Qua khảo cứu tình hình nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy, từ những năm cuối thập kỷ 20 của thế kỷ XX cho đến nay, các nhà nghiên cứu ngày càng quan tâm tìm hiểu nhiều về văn học Phật giáo
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
TĂNG XUÂN DẪN (Thích Quảng Tiếp)
VAI TRÕ CỦA CÁC THIỀN SƯ TRONG VĂN HÓA ĐẠI VIỆT THỜI LÝ - TRẦN VÀ Ý NGHĨA ĐỐI VỚI
VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
TĂNG XUÂN DẪN (Thích Quảng Tiếp)
VAI TRÕ CỦA CÁC THIỀN SƯ TRONG VĂN HÓA ĐẠI VIỆT THỜI LÝ - TRẦN VÀ Ý NGHĨA ĐỐI VỚI
VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành : CNDVBC & CNDVLS
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Anh Tuấn
HÀ NỘI - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng Các kết luận khoa học của luận
án chưa từng được công bố trên bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận án
Tăng Xuân Dẫn
(Thích Quảng Tiếp)
Trang 4
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 5
1.1 Nguồn tài liệu phục vụ nghiên cứu 5
1.1.1 Tài liệu gốc và tài liệu nghiên cứu về lịch sử, văn hóa, xã hội thời Lý - Trần 5
1.1.2 Tài liệu nghiên cứu lịch sử Phật giáo Việt Nam và các Thiền sư thời Lý - Trần 13
1.2 Các vấn đề và thuật ngữ dùng trong nghiên cứu của luận án 22
1.2.1 Các vấn đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu 22
1.2.2 Một số thuật ngữ và khái niệm dùng trong luận án 24
Chương 2: KHÁI QUÁT VỀ VĂN HÓA ĐẠI VIỆT VÀ PHẬT GIÁO THỜI LÝ - TRẦN 28
2.1 Khái quát về văn hóa Đại Việt thời Lý - Trần 28
2.1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội cho sự hình thành văn hóa Đại Việt thời Lý - Trần 28
2.1.2 Đặc trưng của văn hóa Đại Việt thời Lý - Trần 32
2.2 Phật giáo Đại Việt thời Lý - Trần 36
2.2.1 Sự phát triển của Phật giáo thời Lý - Trần 36
2.2.2 Đặc điểm cơ bản và một số Thiền sư tiêu biểu của Phật giáo thời Lý - Trần42 Tiểu kết chương 2 54
Chương 3: VAI TRÕ CỦA CÁC THIỀN SƯ TRONG XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN VĂN HÓA ĐẠI VIỆT THỜI LÝ - TRẦN 56
3.1 Vai trò của các Thiền sư thời Lý - Trần trong lĩnh vực chính trị - xã hội 56
3.1.1 Hộ quốc trên tinh thần từ bi hỉ xả của Phật giáo, hợp lòng dân 56
3.1.2 Góp phần hình thành ý thức hệ dân tộc, chính sách ngoại giao mềm dẻo, ổn định xã hội 61
3.2 Vai trò của các Thiền sư thời Lý - Trần trong phát triển tư tưởng tôn giáo và xây dựng đạo đức xã hội 69
3.2.1 Phát triển tư tưởng yêu nước, đoàn kết, hoà đồng cùng các tôn giáo 69
3.2.2 Nêu gương sáng, phát triển nền đạo đức dân tộc nhân bản 75
Trang 53.3 Vai trò của các Thiền thời Lý - Trần trong lĩnh vực văn học và nghệ thuật 81
3.3.1 Thiền sư thời Lý - Trần: lực lượng chủ lực trong sáng tác văn học 81 3.3.2 Thiền sư thời Lý - Trần bảo lưu, tổ chức, thực hiện các lễ hội và hoạt động nghệ thuật 90
4.2 Ý nghĩa từ vai trò của các Thiền sư thời Lý - Trần đối với phát triển văn học và nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc Phật giáo Việt Nam hiện nay 127
4.2.1 Văn học Phật giáo ở Việt Nam kế thừa và tiếp thu tinh thần nhập thế của các Thiền sư Phật giáo thời Lý - Trần 127 4.2.2 Kiến trúc, điêu khắc Phật giáo thời Lý - Trần khẳng định giá trị vô giá đối với nghệ thuật tạo hình Việt Nam hiện nay 136
Tiểu kết chương 4 149
KẾT LUẬN 151 DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 153 TÀI LIỆU THAM KHẢO 154 PHỤ LỤC
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Phật giáo thời Lý - Trần đánh dấu mốc son chói ngời trong lịch sử dân tộc, mở
ra thời kỳ hưng thịnh của Phật giáo Việt Nam Phật giáo thời Lý - Trần với tinh thần tùy tục, tùy duyên, hòa quang đồng trần, cư trần lạc đạo, nhập thế hành đạo nên đã sản sinh ra những Thiền sư luôn luôn hướng về cuộc sống, hòa nhập với thời cuộc Các Thiền sư luôn tận tụy hy sinh cho đất nước, cho dân tộc, luôn quan tâm tới vận mệnh của quốc gia, dân tộc, ra sức đóng góp tài đức xây dựng và phát triển đất nước
Nhà nước phong kiến Đại Việt đã sớm nhận thấy vai trò quan trọng của các Thiền sư đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước trên mọi lĩnh vực: kinh
tế, chính trị, xã hội và đặc biệt là văn hóa Dưới thời Lý - Trần, Phật giáo có điều kiện phát triển mạnh mẽ Một mặt, vì đương thời, các Thiền sư đều là những người vừa giỏi Phật học lại vừa biết Nho học, họ đã trở thành những trí thức hữu ích cần thiết cho vương triều Mặt khác, ở những thế kỷ đầu độc lập, nhà nước phong kiến trung ương tập quyền mới thành lập chưa lựa chọn được ngay hệ tư tưởng của mình, nên Phật giáo lúc bấy giờ dễ dàng được thu nhận để làm công cụ định hướng tinh thần cho vương triều và dân tộc Với sự cố vấn của các Thiền sư, nhà nước phong kiến Đại Việt thời Lý - Trần đã sớm tìm ra phương sách quản lý đất nước, cai trị muôn dân, lập pháp và hành pháp xuất phát từ chữ “nhân”, theo quan điểm “từ bi,
hỷ xả”, “cứu nhân, độ thế” của nhà Phật Sự gặp gỡ rất gần gũi giữa những tư tưởng cao đẹp của đạo Phật với tư tưởng “thương dân như con”, “lấy dân làm gốc” của các vua Lý - Trần không chỉ góp phần to lớn tạo nên sức mạnh "cả nước đồng lòng" trong chiến thắng quân Tống (1075 - 1077) và ba lần chiến thắng quân Nguyên Mông (1258; 1285; 1288), mà còn xây dựng được một nền văn hóa Đại Việt khở sắc rực rỡ trên mọi mặt: giáo dục và đạo đức, tôn giáo và tư tưởng, văn học và nghệ thuật biểu diễn, tạo hình…
Trong cuốn Tiểu sử danh tăng Viê ̣t Nam thế kỷ XX, tập 2, cư sỹ Võ Đình
Cường - Trưởng ban văn hóa T rung ương Giáo hô ̣i Phâ ̣t giáo Viê ̣t Nam viết lời giới thiệu: “Phâ ̣t giáo Viê ̣t Nam cùng với vâ ̣n mê ̣nh đất nước đã trải qua bao hưng suy
Trang 7thăng trầm của li ̣ch sử Nếu như nước nhà thời nào cũng có anh hùng thì Phâ ̣t giáo giai đoa ̣n nào cũng có danh tăng dựng đa ̣o giúp nước Đó là những tấm gương sán g góp phần tạo nên lịch sử Công lao các bâ ̣c cao Tăng tiền bối , các vị sứ giả Như Lai, những danh Tăng hô ̣ quốc kiên trì giữ đa ̣o , tịnh tiến tu hành là những nhân cách, chí hướng, tư tưởng có giá tri ̣ cho chúng ta ho ̣c hỏi noi gương” [xem 3, tr.3]
Thâ ̣t vâ ̣y , trong mỗi giai đoa ̣n li ̣ch sử đất nước Phâ ̣t giáo luôn đồng hành cùng dân tô ̣c , vai trò của các danh tăng rất to lớn trên mo ̣i lĩnh vực của đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội Có thể thấy, so với các thời đại khác, vai trò của các danh tăng thời Lý - Trần là quan tro ̣ng hơn cả và được thể hiê ̣n rất rõ trong viê ̣c cố vấn về chính trị, quân sự, chính sách đối nội , đối ngoa ̣i… Họ tham gia vào các công viê ̣c triều chính giúp các vua thời Lý - Trần và đã đa ̣t được nhiều thành tựu rực rỡ
Không chỉ trong thời Lý - Trần, mà trong mọi thời đại, với sự phát triển của Phật giáo, các Thiền sư đều có những đóng góp đáng kể cho sự nghiệp xây dựng văn hóa, kinh tế, xã hội, phát triển đất nước Các Thiền sư với vị thế là những nhà tu hành, chức sắc tôn giáo, đã luôn là những người chăm lo cho nhân dân trong cả việc
“đạo” và việc “đời” Vừa hướng đạo nhưng đồng thời cũng giáo dục truyền thống yêu nước, truyền thống văn hóa và đạo đức, lối sống cho quần chúng nhân dân Nhận thức được tầm quan trọng của hàng ngũ chức sắc, các nhà tu hành tôn giáo nói chung, Phật giáo nói riêng, Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, chương I điều 2 đã ghi rõ: “Chức sắc, nhà tu hành và công dân có tín ngưỡng, tôn giáo được hưởng mọi quyền công dân và có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ công dân Chức sắc, nhà tu hành có trách nhiệm thường xuyên giáo dục cho tín đồ lòng yêu nước, thực hiện quyền nghĩa vụ công dân và ý thức chấp hành pháp luật” [15; tr.8] Như vậy, Đảng và Nhà nước ta đã sớm nhận thấy vai trò to lớn của các nhà tu hành đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước;
họ chính là những người góp phần giáo dục lòng yêu nước, truyền thống văn hóa,
đạo đức dân tộc trong mọi thời đại
Do vậy, nghiên cứu vấn đề nêu trên không chỉ có ý nghĩa nền tảng nhằm khẳng định những đóng góp của các Thiền sư, các nhà tu hành nói riêng, của Phật
Trang 8giáo Việt Nam nói chung đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam trong quá khứ, mà còn để hiểu đúng hơn về vai trò, tầm quan trọng của các Thiền sư, của Phật giáo đối với đất nước, khuyến khích họ đóng góp nhiều hơn nữa vào sự nghiệp xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
hiện nay Chính vì vậy, NCS chọn vấn đề Vai trò của các Thiền sư trong văn hoá
Đại Việt thời Lý - Trần và ý nghĩa đối với Việt Nam hiện nay làm đề tài nghiên
cứu trong luận án tiến sĩ triết học, chuyên ngành CNDVBC & CNDVLS
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1 Mục đích nghiên cứu:
- Luận án phân tích vai trò của các Thiền sư trong xây dựng và phát triển văn hóa Đại Việt thời Lý - Trần và rút ra ý nghĩa đối với Việt Nam hiện nay
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Thứ nhất, luận án trình bày khái quát về văn hóa Đại Việt và Phật giáo thời
Lý - Trần, các Thiền sư tiêu biểu thời Lý - Trần
Thứ hai, luận án phân tích vai trò của các Thiền sư trong xây dựng, phát triển
văn hóa Đại Việt thời Lý - Trần
Thứ ba, luận án phân tích ý nghĩa từ sự nghiên cứu vai trò của các Thiền sư
thời Lý - Trần đối với các lĩnh vực: chính trị - xã hội, tư tưởng tôn giáo và đạo đức, văn học và nghệ thuật Việt Nam hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu: Vai trò của các Thiền sư trong sự nghiệp xây
dựng và phát triển văn hóa Đại Việt thời Lý - Trần và ý nghĩa của nó đối với Việt Nam hiện nay
3.2 Phạm vi nghiên cứu: Vai trò của các Thiền sư tiêu biểu trong sự nghiệp
xây dựng phát triển văn hóa Đại Việt thời Lý - Trần trên các lĩnh vực: Chính trị và
xã hội, tư tưởng tôn giáo và đạo đức, văn học và nghệ thuật
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở lý luận và phương pháp luận:
Luận án được thực hiện trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của Chủ nghĩa duy vật biện chứng, Chủ nghĩa duy vật lịch sử; nhất là phần học thuyết về mối quan hệ giữa ý thức xã hội và tồn tại xã hội, về sự tương tác giữa giữa các hình thái
ý thức xã hội
Trang 94.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu của tôn giáo học mác xít, nghiên cứu liên ngành, trong đó chú trọng sử dụng các phương pháp nghiên cứu văn bản tài liệu gốc, phương pháp thống nhất lịch sử - lôgíc, phương pháp phân tích - tổng hợp, so sánh đối chiếu, khái quát hoá, khảo sát thực địa
5 Đóng góp mới của luận án
- Một là, luận án phân tích một cách có hệ thống bối cảnh và tiền đề của sự
