1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nhận thức, cảm xúc, hành vi của trẻ em trong gia đình có bạo lực

133 519 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 133
Dung lượng 2,56 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

89 Biểu đồ 3.18 Ảnh hưởng của cha mẹ đến nhận thức, cảm xúc, hành vi của trẻ đối với gia đình và đối với bản thân 95 Sơ đồ 3.1 Tương quan giữa bạo lực gia đình với nhận thức, cảm xúc, hà

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

hanh Nga

Hướng dẫnoa học: PGS.TS Đặng Thanh Nga

Hà Nội - 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN THỊ HẰNG

NHẬN THỨC, CẢM XÖC, HÀNH VI CỦA TRẺ TRONG GIA ĐÌNH CÓ BẠO LỰC

Chuyên ngành: Tâm lý học60 31 04 01

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Tâm lí học

Mã số: 60 31 04 01 Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Văn Thị Kim Cúc

hanh Ngan

Hướng dẫnoa học: PGS.TS Đặng Thanh Nga

Hà Nội - 2016

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến PGS.TS Văn Thị Kim Cúc, người thầy đã trực tiếp hướng dẫn, dìu dắt, giúp đỡ tác giả với những chỉ dẫn khoa học quý giá trong suốt quá trình triển khai, nghiên cứu và hoàn thành đề tài

Xin chân thành cảm ơn các Thầy Cô giáo đã trực tiếp giảng dạy truyền đạt những kiến thức khoa học chuyên ngành cho bản thân tác giả trong những năm tháng qua

Xin gửi tới Ban giám hiệu, thầy cô giáo và các bạn học sinh trường THPT Phước Vĩnh và Trung tâm Giáo dục thường xuyên huyện Phú Giáo tỉnh Bình Dương lời cảm ơn sâu sắc vì đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp tác giả thu thập số liệu, tài liệu cần thiết liên quan tới đề tài tốt nghiệp

Cảm ơn sự quan tâm, khuyến khích, động viên từ gia đình và bạn bè trong suốt quá trình tác giả thực hiện luận văn

Một lần nữa xin chân thành cảm ơn!

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Văn Thị Kim Cúc Các trích dẫn và tài liệu sử dụng trong luận văn đều được dẫn nguồn và có độ chính xác cao trong hiểu biết của tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Hằng

Trang 5

1.1 Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến luận văn 13

1.1.1 Các nghiên cứu về trẻ trong gia đình có bạo lực 13 1.1.2 Các nghiên cứu về nhận thức, cảm xúc, hành vi của trẻ trong

1.2.5 Khái niệm gia đình, gia đình có bạo lực và vai trò, chức năng

1.2.6 Khái niệm nhận thức, cảm xúc, hành vi của trẻ trong gia đình

có bạo lực

31

1.2.7 Đặc điểm tâm lý của trẻ trong độ tuổi từ 15 – 17 tuổi 32

Trang 6

2

3.1 Thực trạng bạo lực gia đình trong các gia đình có trẻ độ tuổi

từ 15 đến 17 tuổi tại huyện Phú Giáo tỉnh Bình Dương 51

3.2 Nhận thức, cảm xúc, hành vi của trẻ sống trong gia đình có

3.2.1 Nhận thức, cảm xúc, hành vi của trẻ sống trong gia đình có bạo

3.2.2 Nhận thức, cảm xúc, hành vi của trẻ sống trong gia đình có bạo

3.3 Sự khác biệt trong nhận thức, cảm xúc, hành vi của trẻ trong

3.3.1 Sự khác biệt trong nhận thức, cảm xúc, hành vi đối với gia

3.3.2 Sự khác biệt trong nhận thức, cảm xúc, hành vi đối với bản 89

Trang 7

3

thân của trẻ trong gia đình có bạo lực

3.4 Tương quan giữa ba mặt nhận thức – cảm xúc – hành vi ở

3.4.1 Tương quan giữa ba mặt nhận thức – cảm xúc – hành vi đối

3.4.2 Tương quan giữa ba mặt nhận thức – cảm xúc – hành vi đối

3.4.3 tương quan giữa nhận thức về gia đình với nhận thức về bản

3.5 Ảnh hưởng của cha mẹ đến nhận thức, cảm xúc, hành vi của

Trang 9

Bảng 2.5 Quy đổi điểm cho các item ngược chiều thuộc thang đo

NT-CX-HV

46

Bảng 3.3 Chia mức nhận thức về gia đình của trẻ trong gia đình có bạo

lực

59

Bảng 3.4 Chia mức cảm xúc đối với gia đình của trẻ trong gia đình có 65

Trang 10

Bảng 3.9: Mối tương quan giữa ba mặt nhận thức – cảm xúc – hành vi

đối với gia đình ở trẻ trong gia đình có bạo lực

90

Bảng 3.10: Mối tương quan giữa ba mặt nhận thức – cảm xúc – hành vi

đối với bản thân ở trẻ trong gia đình có bạo lực

91

Bảng 3.11: Mối tương quan giữa nhận thức về gia đình với nhận thức về

bản thân ở trẻ trong gia đình có bạo lực

Biểu đồ 3.3 Nhận thức về tình yêu thương trong gia đình 60

Trang 11

7

Biểu đồ 3.12 Sự khác biệt trong nhận thức, cảm xúc, hành vi đối với gia

đình của trẻ trong gia đình có bạo lực xét theo tuổi

85

Biểu đồ 3.13 Sự khác biệt trong nhận thức, cảm xúc, hành vi đối với gia

đình của trẻ trong gia đình có bạo lực xét theo giới tính

86

Biểu đồ 3.14 Sự khác biệt trong nhận thức, cảm xúc, hành vi đối với gia

đình của trẻ xét theo mức độ bạo lực

87

Biểu đồ 3.15 Sự khác biệt trong nhận thức, cảm xúc, hành vi đối với bản

thân của trẻ trong gia đình có bạo lực xét theo tuổi

88

Biểu đồ 3.16 Sự khác biệt trong nhận thức, cảm xúc, hành vi đối với bản

thân của trẻ trong gia đình có bạo lực xét theo giới tính

89

Biểu đồ 3.17 Sự khác biệt trong nhận thức, cảm xúc, hành vi đối với bản

thân của trẻ xét theo mức độ bạo lực

89

Biểu đồ 3.18 Ảnh hưởng của cha mẹ đến nhận thức, cảm xúc, hành vi của

trẻ đối với gia đình và đối với bản thân

95

Sơ đồ 3.1 Tương quan giữa bạo lực gia đình với nhận thức, cảm xúc,

hành vi đối với gia đình của trẻ trong gia đình có bạo lực

58

Sơ đồ 3.2 Tương quan giữa bạo lực gia đình với nhận thức, cảm xúc,

hành vi đối với bản thân của trẻ trong gia đình có bạo lực

72

Trang 12

Từ xưa đến nay, gia đình luôn được xem là tế bào của xã hội, là trường học đầu tiên của mỗi cá nhân, nơi rèn luyện và đào tạo cá nhân thành những người khỏe mạnh về thể chất lẫn tinh thần để trở thành những thành viên tài, đức ưu tú cho xã hội Nhưng tất cả những điều đó chỉ xảy ra khi gia đình là một tổ ấm, là nơi vun đắp

và trao tặng tình yêu thương, sự quan tâm, chăm sóc giữa các thành viên với nhau, trong tổ ấm gia đình mỗi cá nhân sẽ tìm thấy niềm vui, niềm hạnh phúc và có điều kiện để phát triển toàn diện bản thân Khi BLGĐ xuất hiện, tổ ấm bình yên biến thành nơi tồn tại của những con người mang đầy tâm trạng hoang mang lo sợ, mỗi thành viên đều bị ảnh hưởng mạnh mẽ, trong đó phải kể đến đầu tiên là những đứa trẻ BLGĐ cướp đi môi trường lành mạnh để các em phát triển, thay vào đó việc hàng ngày chứng kiến những mâu thuẫn, bất hòa, cãi vã thậm chí là đánh đập nhau của cha mẹ khiến cho đứa trẻ bị ảnh hưởng nặng nề Kết quả nghiên cứu thăm dò dư luận trẻ em được tiến hành năm 1998 do tác giả Đặng Cảnh Khanh và Nguyễn Văn Buồm thực hiện đã phỏng vấn các em về hình thức xử phạt của cha mẹ với con cái, trong số những em được hỏi có 72.08% nói rằng đã rất đau buồn khi bị xử phạt và

có 27.92% nói rằng các em rất tức giận bố mẹ [12] Trong nghiên cứu của Ủy ban Dân số gia đình và trẻ em cho hay có 50.4% cho rằng BLGĐ có ảnh hưởng xấu đến tâm lý con cái, 46,1% cho rằng BLGĐ sẽ dẫn đến việc con cái dễ sa vào tệ nạn xã hội, 58.7% cho rằng có ảnh hưởng đến việc học hành của con cái [27]

Ở Việt Nam, vấn đề BLGĐ đã được nhà nước và xã hội quan tâm một cách sát sao hơn khi ngày càng có nhiều vụ BLGĐ xảy ra và mang đến những hậu quả lớn, đặc biệt đối với phụ nữ và trẻ em Theo ông Trần Ban Hùng, giám đốc chương trình nghiên cứu về trẻ em của Tổ chức Cứu trợ trẻ em Thụy Điển cho biết: vào năm

Trang 13

9

2005, một nghiên cứu của tổ chức này cho thấy hơn 60% trẻ em nói rằng mình bị trừng phạt thân thể ở gia đình Báo cáo của Cục Bảo vệ chăm sóc trẻ em thuộc Bộ Lao động Thương binh Xã hội cho biết từ năm 2005 đến 2007 số vụ xâm hại, bạo lực đối với trẻ em trong gia đình tăng gấp ba lần so với trước đó [32]

