giáo dục của nhà trường – là nơi lý tưởng để bạn đọc đến học tập nghiên cứu, nơi đây đã trở thành trung tâm văn hoá giáo dục của nhà trường. Ngày nay, với sự phát triển của công nghê thông tin và công nghệ mạng đã tạo điều kiện thuận lợi cho thư viện tiến hành các hoạt động, ứng dụng công nghệ thông tin để tiến hành bổ sung, trao đổi và cập nhật thông tin giữa các trung tâm thông tin thư viện trong và ngoài nước. Trong đó không thể không nói đến phần mềm thư viện điện tử tích hợp đã đóng vai trò trong tự động hoá và quy trình hoá các tác nghiệp trong một cơ quan thông tin thư viện. Nhận thức được tầm quan trọng và xuất phát từ tình hình thực tế trên, cùng với thời gian 8 tuần thực tập, khảo sát tại trung tâm thông tin thư viện, Đại học Sư phạm Hà Nội và sự giúp đỡ tận tình của các anh chị, cán bộ thư viện tại trung tâm, sự chỉ bảo hướng dẫn của giảng viên, thạc sỹ Nguyễn Thị Hồng, em đã chọn đề tài: “Ứng dụng phần mềm quản trị thư viện tích hợp Libol 5.5 tại Trung tâm Thông tin Thư viện Trường Đại học Sư phạm Hà Nội” làm đề tài khoá luận của mình. Vì thời gian và trình độ chuyên môn có hạn, khoá luận còn nhiều thiếu sót rất mong nhận được sự góp ý của Thầy cô và các bạn.

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Với sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin và truyền thông nhưngày nay đã tạo ra những biến đổi sâu sắc trong mọi lĩnh vực hoạt động của conngười Thông tin và tri thức ngày càng đóng vai trò quan trọng trong sự pháttriển của xã hội loài người, nó đã trở thành vấn đề sống còn trên con đường pháttriển của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc Nhu cầu thông tin ngày càng đa dạng,phong phú và trở nên cấp bách hơn bao giờ hết Sự nghiệp Thông tin Thư việntrên thế giới và sự nghiệp Thông tin - Thư viện ở Việt Nam đang có nhữngchuyển biến mạnh mẽ nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu tri thức và thông tinkhông ngừng tăng lên của xã hội Việc áp dụng công nghệ thông tin đã tạo ramột thông tin mới, trong đó hệ thống thư viện và các cơ quan thông tin đượcxem là những khâu quan trọng trong hệ thống luân chuyển thông tin

Kể từ khi Tim Berners Lee phát minh ra Web, với công nghệ đóng góithông tin và giao diện đồ hoạ thân thiện, cùng với sự tiến triển nhanh chóng củacông nghệ thông tin và truyền thông, Internet đã thực sự trở thành một sinh hoạtbình thường, thậm chí là không thể thiếu trong cuộc sống hàng ngày của mọingười trên hành tinh này

Nếu bảo rằng chính phát minh này đã tạo ra sự bùng nổ sử dụng Internet vàbùng nổ thông tin thì lịch sử ngành Thông tin - Thư viện đã chịu một tác độnglớn, tạo nên bước ngoặt mới trong tiến trình phát triển: công nghệ Web đã chiphối mọi hoạt động của Thông tin Thư viện Hay nói cách khác Web là côngnghệ của ngành Thông tin - Thư viện trong hiện tại và tương lai

Nghề thư viện là một nghề rất lâu đời và không ngừng phát triển Cùng với

sự phát triển của công nghệ thông tin và truyền thông thì ngày nay thư viện đượcxem là cơ sở vật chất cho việc giáo dục con người phát triển toàn diện, tự giáodục, đào tạo đội ngũ cán bộ và nâng cao trình độ của họ, là cơ sở cho việc họctập không ngừng, tạo nên một “xã hội học tập” Chính vì thế có thể nói thông tinkhông ngừng phát triển và nghề thư viện cũng phát triển theo Đó là một tất yếu

1

Trang 2

Trong những năm gần đây, Đảng và nhà nước ta ngày càng quan tâm nhiềuhơn đến việc xây dựng và phát triển hệ thống thư viện trường học Bởi đã từ lâu,thư viện trường học đã trở thành một bộ phận không thể thiếu trong nhà trường.

Nó là cơ sở vật chất trọng yếu, là trung tâm sinh hoạt văn hoá, khoa học của nhàtrường nhằm mở rộng kiến thức, góp phần nâng cao hiệu quả dạy và học Đồngthời tham gia tích cực và việc bồi dưỡng tư tưởng chính trị, xây dựng nếp sốngvăn hoá mới cho từng thành viên trong nhà trường

Trường đại học Sư phạm Hà Nội là trường trọng điểm, đầu ngành trong hệthống của các trường sư phạm, là trung tâm lớn về đào tạo giáo viên có chấtlượng cao và nghiên cứu khoa học có trình độ tiên tiến làm nòng cốt thức đẩy sựphát triển của hệ thống sư phạm trong cả nước, góp phần giải quyết các vấn đềthen chốt của nền giáo dục quốc dân nói chung và ngành sư phạm nói riêng.Trung tâm Thông tin Thư viện trường Đại học Sư phạm Hà Nội là một bộ phậnkhông thể thiếu trong sự nghiệp giáo dục của nhà trường – là nơi lý tưởng đểbạn đọc đến học tập nghiên cứu, nơi đây đã trở thành trung tâm văn hoá giáodục của nhà trường

Ngày nay, với sự phát triển của công nghê thông tin và công nghệ mạng đãtạo điều kiện thuận lợi cho thư viện tiến hành các hoạt động, ứng dụng côngnghệ thông tin để tiến hành bổ sung, trao đổi và cập nhật thông tin giữa cáctrung tâm thông tin thư viện trong và ngoài nước Trong đó không thể không nóiđến phần mềm thư viện điện tử tích hợp đã đóng vai trò trong tự động hoá vàquy trình hoá các tác nghiệp trong một cơ quan thông tin thư viện

Nhận thức được tầm quan trọng và xuất phát từ tình hình thực tế trên, cùngvới thời gian 8 tuần thực tập, khảo sát tại trung tâm thông tin thư viện, Đại học

Sư phạm Hà Nội và sự giúp đỡ tận tình của các anh chị, cán bộ thư viện tại trungtâm, sự chỉ bảo hướng dẫn của giảng viên, thạc sỹ Nguyễn Thị Hồng, em đã

chọn đề tài: “Ứng dụng phần mềm quản trị thư viện tích hợp Libol 5.5 tại Trung tâm Thông tin Thư viện Trường Đại học Sư phạm Hà Nội” làm đề tài

Trang 3

khoá luận của mình Vì thời gian và trình độ chuyên môn có hạn, khoá luận cònnhiều thiếu sót rất mong nhận được sự góp ý của Thầy cô và các bạn.

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu: Đi sâu nghiên cứu việc ứng dụng phần mềm Libol

tại Trung tâm TT-TV, Đại học Sư Phạm Hà Nội

* Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu phần mềm Libol tại Trung tâm TT-TV,

Đại học Sư phạm Hà Nội

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

* Mục đích nghiên cứu:

Đi sâu vào nghiên cứu thực trạng ứng dụng phần mềm Libol tại Trung tâmThông Tin - Thư viện Trường Đại học Sư phạm Hà Nội (TTTT-TV ĐHSPHN).Tìm hiểu về vai trò và tầm quan trọng của việc ứng dụng phần mềm Liboltại Trung tâm TT-TV, ĐHSPHN

Từ đó đưa ra một số nhận xét và đề xuất nhằm nâng cao chất lượng và hiệuquả của việc ứng dụng phần mềm Libol tại Trung tâm

* Nhiệm vụ nghiên cứu:

Để thực hiện được mục tiêu trên đề tài phải giải quyết được những nhiệm

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài em đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:

- Phân tích và tổng hợp tài liệu

- Phương pháp so sánh

3

Trang 4

- Khảo sát thực tế hoạt động của Trung tâm Thông tin - Thư viện, Đại học

Sư phạm Hà Nội

- Trao đổi với cán bộ và bạn đọc…

5 Đóng góp về lý luận và thực tiễn của đề tài

* Đóng góp về mặt lý luận: Đề tài góp phần làm rõ thêm vai trò, tầm quan

trọng và ý nghĩa của việc ứng dụng phần mềm tích hợp quản trị thư viện tại một

cơ quan thông tin cụ thể Từ đó góp phần hoàn thiện hiệu quả mục tiêu đào tạocủa nhà trường

* Đóng góp về mặt thực tiễn: Đưa ra những nhận xét, đánh giá về thực tiễn

ứng dụng phần mềm tích hợp quản trị thư viện và những đề xuất nhằm nâng caohiệu quả hoạt động của Trung tâm Thông tin Thư viện, Đại học Sư phạm Hà Nội

Trang 5

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC ỨNG DỤNG PHẦN MỀM TÍCH HỢP QUẢN TRỊ THƯ VIỆN LIBOL 5.5 TẠI TRUNG TÂM THÔNG TIN

THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

1.1.Giới thiệu tổng quan về phần mềm tích hợp quản trị thư viện

1.1.1 Lý luận về phần mềm tích hợp quản trị thư viện

Thư viện là một ngành hoạt động lâu đời Vai trò của tin học trong các đơn

vị Thông tin - Thư viện không ngừng gia tăng và phát triển với tốc độ rất nhanh.Trên thế giới, thư viện là một trong những thành tựu của công nghệ thông tin dohoạt động thư viện mang tính đặc thù rất phù hợp với khả năng lưu trữ thông tinvới khối lượng lớn và khả năng tìm kiếm thông tin của máy tính

Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động Thông tin - Thư viện baogồm nhiều nội dung, có thể phân chia thành những nội dung như sau:

- Cơ sở hạ tầng thư viện thông tin

- Hệ thống trang thiết bị chuyên dụng

- Phần mềm ứng dụng và các cơ sở dữ liệu

Hiện nay phần mềm được sử dụng để quản lí thông tin trong các cơ quanthông tin - thư viện được chia thành hai loại:

Phần mềm tư liệu: Có các chức năng cơ bản như xây dựng cơ sở dữ

liệu, quản lí cơ sở dữ liệu (nhập dữ liệu, đánh chỉ mục), tìm khiếm thông tin Đạidiện cho loại này là phần mềm CDS/ ISIS CDS/ ISIS đặc biệt mạnh trong khâutuỳ biến xây dựng cơ sở dữ liệu và tìm kiến thông tin

Phần mềm tích hợp: bao gồm chức năng của phần mềm tư liệu, ngoài ra

phần mềm này còn hỗ trợ chức năng nghiệp vụ của các phòng chức năng trongcác cơ quan thông tin thư viện như bổ sung, biên mục, quản lí kho, lưu thôngtài liệu, báo cáo thống kê Mục tiêu của phần mềm là tự động hoá tối đa các hoạtđộng nghiệp vụ, tạo ra nguyên liệu về thông tin trong toàn bộ các phòng chức

5

Trang 6

năng của cơ quan Thông tin - Thư viện.

Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, nhu cầu về tự độnghoá ngày càng tăng, người ta đã xây dựng nên các phần mềm khác nhau để chuyênbiệt hoá các chức năng và dịch vụ trong thư viện Chức năng này bao gồm:

- Phần mềm quản lí thư viện điện tử tích hợp

ta phải xây dựng phần mềm có khả năng thực hiện các chức năng trên, gọi làphần tích hợp quản trị thư viện

Trong những phần mềm tích hợp quản trị thư viện khá nổi tiếng trên thếgiới có thể kể đến: GEAC, MULTLIS, CARD DATALOG, MEDIABOP, …Ngày nay, hầu hết các phần mềm tích hợp quản trị thư viện đều được viết đểchạy trên máy vi tính hoặc một mạng máy tính hoặc mạng một mạng máy tính làmột hệ tích hợp bao gồm nhiều phân hệ, trong đó có các phân hệ chủ yếu là:

- Phân hệ bổ sung - Phân hệ biên mục

- Phân hệ tra cứu trực tuyến - Phân hệ lưu thông

- Phân hệ ấn phẩm định kỳ - Phân hệ mượn liên thư viện

- Phân hệ quản trị hệ thống

1.1.2 Khái niệm phần mềm tích hợp quản trị thư viện

Trang 7

trong giai đoạn xây dựng các thư viện điện tử việc cài đặt và sử dụng các phầnmềm quản trị thư viện là một trong những yêu cầu bức thiết.

Phần mềm quản trị thư viện tích hợp đóng vai trò quan trọng trong tự độnghoá và qui trình hoá các tác nghiệp trong một cơ quan thông tin thư viện Đây là

hệ phần mềm với nhiều phân hệ (hay Module) được thiết kế để giải quyết từngcông việc cụ thể của các phòng chức năng trong một cơ quan thông tin thư viện

Về mặt cấu trúc, phần mềm thư viện điện tử tích hợp chia thành hai nhómchính: nhóm tác nghiệp và nhóm khai thác

Nhóm tác nghiệp: nhóm này bao gồm những chức năng dành cho các

chuyên gia nghiệp vụ như: bổ sung, biên mục, xuất bản phẩm nhều kỳ, quản lýkho, lưu thông, mượn liên thư viện Nhằm hỗ trợ tối đa các công việc chuyênmôn trong thư viện như thu nhập bổ sung tài liệu, xử lý tài liệu, quản lý tài liệu

ra vào kho, kiểm kê, quản lí bạn đọc, thống kê báo cáo…

Nhóm khai thác: nhóm này bao gồm các chức năng dành cho người dùng

tin (người khai thác thông tin) như tra cứu tài liệu, đặt mượn, gia hạn mượn,mượn liên thư viện, thông tin tài khoản, đọc tư liệu điện tử

Một yêu cầu quan trọng với các hệ quản trị thư viện tích hợp này là chúngphải được chuẩn hoá, tuân thủ mọi tiêu chuẩn của nghiệp vụ thư viện như ISO

2709, MARC, hoặc UNIMARC

Trong thời gian gần đây những công ty phát triển phần mềm trong và ngoài

nước đã quan tâm đến thị trường phần mềm quản thị thư viện ở Việt Nam: Công tyInfoaccess - Singapore đã giới thiệu hai phần mềm thư viện ELIB – VTLC, Công

ty Công nghệ Tin học Tinh Vân giới thiệu phần mềm thư viện LIBOL…

1.1.3 Vai trò và ý nghĩa thực tiễn của phần mềm tích hợp quản trị thư viện

Gần một thế kỷ qua, vai trò của tin học trong các đơn vị thông tin thư việnkhông ngừng gia tăng và phát triển với tốc độ rất nhanh Hoạt động của thư viện

đã được hỗ trợ hữu hiệu với các thành tựu của thông tin thư viện hiện đại nóichung và các phần tích hợp quản trị thư viện nói riêng

7

Trang 8

Thời gian trước, khi chưa áp dụng phần tích hợp quản trị thư viện thì cáchoạt động quản lí, xử lý kỹ thuật, xử lí nội dungm, phục vụ bạn đọc… gặp rấtnhiều khó khăn, mất nhiều công sức và thời gian cho cán bộ thư viện và bạn đọc.Ngày nay, các hệ quản trị thư viện được tạo lập như một công cụ quantrọng hỗ trợ cho dịch vụ bạn đọc, quản lý kho tàng một cách hữu hiệu và nóichung là hỗ trợ cho việc quản lý các dịch vụ do thư viện và các cơ quan thôngtin cung cấp.

Việc sử dụng phần mềm quản trị thư viện tích hợp giúp cho cán bộ thưviện tiết kiệm được nhiều thời gian và công sức giảm nhẹ công sức quản lí, tănghiệu suất làm việc của cán bộ thư viện, tạo điều kiện cho nhu cầu của bạn đọcđược đáp ứng tốt hơn

Do vậy, hiện tại do sự phát triển của khoa học, các thư viện cũng phát triểnrất nhanh về mặt số lượng cũng như chất lượng Yêu cầu đặt ra là phải có mộtcông cụ quản lí đủ mạnh để thay thế các công cụ truyền thống, tiết kiệm đượckinh phí, cũng như công sức của cán bộ thư viện, phục vụ bạn đọc một các tốthơn, chuyên nghiệp hơn Đó là lí do phần mềm quản trị tích hợp thư viện ra đờivới những vai trò và ý nghĩa thực tiễn sau:

- Tin học hoá tiến trình công việc

- Số hoá tài nguyên

- Cá nhân hoá hoạt động khai thác tìm tin đến các nguồn thông tin trong thư viện

- Toàn cầu hoá kết nối liên thư viện

- Đa dạng hóa thư viện

- Chuẩn hoá nghiệp vụ: bổ sung, thu nhập, xử lí, lưu trữ, phổ biến, phânphối thông tin

- Tạo ra mối liên thông về thông tin trong toàn bộ các phòng chức năng của

cơ quan thông tin thư viện

- Tổ chức bộ máy tra cứu khai thác tìm tin đến các nguồn thông tin trongthư viện

Trang 9

- Tích hợp một số thiết bị chuyên dụng: mã vạch, cổng từ, sóng radio RFID Với những vai trò trên phần mềm tích hợp quản trị thư viện đã đưa nhữngtài nguyên đồ sộ của các thư viện dần được số hoá liên kết trực tuyến với nhau,giúp thư viện không còn là kho tri thức riêng biệt nữa mà trở thành cổng vàokho tàng tri thức chung của nhân loại Sự có mặt của phần mềm trong nhữngnăm qua đã góp phần tạo ra nhiều thay đổi tích cực trong hoạt động của ngànhThông tin – Thư viện Việt Nam.

Ngày nay, hầu hết các phần mềm tích hợp qiản trị thư viện đều được viết đểchạy trên máy tính hoặc một mạng máy tính là hệ tích hợp bao gồm nhiều phân

hệ Một trong những phần tích hợp quản trị thư viện đó có phần mềm Libol doCông ty Công nghệ Tin học Tinh Vân sản xuất, với rất nhiều ưu điểm phù hợpvới đặc điểm riêng của các thư viện hiện đại ở Việt Nam

1.2 Giới thiệu một số phần mềm chuyên dụng được áp dụng tại các Thư viện và các Trung tâm Thông tin

Trong lĩnh vực Thông tin - Thư viện, các nhà thư viện thế giới đã thật sựđặt chân vào thế giới thư viện điện tử từ những năm đầu thập kỉ 90 của thế kỉ 20với các ngân hàng dữ liệu khổng lồ của Dialog, Pascal

Từ cuối những năm 90, những công ty phát triển phần mềm và đại lý cungcấp phần mềm quản trị thư viện của nước ngoài đã quan tâm đến thị trườngThông tin - Thư viện Việt Nam và sang ta trình diễn sản phẩm: ISL - Pháp vớiMedia - BOP, Công ty phát triển hệ thống điện tử online quốc tế (EOSI) với 3phần mềm: T - Series, Q - Series và Glas, DDE - Đan Mạch với DDE libra, IBM

- Mĩ với giải pháp thư viện số, công ty InfoAcess - Singapo với phần mềm Elib

và VTLS

Ở Việt Nam, sau năm 1997, với việc đưa Internet vào ứng dụng rộng rãi đãtạo đà khởi đầu cho sự phát triển mới các thư viện Việt Nam bắt đầu ứng dụngcông nghệ thông tin vào các hoạt động nghiệp vụ Đối với các hệ thống thông tin

sự phát triển chỉ được gọi là đồng bộ khi và chỉ khi hệ thống thông tin có đủ haithành phần: nội dung thông tin đầy đủ được tổ chức trong các cơ sở dữ liệu và

9

Trang 10

phần hạ tầng công nghệ thông tin (bao gồm máy tính và hệ thống mạng) Đảmbảo về mặt công cụ kỹ thuật để truyền tải thông tin tới người sử dụng.

