Bài viết “Thu Bồn - từ thơ đến trường ca” của nhà nghiên cứu văn học Bích Thu, in trong Nhà thơ Việt Nam hiện đại và được in lại trong Thu Bồn - gói nhân tình của Hoàng Minh Nhân có lẽ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
TRẦN THỊ KIM DUNG
TRƯỜNG CA THU BỒN
VỀ ĐỀ TÀI CHIẾN TRANH
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
Hà Nội – 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
TRẦN THỊ KIM DUNG
TRƯỜNG CA THU BỒN
VỀ ĐỀ TÀI CHIẾN TRANH
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 01 21
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS TS LÊ VĂN LÂN
Hà Nội – 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn Trường ca Thu Bồn về đề tài
chiến tranh là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn này là trung thực Nếu có gì sai phạm, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm!
Hà Nội, ngày 25 tháng 02 năm 2016
Người cam đoan
Trần Thị Kim Dung
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Luận văn được hoàn thành tại Khoa Văn học – Trường Đại học Khoa học xã hội
và nhân văn Em xin chân thành cảm ơn GS TS Lê Văn Lân đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và động viên em trong suốt quá trình nghiên cứu để thực hiện luận văn này!
Em xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy, cô giáo trong Khoa Văn học và các anh chị trong phòng Đào tạo sau đại học - Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn đã giảng dạy, trang bị cho em những nền tảng kiến thức bổ ích, giúp đỡ em hoàn thành khóa học và tạo điều kiện để em nghiên cứu, thực hiện đề tài và được tiến hành bảo vệ luận văn
Cuối cùng em xin cảm ơn gia đình, đơn vị công tác, người thân và bạn bè đã giúp đỡ, động viên, khuyến khích, tạo điều kiện về thời gian, giúp đỡ về mọi mặt trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu để em hoàn thành được bản luận văn!
Với trình độ và kiến văn còn hạn chế của người viết, luận văn chắc chắn không tránh khỏi khiếm khuyết Tác giả luận văn mong muốn sẽ nhận được những nhận xét, góp ý của các thầy cô, các nhà nghiên cứu và những người có quan tâm đến vấn đề được thực hiện trong luận văn
Em xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 18/01/2016
Tác giả luận văn
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 7
5 Phương pháp nghiên cứu 7
6 Cấu trúc luận văn 7
NỘI DUNG 8
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TRƯỜNG CA VÀ TRƯỜNG CA THU BỒN 8
1.1 Những vấn đề chung về trường ca 8
1.1.1 Nội hàm của khái niệm trường ca 8
1.1.2 Phân biệt trường ca với thơ dài và truyện thơ 9
1.2 Trường ca Thu Bồn trong dòng chảy trường ca Việt Nam hiện đại 12
1.2.1 Trường ca Việt Nam hiện đại 12
1.2.2 Trường ca viết về chiến tranh của Thu Bồn 18
Chương 2: NHỮNG CẢM HỨNG LỚN TRONG TRƯỜNG CA VIẾT VỀ CHIẾN TRANH CỦA THU BỒN 24
2.1 Cảm hứng về quê hương đất nước 24
2.1.1 Quê hương đất nước tươi đẹp, giàu truyền thống văn hóa 24
2.1.2 Quê hương đất nước đau thương nhưng anh dũng quật cường 29
2.2 Cảm hứng về con người và cuộc sống trong chiến tranh 43
2.2.1 Con người anh hùng và nhân ái 43
2.2.2 Cuộc sống chiến tranh khốc liệt và khát vọng bình yên 49
2.3 Cảm hứng triết luận 53
Chương 3: NHỮNG PHƯƠNG THỨC NGHỆ THUẬT TRONG TRƯỜNG CA VIẾT VỀ CHIẾN TRANH CỦA THU BỒN 59
3.1 Về kết cấu tác phẩm 59
Trang 63.1.1 Kết cấu theo cốt truyện 60
3.1.2 Kết cấu theo mạch cảm xúc trữ tình 66
3.2 Đặc trưng ngôn ngữ và giọng điệu 69
3.2.1 Ngôn ngữ cường điệu, mang âm hưởng sử thi 69
3.2.2 Giọng điệu sử thi hào hùng 75
3.3 Phương pháp tạo nghĩa linh hoạt 82
3.3.1 Sử dụng hệ thống hình ảnh mang tính biểu tượng 82
3.3.2 Những so sánh, ẩn dụ gợi nhiều liên tưởng độc đáo, mới lạ 88
KẾT LUẬN 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong lịch sử Việt Nam, chính âm ba của những chiến thắng chống ngoại xâm hào hùng trong truyền thống quá khứ của dân tộc, cùng hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và cuộc chiến chống bè lũ diệt chủng ở Campuchia đã trở thành một mạch nguồn cảm xúc vô tận cho nền văn học nói chung và thể loại trường ca nói riêng Trường ca hiện đại Việt Nam đã thật sự “bùng nổ” khi đề cập đến những cuộc kháng chiến vĩ đại này Có thể nói, không gì khác hơn, chính trường ca là thể loại làm nên gương mặt riêng biệt của văn học hiện đại Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến nay Trường ca phản ánh sự vận động của lịch
sử, dân tộc và thời đại thông qua những biến động lớn lao Khó có thể loại văn học nào vừa khái quát lịch sử, khái quát cuộc sống rộng lớn lại vừa đằm thắm trữ tình,
đi vào lòng người như trường ca Do đó, nghiên cứu trường ca chính là góp phần nghiên cứu đời sống tâm hồn tươi đẹp, lý tưởng anh hùng cao cả cũng như cuộc đấu tranh anh dũng bền bỉ của dân tộc Việt Nam
Với vai trò là người “khôi phục lại thể loại trường ca”, Thu Bồn có nhiều trường ca xuất sắc, có tiếng vang, đạt giải thưởng cao Những trường ca của ông, đặc biệt là trường ca viết về chiến tranh, thấm đẫm chất sử thi, giàu tính tư tưởng và tầm khái quát, triết lý về sứ mệnh lịch sử của thế hệ mình; về nguồn cội sức mạnh của dân tộc; về những giá trị tinh thần cao cả tiềm ẩn trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước Nhưng điều quan trọng làm nên sức sống bền bỉ của trường ca Thu Bồn trong lòng độc giả đó chính là ông luôn tìm tòi, sáng tạo không ngừng và
để lại dấu ấn riêng trong mỗi tác phẩm của mình Càng đi sâu vào nghiên cứu những trường ca về chiến tranh của Thu Bồn, ta càng thấy được vai trò to lớn của nó, không chỉ trong trường ca hiện đại Việt Nam mà còn cả trong việc thể hiển bước đi
của thơ ca dân tộc Xuất phát từ ý nghĩa đó, chúng tôi đã chọn đề tài “Trường ca
Thu Bồn về đề tài chiến tranh” cho luận văn của mình với mong muốn tìm hiểu và
khẳng định những nét độc đáo cũng như đóng góp của Thu Bồn trên cả phương diện nội dung lẫn hình thức nghệ thuật trong các trường ca viết về chiến tranh của ông
Trang 82 Lịch sử vấn đề
Thu Bồn có một sự nghiệp thơ văn khá bề thế, dày dặn, thể hiện một bút lực dồi dào, tinh tế và có những đóng góp nhất định cho văn học chống Mỹ nói riêng, văn học hiện đại Việt Nam nói chung Năm 2003, tác giả Ngô Thế Oanh đã tuyển chọn và giới thiệu đến bạn đọc những sáng tác nổi tiếng nhất, khẳng định tên tuổi
của Thu Bồn trong lòng độc giả qua tuyển tập: Thu Bồn – thơ và trường ca do nhà
xuất bản Đà Nẵng phát hành Qua ấn phẩm này, một lần nữa công chúng và độc giả lại có thêm điều kiện thưởng thức, cảm nhận những tác phẩm của ông một cách đầy
hầu hết những bài viết, bài nghiên cứu về Thu Bồn trong một cuốn sách có tên: Thu
Bồn - gói nhân tình Trong sách này, phần lớn các bài viết là tình cảm tiếc thương
đau xót của bạn bè, chiến hữu, đồng nghiệp khi nghe tin ông qua đời vào ngày 17/06/2003 Xen ở trong đó là những dòng, những trang nêu lên cảm nhận của người viết về sự nghiệp cầm bút, về thơ văn và trường ca của ông Có thể phân các bài viết đã có về Thu Bồn ra thành các nhóm sau:
2.1 Nhóm bài viết về con người và sáng tác của Thu Bồn nói chung:
2.1.1 Trong bài viết “Thu Bồn - niềm khát vọng khôn nguôi”, trích tiểu luận phê
bình Tìm hoa quá bước của Hoài Anh đã dựng lại hình ảnh Thu Bồn - con người và
thơ - trong ký ức của tác giả, đan xen, không tách rời Tuy vậy, bài viết cũng đã thấy được không khí Tây Nguyên, “chất sử thi và tính kịch” cùng với “cái mạch trữ
Trang 9tình nồng nàn thắm thiết của Bài ca chim Chơrao” và “những hình tượng khắc hoạ
đẹp, lạ được đan xen với những hình ảnh chân thực, giản dị đời thường” [1, tr.50] 2.1.2 “Chim Chơrao đến từ núi lạ” của tác giả Nguyễn Chiến cũng là những cảm nhận ban đầu về thơ Thu Bồn: “Nồng nhiệt, chân thành, hào sảng, có nhiều niềm thương, ít nỗi ghét”, một hồn thơ “không bao giờ chịu tầm thường vút lên như cánh chim Chơrao đến từ núi lạ” và “đã làm nên một cõi Thu Bồn tài hoa” [22, tr.503-510]
2.1.3 Viết về “Cảm hứng quê hương trong thơ ca Thu Bồn”, Hồ Hoàng Thanh đặc biệt nhấn mạnh: “Chủ đề xuyên suốt, nguồn cảm hứng chủ đạo trong thơ ca Thu Bồn chính là nỗi niềm ngợi ca quê hương đất nước Việt Nam” [67, tr.821] Ở bài viết này, tác giả đã có công khảo sát và chứng minh cho luận điểm đã nêu trên ba lĩnh vực sáng tác của Thu Bồn: Thơ, trường ca và bình luận văn học Tuy nhiên, trong phần nói về trường ca, dường như tác giả chỉ tóm lược nội dung là chủ đề quê
hương trong bốn trường ca: Bài ca chim Chơrao, Oran 76 ngọn, Badan khát, Thông
điệp mùa xuân và trích dẫn một số đoạn làm dẫn chứng
2.1.4 Trong bài viết “Nhà thơ Thu Bồn - tráng sĩ hề… dâu bể”, Trung Trung Đỉnh đã nêu lên những suy nghĩ, nhận định về con người và đặc biệt là sáng tác của Thu Bồn Bài viết không có ý thức tách rời mà đan xen giữa cuộc đời, con người Thu Bồn với thơ ca của ông Tác giả nhận định: “Ở thời điểm nào, ông cũng có những trường ca hay, những bài thơ hay, những câu thơ cực hay” [27, tr.533] Đồng thời, tác giả cũng nhìn ra được: “Đối với Thu Bồn, ông viết như một nhu cầu sống Trường ca hay thơ trữ tình, tiểu thuyết hay truyện ngắn, tất cả đều do nhu cầu của đời sống, chính vì thế cảm xúc thơ ông lúc nào cũng tươi, cũng mới” [27, tr.536] Rõ ràng đây là những nhận định, đánh giá đúng và hay Song, mới chỉ là những gì rất chung về con người Thu Bồn và sự thể hiện nó - chủ thể sáng tạo - qua thơ ca của ông