BLGĐ là một trong những nguyên nhân chính gây ra rất nhiều hậu quả tai hại đối với trẻ em và xã hội Theo số liệu thống kê của các cơ quan chuyên theo dõi tình hình trẻ em cho biết, từ năm 1986 đến 1991 có 1.640 trẻ em từ 14 đến 16 tuổi phạm tội bị khởi tố Năm 1994 có 3.056 em, 1995 có 5.005 em Năm 1997 trong số 43% thanh niên nghiện hút ma túy có 25% là dưới 18 tuổi Số trẻ em nghiện hút mà các ngành chức năng của chính phủ phát hiện ra là 4.000 em Báo cáo kiểm điểm 5 năm thi hành Luật Bảo vệ và chăm sóc trẻ em (1991-1996) của 61 tỉnh thành phố cho biết, có 6.826 trẻ em có nguy cơ làm trái pháp luật, 8.539 em làm trái pháp luật Những thống kê gần đây về tình hình trẻ em lang thang cho thấy tỷ lệ trẻ em lang thang vẫn chưa giảm Năm 1998 có 19.048 em, năm 1999 có 23.039 em, năm 2000

có 22.423 em Trẻ nghiện ma túy năm 1998 có 2.755 em, năm 1999 có 1.727 em, năm 2000 có 2.008 em Nghiên cứu về nhóm vị thành niên vi phạm pháp luật cho thấy, việc phải sống trong những gia đình không ổn định, bố mẹ, anh em mâu thuẫn

là một trong những nguyên nhân hàng đầu dẫn các em vào con đường tội lỗi [5] Bên cạnh sự chịu ảnh hưởng của những biến đối phát triển về mặt kinh tế, văn hóa

xã hội thì việc cha mẹ mâu thuẫn, chửi mắng, đánh đập nhau, thiếu sự quan tâm, chăm sóc và dạy dỗ con cái là những nguyên nhân khiến trẻ em không còn muốn gắn bó với gia đình, các em rời bỏ nơi lẽ ra là tổ ấm, để không phải chứng kiến thêm những điều thất vọng, đau khổ từ gia đình và trở thành những trẻ em lang thang dễ sa vào các tê nạn xã hội, mà những vấn nạn trên rất dễ tìm thấy trong các GĐCBL

Đã có rất nhiều nghiên cứu về BLGĐ, hậu quả của BLGĐ nói chung, cũng như các nghiên cứu về trẻ sống trong GĐCBL, tuy nhiên đa số các nghiên cứu chỉ xem xét ảnh hưởng của BLGĐ đối với trẻ em trên một hoặc một vài khía cạnh nào đó trong đời sống của trẻ mà chưa có một nghiên cứu về tổng thể tâm lý các trẻ em

Trang 14

10

trong GĐCBL Để có một cái nhìn khái quát về tâm lý của những trẻ em sống trong

GĐCBL, chúng tôi chọn đề tài: “Nhận thức, cảm xúc và hành vi của trẻ trong gia đình có bạo lực” Với đề tài này chúng tôi sẽ đi sâu tìm hiểu trong môi trường

GĐCBL thì trẻ sẽ có nhận thức, cảm xúc và hành vi như thế nào Qua đó đưa ra các kiến nghị đối với gia đình và đối với xã hội nhằm tạo cho trẻ một môi trường phát triển thuận lợi để có đời sống tâm lý lành mạnh, thể hiện cụ thể ở nhận thức đúng đắn, cảm xúc lành mạnh và hành vi phù hợp

Căn cứ vào cách chia giai đoạn vị thành niên theo Erikson là từ 12 – 20 tuổi [59.2] và khái niệm trẻ em theo Công ước Quốc tế [3], xét thấy giai đoạn 15 – 17 tuổi là giai đoạn các em độc lập về suy nghĩ và hành động nhất so với lứa tuổi vì vậy chúng tôi chọn khách thể là trẻ trong độ tuổi 15 – 17 sống trong những GĐCBL

để nghiên cứu tìm hiểu nhận thức, cảm xúc và hành vi của các em khi sống trong môi trường tương đối đặc biệt này

2 Mục đích nghiên cứu

Chỉ ra mức độ nhận thức, cảm xúc và hành vi của trẻ trong GĐCBL; so sánh mức độ này với trẻ trong gia đình bình thường Qua đó đưa ra các kiến nghị để tạo

ra những thay đổi cần thiết trong nhận thức, cảm xúc và hành vi của trẻ

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Nghiên cứu lý luận:

Nghiên cứu tài liệu liên quan đến vấn đề nhận thức, cảm xúc, hành vi của trẻ trong gia đình có bạo lực để xây dựng cơ sở lý luận của đề tài, cụ thể là xác định các khái niệm cơ bản, khung lý thuyết làm nền tảng cho vấn đề nghiên cứu

3.2 Nghiên cứu thực tiễn:

Khảo sát thực trạng BLGĐ trong các gia đình có trẻ trong độ tuổi từ 15 đến 17 tuổi tại huyện Phú Giáo tỉnh Bình Dương

Điều tra khảo sát thực tiễn nhận thức, cảm xúc và hành vi của trẻ trong GĐCBL

So sánh nhận thức, cảm xúc và hành vi của trẻ trong GĐCBL với nhận thức, cảm xúc và hành vi của trẻ trong GĐKBL

Trang 15

11

Đưa ra một số kiến nghị, giải pháp để tạo ra những thay đổi cần thiết trong NT

- CX - HV của trẻ

4 Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu

4.1 Đối tƣợng nghiên cứu

Nhận thức, cảm xúc và hành vi của trẻ trong GĐCBL

4.2 Khách thể nghiên cứu

293 trẻ trong độ tuổi từ 15 đến 17 tuổi thuộc 3 khối lớp 10, 11, 12 của

Trường THPT Phước Vĩnh và TTGDTX huyện Phú Giáo tỉnh Bình Dương

4.3 Giới hạn nghiên cứu

Giới hạn về nội dung nghiên cứu: Nhận thức, cảm xúc và hành vi là ba phạm trù

rất rộng, tuy nhiên trong luận văn này chúng tôi chỉ nghiên cứu nhận thức, cảm xúc

và hành vi đối với gia đình và đối với bản thân của trẻ trong GĐCBL

Giới hạn về địa bàn nghiên cứu: Đề tài sẽ được tiến hành nghiên cứu tại TTGDTX và Trường THPT Phước Vĩnh huyện Phú Giáo tỉnh Bình Dương

5 Câu hỏi nghiên cứu

Thực trạng BLGĐ trong các gia đình có trẻ trong độ tuổi từ 15 đến 17 tuổi học tại TTGDTX và Trường THPT Phước Vĩnh huyện Phú Giáo tỉnh Bình Dương như thế nào?

Trẻ trong GĐCBL có nhận thức, cảm xúc và hành vi đối với gia đình và đối với bản thân như thế nào? Liệu có sự khác nhau ở các mặt trên giữa trẻ trong GĐCBL và trẻ trong gia đình bình thường?

6 Giả thuyết nghiên cứu

Trẻ trong GĐCBL có nhận thức và hành vi đối với gia đình và bản thân ít tích cực hơn trẻ trong GĐKBL

So với trẻ trong GĐKBL thì trẻ trong GĐCBL có nhiều cảm xúc âm tính đối với gia đình và bản thân hơn

Tình trạng BLGĐ; tình thương yêu, sự quan tâm chăm sóc và sự chia sẻ của cha mẹ dành cho con cái là những yếu tố ảnh hưởng đến NT - CX - HV của trẻ trong GĐCBL đối với gia đình và đối với bản thân các em

Trang 16

12

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp nghiên cứu, phân tích tài liệu: phân tích các tài liệu văn bản

trong nước và quốc tế liên quan đến BLGĐ và NT - CX - HV của trẻ trong GĐCBL

7.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: khảo sát thực trạng BLGĐ và tìm hiểu

nhận thức, cảm xúc và hành vi của trẻ từ 15 đến 17 tuổi trong các GĐCBL

7.3 Phương pháp phỏng vấn sâu: mục đích của phỏng vấn sâu nhằm hiểu sâu,

hiểu kỹ về BLGĐ cũng như NT - CX - HV của trẻ trong GĐCBL

7.4 Phương pháp thống kê toán học: sử dụng phần mềm SPSS 16.0 để xử lý các

dữ liệu thu thập được trong quá trình nghiên cứu

8 Cấu trúc của Luận văn

Phần I: Mở đầu

Phần II: Nội dung nghiên cứu

Chương 1: Cơ sở lý luận

Chương 2: Tổ chức nghiên cứu

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Kết luận và kiến nghị

Trang 17

13

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến luận văn

1.1.1 Các nghiên cứu về trẻ trong gia đình có bạo lực

1.1.1.1 Các nghiên cứu nước ngoài

Tại nước Mỹ vào năm 2000, các cơ quan công quyền nhận được hơn 3 triệu báo cáo về lạm dụng hoặc bỏ mặc trẻ em Điều này có nghĩa là người ta ghi nhận cứ

25 trẻ thì có một vụ xảy ra Một nghiên cứu đã đưa ra số liệu: ở Mỹ có 10 triệu trẻ

em bị BLGĐ hàng năm [dẫn theo2]

Nghiên cứu của Parsons, Wallon, Bowbly và Lacnan cho rằng: gia đình là môi trường xã hội đầu tiên mà mỗi đứa trẻ - mỗi con người được tiếp xúc Trong gia đình người mẹ là người đem lại cho trẻ cảm giác an toàn, còn người cha là người đưa ra những nguyên tắc, chuẩn mực, là hình ảnh của sự rắn rỏi, mạnh mẽ Giáo dục của cha mẹ như là tác nhân có thể kìm hãm, điều chỉnh những rối nhiễu của trẻ, nhưng cũng có thể làm tăng thêm rối nhiễu nếu như không có cách giáo dục phù hợp [28]

Nghiên cứu của nhà Tâm lý học T.A.Gavrinlova (1984) cho rằng mâu thuẫn trong quan hệ giữa cha mẹ và các em thường nằm trong các vấn đề về quần áo, ăn mặc, bạn bè, những trò giải trí,… những khác biệt đó khá rõ nét Chính sự mâu thuẫn này là một trong những nguyên nhân cơ bản khiến cha mẹ phải dùng những lời nói làm tổn thương con trẻ, những sự trừng phạt hay sự bao bọc quá mức đối với trẻ, mà theo các em, tất cả những điều đó đều gây nên ở các em cảm giác không được tôn trọng và bị kiểm soát [37]

Nghiên cứu mối quan hệ giữa việc bị ngược đãi trong gia đình ở tuổi ấu thơ và khả năng thích ứng ở tuổi trưởng thành của Higgins và cộng sự (2003) chỉ ra rằng, chất lượng của những mối quan hệ liên nhân cách ở tuổi trưởng thành bị ảnh hưởng bởi sự gắn bó, gần gũi giữa cha mẹ và trẻ em ở tuổi ấu thơ, sự gắn kết giữa các thành viên trong gia đình ở tuổi ấu thơ Mục tiêu cuộc sống ở tuổi trưởng thành bị ảnh hưởng tiêu cực bởi sự ngược đãi tinh thần ở tuổi ấu thơ [45] Higgins cũng nhận

Trang 18

14

thấy, khi trưởng thành nếu cá nhân có khả năng thích ứng tốt với cuộc sống gia đình

sẽ nhìn nhận cuộc sống xã hội một cách tích cực hơn

Nghiên cứu của Mackenzie – Keating và McDonald (1997) cho thấy, việc áp dụng hình thức kỷ luật hà khắc, cứng nhắc đối với trẻ em chứng kiến BLGĐ ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển tâm lý – nhân cách, đặc biệt, khi hình thức kỷ luật này được người mẹ thực thi Kỷ luật hà khắc của cha mẹ tạo ra và duy trì khoảng cách, trẻ em không có nhiều cơ hội nói về những mong muốn, nhu cầu của bản thân hoặc thương lượng với cha mẹ; các em không nhận được sự cảm thông, chia sẻ, hỗ trợ từ cha mẹ, ngược lại cha mẹ không lắng nghe và thấu hiểu tâm tư, nguyện vọng của trẻ [52]