Nhạy bén với xu hướng phát triển và nhu cầu áp dụng công nghệ thông tinvào việc chuẩn hoá các quy trình nghiệp vụ Thông tin Thư viện, một số công tytin học đã nghiên cứu và phát triển các phần mềm ứng dụng phục vụ cho tổchức, quản lí và khai thác thông tin Trong số đó có thể kể đến công ty tên tuổinhư Lạc Việt với phần mềm VEBRARY, VNNESOFT với ELIL, Công ty CMCvới ILIB, Tinh Vân với phần mềm LIBOL

Thông qua các cuộc hội thảo, các sản phẩm phần mềm đã được trình diễntạo điều kiện cho các thư viện tham khảo kinh nghiệm, nghiên cứu so sánh giữacác phần mềm, lựa chọn mua lấy một hệ thống phù hợp, xúc tiến quá trình tựđộng hoá và điện tử hoá thư viện nhằm thực hiện chương trình tin học quốc giatheo tinh thần Nghị quyết của Chính Phủ( 4/ 8/ 1993)

Sau đây là một số phần mềm chuyên dụng tại các thư viện và các trung tâmthông tin

ILIB của công ty CMC

Giải pháp Thư viện điện tử ILIB là một hệ thống thư viện tích hợp với cácmodul được thiết kế nhằm đáp ứng nhu cầu của các thư viện trong nước từ cácthư viện công cộng, thư viện các trường đại học, thư viện chuyên ngành đến cáctrung tâm thông tin trên toàn quốc

Tính năng của sản phẩm:

- Công cụ tìm kiếm và tra cứu mạnh;

- Hỗ trợ đa ngôn ngữ;

Sử dụng các tiêu chuẩn một quy tắc mô tả thư mục cũng như các khung

phân loại hiện có;

- Tra cứu mục lục trực tuyến qua Internet;

- Kết nối liên thư viện;

Trang 11

- Mọi qui tắc nghiệp vụ được quản lí tập trung khiến cho cài đặt hoặc bảotrì đơn giản;

- Tích hợp mã vạch

- Nhập/ xuất biểu ghi theo MARC 21

- Chuyển đổi từ CSDL của CDS/ ISIS

* Điểm nổi bật của sản phẩm

- Kiến trúc hệ thống: ILIB được thiết kế và phát triển trên mô hình 3 lớp

- Sử dụng được đa hệ điều hành cho cả máy chủ và máy trạm

- Cơ Sở dữ liệu lớn và có nhiều công nghệ mạnh

- Ngôn ngữ tiếng Việt, bảng mã Unicode

- Hỗ trợ các thiết bị cơ bản như Barcode hay tân tiến như REID.

* Lợi ích của sản phẩm

Tự động hoá toàn bộ hoạt động, chức năng, nghiệp vụ

- Ilib là công cụ hiệu quả để xây dựng các cơ sở dữ liệu thư mục, dữ liệu

số, kiểm soát chất lượng các biểu ghi thư mục theo chuẩn MARC 21 Hỗ trợxuất nhập dữ liệu 2 chiều với bất kỳ hệ thống thư viện điện tử nào

- Tích hợp Web và Internet, Ilib giúp các thư viện dễ dàng đưa kho thư việncủa mình lên mạng và dễ kiểm soát toàn bộ các ấn phẩm điện tử nhờ đó bạn đọc

có thể khai thác thư viện mọi lúc, mọi nơi

- Tạo ra môi trường khai thác thư viện nhanh chóng, chính xác, thuận lợicho bạn đọc Việc tích hợp mã vạch thiết bị từ giúp các thao tác nghiệp vụ đượcthuận tiện và hiệu quả

- Hỗ trợ các sản phẩm và dịch vụ thư viện hiện đại

- Liên thông trao đổi dữ liệu trong và ngoài hệ thống Hỗ trợ các dịch vụmượn …

* Các khách hàng tiêu biểu.

11

Trang 12

- Thư viện điện tử cho Thư viện Quốc gia Việt Nam

- Trung tâm học liệu Đại học Cần Thơ

- Hệ thống thông tin ngành thuỷ sản Việt Nam

- Trung tâm Thông tin - Thư viện Đại Học Ngoại Thương

- Trung tâm Thông tin - Thư viện Bộ Quốc Phòng…

ELIB của VNNESOFT

Phần mềm Thư viện điện tử Elib là giải pháp tin học hoá toàn diện cho cácthư viện ngày nay Sản phẩm này đã thực sự ứng dụng công nghệ thông tin để tựđộng hoá tất cả các chương trình hoạt động của một thư viện hiện đại, cung cấpcác tính năng cần thiết cho một thư viện sẵn sàng hội nhập với hệ thống thư việnQuốc gia và quốc tế cũng như quản lí các xuất bản phẩm điện tử

Đặc điểm nổi bật của phần mềm điện tử là tuân thủ các quá trình nhiệm vụ,các chuẩn thư viện và khả năng tuỳ biến cao Các qui trình nghiệp vụ bao gồmcác hoạt động nghiệp vụ của thư viện tư khâu bổ sung tư liệu cho đến khi tư liệuđến tay độc giả

* Các chức năng chính:

Tính năng nổi bật:

- Giao diện thân thiện và dễ sử dụng

- Là hệ thống tích hợp, tự động hóa được mọi hoạt động nghiệp vụ củathư viện truyền thống

- Trao đổi được dữ liệu liên thông giữa các thư viện thông qua trao đổi biểughi thư mục

- Hỗ trợ tiếng Việt đầy đủ theo chuẩn Unicode, TCVN3

- Có khả năng nhập / xuất dữ liệu với CDS/ ISIS

- Tích hợp mã vạch trong hoạt động nghiệp vụ

- Chuyển đổi giữa các phân hệ trong hệ thống một cách dễ dàng

Trang 13

- Có khả năng tuỳ biến.

- Tích hợp với mọi dạng dữ liệu số hoá quản lí các dữ liệu số hoá – chophép số hoá, biên mục, quản lí truy nhập các dạng tìa liệu văn bản, hình ảnh, âmthanh, video - hướng đi mới cho các thư viện hiện đại

- Hỗ trợ nhiều dạng thống kê( biểu đồ, báo cáo…)

VEBRARY – LẠC VIỆT

Vebrary là phần mềm duy nhất ở Đông Nam Á có tên trong danh sách tổchức quốc tế về phát triển và bảo trì chuẩn ứng dụng mượn liên thư viện ILLASMA (ILL Application standards Maintenance Agency - 3w nlc – bnc ca/ISO/ ILL) Được thư viện quốc gia Canada kiểm chứng nghiệp vụ Vebrary hiệnđang sử dụng tại 2 trung tâm học liệu Huế và Đà Nẵng

Vebrary đáp ứng đúng chuẩn nghiệp vụ quốc tế và Quốc gia vê công nghệthông tin Hỗ trợ khâu biên mục MARC 21, USMARC, MARC Việt Nam,chuẩn trao đổi truy vấn thông tin Z3950, chuẩn mượn liên thư viện ISO 102160/

10161, khổ mẫu trao đổi ISO 2709

Vebrary thích hợp cho nhiều loại hình thư viện khác nhau, từ các thư việncông cộng, thư viện các trường Đại học, Cao đẳng có qui mô lớn đến trung tâmthư viện trong các tổ chức doanh nghiệp giúp quản lí hiệu quả, nguồn lực trênmọi tổ chức một cách tốt nhất

13

Trang 14

Ngoài ra, còn có các phần mềm khác như: phần mềm quản lí thư viện TânĐức, Phần mềm quản lí thư viện GLOG, phần mềm quản lí thư viện QuảngÍch… Mỗi phần mềm đều có những tính năng và lợi ích khác nhau tuỳ từnghoàn cảnh cụ thể của mỗi thư vện mà lựa chọn phần mềm phù hợp.Ở đề tài này

Em đi sâu tìm hiểu phần mềm Libol 5.5 tại Trung tâm Thông tin Thư viện Đạihọc Sư phạm Hà Nội

1.3 Ứng dụng phần mềm Libol trong các Thư viện và Trung tâm Thông tin ở Việt Nam

Libol là giải pháp phần mềm thư viện điện tử đang được áp dụng nhiềunhất tại việt nam Hiện nay công ty đã tham gia vào những dự án xây dựng cungcấp dịch vụ phần mềm cho nhiều hệ thống mạng Internet của các Bộ, Ngành,Địa phương cũng như các tổng công ty lớn Libol đã có sự đóng góp xuất sắc vềcông nghệ cho sự nghiệp tin học hoá và hiện đại hoá công tác quản lý và khaithác thư viện mà Công ty Công nghệ Tin học Tinh Vân kiên trì theo đuổi Ngoài

ra, hưởng ứng Nghị quyết mới đây của Chính phủ về xây dựng và phát triểncông nghiệp phần mềm để doanh số của nghành công nghệ thông tin Việt Namchủ yếu sẽ do xuất khẩu phần mềm đưa lại, Công ty Tinh Vân đã bước đầu kýkết một số hợp đồng với các bạn hàng trên thế giới

Sau đây là một số khách hàng tiểu biểu của Libol

Thư viện công cộng:

- Thư viện khoa học tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh

- Thư viện Hà Nội,

- Thư viện tỉnh Sơn La…

Thư viện các Bộ, Ban ngành trung ương và các cơ quan nhà nước:

- Thông tin thư viện Khoa Học và Công Nghệ Quốc Gia

- Ban chỉ đạo CTQG về CNTT

- Trung tâm thông tin Nông Nghiệp và Phát triển Nông Thôn

Trang 15

- Trung tâm thông tin - Bộ Tài Nguyên Môi trường

- Cục văn thư và lưu trữ Nhà nước

- Thư viện văn phòng Quốc Hội

- Bảo tàng Lịch sử Việt Nam

- Viện chiến lược bộ Công An

- Đài truyền hình Thành Phố Hồ Chí Minh

Thư viện các trường Đại Học Cao Đẳng, Học Viện

- Đại học Quốc Gia Hà Nội,

- Đại học Kinh Tế Quốc Dân Hà Nội,

- Đại học Luật Hà Nội,

- Đại học Sư Phạm Hà Nội,

Thư viện các tổ chức phi Chính Phủ, các doanh nghiệp

- Bệnh Viện Chợ Rẫy Thành Phố Hồ Chí Minh,

- Báo Thanh Niên, Báo đối Ngoại,

- Báo Sài Gòn Giải Phóng,

- Công ty Cổ Phần Dệt May Sài Gòn,

- Công ty hệ thống thông tin FPT,

- Công ty Cổ phần Thương Mại Công nghệ Khai Trí…

15

Trang 16

Là một trong những dòng sản phẩm chủ đạo của Công ty Tinh Vân, trongnhưng năm vừa qua, bộ phần mềm Giải Pháp thư viện Điện Tử - Thư viện SốLibol tiếp tục khẳng định vị thế của mình trên thị trường phần mềm thư viện.Mặc dù bị cạnh tranh khốc liệt về giá cả, nhưng Libol vẫn được lựa chọn bởinhững tính năng ưu việt của phần mềm, sự chuẩn hoá về nghiệp vụ cũng như sựchuẩn hoá về nghiệp vụ cùng như tận tâm phục vụ khách hàng của đội ngũ triểnkhai Libol liên tiếp thắng thầu trong dự án giáo dục đại học của các trường ĐạiHọc trên cả nước Ngày 9/8/2005 Công ty Công nghệ Tin học Tinh Vân chínhthức khai trương thông tin chăm sóc khách hàng (call center) Trung tâm chămsóc khách hàng có trách nhiệm tiếp nhận và xử lý mọi thông tin liên quan đếnyêu cầu của khách hàng đã thể hiện cam kết của Công ty Tinh Vân đối vớikhách hàng là cung cấp sản phẩm với chất lượng dịch vụ tốt nhất Đó cũng làchìa khoá của sự thành công bền vững mà Công ty Công nghệ Tin học Tinh Vânluôn ý thức tạo dựng.

1.4 Khái quát chung về phần mềm Libol

1.4.1 Giới thiệu chung

Tiền thân công ty Công nghệ Tin học Tinh Vân là phòng Thí nghiệm và Antoàn thông tin, thuộc Viện Công nghệ Vi điện tử IMET Công ty Công nghệ Tinhọc Tinh Vân được chính thức thành lập năm 1997 Qua quá trình nghiêm túcnghiên cứu và phát triển các phần mềm ứng dụng, Công ty Công nghệ Tin họcTinh Vân hiện là một trong những công ty phát triển phần mềm chuyên nghiệphàng đầu ở Việt Nam

Với thế mạnh về bảo mật và an toàn thông tin, năng lực thiết kế và lập trìnhtrên nền Wed, bề dày về kinh nghiệm và phát triển các ứng dụng cở sở dữ liệulớn và phân tán, Công ty Công nghệ Tin học Tinh Vân định hướng phát triển cáclĩnh vực công nghệ phân mềm, cống hiến năng lực của mình cho tin học hoá cácban ngành và phát triển các sản phẩm phục vụ thị trường nội địa

Sản phẩm tiêu biểu cho Công ty Công nghệ Tin học Tinh Vân như: Libol,TVIS, UNION, CLEVEK, VINASEEK

Trang 17

Libol( LIBrary OnLine) là bộ phần mềm giải pháp thư viện điện tử - thưviện số được Công ty Công Nghệ Tin học Tinh Vân, Thư viện Quốc Gia vàTrung tâm Thông tin tư liệu khoa học và Công nghệ Quốc Gia phối hợp nghiêncứu và phát triển từ năm 1997.

Với phiên bản Libol 1.0 năm 1998, năm 1999 Công ty Công nghệ Tin họcTinh Vân hoàn thiện đóng gói các phiên bản phần mềm quản lý tích hợp nghiệp

vụ thư viện Libol 3.0 Trong năm 2000 và 2001 Công ty Công nghệ Tin họcTinh Vân tiến hành đăng ký bản quyền sáng chế cho phần mềm Libol và liên tụchoàn thiện các phiên bản Libol 4.0, Libol 4.02, Libol 5.0

Năm 2002 phần mềm Libol được trao cúp vàng sản phẩm Công nghệThông tin xuất sắc tại tuần lễ tin học lần thứ 11 cho lĩnh vực “ phần mềm đónggóp - phần mềm thương phẩm”

Ngày 27/03/2005, Libol vinh dự nhận giải thưởng Sao Khuê - giải thưởngcao quý dành cho ngành phần mềm và công nghệ thông tin Việt Nam cho phầnmềm giáo dục xuất sắc nhất Hiện nay, Công ty công nghệ Tin học Tinh Vân đãhoàn thiện phiên bản 6.0 của bộ phần mềm giải pháp thư viện điện tử - thư viện

số Libol

Hiện Libol được đánh giá là giải pháp thư viện điện tử hiện đại và phù hợpnhất Việt Nam Thực tế triển khai Libol tại các Bộ, Ngành Trung ương, cácdoanh nghiệp, các trường đại học trong toàn quốc là minh chứng rõ ràng nhất vềnhững đóng góp tích cực của Libol cho xã hội Sự có mặt của Libol trong nhữngnăm qua đã góp phần tạo ra những thay đổi tích cực trong hoạt động của ngànhthông tin thư viện Việt Nam, biến khái niệm Thư viện điện tử trở thành thực tiễnthuyết phục

Là sản phẩm phần mềm Thư Viện Điện Tử và quản lý tích hợp nghiệp vụthư viện, Libol ứng dụng công nghệ thông tin một cách triệt để, tự động hoá tất

cả các chu trình hoạt động của một thư viện hiện đại cung cấp các tinh năng cầnthiết cho một thư viện để sẵn sàng hội nhập với hệ thông thư viện Quốc Gia vàQuốc Tế, cũng như quản lý các xuất bản phẩm điện tử

17

Trang 18

1.4.2 Những tính năng nổi bật của Libol

Với sự đầu tư nghiên cứu không ngừng cùng kinh nghiệm triển khai tíchluỹ được, qua những năm, sản phẩm Libol ngày càng hoàn thiện và chứng tỏđược tính ưu việt và hữu ích của mình Bộ phần mềm thư viện điện tử - thư viện

số Libol có đầy đử các tính năng cần thiết để giúp một thư viện có thể hội nhậpvới hệ thống thư viện Quốc Gia và Quốc tế, với các tính năng nổi bật sau:

- Khả năng thống kê đa dạng, chi tiết và trực quan phục vụ mọi nhóm đốitượng, tính bảo mật cao cho phép nhập liệu tìm kiếm và trả tự động theo chuẩn SIP2

- Hỗ trợ chuẩn biên mục MARC21, AACR-2, ISBD

- Nhập xuất dữ liệu theo chuẩn ISO 2709

- Hỗ trợ các khung phân loại thông dụng như UDC, DDC, BBK, Subjectheadings…

- Mượn liên thư viện theo giao thức ISO 10161

- Tích hợp với các thiết bị mã vạch, thẻ từ và RFID

- Liên kết với các thư viện và tài nguyên thông tin trực tuyến trên Internetqua giao thức Z39.50

- Hỗ trợ đa ngôn ngữ Unicode với dữ liệu và giao diện làm việc

- Tuân thủ chuẩn biên mục cho siêu dữ liệu Dublincore

- Khả năng tích hợp với mọi dạng dữ liệu số hoá bao gồm word, Excel,HTMK, XML, TXT, postscript, PDF, Scanned images, âm thanh

- Hỗ trợ các bảng mã tiếng việt như TCTV, VNI, TCVN 6906

- Xuất bản các cơ sở dữ liệu hoặc thư mục trên đĩa CD

- Khai thác và trao đổi thông tin qua Wed, thư điện tử, GPRS(điện thoại diđộng) và thiết bị hỗ trợ người khiếm thị

- Là công cụ xây dựng, quản lý và khai thác kho tài nguyên số

Trang 19

- Có khả năng tuỳ biến cao cho phép chuyển đổi dữ liệu với các cơ sở dữliệu thư viện được quản lý bằng CDS/ ISIS

- Cho phép tìm kiếm toàn văn, bảo mật và phân quyền chặt chẽ

- Tương thích với cả mô hình kho đóng và kho mở

- Hỗ trợ hệ thống thư viện nhiều kho, nhiều điểm lưu thông

- Có thể vận hành hiệu quả trên cơ sở dữ liệu lớn nhiều triệu bản ghi

Với nhiều tính năng ưu việt, Libol có thể tự hào là sản phẩm có chấtlượng quốc tế - Làm thay đổi hẳn về chất lượng nghiệp vụ cũng như phục vụbạn đọc Tính đến nay phần mềm Libol đã được ứng dụng rộng rãi trong các thưviện ở việt nam Thực tế triển khai Libol tại các thư viện công cộng, thư việncác trường Đại Học, Thư Viện các Bộ, ban Ngành Trung ương và các cơ quanNhà nước là minh chứng rõ ràng nhất về những đóng góp tích cực của Libol cho

sự phát triển ngành Thông tin - Thư viện nói riêng và cho xã hội nói chung cũng

vì thế mà thư viện điện tử đã trở thành một thực tiễn thay vì chỉ là một kháiniệm

1.4.3 Các phân hệ phần mềm Libol

LIBOL gồm các phân hệ được tích hợp trong một cơ sở dữ liệu chung và

có cơ chế vận hành thống nhất các phân hệ mới sẽ được tiếp tục cập nhập để đápứng được những nhu cầu thực tế của thư viện cũng như tận dụng được nhữngcông nghệ mới của ngành công nghệ thông tin, Libol hiện thời được chia thành

10 phân hệ

- Phân hệ bổ sung - Phân hệ biên mục

- Phân hệ tra cứu trực truyến OPAC - Phân hệ bạn đọc

- Phân hệ mượn trả - Phân hệ ấn phẩm định kỳ

- Phân hệ ấn phẩm điện tử - Phân hệ muợn liên thư viện( ILL)