nghiệp xây dựng, phát triển, cùng các đặc điểm và các Thiền sư tiêu biểu của Phật giáo Việt Nam, văn hóa Đại Việt thời Lý - Trần
- Hai là, luận án phân tích vai trò của các Thiền sư trong sự nghiệp xây dựng và
phát triển văn hóa Đại Việt thời Lý - Trần trên một số lĩnh vực chính như: chính trị - xã hội, tư tưởng tôn giáo và đạo đức, văn học và nghệ thuật
- Ba là, luận án phân tích ý nghĩa rút ra từ sự nghiên cứu vai trò của các
Thiền sư thời Lý - Trần đối với các lĩnh vực: chính trị - xã hội, tư tưởng tôn giáo và
đạo đức, văn học và nghệ thuật Việt Nam hiện nay
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Ý nghĩa lý luận: Luận án góp phần hoàn thiện hơn những hiểu biết của thế hệ
hiện nay về vai trò của các Thiền sư đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa Đại Việt thời Lý - Trần trên các lĩnh vực: chính trị - xã hội, tư tưởng tôn giáo và đạo đức, văn học và nghệ thuật để từ đó rút ra được ý nghĩa của nó đối với Việt Nam hiện nay
Ý nghĩa thực tiễn: Luận án có thể làm tài liệu tham khảo cho việc hoạch
định chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta đối với Phật giáo, phục vụ nghiên cứu, giảng dạy về tôn giáo ở Việt Nam nói chung, Phật giáo nói riêng
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các bài viết của tác giả và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận án gồm 4 chương 9 tiết
Trang 10Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
1.1 Nguồn tài liệu phục vụ nghiên cứu
Phật giáo thời Lý - Trần là một trong những hiện tượng tôn giáo và văn hóa luôn thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của các học giả trong và ngoài nước Những nghiên cứu đó cũng đều dựa trên các văn bản, tài liệu gốc, vì vậy trước tiên luận án khảo sát các tài liệu thuộc nhóm này
1.1.1 Tài liệu gốc và tài liệu nghiên cứu về lịch sử, văn hóa, xã hội thời
Lý - Trần
Hoạt động của Phật giáo Lý - Trần và của các thiền sư thời kỳ này được ghi chép lại khá trung thực trong các tài liệu gốc dưới dạng các biên niên sử, trong văn bia và thông qua các sáng tác văn học của họ Thuộc loại này có những công trình tiêu biểu dưới đây:
- Đại Việt sử ký toàn thư, 2 tập [25], là bộ sử lớn, có giá trị về nhiều mặt, là
di sản quý báu của văn hóa dân tộc Trong tác phẩm sử học lớn này, các tác giả đã liệt kê các sự kiện và nhân vật thời Lý - Trần Kỷ nhà Lý (1010 - 1225) được ghi lại trong các quyển II, III, và quyển IV Kỷ nhà Trần (1226 - 1399) - trong các quyển
V, VI, VII, và quyển VIII Trong các quyển đó đã nhắc đến các sự kiện thể hiện vai trò của các Thiền sư trong các lĩnh vực triều chính và đời sống xã hội như của Thiền
sư Vạn Hạnh với công lớn đưa Lý Công Uẩn lên ngôi vua, Quốc sư Khuông Việt;
Từ Đạo Hạnh; Quốc sư Trúc Lâm…
- Đại Việt Sử ký tiền biên [134], cũng là văn bản sử liệu đồ sộ, căn bản dựa theo Đại Việt sử ký toàn thư, nhưng có thêm giá trị chủ yếu là ở những bình luận
sắc sảo về những vấn đề văn hóa, lịch sử và thời đại Tác phẩm gồm 17 quyển, đóng thành 7 sách, trong đó 7 quyển đầu là Ngoại kỷ; 10 quyển sau là Bản kỷ Phần Ngoại kỷ chép từ họ Hồng Bàng năm Nhâm Tuất (2879 TCN) đến Bản kỷ thuộc Minh năm Đinh Mùi trở lên gồm 4354 năm Phần Bản Kỷ, thời Lý, Trần được trình bày ở các quyển: Quyển II, III, IV là Kỷ nhà Lý với 9 đời vua, bắt đầu năm Canh
Trang 11Tuất, kết thúc năm Đinh Mùi, gồm 202 năm; Quyển V, VI, VII, VIII, IX, X là Kỷ nhà Trần với 12 đời vua, phụ kỷ Hồ Quý Ly, nhà Hậu Trần 2 vua và kỷ Nội thuộc Minh, bắt đầu là năm Bính Tuất, kết thúc là năm Đinh Mùi, gồm 202 năm (từ trang
231 đến 632) Tác phẩm này cũng nhiều lần nhắc đến vai trò của các Thiền sư đối với việc xây dựng quốc gia, triều đại Ví như, khi nhắc đến Thiền sư Vạn Hạnh, có viết: “Sử thần Ngô Thì Sĩ bàn: Lý Thái Tổ lớn lên ở Cửa Phật, Khánh Văn nuôi nấng, Vạn Hạnh dạy dỗ, hai người đó đều là sư cả Từ nhỏ vua đã là học trò của sư Vạn Hạnh, cái thuyết “báo ứng”, “nhân quả” của nhà Phật thường được nghe luôn Phàm những điều như sống chết, mất còn, thịnh suy, thành bại đều phó thác vào số mệnh viển vông! Vạn Hạnh khéo về nghề bói toán, lại đặt ra chuyện sét đánh vào cây gạo cho thêm vẻ thần dị Vì thế, vua càng tin theo, niềm tin đó bắt rễ vào lòng, không thể lay chuyển được” [134, tr.234]
- Văn bia thời Lý [89, thực ra là 88] của nhóm biên soạn do nhà nghiên cứu
Nguyễn Văn Thịnh (chủ trì) là công trình sưu tầm công phu về các tác phẩm di văn kim thạch thời Lý Các văn bia thời Lý hiện còn phần nhiều gắn với những công trình quan trọng liên quan đến tầng lớp quý tộc, những người có công với nước, với dân, xây chùa và những Thiền sư có uy tín như: Thiền sư Từ Đạo Hạnh…
“Nhi kim tức hữu Đạo Hạnh Thiền sư, ấu nhi tú cốt, trưởng nãi kỳ tư Tụng tập liên kinh, ngọc kiết hầu nhi liêu lượng; xuất gia vận độ, Phật sinh ý nhi từ bi Kiến bát chủng nhi hải ngung tận nghiêm; cứu tam kíp nhi thiền kinh cộng quán Cấu thời đại hạn, nhiên nhất chỉ nhi vũ tất bái nhiên Học cổ hưu lương, tọa đa niên nhi dung vô cơ sắc Vạn dân khởi lệ, trì thủy sái nhi hạnh tuyệt bệnh nguyên; chư sự
vị manh, dự ngôn tri nhi đích như phù khế” [89, tr.102]
Dịch nghĩa: “Nay có Thiền sư Đạo Hạnh: tuổi nhỏ thanh tú khác thường, lớn lên thiên tư kỳ lạ Khi tụng tập Liên kinh, tiếng ngọc vang sang sảng; lúc xuất gia hành lễ, tâm Phật thấm từ bi Dựng Bát chủng tháp mà khắp cõi hết mực uy nghiêm; đọc Tam kíp thư mà kinh Phật thảy đều quán triệt Gặp thời đại hạn, đốt một ngón tay mà mưa xuống tràn trề; học người xưa không ăn, ngồi đó nhiều năm mà mặt không sắc đói Dân mắc bệnh, bưng nước vảy mà dứt hết ốm đau; việc chưa manh nha, dự đoán trước mà trúng như bùa phép” [89, tr.106]
Trang 12Sang thời Trần, các văn bia liên quan đến chùa tháp và các thiền sư cũng chiếm một số lượng khá lớn Có thể kể đến các văn bia trong các công trình sưu tầm
và dịch: Văn bia thời Lý - Trần vùng Hải Hưng và lân cận [44] của tác giả Tăng Bá Hoành (1985) và Nguyễn Văn Thịnh; Nguyễn Quang Hồng (chủ biên, 2002) Văn
khắc Hán Nôm Việt Nam, tập 2: Thời Trần [135]
- Năm 2010, Hội sử học Hải Dương đã thực hiện đề tài Sưu tầm, nghiên
cứu, khôi phục, phiên âm, dịch nghĩa, chú giải di sản Hán Nôm Hải Dương tại các
Di tích xếp hạng Quốc gia tỉnh Hải Dương [45] do Tăng Bá Hoành làm chủ nhiệm
đề tài Trong đó, đáng lưu ý là phần sao dịch di sản Hán Nôm tại chùa Thanh Mai
(Chí Linh - Hải Dương) Bia mang tên Thanh Mai Viên Thông Tháp Bi, do thị giả
Trung Minh là đệ tử chân truyền của Pháp Loa, biên soạn sau khi Pháp Loa viên tịch (1330), nhưng trước khi Huyền Quang về cõi Niết Bàn (1334), phải đến 28 năm sau, tức năm Đại Trị ngũ niên (1362) đệ tử mới hoàn thành khắc dựng Nói
về công đức vô lượng của Điều Ngự Giác Hoàng, các đệ tử có chép:
“Hưng Long thập nhị niên Giáp Thìn, sư nhị thập nhất tuế Thị niên, Nhân Tông Đầu Đà biến du chi đạo, trừ dâm từ, thí pháp dược trị chư bần bệnh giả, diệc cầu pháp tự chi thiết” [45, tr.9]
Dịch: “Năm Giáp Thìn, niên hiệu Hưng Long thứ 12 (1304), Sư 21 tuổi Chính năm này, Nhân Tông Điều Ngự đầu đà đi khắp các miền trừ bỏ những đền thờ dâm thần, bố thí phép chữa bệnh cho những người nghèo bệnh tật, cùng với mục đích cấp thiết là tìm người nối dòng pháp” [45, tr.16]
- Một số vấn đề về văn bia Việt Nam [64] do Trịnh Khắc Mạnh (2008) chủ
biên, là tập chuyên luận nghiên cứu về quá trình hình thành và phát triển của văn bia Việt Nam Một số văn bia thời Lý - Trần được tác giả nhắc đến như: Thác bản bia An Hoạch sơn niên đại 1110, Bia Sùng Thiện Diên Linh ở Đọi Sơn, niên đại
1121, Bia Thanh Hư niên đại 1373 - 1377 ở Côn Sơn, Hải Dương… thông qua các văn bia có thể thấy sự phát triển của Phật giáo thời kỳ Lý - Trần
- Thiền Uyển Tập Anh [87] do Phân viện Nghiên cứu Phật học tại Hà Nội và
nhà xuất bản Văn học ấn hành năm 1990, là công trình ghi lại các tông phái Thiền học và sự tích các vị Thiền sư nổi tiếng vào thời từ cuối Bắc thuộc cho đến thời
Trang 13Đinh, Lê, Lý Đây cũng là cuốn sách tập hợp các tác phẩm thuộc dòng văn học sử cho nên không những có giá trị về lịch sử Phật giáo mà còn là một cuốn truyện ký
có giá trị về mặt văn học, triết học, văn hóa dân gian Khi nhận định về các vị Thiền
sư, trong bài tựa tác giả tuyển chọn sách có viết:
“Nước Đại Việt ta được lời Phật thấm nhuần khắp cả, được mưa pháp gội sóng nhiều nơi, người cạo tóc xuất gia được ấn chứng ngộ đạo có lẽ cũng đã có rồi Chứng tích để lại còn cho thấy lòng thiền của họ sáng như mặt trời, gương đạo của
họ trắng ngời như băng tuyết Có bậc ra giúp nước yên thân, có người vào đời để cứu vớt kẻ bị sa ngã, chìm đắm Có người sớm lĩnh ngộ tâm ấn, chống gậy Thiền để làm rõ lẽ cơ vi của Tổ Đạt Ma, cũng có kẻ muộn đến cửa huyền mà làm hiển rạng bí chú của Đồ Trừng1 Họ có đức thuần phục chim rừng, khiến chúng tìm đến cửa nghe kinh, khiến dã thú vây tụ quanh, vào nhà dâng quả Đó là do lòng thành của bậc ấy cảm hóa mà chúng tin theo, do cái học sở đắc mà các bậc ấy có phép thần
thông biến hóa” [87, tr.24 - 25]
Thơ văn Lý - Trần, tập 1 [146], (quyển thượng); Thơ văn Lý - Trần, tập 2
[91], (quyển trung); Thơ văn Lý - Trần, tập 3 [146] (quyển hạ), đều là những công
trình đã tuyển chọn số lượng lớn tác phẩm của các Thiền sư, đồng thời giới thiệu vắn tắt và chính ý các nội dung khái lược về tiểu sử, hành trạng và tác phẩm của đa phần các nhà thơ, văn thời Lý - Trần
Công trình Hợp tuyển văn học Viê ̣t Nam [81], tập 1 (từ thế kỷ X - thế kỷ
XVII) do Bùi Duy Tân (chủ biên, 2004) là bộ sách giới thiệu những tác phẩm chọn lọc trong dòng văn học viết, còn gọi là văn học thành văn, văn học cổ, văn học Hán Nôm, thời Trung đại Bộ sách tuyển chọn các tác phẩm văn học của hàng ngàn năm, từ thế kỷ X khi dòng văn học trung đại được khai sáng, đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX Công trình này cũng trình bày về hành trạng và tác phẩm của nhiều thiền sư Lý - Trần như Thiền sư Vạn Hạnh, Thiền sư Mãn Giác; Thiền sư Quảng Nghiêm; Trần Thái Tông; Trần Thánh Tông; Trần Nhân Tông và Huyền Quang, qua đó đánh giá về những đóng góp của các Thiền sư Lý - Trần cho dòng văn học
Tấn
Trang 14thời kỳ này Trên đây đều là những tư liệu, văn bản gốc mà luận án sẽ thường xuyên phải dựa vào để minh chứng cho các luận điểm của mình
Bên cạnh đó có thể kể đến nhóm tài liệu nghiên cứu về lịch sử, văn hóa, xã hội thời Lý - Trần như:
Văn học Phật giáo từ thế kỷ XI đến hết thế kỷ XIV là một mảng đề tài luôn thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của giới học thuật trong và ngoài nước Đặc biệt, những nghiên cứu về văn học Phật giáo song thường đề cập đến các Thiền sư, với vai trò là chủ thể sáng tạo, những tác giả tiêu biểu của dòng văn học này Có thể