Một số tác giả nước ngoài: Fantuzzo và Mohr (1999), Mabanglo (2002), Dauvergne và Johnson (2002) nhận thấy, có mối tương quan thuận giữa việc trẻ em chứng kiến BLGĐ và trẻ em bị đối xử một cách ngược đãi [43],[50],[41] Fantuzzo

và Mohr (1999) dự báo có đến 45 – 70% trẻ em chứng kiến cảnh bạo lực giữa cha

mẹ cũng là nạn nhân của hành vi xâm hại thể chất của cha mẹ Wolfe và cộng sự (2003) nhấn mạnh thêm rằng, trong GĐCBL, trẻ em vừa chứng kiến cảnh bạo lực giữa cha mẹ vừa bị cha mẹ đối xử một cách tồi tệ, các em thường bị cha mẹ xâm hại

cả về mặt thể chất lẫn tinh thần Hậu quả là các em gặp vấn đề về cảm xúc và hành

vi nghiêm trọng hơn so với các em khác [58] Lessard và cộng sự (2003), MacAlister Groves (1999) đã tập trung đánh giá hiệu quả và ý nghĩa của can thiệp tâm lý cá nhân đối với những trẻ em bị tổn thương tâm lý nghiêm trọng sống trong GĐCBL [51] Hình thức can thiệp nhóm đối với những trẻ bị rối nhiễu tâm lý trong GĐCBL được Wilson và cộng sự (1989) tập trung xem xét tiêu chí lựa chọn trẻ em tham gia vào nhóm can thiệp [57] Crockford và cộng sự (1993), Evans và Shaw (1993) quan tâm đến hình thức tổ chức và thời gian của một đợt can thiệp nhóm Campeau và Berteau (2007) xem xét nội dung của mỗi buổi can thiệp nhóm, các nhân tố tạo nên hiệu quả của can thiệp nhóm [40] Can thiệp hướng vào gia đình và cộng đồng, Wolfe và cộng sự (2003) cho rằng, can thiệp tâm lý không chỉ tập trung vào trẻ em, cần tác động đến cha mẹ và cộng đồng mới có hiệu quả bền vững Chiến

Trang 19

15

lược phòng ngừa và can thiệp BLGĐ cần được thực hiện từ cấp độ vĩ mô đến cấp

độ vi mô Các chương trình can thiệp hướng đến nâng cao năng lực nhận thức của người dân, các cặp vợ chồng về sự ảnh hưởng của BLGĐ đến trẻ em Bên cạnh đó, các chương trình can thiệp hướng đến từng gia đình có hành vi bạo lực, giúp họ kiểm soát hành vi bạo lực và nhận ra những vấn đề tâm lý ở trẻ em do BLGĐ gây ra [58]

Nhìn chung các tác giả nước ngoài nghiên cứu về ảnh hưởng của BLGĐ đối với trẻ em đều khẳng định rằng BLGĐ có ảnh hưởng đến tâm lý của trẻ, đặc biệt một số trẻ em còn gặp các vấn đề tâm lý nghiêm trọng cần được can thiệp Các tác giả nước ngoài cũng đưa ra các mô hình can thiệp đối với trẻ em sống trong GĐCBL Câu hỏi đặt ra là liệu các kết quả nghiên cứu được nêu trên có đúng với trẻ

em sống trong GĐCBL ở Việt Nam hay không? Tâm lý của trẻ, đặc biệt là các yếu

tố NT – CX – HV của trẻ như thế nào khi sống trong GĐCBL? Đó là những câu hỏi nghiên cứu vẫn đang cần một câu trả lời xác đáng

1.1.1.2 Nghiên cứu trong nước

Cục thống kê và các đối tác (2010) đã công bố kết quả nghiên cứu về BLGĐ

đối với phụ nữ ở Việt Nam cho thấy 32% phụ nữ kết hôn đã bị bạo lực thể xác trong cuộc đời Kết quả nghiên cứu của hai cơ quan quản lý nhà nước đã đưa ra những bằng chứng cho thấy BLGĐ đối với phụ nữ và trẻ em diễn ra rất phổ biến trong gia đình hiện nay

Nghiên cứu của Tổng cục Thống kê (2010) chỉ ra rằng, hơn một nửa số phụ nữ từng bị bạo lực thể xác do chồng gây ra cho biết, con cái họ đã chứng kiến cảnh bạo lực thể xác giữa cha mẹ, 22.3% trong số này nói rằng, con cái họ đã chứng kiến cảnh bạo lực thể xác giữa cha và mẹ ít nhất một lần; 23% cho biết việc đó xảy ra từ hai đến năm lần và 8,8% cho biết điều đó xảy ra nhiều hơn năm lần [29] Các hình thức bạo lực tình dục và kinh tế giữa cha mẹ trẻ em khó nhận biết hơn và không được chứng kiến nhiều

Các nghiên cứu cho thấy gần 1/4 trẻ dưới 15 tuổi phải hứng chịu hành vi bạo lực từ người cha trong đời, và 1/5 trẻ hứng chịu hành vi này trong vòng 12 tháng

Trang 20

16

tính từ thời điểm điều tra Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, khu vực nông thôn tỷ lệ trẻ bị cha mẹ trừng phạt cao hơn so với thành thị trong suốt cuộc đời và trong 12 tháng gần nhất tính đến thời điểm phỏng vấn [29] BLGĐ đối với trẻ em phổ biến nhất là các hành vi bạo lực tinh thần: chửi, mắng, sỉ nhục, dọa đuổi khỏi nhà, bắt đứng xó nhà, bỏ đói, bỏ rơi; tiếp đến là các hành vi bạo lực thân thể như đánh bằng roi, đánh bằng gậy, cốc đầu, véo tai, tát, nhốt, đập đầu vào tường, trói vào cột nhà, nằm sấp trên nền nhà và bị đánh

Một số nghiên cứu trên quy mô nhỏ cũng đã cung cấp những bằng chứng cho thấy trẻ em phải chứng kiến hoặc chịu đựng BLGĐ rất phổ biến, xảy ra ở mọi địa phương, từ đồng bằng đến thành phố, dưới nhiều hình thức khác nhau Cha mẹ trừng phạt trẻ em xảy ra cả trong gia đình hòa thuận lẫn gia đình có mâu thuẫn, xung đột Bạo lực giữa cha mẹ tương quan thuận với sự ngược đãi của cha mẹ đối với trẻ em Những gia đình thường xuyên xảy ra bạo lực giữa cha mẹ, trẻ em cũng thường xuyên bị cha mẹ đánh, mắng, chửi Trẻ em không bị ông bà, anh chị lớn hơn đánh đòn hay phạt, các em chủ yếu bị cha mẹ đánh, mắng hoặc bị trừng phạt bằng các hình thức khác nhau [8].Trừng phạt thân thể như đánh vào mông, tát, cốc vào đầu, đánh bằng roi hoặc một vật khác, túm lấy tóc lắc; trừng phạt tinh thần như mắng, chửi, bắt trẻ quỳ, áp mặt vào tường, không cho ăn, đuổi ra khỏi nhà, là những hình thức trừng phạt được sử dụng phổ biến và thường xuyên Trừng phạt thân thể đối với trẻ em gây ra những hậu quả nghiêm trọng, nhiều trẻ sau khi bị cha

mẹ đánh đòn phải đi khám ở bệnh viện [31] Có sự khác nhau nhất định trong hình thức trừng phạt của cha mẹ đối với trẻ em nam và trẻ nữ Trẻ em nam thường bị cha

mẹ sử dụng hình thức trừng phạt thân thể, trẻ em nữ bị cha mẹ trừng phạt tinh thần [39] Hình thức trừng phạt trẻ em mỗi khi các em mắc lỗi của cha mẹ được xem như

là một hình thức giáo dục chứ không được nhìn nhận như là hành vi bạo lực đối với trẻ em Cha mẹ đánh con, trừng phạt con một cách bạo lực với mong muốn con ngoan hơn, biết nghe lời cha mẹ Phương pháp giáo dục này của cha mẹ xuất phát từ quan niệm cho rằng “thương cho roi cho vọt, ghét cho ngọt cho bùi”

Trang 21

Năm 2003, UNICEF cùng với Ủy ban Dân số Gia đình và Trẻ em, Quỹ Cứu trợ trẻ em Thụy Điển, Plan International tiến hành một số nghiên cứu đánh giá mức

độ bạo lực trẻ em ở Việt Nam Nghiên cứu tiến hành trên 2.800 người tham gia (chủ yếu là trẻ em) ở ba tỉnh An Giang, Lào Cai, Hà Nội cho thấy trừng phạt thân thể (đánh đập) là hình thức bạo lực phổ biến ở gia đình và trường học, các hình thức bạo lực khác như lạm dụng từ ngữ, bắt nạt và chứng kiến BLGĐ cũng khá phổ biến

Có nhiều trường hợp lạm dụng tình dục đã đựợc nêu ra trong báo cáo, đặc biệt là thói quen người lớn sờ dương vật của trẻ em trai [36] Một nghiên cứu tại 6 tỉnh thuộc miền Bắc và miền Trung do Viện nghiên cứu Thanh niên thực hiện năm 2003, với cỡ mẫu là 1240 học sinh các trường tiểu học và trung học cơ sở cho thấy 46% các em nói rằng cha mẹ thường xuyên phạt các em bằng cách này hay cách khác nếu có lỗi Trong số những em đã bị phạt thì có 26% nói rằng các em bị đánh, 65%

bị mắng chửi và 10% bị phạt với các hình thức khác nhau [16]

Trong “Nghiên cứu sự tổn thương tâm lý ở thiếu niên trong các gia đình có bạo lực” năm 2009 của tác giả Nguyễn Bá Đạt và cộng sự, kết quả cho thấy bạo lực đối với trẻ em xảy ra ở tất cả các loại hình gia đình, từ gia đình được xem như hòa thuận đến GĐCBL Trong các GĐCBL, 68% cha mẹ có xu hướng sử dụng hình thức mắng, chửi và đánh khi các em mắc lỗi; 51% cha mẹ có mâu thuẫn nhưng không có bạo lực sử dụng hình thức này; 33,9% cha mẹ trong gia đình hòa thuận mắng, chửi hoặc đánh trẻ [8]

Luận văn thạc sỹ Xã hội học “Ảnh hưởng của bạo lực trong gia đình đối với việc bảo vệ, chăm sóc, và giáo dục trẻ em” của tác giả Hoa Thị Lệ Quyên, năm

2012, nghiên cứu trên ba quận Hoàn Kiếm, Thanh Xuân, Hà Đông của Thành Phố

Hà Nội, đã đưa ra kết quả, trong GĐCBL, việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ bị