2.1.5 “Thu Bồn qua sông Thu Bồn” của Phùng Tấn Đông là những cảm nhận, đánh giá về phong cách nghệ thuật thơ Thu Bồn, đặc biệt vấn đề được khảo sát qua hai
tác phẩm Bài ca chim Chơrao và Quê hương mặt trời vàng Ông viết: “Riêng mảng
thơ, Thu Bồn là nhà thơ của những câu thơ gây ấn tượng mạnh mẽ” [30, tr.547] Nhận xét cụ thể hơn, tác giả cho rằng: “Thơ Thu Bồn chính vì thế luôn có một hệ
Trang 10thống từ ngữ mang tính thi pháp riêng biệt - tạm gọi là tính hoành tráng, hết mình” [30, tr.555] Song, đấy vẫn chỉ là những nhận xét khái quát về bút lực, đặc sắc nghệ thuật của sáng tác Thu Bồn trong cả thơ và trường ca, chưa có sự phân tách giữa hai thể loại này, đồng nghĩa với việc chưa phân biệt khái niệm thơ và trường ca để có cái nhìn hệ thống, chuyên sâu hơn
2.1.6 Tác giả Ngô Thế Oanh thì lại ví “Thu Bồn như dòng sông cuộn xiết” Những hồi ức, ấn tượng, xúc cảm của tác giả trước người thơ và đời thơ Thu Bồn “mạnh
mẽ và cảm động đến gần như có một chút gì sửng sốt mà Bài ca chim Chơrao đã
mang đến” và “sự mở đầu cho một giai đoạn phát triển có tính chất quyết định” cho thể loại trường ca Việt Nam hiện đại của Thu Bồn [56, tr.731] Mặt khác, tác giả cũng thấy được “Thu Bồn là một trong những nhà thơ có nhiều bài thơ tình say đắm nhất” [56, tr.738] Như vậy, trong bài viết này, bên cạnh những hồi ức đẹp đẽ về Thu Bồn, tác giả chú ý đến hai vấn đề về đời thơ Thu Bồn: Vị trí của trường ca Thu Bồn và cái mãnh liệt, đắm say của thơ tình Thu Bồn
2.2 Nhóm bài nhận xét đánh giá về trường ca Thu Bồn nói riêng:
2.2.1 Bài viết “Thu Bồn - từ thơ đến trường ca” của nhà nghiên cứu văn học Bích
Thu, in trong Nhà thơ Việt Nam hiện đại và được in lại trong Thu Bồn - gói nhân
tình của Hoàng Minh Nhân có lẽ là bài viết bao quát nhất sự nghiệp sáng tác của
Thu Bồn: “Thu Bồn có khả năng mở rộng sự sáng tạo sang nhiều lĩnh vực, thể loại, như thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết” [73, tr.853] Đương nhiên, trong quan niệm của Bích Thu, “thơ” ở đây bao gồm cả trường ca - bên cạnh mảng thơ trữ tình [73, tr.857] Trong bài viết, sau khi điểm qua những chặng đường sáng tác và những tác phẩm thơ trữ tình, tác giả đã có những nhìn nhận, đánh giá xác đáng về trường ca Thu Bồn nói chung và những trường ca xuất sắc của ông nói riêng: “Thu Bồn là người có sở trường về trường ca và viết trường ca vào loại khoẻ, sự vận động của sự kiện, nhân vật thường dồn dập, khẩn trương Vì vậy, trường ca Thu Bồn thường mang vẻ đẹp trong một chỉnh thể, có dáng vóc bề thế, khỏe mạnh” [73, tr.858] Đặc biệt, ở bài viết này, Bích Thu đã khai thác khá cụ thể những đặc sắc nghệ thuật của trường ca Thu Bồn: nghệ thuật xây dựng nhân vật, sự kết hợp giữa yếu tố tự sự và
Trang 11trữ tình, tạo dựng khung cảnh bi tráng, những biểu tượng mang ý nghĩa tượng trưng,
sự kết hợp những thủ pháp nghệ thuật của điện ảnh, sân khấu, kết cấu luôn biến đổi Sau nữa, tác giả cũng đã nêu một vài hạn chế nhỏ trong trường ca Thu Bồn, ví như chất liệu hiện thực nhiều khi còn bề bộn, ngổn ngang, đôi khi còn cầu kì, chuộng lạ trong cách đặt tên cho các tiêu đề của trường ca [73, tr.873] Rõ ràng, bài viết của nhà nghiên cứu Bích Thu khá bao quát và cụ thể trong nhận định, đánh giá, phát hiện những đặc sắc nghệ thuật của trường ca Thu Bồn Tuy nhiên, do tính chất là một bài viết chứ chưa phải là một công trình khoa học lớn nên chưa thể đi sâu vào phân tích, lý giải những nét độc đáo trong nghệ thuật và đặc biệt là khía cạnh nội dung của trường ca Thu Bồn
2.2.2 Bài viết “Người viết những trường ca” của Nguyễn Đức Mậu in trong Tạp chí
Nhà văn, số 7, là những nhận xét bao quát về trường ca Thu Bồn, từ nghệ thuật đến
nội dung Ông đánh giá: “Ở giai đoạn đánh Mỹ cứu nước, có nhiều trường ca hay, Thu Bồn là một cây bút tiên phong, có nhiều thành quả rất đáng ghi nhận trong thể loại này” [51, tr.60]
2.2.3 “Thu Bồn - bơi qua biển lửa ta về lại” của tác giả Ngô Thị Kim Cúc, đăng
trên báo Thanh niên, là cảm nghĩ về thơ Thu Bồn - một hồn thơ chan chứa tình yêu
quê hương, đất Mẹ Khi nói về mảng trường ca, tác giả đặc biệt chú ý đến sự xuất hiện với tần số cao “hình ảnh con người không khuất phục” [23, tr.65-66]
2.2.4 Tác giả Nguyễn Viết Lãm trong bài viết: “Bài ca chim Chơrao, một bản
trường ca hay” in trên Tạp chí Văn học, số 5 (1965) là bài viết đầu tiên về trường ca
Thu Bồn nói chung Song, đấy cũng chỉ là đánh giá sơ lược về nội dung và nghệ thuật trường ca đầu tay của Thu Bồn: “Bài ca chim Chơrao”
2.2.5 Phải đến Mai Bá Ấn với những công trình nghiên cứu công phu, kỹ lưỡng như: “Đặc điểm trường ca Thu Bồn, Nguyễn Khoa Điềm và Thanh Thảo”, “Người lính trong trường ca Thu Bồn, Nguyễn Khoa Điềm và Thanh Thảo” hay “Trường ca Thu Bồn – thể loại và cấu trúc”… thì các trường ca của Thu Bồn mới phần nào được nghiên cứu một cách toàn diện Mặc dù tác giả đã bước đầu đi vào tìm hiểu người lính – hình tượng nhân vật chính trong các trường ca viết về chiến tranh,
Trang 12nhưng hướng nghiên cứu lại đi vào khảo sát tác phẩm của nhiều tác giả tiêu biểu chứ chưa tập trung lại ở một tác giả hay một đề tài cụ thể nào Tuy nhiên, đây vẫn là những công trình hết sức quý giá và đáng được ghi nhận của Mai Bá Ấn
Tóm lại, các tác giả đã khẳng định đúng vai trò, vị trí của Thu Bồn đối với thể loại trường ca hiện đại; có những đánh giá, nhận định khái quát về đặc sắc của trường ca Thu Bồn Song, từ trước tới nay chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu cụ thể, chuyên sâu đặc điểm nội dung, nghệ thuật những trường ca viết
về chiến tranh của ông Tình hình trên đặt ra một vấn đề: Cần phải đi sâu tìm hiểu,
lý giải và phân tích cụ thể, hệ thống từng khía cạnh: nội dung, nghệ thuật, để từ đó khẳng định những đóng góp của trường ca Thu Bồn về đề tài chiến tranh đối với văn học Việt Nam hiện đại Luận văn này thừa kế những nhận định, những thành quả nghiên cứu trước đó về trường ca Thu Bồn Các bài viết trên là những gợi ý hết sức quan trọng cho chúng tôi trong quá trình thực hiện đề tài
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn đi sâu vào tìm hiểu và phân tích những điểm nổi bật về phương diện nội dung và nghệ thuật những trường ca viết về chiến tranh của Thu Bồn
Trang 134 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Chỉ ra được những đặc điểm nổi bật về nội dung và hình thức thể hiện của trường ca Thu Bồn về đề tài chiến tranh
- Khẳng định sự đóng góp của Thu Bồn đối với sự phát triển của trường ca Việt Nam hiện đại nói chung và thơ ca viết về chiến tranh nói riêng
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các thao tác và phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp tiếp cận hệ thống: tìm đọc tất cả các trường ca của Thu Bồn, các bài viết, các công trình nghiên cứu bàn về thể loại trường ca nói chung và trường ca Thu Bồn nói riêng; các bài viết của chính tác giả thổ lộ xung quanh việc sáng tác trường ca của mình
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: trước hết tiến hành khảo sát từng trường
ca, sau đó khái quát thành những đặc điểm tiêu biểu và phân tích để làm rõ những điểm nổi bật đó
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: so sánh với một số tác giả viết cùng thể loại, cùng thời
- Ngoài ra, phương pháp khảo sát, thống kê cũng được sử dụng để đưa ra những số liệu minh họa, tạo sức thuyết phục cho các luận điểm được đưa ra
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm có ba chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về trường ca và trường ca Thu Bồn
Chương 2: Những cảm hứng lớn trong trường ca viết về chiến tranh của Thu Bồn Chương 3: Những phương thức nghệ thuật trong trường ca viết về chiến tranh của Thu Bồn
Trang 14NỘI DUNG Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TRƯỜNG CA
VÀ TRƯỜNG CA THU BỒN
1.1 Những vấn đề chung về trường ca
1.1.1 Nội hàm của khái niệm trường ca
Trường ca là một phạm trù thể loại có nội hàm rất rộng Xung quanh việc xác định nội hàm khái niệm “trường ca”, ý kiến của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước hầu như vẫn chưa nhất quán, bởi lẽ, trường ca có dung lượng rất lớn, có khả năng tích hợp nhiều thể loại văn học, nghệ thuật khác Theo X.I Kormilov:
“Trường ca (tiếng Hy Lạp: poèma- sáng tác) theo quan điểm hiện đại là các tác phẩm thơ ca có dung lượng lớn và vừa” Nhà nghiên cứu Hoàng Ngọc Hiến trong
Năm bài giảng về thể loại cũng có ý kiến tượng tự: “Thể loại ta vẫn quen gọi là
“trường ca” trong thuật ngữ văn học Liên Xô cũ gọi là Poèma, được hiểu với nghĩa rất rộng, nội hàm không xác định, thậm chí mông lung.“Trường ca” chỉ có nghĩa là
tác phẩm thơ dài, số lượng câu thơ lớn: hàng trăm, hàng ngàn câu” [36, tr.44]
Trong Từ điển thuật ngữ văn học do Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn
Khắc Phi đồng chủ biên, các tác giả dường như cũng tán thành ý kiến này khi họ cũng cho trường ca là “Tác phẩm thơ có dung lượng lớn, thường có cốt truyện tự sự hoặc trữ tình – Trường ca cũng được dùng để gọi các tác phẩm sử thi (espopée) thời
cổ và thời trung đại, khuyết danh hoặc có tác giả” [33, tr.319] Chẳng hạn, ở Việt
Nam, tên gọi trường ca một thời dùng để chỉ các sử thi dân gian như Đam San, nay dùng để chỉ các sáng tác như Bài ca chim Chơ- rao của Thu Bồn, hay Đường tới
thành phố của Hữu Thỉnh