kể đến một số công trình tiêu biểu sau đây:
- Dương Quảng Hàm (1941) trong Văn học Việt Nam sử yếu [26] cho rằng,
các vị sư đều là những người thâm Nho học, nhiều vị làm thơ có nhiều tập thơ văn nói về giáo lý đạo Phật
Qua khảo cứu tình hình nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy, từ những năm cuối thập kỷ 20 của thế kỷ XX cho đến nay, các nhà nghiên cứu ngày càng quan tâm tìm hiểu nhiều về văn học Phật giáo thời Lý - Trần, vai trò chủ thể sáng tạo của các Thiền sư thời Lý - Trần trong dòng văn học thời kỳ này trên các phương diện như văn bản: sưu tầm, giới thiệu và dịch thuật, tìm hiểu tác giả và nghiên cứu tác phẩm Nếu như trước Cách mạng tháng Tám, các nhà nghiên cứu thường chú trọng đến việc sưu tầm, dịch thuật và cũng ít nhiều đã tìm hiểu giá trị văn bản văn học của các
tư liệu Phật giáo thời Lý - Trần mà tiêu biểu là Đinh Văn Chất, Nguyễn Hữu Tiến, Ngô Tất Tố thì sau năm 1945, việc tìm hiểu văn học Phật giáo thời Lý - Trần được quan tâm hơn và ngày càng có nhiều thành tựu Ngoài việc sưu tầm thêm để
giới thiệu văn bản mà bộ Thơ văn Lý - Trần gồm ba tập [146] là khá đầy đủ, thì còn
có nhiều công trình nghiên cứu đã khai thác trên nhiều bình diện khác nhau về tác giả, nội dung và nghệ thuật tác phẩm của bộ phận văn học này Đặc biệt, từ những năm sau Đổi mới, trong điều kiện toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và phát triển kinh
tế thị trường, các nhà nghiên cứu có nhiều điều kiện hơn để tập trung tìm hiểu giá trị của những tác phẩm văn học Phật giáo thời Lý - Trần ở hai cấp độ: vĩ mô và vi mô, vừa khái quát, vừa cụ thể và đưa ra những bình luận, đánh giá khá xác đáng về
Trang 15những thành tựu của văn học Phật giáo thời Lý - Trần, vị trí, vai trò của nó trong tiến trình văn học Việt Nam Có thể tóm lược một số bình luận của các học giả:
- Đáng chú ý hơn cả là Đinh Gia Khánh (1976) trong khi nêu tiến trình lịch
sử của văn học cổ có bàn đến văn học Phật giáo thời Lý - Trần trong trong Lời giới
thiệu “Tám thế kỷ của tiến trình văn học” cho cuốn sách Hợp tuyển thơ văn Việt Nam, tập 2 [49] Khi nhận định về thơ thiền thời Lý - Trần tác giả cho rằng: bên
cạnh ý nghĩa triết học và tôn giáo, nhiều bài thơ lại có ý nghĩa nhân sinh và giá trị văn học, những ảnh hưởng trên (của Nho, Phật, Lão) không hề làm lu mờ tinh thần dân tộc, chính hào khí tiếp thu được từ cuộc chiến đấu của dân tộc lại khiến các tác giả uốn nắn và nâng cao nội dung của những tư tưởng đó cho phù hợp yêu cầu phản ánh thiên nhiên, xã hội và con người trong nước Đại Việt độc lập, tự cường
- Nếu công trình Tìm hiểu xã hội Việt Nam thời kỳ Lý - Trần [137] của Viện
sử học (1980), là công trình sử học, chủ yếu đề cập đến tình hình kinh tế, xã hội
Việt Nam thời kỳ Lý - Trần thì công trình Nước Đại Việt Thời Lý - Trần [93] của
Nguyễn Khắc Thuần (2002), là công trình tiếp cận một giai đoạn lịch sử Việt Nam dưới góc độ văn hóa học và đã nêu được một số nét khái quát tổng quan nhất về nước Đại Việt thời kỳ đó Cả hai công trình đều có nhắc đến các Thiền sư tiêu biểu
ở mỗi thời đại trong công việc cố vấn triều chính, đưa ra những mưu kế, sách lược
ổn định trật tự xã hội
- Bùi Văn Nguyên (1987) trong Lịch sử văn học Việt Nam, tập 2 (thế kỷ X -
XVII) [74] có nhận xét rằng: Thơ thiền thời Lý mang nặng ý thức hệ Phật giáo Thiền tông, nội dung đạo Thiền ở nước ta đã biến thiên cho phù hợp với thực tiễn địa phương Chính nhờ thế mà các nhà sư đã có tác dụng tích cực trong việc xây dựng nền độc lập buổi đầu Điểm thú vị là các nhà sư thường trở thành nhà thơ và
có tâm hồn rung động trước cảnh vật và lòng người, thơ văn của các nhà sư biểu lộ
tư tưởng tự do phóng khoáng, vượt ra ngoài khuôn khổ của triết lý thiền tông, biểu hiện tinh thần yêu nước chống xâm lăng Về văn học Phật giáo thời Trần, tác giả cho rằng: Phật học thời Trần cũng có những tư tưởng độc đáo, không rập khuôn theo phương Bắc, văn học thời Trần mở đầu loại văn bút chiến và văn chương phê bình, các vua thời Trần thường là thi nhân hơn là Thiền sư so với thời Lý
Trang 16- Bản sắc dân tộc trong văn học Thiền tông Lý - Trần [59] của Nguyễn Công
Lý (1997), là công trình chỉ ra được đặc điểm và nội dung, các giá trị nghệ thuật tiêu biểu của văn học Thiền tông thời Lý - Trần, qua đó khẳng định tư tưởng của các thiền
sư như một lực lượng sáng tác đông đảo và chủ đạo của nền văn học nước nhà thời kỳ này và đã lưu giữ rất nhiều nét bản sắc dân tộc
Trong tác phẩm Văn học Việt Nam thế kỷ X - XVIII [81] do Bùi Duy Tân chủ
biên (2004), các tác giả đã có những nhận định sắc bén về văn học Phật giáo thời Lý
- Trần, khi cho rằng: Văn học Phật giáo thời Lý mang nặng ảnh hưởng Phật giáo
dù rằng phần đông tác giả là nhà sư, nhưng văn học thời Lý không phải chỉ là văn học Phật giáo, ngay trong các tác phẩm văn học Phật giáo thời Lý thì nhiều khi vẫn tìm thấy những nội dung liên quan đến việc xây dựng nhân phẩm và có ý nghĩa tích cực, văn học Thiền tông thời Lý dù sao không phải lúc nào cũng thuần túy Nhiều nhà sư Thiền tông mà tu luyện theo giới luật Mật tông, cơ sở tư tưởng của văn học Thiền tông thời Lý là ở quan niệm phiếm thần luận, sự hòa đồng giữa con người và thiên nhiên đã khơi cảm hứng cho những tứ thơ độc đáo và những hình tượng thơ rất sinh động Thiên nhiên được miêu tả với tình cảm thắm thiết và niềm lạc quan yêu đời thể hiện thái độ an nhiên tự tại, bản lĩnh vững vàng, tự tin của con người Văn học thời Lý mở đầu những truyền thống lớn của dòng văn học viết và văn học Thiền tông nên đã có vị trí nhất định; thơ Thiền thời này thật gắn bó với đời sống dân tộc Về văn học Phật giáo thời Trần, các tác giả đã nhận định: xét về mặt học thuật, trước hết phải nói đến những trước tác về Phật học, văn học thời Trần phản ánh sự dung hợp của Tam giáo, đồng thời chỉ ra xu hướng phân công giữa Phật và Nho, thơ của các vị vua tu thiền, các nhà sư thể hiện một niềm yêu đời, yêu thiên
nhiên tha thiết Đặc biệt, trong Lời giới thiệu tác phẩm có viết:
“Từ thế kỷ X đến thế kỷ XV đã hình thành mô ̣t lực lượng sáng tác văn ho ̣c ngày càng đông đảo Căn cứ vào những tài liê ̣u hiê ̣n có thì trong non năm thế kỷ của lịch sử văn học viết có khoảng một trăm hai mươi tác giả Từ thế kỷ X đến thế kỷ XII có trên 50 tác giả trong số đó đa số là các nhà sư , từ thế kỷ XIII đến thế kỷ thứ XIV có trên 60 tác giả trong số đó đa số là nhà Nho ” [81, tr.15]
Trang 17Điều khẳng đi ̣nh trên cho thấy, cùng với quá trình Phật giáo du nhập vào Viê ̣t Nam, quá trình hình thành và phát triển nền văn học viết Việt Nam , dòng văn học Phâ ̣t giáo Viê ̣t Nam cũng được hình thành và trở thành ngo ̣n cờ tiên phong trong công cuô ̣c khai phóng văn hóa dân tô ̣c Dòng văn học Phật giá o đã đa ̣t được đỉnh cao của mình dưới thời Lý - Trần với những tác giả , tác phẩm tiêu biểu là những di sản văn học vô giá của nền văn hóa Đại Việt nói riêng và của dân tộc Việt Nam , đươ ̣c lưu truyền mãi muôn đời Ngoài các bình chú của các soạn giả hoặc người dịch rất đáng được tham khảo, thì các công trình trên đều là nguồn tư liệu gốc để luận án lấy làm minh chứng cho những đóng góp về mọi mặt của các thiền sư thời
Lý - Trần
Như vậy, văn học Phật giáo thời Lý chủ yếu là của thiền sư, còn thời Trần thì
ít hơn, điều này cho thấy, văn học Phật giáo thời Lý mang đậm tư tưởng triết lý Phật giáo, trình bày nhiều về nội dung giáo lý nhà Phật hơn sơ với thời Trần
- Trong công trình Các khuynh hướng văn học thời Lý - Trần [48] tác giả
Nguyễn Pha ̣m Hùng (2008) qua nghiên cứu các khuynh hướng văn học thời Lý - Trần, đã nhận định rằng khuynh hướng văn học thiền chiếm vị thế là dòng chủ lưu, bởi vì phần lớn những tác phẩm văn học tiêu biểu có giá trị tạo nên bước ngoặt thời đại đều của các tác giả là Thiền sư
- Thích Giác Toàn (2011) trong tác phẩm Thẩm mỹ Phật giáo thời Lý - Trần
qua văn chương [107] đã một lần nữa khẳng định, thơ văn thời Lý - Trần chẳng
những mang tính thẩm mỹ Phật giáo của riêng thời đại mà còn là cái đẹp muôn đời của dân tộc và nhân loại Với lối viết giản dị của một vị sư chứng ngộ lẽ vô thường
và qua cái nhìn minh triết của Phật giáo, tác giả đưa đến cho người đọc những trải nghiệm, những cảm nhận thật sâu sắc về lẽ vô thường và thường, về vô ngã và ngã,
về có và không, về bất tịnh và tịnh… Và ngay trong những cặp phạm trù ấy đã thể hiện rõ sự dung hợp của hai mặt đối lập, mà ranh giới giữa chúng chỉ là một hơi thở, một phần nhỏ trong niệm thức (sát - na) Ví như, khi tác giả quán niệm, vô thường
và thường tương tự như hai mặt của một tờ giấy Giác ngộ thì là cái đẹp, cái trác tuyệt; không giác ngộ (không thấu triệt) thì nó sẽ trở thành bi kịch, vì khi biết thân
Trang 18vô thường rồi, thì bi quan, chán nản, bế tắc cuộc sống… đều xem như là bi kịch do
sự sợ hãi trước cái vô thường Tác giả chia nội dung cuốn sách này làm bốn phần
Ba phần đầu là nội dung chính thể hiện những nghiên cứu khoa học nghiêm túc của tác giả trên cơ sở Phật giáo Việt Nam trong mối tương quan với dân tộc, văn hóa dân tộc, đặc biệt là dấu ấn của nó trong văn chương thời Lý - Trần, và những giá trị thẩm mỹ tự thân của nó Phần bốn, là những đánh giá, kết luận của tác giả cho người đọc dễ lĩnh hội
1.1.2 Tài liệu nghiên cứu lịch sử Phật giáo Việt Nam và các Thiền sư thời
Lý - Trần
Mảng tài liệu nghiên cứu về lịch sử Phật giáo, đặc biệt là lịch sử Phật giáo thời
Lý - Trần có đề cập đến vai trò của các thiền sư thời kỳ này trong công cuộc xây dựng và phát triển văn hóa Đại Việt có khá nhiều và đều khẳng định quá trình Phật giáo song hành cùng dân tộc, Phật giáo gắn bó với dân tộc và đã ảnh hưởng sâu đậm đến đời sống văn hóa, tâm linh Việt Nam như thế nào kể từ khi du nhập và phát triển cho đến ngày nay Có thể kể đến các công trình về lịch sử Phật giáo sau đây:
- Lịch sử Phật giáo Việt Nam [101] do Nguyễn Tài Thư (chủ biên, 1988), là
công trình tiếp cận các vấn đề liên quan đên Phật giáo dưới góc độ lịch sử, được các tác giả trình bày thành năm phần Phần thứ nhất: Phật giáo Việt Nam thời kỳ du nhập và Bắc thuộc (từ đầu công nguyên đến đầu thế kỷ X); Phần thứ hai: Phật giáo
từ thời Ngô đến thời Trần (giữa thế kỷ X - XIV), trong phần này có giới thiệu về một số thiền sư tiêu biểu của hai triều đại Lý - Trần; Phần thứ ba: Phật giáo từ Hậu
Lê đến Tây Sơn (thế kỷ XV - XVIII); Phần thứ tư: Phật giáo dưới triều Nguyễn (thế
kỷ XIX) và Phần thứ năm: Phật giáo từ đầu thời Pháp thuộc (cuối thế kỷ XIX) đến Cách mạng tháng Tám năm 1945