Trang 22

18

ảnh hưởng Cụ thể: việc chăm sóc trẻ thường bị sao nhãng làm tăng nguy cơ trẻ bị suy dinh dưỡng, ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển thể chất, trí tuệ của trẻ em Trẻ sống trong GĐCBL có nguy cơ bị xâm hại về thể chất và tinh thần cao hơn trẻ sống trong GĐKBL [26]

Các nghiên cứu của các tác giả trong nước về BLGĐ khá phong phú, tập trung

ở một số khía cạnh như tính phổ biến của sự trừng phạt, các hình thức, quan niệm của cha mẹ về việc trừng phạt trẻ em mỗi khi các em mắc lỗi Nghiên cứu của Enkhtor và cộng sự (2007) về trừng phạt thân thể và tinh thần trẻ em ở Việt Nam được xem là một nghiên cứu tốt, có sự kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau nhưng cũng chỉ dừng lại ở việc mô tả những cảm xúc, hành vi, suy nghĩ tiêu cực của trẻ em khi bị cha mẹ, thầy cô giáo trừng phạt

1.1.2 Các nghiên cứu về nhận thức, cảm xúc, hành vi của trẻ trong gia đình có bạo lực

1.1.2.1 Các nghiên cứu nước ngoài

Tại hội thảo đặc biệt về chủ đề bạo lực đối với trẻ em ở trụ sở New York

(Mỹ), UNICEF và OHCHR cho kết quả, việc sử dụng các hình thức kỷ luật quá hà khắc, thậm chí ngay cả các hình thức nhẹ nhàng cũng để lại những hậu quả có hại rất lớn đối với trẻ em cũng như đối với xã hội, cản trở năng lực nhận thức của trẻ và thúc đẩy bản năng sử dụng bạo lực của trẻ trong tương lai [59.1] Dulamdary EnKhtor và cộng sự (2007) nghiên cứu về trừng phạt thân thể và tinh thần trẻ em đã chỉ ra rằng khi bố mẹ trừng phạt trẻ cảm thấy buồn, ân hận, hối lỗi, đau khổ [42] Peled.E (1998) nhận định rằng, phần lớn trẻ em chứng kiến BLGĐ sử dụng chiến lược ứng phó tập trung vào cảm xúc [53] Holzworth – Munroe (1997) nhận định, những cảm xúc tiêu cực quan sát thấy ở trẻ em sống trong GĐCBL là một hình thức báo hiệu cho cha mẹ thấy hậu quả tiêu cực của BLGĐ [46] Allen.N.E (2003) quan sát thấy, trẻ em sống trong GĐCBL sử dụng chiến lược ứng phó chủ động tập trung giải quyết vấn đề, bị động tập trung vào cảm xúc [38] chiến lược ứng phó chủ động, trạng thái tâm lý tích cực của người mẹ, chất lượng mối quan hệ mẹ con, mạng lưới trợ giúp xã hội là những yếu tố bảo vệ trẻ em trong GĐCBL

Trang 23

19

Nghiên cứu về hậu quả lâu dài của BLGĐ đối với trẻ em của Rossman (2001) chỉ ra rằng, việc chứng kiến cảnh bạo lực giữa cha mẹ là điều kiện thuận lợi để hình thành và phát triển hành vi gây hấn, phạm tội ở tuổi trưởng thành trong các mối quan hệ liên nhân cách hoặc những vấn đề khác như buồn rầu, tự hủy hoại bản thân hay hành vi sử dụng chất gây nghiện [54] Nghiên cứu so sánh, đối chứng của Fortin và cộng sự (2002) giữa trẻ em sống trong GĐCBL và GĐKBL cho thấy, nhóm trẻ em sống trong GĐCBL phải chứng kiến cảnh bạo lực giữa cha mẹ có những hành vi xâm kích, tăng động, phạm pháp nhiều hơn so với nhóm trẻ em sống trong GĐKBL giữa cha mẹ Nhóm trẻ em chứng kiến BLGĐ cũng có xu hướng không vâng lời, nói dối, phá hủy đồ đạc, gian lận, đánh nhau hoặc tỏ ra hung dữ hơn

so với nhóm trẻ em đối chứng Nhóm trẻ em sống trong GĐCBL còn bị rối nhiễu cảm xúc: lo âu, trầm cảm, phụ thuộc vào người lớn, lo lắng, buồn rầu và cảm thấy không hạnh phúc, năng lực xã hội thấp, không cảm thấy tự tin vào bản thân và gặp khó khăn trong học tập và tập trung chú ý Những đứa trẻ này còn thường gặp các vấn đề liên quan đến thính giác và thị giác

Nghiên cứu của Kilpatrick và Williams (1997) cho thấy, trẻ em sống trong GĐCBL bị stress sau sang chấn, sau đó dẫn đến rối nhiễu cảm xúc, hành vi và khó khăn học đường [48]

Wolfe và cộng sự (2003) nhấn mạnh, trong GĐCBL, trẻ em vừa chứng kiến cảnh bạo lực giữa cha mẹ vừa bị cha mẹ đối xử một cách tồi tệ, các em thường bị cha mẹ xâm hại cả về mặt thể chất lẫn tinh thần Hậu quả là các em gặp vấn đề về cảm xúc và hành vi nghiêm trọng hơn so với các em khác [58]

Nghiên cứu của Grych.J.H và Fincham.F.D (1990) chỉ ra rằng, tần suất và mức độ nghiêm trọng của BLGĐ có mối quan hệ trực tiếp với cảm giác tuyệt vọng

và những vấn đề liên quan đến hành vi, đặc biệt trong những trường hợp xung đột giữa cha mẹ kèm theo sự xâm hại thể chất đối với trẻ em [44] Nghiên cứu của Kilpatrick và Williams (1997) cho thấy, trẻ em sống trong GĐCBL bị stress sau sang chấn, sau đó dẫn đến rối nhiễu cảm xúc, hành vi và khó khăn học đường [48]

Trang 24

20

1.1.2.2 Các nghiên cứu trong nước

Tác giả Hoàng Bá Thịnh trong bài viết “Bạo lực gia đình đối với trẻ em và một số giải pháp phòng ngừa” đã nói rằng cha mẹ thường xuyên phạt con bằng cách này hay cách khác khi con mắc lỗi, cha mẹ có học vấn thấp thường đánh con cái nhiều hơn Bài viết cũng chỉ ra những hậu quả của BLGĐ đối với trẻ em: từ sợ hãi, mất ngủ, thiếu tự tin, thất vọng đến trẻ bỏ nhà ra đi, trẻ tử vong hoặc tự sát BLGĐ còn ảnh hưởng xấu đến kết quả học tập của trẻ, giảm chỉ số thông minh, kỹ năng giải quyết vấn đề và mức độ thấu cảm kém BLGĐ còn có thể dẫn đến các hiện tượng bất ổn tinh thần [27]

Bài viết “Những hành vi BLGĐ – con cái sẽ học theo bố mẹ” của tác giả Hoàng Bá Thịnh đã chỉ ra rằng BLGĐ có thể tác động xấu đến tâm lý trẻ em Những tác động này có thể bao gồm các vấn đề như sợ hãi, mất ngủ, thiếu tự tin và thất vọng Tác giả còn đề cập đến việc trẻ em thường xuyên hoặc thỉnh thoảng chứng kiến cảnh cha đánh chửi mẹ (hoặc ngược lại) thì với bé trai dần dần sẽ hình thành nhận thức rằng: làm đàn ông có quyền đánh đập phụ nữ và rồi khi trở thành chồng thì chàng trai cũng có cách cư xử như thế với vợ mình Không chỉ vậy, chúng còn nghĩ rằng, trong cuộc sống ai mạnh hơn thì người đó thắng Còn đối với bé gái, khi chứng kiến cảnh mẹ bị cha mắng chửi, đánh đập thì có thể em sẽ cam chịu cảnh bạo lực nếu có, hoặc có ác cảm với nam giới [28]

Luận văn thạc sỹ Xã hội học “Ảnh hưởng của bạo lực giới trong gia đình đối với việc bảo vệ, chăm sóc, và giáo dục trẻ em” của tác giả Hoa Thị Lệ Quyên, năm

2012, nghiên cứu trên ba quận Hoàn Kiếm, Thanh Xuân, Hà Đông của Thành Phố

Hà Nội Bạo lực giới trong gia đình làm cho trẻ thường có cảm giác buồn bã, chán nản, mặc cảm, tự ti, e dè, nhút nhát Kết quả học tập của hầu hết trẻ trong những gia đình này đều kém và sa sút Tỷ lệ trẻ bỏ học trong các GĐCBL cũng cao hơn ở những gia đình bình thường Bạo lực giới trong gia đình cũng là nguyên nhân khiến trẻ em rơi vào các hoàn cảnh khó khăn đặc biệt như trẻ lang thang, mồ côi, phạm tội [26]

Trang 25

21

Tác giả Lý Thị Minh Hằng trong bài viết “ Bạo lực gia đình và hậu quả tâm lý đối với nạn nhân của bạo lực gia đình” đã nêu, BLGĐ làm cho các em không có cơ hội tìm thấy sự bình an trong tâm hồn, khó hòa nhập với cộng đồng, không khắc phục được tư tưởng trầm uất triền miên trong cuộc sống riêng tư như: sự gây hấn,

sợ hãi, mất ngủ, thiếu tự tin, thất vọng, rối nhiễu tâm lý và trầm cảm Mặc dù khiếp

sợ và căm ghét thói bạo lực của người cha nhưng khi trưởng thành những đứa con trai có xu hướng lặp lại cách cư xử như thế với người thân Còn các bé gái có thể sau này cũng sẽ cam chịu cảnh bạo lực nếu có hoặc sẽ có ác cảm với đàn ông Trẻ sống trong GĐCBL ra xã hội có thể sẽ rụt rè, sợ hãi người khác nhưng cũng có thể

sử dụng bạo lực để giải quyết những mâu thuẫn này sinh trong cuộc sống [12] Tác giả Nguyễn Thị Minh Nguyệt trong luận văn thạc sỹ Tâm lý “Hành vi bạo lực gia đình của cha mẹ đối với con cái vị thành niên” năm 2010, tiến hành trên bốn trường THPT Phủ Lý, Bình Lục, Lý Nhân, Thanh Liêm của tỉnh Hà Nam, đã đưa ra một số kết luận, bạo lực của cha mẹ đối với con cái để lại những hậu quả nặng nề cả với cha mẹ và con cái Đó là những đau đớn về thân thể và tổn thương về tinh thần, ảnh hưởng trực tiếp đến thế giới quan, nhân sinh quan và quá trình phát triển nhân cách của trẻ, ảnh hưởng tới mối quan hệ gắn bó giữa cha mẹ và con cái, làm cho trẻ mất niềm tin vào cha mẹ, buồn bã, chán nản, thu mình và hình thành nên những tính cách hung hăng, những hành vi lệch chuẩn cho xã hội trong tương lai [24]