Tương tự như vậy, cuốn 150 thuật ngữ văn học, 1999, Nxb Đại học Quốc gia
Hà Nội do Lại Nguyên Ân biên soạn cũng định nghĩa: “Trường ca là tác phẩm thơ có dung lượng lớn, thường có cốt truyện tự sự hoặc trữ tình Trường ca cũng được dùng
để gọi các tác phẩm sử thi (espopée) thời cổ và thời trung đại, khuyết danh hoặc có tác giả, mà theo các nhà nghiên cứu khác nhau, chúng được soạn bằng cách xâu chuỗi các bài hát sử thi và truyện kể (theo A.Veselovski), hoặc bằng cách “nới rộng” một
Trang 15hoặc một vài truyền thuyết dân gian (theo A Hoysles), hoặc bằng cách cải biên các cốt truyện cổ xưa trong tiến trình tồn tại của sáng tác dân gian (theo A Lord, M Pary) Trường ca được phát triển từ những thiên sử thi miêu tả những sự kiện mang ý
nghĩa lịch sử toàn dân (Iliade, Mahalharata, Bài ca chàng Roland…)” [11]
Nhà thơ Thu Bồn thì lại cho rằng: “Trường ca là một thể loại thơ dài nhằm thể hiện một chủ đề tư tưởng thông qua hình tượng thơ ca, sử dụng ngôn ngữ, nhân vật, âm điệu, bố cục… một cách điêu luyện và tinh xảo nhất của toàn bộ nghệ thuật thơ ca” [55, tr.536] và “Trường ca là một tòa lâu đài của thơ ca, là một kiến trúc tổng hợp của thơ ca” [55, tr.538]
Như vậy, nhìn bao quát thì những định nghĩa, quan niệm trên cùng có một điểm chung, đó là khẳng định: trường ca là tác phẩm thơ có dung lượng lớn Tuy nhiên, việc xác định trường ca là “tác phẩm thơ ca có dung lượng lớn và vừa”, “tác phẩm thơ dài, số lượng câu thơ lớn”… như trên, thực chất mới chỉ xác định được những dấu hiệu bề ngoài, dễ nhận thấy của thể loại đặc biệt này Nét đặc trưng thể loại của trường ca là một tác phẩm thuộc loại hình trữ tình, hay chính xác hơn là một tác phẩm tự sự được thể hiện bằng phương thức trữ tình và cái quyết định “nội dung lớn” trong trường ca chính là tư tưởng lớn, tình cảm lớn, cảm hứng lớn của tác giả thể hiện trong trường ca
1.1.2 Phân biệt trường ca với thơ dài và truyện thơ
Từ trước đến nay, chúng ta thường hiểu trường ca theo khái niệm rộng nên nhiều tác phẩm thực chất là truyện thơ hoặc thơ dài, thậm chí là diễn ca vẫn được gọi là trường ca Tuy nhiên, thể loại trường ca mà chúng ta nghiên cứu ở đây chính là những tác phẩm thơ theo hướng trữ tình hóa yếu tố tự sự bằng một cấu trúc nghệ thuật phức tạp và hoành tráng về cả phương diện nội dung và hình thức Do đó, dựa trên một số đặc điểm về phương thức sáng tác, đã có nhiều nhà nghiên cứu tiến hành phân biệt trường ca với các thể loại có cùng đặc điểm hình thức như thơ dài và truyện thơ
1.1.2.1 Trường ca và thơ dài
Thơ dài (còn gọi là thơ trường thiên) thực chất là thơ trữ tình nhưng mở rộng phạm vi phản ánh hiện thực bằng cách tăng cường yếu tố tự sự Vì thế, nhiều năm qua chúng ta vẫn có sự đánh đồng giữa trường ca và thơ dài Để phân biệt rõ giữa
Trang 16trường ca với thơ dài, nhà nghiên cứu Mã Giang Lân đã chỉ ra sự khu biệt giữa hai thể loại này qua ba bình diện: 1 Về âm hưởng sử thi; 2 Về kết cấu tác phẩm; 3 Về phương thức biểu hiện [45, tr.108-109] Những ý kiến khu biệt này, ở cái nhìn khái quát, chúng ta dễ dàng chia sẻ và thống nhất, tuy nhiên, nếu lấy hai tác phẩm bất kỳ
ra để đối chiếu cụ thể thì những khu biệt trên cũng chưa đủ sức tạo lập một đường biên rõ rệt Ở đây, chúng ta có thể thống nhất rằng: thơ dài là thơ trữ tình nới rộng
mà thôi, nghĩa là, suy cho cùng, nó là thơ, cũng như ở thể loại truyện, ta có truyện ngắn và truyện dài Chính độ ngắn dài đó làm cho chúng có sự khác biệt về nội dung phản ánh Vì muốn phản ánh nội dung lớn, nhà thơ phải nới dài độ rộng lớn của hình thức thơ cho phù hợp với hiện thực được phản ánh, mà đã mở rộng hiện thực phản ánh, tất phải nghiêng nặng hơn về phía tự sự mới giữ được “độ trường” Nhưng dù có cố gắng thế nào thì độ nông của một bài thơ, dù là thơ dài, cũng có giới hạn của nó theo dòng sự kiện (vì ở thơ dài, hình bóng “nhân vật” không lấn át
được cái tôi của thơ trữ tình) Theo chân Bác của Tố Hữu thực chất là một bài thơ
dài, hình tượng Bác được phản ánh qua cảm xúc chủ quan của tác giả, chưa trở
thành nhân vật khách quan của thời đại như ở trường ca Vách đá Hồ Chí Minh của Thu Bồn hay hình tượng Tôn Đức Thắng trong Bài thơ Hắc Hải của Nguyễn Đình Thi, hoặc hình tượng Cao Bá Quát trong Đêm trên cát của Thanh Thảo…
Như vậy, giữa trường ca và thơ dài, chúng ta có thể phân biệt qua một đường biên mang tính lô-gic như sau: Nếu thơ dài là sự mở rộng dung lượng của thơ trữ tình ở mức độ vẫn còn được gọi là thơ thì trường ca cũng là sự mở rộng dung lượng của thơ trữ tình nhưng lượng mở rộng này đã tích lũy đủ để biến thành một chất mới
có tên là: trường ca
1.1.2.2 Trường ca với truyện thơ
Trong lịch sử văn học Việt Nam, truyện thơ Nôm đã trở thành một thể loại phát triển rầm rộ và đạt đến đỉnh cao, làm nên diện mạo văn học trung đại Việt Nam Người Việt vốn là cư dân nông nghiệp lúa nước thuộc loại hình văn hóa gốc nông nghiệp điển hình, cho nên vốn rất mạnh về tư duy tổng hợp và yếu trong tư duy phân tích Vì lẽ đó, người Việt xem trọng thơ hơn văn, xem thơ là thể loại nghệ
Trang 17thuật siêu phàm nhất trong mọi loại hình văn học nghệ thuật Chữ viết của người Việt cổ sớm bị hủy diệt vì âm mưu đồng hóa của ngoại xâm, các loại chữ Hán, Nôm sau này lại quá khó học, khó phổ cập nên từ Cách mạng tháng Tám (1945) trở về trước, số lượng người Việt biết chữ để đọc được không nhiều, cho nên họ thích nghe Mà đã nghe thì phải nhớ để mà kể lại, vì thế, họ thích chuyện được viết bằng thơ, có vần Cũng do xuất phát từ đặc trưng văn hóa này mà trong tiến trình hiện đại hóa nền văn học Việt Nam vào đầu thế kỷ XX, thể loại truyện thơ đã được hồi sinh
sau khi truyện ngắn bằng văn xuôi hiện đại đầu tiên là Truyện thầy Lazarô Phiền
của Nguyễn Trọng Quản vừa ra đời đã không được người đọc chấp nhận và lập tức chìm vào quên lãng Mãi đến khi văn xuôi Tự lực văn đoàn ra đời và chiếm lĩnh văn đàn, truyện thơ mới lại lui vào im lặng Thực ra, văn xuôi Tự lực văn đoàn thắng thế
do lượng người đọc ở đô thị (trí thức tiểu tư sản, tiểu thương thành thị) chứ quảng đại quần chúng công nông thì vẫn còn mê truyện thơ Vì thế, khi bước vào kháng chiến với khẩu hiệu “đại chúng hóa” văn học để phục vụ công nông binh, truyện thơ đột nhiên sống lại Đặc biệt là lần này nó được hồi sinh bằng chính sáng tác của những nhà thơ hiện đại như Việt Ánh, Nguyễn Đình Thi, Hoài Giao, Trần Hữu Thung… Điều này cho ta thấy, chức năng thể loại trước yêu cầu hiện thực quả là yếu tố quyết định đối với đời sống văn học như đã nói ở trên Nghĩa là, do tính bảo thủ của các giá trị văn hóa mà trong lịch sử văn học nước ta, truyện thơ cứ sống dấm dẳng trong khi thực tế nó đã hoàn thành “sứ mạng thể loại” từ văn học trung đại Vì lẽ đó mà cho đến nay, tất cả các truyện thơ hiện đại đều không còn sống được mà duy chỉ có truyện thơ Nôm truyền thống là tồn tại vĩnh viễn với thời gian Như vậy, sự giống nhau và khác nhau của truyện thơ và trường ca là dễ dàng nhìn thấy Cả hai đều được viết bằng thơ, những truyện thơ nghiêng về phía tự sự kết hợp trữ tình trên nền một cốt truyện và có nhân vật hẳn hoi, được kể lại theo cách kể chuyện của ngôi thứ ba Trong khi trường ca lại trữ tình hóa các yếu tố tự sự mà không cần cốt truyện hoàn chỉnh, không cần hình tượng nhân vật điển hình, chỉ khơi gợi những số phận nhân vật trong những lóe sáng tính cách đậm chất thơ Có thể ví truyện thơ như là những truyện (văn xuôi) có cốt truyện, có nhân vật hoàn chỉnh
Trang 18theo lối truyền thống; còn trường ca như là những truyện không có cốt truyện, có nhân vật hoặc không có nhân vật và nhân vật đôi khi chính là “cái tôi” tác giả
1.2 Trường ca Thu Bồn trong dòng chảy trường ca Việt Nam hiện đại
1.2.1 Trường ca Việt Nam hiện đại
Văn học Việt Nam 1945- 1975 là giai đoạn văn học đã theo sát mỗi bước chuyển của lịch sử dân tộc Thế hệ các nhà văn, nhà thơ đã thực hiện sứ mệnh cao cả của mình, phản ánh một cách chân thực và lãng mạn đời sống chiến đấu, lao động của chiến sỹ, nhân dân ta qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội sau này Ở thời điểm nào, văn học cũng “lấy được cái hồn”, những đường nét cơ bản, không khí hào hùng mang đậm hơi thở của cuộc sống Thực tế đời sống đã cung cấp cho người nghệ sỹ cả tài liệu và cảm hứng, đến lượt mình, nó đòi hỏi nhà thơ phải phản ánh được không chỉ cái không khí tinh thần, mà còn cả chiều dài, chiều sâu của hiện thực Sự thể hiện trực tiếp cảm xúc, suy ngẫm trong khuôn khổ các bài thơ thông thường trở nên chật hẹp, thơ cần có thêm tiếng nói anh hùng ca, cần khai thác triệt để mặt mạnh của phương thức tự sự để xây dựng cái nền vững chắc và cụ thể cho việc thể hiện những suy nghĩ và tình cảm lớn, tức là cần một thể loại tổng hợp của các thể thơ, tổng hợp của phương thức tự sự và phương thức trữ tình, tổng hợp tính chất của nhiều thể loại văn học, nghệ thuật khác như truyện, ký, kịch, âm nhạc, hội họa…Thể loại đó chỉ có thể là trường ca
Trong không khí hào hùng đầy chất sử thi của thời đại mới, những người lính – nhà thơ đã vào sinh ra tử ở chiến trường lại cũng có một nhu cầu hết sức tự nhiên là muốn tổng kết, nhận diện lại lịch sử một cách sâu sắc hơn, trọn vẹn hơn
mà dung lượng ngôn từ của một bài thơ trữ tình nhỏ không thể đủ để nhà thơ “giãi bày” tất cả nội dung hiện thực đồ sộ đó Các nhà thơ trẻ đã tìm đến thể loại trường