- Lịch sử Phật giáo Việt Nam [95] của Nguyễn Đăng Thục (1991), là tác
phẩm trình bày toàn bộ tiến trình lịch sử Phật giáo từ khi du nhập cho đến thời hiện đại Công trình tiếp cận vấn đề dưới góc độ lịch sử nên cũng đề cập đến hành trạng
và tiểu sử của các thiền sư tiêu biểu trong lịch sử Phật giáo dân tộc
- Lược sử Phật giáo Việt Nam [116] của Thích Minh Tuệ (1993) gồm có 8
chương Chương 1: Nguồn gốc lịch sử và đặc điểm chung của Phật giáo; Chương 2:
Trang 19Phật giáo thời đại du nhập và Bắc thuộc; Chương 3: Phật giáo thời Hậu Lý Nam Đế
và Bắc thuộc lần thứ ba; Chương 4: Phật giáo thời Ngô, Đinh, Tiền Lê; Chương 5: Phật giáo thời nhà Lý; Chương 6: Phật giáo thời nhà Trần; Chương 7: Phật giáo từ nhà Hồ đến Tây Sơn; Chương 8: Phật giáo Triều Nguyễn và Pháp thuộc Trong tác phẩm này, chương 5 và 6, khi nói về Phật giáo dưới triều Lý - Trần, tác giả cũng đã
đề cập đến các chùa tháp và Thiền sư của hai thời kỳ này
- Đạo Phật Việt Nam [70] của Thích Đức Nghiệp (1995), là công trình nêu
lên rất nhiều vấn đề của Phật giáo dân tộc như: lịch sử, chùa tháp, về đặc điểm Phật giáo, đạo đức Phật giáo, ảnh hưởng của Phật giáo đối với văn hóa, nghệ thuật và nhân sinh quan của người Việt Nam và cả kinh điển Phật giáo Việt Nam Đây là công trình được xuất bản trên cơ sở sưu tầm và tuyển chọn các bài nghiên cứu của tác giả về những vấn đề liên quan đến Phật giáo Việt Nam Tuy nhiên, đây là công trình nghiên cứu toàn bộ Phật giáo Việt Nam trong lịch sử nên chỉ trình bày khá sơ lược về bức tranh thời Lý - Trần ở những điểm chính Riêng về Phật giáo thời Lý - Trần cuốn sách mới nêu một số đóng góp của Phật giáo mà chưa thực sự nghiên cứu một cách hệ thống và chuyên sâu
- Góp phần tìm hiểu tư tưởng triết học Phật giáo Trần Thái Tông [30] của Nguyễn Hùng Hậu (1996), và cùng tác giả này (1997) trong công trình Lược khảo
tư tưởng Thiền Trúc Lâm Việt Nam [31] đã giới thiệu những nội dung cơ bản trong
tư tưởng của Thiền Trúc Lâm Việt Nam Đây là Thiền phái đã làm nổi bật những
nét chấm phá của Phật giáo Việt Nam Cùng một chủ để nêu trên còn có cuốn Tư
tưởng triết học của Thiền phái Trúc Lâm đời Trần [8] của Trương Văn Chung
(1998) Chúng đều là các công trình giới thiệu và phân tích những tư tưởng triết học đặc sắc của Trần Thái Tông qua các tác phẩm tiêu biểu của ông và những nội dung
tư tưởng triết học của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử Các tác giả nêu trên đều đã khẳng định những đóng góp cũng như vai trò của Trần Thái Tông đối với sự phát triển của triết học Phật giáo và sự phát triển của thiền phái Trúc Lâm đời Trần
- Việt Nam Phật giáo sử luận gồm 3 tập [56] của Nguyễn Lang (2000) đã
cung cấp nhiều tư liệu quý cho giới nghiên cứu văn hóa, văn học và lịch sử Phật giáo Việt Nam từ khởi thủy đến hiện đại và đã dành trọn 9 chương để viết về Phật
Trang 20giáo thời Lý - Trần (từ trang 184 đến trang 390) Tác giả đánh giá: “Phật giáo Trúc Lâm là một nền Phật giáo độc lập, uy tín tinh thần của nó là uy tín tinh thần quốc gia Đại Việt Nó là xương sống của một nền văn hoá Việt Nam độc lập Nền Phật giáo này tuy có tiếp nhận những ảnh hưởng của Phật giáo Trung Hoa, Ấn Độ và
Tây Tạng nhưng vẫn giữ cá tính đặc biệt của mình” [56, tập 1, tr.482]
Cùng một chủ đề lớn như công trình trên, Lê Mạnh Thát (2001) có Lịch sử
Phật giáo Việt Nam gồm 2 tập [85], là công trình biên soạn về lịch sử Phật giáo,
được tác giả chia làm ba thời kỳ lớn Thời kỳ thứ nhất, từ khởi nguyên đến khi Lý Bôn xưng đế lập nhà nước Vạn Xuân; Thời kỳ thứ hai, từ lúc dòng thiền Pháp Vân
ra đời cho đến cuối đời Trần Thời kỳ thứ ba, từ đầu nhà Lê tới cận đại Trong đó, khi viết về Phật giáo ở thời kỳ thứ hai, tác giả có đề cập nhiều đến các Thiền sư tiêu biểu như Vạn Hạnh, Viên Chiếu, Pháp Loa, Huyền Quang… trên các phương diện hành trạng và tiểu sử, tư tưởng cơ bản của họ
- Lịch sử đạo Phật Việt Nam [40] của Nguyễn Duy Hinh (2009) cũng là công
trình đặc sắc về lịch sử Phật giáo Việt Nam Tác phẩm gồm bốn chương ứng với các thời kỳ chính Chương 1: thời kỳ truyền nhập (thế kỷ II - V); Chương 2: thời kỳ phát triển (thế kỷ VI - X); Chương 3: thời kỳ cực thịnh (thế kỷ XI - XIV); Chương 4: Phật giáo chấn hưng và canh tân (thế kỷ XV - XX) Ở chương 3 khi nói về thời Phật giáo cực thịnh tác giả cũng liệt kê những sự kiện lịch sử, một số đóng góp của các Thiền sư trong việc phát triển giáo hội Phật giáo, văn hóa, xã hội Đại Việt
- Phật giáo Việt Nam (từ khởi nguyên đến 1981) [20] của Bồ đề Tân Thanh -
Nguyễn Đại Đồng (2012), là cuốn sách giới thiệu về Phật giáo Việt Nam từ khởi nguyên đến năm 1981 - thời điểm thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam Nội dung
có 12 chương trình bày về Phật giáo từ khi ra đời ở Ấn Độ, lan truyền sang Trung Hoa và Việt Nam Trong chương 6 và chương 7 có trình bày về Phật giáo thời Lý - Trần (1009 - 1400), và có một số khái quát sơ lược về các Thiền sư
Trên đây là những công trình cơ bản nhất cung cấp một tổng quan chung về lịch sử Phật giáo, có đề cập đến triết học Phật giáo, ít nhiều đều nói về một số đóng góp của Phật giáo, về vai trò của các Thiền sư đối với tư tưởng, văn hóa, xã hội Việt Nam trong các giai đoạn khác nhau nhưng ở mức độ khái quát chung
Trang 21Đối với công trình nghiên cứu chuyên về các Thiền sư thời Lý - Trần, có thể
kể đến các công trình tiêu biểu:
Các nhà nghiên cứu đã đề cập khá nhiều đến vấn đề lịch sử thời Lý - Trần, trong đó có nhắc đến Phật giáo cũng như một số Thiền sư tiêu biểu cho giai đoạn lịch sử này
- Tuệ Trung Thượng sĩ với Thiền tông Việt Nam (nhiều tác giả, 1993) [147],
là công trình sưu tầm và giới thiệu về Tuệ Trung Thượng sĩ và một số Thiền sư lớn thời Trần Công trình này đã tiếp cận nghiên cứu cuộc đời, sự nghiệp văn học nghệ thuật của các Thiền sư và chỉ ra những giá trị nội dung tư tưởng và nghệ thuật trong các tác phẩm văn học của họ ở thời kỳ này
Cũng giống như các tác phẩm khác thiên về tổng quan bức tranh lịch sử Phật
giáo Việt Nam, tác phẩm Lược sử Phật giáo Việt Nam [116] của Thích Minh Tuệ
(1993) cũng chưa phải là tác phẩm chú trọng viết về các Thiền sư trong công cuộc xây dựng và phát triển văn hóa dân tộc, song tác giả cũng trình bày sơ lược (từ trang
474 đến 480) về các Thiền sư, liệt kê tương đối đầy đủ những nhân vật nổi bật của Phật giáo từ khởi nguyên cho đến 1975 Khi nói về vai trò của các Thiền sư trong công cuộc dựng nước và phát triển văn hóa dân tộc với tinh thần nhập thế, tác giả nhận định: “Các Thiền sư luôn luôn có quan điểm quần chúng Với tinh thần “nhập thế”, Thiền sư tham dự các mặt hoạt động của đất nước, nhân dân Kể từ các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần trở về sau, tinh thần nhập thế của Phật giáo Việt Nam vô cùng rõ nét Các nhà tu vừa là Thiền sư, vừa là nghệ sĩ, vừa là nhà chính trị ngoại giao, vừa là
người nông dân chít khăn mỏ quạ, xuống đồng cày cấy ” [116, tr.476-477]
Nghiên cứu trực tiếp, toàn diện về Phật giáo thời Lý - Trần và các Thiền sư thời Lý - Trần là một mảng đề tài khá thú vị, dù đã được khai thác ở nhiều bình diện khác nhau nhưng vẫn luôn hấp dẫn và người nghiên cứu khi tiếp cận các nguồn tài liệu mới vẫn tìm được những giá trị mới mẻ Có thể kể đến các công trình loại này:
- Thiền học đời Trần [139] tập hợp các bài viết của nhiều tác giả (1995), là tác
phẩm tiêu biểu giới thiệu về nội dung tư tưởng của các Thiền sư thời Trần tiêu biểu như Tam tổ Trúc Lâm Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang… Trong tác phẩm này, các tác giả khẳng định những giá trị tư tưởng, phân tích đặc điểm cũng như diện mạo
Trang 22của thiền tông thời Trần Đó là một thời kỳ phát triển mạnh mẽ và tạo dựng được dòng thiền tông mang sắc thái Việt Nam
- Trong Thiền học Trần Thái Tông [97] Nguyễn Đăng Thục (1996) đã giới
thiệu và phân tích những nội dung tư tưởng thiền học của Trần Thái Tông, một ông vua, đồng thời cũng là một Thiền sư tiêu biểu, có nhiều đóng góp cho dòng thiền học thời Trần
Tham đồ hiển quyết và thi tụng các thiền sư đời Lý [118] của Thích Thanh
Từ (1997), là công trình tiêu biểu về tư tưởng và các tác phẩm thi tụng của thiền sư thời Lý Đây là công trình tiếp cận dưới góc độ lịch sử văn học Điểm nổi bật là trong công trình này, tác giả đã rất công phu và hệ thống khi lựa chọn và giới thiệu những thiền sư tiêu biểu đã có công tạo ra bước ngoặt cho lịch sử Phật giáo thời Lý như Vạn Hạnh, Viên Chiếu, Từ Đạo Hạnh
- Bàn sâu về một thiền sư, tác giả Nguyễn Duy Hinh (1999) có tác phẩm Tuệ
Trung, nhân sĩ, thượng sĩ, thi sĩ [38] là công trình điển hình về tư tưởng của Tuệ
Trung Thượng Sĩ Ông thực sự vừa là một cư sĩ nhưng đồng thời cũng là một tu sĩ, một Thiền sư Phật giáo tiêu biểu thời Trần Nội dung chính của công trình tập trung phân tích các tác phẩm tiêu biểu của Tuệ Trung Thượng sĩ và khẳng định những giá trị cũng như những đóng góp của ông cho Phật giáo, cho tư tưởng và văn hóa Việt Nam là không nhỏ
- Trong công trình Việt Nam Phật giáo Sử luận [56], tập 1, Nguyễn Lang
(2000) đã dành một số chương riêng viết về các Thiền sư của thời kỳ này như Thiền
sư Thường Chiếu, Hiện Quang, Trúc Lâm Quốc sư, Đại Đăng quốc sư, Tiêu Diêu thiền sư (chương IX, trang 205 đến trang 217); Thiền sư Pháp Loa, Huyền Quang (chương XIII, XIV, trang 313 đến trang 354) và một số Thiền sư khác (chương XV, trang 354 đến trang 371) Khi nhận định về vai trò của các Thiền sư trong công cuộc dựng nước, giữ nước và xây dựng nền văn hóa Đại Việt thời Lý - Trần, tác giả viết: “Ý hướng xây dựng một nền văn hóa Việt Nam độc lập của các Thiền sư rất rõ rệt Về phương diện địa lý học đã muốn dời kinh đô tới một nơi có thể dựng nên sự nghiệp độc lập lâu dài Về phương diện học thuật, họ có công đào tạo một lớp trí thức không cố chấp, biết dung hợp các ý thức hệ dị biệt như Nho, Lão, Phật Về
Trang 23phương diện văn hóa, họ dựng nên được cả một triều đại thuần từ, lấy đức từ bi làm căn bản cho chính trị Về văn học, họ là những người đóng góp vào vấn đề sáng tác nhiều nhất trong nước, dù phần lớn những sáng tác này nằm trong những chủ đề Phật giáo Về mỹ thuật, những công trình kiến trúc và điêu khắc của Phật giáo cũng
là những đóng góp mỹ thuật quan trọng nhất trong thời đại” [56, tập 1, tr.189]
- Thiền sư Việt Nam [120] do Thích Thanh Từ (biên soạn, 2004), là công
trình về lịch sử và hành trạng của các Thiền sư trong lịch sử Phật giáo Việt Nam
- Việt Nam văn minh sử cương: Văn minh Đại Việt [78] của Lê Văn Siêu