Luận án tiến sỹ “Rối nhiễu tâm lý ở trẻ em sống trong gia đình bạo lực” của tác giả Nguyễn Bá Đạt là một trong số rất ít nghiên cứu có tiến hành can thiệp cho các đối tượng bị ảnh hưởng bởi BLGĐ Theo kết quả nghiên cứu này, các trẻ sống trong GĐCBL có rối nhiễu tâm lý được biểu hiện ra bên ngoài thành những cảm xúc, hành vi kém thích nghi, nghiêm trọng hơn đó là các dấu hiệu lâm sàng mang tính bệnh lý cản trở hoạt động của trẻ em trong cuộc sống hàng ngày Kết quả can thiệp tâm lý cho trẻ trong nghiên cứu cho thấy, có thể phòng ngừa và chữa trị rối nhiễu tâm lý cho trẻ em ở trạng thái ranh giới và bị rối nhiễu tâm lý nhẹ bằng cách

tổ chức các lớp tập huấn, giúp các em hiểu rõ về BLGĐ, BLGĐ trong các mối quan

Trang 26

có rất nhiều nghiên cứu về trẻ em trong các GĐCBL, tuy nhiên vấn đề NT – CX –

HV của các trẻ em trong GĐCBL thì chưa có một nghiên cứu khái quát cụ thể

1.2 Một số khái niệm và lý thuyết cơ bản

1.2.1 Khái niệm nhận thức

Theo từ điển tâm lý học do Louis Smith biên soạn định nghĩa, nhận thức là những suy nghĩ, những hiểu biết, những giải thích, những quan niệm và ý kiến của một cá nhân [49]

Hiệp hội Tâm lý học Mỹ định nghĩa, nhận thức là quá trình biết, chú ý, ghi nhớ, và suy luận Khái niệm và kí ức cũng là nội dung của quá trình này [59.1]

Từ điển Tâm lý học của Nguyễn Khắc Viện chủ biên định nghĩa, “Nhận thức

là quá trình hoặc kết quả phản ánh và tái hiện hiện thực vào trong tư duy nhận biết

và hiểu biết thế giới khách quan” [34] Dưới góc độ Tâm lý học, nhận thức là sự phản ánh những thuộc tính của sự vật hiện tượng trong mối quan hệ của chúng trong hiện thực khách quan thông qua hoạt động thực tiễn của con người Sống trong điều kiện tự nhiên và môi trường xã hội đòi hỏi con người phải nhận thức được những qui luật của tự nhiên và các qui luật của xã hội để hoạt động nhằm cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội và cải tạo chính bản thân con người

Theo Vũ Dũng, nhận thức là hiểu được một điều gì đó, tiếp thu được những kiến thức về điều nào đó, hiểu biết những quy luật về những hiện tượng, quá trình nào đó [7]

Như vậy, mỗi tác giả khác nhau có cách định nghĩa về nhận thức khác nhau Trong đó, xét thấy sự sáng rõ về ý nghĩa trong định nghĩa của Louis Smith, trong nghiên cứu này chúng tôi quan niệm về nhận thức theo định nghĩa của ông Theo

Trang 27

+ Hiểu: là năng lực hiểu ý nghĩa của thông tin và giải thích các thông tin được

học

+ Ứng dụng: là năng lực vận dụng các thông tin hiểu biết được vào những

hoàn cảnh mới, tình huống mới, điều kiện mới, giải quyết các vấn đề đặt ra

+ Phân tích: là năng lực chia thông tin thành nhiều thành tố để biết được các

mối quan hệ nội tại và cấu trúc của chúng

+ Tổng hợp: là năng lực liên kết các thông tin lại với nhau tạo ra ý tưởng mới, khái quát hóa các thông tin suy ra các hệ quả

+ Đánh giá: là năng lực đưa ra nhận định, phán quyết về giá trị thông tin, vấn

đề, sự vật, hiện tượng theo một mục đích cụ thể [39]

1.2.2 Khái niệm Cảm xúc

Hiệp hội các nhà Tâm lý học Mỹ định nghĩa, cảm xúc là một mô hình phức tạp của những thay đổi của cá nhân, bao gồm những kích thích sinh lý, cảm giác, quá trình nhận thức, và các phản ứng hành vi, được thực hiện để đáp ứng trước một tình huống có ý nghĩa của cá nhân [59.1]

Theo từ điển Tâm lý học do Nguyễn Khắc Viện chủ biên cảm xúc gồm hai mặt như sau:

+ Những phản ứng sinh lý thần kinh thực vật, như tim đập nhanh, toát mồ hôi, nội tiết tăng hay giảm, cơ bắp co thắt, hoặc run rẩy, rối loạn tiêu hóa

+ Những phản ứng tâm lý, qua những thái độ lời nói, hành vi và cảm giác dễ chịu, khó chịu, vui sướng, buồn khổ có tính bột phát, chủ thể kiềm chế khó khăn [35]

Trang 28

24

Theo Nguyễn Huy Tú, cảm xúc là những rung động khác nhau của con người nảy sinh do sự thỏa mãn hay không thỏa mãn những nhu cầu nào đó, do có sự phù hợp hay không phù hợp của các biến cố hoàn cảnh, cũng như trạng thái bên trong cơ thể với mong muốn, hứng thú, khuynh hướng, niềm tin và thói quen của chúng ta [30]

Theo Nguyễn Quang Uẩn, xúc cảm – tình cảm là những rung cảm thể hiện thái

độ của cá nhân đối với các sự vật, hiện tượng có liên quan đến nhu cầu, động cơ của

họ [32]

Theo Vũ Dũng, những khía cạnh nội dung cảm xúc được phản ánh ở hiện tượng và hoàn cảnh có giá trị đặc biệt với chủ thể [5] Nó gắn liền với đặc điểm cốt lõi của cá nhân, với tiềm năng đạo đức, với xu hướng của động cơ, thế giới quan và định hướng giá trị Chất lượng của tính cảm xúc là quan hệ của cá nhân với hiện tượng bên ngoài và biểu hiện ở dấu hiệu và tình thái tình cảm chủ đạo Những đặc điểm động của tính cảm xúc gồm cách thức thể hiện, diễn biến và kết thúc quá trình cảm xúc và biểu hiện bên ngoài [7]

Theo Carroll E.Izard thì cảm xúc được hiểu là một hiện tượng tâm lý phức tạp, thể hiện qua ba yếu tố đặc trưng sau:

* Cách phân chia cảm xúc:

Trang 29

25

Trong luận án Tiến sỹ của mình, tác giả Đinh Thị Hồng Vân [33] đã phân chia

cảm xúc của con người như sau:

- Cảm xúc dương tính: là những rung cảm thể hiện thái độ thỏa mãn, làm tăng nghị lực, thúc đẩy hoạt động như: vui sướng, thân ái, thiện cảm…

- Cảm xúc âm tính: là những rung cảm thể hiện thái độ không thỏa mãn, làm mất hứng thú, giảm nghị lực như: buồn rầu, xấu hổ, tức giận…

1.2.3 Khái niệm hành vi

Trong y khoa, hành vi của con người được hiểu là một hành động hay nhiều hành động phức tạp trước một sự việc, hiện tượng, mà các hành động này lại chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố bên trong và bên ngoài, chủ quan và khách quan [59.3] Theo từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên định nghĩa: hành vi con người là toàn bộ những phản ứng, cách cư xử, biểu hiện ra bên ngoài của một con người trong một hoàn cảnh thời gian nhất định [20]

Hiệp hội Tâm lý Mỹ thì định nghĩa, hành vi là những hành động mà một sinh vật thực hiện nhằm điều chỉnh môi trường của nó [59.1]

Theo từ điển Thuật ngữ Tâm lý học do Vũ Dũng chủ biên, hành vi là sự

tương tác với môi trường có ở động vật trên cơ sở tính tích cực bên ngoài (vận động) và bên trong (tâm lý) của chúng, tính tích cực có định hướng của cơ thể sống đảm bảo thực hiện các tiếp xúc với thế giới bên ngoài Thuật ngữ hành vi được ứng dụng đối với các con vật, các cá thể nhất định [7]

Qua phân tích, tổng hợp và chọn lọc, trong luận văn này, hành vi được quan niệm theo định nghĩa của Hiệp hội Tâm lý Mỹ Tức là, hành vi là những hành động

mà một sinh vật thực hiện nhằm điều chỉnh môi trường của nó

* Cách phân chia hành vi:

Trong nghiên cứu của mình, Kathleen Hlavaty [47] đã phân chia hành vi của thanh thiếu niên như sau:

Hành vi tích cực: hành vi tích cực phải giúp đỡ tạo điều kiện cho một mối quan hệ mạnh mẽ hơn, mang lại lợi ích cho cá nhân thực hiện hành vi hoặc những

Trang 30

1.2.4 Khái niệm trẻ em

Trẻ em là người chưa trưởng thành, còn yếu ớt về thể chất và non nớt về tinh thần Trong khoa học, trẻ em được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau tuỳ theo tiếp cận của từng khoa học cụ thể Song tất cả các định nghĩa đều thừa nhận rằng, trẻ em không phải là người lớn thu nhỏ lại Trẻ em vận động và phát triển theo quy luật riêng của trẻ em

Về mặt sinh học, một đứa trẻ nói chung là bất cứ ai từ khi sinh đến tuổi dậy thì, hoặc trong giai đoạn phát triển của thời thơ ấu, giữa sơ sinh và tuổi trưởng thành

1.2.5 Khái niệm gia đình, gia đình có bạo lực và vai trò, chức năng của gia đình đối với trẻ em

1.2.5.1 Khái niệm gia đình

Trang 31

Hai tác giả Đặng Cảnh Khanh và Lê Thị Quý thì định nghĩa: “gia đình là một thiết chế xã hội liên kết con người lại với nhau nhằm thực hiện việc duy trì nòi giống và chăm sóc con cái” [15]

Khái quát các định nghĩa đã có về gia đình, trong luận văn này tác giả có khái niệm về gia đình như sau: “gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân và huyết thống Các thành viên trong gia đình có quyền và nghĩa

vụ với nhau, có trách nhiệm tạo sự ấm cúng, cảm giác an toàn và tình yêu thương cho nhau

1.2.5.2 Khái niệm gia đình có bạo lực

Định nghĩa BLGĐ của Liên hợp quốc thông qua năm 1993 được các tổ chức cũng như nhà khoa học trên thế giới chấp nhận rộng rãi Theo đó, BLGĐ là bất kỳ hành động bạo lực nào dẫn đến hoặc có thể dẫn đến những tổn thất về thân thể, tâm

lý hay tình dục hay những đau khổ của người trong gia đình, bao gồm cả sự đe dọa

có những hành động như vậy, việc cưỡng bức hay tước đoạt sự tự do [17]