ca như một cuộc hội ngộ của tư tưởng sáng tạo bởi đây là một thể loại nghệ thuật tổng hợp, có nhiều ưu thế trong việc chiếm lĩnh và phản ánh cả một không gian, thời gian rộng lớn, dựng lên những chân dung và tính cách hoàn chỉnh của người anh hùng, của nhân dân, đất nước trong thời đại chống Mỹ Cũng có thể nói, nhu cầu mở rộng dung lượng và quy mô của cảm xúc trong tác phẩm thơ trữ tình sau
Trang 19này vẫn khiến cho trường ca trở thành sự lựa chọn của nhiều nhà thơ khi phản ánh các vấn đề nhân sinh, thế sự, gắn mạch cảm xúc của tác giả với nhịp đập đa dạng, muôn màu của cuộc sống
Sự định hướng tự giác của nền văn học chiến tranh và cách mạng đối với thể tài lịch sử - dân tộc đã tác động mạnh mẽ đến sự biến đổi của từng thể loại và cơ cấu hệ thống thể loại văn học từ sau Cách mạng tháng Tám - 1945 cho đến nay Sự hình thành thể loại trường ca và sự nở rộ của những sáng tác trường ca vào những năm 1970- 1985 gắn liền với sự phát triển của hệ thống thể loại của nền văn học dân tộc Mặt khác, sự ra đời và phát triển của thể loại trường ca là kết quả của quá trình
tự vận động theo xu hướng phát triển, hòa nhập và hoàn thiện tất yếu của các thể loại văn học Có thể nói, văn học Việt Nam giai đoạn 1945- 1975 không thiếu một thể loại nào: truyện ngắn, truyện vừa, truyện dài, các loại ký: ký sự, bút ký, tùy bút, truyện ký, các thể thơ: thơ tứ tuyệt, thơ trào phúng, truyện thơ, trường ca…” Do
đó, sự xuất hiện của trường ca là một tất yếu nằm trong hệ thống các thể loại văn học Việt Nam nói chung và thơ Việt Nam nói riêng Có thể trường ca không phải là thể sau cùng của thơ trên con đường phát triển của nó, song, với tư cách là một thể tổng hợp được những ưu trội của nhiều thể thơ khác, trường ca có khả năng thâu tóm, khái quát được và thể hiện một cách sinh động, phong phú, hấp dẫn, phù hợp với việc chuyển tải quy mô, tầm vóc lớn lao của những vấn đề lịch sử - thời đại; đồng thời đáp ứng được đòi hỏi cao của bản thân thể loại trong quá trình phát triển của nó Ở nước ta, văn học trước thế kỷ XX vẫn được gọi là văn học trung đại với đặc trưng là tính quy phạm, mẫu mực, việc sáng tác hầu như phải tuân thủ chặt chẽ theo khuôn khổ nhất định Vì thế cơ hội cho các thi sĩ, văn sĩ “sáng tạo” các thể loại mới và bộc lộ cá tính cá nhân là không nhiều Cho đến khi làn gió đổi mới từ phương Tây thổi đến (cùng với sự kiện Pháp xâm lược nước ta) thì nền văn học Việt Nam lập tức có những sự cách tân nhanh chóng mà như Vũ Ngọc Phan đã nói trong Nhà văn hiện đại: “Ở nước ta, một năm có thể kể như ba mươi năm của người” Thời kỳ này các thể loại văn học, đặc biệt là văn xuôi và thơ ca đồng loạt phát triển và gặt hái được những thành tựu không thể phủ nhận Tuy nhiên, trường
Trang 20ca hầu như vẫn vắng mặt Nguyên nhân thì có nhiều, song, công bằng mà nói, ở thời điểm đó, nền văn học Việt Nam tuy đã thoát khỏi quy phạm trung đại và tính chất khu vực, được hiện đại hóa một cách toàn diện, song nó chưa đủ để gọi là trường ca với đặc trưng cơ bản là khả năng khái quát, tổng hợp phát triển Sau 1945, cùng với thực tế sôi động của cuộc kháng chống Pháp, các nhà thơ đã bắt nhịp được với xu thế lịch sử và hòa cùng với cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc mà bộc lộ tầm cảm xúc, sức khái quát của mình Trường ca lẻ tẻ xuất hiện cùng các sáng tác dài hơi của Xuân Diệu, Tố Hữu, Chế Lan Viên, Tế Hanh, Huy Cận Và phải chờ đến cuộc kháng chiến Mỹ và sau chống Mỹ, với sự xuất hiện của hàng loạt những nhà thơ trẻ tài năng, có thực tế, được rèn luyện trong môi trường cách mạng, trường ca mới thực sự phát triển cả về số lượng và chất lượng
V.Maiacôvxki đã từng nói “Người làm thơ là người sáng tạo ra luật lệ, cũng sáng tạo ra các thể loại thơ ca Việc sáng tạo ra thể loại đòi hỏi những tài năng lớn ” Các nhà thơ trẻ, những cây bút trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống
Mỹ có đầy đủ các phẩm chất ấy, đồng thời bản thân họ cũng có nhu cầu bộc lộ tư tưởng cảm xúc của mình Chính họ cùng với tài năng, niềm say mê đã đem đến diện mạo hoàn chỉnh mới của thể trường ca trong thơ ca dân tộc
Tóm lại, với tư cách là một thể loại hoàn chỉnh, sự ra đời của trường ca là kết quả của sự tìm tòi, sáng tạo của rất nhiều thế hệ nhà thơ; nó đồng thời cần có một hệ
số thời gian để thử thách, hoàn thiện; nó là một phần gắn bó chặt chẽ với các thể loại khác của nền văn học dân tộc từ đó cùng với các thể loại khác, trường ca tạo nên diện mạo phong phú, đa dạng, hấp dẫn cho nền văn học Việt Nam Sự ra đời của trường ca
là phù hợp với đòi hỏi thúc bách của thực tế đời sống Và một thể loại như vậy sẽ có chỗ đứng vững chắc trong sự phát triển chung của toàn bộ nền văn học
Về các chặng đường phát triển của trường ca Việt Nam hiện đại, có thể thấy trường ca xuất hiện lẻ tẻ trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, khởi sắc từ những năm 60, phát triển mạnh những năm 70 và nở rộ sau những năm chiến tranh, bắt đầu lắng xuống khi bước vào thời kỳ đổi mới rồi xuất hiện trở lại vào những năm 90 của thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI Giai đoạn mở đầu của thể loại trường ca trong văn học
Trang 21Việt nam có thể lấy mốc từ những năm 1945 cho đến 1965 Ở chặng đường mở đầu này, đội ngũ sáng tác không nhiều, số lượng các trường ca cũng tương đối ít ỏi, sự phân định giữa thể loại trường ca với thơ dài cũng chưa thật rạch ròi Có thể kể đến
các tên tuổi tiêu biểu như: Xuân Diệu với Ngọn Quốc kỳ và Hội nghị non sông, Khương Hữu Dụng với Từ đêm mười chín (1948), Hà Thanh Đẩu với Việt Nam hùng
sử ca (1949), Phùng Quán với Tiếng hát trên địa ngục Côn Đảo (1954), Văn Cao với Những người trên cửa biển (1956), Thu Bồn với Bài ca chim chơrao (1963), Xuân
Thiêm với Xuôi dòng Nậm Na (1964)… Về cơ bản, các trường ca trên đã phản ánh
được một số sự kiện, nhân vật tiêu biểu trong thời kỳ kháng chiến chống pháp, chống
Mỹ Đó là những anh du kích, những người chiến sĩ cách mạng…Tuy nhiên, tầm khái quát và chất lượng nghệ thuật của các trường ca này chưa cao
Sang giai đoạn từ 1965 đến 1985, trường ca bước vào thời kỳ phát triển mạnh mẽ và trở thành hiện tượng văn học đáng chú ý trong những năm kháng chiến chống Mỹ và sau giải phóng Đề tài chủ yếu trong trường ca giai đoạn này chính là
đề tài chiến tranh Dưới các góc nhìn khác nhau, các tác giả trường ca đã đem đến cho thể loại này sự phong phú về nội dung, sức khái quát của thể loại và một hình thức, kết cấu tương đối hoàn chỉnh cho thể loại trường ca Mười năm đầu của giai đoạn thứ hai này (1965- 1975), chính là thời kỳ khốc liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước Đội ngũ sáng tác chính là những người lính trực tiếp cầm súng chiến đấu Họ được tôi luyện và trưởng thành trong không khí sôi nổi của thời đại
Có thể kể đến một số tên tuổi tiêu biểu như: Lê Anh Xuân, Thu Bồn, Thái Giang, Vương Trung, Nguyễn Khoa Điềm… đã kịp thời có mặt và tiếp nối truyền thống của đàn anh lớp trước Sự bổ sung lực lượng này làm cho đội ngũ sáng tác trường ca giai đoạn này đông đảo hơn, số lượng các trường ca cũng nhiều hơn, phong phú hơn đáp ứng được nhiệm vụ phản ánh hiện thực rộng lớn của giai đoạn cách mạng mới, đồng thời làm thay đổi diện mạo thơ ca nói chung, thể loại trường ca nói riêng Nếu như các trường ca sáng tác trước năm 1964 sự phản ánh hiện thực thường bị bó hẹp trong những phạm vi không gian, thời gian, địa điểm, hoặc chỉ gói gọn trong một số đối tượng cụ thể thì ở giai đoạn sau, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ đã mang tính
Trang 22toàn dân, toàn diện, các tác giả trường ca được sống trong không khí sôi động nên phản ánh được nhiều phương diện của cuộc chiến Đặc biệt, vấn đề của tuổi trẻ và phong trào đấu tranh của tuổi trẻ với vận mệnh của đất nước được đề cập đến trên một diện rộng hơn Đa số các trường ca giai đoạn này, thể hiện rõ ý thức về bản chất và cấu trúc thể loại trường ca Có thể kể đến một số trường ca tiêu biểu như:
Những anh hùng Đồng Tháp (Giang Nam), Bài ca chim Chơrao (Thu Bồn), Mặt đường khát vọng (Nguyễn Khoa Điềm), Kể chuyện ăn cốm giữa sân (Nguyễn Khắc
Phục)… Các tác giả trường ca giai đoạn này chủ yếu là các nhà thơ trẻ, đồng thời là những người lính trực tiếp cầm súng chiến đấu, họ viết trong hoàn cảnh chiến tranh cho nên các sáng tác của họ thường bề bộn ít sự chọn lọc, tính chất liệt kê phác thảo vẫn là chủ yếu
Sau năm 1975, đất nước hoàn toàn được giải phóng, các nhà thơ đã tích lũy những điều kiện cần thiết để nhận thức rõ về giá trị bản thân, về sự lớn lao, vĩ đại của dân tộc, về niềm vui chiến thắng và cả những mất mát đau thương Từ những nền tảng đó những bản trường ca ra đời Số lượng và chất lượng trường ca viết sau chiến tranh đã có bước tiến rõ rệt Khuynh hướng chung của các bản trường ca là muốn tổng kết, khái quát về chiến tranh thông qua sự trải nghiệm của bản thân mỗi nhà thơ Ngay sau khi chiến tranh kết thúc, hàng loạt trường ca có dung lượng lớn, phong phú
về nội dung, sâu sắc về tư tưởng, nhuần nhuyễn về nghệ thuật thể hiện đã lần lượt
“trình làng” Có thể kể đến một số trường ca tiêu biểu như: Những người đi tới biển của Thanh Thảo (1976), Hữu Thỉnh có Đường tới thành phố (1977), Anh Ngọc với tác phẩm Sông núi trên vai (1977) và năm 1983 xuất bản tiếp Điệp khúc vô danh, Nguyễn Đức Mậu với Trường ca sư đoàn (1978), Nguyễn Trọng Tạo với Con đường