(2004) Đây là công trình lịch sử, được tác giả chia làm ba phần lớn: Phần thứ nhất:
giao thời Ngô, Đinh, Lê; Phần thứ hai: chính sự Trung Hoa; Phần thứ ba: thời Trần Trong phần thứ hai, tác giả trình bày về danh sách cao Tăng thời Lý (trang 209 đến 224), tuy nhiên, cũng mới chỉ dừng lại ở mức đưa ra các thông tin có tính liệt kê về tên tuổi, sơn môn và nơi tu nghiệp Khi đánh giá về vai trò của các Thiền sư trong công cuộc xây dựng nền văn hóa Đại Việt, ông viết: “Ta thấy những bậc thầy về tư tưởng như Cứu Chỉ, Ngộ Ấn, Viên Chiếu hiện diện bên những Thiền sư nhúng tay vào thế sự với những tài ba lỗi lạc như Vạn Hạnh, Viên Thông cả những Thiền sư
mà công tu chứng đến đỗi đích viên mãn tối cao với thành quả cho người đời nhìn thấy thực rõ ràng về tài y lý và pháp thuật thần thông như Không Lộ, Giác Hải, Thông Huyền hoặc sự ướp xác như Từ Đạo Hạnh” [78, tr.235]
Hay, “Những cuộc thuyết pháp giảng kinh sách cho các môn đồ, những cuộc thi tôn giáo để sa thải những tăng chúng thất học bắt phải hoàn tục đã nâng giá trị người tu hành lên khi đã có hồi (cuối Lý) bị hạ thấp quá Những nhà lãnh đạo tinh thần mới, không chỉ là những thường dân mà là những vị vua, những vương hầu quý tộc và những quan lại cao cấp đã khiến các tăng đồ cảm thấy một niềm hãnh diện khi tu hành để lo học hỏi và đào sâu giáo lý” [78, tr.420]
Công trình Nhà Trần và con người thời Trần [51] của Vũ Ngọc Khánh
[2004] đã tiếp cận nghiên cứu lịch sử dưới góc độ văn hóa học Tác giả đã dành nhiều nhận định về các Thiền sư trong lịch sử các triều đại phong kiến ở Việt Nam:
“Hình như khá nhiều trường hợp chúng ta viết về Phật giáo Việt Nam, nhưng ta ít quan tâm đến việc các vua, các nhà sư đời Trần đã có chủ trương xây dựng một thứ tôn giáo riêng của người Việt Nam, dù đó là tôn giáo Phật Thử theo dõi vị Tổ Trúc Lâm thứ nhất (Trần Nhân Tông), ta sẽ thấy ông vua này gần như là một hiện thân
Trang 24khác của Tất Đạt Đa ở đất nước Việt Nam này Hiểu như vậy, ta mới không ngạc nhiên là khi tiếp thu các yếu tố Phật, phái Trúc Lâm đã chuyển được những gì tiêu cực thành tích cực, để cho con người Phật tử, với con người xây dựng đất nước, người chiến sĩ cứu nước thành một với nhau Phật giáo nhà Trần là một bình diện văn hóa mới trong lịch sử văn hóa dân tộc” [51, tr.7-8]
- Văn minh Đại Việt [39] của Nguyễn Duy Hinh (2005) được chia thành 2
chương 8 tiết nhằm trình bày cuộc đại hội nhập văn hóa Việt - Trung - Ấn để hình thành văn minh Đại Việt từ năm 111 TCN đến năm 1883 Đặc biệt, trong tiết 2 (từ trang 525 đến 660) chương 2, khi nói về Phật giáo Đại Việt, tác giả cũng nhắc nhiều đến vai trò tạo dựng và khai sáng văn hóa dân tộc của các thiền sư thời Lý - Trần như Khuông Việt, Vạn Hạnh, Từ Đạo Hạnh, Thiền Lão, Viên Chiếu, Mãn Giác, Diệu Nhân, Thông Biện, Trần Thái Tông, Pháp Loa và Huyền Quang Viết về vai trò của Phật giáo và của Thiền sư thời Lý, tác giả nhấn mạnh: “Các vua nhà Lý đều luôn luôn gắn bó với Phật giáo hoặc tự thân tu tập, hoặc sử dụng các nhà sư danh tiếng vào chức vụ tăng quan hay quốc sư, hoặc luôn tham vấn quốc sự với các nhà
sư tài năng Các nhà sư danh tiếng thường tinh thông Nho giáo và tuy họ tham chính nhưng không thấy một chính sách kinh tế xã hội nào của nhà Lý xuất phát từ giáo lý Phật giáo Lý do rất đơn giản bản thân Phật giáo không phải là lý luận kinh bang tế thế mà chỉ là giáo lý tâm linh thuần túy” [39, tr.564]
- Nhà Lý trong văn hóa Việt Nam [66] và Nhà Trần trong văn hóa Việt Nam
[67] là hai công trình của Nguyễn Bích Ngọc (2009) có đề cập và giới thiệu một cách tổng hợp về những con người thời Lý - Trần: các vị minh quân, phụ nữ, các vị danh tướng, các nhà văn hóa, các trạng nguyên, các vị thánh, các đền chùa (lễ hội) liên quan đến thời Lý - Trần Trong hai tác phẩm này, tác giả đã trình bày một số đánh giá về vai trò của các Thiền sư, trong đó có những Thiền sư xứng danh là
những nhà văn hóa Đại Việt Ví như, trong Nhà Trần trong văn hóa Việt Nam, tác
giả đã dành riêng viết về các Thiền sư Pháp Loa và Huyền Quang ở phần 5 “Các nhà văn hóa đời Trần” (từ trang 101 - 107) Điều này chứng tỏ, trong lịch sử dân tộc, các vị Thiền sư xuất sắc và tiêu biểu cũng chính là những nhà văn hóa, tư tưởng của thời đại
- Phật giáo thời Lý với 1000 năm Thăng Long - Hà Nội [142] là Kỷ yếu hội
thảo khoa học (2010) tập hợp các bài viết, trong đó có những bài viết đề cập đến một
Trang 25số đóng góp của các Thiền sư tiêu biểu thời Lý, như Dấu ấn thiền sư Vạn Hạnh với
kinh thành Thăng Long của Thích Nữ Viên Giác; Vai trò nhập thế của các thiền sư thời Lý của Lê Đức Hạnh; Lý Thái Tông: Người khởi đầu loại hình tác gia Hoàng đế
- thiền sư - thi sĩ của Nguyễn Hữu Sơn
- Các công trình Phật giáo đời Lý [140], và Phật giáo đời Trần [141] của Viện
Nghiên cứu Phật học Việt Nam (năm 2010, 2011) đều là tập hợp những bài viết về Phật giáo thời Lý và Trần Về thời Lý, có 30 bài viết của các học giả nghiên cứu, trao đổi, đánh giá về Phật giáo thời kỳ này Tiêu biểu có thể kể đến một số bài viết của các
tác giả có đề cập đến đóng góp của các thiền sư như: Những đóng góp của Phật giáo
thời Lý đối với Thăng Long - Hà Nội của tác giả Nguyễn Đại Đồng; Thiền sư Vạn Hạnh trong chiến lược dựng nước và giữ nước thời Lý của Thích Nữ Viên Giác; Ni
sư Diệu Nhân - tổ sư khơi nguồn cho Ni giới Việt Nam của Thích Nữ Bổn Giác
Trong “Lời đầu sách”, ban biên soạn viết: “Thời Lý, khi nền Phật giáo phát triển huy hoàng thì cũng là thời mà đất nước Đại Việt vươn lên một cách hùng cường đến đỉnh cao tột Cũng chính lúc này, các vị Tăng lữ đóng vai trò quan trọng trong quá trình ổn định nếp sống xã hội, hướng mọi người đến với những điều tốt đẹp trong cuộc sống, đồng thời rèn luyện nội tâm mỗi người trở thành một nhân cách hoàn mỹ để phụng sự cho dân tộc
Do đó, Phật giáo thời Lý là nét son trong nền văn hóa Việt Tìm về bản sắc Phật giáo đời Lý là tìm về bản sắc dân tộc Đâu những: Vạn Hạnh, Không Lộ, Mãn Giác,… đều là nhân cách lớn của mọi thời đại…” [130, tr.8 - 9]
Về đời Trần, cuốn Phật giáo đời Trần [141] tập hợp tới 47 bài nghiên cứu
toàn diện về những đóng góp, vai trò và giá trị của Phật giáo đối với nhà nước Đại Việt thời Trần Có thể kể đến một số bài nghiên cứu, đánh giá về vai trò của các
Thiền sư trong giai đoạn này như Tuệ Trung Thượng sĩ - Một Thiền sư cư sĩ triều
Trần của Thích Nữ Giác Bình; Đóng góp của thiền phái Trúc Lâm vào quá trình phát triển văn hoá Đại Việt của tác giả Thích Nữ Giới Định; Trần Thánh Tông - Vị vua kiệt xuất, Thiền sư lỗi lạc đời Trần của Nhật Nguyệt; Thiền sư Huyền Quang - Người có tâm hồn nghệ sĩ của Thích Nữ Quảng Phước; Những gương mặt Ni giới
và Nữ cư sĩ tiêu biểu của Phật giáo thời Trần của Nguyên Huệ… Khi nhận định về
vai trò của thiền sư đối với văn minh Đại Việt, tác giả Lời nói đầu sách viết:
Trang 26“Triều đại nhà Trần còn là giai đoạn vàng son trong lịch sử Việt Nam Với hào khí “Đông A” ba lần đại thắng giặc Nguyên Mông xâm lược, trang sử Đại Việt nói chung, trang sử Phật giáo Việt đời Trần nói riêng, đã đóng góp cho xã hội nhiều giá trị quý báu Cung cách hành xử của các đấng quân vương kiêm Thiền sư sống thoát tục, vô nhiễm giữa cuộc đời như: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông,… đã soi rọi vào tâm thức nhân quần xã hội bằng triết lý tùy duyên bất biến, cư trần lạc đạo, vô ngã vị tha” [141, tr.5 - 6]
Các cuốn sách trên đã không chỉ cung cấp một bức tranh tổng thể về lịch sử Phật giáo Việt Nam, mà còn giới thiệu nhiều về thân thế, sự nghiệp của các Thiền
sư Việt Nam; Vai trò của Phật giáo trong các triều đình với các chức danh chính thức như Quốc sư, Tăng lục và Ký lục được đặt trong triều Lý; Sự tham gia của các thiền sư vào các công việc triều chính; Các chuyến du hành sang Ấn Độ và Trung Quốc tìm Phật pháp của các Thiền sư; Biên soạn lại và truyền bá trong nước các sách kinh điển Phật giáo; Những tư tưởng thế giới quan, nhân sinh quan, đạo đức của Phật giáo và sự nội địa hoá những tư tưởng đó cho phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam; Xây dựng chùa chiền, kiến trúc, âm nhạc và văn hoá Phật giáo nói chung ở Việt Nam; Các triều đại Lý và Trần là giai đoạn Phật giáo phát triển toàn thịnh nhất trong lịch sử Phật giáo Việt Nam, nên các tài liệu trên phần lớn đều dành thời lượng đáng kể khảo cứu Phật giáo giai đoạn này
- Quan hệ nhà nước quân chủ Lý - Trần với Phật giáo [109] của Thích Minh
Trí (2012), là công trình viết về mối quan hệ giữa Phật giáo với chính trị dưới triều đại Lý - Trần Trong công trình này, tác giả khẳng định tinh thần “hộ quốc an dân” của Phật giáo và cho đó là bệ đỡ cho những nỗ lực xây dựng nhà nước quân chủ thân dân, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và tạo ra một xã hội phát triển về mọi phương diện Công trình cũng phân tích và làm nổi bật lên được vai trò cố vấn chính trị, quân sự, ngoại giao của các Thiền sư dưới thời Lý - Trần và có những đánh giá xác đáng về giá trị và bài học của những đóng góp đó trong lịch sử Việt Nam
Ngoài ra, các tạp chí như Nghiên cứu Tôn giáo; Triết học; Công tác Tôn
giáo… cũng thường xuyên dành số trang nhất định in các bài nghiên cứu Phật giáo
Việt Nam thời Lý - Trần Chẳng hạn Kiều Thu Hoạch (1965) có bài Tìm hiểu thơ
văn các nhà sư thời Lý Trần [43], Nguyễn Hùng Hậu (1990) với bài Tinh thần nhập
Trang 27thế của Phật giáo Việt Nam thời Lý - Trần [28], hay bài Phật giáo Việt Nam hiện nay học tập và tiếp thu được gì ở Phật giáo đời Trần [4] của tác giả Minh Chi
(2005), Phật giáo và mối liên hệ với xã hội Đại Việt thời Trần thế kỷ XIII - XIV [7] của tác giả Nguyễn Thị Phương Chi (2008), Vai trò của Phật giáo đối với sự ổn
định và phát triển xã hội [53] của Nguyễn Thị Ngọc Lan, Nguyễn Thế Cường
(2008),… Các bài báo này đều có giá trị nhất định, đáp ứng phần nào yêu cầu tìm hiểu các vấn đề lịch sử Phật giáo và các thiền sư Phật giáo đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam nói chung, văn hóa Đại Việt thời Lý - Trần nói riêng
1.2 Các vấn đề và thuật ngữ dùng trong nghiên cứu của luận án
1.2.1 Các vấn đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu
Vai trò của các Thiền sư trong nền văn hóa Đại Việt là rất lớn, họ vừa là chủ thể góp phần sáng tạo văn hóa, lại vừa là khách thể thưởng thức văn hóa, vừa tạo dựng, lại vừa hoàn thiện làm phong phú nền văn hóa Đại Việt trên tinh thần nhập thế, tạo nên thời đại Phật giáo vàng son trong lịch sử Việt Nam Phật giáo thời Lý - Trần thể hiện giáo lý đạo Phật và tinh thần nhập thế của các Thiền sư Theo đó, các nhà sư quan niệm về hạnh phúc là sự vắng mặt của khổ đau Nếu có khổ đau là không có hạnh phúc Không ai muốn khổ đau, ai cũng muốn hạnh phúc Đó là một thực tế Thông thường con người thường tránh nói chuyện đau khổ, tuy nhiên trong Phật giáo, người thực hành Phật pháp không hề chạy trốn khổ đau mà trái lại thường quán sát về nó, nhờ thế mà có thể thực nghiệm đời sống tâm linh