- Phân hệ quản lý - Phân hệ phát hành

19

Trang 20

Các phân hệ này liên kết với nhau một cách chặt chẽ và mỗi phân hệ giảiquyết một nhóm các thao tác trong quản lý thư viện

Phân hệ bổ sung

Quy trình quản lý ấn phẩm chặt chẽ và xuyên suốt kể từ lúc phát sinh nhucầu bổ sung, đặt mua, kiểm nhận, gán số đăng ký cá biệt, xếp giá tới lưu kho vàđưa ra khai thác

Phân hệ biên mục

Công cụ mạnh, thuận tiện và mềm dẻo giúp biên mục mọi dạng tài liệu thư việntheo các tiêu chuẩn thư mục quốc tế, giúp trao dữ liệu biên mục với các thư viện trênmạng Internet và giúp xuất bản các ấn phẩm thư mục phong phú và đa dạng

Phân hệ tra cứu trực tuyến OPAC

Là cổng thông tin chung cho mọi đối tượng để khai thác tài nguyên vàdịch vụ thông tin theo cách riêng phù hợp với nhu cầu của từng cá nhân, là môitrường giao tiếp và trao đổi thông tin giữa bạn đọc với thư viện và giữa bạn đọcvới thư viện khác

Phân hệ bạn đọc

Quản lý thông tin cá nhân và phân loại bạn đọc giúp thư viện áp dụng đượcnhững chính sách phù hợp với mỗi nhóm bạn đọc và tiến hành xữ lý nghiệp vụtheo nhóm hoặc theo từng cá nhân

Trang 21

Quản lý việc lưu trữ, xữ lý, khai thác mọi định dạng tư liệu số hoá trên nềntảng của một hệ quản trị nội dung(CMS) mạnh.

Phân hệ mượn liên thư viện(ILL - Inter Library Loan)

Quản lý những giao dịch trao đổi tư liệu với các thư viện khác theo chuẩn quốc

tế dưới các vài trò là thư viện cho mượn và thư viện yêu cầu mượn

VIỆN LIBOL 5.5 TẠI TRUNG TÂM THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

21

Trang 22

2.1 Khái quát về Trung tâm Thông tin - Thư viện trường Đại Học Sư Phạm

Hà Nội

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Trung tâm Thông tin - Thư viện trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Ngày 11/10/1951 Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội ra đời theo quyết định số

276 của Bộ Quốc Gia giáo dục với 2 bộ phận chính đặt ở Nghệ An và Thanh Hóa Các giai đoạn lịch sử trong quá trình phát triển của trường bao gồm:

- Giai đoạn 1951 - 1966 trường mang tên là trường ĐHSP HN

- Giai đoan 1966 - 1993 mang tên là trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội 1

- Giai đoạn 1993 - 1999 mang tên là trường Đại học Sư phạm Hà Nội thuộcĐại Học Quốc Gia Hà Nội

- Giai đoạn từ tháng 10/1999 đến nay trường mang tên là Đại Học Sư Phạm

Hà Nội

Hiện nay, Trường ĐHSP HN là trường trọng điểm đầu ngành trong hệthống của trường Sư phạm, là trung tâm lớn về đào tạo giáo viên, nghiên cứukhoa học và là nơi đào tạo nhiều nhân tài, nhà khoa học danh tiếng cho đấtnước

Quá trình gần 60 năm xây dựng và phát triển của nhà trường gắn liền với

sự phát triển của đất nước, nền giáo dục đào tạo và nền đại học Việt Nam vượtlên những khó khăn, các thế hệ cán bộ quản lý, giảng viên, nhân viên, sinh viên,học sinh đã tô thắm truyền thống vẻ vang của nhà trường

Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội đã và đang phấn đấu làm tròn chức năng

“máy cái” của ngành giáo dục trở thành trường chuẩn mực vừa đào tạo giáo viêncác cấp có chất lượng cao vừa nghiên cứu khoa học đạt trình độ tiên tiến làmnòng cốt thúc đẩy sự phát triển của hệ thống sư phạm trong cả nước, góp phầngiải quyết các vấn đề then chốt của nền quốc dân nói chung và ngành sư phạmnói riêng

Trang 23

Trong quá trình xây dựng và phát triển đặc biệt trong thời kỳ đổi mớitrường Đại học Sư Phạm Hà Nội đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị,được xã hội tín nhiệm và đánh giá cao Từ năm 1996 đến nay trường đã tuyểnđược nhiều học sinh giỏi và đào tạo cử nhân khoa học tài năng tại 7 khoa là khoatoán, khoa vật lý, hoá học, sinh - kỹ thuật nông nghiệp, ngữ văn, lịch sử, địa lý.Một số sinh viên của hệ đào tạo cử nhân khoa học tài năng được cử đi học nướcngoài Nhiều sinh viên của trường đạt giải cao trong các kỳ Olympic về khoahọc cơ bản và khoa học giáo dục Hầu hết các cử nhân khoa học tài năng lànguồn cán bộ trẻ cho nhà trường và các trường đại học, cao đẳng, viện nghiêncứu và trường trung học phổ thông.

Nhà trường đặc biệt quan tâm đến việc bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyênmôn, trình độ chính trị, rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán

bộ trẻ Chỉ trong năm 1999 – 2005 trường đã kết nạp 325 đảng viên sau đại học,một số cán bộ của trường trở thành những cán bộ lãnh đạo cao cấp của Đảng vànhà nước

Trung tâm Thông tin – Thư viện Trường Đại học Sư phạm Hà Nội ra đờivào ngày 11/10/1951 cùng với sự ra đời của trường Đại học Sư phạm Hà Nội.Tháng 2 năm 1997 theo quyết định của Thủ tướng chính phủ trường ĐHSP

HN sát nhập với Trường Đại học Quốc Gia Hà Nội, Thư viện trường ĐHSP HNsát nhập với Trung tâm Thông tin - Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội Tháng

12 năm 1999, theo quyết định số 201/1999/QĐ - TTG của Thủ tướng chính phủTrường ĐHSP HN tách khỏi Trường Đại học Quốc gia Hà Nội, đồng thời Thưviện trường ĐHSP HN tách khỏi Trung tâm TT – TV ĐHQG HN

Trung tâm Thông tin – Thư viện trường ĐHSP HN là đơn vị phục vụ đàotạo trực thuộc ban giám hiệu nhà trường gắn liền với 59 năm lịch sử hình thành

và phát triển của nhà trường Từ một thư viện truyền thống với vốn tài liệunghèo nàn, cơ sở vật chất còn thiếu thốn cho đến nay Trung tâm TT – TVtrường ĐHSP HN đã được đầu tư trở thành cơ ngơi khang trang gồm khu nhà 4tầng với 5.000 m2 được sử dụng, đội ngũ cán bộ được đào tạo đúng chuyên

23

Hình 1.1: Cơ cấu tổ chức trường ĐHSP Hà Nội

Trang 24

ngành, có năng lực đáp ứng cơ bản yêu cầu của trung tâm.

2.1.2 Chức năng và nhiệm vụ của trung tâm

Nhiệm vụ:

Với vai trò là giảng đường thứ hai trong trường đại học, là đầu mối quantrọng về công tác cung cấp thông tin tư liệu phục vụ học tập, giảng dạy vànghiên cứu khoa học Trung tâm Thông tin - Thư viện trường ĐHSP HN phảihoàn thành những nhiệm vụ sau:

- Tham mưu lập kế hoạch dài hạn, ngắn hạn cho ban giám hiệu nhà trường

về công tác thông tin tư liệu Thư viện nhằm tìm phương hướng tổ chức và hoạtđộng Thông tin – Thư viện phục vụ mục tiêu đào tạo và nghiên cứu khoa họctrong từng giai đoạn phát triển của nhà trường

- Bổ sung, trao đổi, phân tích, xử lý các tài liệu, thông tin xử lý phiếu tiềnmáy, cập nhật dữ liệu đưa vào hệ thống quản lý tìm tin truyền thống và hiện đại

- Tổ chức, sắp xếp, lưu trữ và bảo quản kho tài liệu của trường ĐHSP HNgồm các loại hình ấn phẩm và vật mang tin

- Xây dựng bộ máy tra cứu tìm tin theo phương pháp truyền thống và thiếtlập mạng lưới truy cập tìm tin tự động, tổ chức các phòng phục vụ bạn đọc khaithác hiệu quả nguồn lực thông tin của trung tâm phục vụ học tập, nghiên cứukhoa học

- Phổ biến và trang bị những kiến thức cơ bản về cấu trúc và phương pháptìm tin cho mọi đối tượng người dùng tin

Trang 25

- Thu thập, lưu chiểu những ấn phẩm do nhà trường xuất bản, các luận ántiến sỹ, luận văn thạc sỹ được bảo vệ tại trường và các cán bộ trong trường bảo

vệ tại các cơ sở đào tạo khác

- Đảm bảo cung cấp thông tin cho người dùng tin một cách đầy đủ chính xác,đúng đối tượng, điều tra đánh giá đúng nhu cầu dùng tin của cán bộ giảng dạy, cán

bộ nghiên cứu, học viên cao học, nghiên cứu sinh và sinh viên trong trường Từ đó

tổ chức và ngày càng hoàn thiện hoạt động thư viện tạo điều kiện để cung cấpthông tin một cách chính xác phù hợp với nhu cầu thông tin của người dùng tin

2.1.3 Cơ cấu tổ chức và đội ngũ cán bộ

- Bộ phận bổ sung chịu trách nhiệm bổ sung trao đổi

- Bộ phận xử lý chịu trách nhiệm xử lý kỹ thuật cho toàn bộ tài liệu bổ sung

về trung tâm

- Bộ phận biên mục chịu trách nhiệm đưa toàn bộ tài liệu sau khi xử lý vào

cở sở dữ liệu - in phích để tổ chức mục lục, in thư mục thông báo sách mới

Trang 26

Ngoài ra trung tâm còn có Phòng bảo vệ và vệ sinh gồm:

- 03 nhân viên bảo vệ - 03 nhân viên vệ sinh kho sách

- 02 nhân viên vệ sinh môi trường

SƠ ĐỒ CƠ CẤU TỔ CHỨC TRUNG TÂM THÔNG TIN THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐHSP HN

Hình 2.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Trung tâm TT -TV Trường ĐHSP Hà Nội

P Mượn TL Tham khảo

P Đọc sách (Kho đóng)

P Tra cứu (Kho mở)

P Máy chủ

Phòng Internet 1

Phòng Internet 2

Phòng Multimedia

P Đọc Báo, tạp chí, LA (Kho đóng)

P Đọc Báo, tạp chí (Kho mở)

TỔ BẢO VỆ

VÀ VỆ SINH

Trang 27

Thư viện trường ĐHSP HN phải có một đội ngũ cán bộ đông đảo, có trình độcao về mọi mặt để giải quyết tốt những vấn đề đặt ra trong thời kỳ hiện nay Tổng số cán bộ hiện nay của Trung tâm Thông tin – Thư viện gồm có 41cán bộ( trong đó có 33 cán bộ chuyên môn và 8 nhân viên bảo vệ và vệ sinh).