Theo Luật phòng, chống BLGĐ được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 21/11/2007 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/08/2008, định nghĩa “BLGĐ là hành vi cố ý của thành viên gia đình gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với các thành viên khác trong gia đình” [22]

Trang 32

Tác giả Hoàng Bá Thịnh cũng đưa ra định nghĩa về BLGĐ như sau: “BLGĐ là những hành vi bạo lực xảy ra trong phạm vi gia đình, đó là sự xâm phạm hay ngược đãi về thân thể hay tinh thần, tình cảm hay tình dục, kinh tế hay xã hội giữa các thành viên trong gia đình BLGĐ là sự lạm dụng quyền lực, một hành động sử dụng

vũ lực nhằm hăm dọa hoặc đánh đập một người thân trong gia đình để điều khiển hay kiểm soát người đó” [28]

Sau khi xem xét và phân tích các định nghĩa trên, trong nghiên cứu này chúng tôi quan niệm GĐCBL là gia đình mà ở đó, thành viên trong cùng một gia đình có các hành vi tấn công, đe dọa, gây tổn hại về thể chất và tinh thần đối với các thành viên khác

1.2.5.3 Vai trò của gia đình đối với trẻ em

Gia đình có vai trò to lớn đối với sự phát triển của một con người và đặc biệt

là đối với trẻ đang ở độ tuổi 15-17 tuổi Trong sự phát triển của một cá nhân, đặc biệt là trong quá trình xã hội hóa – quá trình một cá thể người thích nghi với cuộc sống xã hội, qua đó hấp thụ và phát triển những năng lực người đặc trưng, để trưởng thành như một nhân cách xã hội duy nhất, không lặp lại – thì gia đình càng có vai trò quan trọng Có thể nói gia đình là nhóm xã hội đầu tiên của một cá nhân, nơi đầu tiên mà cá nhân thiết lập các mối quan hệ Gia đình là nơi cá nhân tiếp xúc, va chạm trong thời gian nhiều nhất của cuộc đời mình, là chỗ dựa vật chất và tinh thần, ràng buộc về mặt huyết thống cũng như về mặt pháp lý

Nhiều tác giả cho rằng kinh nghiệm mà trẻ thu nhận được trong gia đình sẽ chi phối tính chất ứng xử của hầu hết các quan hệ xã hội và đời sống tình cảm của

Trang 33

29

mỗi cá nhân, quan hệ liên nhân cách sau này của người lớn là sự mở rộng và kéo dài các quan hệ của đứa trẻ trong gia đình Có ba nhu cầu liên nhân cách đặc trưng cho mỗi cá thể: nhu cầu hòa nhập, nhu cầu kiểm tra và nhu cầu sống trong tình yêu Đời sống và quan hệ xã hội của con người phụ thuộc vào sự phát triển của ba nhu cầu này, và môi trường cũng như thời điểm thuận lợi nhất cho sự phát triển của các nhu cầu đó là gia đình Trong gia đình, quan hệ cơ bản và có ảnh hưởng lớn nhất đến quá trình xã hội hóa của một cá nhân là quan hệ mẹ - con và quan hệ cha – con:

Quan hệ mẹ - con: Đây là quan hệ sâu sắc và tiêu biểu nhất trong gia đình

Nó có tác động mạnh mẽ đến sự hình thành nhân cách của trẻ con

Trẻ em mới sinh không thể phân biệt được cơ thể mình với xung quanh, chưa

có khái niệm một thế giới ngoài nó Ở giai đoạn này, mẹ và con dường như chỉ là một Dần dần cơ chế khách quan hóa bắt đầu hoạt động, đứa trẻ sử dụng những khả năng xã hội bẩm sinh để thể hiện những nhu cầu, đòi hỏi của mình và người mẹ theo đó mà có những đáp ứng phù hợp Cũng vì vậy, quan hệ mẹ - con từ chỗ không

có sự tách biệt trở thành quan hệ có đối tượng Người mẹ là đối tượng cảm xúc của đứa con: nhìn thấy mẹ: cười, mẹ đi xa: khóc, trẻ biết tìm kiếm mẹ bằng mắt, biết hờn dỗi hay vui vẻ, thích thú Nói cách khác thì sự tương tác với mẹ ảnh hưởng sâu sắc đến những gì diễn ra trong bản thân cơ thể của trẻ, là yếu tố chi phối cảm xúc của trẻ Cũng do quan hệ mẹ - con mà trẻ học cách tự điều tiết các hành vi của mình qua thái độ vui vẻ hay bực dọc của mẹ

Những đứa trẻ bị cách ly với mẹ trong giai đoạn này có thể mắc phải “hội chứng cách ly” Tức là những em này khi lớn lên có thể phát sinh căn bệnh “lãnh cảm xã hội”, một biểu hiện rối loạn của chức năng xã hội hóa; các em không thiết lập và duy trì được các mối quan hệ xã hội, bề ngoài thì niềm nở, thân thiện, nhưng

kỳ thực không gắn bó với ai, không yêu thích một công việc gì, quan niệm về nhân sinh lệch lạc dễ đi vào con đường tội ác

Như vậy, chức năng của người mẹ trong những năm đầu của trẻ không chỉ giới hạn ở việc cho con bú, dạy con cách ăn uống, đi đứng, nói năng mà còn có tác động, ảnh hưởng rất lớn trong đời sống tinh thần của trẻ

Trang 34

30

Quan hệ cha – con: Trong thời kỳ đầu, vai trò người mẹ gần như tuyệt đối, chỉ sau một thời gian nhất định hình ảnh người cha mới bắt đầu xen vào thế giới tình cảm của trẻ

Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra vai trò của người cha trong việc xây dựng “cái siêu tôi” ở trẻ Người cha giúp đứa trẻ học được khả năng tự kiềm chế, tự điều chỉnh hành vi của mình một cách hợp lý, theo những chuẩn mực đạo đức và văn hóa của

xã hội mà ông ta tiếp thu được, tóm lại nhờ quan hệ cha – con, đứa trẻ học cách đưa mình vào kỷ luật

Nhiều nhà nghiên cứu cũng cho thấy rằng trẻ thường bị khuất phục, bắt chước và noi theo cha một cách vô thức Thuở ban đầu trẻ rất ích kỷ, luôn muốn mình là trung tâm của mọi sự chú ý, dễ nảy sinh những mâu thuẫn trong quan hệ với các anh chị em Lúc này người cha phải đứng ra điều hòa các mối quan hệ bằng cách hạn chế những yêu cầu và đòi hỏi của trẻ Nếu ngay từ giai đoạn này những đòi hỏi của trẻ luôn được đáp ứng ngay lập tức thì khi đứa trẻ lớn lên có xu hướng thích chỉ huy, độc đoán, chỉ tham gia vào các nhóm mà ở đó mình là trung tâm Tóm lại, nếu người cha không có đủ sức mạnh và uy tín để chinh phục trẻ thì sự phát triển của “cái siêu tôi” ở đứa trẻ sẽ gặp những trở ngại đáng kể [4]

Như vậy, gia đình mà trong đó quan trọng nhất là mối quan hệ mẹ - con, cha – con có vai trò vô cùng quan trọng đối với một cá nhân, ảnh hưởng rất nhiều đến

sự hình thành và phát triển nhân cách của cá nhân khi trưởng thành

1.2.5.4 Chức năng của gia đình đối với trẻ em

Gia đình thực hiện 4 nhóm chức năng cơ bản là: chức năng tái sản xuất ra con người; chức năng xã hội hoá, giáo dục con cái; chức năng kinh tế; chức năng thoả mãn các nhu cầu tâm lý của các thành viên trong gia đình và chức năng chăm sóc sức khỏe Trong đề tài này, chúng tôi chú trọng ba nhóm chức năng cơ bản sau:

- Chức năng xã hội hoá, giáo dục con cái: các nhà nghiên cứu cho rằng, cha

mẹ chính là những tấm gương toàn diện cho trẻ học tập, bắt chước theo, nhất là trẻ

em tuổi vị thành niên, khi chúng đang dò dẫm, khao khát đi tìm “cái tôi” cho chính mình, chứng tỏ và khẳng định cái tôi của chính mình Cuộc sống đời thường qua nói

Trang 35

31

năng, ứng xử, của người lớn, các em để ý, tập nhiễm và sao chép thành của riêng mình, từ đó mà hình thành nên thói quen hay tính cách của trẻ Những phương pháp giáo dục hoặc những hành vi quá đà của cha mẹ cũng như sự can thiệp quá mức vào những vấn đề riêng của các em, đòi hỏi quá cao ở các em, đều sẽ đem lại những kết quả phản tác dụng, có nguy cơ gây nên những hành vi lệch lạc hoặc bột phát hoặc ẩn tàng ở trẻ cũng như ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình hình thành và phát triển nhân cách của các em

- Chức năng thoả mãn các nhu cầu tâm lý của các thành viên trong gia đình: Đây là chức năng đặc biệt quan trọng trong việc chia sẻ trách nhiệm, tình yêu thương gắn bó giữa các thành viên trong gia đình Gia đình là một cộng đồng đặc biệt, không một cộng đồng hay tổ chức nào có thể đem lại tình cảm ấm áp, sâu sắc

và thiêng liêng như gia đình Gia đình vừa là nơi nuôi dưỡng cho con người trưởng thành, đồng thời cũng là nơi bao dung, an ủi cho mỗi cá nhân trước những rủi ro, sóng gió của cuộc đời Gia đình là tổ ấm, là nơi chăm sóc giáo dục trẻ nói chung và trẻ vị thành niên nói riêng nhất là trong quãng thời gian các em có những khủng hoảng về tâm sinh lý Gia đình không chỉ mang lại cho các em cơm ăn, áo mặc, mà quan trọng hơn là mang lại những tri thức, sự hiểu biết, tình yêu thương, cách ứng

xử giữa con người với con người, không khí đầm ấm, chan hòa Gia đình có thể là nơi yên bình, tránh cho các em khỏi mọi hành vi bạo lực hay xâm hại, nhưng cũng

có thể là nơi các em bị xâm hại, bị đối xử bằng những hành vi bạo lực một cách ngang nhiên, hợp lệ nhất Điều này hoàn toàn phụ thuộc vào sự hiểu biết, tâm lý tình cảm cũng như nhận thức của các bậc phụ huynh Khi những bậc làm cha mẹ thường xuyên sử dụng những hành vi bạo lực để đối xử , giáo dục con cái thì vô tình họ đã vi phạm quyền trẻ em, vi phạm vào quyền và nghĩa vụ của những người làm cha làm mẹ cũng như làm cho gia đình không thực hiện được trọn vẹn chức năng của gia đình đối với trẻ