Như vậy, có thể nói, vai trò của các Thiền sư với tinh thần nhập thế góp phần xây dựng và hoàn thiện nền văn hóa Đại Việt là rất lớn Tuy nhiên, qua điểm lại tình hình nghiên cứu nêu trên, thì vẫn còn một số vấn đề cần được nghiên cứu tiếp như sau:
- Các nghiên cứu về Phật giáo đều có đề cập đến vai trò của các Thiền sư đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa Đại Việt thời Lý - Trần nhưng chưa thật hệ thống và các phân tích chưa thật toàn diện, các công trình mới chỉ tiếp cận ở một số khía cạnh cụ thể như đóng góp của các Thiền sư trong văn học, nghệ thuật, quân sự, ngoại giao… Phần lớn các công trình đều dừng lại ở mức độ nêu lên vấn
đề mà chưa có sự đánh giá và phân tích thật sâu sắc, chi tiết
Trang 28- Chưa có một công trình nghiên cứu nào đánh giá một cách toàn diện tất cả những đóng góp, vai trò của các Thiền sư đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển nền văn hóa Đại Việt thời Lý - Trần
- Do vậy, rất cần nghiên cứu vai trò của các Thiền sư thời Lý - Trần đối với việc xây dựng và phát triển nền văn hóa Đại Việt trong công cuộc xây dựng và bảo
vệ đất nước, góp phần chỉ ra vị trí của các Thiền sư, trí thức Phật giáo, cũng như vai trò của Phật giáo làm bệ đỡ tư tưởng của mô hình tập quyền để từ đó rút ra những bài học lịch sử đối với thực tiễn ở Việt Nam hiện nay
- Khi nghiên cứu vai trò của các Thiền sư thời Lý - Trần đối với nền văn hóa Đại Việt, từ sự phân tích những giá trị, những kinh nghiệm và bài học lịch sử, chúng tôi hy vọng sẽ góp phần minh định vai trò của Phật giáo trong xã hội Việt Nam nói chung và văn hóa Việt Nam nói riêng không chỉ trong quá khứ lịch sử, mà còn cả đối với hiện tại Với đường lối hiện nay của Đảng và Nhà nước Phật giáo trở thành một nhân tố quan trọng để giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, điểm tựa tinh thần vững chắc cho công cuộc đổi mới và hiện đại hóa đất nước Trong sự nghiệp cao cả đó các Thiền sư Việt Nam cần phải là những người đi đầu trong việc khẳng định vai trò của Phật giáo đối với văn hoá dân tộc trong bối cảnh hiện nay
Vượt lên trên tất cả, theo suy nghĩ của chúng tôi, vào thời Lý - Trần và xuyên suốt chiều dài lịch sử Việt Nam, cơ sở của văn hoá, chất keo kết dính văn hoá, là tinh thần yêu nước, hoà đồng cùng dân tộc của các nhà tu hành Phật giáo Tinh thần yêu nước đó như một giá trị thiêng liêng, không đơn giản là một thành tố, dù rất cơ bản của văn hoá, mà chủ yếu là thành tố khởi tạo dẫn dắt mọi suy nghĩ và hành động của các Thiền sư Và đây cũng là điểm mấu chốt luận án cần làm rõ
Chính vì những lý do đó mà chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài khó khăn này với mong muốn hệ thống hóa và đánh giá một cách toàn diện nhất những đóng góp
cơ bản cũng như vai trò của các Thiền sư đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam thời Lý - Trần Từ kết quả nghiên cứu đó chúng tôi hy vọng sẽ rút ra được ý nghĩa về sự kế thừa, khai thác và phát huy những giá trị vô biên mà các Thiền sư đã để lại cho nền văn hóa Việt Nam, và nói riêng là vai trò của họ trong văn hóa Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh giao lưu văn hóa quốc tế, hội nhập
và phát triển toàn cầu như hiện nay
Trang 291.2.2 Một số thuật ngữ và khái niệm dùng trong luận án
- Thuật ngữ Thiền sư: Trong tài liệu Phật giáo chính tín [73] của Pháp sư
Thánh Nghiêm có định nghĩa về Thiền sư như sau: Từ Thiền sư vốn được dùng để
chỉ vị Tỷ khiêu tu thiền Vì vậy, cuốn Tam đức chỉ quy quyển 3 viết “Tu tâm tịnh lự
là Thiền sư” Nhưng ở Trung Quốc, từ Thiền sư được dùng trong 2 trường hợp: Một
là nhà vua dùng từ “Thiền sư” khi phong tặng những Tỷ khiêu có đức có học Như vua Trần Tuyên Đế, năm Đại Kiến nguyên niên, phong Hòa thượng Huệ Tư ở Nam Nhạc là Đại Thiền sư Vua Đường Trung Tông, năm thứ 2 niên hiệu Thần Long, sắc phong Hòa thượng Thần Tú là Đại Thông Thiền sư Trường hợp thứ hai là tăng sĩ ngày nay tôn gọi các cao tăng tiền bối là Thiền sư Càng về sau, bất cứ một Tỷ khiêu nào có ít nhiều danh tiếng, đều được tôn là Thiền sư Ở Trung Quốc, Thiền sư không chỉ giới hạn ở thiền tông, mà những người chuyên tu tập tọa thiền của Thiên
Thai Tông, Tịnh Độ Tông… cũng được gọi là Thiền sư Như sách Tục cao tăng
truyện nêu các vị Đạt Ma Thiền sư, Tuệ Văn Thiền sư, Bảo Cái Thiền sư, Đạo Xước
Thiền sư…" [38; tr 145].
Từ điển Nho - Phật - Đạo [123] của Lao Tử và Thịnh Lê (chủ biên, 2001) lại
định nghĩa: Thiền sư là một kiểu danh xưng trong Phật giáo, dùng để chỉ những vị
Tỷ khiêu thông đạt thiền định Thời Phật giáo nguyên thủy, các vị A la hán là những người thông hiểu mọi thiền pháp Đến thời hình thành các phái bộ Phật giáo, xuất hiện các vị Tỷ khiêu có học vấn chuyên môn như: Kinh sư, Luật sư, Tam Tạng sư, Pháp sư, Thiền sư… Trong đó, người chuyên tu tọa thiền, thông hiểu thiền định thì
gọi là Thiền sư Tóm lại, Thiền sư là tu sĩ Phật giáo có tài, đức và danh tiếng hơn
người, có nhiều đóng góp quan trọng cho sự phát triển của đạo pháp và quốc gia Hiểu theo nghĩa đó, từ Thiền sư được sử dụng ở Việt Nam còn có nghĩa là các danh tăng Phật giáo, những người có trí tuệ xuất chúng, đạo hạnh và có nhiều đóng góp cho đạo pháp và dân tộc trong những thời kỳ lịch sử nhất định
- Thuật ngữ Đại Việt: Theo tác giả Nguyễn Duy Hinh (2005) trong Văn minh
Đại Việt [39], Đại Việt là tên gọi dùng để chỉ một truyền thống văn hóa từ năm 938
khi Ngô Quyền xưng vương đến năm 1883 khi nước Pháp đặt chính quyền đô hộ ở nước ta Tất cả trải qua 944 năm bằng khoảng 80% thời gian bị chính quyền Hán Đường đô hộ Chính thức thì danh hiệu Đại Việt chỉ đến năm 1054 mới xuất hiện và
Trang 30có một khoảng thời gian ngắn nó bị gián đoạn do quân Minh chiếm Việt Nam, và phải đến thời Nguyễn (vua Gia Long) mới đổi tên nước thành Việt Nam2, nhưng tác giả cho rằng vẫn nên đưa thời gian đó vào trong khái niệm Đại Việt để biểu thị tinh thần dân tộc xuyên suốt hơn 900 năm Đồng ý và kế thừa quan điểm của học giả
Nguyễn Duy Hinh, trong luận án này tác giả dùng từ Đại Việt với ý nghĩa chỉ tinh
thần, truyền thống văn hóa độc lập dân tộc từ năm Ngô Quyền xưng vương (939) đến khi nhà Nguyễn ký hiệp ước 1883 thừa nhận sự đô hộ của thực dân Pháp Từ Đại Việt trong luận án không có nghĩa chỉ quốc hiệu dù xuất phát từ quốc hiệu, mà
giới hạn phạm vi nghiên cứu là văn hóa Đại Việt ở thời Lý - Trần Như vậy, thuật
ngữ Đại Việt hiểu theo khía cạnh lịch sử chính là chỉ một giai đoạn lịch sử của dân tộc Việt Nam được các triều đại phong kiến sử dụng làm quốc hiệu Tên gọi này chính thức có từ thời trị vì của vua Lý Thánh Tông (1054-1072), vua thứ 3 của nhà
Lý Quốc hiệu Đại Việt tồn tại tổng cộng trong thời gian 723 năm, bắt đầu từ thời vua Lý Thánh Tông đến thời vua Gia Long (1054 - 1804), tên gọi Đại Việt được dùng làm quốc hiệu trong thời kỳ cai trị của các chính quyền nhà Lý, nhà Trần, nhà Hậu Lê, nhà Mạc, nhà Tây Sơn và 3 năm đầu thời nhà Nguyễn (1802 - 1804) Trong quá trình này tên gọi chính thức Đại Việt bị gián đoạn một lần ngắn ngủi 27 năm vào thời nhà Hồ và thời thuộc Minh (1400 - 1427) Năm 1804, vua Gia Long đổi tên nước thành Việt Nam, quốc hiệu Đại Việt chấm dứt hoàn toàn Hiểu theo nghĩa văn hóa Đại Việt chính là chỉ một truyền thống văn hóa từ năm 938 khi Ngô Quyền xưng vương đến năm 1883 khi nước Pháp đặt chính quyền đô hộ ở nước ta
- Văn hóa là khái niệm đa nghĩa, đa tầng lớp, do vậy có nhiều cách tiếp cận
nghiên cứu và nhiều định nghĩa khác nhau về nó Tuy nhiên, trong luận án nghiên cứu về vai trò của Thiền sư đối với văn hóa Đại Việt thời Lý - Trần, tác giả lựa chọn cách hiểu của UNESCO trong Tuyên bố quốc tế về tính đa dạng văn hóa (2001) làm khái niệm công cụ: Văn hóa nên được xem như một tập hợp các đặc điểm nổi bật về tinh thần, vật chất, tri thức và tình cảm của xã hội, ngoài văn học, nghệ thuật, nó còn bao gồm lối sống, cách suy nghĩ, giáo dục, các giá trị, các truyền thống, tư tưởng chính trị và tín ngưỡng Hiểu như vậy, trong luận án, tác giả chỉ lựa chọn phân tích vai trò và ý nghĩa của những đóng góp của Thiền sư thời Lý - Trần
(1054 - 1400), Đại Ngu (1400 – 1407), Đại Việt (1428 – 1804), Việt Nam (1804 – 1883)
Trang 31trên một số lĩnh vực văn hoá Đại Việt như chính trị - xã hội, tư tưởng tôn giáo và đạo đức, văn học và nghệ thuật
Sâu xa hơn, luận án này cố gắng hướng đến văn hóa được hiểu không hẳn là cái có thể trực tiếp quan sát được trong hiện thực, mà là cái con người tách biệt ra từ hiện thực với tư cách là cái quan trọng, có giá trị, ý nghĩa cho họ Cách hiểu này về văn hóa buộc phải tập trung chú ý không phải vào các dữ kiện bề ngoài quan sát hay
mô tả được bằng kinh nghiệm, mà phải chú ý vào các nguyên tắc cho phép quy các
dữ kiện đó về văn hóa
- Đối với thuật ngữ văn hóa truyền thống NCS lựa chọn cách hiểu như của
Ngô Đức Thịnh (2010) trong cuốn Những giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam
[89], theo đó, văn hóa truyền thống hay giá trị văn hóa truyền thống được hiểu như
là văn hóa và giá trị gắn với xã hội tiền công nghiệp, phân biệt với văn hóa, giá trị văn hóa thời đại công nghiệp hóa Dĩ nhiên, khái niệm truyền thống (tradition) để chỉ những gì đã hình thành từ lâu đời, mang tính bền vững và được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Hơn thế nữa còn là sự kết nối giữa thời đại tiền công nghiệp với thời đại công nghiệp hóa thể hiện trong từng giá trị văn hóa ngày nay
- Khái niệm giá trị (value), cũng như tập quán, chuẩn mực, tri thức… đều
dùng để chỉ sản phẩm của các quá trình có sự tham gia tích cực của tư duy, sản xuất tinh thần của con người, là cái có ý nghĩa nhất định đối với đời sống con người, là yếu tố cốt lõi nhất của văn hóa
- Khái niệm giá trị văn hóa dùng để chỉ cái có ý nghĩa về mặt văn hoá đối
với đời sống tinh thần, tuy nhiên nó không chỉ phản ánh và kết tinh những giá trị của đời sống văn hóa tinh thần của con người, mà còn cả của đời sống vật chất
- Khái niệm bản sắc văn hóa được hiểu là một đặc trưng của văn hóa, đã