Trình độ:

- Thạc sĩ Thông tin – Thư viện 05 người

- Thạc sĩ Công nghệ Thông tin 01 người

- Cử nhân Thông tin – Thư viện các ngành khác 27 người

Nguồn lực của Trung tâm được thể hiện qua bảng sau:

4 Cử nhân Công nghệ Thông tin và các ngành khác 27 82

2.1.4 Cơ sở vật chất trang thiết bị

Mặt bằng diện tích

Năm 2002, Trung tâm Thông tin – Thư viện Trường ĐHSP HN chính thứcchuyển sang hoạt động trên khu nhà 4 tầng khang trang có diện tích khoảng1.500 m2 Diện tích sử dụng gần 5.000 m2 được thiết kế phù hợp với hoạt độngđặc thù của Trung tâm

Trung tâm Thông tin - Thư viện được bố trí như sau:

- Tầng 1: Phòng mượn giáo trình ( P.101), phòng làm thẻ cán bộ, sinh viên

(P.102), phòng nghiệp vụ (P.103), phòng biên mục (P.104), phòng Giám đốc(P.105), Phòng Phó giám đốc (P.106), phòng truyền thống (P.107), phòng bảo

vệ và phòng căng tin

- Tầng 2: Phòng mượn sách tham khảo(P.201), phòng chấm luận án(P.202),

Phòng đọc báo tạp chí kho mở(P.203), phòng hội thảo(P.204)

- Tầng 3: Phòng đọc sách kho đóng(P.301), phòng đọc sách kho mở(P.302)

27

Trang 28

- Tầng 4: Phòng đọc báo tạp chí, luận án kho đóng(P.401), phòng đọc đa

phương tiện (P.402), phòng máy chủ(P.403), phòng Internet 1(P.404), phòngInternet 2 (P.405)

Chỗ ngồi tại tất cả các phòng phục vụ có 900 chỗ ngồi, riêng phòng hội thảo

có khoảng 100 chỗ ngồi Đây là nơi thường xuyên diễn ra các buổi bảo vệ luận ánTiến sĩ, hộ thảo khoa học trong nước và quốc tế về các vấn đề liên quan đến đàotạo của Nhà trường và cũng là nơi để cán bộ Trung tâm sinh hoạt chuyên môn

Trang thiết bị

- Hệ thống máy tính ( Cơ sở hạ tầng thông tin)

Được sự quan tâm và đầu tư của Nhà trường, bên cạnh cơ sở vật chất khangtrang, Trung tâm không ngừng đầu tư vào việc mua sắm trang thiết bị mới, hiệnđại ngày càng nâng cao chất lượng phục vụ của Trung tâm Ngoài bàn, ghế, tủ,giá… đồng bộ phù hợp với mục đích sử dụng Hệ thống mạng máy tính gồm: 04máy chủ, 149 máy trạm Được bố trí như sau:

85 máy giành cho phòng tin học phục vụ bạn đọc khai thác thông tin, sốmáy còn lại để tại các phòng làm việc của cán bộ và phục vụ bạn đọc tra cứu tạiphòng đọc và phòng mượn

Ngoài ra Trung tâm còn được trang bị hệ thống trang thiết bị hiện đại

Trang 29

Hệ thống máy Photocopy gồm: 4 máy Photo

- Hệ thống cổng từ gồm 2 cổng

- Máy đọc và khử từ gồm 4 máy

- Đầu đọc mã số, mã vạch gồm 2 máy

- Máy ảnh kỹ thuật số chụp ảnh thẻ 01 máy

- Máy ép platíc 02 máy

- Bộ lưu điện gồm 10 bộ, máy phát điện 01 máy

Là yếu tố đầu tiên cấu thành thư viện - vốn tài liệu được các thư viện coi làtài sản quí, là tiềm lực, là sức mạnh và niềm tự hào của các thư viện nội dungcủa vốn tài liệu càng phong phú, loại hình tài liệu càng đa dạng thì khả năng đápứng nhu cầu đọc càng lớn và có sức hút ngày càng cao đối với người sử dụng

Do đó trung tâm thông tin thư viện trường ĐHSP HN đã luôn quan tâm đếncông tác bổ sung, phát triển vốn tài liệu nhằm đáp ứng nhu cầu phong phú và đadạng của người dùng tin

Với nguồn kinh phí dành cho bổ sung tài liệu được cấp hàng năm tư nguồnngân sách nhà nước, Báo tạp chí tương đối lớn với nội dung ngôn ngữ đa dạngphục vụ kịp thời cho hoạt động nghiên cứu, học tập và giảng dạy Bên cạnhnguồn tài liệu được bổ sung từ ngân sách nhà nước cấp, Trung tâm còn thường

29

Trang 30

xuyên nhận được các tài liệu nộp lưu chiểu từ nhà xuất bản trường ĐHSP HN,luận án luận văn bảo vệ tại trường, tài liệu hội nghị, hội thảo và các tài liệu traođổi tặng biểu từ các cá nhân tổ chức trong và ngoài nước

Tổng số đầu sách là 90.000, bản sách là 350.000 cuốn trong đó

 Tài liệu truyền thống:

- Sách Tiếng Việt 235.000 cuốn

- Sách Tiếng Nga 80.000 cuốn

- Sách Latinh 30.000 cuốn

- Các sách khác 5.000 cuốn

Tỷ lệ tài liệu khoa học tự nhiện là 30%, tài liệu khoa học xã hội là 70%

 Tài liệu điện tử

Hiện nay trung tâm đã xây dựng được 66.781 biểu ghi trong đó:

- Cơ sở dữ liệu sách: 44.161 biểu ghi

- Cơ sở dữ liệu luận án: 8.749 biểu ghi

- Cơ sở dữ liệu bài trích: 14.222 biểu ghi

- Cơ sở dữ liệu đề tài: 2.071 biểu ghi

- Tên tạp chí 173 biểu ghi

Với vốn tài liệu phong phú và đa dạng như hiện nay trung tâm Thông tin Thư viện trường ĐHSP HN đã đáp ứng tương đối đầy đủ nhu cầu tin của người

Trang 31

-dùng tin tại Trung Tâm Mặc dù kinh phí bổ sung tài liệu ngân sách nhà nướckhông nhiều so với quy mô đào tạo và nhu cầu của người dùng tin trườngĐHSP HN Tuy nhiên do sự năng động của ban Giám Đốc trung tâm nên vốn tàiliệu không ngừng được tăng cường cả về số lượng lẫn chất lượng Đó là tài liệunhận được từ nguồn tặng biểu của các tổ chức cá nhân, nguồn sách tài trợ từ quỹphát triển Châu Á, quỹ phát triển văn hoá Việt Nam

2.1.6 Đặc điểm người dùng tin và nhu cầu tin

Đặc điểm người dùng tin

Trụ sở thư viện, cơ sở vật chất kỹ thuật với nguồn tài liệu cán bộ thư viện làtiền đề để xuất hiện bạn đọc – người dùng tin, để tạo nên hoạt động thư viện nhưmột hiện tượng xã hội phục vụ người đọc là mục tiêu cuối cùng của bất cứ thưviện nào Càng phục vụ nhiều bạn đọc – người dùng tin thì vài trò xã hội của thưviện ngày càng tăng Vì vậy, nếu không có bạn đọc người dùng tin thì thư việnmất đi mục đích tồn tại của mình

Người dùng tin là yếu tố cơ bản của mọi hệ thống thông tin đó là đối tượngphục vụ của công tác thông tin tư liệu, họ giữ vai trò quan trọng trong các hệthống thông tin Họ như là yếu tố tương tác hai chiều với các đơn vị thông tingiữa người dùng tin và cơ quan thông tin có mối quan hệ với nhau, nó phụ thuộcvào khả năng và chính sách phục vụ của cơ quan thông tin và tập quán thông tincủa người dùng tin Mối quan hệ này chính là thước đo hiệu quả hoạt động của

cơ quan thông tin thư viện Một cơ quan thông tin hoạt động hiệu quả phải thuhút được nhiều người dùng tin chứ không giới hạn ở một nhóm người dùng tin.Chủ động nghiên cứu người dùng tin và nhu cầu tin là nhiệm vụ quan trọngcủa các thư viện Đề cao vai trò của người dùng tin, tìm mọi biện pháp để hoànthiện việc phục vụ người dùng tin thoả mãn tối đa nhu cầu tin là đặc điểm củahoạt động thư viện

Người dùng tin tại trung tâm TT –TV trường ĐHSP HN là toàn thể cán bộcông nhân viên, giảng viên, cán bộ, nghiên cứu khoa học, nghiên cứu sinh, họcviên cao học, học sinh khối phổ thông chuyên nghiệp, sinh viên các hệ đào tạo

31

Trang 32

chính quy từ xa, tại chức, chuyên tu trong trường và một lượng lớn người dùngtin là bạn đọc ngoài trường

Hiện nay trung tâm đang quản lý 14.230 thẻ bạn đọc trong đó:

- Thẻ cán bộ là 324 (chiếm 2,2%)

- Thẻ cao học - nghiên cứu sinh là 173 (chiếm 15,7%)

- Thẻ sinh viên là 12.057 (chiếm 84,72%)

Qua thống kê phân tích đặc điểm của người dùng tin tại Trung tâm Thôngtin Thư viện ĐHSP HN chia người dùng tin thành 3 nhóm chính sau:

- Sinh viên

- Cán bộ giảng dạy, nghiên cứu

- Học viên cao học, nghiên cứu sinh

Sinh viên

Đây là nhóm người dùng tin chiếm phần lớn nhất so với 2 nhóm trên, họchủ yếu cần những tài liệu chung về kiến thức cơ bản để phục vụ cho nhu cầuhọc tập của mình trong tất các nhóm bạn đọc đến thư viện sinh viên chiếm tỉ lệcao nhất 70 - 85% bao gồm sinh viên tất cả các khoa, các khoá, các hệ đào tạochính quy, tại chức, từ xa Trong đó chủ yếu là sinh viên chính quy

Cán bộ giảng dạy nghiên cứu

Đây là đối tượng người dùng tin có học vấn cao, họ cần những thông tin cótính chuyên sâu về ngành cụ thể thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học xãhội, và nhưng nghiên cứu chuyên sâu khác

Đội ngũ cán bộ nghiên cứu, giảng dạy của trường là lực lượng quyết địnhquá trình đào tạo và nghiên cứu trong trường Họ là người sử dụng thông tinđồng thời cũng là người sản sinh ra thông tin mới

Học viên cao học, nghiên cứu sinh

Trang 33

Đây cũng là đối tượng người dùng có học vấn, có trình độ ngoại ngữ, lànhững giảng viên đại học, giáo viên các trường phổ tông trung học, cán bộ quản

lý giáo dục

Đặc điểm nhu cầu tin

Nhu cầu tin phản ánh sự cần thiết thông tin của các cá nhân / tập thể trongquá trình thực hiện một hoạt động nào đó Nhu cầu tin thay đổi tuỳ theo côngviệc và nhiệm vụ mà người dùng tin hải thực hiện

Nhu cầu tin là loại nhu cầu tinh thần đặc biệt, nhu cầu về sự hiểu biết thếgiới khách quan nhằm mục đích phục vụ cho công tác nghiên cứu triển khai.Nhu cầu tin bao giờ cũng mang tính khách quan, không phụ thuộc vào bất kỳmột nghiên cứu chủ quan nào và bất cứ một công dân nào cũng đều phải có nhucầu tin để sống một cách tự giác, để có nhãn quan khoa học

Việc nắm bắt được đặc điểm nhu cầu tin của người dùng tin có ý nghĩaquan trọng trong hoạt động Thông tin - Thư viện, thông qua việc nắm bắt đượcnhu cầu tin mà Trung tâm có thể đáp ứng một cách đầy đủ, kịp thời và chính xácnhu cầu tin đó Đây là nhiệm vụ hàng đầu của các thư viện nói chung và của thưviện các trường Đại học nói riêng

* Nhóm người dùng tin là sinh viên

Trong tất cả các nhóm bạn đọc đến thư viện thì sinh viên chiếm tỷ lệ caonhất Sinh viên có thẻ tại thư viện là: 12.057 (chiếm 484,72 %) Trong đó chủyếu là sinh viên hệ chính quy

Thông thường sinh viên năm đầu được trang bị những kiến thức cơ bản nên

họ có nhu cầu chủ yếu về các môn học đại cương như: Triết học, Pháp luật, Lịch

sử đảng… Bên cạnh đó họ cũng quan tâm đến các tài liệu tham khảo

Sinh viên năm cuối được trang bị những kiến thức chuyên ngành nên họ cónhu cầu về sách chuyên ngành mà họ theo học và tài liệu tham khảo nhằm phục

vụ cho chuyên môn của mình Tuy nhiên, đa số họ chỉ đến thư viện khi cần tàiliệu để ôn bài, ôn thi hết môn, viết khoá luận…Lượng bạn đọc ở nhóm này rấtđông vào khoảng thời gian của các kỳ thi Ngoài ra, còn có một số sinh viên

33

Trang 34

ngoài trường cũng có nhu cầu đến sử dụng tài liệu tại Trung tâm để làm đề tàinghiên cứu khoa học, khoá luận, làm bài tập như sinh viên ĐH Quốc gia Hà Nội,

ĐH Sư phạm 2, Đại học Thái Nguyên…

* Nhóm người dùng tin là cán bộ nghiên cứu giảng dạy

Với số lượng cán bộ giảng dạy có thẻ tại thư viện là 324 (chiếm 2.2 %)trong tổng số bạn đọc của thư viện

Đây là những người dùng tin hiểu rõ được nguồn tin và loại thông tin nào

họ cần và có khả năng tự mình xử lý thông tin đó để tạo ra những thông tin mới.đồng thời tự mình khai thác thông tin thông qua việc sử dụng các phương tiệntra cứu truyền thông và hiện đại phục vụ cho nghiên cứu, giảng dạy

Do đặc thù công việc nên nhu cầu thông tin của họ rất đa dạng, phức tạp và

có trọng điểm, họ có nhu cầu lớn đối với các loại sách tham khảo, đặc biệt là tàiliệu tham khảo nước ngoài Đây là tài liệu quan trọng giúp họ biên soạn giáotrình, chuẩn bị cho các bài giảng hay các đề tài nghiên cứu khoa học Họ có nhucầu mượn tài liệu tại phòng mượn, phòng đọc

* Nhóm người dùng tin là học viên Cao học, nghiên cứu sinh

Với số lượng học viên cao học, nghiên cứu sinh có thẻ tại thư viện là2.173( chiếm 15.27 5 %) trong tổng số bạn đọc của thư viện Đây là đối tượngngười dùng tin đông đảo, thường xuyên sử dụng thư viện (sau sinh viên) phục

vụ học tập, nghiên cứu Tài liệu sử dụng của đối tượng này rất đa dạng: Sáchtham khảo quốc văn, ngoại văn, báo tạp chí và nhất là các chuyên đề nghiên cứukhoa học, các luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ Đây là đối tượng có nhu cầu về tàiliệu thông tin đa dạng có trọng điểm thể hiện mục đích rõ ràng

2.2 Thực tiễn ứng dụng phần mềm tích hợp quản trị thư viện Libol 5.5 tại Trung tâm Thông tin – Thư viện Đại học Sư phạm Hà Nội

2.2.1 Lịch sử của việc ứng dụng phần mềm tích hợp quản trị thư viện Libol 5.5 trong hoạt động Thông tin – Thư viện trường ĐHSP HN

Trang 35

Trong hai thập kỷ gần đây, các thư viện với tư cách là nguồn tin cấp mộtquan trọng nhất đã có những đổi thay to lớn dưới ảnh hưởng của CNTT mới.Việc áp dụng CNTT mới và viễn thông đã tạo ra một không gian thông tin mới.trong đó, thư viện được coi là một khâu quan trọng trong guồng máy luânchuyển thông tin Các hoạt động thông tin đa dạng của thư viện đã nâng cao vaitrò của thư viện trong xã hội.

Trong quá trình hình thành và phát triển Trung tâm TT - TV trường ĐHSP

HN được thành lập tới nay đã gần 60 năm những năm đấu do đất nước chiếntranh, điều kiện kinh tế gặp nhiều khó khăn nên thư viện tồn tại dưới hình thứctruyền thống Trước khi sử dụng CDS/ISIS Thư viện trường sử dụng khungphân loại 19 lớp của Thư viện Quốc gia

Từ năm 1997 – 2004 Trung tâm mới đưa vào sử dụng hệ quản trị CSDLvăn bản CDS/ISIS để xây dựng CSDL cho các tài liệu

CDS/ISIS(Computer Documentation System – Integreted Set ofInformation System) là phần mềm tư liệu do UNESCO phát triển và phổ biến từnăm 1985 CDS/ISIS quản lý các cơ sở dữ liệu dang văn bản có cấu trúc Nó cókhả năng quản lý các dữ liệu có độ dài biến động, quản lý các thông tin có tínhchất lặp (trường lặp), quản lý các thông tin có nhiều phần tử khác nhau nhưngcùng ý nghĩa (trường con) Nó không quản lý số liệu và không cho phép thựchiện các phép tính và thông kê

CDS/ISIS mạnh là một trong những phần mềm tư liệu được sử dụng rộngrãi trên thế giới đặc biệt là trong các nước đang phát triển, trong đó có ViệtNam Phần mềm này được sử dụng trên môi trường DOS nhưng sau đó đượcchuyển sang môi trường WINDOWS, nhằm nâng cao tính thân thiện với ngườidùng nên gọi là WINISIS, được phổ biến rộng rãi từ năm 1985 và được đưa vào

sử dụng tại Việt Nam từ năm 1987 CDS/ISIS đã được Trung tâm Thông tin –

Tư liệu Khoa học và Công nghệ Quốc gia Việt hoá để sử dụng với bộ mã chuẩnQuốc gia Phần mềm này chuyên dùng để quản lý tài liệu trong thư viện, thíchhợp với những thư viện quy mô nhỏ và mang tính chất ứng dụng cục bộ trong

35

Trang 36

thư viện rất tốt Phần mềm CDS/ISIS được ứng dụng để triển khai ứng dụng tinhọc hoá tại các thư viện trong giai đoạn đầu.