- Chức năng chăm sóc sức khỏe: Mặc dù hiện nay các dịch vụ y tế công cộng

đã phát triển tốt, nhưng việc gia đình có trách nhiệm chăm sóc sức khoẻ cho các thành viên trong gia đình vẫn hết sức quan trọng, nhất là với người ốm, người già

Trang 36

32

Chăm sóc sức khoẻ ở đây không chỉ đơn thuần là sức khoẻ về thể chất mà còn cả sức khoẻ tinh thần [15], [19], [59.3]

1.2.6 Khái niệm nhận thức, cảm xúc, hành vi của trẻ trong gia đình có bạo lực

Bằng nhãn quan của một đứa trẻ sống trong hoàn cảnh gia đình có sự xung đột và tấn công thể chất, tinh thần lẫn nhau, khi đứng trước một vấn đề, các em sẽ ứng dụng những hiểu biết đã có để phân tích và đưa ra những đánh giá về vấn đề

đó Tùy sự đánh giá về vấn đề mà các em thể hiện cảm xúc dương tính hay âm tính với vấn đề Sự đánh giá và cảm xúc về vấn đề sẽ quyết định các em sẽ có hành vi tích cực hay tiêu cực đáp lại vấn đề gặp phải

1.2.7 Đặc điểm tâm lý của trẻ trong độ tuổi từ 15 – 17 tuổi

Trong lý thuyết phát triển tâm lý xã hội, Erik Erikson đặt tên cho giai đoạn từ

12 – 20 tuổi là giai đoạn khẳng định chính mình hoặc mơ hồ về vai trò của mình, về bản thân Theo Erikson, ở giai đoạn này, một mặt trẻ đang muốn thể hiện sự “người lớn” ở mình nhưng đôi khi cũng có những biểu hiện thoái bộ về thời nhỏ Chúng đã tạo dựng cho mình lòng tự trọng rất lớn Khi hoạt động với bạn bè trong một nhóm, trẻ chập chững làm người lớn, khám phá ra vai trò và địa vị của mình trong mối tương quan với con người và xã hội Ở giai đoạn này, trẻ phải đối mặt với những nhiệm vụ để trở thành người trưởng thành Đó là xác định lại các vai trò xã hội, kể

cả việc dành quyền tự chủ đối với cha mẹ, và đưa ra các quyết định trên các mục tiêu nghề nghiệp Việc tạo ra một bản sắc giới tính cũng là một vấn đề rất lớn với các em

Erikson cho rằng bước ngoặt cốt lõi của tuổi này là khám phá ra bản sắc đích thực của mình giữa cái hỗn độn do đóng nhiều vai khác nhau trong xã hội Bản sắc cái tôi chiếm một vị trí quan trọng trong sự phát triển nhân cách của các em độ tuổi này Nếu học hỏi và có thêm những cảm nghiệm tích cực về bản thân, trẻ bắt đầu có lòng tự hào và tự trọng, đồng thời biết tôn trọng người khác Nếu không được như vậy, trẻ sẽ mất ý thức về giá trị và địa vị chính mình trong mối tương quan với xã hội Thái độ và hành vi thể hiện sự không tôn trọng trẻ hay những lời quở trách, phê phán đối với trẻ dễ làm cho trẻ tự ái hay dỗi hờn [59.2] Một đặc điểm nhân cách

Trang 37

33

nổi bật ở lứa tuổi này là tự ý thức, tự đánh giá Các em không những có khả năng phản ánh thế giới tự nhiên, xã hội một cách đầy đủ, khôn khéo, mà còn biết xem xét chính bản thân mình cũng như mối quan hệ giữa bản thân và môi trường một cách toàn diện Các em ý thức được rằng mình là một nhân cách độc lập, có quyền được tin cậy, được tôn trọng như những người lớn Đa số các em nhận thức được những thay đổi diễn ra trong cơ thể của mình vào thời kỳ này Tuy nhiên, do những khó khăn tạm thời về mặt sinh lý, các em vẫn còn rất dễ bị kích thích, khó làm chủ được những hành vi, ứng xử của mình Ở lứa tuổi này các em rất muốn hiểu biết những đặc điểm của bản thân, suy nghĩ về chính mình và tự đánh giá bản thân mình Các

em thường phân tích nhân cách của mình và xem đó như là phương tiện cần thiết để điều chỉnh mình, xây dựng các mối quan hệ với các hoạt động, với bạn bè và những người lớn Qua quá trình đó các em rút ra những ưu, khuyết điểm của bản thân Các

em đã biết suy nghĩ về mình một cách có chủ định, nó trở thành một quá trình độc lập bên trong và bắt đầu có ý nghĩa đối với việc điều chỉnh hành vi, giao tiếp, ứng

xử của các em

Các em cũng hay so sánh mình với những người bạn cùng tuổi được các em tôn trọng và ngưỡng mộ Vì thế, có thể nói đối với trẻ ở lứa tuổi này người bạn thân như “cái tôi thứ hai của mình”, các em nhìn vào bạn để đánh giá và tự hoàn thiện mình Tuy nhiên, nhìn chung các em thường có xu hướng tự đánh giá mình cao hơn

so với hiện thực Các em thường thích thổi phồng những khả năng, những ưu điểm của mình Một đặc điểm khác trong tự đánh giá về mình của các em ở lứa tuổi này

là tính tự kỷ trung tâm Lúc này các em bắt đầu hiểu biết về thế giới xung quanh một cách đầy đủ, sâu sắc hơn, và bắt đầu có cách nhìn mới Nhưng chúng thường chú ý nhiều đến cách nhìn của riêng mình và quá quan trọng hóa nó mà ít quan tâm đến ý kiến của những người khác Hoặc, các em thấy được ý nghĩ của người khác nhưng “các em không thấy được những đối tượng mà ý nghĩ của người khác hướng tới khác với những đối tượng mà các em quan tâm” Người ta thường nói một cách giàu hình ảnh: các em tự xem mình như “cái rốn của vũ trụ”, là nhân vật có tầm quan trọng nhất, mọi người phải suy nghĩ và hành động như chúng

Trang 38

34

Bên cạnh khả năng tự đánh giá bản thân, khả năng đánh giá người khác của các em đầy đủ và chính xác hơn Các em thường đánh giá bạn bè và những người xung quanh cả về nội dung lẫn hình thức bên ngoài Cùng với sự phát triển của lứa tuổi, việc đánh giá người khác của các em ngày càng đi vào chiều sâu Nội dung đánh giá người khác của các em ở độ tuổi này toàn diện và phong phú, không như người lớn chỉ chú ý đánh giá những mặt mà họ quan tâm

Các em không chỉ biết đánh giá những bạn bè cùng lứa mà còn thường xuyên quan sát, đánh giá những người lớn xung quanh, đặc biệt là bố mẹ và thầy cô giáo Nếu như ở tuổi thơ, các em luôn luôn xem bố mẹ, thầy cô giáo là những hình mẫu

lý tưởng của mình, mọi việc làm, lời nói của họ đều được các em cho là đúng, là tốt thì ở độ tuổi này các em đã dần dần nhận biết được những điều đúng, những điều sai trong các mối quan hệ, cách ứng xử, thái độ đối với công việc, đối với mọi người, Song, do còn ít được trải nghiệm, ít tiếp xúc xã hội nên thường sự đánh giá của các em tương đối khắt khe, cứng nhắc và thậm chí còn mang tính cực đoan Hơn thế, kết quả của những nhận xét đó có ảnh hưởng rất lớn đến tình cảm, thái độ, quan hệ của các em đối với những người được đánh giá Những người được các em đánh giá tốt sẽ được các em yêu quý, gần gũi, tin tưởng, thích được làm việc, được hợp tác với họ, tích cực hoàn thành những nhiệm vụ mà người đó giao phó Các em gần như có thái độ ngược lại đối với những người mà các em phát hiện thấy ở họ có những lời nói, hành động các em cho là không đúng, không tốt Chẳng hạn, không ít học sinh bắt đầu yêu thích và đạt kết quả cao ở những môn học mà thầy cô giáo phụ trách được chúng yêu quý Trong thực tế, có không ít các em ngay từ độ tuổi này đã miệt mài học tập theo mẫu người, theo nghề nghiệp của bố mẹ - những người vẫn được các em xem là hình ảnh lý tưởng- được các em hết lòng yêu quý, tôn trọng Trái lại, có không ít trường hợp, khi phát hiện ra những hành vi sai trái, những lời nói thiếu trung thực, thái độ không đúng đắn của bố, mẹ đối với công việc, những mối quan hệ không lành mạnh, không trong sáng của họ các em bị khủng hoảng trầm trọng Nhiều em trong hoàn cảnh đó không những chỉ mất niềm tin vào bố mẹ mình mà còn mất niềm tin vào những người xung quanh, vào cuộc sống, các em

Trang 39

35

nhìn cuộc đời một cách bi quan, chán nản Có lẽ vì thế mà khi gặp những trường hợp như vậy, các em ít tìm đến người lớn để tìm sự khuyên bảo và giúp đỡ, các em thường tìm đến những người bạn cùng lứa tuổi, cùng hoàn cảnh nhằm tìm cảm giác được cảm thông, an ủi Và kết quả thường tiêu cực, nhiều em từ đó bắt đầu những hành vi lệch chuẩn mực xã hội hay phạm tội [13]

Như vậy, vị thành niên là giai đoạn khá quan trọng trong cuộc đời mỗi người, nhưng đây cũng là giai đoạn đầy khó khăn đòi hỏi nhiều thách thức trong sự trưởng thành của mỗi cá nhân Làm sao vượt qua những khủng hoảng của giai đoạn này để trở thành một cá nhân độc lập với đời sống tinh thần mạnh mẽ đã là một nhiêm vụ khó đối với các em có môi trường sống bình thường, huống hồ các em có môi trường sống không được hoàn hảo như GĐCBL thì liệu các em sẽ phát triển như thế nào? nhận thức, cảm xúc và hành vi của các em sẽ ra sao? Đó là những băn khoăn, trăn trở của tác giả khi thực hiện đề tài này