hình thành, tồn tại và phát triển trong suốt quá trình lịch sử lâu dài của dân tộc Các đặc trưng văn hóa đó mang tính bền vững, trường tồn, trừu tượng và tiềm ẩn, do vậy muốn nhận biết bản sắc phải tìm hiểu qua vô vàn các sắc thái biểu hiện của văn hóa
- Khái niệm di sản văn hóa dùng để chỉ sản phẩm tinh thần, vật chất có giá
trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác và rất
Trang 32đáng được tiếp tục gìn giữ, bảo tồn, kế thừa và phát huy Di sản văn hóa bao gồm cả vật thể và phi vật thể
- Khái niệm thời Lý - Trần, là thời đại bao gồm triều Lý (1010 - 1225) và
triều Trần (1225 - 1400) - hai triều đại lớn trong lịch sử Việt Nam Thời Lý - Trần cũng là giai đoạn lịch sử oanh liệt nhất, giai đoạn mà dân tộc ta đã vươn lên mạnh
mẽ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, viết nên những trang sử chói lọi trong sự nghiệp đánh giặc giữ nước Tuy mỗi triều đại có những đặc điềm phát triển riêng, nhưng xét chung thục tiễn lịch sử của dân tộc các giai đoạn Lý và Trần, đều
sẽ thấy, khi các triều đại đang lên, nhà nước phong kiến còn đóng vai trò tích cực, tồ tiên ta thường xuyên chăm lo xây dựng Tổ quốc, làm cho dân giầu nước mạnh, sẵn sàng đối phó với nguy cơ xâm lược Trong các thế kỉ XI và XIII, nhân dân ta đã anh dũng chiến đấu và chiến thắng các thế lực xâm lược lớn mạnh Thế kỷ XI, quân dân Đại Việt đánh tan 30 vạn quân xâm lược Tống; thế kỷ XIII, trong vòng 30 năm (1258 - 1288), dân tộc ta ba lần đương đầu thắng lợi những đạo quân xâm lược của
đế quốc Nguyên - Mông khét tiếng nhất thời đó
Triết học Phật giáo là hệ thống quan điểm của Phật giáo về thế giới quan và
nhân sinh quan của nhà Phật Nội dung của triết học Phật giáo chính là những nguyên lý cơ bản được thể hiện trong giáo lý Hệ thống giáo lý của Phật giáo là một
hệ thống rất đồ sộ nằm chủ yếu trong Tam tạng kinh điển, gồm Kinh tạng (ghi lời Phật dạy), Luật tạng (các giới luật), và Luận tạng (các bài kinh, tác phẩm luận giải, bình chú về giáo pháp của các cao tăng và học giả sau này)
Trên đây là những khái niệm công cụ chủ yếu nhất mà NCS thường xuyên phải sử dụng trong luận án của mình Vì vậy một sự giải thích sơ bộ các hàm nghĩa của chúng để đạt được sự đồng thuận của người đọc là việc làm cần thiết để cuối cùng luận án sẽ dẫn dắt đến sự hiểu biết chung rằng, Việt Nam đã là mảnh đất màu
mỡ để Phật giáo ươm mầm và nảy nở phát triển tốt lành Phật giáo đã tìm thấy nơi đất Việt thương yêu những điều kiện thuận lợi cho sự thâm nhập văn hoá, biến nơi này thành địa bàn “của mình”, biến những giá trị văn hoá Phật giáo thành giá trị văn hoá Việt Nam Còn Việt Nam thông qua hoạt động của các Thiền sư đến thời Lý - Trần đã dung nạp được và biến văn hoá Phật giáo thành phần nào là “của mình”
Trang 33Chương 2
KHÁI QUÁT VỀ VĂN HÓA ĐẠI VIỆT VÀ PHẬT GIÁO THỜI LÝ - TRẦN
2.1 Khái quát về văn hóa Đại Việt thời Lý - Trần
2.1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội cho sự hình thành văn hóa Đại Việt thời
Lý - Trần
Sự hình thành nền văn hóa Việt Nam đã trải qua hàng nghìn năm gắn liền với quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước lâu dài của dân tộc trong lịch sử Nền văn hoá đó đã được hình thành và phát triển qua nhiều thời kỳ khác nhau như nhà nghiên cứu văn hoá Vũ Ngọc Khánh (2004) viết, “Văn hóa Việt Nam là cả một lịch trình mà từ lâu chúng ta đã có thể phân biệt ra các thời đại, tạm mệnh danh là thời đại văn hóa Đông Sơn, văn hóa Thăng Long, văn hóa Đại Việt… Khi nói như vậy, ta quan niệm văn hóa là bao trùm mọi lĩnh vực sinh hoạt tinh thần vật chất, chứng minh những thành quả lao động của dân tộc, đạt đến một trình độ nhất định” [51, tr.391]
Nền văn hóa Đại Việt được mở đầu, có lẽ, từ trước cả triều đại nhà Lý, từ khi Ngô Quyền đánh thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng (năm 939) và kéo dài cho đến thế kỷ XIX Mặc dù, theo Nguyễn Quang Ngọc (2007): “Năm 1054, vua Lý Thánh Tông [mới] đặt quốc hiệu Đại Việt - quốc hiệu này sẽ tồn tại mãi cho đến đầu thế kỷ XIX Năm 1175, nhà Tống chính thức công nhận chủ quyền quốc gia của Đại Việt khi đổi danh hiệu sắc phong từ Giao Chỉ quận vương thành An Nam quốc vương Quốc gia Đại Việt được bảo vệ củng cố qua cuộc kháng chiến chống Tống (1075 - 1077) và mở rộng lãnh thổ về phía nam qua cuộc chiến tranh với Champa (1069), sáp nhập các châu Địa Lý, Ma Linh, Bố Chính (Quảng Bình và Bắc Quảng Trị ngày nay)” [68, tr.72]
Nền văn hóa Đại Việt được khẳng định từ thời Lý và cùng với các triều đại nhà Trần là thời kỳ đỉnh cao phát triển của văn hóa Việt Nam Đây cũng là thời kỳ gắn với sự phát triển cường thịnh của Phật giáo, thời kỳ Phật giáo chiếm ưu thế trong hệ tư tưởng tam giáo Và các thiền sư Phật giáo là những người đã cống hiến rất lớn cho việc khai quốc, mở nước và định hình nền văn hóa Đại Việt Đó là cuộc đại hội nhập giữa tam giáo với văn hóa, tin ngưỡng truyền thống của dân tộc, hình
Trang 34thành nên bản sắc của văn hóa Đại Việt Nhận định về điều này, tác giả Nguyễn Duy Hinh (2005) có viết:
“Sự có mặt của Phật giáo Ấn Độ trong cuộc đại hội nhập này sẽ dẫn đến sự hình thành một tư trào Phật giáo áp đảo Nho giáo dù Nho giáo là công cụ quan phương chiếm địa vị thống trị trong chính quyền đô hộ Thời kỳ Đại Việt thứ nhất – thời kỳ Lý - Trần – là thời kỳ Tam giáo với tính trội thuộc về Phật giáo, tuy Phật giáo không phải là quốc giáo Vị trí của Nho giáo được xếp sau Phật giáo mặc dù thuật ngữ dùng trong trật tự là “Nho - Đạo - Thích” Thứ tự ưu tiên lại tính ngược Thích - Đạo - Nho” [39, tr.9]
Nền văn hóa Đại Việt thời kỳ đó tiếp tục hình thành trên cơ sở của những điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội khá thuận hoà có nhiều khởi sắc và chuyển biến
rõ rệt Văn hóa Đại Việt được hình thành từ chính những điều kiện và thiết chế về kinh
tế, chính trị và xã hội thời Lý - Trần
Vào thời Lý - Trần, sau hơn một nghìn năm Bắc thuộc, nhân dân ta đã đấu tranh và giành được độc lập, nước ta vững bước tiến vào và trải qua kỷ nguyên độc lập tự chủ và thống nhất (905 - 1527), mở ra một trang mới trong lịch sử dân tộc Giai đoạn đầu của kỷ nguyên độc lập và thống nhất đất nước gắn với 5 triều đại nối nhau trị vị: Họ Khúc (905 - 930), Họ Dương (931 - 937), Họ Ngô (938 - 965), Họ Đinh (967 - 980), Nhà Tiền Lê (980 - 1009) Nền văn hóa Đại Việt được khẳng định
và phát triển vượt bậc trong suốt thời Lý - Trần (1010 - 1400)
Bước vào kỷ nguyên đầu của nền văn minh Đại Việt, dưới thời Lý - Trần, nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp và dựa trên chế độ điền trang thái ấp Chế độ ruộng đất có hai loại cơ bản: quan điền và dân điền Ngoài ra còn có công điền khẩu phần và ruộng chùa
Quan điền là ruộng đất do nhà nước trực tiếp quản lý, chủ yếu là ruộng đất bị tịch thu nhập quan và đồn điền Dân điền là ruộng đất của người dân trong các làng
xã Công điền khẩu phần là ruộng đất do nhà vua ban cho quan lại, quý tộc, không phải là ruộng đất tư, chỉ có quyền sử dụng, hưởng thụ hoa màu mà không có quyền
sở hữu Ruộng chùa là loại ruộng ban cho các chùa
Như vậy, quyền sở hữu ruộng đất công hữu và tư hữu đã tồn tại song song Trong các làng xã có ruộng công và ruộng tư Người cày ruộng công phải nộp tô
Trang 35thuế cho Nhà nước Đây là đặc trưng điển hình cho phương thức sản xuất châu Á Nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Khánh nhận định:
“Công xã nông thôn từ trước đã hình thành có gốc rễ bền vững và có những mối tương quan gắn bó với nhau tạo nên một sự thống nhất nhất định: sự thống nhất của nhiều đơn vị tiểu nông để thành ra một “nước” Từ bộ tộc xa xưa đến một dân tộc dần dần có ý thức sâu sắc hơn về một cộng đồng lớn
có quyền chung, có trách nhiệm chung về sự tồn tại của giống nòi và đất nước, nguyên nhân của sự đoàn kết toàn dân… Văn hóa làng xã cổ truyền vẫn không ngừng tiếp nối truyền thống của mình, không gặp trở ngại Các chủ điền trang thái ấp đều tự giác ý thức trách nhiệm đối với vương triều,
tức là đối với nhà nước mỗi khi nhà nước cần kêu gọi” [51, tr.391]
Đặc thù của phương thức sản xuât châu Á ở nước ta thời Lý - Trần là chế độ
tô thuế và đây là thời kỳ tập trung quyền lực, hình thành nhà nước phong kiến vì mục đích trị thủy và thủy lợi, cố kết cộng đồng rõ rệt: “Ở Việt Nam trong phương thức sản xuất châu Á các chức năng đó được thể hiện rất rõ, theo hoàn cảnh đặc thù Việt Nam Cụ thể: việc thu tô thuế, cống nạp đã được thực hiện rất nghiêm ngặt Về chức năng thứ ba là làm các công trình công cộng thì tiêu biểu nhất là trị thủy, thủy lợi đã làm rất hiệu quả” [141, tr.91]
Bên cạnh chế độ điền trang thái ấp thì kinh tế thủ công nghiệp và thương nghiệp dưới thời Lý - Trần cũng bước đầu phát triển Thủ công nghiệp phát triển các nghề kéo sợi, dệt vải, nghề đúc đồng, chế tạo công cụ sản xuất bằng kim khí… Trong thương nghiệp đã hình thành mạng lưới chợ ở các làng xã và phố phường Hệ thống đường bộ, đường thuỷ qua các sông, kênh cũng được xây đắp và mở rộng
Những biến đổi trong đời sống kinh tế, tất yếu kéo theo những biến đổi sâu sắc trong xã hội thời Lý - Trần Tương ứng với chế độ ruộng đất là một cơ cấu xã hội với chế độ đẳng cấp mới, bao gồm 4 tầng lớp chính
Một là, hoàng tộc, tức vua và tôn thất là đẳng cấp đặc quyền đặc lợi Đẳng
cấp này thời Lý không đông Họ hưởng thuế từ các lộ, có thang mộc ấp, có gia nô
Họ chỉ được thu tô thuế ở một địa phương, một số lượng nào đó nhưng không có quyền sở hữu ruộng đất đó Đến thời Trần thì đẳng cấp này có đại điền trang sở hữu
tư nhân, đồng thời vẫn được hưởng bổng lộc của triều đình
Trang 36Hai là, quan lại trong ngoài triều đình Họ làm quan hưởng bổng lộc bằng
thóc, gạo, mắm muối, tiền lụa… theo từng phẩm cấp Họ cũng có số lượng ruộng đất và gia nô nhất định
Ba là, đẳng cấp thứ dân là tầng lớp chiếm số đông trong xã hội Họ chủ yếu
là bộ phận nông dân tự do, tự canh tác trong các làng xã, đa số cày ruộng công và một số ít có ruộng tư, có nghĩa vụ nộp tô thuế, lao dịch và binh dịch cho Nhà nước
Bốn là, đẳng cấp nô tì (nô: nam, tì: nữ) Tuy không hẳn là một đẳng cấp
riêng biệt, nhưng là một tầng lớp xã hội đông đảo Nô tì có nhiều nguồn gốc có thể
là nông dân bị bần cùng hóa, hoặc những người bị gán nợ, các phạm nhân mắc tội
đồ, tù binh (Champa và Nguyên), người nước ngoài bị bắt giữ Có nhiều loại nô: quan nô (của Nhà nước) làm việc trong các đồn điền, trại lính; gia nô (của các nhà quý tộc) làm việc trong các gia đình và điền trang; tam bảo nô phục vụ trong các chùa chiền [xem 39, tr.493-494]