WINISIS có các chức năng sau đây:

- Tạo lập và sửa đối cấu trúc CSDL

- Nhập và sửa đổi các biểu ghi

- Trình bày biểu ghi hay một phần biểu ghi theo yêu cầu

- Tìm kiếm các biểu ghi theo nhiều dấu hiệu khác nhau thông qua ngôn ngữtìm rất mềm dẻo và linh hoạt

- In và sắp xếp các kết quả tìm theo trật tự tuỳ ý

- Trao đổi dữ liệu

- Phát triển các ứng dụng đặc thù nhờ phương tiện lập trình tích hợp

Tuy nhiên, sau một thời gian sử dụng phần mềm này đã bộc lộ những hạnchế như: không thực hiện tính toán các số liệu và thống kê, không có khả năngkiểm tra trùng, giao diện chưa thân hiện với người sử dụng Người ta cũng đã cốgắng nâng cấp CDS/ISIS để phần mềm hữu dụng hơn như phát triển có hỗ trợchuẩn MAR21, CDS/ISIS trên nền Web Tuy nhiên các phiên bản nàychưa hoànthiện và cũng chỉ mới tập trung phần xây dựng và quản trị cơ sử dữ liệu, trongkhi các thư viện lại có nhu cầu tự động hoá nhiều khâu trong quy trình nghiệp

vụ Do vậy, các phiên bản mới của CDS/ISIS không đuợc đón nhận sử dụng nhưnhững thập niên 80 và 90 của thế kỷ truớc

Với sự phát triển của thông tin, công nghệ và Internet, CDS/ISIS đã tỏ rakhông còn phù hợp nữa Trong khi đó, Thư viện lại cần những phần mềm mạnhhơn để có khả năng quản lý hàng triệu bản ghi, quản lý các định dạng số của tàiliệu (toàn văn, âm thanh, hình ảnh), khả năng chia sẻ và khai thác trực tuyếncũng như tự động hoá các quy trình từ khâu bổ sung đến khâu lưu thông Chính

vì vậy, xuất hiện các phần mềm quản trị Thư viện tích hợp Trong đó có phần

Trang 37

nhiều phân hệ đuợc thiết kế để giải quyết từng công việc cụ thể của các phòngchức năng trong một cơ quan thông tin thư viện, phù hợp với các thư viện hiệnđại ở Việt Nam Chính vì vậy, từ năm 2004 đến nay TTTT – TV ĐHSP HN đã

sử dụng phần mềm Libol 5.5 của Công ty Tinh Vân Sau nhiều năm nghiên cứu,triển khai cùng với những thành công nhất định, hiện phần mềm Libol đượcđánh giá là giải pháp thư viện điện tử hiện đại và phù hợp nhất ở Việt Nam Bộphần mềm thư viện điện tử - thư viện số Libol có đầy đủ các tính năng cần thiết

để một thư viện có thể hội nhập với thư viện Quốc gia và Quốc tế

2.2.2 Mục tiêu ứng dụng phần mềm Libol tại Trung tâm TT – TV ĐHSPHN

- Đảm bảo hợp lý, khoa học, chính xác và tiết kiệm nhiều thời gian, chi phí

- Có thể tìm kiếm thông tin theo nhiều tiêu chí: tìm kiếm thông tin thư mục,toàn văn

- Giảm nhẹ sức lao động đồng thời nâng cao hiệu quả công việc của cán bộthư viện

- Nâng cao chất luợng dịch vụ và chất luợng phục vụ NDT làm cho nhu cầu

tin của NDT đuợc đáp ứng một cách tốt nhất, có thể truy cập nguồn lực thông tinmột cách dễ dàng, nhanh chóng, tiến tới kiểm soát và chia sẻ, trao đổi nguồn lựcthông tin

- Ứng dụng phần mềm quản trị thư viện tích hợp Libol để tự động hoá tất

cả các chu trình nghiệp vụ hoạt động của Thư viện, từ xử lý nghiệp vụ, xếp giá,phục vụ bạn đọc đến việc thanh lý kiểm kê

2.3 Các phân hệ của phần mềm Libol 5.5 được áp dụng tại Thư viện trường Đại học Sư phạm Hà Nội

37

Trang 38

Hiện nay do đặc thù của vốn tài liệu cũng như do hoàn cảnh - mục đích yêucầu của thư viện, Trung tâm Thông tin - Thư viện, ĐHSPP HN đang sử dụng phầnmềm Libol 5.5 với 7 phân hệ đã phân quyền truy cập từng phòng chuyên môn:

Hình 2.2:Giao diện phần mềm Libol 5.5

1 Phân hệ bổ sung 2 Phân hệ biên mục

3 Phân hệ Tra cứu OPAC 3 Phân hệ lưu thông

Các cơ quan Thông tin – Thông tin muốn hoàn thành tốt chức năng nhiệm

vụ, đảm bảo chất lượng phục vụ người dùng tin thì điều quan trọng trước tiên đó

Ngày đăng: 24/02/2017, 14:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
9. Http:// www.glib.hcmuns.edu.vn 10. Http:// www.thuvien.net Sách, tạp chí
Tiêu đề: www.glib.hcmuns.edu.vn"10. Http://
2. Công ty công nghệ Tinh Vân. Hướng dẫn sử dụng phần mềm thư viện điện tử tích hợp Libol 5.5.-H.:Tinh Vân, 2005.-200 tr Khác
3. Nguyễn Tiến Hiển, Nguyễn Thị Lan Thanh. Quản lý thư viện và trung tâm thông tin.-H.:Văn hoá thông tin,2002.-236 tr Khác
4.Trần Thị Quý, Đỗ Văn Hùng. Tự động hoá trong hoạt động thông tin thư viện.-H.: ĐHQGHN.2007.-162 tr Khác
5. Phạm Văn Rính, Nguyễn Viết Nghĩa. Phát triển vốn tài liệu trong thư viện và cơ quan thông tin .- H.:ĐHQGHN,2007.-192 tr Khác
6. Thư viện học đại cương.- TP.HCM.:Trường đại học Khoa học Tự nhiên TP.HCM,2001.-302 tr Khác
7. Đoàn Phan Tân. Thông tin học.-H.: ĐHQGHN,2006.-287 tr Khác
8. Nguyễn Tiến Hiển, Kiều Văn Hốt. Tổ chức và bảo quản kho tài liệu.- H.:Đại học Văn Hóa Hà Nội Khác
12. Http:// www.dhsphn.edu.vn/portal/page/portal/dhsphn Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Trung tâm TT -TV Trường ĐHSP Hà Nội - Ứng dụng phần mềm quản trị thư viện tích hợp libol 5 5 tại trung tâm thông tin thư
Hình 2.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Trung tâm TT -TV Trường ĐHSP Hà Nội (Trang 26)
Hình 2.3: Giao diện chức năng bổ sung của phân hệ bổ sung - Ứng dụng phần mềm quản trị thư viện tích hợp libol 5 5 tại trung tâm thông tin thư
Hình 2.3 Giao diện chức năng bổ sung của phân hệ bổ sung (Trang 40)
Hình 2.5: Thống kê theo ngôn ngữ và bổ sung ấn phẩm theo ngày trong tháng 5 - Ứng dụng phần mềm quản trị thư viện tích hợp libol 5 5 tại trung tâm thông tin thư
Hình 2.5 Thống kê theo ngôn ngữ và bổ sung ấn phẩm theo ngày trong tháng 5 (Trang 41)
Hình 2.6: Giao diện khuôn dạng nhãn gáy của phân hệ bổ sung - Ứng dụng phần mềm quản trị thư viện tích hợp libol 5 5 tại trung tâm thông tin thư
Hình 2.6 Giao diện khuôn dạng nhãn gáy của phân hệ bổ sung (Trang 42)
Hình 2.7: Máy in mã vạch và giấy in mã vạch - Ứng dụng phần mềm quản trị thư viện tích hợp libol 5 5 tại trung tâm thông tin thư
Hình 2.7 Máy in mã vạch và giấy in mã vạch (Trang 43)
Hình 2.8: Giao diện phân hệ biên mục của libol 5.5 - Ứng dụng phần mềm quản trị thư viện tích hợp libol 5 5 tại trung tâm thông tin thư
Hình 2.8 Giao diện phân hệ biên mục của libol 5.5 (Trang 45)
Hình 2.12: Giao diện chức năng thống kê của phân hệ ấn phẩm định kỳ - Ứng dụng phần mềm quản trị thư viện tích hợp libol 5 5 tại trung tâm thông tin thư
Hình 2.12 Giao diện chức năng thống kê của phân hệ ấn phẩm định kỳ (Trang 49)
Hình 2.13: Tìm tin trên CSDL                      Hình 2.14: Kết quả tìm tin trên CSDL - Ứng dụng phần mềm quản trị thư viện tích hợp libol 5 5 tại trung tâm thông tin thư
Hình 2.13 Tìm tin trên CSDL Hình 2.14: Kết quả tìm tin trên CSDL (Trang 52)
Hình 2.15: Giao diện nhập của phân hệ bạn đọc - Ứng dụng phần mềm quản trị thư viện tích hợp libol 5 5 tại trung tâm thông tin thư
Hình 2.15 Giao diện nhập của phân hệ bạn đọc (Trang 55)
Hình 2.17: Giao diện thống kê trên phân hệ bạn đọc - Ứng dụng phần mềm quản trị thư viện tích hợp libol 5 5 tại trung tâm thông tin thư
Hình 2.17 Giao diện thống kê trên phân hệ bạn đọc (Trang 56)
Hình 2.18: Giao diện Ghi mượn và ghi trả trên phân hệ lưu thông - Ứng dụng phần mềm quản trị thư viện tích hợp libol 5 5 tại trung tâm thông tin thư
Hình 2.18 Giao diện Ghi mượn và ghi trả trên phân hệ lưu thông (Trang 59)
Hình 2.20: Giao diện phân hệ quản lý - Ứng dụng phần mềm quản trị thư viện tích hợp libol 5 5 tại trung tâm thông tin thư
Hình 2.20 Giao diện phân hệ quản lý (Trang 62)
Hình 2.21:Giao diện tham số hệ thống Menu tham số hệ thống giúp người quản trị xem và thiết đặt lại các giá trị cho các tham số của chương trình - Ứng dụng phần mềm quản trị thư viện tích hợp libol 5 5 tại trung tâm thông tin thư
Hình 2.21 Giao diện tham số hệ thống Menu tham số hệ thống giúp người quản trị xem và thiết đặt lại các giá trị cho các tham số của chương trình (Trang 63)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w