của những vì sao (1978), Trần Mạnh Hảo thì có Mặt trời trong lòng đất (1979)…
Những năm đầu thập kỷ 80, nối tiếp những thành công trước đó, các nhà thơ tiếp tục viết thêm rất nhiều trường ca nữa, thậm chí có những người còn sáng tác cả
một sê ri trường ca như: Thanh Thảo với Những ngọn sóng mặt trời (1982 - bao gồm 3 tác phẩm), sau đó là Khối vuông ru- bích (1985) và sau này là Trò chuyện với
nhân vật của mình (2002), Vĩnh Quang Lê từ 1981 đến 1986 xuất bản liền 4 trường
Trang 23ca: Những lời ca chưa đủ, Một vé đi về ánh sáng, Thức dậy lúc 0 giờ, Những câu trả
lời ngắn nhất Ngoài ra còn phải kể đến: Thu Bồn với O Ran 76 ngọn (1980), Anh
Ngọc có Sông Mê Công bốn mặt (1981), Võ Văn Trực với Hành khúc mùa xuân
(1980)… Sau một thời gian dài được thử nghiệm, các cây bút viết trường ca đã có
sự thẩm thấu, sàng lọc về cả tư tưởng lẫn cảm xúc cho nên các tác phẩm trường ca giai đoạn này không chỉ tiếp tục phát huy tính năng động của thể loại mà còn đánh dấu sự chín muồi về tư tưởng, nhận thức và trình độ nghệ thuật Trong tất cả các trường ca kể trên, dù ít dù nhiều đã có sự huy động chất xám của các tác giả để tạo
ra sự phối hợp nhuần nhuyễn trong lòng tác phẩm các thể loại văn học khác nhau, các thủ pháp nghệ thuật cũng như mọi khả năng biểu đạt của thơ ca Đồng thời sự phối hợp cảm xúc và tổ chức kết cấu, giọng điệu, ngôn từ… của các tác giả cũng ngày càng tinh tế, nhịp nhàng, đưa trường ca bước vào độ chín của thể loại Phạm vi hiện thực trong các trường ca viết sau chiến tranh cũng đã được nâng lên một tầm cao mới thể hiện được sự khái quát, tổng hợp trên nhiều phương diện khác nhau của lịch sử cũng như đời sống nhân dân Có thể nói, phạm vi hiện thực trong trường ca được mở rộng đến tận cùng của chiều sâu suy ngẫm triết luận, chiều dài thời gian và chiều rộng của không gian Đi sâu vào các sáng tác trường ca giai đoạn này chúng
ta không chỉ thấy con đường giải phóng đất nước mà ở đó còn có mẹ, có chị, có anh, có người chiến sỹ, có cô thanh niên xung phong… mỗi người một cuộc đời, một tâm trạng Những con người ấy đi từ ngày qua đêm, từ quá khứ đến hiện tại, đồng hành cùng lịch sử và chính họ đã làm nên cuộc đời chung của đất nước
(Đường tới thành phố - Hữu Thỉnh) Không chỉ có vậy, trong Những người đi tới
biển của Thanh Thảo đã phản ánh hành trình đi tới biển của không chỉ một thế hệ
mà còn làm sáng tỏ những cội nguồn sâu xa nhất làm nên sức mạnh thúc đẩy cuộc chiến đấu trường kỳ của nhân dân ta tới chiến thắng…
Từ sau năm 1985 đến nay, đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, đội ngũ tác giả viết trường ca được bổ sung không nhiều, số lượng các tác phẩm cũng thưa thớt hơn trước, song vẫn có những trường ca tương đối đặc sắc Có thể kể một vài gương mặt tiêu biểu như Thanh Thảo, Nguyễn Đức Mậu, Trần Anh Thái, Thi Hoàng, Hoàng Trần Cương… Nội dung phản ánh của trường ca đã được mở rộng trở nên
Trang 24phong phú và đa dạng hơn Bên cạnh chủ đề chiến tranh và những hậu quả của nó, các tác giả trường ca còn đồng thời chú ý đến các vấn đề thường nhật của cuộc sống Khuynh hướng triết luận, mở rộng trường liên tưởng, tính ẩn dụ, giọng điệu cắt nghĩa, biện giải và xây dựng các biểu tượng mang tính biểu trưng cao… là những đặc điểm nổi bật của trường ca giai đoạn này Trường ca Việt Nam hiện đại
đã có một con đường phát triển riêng cùng với các thể loại khác trong lòng nền văn học dân tộc Từ hiện thực đau thương của đất nước trong chiến tranh, qua bước chuyển tiếp của thời kỳ sau giải phóng, bước một bước dài đến cuộc sống của con người hiện đại, trường ca đã mang trong mình sức mạnh của hiện thực, sự nâng đỡ của cảm xúc dạt dào, sôi nổi của những nhà thơ trẻ sống, chiêm nghiệm qua hiện thực chiến tranh cũng như những xô bồ của cuộc sống thị trường thời kỳ đổi mới
Vì thế, trường ca vừa có được sức bao quát, ôm chứa một hiện thực rộng lớn đồng thời vẫn thấm đẫm cảm xúc của người viết, qua từng thời kỳ mà có sự hoàn thiện dần và đạt đến sự chín muồi của một thể loại hoàn chỉnh
1.2.2 Trường ca viết về chiến tranh của Thu Bồn
Như đã trình bày, trường ca nếu hiểu một cách “thông thoáng” là một thể xuất hiện từ rất sớm, trong văn học dân gian Song, cả một thời gian dài, trong văn học viết, thể loại này hầu như bị phai mờ, quên lãng Thảng hoặc, người ta có nhắc đến nó thì cũng chỉ là sự gán ghép khiên cưỡng vào những tác phẩm thơ dài, truyện thơ hoặc
để gọi tên cho những quyển sách hay, những tập sách hay mang tính anh hùng ca
Cuộc chiến đấu chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta vào những năm 60 của thế kỷ XX đã bước sang một giai đoạn mới: miền Bắc vừa hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng xã hội chủ nghĩa, vừa chi viện, góp sức cùng miền Nam ruột thịt tiếp tục chiến đấu chống Mỹ - Ngụy Cuộc sống của dân tộc Việt Nam những năm tháng
này hết sức vĩ đại, con người Việt Nam lớn hẳn lên về lý trí, tư tưởng, tình cảm:
Tâm hồn lớn lên với thời gian
Ta không để tháng ngày thành nước chảy Sống sao cho xứng đáng với miền Nam Nửa nước anh hùng đang rực cháy!
(Tế Hanh)
Trang 25Một thời đại như vậy đòi hỏi phải có những bản trường ca hùng tráng, tương xứng để ngợi ca cuộc chiến đấu đầy dũng khí, ca ngợi công cuộc lao động đầy sáng tạo và không biết mệt mỏi của quân dân ta trên cả hai miền đất nước Trong bối cảnh ấy, từ miền Nam khói lửa, từ miền Nam đau thương nhưng anh dũng quật
cường, năm 1963, Thu Bồn đã cho ra đời bản trường ca Bài ca chim Chơrao – một
sự khởi đầu ngoạn mục Theo hồi ức của Thu Bồn, Bài ca chim Chơrao được ông
viết trong một mùa rẫy ở Tây Nguyên Đêm xuống, khi mọi nhiệm vụ của người chiến sĩ đã hoàn thành, khi đồng đội đã chợp mắt, ông bắt đầu viết Một cô bé Tây Nguyên dễ thương có tên là Hơ Tó ở làng Đepapơlênh sát căn cứ giặc ở Pleime – đã thức suốt nhiều đêm cầm ngọn đuốc lồ ô soi cho nhà thơ viết từng trang, từng trang
bản thảo Sau khi ra đời, Bài ca chim Chơrao cũng có một hành trình hết sức vất vả,
bền bỉ Nó được “hành quân” cùng bước chân đi bộ của nhà thơ Thanh Hải từ miền
Nam ra miền Bắc Về tới báo Văn nghệ, ngay lập tức tác phẩm được in trang trọng thành một tờ phụ trương Sự xuất hiện của trường ca Bài ca chim Chơrao trở thành
một hiện tượng văn học độc đáo, gây tiếng vang lớn trong nước và quốc tế Nhà văn
Trung Trung Đỉnh khẳng định Bài ca chim Chơrao của Thu Bồn đã đánh thức đúng
lúc một thể loại văn học nhiều năm trước đó gần như bị bỏ quên Nó được đón nhận nồng nhiệt không chỉ đối với giới sáng tác mà ngay lập tức được giới trí thức, đặc biệt là học sinh, sinh viên vô cùng ngưỡng mộ
Qủa thực, Bài ca chim Chơrao không những là bài ca hùng tráng ca ngợi tình
đoàn kết Kinh – Thượng và tinh thần quyết tâm đánh bại kẻ thù của nhân dân vùng địch tạm chiếm ở miền Nam, mà còn là động lực mạnh mẽ, đánh thức một thể loại văn học nhiều năm còn ngủ quên Nó khiến cho văn đàn thời đó sôi động hẳn lên, mang đến ấn tượng hết sức mạnh mẽ, cảm động đến sửng sốt cho những độc giả miền Bắc vào nửa đầu những năm 60 của thế kỷ XX Nó rung cảm người đọc bởi vẻ đẹp rực rỡ vừa bi tráng, vừa sôi sục ý chí, lại vừa đằm thắm nghĩa tình Có thể nói, đây là bản trường ca đầu tiên của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đến từ miền Nam đau thương Số phận của Hùng, Rin đồng thời cũng là số phận của bao con người miền Nam trong cảnh kẻ thù chiếm đóng Ý chí kiên cường, lý tưởng cao
Trang 26cả của Hùng, Rin đồng thời cũng là ý chí, là lý tưởng của nhân dân miền Nam, của
dân tộc Việt Nam trong cuộc chiến đấu trường kỳ, anh dũng Bài ca chim Chơrao
cũng là bản trường ca duy nhất của Việt Nam được trao giải thưởng Lotus của Hội Nhà văn Á – Phi (1973)
Tiếp sau Bài ca chim Chơrao là sự ra đời hàng chục trường ca khác của Thu
Bồn, Nguyễn Khoa Điềm, Hữu Thỉnh, Thanh Thảo, Trần Đăng Khoa, Trần Vũ Mai, Ngô Văn Phú, Anh Ngọc, Vĩnh Quang Lê… Xa hay gần, trực tiếp hay gián tiếp, những tác phẩm trường ca được viết ở giai đoạn những năm 70, 80 của thế kỷ XX đều bắt
nguồn từ sự khởi đầu đầy ấn tượng và gần gũi trong cảm hứng hiện thực với Bài ca
chim Chơrao của Thu Bồn Như vậy, sự ra đời của Bài ca chim Chơrao không những
được đón nhận, được yêu mến, được ngợi ca mà còn có tác động rất lớn đến văn học nước nhà trong những năm chống Mỹ, trở thành một dấu son trong những trang thơ kháng chiến lẫn nền văn học Việt Nam thế kỷ XX Đây là sự khởi đầu, đặt nền móng
và là sự khẳng định cho thể loại trường ca trong giai đoạn mới của lịch sử, của văn học Thành công này không hề đơn giản, ngẫu nhiên bởi nghệ thuật là cả một quá trình lao động không mệt mỏi, không ngừng nghỉ với bao tìm tòi, trăn trở, sáng tạo của người nghệ sĩ Thu Bồn đến với văn học nghệ thuật, xuất hiện trên văn đàn một cách bất ngờ, độc đáo bằng một tác phẩm là kết quả của sự dày công tìm kiếm một thể loại vừa phù hợp tương xứng, vừa có ưu thế nhất trong việc chuyển tải hiện thực đời sống lớn lao, cao cả bấy giờ Đây là kết quả của sự trưởng thành trong nhận thức, trong tư duy, trong khả năng thẩm mỹ của một nghệ sỹ chân chính đang cùng nhân dân đi trong đau thương mà hào hùng của cuộc chiến tranh ái quốc vĩ đại; đồng thời cũng là một sự lựa chọn đầy trách nhiệm với nhân dân, với dân tộc, với thơ, với nền văn học nước nhà Một sự lựa chọn, sự khởi đầu thật có ý nghĩa và đáng ghi nhận!