Nhìn một cách khái quát có thể thấy, kinh tế thời Lý - Trần đã phát triển, đặc biệt là kinh tế nông nghiệp Ruộng đất đã tư hữu hóa, trâu bò là nguồn sức kéo chủ yếu và người canh tác không còn là lạc điền Xã hội phân chia thành 4 đẳng cấp, phù hợp với bước phát triển của lịch sử Nhận định về tình hình kinh tế - xã hội thời
Lý - Trần, Nguyễn Hùng Hậu (2005) viết:
“Về kinh tế, nhà nước đặc biệt thời Lý - Trần đã quan tâm nhiều đến nông nghiệp Từ thời Tiền Lê đến thời Lý - Trần, để cổ vũ ý thức trọng nông của nhân dân, vào tháng giêng hàng năm, nhà vua thường cử hành lễ cày ruộng làm gương (lễ tịch điền) Nhà nước chủ trương khẩn hoang, xây dựng các công trình thủy lợi, đắp đê ngăn nước úng mặn Triều đình còn đặt nhiều chức Hà đê chính phó sứ để chăm sóc đê điều Sức kéo trâu bò được nhà nước bảo vệ Ruộng đất chủ yếu do nhà nước đứng đầu là vua quản lý Ngoài
ra còn có ruộng của làng xã, điền trang thái ấp của quí tộc quan lại, ruộng của nhà chùa Chế độ tư hữu về ruộng đất cũng dần dần xuất hiện và có chiều hướng ngày càng tăng vào cuối thời Trần
Nông nghiệp phát triển đã khiến nhiều ngành thủ công nghiệp như dệt lụa, nung gạch ngói, làm đồ gốm, luyện kim, đúc chuông… ra đời Việc trao đổi hàng hóa ở trong nước cũng như với nước ngoài được mở rộng, các đường giao thông thủy bộ được mở mang” [33, tr.107-108]
Trang 37Bên cạnh sự phát triển về kinh tế, xã hội thì văn hóa Đại Việt cũng có nhiều khởi sắc rõ rệt, những yếu tố bản sắc văn hoá đậm chất dân tộc đã hình thành trong thời kỳ độc lập tự chủ này
2.1.2 Đặc trưng của văn hóa Đại Việt thời Lý - Trần
Những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội Đại Việt thời Lý - Trần đã tạo cơ
sở vật chất vững vàng cho những thành tựu văn hóa thời kỳ này nở rộ Mọi khía cạnh, bình diện văn hoá đều được định hình với tinh thần khai phóng, thể hiện một
cách sâu sắc cuộc sống và tâm hồn dân tộc Các tác giả cuốn Lịch sử tư tưởng Việt
Nam tập 1 viết: “Từ thế kỷ X trở đi trong điều kiện của một quốc gia phong kiến
độc lập tự chủ, nền văn hóa tinh thần của nước Đại Việt cũng phát triển mạnh Nhất
là khi vương triều Lý được xác lập thì sự phát triển ấy đã đạt được những thành tựu rực rỡ Mấy thế kỷ sau sự phát triển ấy vẫn tiếp tục, đặc biệt là vào thời Trần sau khi nhân dân ta đã ba lần chiến thắng quân xâm lược Nguyên Mông” [144, tr.155]
Trước hết là trên lĩnh vực giáo dục, khoa cử Ở thế kỷ XI, các chùa vẫn là những trung tâm văn hóa giáo dục Các nhà sư vừa thông kinh kệ, vừa giỏi Nho học, nhà chùa đồng thời là trường học Do nhu cầu tổ chức bộ máy nhà nước đòi hỏi phải phát triển giáo dục mà nền giáo dục Nho học xuất hiện dưới thời Lý có tính chất thế tục do nhà nước phong kiến quản lý, và đã có một ý nghĩa to lớn đối với sinh hoạt văn hóa và tư tưởng của nước Đại Việt Nền giáo dục ấy đã góp phần hình thành nên đội ngũ trí thức cho dân tộc và sự tuyển lựa nhân viên cho bộ máy quan lại thời kỳ này, như Huỳnh Công Bá (2008) nhận xét: “Trong hoàn cảnh xã hội đương thời, con đường duy nhất mà giai cấp thống trị có thể theo là chế độ giáo dục Nho học Do đó, dưới thời Lý bắt đầu mở mang việc học tập và thi cử để đào tạo nhân tài và tuyển chọn quan lại” [2, tr 451-452]
Bên cạnh đó, nền giáo dục Nho học cũng ảnh hưởng đến thế giới quan và những quy phạm chính trị, đạo đức của con người Năm 1070 Nhà Lý lập Văn Miếu Năm 1075, mở khoa thi Tam trường tuyển chọn “minh kinh bác học” Năm
1076 lập Văn Miếu Quốc Tử Giám và liên tiếp các năm kế đó đều mở các khoa thi:
1086, 1152, 1193, 1195 Thời Trần, các khoa thi được tổ chức đều đặn hơn thời Lý,
bổ dụng thêm các học quan để cai quản việc học hành ở các lộ phủ Thời kỳ này cũng mở một số khoa thi Tam giáo
Trang 38“Sang thời Trần, chế độ học hành và thi cử càng ngày càng có quy củ và chính quy hóa Tại kinh thành, nhà nước lập Quốc học viện dành riêng cho con em quý tộc, quan lại vào học và về sau được mở rộng thêm cho các Nho
sĩ Bên cạnh hệ thống giáo dục nhà nước, các trường lớp tư thục cũng xuất hiện trong các làng xã do các nhà Nho đứng ra tổ chức Các kỳ thi quốc gia
được tổ chức đều đặn hơn trước” [2, tr 453]
Nền giáo dục Nho học đã tạo ra những tên tuổi đỗ đạt và lưu danh sử sách của dân tộc như: Trạng Nguyên Nguyễn Hiền (đỗ đạt năm 13 tuổi), Trạng Nguyên Mạc Đĩnh Chi, Bảng nhãn Lê Văn Hưu (nhà sử học nổi tiếng), Hoàng Giáp Nguyễn Trung Ngạn (thi đỗ năm 16 tuổi), và các nhà Nho nổi tiếng là Lê Quát, Trương Hán Siêu, Phạm Sư Mạnh, Chu Văn An…
Trên lĩnh vực văn học, nền văn học bác học được sáng tác bằng chữ Hán cũng phát triển Bên cạnh thơ văn của các thiền sư, xuất hiện thơ văn của quan lại
và trí thức dân tộc Các tác gia văn học chữ Hán tiêu biểu như: Lý Công Uẩn, Lý Thường Kiệt, Mãn Giác, Viên Chiếu, Không Lộ thiền sư, Quảng Nghiêm thiền sư… thêm vào đó, những thắng lợi huy hoàng của kháng chiến chống ngoại xâm cũng là nguồn cảm hứng sáng tác vô tận của văn học nghệ thuật thời kỳ này
“Ở thời Lý, nhiều áng thơ văn đã xuất hiện Bên cạnh những bài thơ và văn bia xoay quanh các chủ đề của đạo Phật là những áng văn chính luận nổi tiếng, phản ánh công cuộc dựng nước và giữ nước của dân tộc… Bước sang thời Trần, hoạt động văn học sôi nổi hơn nữa Lúc này lực lượng sáng tác ngoài các nhà sư còn có quý tộc và nho sĩ Do đó, chủ đề của thơ văn thời Trần không những xoay quanh những vấn đề của đạo Phật mà còn xoay quanh những vấn
đề của đạo Nho và nhất là đời sống hiện thực Nhưng nổi bật hơn cả là chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hùng của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông Không những thế, văn học thời Trần còn có sự phong phú về thể loại Điều đáng lưu ý là đến thời Trần chữ Nôm được vận dụng rộng rãi trong văn học Điều đó chứng tỏ nền văn hóa tư tưởng có tính chất độc lập của dân tộc ta đã phát triển tới mức vận dụng tiếng nói và ngôn ngữ dân tộc thì mới có thể vươn lên một cách mạnh mẽ” [144, tr 156]
Trang 39Thời Lý - Trần, các thể loại nghệ thuật biểu diễn như sân khấu, ca múa nhạc,
ca kịch, hát ả đào, chèo, tuồng, múa rối nước cũng phát triển góp phần làm phong phú đời sống tinh thần và văn hóa của cư dân Đại Việt Nhà nghiên cứu Đinh Gia Khánh nhận xét:
“Cùng với múa rối, đặc biệt là múa rối nước, các loại hình sân khấu dân gian khác, từ trì nhại đến hát chèo cũng được đưa vào cung đình… thời Lý ở Thăng Long đã có diễn trò hát Chèo Từ Đạo Hạnh, một nhân vật lịch sử được truyền thuyết hóa, một nhà sư có quan hệ mật thiết với cung đình thời
Lý, lại đồng thời là người dẫn trò nổi tiếng trong hát chèo và được coi như một trong những vị tổ sư nghề hát chèo Vua Lý Nhân Tông lại am hiểu khá tinh tường âm nhạc và múa hát” [50, tr 46]
Ngoài các loại hình văn hóa cung đình, văn hóa dân gian Đại Việt dưới thời
Lý - Trần cũng rất phát triển Các trò vui dân gian như ném còn, đánh phết, bơi chải, chơi đèn kéo quân… cũng được tổ chức trong những dịp quốc lễ Đặc biệt, kiến trúc, điêu khắc Đại Việt đã tạo những điểm nhấn, những di sản đặc sắc có giá trị cho muôn đời sau Có thể kể đến các công trình kiến trúc, điêu khắc như: Văn Miếu, chùa Một Cột, tháp Báo Thiên, chùa Phổ Minh…
“Cái quý trong di sản ấy là trình độ nhận thức vững chắc về tự nhiên và xã hội, về cuộc sống đấu tranh chống thiên tai địch họa và một tâm lý có bản sắc riêng thể hiện trong phong tục, nếp sống và sự ứng xử giữa mọi người Chủ nghĩa yêu nước, tinh thần chiến đấu dũng cảm để bảo vệ tổ quốc và lật
đổ ách thống trị của ngoại bang nhằm giải phóng dân tộc như một ngọn lửa rực cháy trong di sản ấy” [144, tr 157]
Về tư tưởng tín ngưỡng, tôn giáo, trong nền văn hóa Đại Việt có sự tồn tại song hành của Phật giáo, Nho giáo và Đạo giáo Riêng Phật giáo, thời Lý - Trần còn
có điều kiện phát triển mạnh mẽ hơn Các nhà sư đều là những người vừa giỏi Phật học vừa biết Nho học, do vậy đã trở thành những người trí thức cần thiết cho triều đình Phật giáo được truyền bá rộng rãi trong đông đảo tầng lớp nhân dân, được cả vua quan lẫn dân chúng tôn sùng, và có ảnh hưởng sâu sắc trong đời sống xã hội, đã
để lại nhiều dấu ấn về mọi mặt trên các lĩnh vực văn hóa tinh thần dân tộc Nhà chùa
sở hữu khá nhiều ruộng đất, có cơ sở kinh tế, và là nơi đào tạo các bậc sư tăng giữ vai
Trang 40trò là những trí thức của thời đại, những bậc danh y chữa bệnh cho dân Ở nông thôn, chùa còn là nơi quy tụ tín ngưỡng, là trung tâm sinh hoạt văn hóa, hội hè và văn nghệ quần chúng Qua sinh hoạt tín ngưỡng của chùa, Phật giáo tác động đến tư tưởng, tâm
lý, phong tục và nếp sống của đông đảo nhân dân ở trong làng xã
Đối với Nho giáo, thế kỷ XI khi vương triều Lý được thành lập, việc củng cố chế độ phong kiến và phát triển nền văn hóa phục vụ cho chế độ đó được đặt ra cấp thiết, các triều đại Lý - Trần dần đề cao Nho giáo và sử dụng Nho giáo như một vũ khí sắc bén trên lĩnh vực chính trị văn hóa và tư tưởng Do vậy, Nho giáo đã bám vào những yêu cầu của xã hội và nhà nước phong kiến mà vươn lên Đến giữa thế
kỷ XIV, Nho giáo đã chiếm được ưu thế trong cung đình và đi sâu vào sinh hoạt văn hóa tinh thần của cư dân Đại Việt trên nhiều mặt [xem 144, tr 159] Tầng lớp Nho sĩ ngày một đông và dần bước lên vũ đài chính trị Quan lại xuất thân từ Nho sĩ ngày một chiếm ưu thế trong bộ máy chính quyền và họ nắm giữ các chức vụ quan trọng trong triều đình Từ tầng lớp này xuất hiện nhiều nhà tư tưởng, nhà thơ, nhà văn và những học giả xuất sắc như: Chu Văn An, Lê Văn Hưu, Lê Quát, Trương Hán Siêu, Phạm Sư Mạnh, Nguyễn Thuyên…
Còn Đạo giáo cũng tồn tại và được lan truyền trong xã hội Đại Việt Nhà nước phong kiến coi trọng vai trò của Đạo giáo trong đời sống tinh thần bên cạnh Phật giáo và Nho giáo Triều đình tổ chức thi Tam giáo để chọn người có kiến văn rộng về cả ba hệ tư tưởng Phật, Nho, Đạo nhằm giúp vua trị nước Nhiều đền đài đạo quán được xây dựng Trong triều đình ngoài hệ thống Tăng quan có cả hệ thống Đạo quan Đạo giáo cũng xâm nhập vào đời sống nhân dân và trí thức Nhiều pháp thuật Đạo giáo xuất hiện và phổ biến trong nhân dân như tiên thánh cho xăm, phát thuốc, cầu đảo, bùa phép trừ yểm, đồng bóng…
“Nhìn chung, dưới thời Lý - Trần, Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo đều đồng thời phát triển và có mặt thâm nhập lẫn nhau trong tinh thần “Tam giáo đồng nguyên” Nhưng mặt khác, trong xã hội Lý - Trần, tàn dư công xã nông thôn vẫn còn tồn tại phổ biến Người dân làng xã thời Lý đã kết hợp chặt chẽ ý thức bảo vệ xóm làng, quê hương cùng với ý thức quốc gia dân tộc, gắn liền làng với nước và vẫn duy trì những quan hệ cộng đồng bền chặt, cùng với những phong tục tập quán cổ truyền và tín ngưỡng dân gian của cư dân nông nghiệp” [2, tr 463]