Phải nhấn mạnh rằng, việc lựa chọn thể loại sáng tác là một lẽ, việc khẳng định mình bằng một thể loại nào đấy trên văn đàn mới là cả một vấn đề lớn lao và không hề đơn giản đối với người nghệ sỹ bởi chỉ yêu thích thôi thì chưa đủ Người cầm bút phải có khả năng, sở trường thuần thục, nhuần nhị Thể loại là dấu hiệu của đặc điểm tâm lý, thẩm mỹ và cảm hứng sáng tạo của người nghệ sỹ Nó không phải
Trang 27được tạo ra một cách cơ học theo kiểu lựa chọn hoàn toàn chủ quan mà bắt nguồn từ cảm xúc tự nhiên đã được ấp ủ chín muồi từ trong tâm thức, từ trong thi hứng Thi hứng của thi nhân là một phức thể vô cùng phong phú và đa dạng Tuy vậy, mỗi một tác giả tùy thuộc vào nhân sinh quan và thế giới quan của mình mà có những mặt nổi trội riêng trong cảm thức cuộc đời một cách nghệ thuật Với Thu Bồn, từ cảm thức gần gũi, thấu hiểu đến độ hòa mình vào cuộc sống, chiến đấu và lao động của nhân dân, từ lẽ sống “khi Tổ quốc lâm nguy thì nhà văn cũng phải biết phơi mình trên chiến địa…”, từ quan niệm “trường ca là đỉnh cao của thơ ca, nhằm một thời điểm biến động nhất của lịch sử, nó xuất hiện như một điều tất yếu”, ông đã lựa chọn, đã say mê, đã thành công và khẳng định vị thế của mình trên văn đàn bằng thể
loại trường ca mà mở đầu là Bài ca chim Chơrao
Sau Bài ca chim Chơrao, Thu Bồn đã sáng tác một loạt các trường ca khác,
đa số là các trường ca viết về đề tài chiến tranh Trong đó, phải kể đến những tác
phẩm tiêu biểu như: Vách đá Hồ Chí Minh (1970), Chim vàng chốt lửa (1973 - 1975), Badan khát (1976), Campuchia hy vọng (1978), Người vắt sữa bầu trời (1986), Oran 76 ngọn (1980 - 1989) Rõ ràng, không chỉ là người khai mở, Thu
Bồn còn là một trong những tác giả dẫn đầu về mặt số lượng tác phẩm trường ca Trước Thu Bồn và cùng thời với ông, cũng đã có nhiều tác giả tìm đến thể loại này
và đã có những thành công nhất định Nhưng về số lượng thì cho đến thời điểm Thu Bồn qua đời, chưa có tác giả nào vượt được ông Có lẽ cũng vì điều đó mà nhắc đến tác giả của những trường ca, đặc biệt là trường ca về đề tài chiến tranh, người đọc sẽ nghĩ ngay đến Thu Bồn
Vẫn biết số lượng tác phẩm, tất nhiên, chưa phải là tất cả, chưa khẳng định được điều gì, song, điều muốn nói ở đây là với một thể loại gai góc, hóc búa và phức điệu như trường ca mà Thu Bồn vẫn miệt mài sáng tác - sáng tác dồn dập, cuồn cuộn nhiệt huyết, bản năng như thế thì quả là một điều đáng khâm phục Có những thời điểm như 1975, 1985, ông đã sáng tác hai trường ca trong một năm cùng với nhiều tác phẩm thuộc thể loại khác Điều đáng nói là hầu hết trường ca nào cũng dày dặn, ngồn ngộn hiện thực, căng tràn cảm xúc Vượt lên trên số lượng tác phẩm,
Trang 28vượt lên số trang của từng trường ca, tác phẩm của ông thật sự đã đạt đến “chất”, ấy
là chất hiện thực nóng bỏng và chất sáng tạo nghệ thuật đích thực Độc giả đến với
trường ca Thu Bồn từ thuở Bài ca chim Chơrao ngày ấy cho đến bây giờ đều thống
nhất trong ý kiến đánh giá: trường ca chính là sở trường, là năng khiếu, bản năng và tài nghệ của ông Chính sức sáng tạo dồi dào, tuôn chảy liên tục để cho ra đời hàng loạt trường ca như thế đã tạo nên hình ảnh một Thu Bồn “vạm vỡ”, tràn đầy sinh lực trong sáng tạo và trong đời sống, xứng đáng là một trong những nhà thơ xuất sắc của thế hệ chống Mỹ, nhà thơ hàng đầu của mảng văn học chiến tranh nhân dân
và quân đội cách mạng
Tuy nhiên, sự lựa chọn thể loại không phải là thao tác đầu tiên của người nghệ sỹ sáng tác văn chương, mà cái quyết định thể loại cho tác phẩm phải là cảm hứng sáng tạo Mỗi một nhà văn, nhà thơ đều có một vốn sống riêng tạo nên tính cách và cảm hứng sáng tác Qúa trình sáng tác là sự kiểm nghiệm tư duy nghệ thuật của mỗi cá nhân nghệ sỹ Thơ khác với văn xuôi trong cảm xúc thẩm mỹ ở chỗ một bên là trực tiếp, một bên là gián tiếp Có xúc cảm, nhà thơ có thể sáng tác, song, theo thể loại nào thì còn phải có sự can thiệp của thời gian Nói như vậy có nghĩa là tìm được một thể loại thích hợp cho cảm xúc trong sáng tạo thơ ca quả là một vấn
đề quan trọng mang tính quyết định tới sự thành công của tác phẩm Cảm hứng sáng tác thường nảy sinh cảm hứng thể loại Song, sự nảy sinh đó luôn luôn đòi hỏi một
sự tìm tòi, thể nghiệm, làm sao cho vừa phù hợp với mình, vừa phù hợp với yêu cầu của thời đại, vừa là tiếng nói độc đáo của cá nhân, vừa nói lên tiếng nói của cộng đồng Đối với một thời đại lịch sử đau thương nhưng hào hùng, khi tất cả mọi người, mọi nơi, mọi lúc đều dốc sức cho chiến trường, cho cuộc chiến tranh ái quốc
vĩ đại thì vấn đề trên đặt ra với người nghệ sỹ càng trở nên nghiêm khắc, khắt khe hơn Với Thu Bồn - Hà Đức Trọng, dường như ông đã làm một thử nghiệm nghiêm túc qua các thể loại: thơ ngắn, truyện và tiểu thuyết Nhưng độc giả đã ghi nhận sự thành công của ông đặc biệt ở thể trường ca Chính nhà thơ cũng đã có lần phát biểu: “Bắt đầu từ hiện thực hùng vĩ của Tây Nguyên bất khuất, mình gắn bó với Tây Nguyên, với đồng bào, được tiếp xúc với kho tàng đồ sộ những trường ca bất hủ
Trang 29như Đam San, Xing Nhã… với truyền thống Folklore đậm đà từ trong lời ăn tiếng nói Mình nghĩ, chỉ có trường ca mới có đủ khả năng hiện thực và trữ tình để chuyển tải nội dung, lượng cảm xúc của mình về Tây Nguyên, về cuộc chiến đấu thần thánh của đồng bào chiến sĩ” Song, công bằng mà nói, bên cạnh trường ca, Thu Bồn còn sáng tác thơ tự do, thơ bảy chữ, tám chữ và cũng được công chúng
yêu thơ quan tâm Những bài thơ như: Gửi lòng con đến cùng Cha, Hôn mảnh đất
quê hương, Tre xanh, hay Tạm biệt Huế… thực sự đã đi vào tâm thức người đọc
bao thế hệ Đặc biệt, bài thơ Tạm biệt Huế sáng tác năm 1980, sau được khắc lên
một tấm bia ở Huế, được những cô hướng dẫn viên với giọng Huế trầm ấm, ngọt ngào đọc lên trong mỗi dịp tiễn khách sau những ngày thăm Huế ra về Tuy vậy, thơ ngắn Thu Bồn vẫn chưa thực sự tạo nên một khối màu riêng biệt, nổi trội trên thi đàn đương đại trong suốt hành trình sáng tác của ông Điều này không chỉ căn cứ vào tác phẩm mà chính bạn bè đồng nghiệp và cả bản thân nhà thơ cũng từng khẳng định Khi tìm được thể loại phù hợp là trường ca, Thu Bồn đã lao vào sáng tác với tất cả trí tuệ, tâm huyết của mình Với những gì đã làm được, Thu Bồn có quyền tự hào về tài năng của mình trong việc phát hiện và phát huy thế mạnh của một thể loại tưởng chừng đã bị lãng quên trong văn học dân tộc Và, trong sự trở lại sôi nổi, rầm
rộ của trường ca những năm 70, 80 thế kỷ XX, Thu Bồn đã tạo được tiếng nói riêng, dấu ấn riêng, sắc thái riêng cho những bản trường ca của mình
Trang 30độ, rất phong phú và đa dạng Có thể nói, cảm hứng về quê hương đất nước là một trong những cảm hứng chủ đạo và xuyên suốt trong văn thơ Thu Bồn, ghi một dấu
ấn rõ rệt trong các sáng tác của ông và đã góp phần quan trọng trong việc hình thành nên một diện mạo phong cách Thu Bồn
2.1.1 Quê hương đất nước tươi đẹp, giàu truyền thống văn hóa
Ca ngợi hình ảnh thiên nhiên đất nước tươi đẹp, trước Thu Bồn, đã có rất nhiều
tác giả, trường ca tái hiện mà Bài thơ Hắc Hải của Nguyễn Đình Thi là một ví dụ:
Việt Nam đất nước ta ơi Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn
Cánh cò bay lả rập rờn Mây mờ che đỉnh Trường Sơn sớm chiều…
Những dòng thơ đằm thắm, mượt mà, những hình ảnh thân thương, thơ mộng cũng chính là niềm tự hào sâu sắc của người lính, của nhà thơ về quê hương đất nước mình - một quê hương thanh bình yên ả, phì nhiêu màu mỡ, nên thơ và tràn trề nhựa sống
Đến Thu Bồn, cái tươi đẹp, trù phú, nên thơ ấy vẫn tiếp tục được khai thác,
tái hiện Ngay từ trường ca đầu tiên - Bài ca chim Chơrao - mượn hồi ức của Hùng
Trang 31về đồng bằng quê nhà, về mẹ, nhà thơ đã viết lên những lời thơ ca ngợi quê hương thật chân thật, đầy tự hào và thiết tha:
Quê hương ơi! Những chiều biển lặng Con cá chuồn lao phóng như tên Ánh đèn xanh đêm hè soi mực Con sứa rập rình chờ nước biển lên Nắng vẫn chói trời quê hương cũ Con cá ngừ xanh biếc làn da
Qủa là một vùng quê trù phú, yên bình Nơi ấy, biển vẫn chiều chiều ca hát, sóng vỗ vào bờ tựa lời ru êm ái, ngọt ngào Những hình ảnh “con cá ngừ xanh biếc làn da”, “con cá chuồn lao phóng như tên” nối tiếp nhau đi vào giấc mơ con Biển vừa là nơi nuôi dưỡng tâm hồn, vừa cho ta sự sống mỗi ngày Nhớ biển, nhớ nắng, nhớ trời…để rồi đọng lại trong nỗi nhớ bóng dáng mẹ yêu:
Bữa ăn sum vầy bên bếp lửa
Mẹ so đũa thừa lại nhắc tên ta
Những câu thơ mộc mạc, bình dị mà sức gợi, sức ngân vang lại xoáy sâu vào gan ruột mỗi người Quê hương dân dã với “bữa ăn sum vầy bên bếp lửa” nhưng dù có đi xa,
có ở trong hoàn cảnh lao tù xiêng xích, lòng con vẫn không nguôi nhớ, không nguôi yêu thương Nhớ bữa cơm đạm bạc nhưng lại đem đến cho ta cảm giác ấm áp, an lành khi được sum họp, quây quần bên những người thân yêu trong gia đình Nhớ người mẹ suốt đời tần tảo nhưng vẫn yêu thương, hy sinh cho các con hết mình, mặc dù con đi vắng nhưng ngày ngày “so đũa thừa lại nhắc” đến tên con Một chi tiết nhỏ bé thôi mà sao có sức chứa, sức nặng thật lớn, nói lên được cả tấm lòng người mẹ thương con vĩ đại Phải
có một tình yêu sâu sắc của tâm hồn người nghệ sỹ gắn bó với quê hương thì mới nói lên được những điều giản dị mà vô cùng thiêng liêng như thế này
Từ không gian vùng biển yên bình, nhà thơ chuyển tiếp đến không gian Tây Nguyên núi rừng rộng lớn một cách thật tự nhiên, linh hoạt Đơn giản bởi đó cũng
là một phần của Tổ quốc yêu thương, một vùng quê yên bình như bao vùng quê khác trên mọi miền đất nước:
Trang 32Hỡi bầy chim chơ rao trong mây trắng Hỡi con chim Pơxe trong nắng phất cờ Hỡi con Xemđum Xemtơrăng lấy mật Rộn ràng cây Kơtơđáp sáng tinh mơ Hoa Tapơkô nhụy vàng năm cánh trắng Tinh khiết vô cùng màu trắng lơpang Hoa patdu nở hồng bên suối
Đồi khoác roong reng ngát màu vàng
(Bài ca chim Chơrao)
Một Tây Nguyên rực rỡ sắc màu, rộn rã âm thanh, bạt ngàn hoa và nắng gió
Sự quyện hòa giữa cây cối và muông thú, giữa sắc màu và âm thanh cho ta một cảm giác ngọt ngào đến tinh khiết, mộng mơ đến an bình, đắm say đến mê hoặc Biện pháp liệt kê nhưng không cứng nhắc mà đầy sức gợi của ngòi bút Thu Bồn đã cho ta men say với cảnh sắc nơi này Đọc những dòng thơ: “Thác mãi cùng ca hát/ Con cá
hồng vờn nước thảnh thơi” (Bài ca chim Chơrao) thì dẫu chưa một lần đến Tây
Nguyên - quê hương thứ hai của Thu Bồn, ta vẫn thiết tha yêu một vùng đất hữu tình, tự nhiên nơi ấy Tâm hồn ta như cùng ngân lên bản nhạc yêu đời, yêu cuộc sống, yêu quê hương trong sự dâng tặng, sự bao bọc và giao hòa tuyệt vời của thiên nhiên chốn này Thu Bồn được mệnh danh là “nhà thơ của núi rừng Tây Nguyên”
quả không sai một chút nào Đến Badan khát, một bản hùng ca về công cuộc khôi
phục và xây dựng kinh tế trên địa bàn Tây Nguyên, vùng đất ấy lại được hiện ra với một dáng vẻ khác:
Phía Tây ngọn Chgiangxin nơi ngọn núi với trời khoảng cách ấy tưởng đưa tay là níu được đỉnh Ngọc Linh những cánh chim ngang ngược con đại bang màu đất nâu
Trang 33Chiều kích Tây Nguyên cao vời vợi, không gian Tây Nguyên bao la phóng khoáng, thế đứng Tây Nguyên vững chãi vô vùng Sau một hình ảnh nhân hóa là một sự so sánh rất gần, rất cụ thể, Thu Bồn đã cho người đọc cảm nhận được rõ ràng cái chiều kích, cái tầm thước hùng vĩ của Tây Nguyên Bởi thế mà:
Tôi thấy mình đương đi trên vỏ hành tinh ánh sáng Núi dẫn chân người tít tắp trên cao
Mặt trái đất ngọt lành ấm áp (…) Vòng tay lớn ôm đầy bao khát vọng Những khu rừng đầy nắng
Mùi cỏ nồng nàn man dại những loài hoa
Đất trời, núi rừng, cây cỏ Tây Nguyên vừa hòa quyện vào hồn người, vừa bao bọc, nâng đỡ, làm điểm tựa vững chắc cho con người Một nơi mà vừa mang đến những phút giây thanh thản, an lành, mộng mơ lại vừa tiếp sức cho con người, hẳn khó tìm đâu ra bằng chính mảnh đất Tây Nguyên hùng vĩ, tươi đẹp này:
Đất nước Tây Nguyên anh hùng bất khuất Màu xanh lớp lớp vô tận dấy lên
Đầu đỡ vòm trời chân xoài biển cả Vai vắt khăn mây dải lụa mềm
(Bài ca chim Chơrao)
Qủa là một sự kết hợp tuyệt vời giữa hai cực tưởng như đối lập nhau: cứng cỏi, vững chãi với trữ tình, nên thơ Không gắn bó với Tây Nguyên, không yêu Tây Nguyên từ trong mạch sống mỗi ngày, hẳn Thu Bồn đã không cảm hết và không viết nên được những dòng thơ đẹp như thế này về Tây Nguyên Thu Bồn yêu mảnh đất ấy không chỉ vì nó hùng vĩ và nên thơ mà còn bởi nơi đây là một kho báu văn hóa dân gian khổng lồ, đặc biệt là “kho báu” trường ca Đi tới buôn làng nào, ta cũng gặp các nghệ nhân hát khan bằng thơ Họ có thể hát về những câu chuyện bi tráng diễn tả sức mạnh phi thường của các trang anh hùng dân tộc đánh lui thần linh, quỷ dữ, đánh bại kẻ thù xâm lăng hết ngày nọ qua ngày kia, bên đống lửa, bên ché rượu cần và bên những người thân trong cộng đồng buôn làng Thu Bồn là trai
Trang 34người Kinh, là anh bộ đội cụ Hồ, là người nghệ sỹ của nhân dân Mỗi khi nhân dân vui hội hè, ông hòa nhập vào cuộc sống của bà con dễ dàng như chính ông được sinh ra và lớn lên từ những buôn làng này:
Cô gái Bana rông chiêng gióng trống Trai Giarai nhảy chật nhà rông
(Bài ca chim Chơrao)
Đó là lúc mà người ta tạm quên đi những nhọc nhằn, vất vả của một ngày nương rẫy, là lúc hòa mình vào nhịp thở của cộng đồng, buôn làng, hay thăng hoa với những điệu nhảy miên man, những lời hát mê hoặc, tỏ tình dịu êm của đôi lứa trong nhịp chiêng, trống giục giã, ngân vang Đến Tây Nguyên chỉ một lần thôi, chứng kiến một đêm hội nhà rông, hẳn sẽ không bao giờ người ta quên được men say ngất ngây của riêng nó và đặc biệt là cả “pho sử sống nằm im trong đất” cũng
mê hoặc không kém:
Bạn đến đây muốn hiểu chốn này Xin khơi lại những lớp đất nâu đầy ải B52 cày xới biết bao lần
Pho sử sống nằm im trong đất Vòng cung lửa cuối cùng đã tắt Bao nhiêu người còn thuộc chuyện Đam San Bạn đến đây mời bạn nghe chiêng Mơnông Chiêng sẽ kể về gương thần hỏa xá
Bạn sẽ nghe âm vang đàn đá
Mở đầu những vũ điệu Tây Nguyên…
(Badan khát)
Cái “pho sử” tưởng chừng “nằm im trong đất” ấy vẫn ngân vang trong thanh
âm cuộc sống buôn làng, vẫn hiện hữu đâu đây trong lời kể, lời hát, lời truyền tụng của nhiều lớp người Tây Nguyên Lại một lần nữa, dưới ngòi bút phóng túng, hào sảng mà trữ tình, giàu cảm xúc của Thu Bồn, Tây Nguyên với những đặc sắc văn hóa muôn đời được dựng lên sinh động, say lòng
Trang 352.1.2 Quê hương đất nước đau thương nhưng anh dũng quật cường
Đất nước Việt Nam bên cạnh những trang sử đau thương thấm đầy nước mắt qua bao cuộc chiến tranh là biết bao trang sử hào hùng chói lọi của sức mạnh quật khởi, của ý thức đấu tranh bảo vệ chủ quyền, độc lập dân tộc Lịch sử bốn nghìn năm dựng nước và giữ nước của cha ông đã tạo nên một truyền thống đáng tự hào của dân tộc: đau thương lắm song cũng rất đỗi hào hùng, oanh liệt Thời đại nào cũng thế, hễ có gót chân của quân xâm lược thì đời sống nhân dân lại chìm trong khổ ải, máu và nước mắt với bao nỗi nhục nhằn, đắng cay Song, con người Việt Nam không hèn yếu, không dễ cúi đầu khuất phục, trái lại, họ là những con người giàu tự trọng, tự tôn dân tộc và hết sức kiên cường, bất khuất Thẳm sâu trong họ là một tình yêu nước nồng nàn, quý báu được tôi luyện từ ngàn đời, ăn sâu vào trong tiềm thức của mỗi người dân Việt Từ những trang văn học viết đầu tiên của dân tộc
ở thế kỷ X, truyền thống ấy đã được khẳng định mạnh mẽ, hùng hồn:
Nam quốc sơn hà Nam đế cƣ Tiệt nhiên định phận tại thiên thƣ Nhƣ hà nghịch lỗ lai xâm phạm Nhữ đẳng hành khan thủ bại hƣ
(Nam quốc sơn hà)
Qủa là một lời tuyên ngôn hùng hồn, thể hiện một ý chí quyết tâm mãnh liệt, một sức mạnh quật cường, một tinh thần dân tộc cao cả Một lời thề mãi mãi khắc sâu trong lòng người dân nước Nam Đó là lời thề sẽ đánh tan tác kẻ thù càn quấy
để giữ yên quê hương xứ sở Bốn câu thơ, mỗi câu chỉ có bảy chữ nhưng lại có sức gợi rất lớn Nó khiến ta liên tưởng đến cả một truyền thống bất khuất hào hùng cảu dân tộc Truyền thống ấy bắt nguồn từ lòng yêu nước sâu nặng đã nhấn chìm mọi kẻ thù xâm lược Lịch sử Việt Nam rạng ngời những chiến công Lý Thường Kiệt thắng Tống, Trần Hưng Đạo với hào khí Đông A phá tan giặc Mông Nguyên, Lê Lợi đánh đuổi giặc Minh ra khỏi bờ cõi Bằng thể thơ thất ngôn tứ tuyệt, giọng thơ dõng
dạc, đanh thép, Nam quốc sơn hà xứng đáng là bản Tuyên ngôn độc lập đầu tiên
khẳng định chủ quyền về lãnh thổ của đất nuớc và nêu cao ý chí quyết tâm bảo vệ
Trang 36chủ quyền đó trước mọi kẻ thù xâm lược
Đến với Tây Nguyên, mảnh đất giàu truyền thống này luôn không ngừng sản sinh ra những con người vĩ đại và những tác phẩm ngợi ca các bậc anh hùng có sức mạnh phi thường, tiêu biểu cho cả cộng đồng dân tộc Từ thời xa xưa, trong các tác phẩm văn học dân gian, người ta đã thấy được cái hào khí bừng bừng, ngùn ngụt của cha ông trong cái thuở tưởng như còn rất sơ khai, mông muội Chắc hẳn chúng
ta đều không thể quên được sử thi Đam San, một pho sử thi đồ sộ biểu dương, ca
ngợi ý chí, sức mạnh phi thường của con người trong trận chiến chống lại những thế lực bạo tàn đen tối để nhằm hướng tới một cuộc sống bình yên, no ấm cho buôn làng Người nghệ sỹ dân gian Tây Nguyên bằng tài năng và niềm tự hào của mình
đã xây dựng lên một hình tượng nhân vật anh hùng đậm màu sắc thần kỳ, huyền thoại, đó là người tù trưởng Đam San Đam San có sức mạnh lay trời, chuyển đất, chặt núi làm đường; có ý chí gan góc, giết tê giác, hùm beo, mãnh thú, ma quỷ; có tài năng và lòng dũng cảm, đánh bại tất cả các tù trưởng hùng bạo, độc ác khác Đặc biệt, người anh hùng ở đây còn mang một lý tưởng, một khát vọng mãnh liệt: đi bắt
Nữ thần Mặt trời, cũng là đồng nghĩa với khát vọng chinh phục thiên nhiên to lớn,
vĩ đại Rõ ràng, sức mạnh cộng đồng, tập thể đã dồn tụ vào một con người - một lãnh tụ tiêu biểu và đại diện cho tất cả bộ tộc để thể hiện sức mạnh, ý chí, khát vọng chiến thắng mọi thế lực đen tối, vươn tới một cuộc sống to lớn, tốt đẹp hơn
Với Thu Bồn, một người đã trải qua hai trận chiến, đã chứng kiến bao cảnh tang thương của quê hương đất nước trong khói lửa chiến tranh, đã từng đau nỗi đau của người dân mất nước, từng chịu nỗi căm hờn của một dân tộc bị chà đạp, giày xéo thì hình ảnh quê hương đau thương nhưng anh dũng quật cường lại càng trở thành một ám ảnh, một biểu tượng cao cả, thiêng liêng Ngay trong những bài thơ ngắn, ta đã bắt gặp những câu thơ viết về quê hương đầy bi tráng, xúc động:
Đất hỡi đất! Người vẹn lòng yêu nước Viên đạn bây giờ cày lên viên đạn năm xưa
(Hôn mảnh đất quê hương)
Trang 37Một đất nước vừa thoát khỏi cuộc chiến chống thực dân, chưa kịp hàn gắn thương tích trên mình lại phải đối đầu với một cuộc chiến mới của đế quốc xâm lăng, có lẽ không thể có cách nói nào sâu sắc hơn, thấm thía hơn và ấn tượng hơn cách nói của Thu Bồn: “Viên đạn bây giờ cày lên viên đạn năm xưa” Hay đó là hình ảnh mảnh “vườn xanh” ngày xưa mướt xanh sự sống, lấp lánh bao kỷ niệm thiếu thời, thì hôm nay:
Hai mươi năm… anh trở về quê mẹ Thuốc độc quân thù rải chết những đường thôn Rụng lá lìa cành cây cỏ héo hon…
(Vườn xanh)
Héo tàn là thế, tang thương là thế, song, quê hương ấy cũng rất đỗi anh hùng:
Nay sóng dậy âm vang triều lịch sử Người em đã trở thành quân cảm tử
Tà áo bay đỏ máu vẫy đồng bào Chiếc khăn tay nhuộm máu hóa cờ hoa…
… Che chở bảo vệ làng mạc quê hương
(Tre xanh)
Có thể thấy, đánh giặc giữ nước là truyền thống nổi bật làm nên phẩm giá Việt Nam Tuy nhiên, ngoại trừ những diễn ca lịch sử, trong thơ trữ tình, trường ca chính là thể loại thuận lợi nhất để trường liên tưởng “dài hơi” của nhà thơ thả sức thể hiện cảm hứng sử thi bay bổng của mình khi nói về truyền thống Theo Thu Bồn, “trường ca là sự mở rộng chức năng yếu tố tự sự trong thơ trữ tình, là một hiện tượng thâm nhập của các thể loại thơ, là một kết cấu mềm dẻo mà đa tiện” Không
Trang 38những thế, “trường ca còn có thể xông xáo với hiện thực cuộc sống với tất cả sức mạnh của nó (…) trường ca dám xông vào những chỗ hắc búa, những vỉa đá ngầm của cuộc sống…” [55, tr.553-534] Vì thế, ta bắt gặp trong những trường ca vạm vỡ
của Thu Bồn từ Bài ca chim Chơrao, Quê hương mặt trời vàng đến Campuchia hy
vọng, Oran 76 ngọn, Badan khát… đều ngập tràn hình ảnh quê hương đất nước -
một quê hương đau thương nhưng anh dũng quật cường trong khói lửa chiến tranh, kiên cường bất khuất dưới mưa bom bão đạn quân thù
Từ nhỏ, Thu Bồn đã tham gia thiếu sinh quân, vào chiến trường miền Nam, ông là quân giải phóng Chiến tranh đã đeo bám và để lại nhiều dấu ấn đau thương trong gia đình ông: Vợ chồng ông lấy nhau ở chiến trường, sinh ra hai con cũng trên chiến trường để rồi đều bị di chứng chiến tranh, một chết vì bệnh máu trắng, một mắc bệnh thần kinh… Với ông, chiến tranh có ngay từ khi ông mới lọt lòng:
Mẹ sinh con ra vào năm tuổi Hợi Cắt rốn cho con bằng một mảnh bom Dúm nhau mẹ và rốn con chon một chỗ Máu bào thai mẹ và rốn con chảy một lần
(Quê hương mặt trời vàng)
Bởi thế, Thu Bồn quá thấu hiểu, quá thấm thía nỗi đau thương, tủi nhục của người dân mất nước và cũng thấy rõ ý chí quyết tâm trả thù để bảo vệ cuộc sống yên bình cho quê hương của họ Đầu tiên và nổi bật nhất là bản hùng ca chống Mỹ
Bài ca chim Chơrao Mở đầu bản trường ca là hình ảnh một Tây Nguyên chìm
trong bóng đêm, trong sự vây hãm, giày xéo của quân thù:
Làng mạc xa chòi canh thấp thoáng Rào vi giăng bong tối đen ngòm Tiếng mõ điểm canh khua nhức óc Dân vệ đi tuần chó sủa om
Mây đen đè nặng trăng không sáng Loang lổ trời đêm máu tím bầm Rặng núi nặng nề ôm mây ngủ Nghe vẳng phương xa tiếng sấm gầm…
Trang 39Đấy là không khí của Tây Nguyên nói riêng, miền Nam nói chung trong thời điểm cam go nhất của lịch sử Đâu đâu cũng là “chòi canh”, “rào vi” thành lũy quân giặc, đâu đâu cũng chỉ tra tấn, chết chóc, đổ máu… Cảnh tượng ấy không chỉ được tái hiện bẳng những hình ảnh, âm thanh cụ thể “chòi canh thấp thoáng”, “rào vi giăng bóng tối đen ngòm”, “tiếng mõ điểm canh khua nhức óc”, bằng lối tả thực với ngôn ngữ mộc mạc, chân thực “dân vệ đi tuần chó sủa om” mà còn được dựng lên bằng hàng loạt hình ảnh mang tính chất tượng trưng: “mây đen đè nặng trăng không sáng”, “loang lổ trời đêm máu tím bầm”, “rặng núi nặng nề ôm mây ngủ” Tượng trưng mà không trừu tượng, cái tài của ngòi bút Thu Bồn là ở chỗ những chi tiết cụ thể thường có sức khái quát cao, còn những hình ảnh tượng trưng lại có sức gợi mở, gợi cảm lớn Ở đây, những hình ảnh tượng trưng liên tiếp xuất hiện, gợi lên một bầu không khí ngột ngạt, tịch mịch, u uẩn, nặng nề, đau thương, song cũng chất ngất hờn căm, bi phẫn Cả hai khổ thơ đều được viết ra từ một tâm trạng sục sôi căm phẫn nhưng điều đáng quý là Thu Bồn luôn biết làm chủ cảm xúc của mình, dù cảm xúc ấy luôn ở mức độ căng tràn, mãnh liệt Quê hương dưới gót giày xâm lược tàn
tạ là thế, đau thương là thế, song không phải không có dấu hiệu của sự đổi thay Sau một loạt hình ảnh đen tối, mờ mịt là một câu kết với âm thanh: “Nghe vẳng phương
xa tiếng sấm gầm” Âm thanh “sấm gầm” dù mới chỉ là “nghe vẳng” từ phương xa thôi nhưng đó là một âm thanh dữ dội, hùng hồn Phải chăng, đấy là âm thanh dự báo về một ngày mới, một sự vùng lên quật khởi của những người con Tây Nguyên, buôn làng Tây Nguyên không cam chịu đọa đày, chà đạp của quân thù Qủa thật như thế, sau cái âm thanh vang vọng từ xa ấy là một thanh âm rất thật, rất gần và cụ thể “vút cao” lên – “tiếng hát trong ngần” của cô gái “chân đeo xiềng bước thấp bước cao” trong nhà lao:
Tiếng hát trong xà lim sao tha thiết Nhắn nhủ ai chiến đấu trọn đời Hỡi bạn khốn cùng kề vai sát cánh Mất xiềng gông ta đƣợc cả đất trời
Tiếng hát vút lên, trong trẻo, thiết tha như gợi thức, lay động, nhắn nhủ và thúc giục mọi người vùng lên tranh đấu Tiếng hát ấy lại được cất lên trong hoàn
Trang 40cảnh tù đày, giam hãm, từ trái tim một người thiếu nữ của buôn làng nên càng có ý nghĩa hơn, đặc biệt là đối với những người bạn tù, những chàng trai đầy dũng khí trong chốn lao ngục kia Tiếng hát ấy càng tiếp thêm sức mạnh, ý chí, niềm tin cho Rin – người yêu của cô gái và đồng đội của anh – Hùng Vì thế, trong phút giây gặp
gỡ ngắn ngủi nơi buồng giam, Y Rin đã thúc giục cô gái:
Hãy về đi người em thiếu nữ
Đi con đường chiến đấu dài lâu Thế phải đứng anh đứng cho quân thù run sợ Anh không bao giờ còn gặp lại em đâu!
Sau lời thúc giục là lời khẳng định dứt khoát một ý chí đối mặt với quân thù, một bản lĩnh cứng cỏi lạ thường và một sự lựa chọn đầy quyết tâm cho Tổ quốc:
“Thế phải đứng anh đứng cho quân thù run sợ/ Anh không bao giờ còn gặp lại em đâu!” Thế đứng ấy là của Y Rin – một chàng trai đang tay cùm chân khóa, đang đứng trước sự tra tấn tàn bạo của kẻ thù Thế đứng ấy cũng là thế đứng hiên ngang, bất khuất của đồng bào Tây Nguyên nói riêng, của cả dân tộc ta nói chung từ ngàn đời nay Ở đây, Y Rin cũng chính là sự kết tinh cao cả, là biểu tượng cho sức mạnh,
ý chí và lý tưởng của Tây Nguyên Bởi thế, dù quân thù dung mọi thủ đoạn xấu xa
từ dụ dỗ, mua chuộc đến tra tấn dã man thì anh vẫn một lòng kiên định, rắn rỏi:
Khai gì tao là người chiến sĩ Còn tao, sẽ không có chúng mày Giết đi, tao sợ gì cái chết
Xẻo đi, lồng ngực của tao đây
Những lời đối thoại chắc nịch, đanh thép đầy kiêu hãnh và thách thức Đó
là tâm thế sẵn sang đối đầu với cái xấu, cái chết Và cao hơn nữa, đứng trước sự bạo tàn, trước cái chết, anh vẫn giữ một bản lĩnh can trường, một niềm lạc quan
vô bờ bến:
Rin hát, giữa phòng tra Rin hát Đứng hiên ngang đối mặt kẻ thù Bài hát ngợi ca lòng dũng cảm
Ca ngợi lá cờ bay đẹp giữa mùa thu