Trang 40

36

Tiểu kết chương 1

1 BLGĐ luôn là vấn đề nhức nhối của xã hội Do đó, Trẻ em trong GĐCBL

nói chung và NT - CX - HV của trẻ trong GĐCBL nói riêng đã thu hút được rất nhiều sự quan tâm, nghiên cứu các tác giả trong và ngoài nước Các tác giả nghiên cứu trẻ em trong các GĐCBL trên mọi phương diện cuộc sống của các em như: thực trạng trẻ em phải sống trong các GĐCBL, điều kiện chăm sóc, chất lượng cuộc sống của các em Vấn đề NT - CX - HV của trẻ

em trong các GĐCBL cũng được nghiên cứu khá nhiều, song các nghiên cứu

đa phần chỉ đi sâu về một yếu tố: hoặc nhấn mạnh vào nhận thức mà ít chú ý đến cảm xúc và hành vi; hoặc nhấn mạnh hành vi thì lướt qua cảm xúc và nhận thức mà chưa có một nghiên cứu thực sự xem xét tương đồng cả ba yếu

tố

2 NT - CX - HV là ba thành tố không thể tách rời trong đời sống tâm lý của

mỗi cá nhân Trong đó, nhận thức là những suy nghĩ, những hiểu biết, những giải thích, những quan niệm và ý kiến của một cá nhân; cảm xúc là những rung động khác nhau của con người nảy sinh do sự thỏa mãn hay không thỏa mãn những nhu cầu nào đó, do có sự phù hợp hay không phù hợp của các biến cố hoàn cảnh, cũng như trạng thái bên trong cơ thể với mong muốn, hứng thú, khuynh hướng, niềm tin và thói quen của chúng ta; hành vi là những hành động mà một sinh vật thực hiện nhằm điều chỉnh môi trường của

3 Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân và

huyết thống Các thành viên trong gia đình có quyền và nghĩa vụ với nhau,

có trách nhiệm tạo sự ấm cúng, cảm giác an toàn và tình yêu thương cho nhau; GĐCBL là gia đình mà ở đó, thành viên trong cùng một gia đình có các hành vi tấn công, đe dọa, gây tổn hại về thể chất và tinh thần đối với các thành viên khác

4 Giai đoạn từ 15 đến 17 tuổi là giai đoạn chuyển tiếp của một đứa trẻ thành

người trưởng thành, trẻ trong độ tuổi này có những vấn đề tâm lý đặc trưng

Ngày đăng: 23/02/2017, 20:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
27. Hoàng Bá Thịnh (2007), “Bạo lực gia đình đối với trẻ em và một số giải pháp phòng ngừa”, Tạp chí Tâm lý học (số 6), tr.25-27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bạo lực gia đình đối với trẻ em và một số giải pháp phòng ngừa
Tác giả: Hoàng Bá Thịnh
Năm: 2007
28. Hoàng Bá Thịnh (2007), “Những hành vi bạo lực gia đình – con cái sẽ học theo bố mẹ”, Báo Gia đình và Xã hội (số 5), tr.10–12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những hành vi bạo lực gia đình – con cái sẽ học theo bố mẹ
Tác giả: Hoàng Bá Thịnh
Năm: 2007
36. Viện Nghiên cứu Phát triển Thành phố Hồ Chí Minh phối hợp với trung tâm tư vấn FDC (2009), Hội thảo “Bạo hành trẻ em trong gia đình và nhà trường hiện nay – thực trạng và giải pháp”, TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bạo hành trẻ em trong gia đình và nhà trường hiện nay – thực trạng và giải pháp
Tác giả: Viện Nghiên cứu Phát triển Thành phố Hồ Chí Minh phối hợp với trung tâm tư vấn FDC
Năm: 2009
38. Allen, N.E., Wolf, A.M., Bybee, D.I & Sullivan, C.M (2003), “Diversity of Children’s Immediate Coping Responses to Witnessing Domestic Violence”, Journal of Emotional Abuse (3), pp. 123-147 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diversity of Children’s Immediate Coping Responses to Witnessing Domestic Violence
Tác giả: Allen, N.E., Wolf, A.M., Bybee, D.I & Sullivan, C.M
Năm: 2003
40. Campeau. P & Berteau. G (2007), “Points de vue de gestionnairessurI’insertion, la realization et le maintien d’un programmed’intervention de groupeauprèsd’enfants exposés à la violence conjugale” Collection Études et analyses, 39, Comprend des réf, Bibliogr, pp. 10-15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Points de vue de gestionnairessurI’insertion, la realization et le maintien d’un programmed’intervention de groupeauprèsd’enfants exposés à la violence conjugale
Tác giả: Campeau. P & Berteau. G
Năm: 2007
41. Dauvergne, M et Johnson, H (2002), “Les enfantstémoins de violence familiaire”, Statisque Canada (21), pp.2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Les enfantstémoins de violence familiaire
Tác giả: Dauvergne, M et Johnson, H
Năm: 2002
42. Dulamdary EnKhtor (2007), "Education or abuse: study on corporal punishment children and the spirit in Vietnam", UNICEF, SCS, PLAN, SIPFC Sách, tạp chí
Tiêu đề: Education or abuse: study on corporal punishment children and the spirit in Vietnam
Tác giả: Dulamdary EnKhtor
Năm: 2007
43. Fantuzzo, J.W,.& Mohr, W. (1999). “Prevalence and effects of child exposure to domestic violence”, Future of Children 9 (3), pp.21-32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Prevalence and effects of child exposure to domestic violence
Tác giả: Fantuzzo, J.W,.& Mohr, W
Năm: 1999
45. Higgins, D.J, & McCabe, M.P (2003), “Maltreatment and Family Dysfunction in Childhood and the Subsequent Adjustment of Chilren and Adults”, Journal of Family Violence 18(2), pp.107-120 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Maltreatment and Family Dysfunction in Childhood and the Subsequent Adjustment of Chilren and Adults
Tác giả: Higgins, D.J, & McCabe, M.P
Năm: 2003
46. Holtzworth-Munroe, A., Smutzler, N., &Sandin, B. (1997), “A Brief Review of the Research on Husband Violence”, Part II: The Psychological Effects of Husband Violence on Battered Women and their Children, Aggression and Violent Behavior (2), pp.179-213 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A Brief Review of the Research on Husband Violence
Tác giả: Holtzworth-Munroe, A., Smutzler, N., &Sandin, B
Năm: 1997
48. Kilpatrick K.L, Williams L.M. (1997), “Post-Traumatic Stress Disorder in Child Wit-nesses to Domestic Violence”, American Journal of Orthopsychiatry 67 (4), pp.639-644 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Post-Traumatic Stress Disorder in Child Wit-nesses to Domestic Violence
Tác giả: Kilpatrick K.L, Williams L.M
Năm: 1997
50. Mabanglo, M.A.G. (2002), “Trauma and the Effects of Violence Exposure and Abuse on Children”: Part III: Trauma, Resilience and Multi-Theoretical Treatment, Smith College Studies in Social Work 72 (2), pp.231-251 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trauma and the Effects of Violence Exposure and Abuse on Children
Tác giả: Mabanglo, M.A.G
Năm: 2002
51. MacAlister Groves, B. (1999), “Mental health services for children who witness domestic violence”, The Future of Children (3), pp.122-133 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mental health services for children who witness domestic violence
Tác giả: MacAlister Groves, B
Năm: 1999
52. MacKenzie-Keating S.E., & McDonald L (1997), “The Abusive Effects of Marital Violence on Children”, Early Development and Care (139), pp.99- 106 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Abusive Effects of Marital Violence on Children
Tác giả: MacKenzie-Keating S.E., & McDonald L
Năm: 1997
53. Peled, E. (1998), “The Experience of Living with Violence for Preadolescent Witnesses of Woman Abuse”, Youth & Society 29, pp.395- 430 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Experience of Living with Violence for Preadolescent Witnesses of Woman Abuse
Tác giả: Peled, E
Năm: 1998
1) Gerrig, Richard J. & Philip G. Zimbardo , Glossary of Psychological Terms , www.apa.org,http://www.apa.org/research/action/glossary.aspx?tab=3, cập nhật ngày 22/4/2002 Link
2) Huong PM, Erik và học thuyết về sự phát triển con người, Tamly.com.vn, http://tamly.com.vn/home/?act=News-Detail-s-11-1229-Erik_va_Erikson_va_cac_giai_doan_phat_trien_tam_ly_con_nguoi_(Phan_cuoi).html , cập nhật ngày 12/1/2012 Link
3) YTC, Trình bày khái niệm về hành vi và hành vi sức khỏe, ycantho.com, http://www.ycantho.com/content/2/219/0/4/pg-ytcc.html, cập nhật ngày 14/7/201 Link
16. Đặng Cảnh Khanh (2003), Gia đình, trẻ em và sự kế thừa những giá trị truyền thống, NXB Lao động xã hội Khác
17. Liên Hợp Quốc (1993), Luật phòng chống bạo lực gia đình, NXB Lao động xã hội Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.3 Phân bố khách thể nghiên cứu chính - Nhận thức, cảm xúc, hành vi của trẻ em trong gia đình có bạo lực
Bảng 2.3 Phân bố khách thể nghiên cứu chính (Trang 49)
Bảng 2.5 Quy đổi điểm cho các item ngƣợc chiều thuộc bảng hỏi nhận NT – CX  – HV - Nhận thức, cảm xúc, hành vi của trẻ em trong gia đình có bạo lực
Bảng 2.5 Quy đổi điểm cho các item ngƣợc chiều thuộc bảng hỏi nhận NT – CX – HV (Trang 50)
Bảng 2.7 Phân loại nhận thức về bản thân. - Nhận thức, cảm xúc, hành vi của trẻ em trong gia đình có bạo lực
Bảng 2.7 Phân loại nhận thức về bản thân (Trang 51)
Bảng 2.9 Phân loại cảm xúc đối với bản thân. - Nhận thức, cảm xúc, hành vi của trẻ em trong gia đình có bạo lực
Bảng 2.9 Phân loại cảm xúc đối với bản thân (Trang 52)
Bảng 2.11 Phân loại hành vi đối với bản thân. - Nhận thức, cảm xúc, hành vi của trẻ em trong gia đình có bạo lực
Bảng 2.11 Phân loại hành vi đối với bản thân (Trang 53)
Bảng 3.1 Thực trạng bạo lực gia đình - Nhận thức, cảm xúc, hành vi của trẻ em trong gia đình có bạo lực
Bảng 3.1 Thực trạng bạo lực gia đình (Trang 55)
Bảng 3.2 Lần gần nhất chứng kiến bạo lực gia đình - Nhận thức, cảm xúc, hành vi của trẻ em trong gia đình có bạo lực
Bảng 3.2 Lần gần nhất chứng kiến bạo lực gia đình (Trang 61)
Bảng 3.4 Chia mức cảm xúc đối với gia đình của trẻ trong gia đình có bạo lực - Nhận thức, cảm xúc, hành vi của trẻ em trong gia đình có bạo lực
Bảng 3.4 Chia mức cảm xúc đối với gia đình của trẻ trong gia đình có bạo lực (Trang 69)
Bảng 3.5 Chia mức hành vi đối với gia đình của trẻ trong gia đình có bạo lực - Nhận thức, cảm xúc, hành vi của trẻ em trong gia đình có bạo lực
Bảng 3.5 Chia mức hành vi đối với gia đình của trẻ trong gia đình có bạo lực (Trang 72)
Sơ đồ 3.2 tương quan giữa bạo lực gia đình với nhận thức, cảm xúc, hành vi   đối với bản thân của trẻ trong gia đình có bạo lực - Nhận thức, cảm xúc, hành vi của trẻ em trong gia đình có bạo lực
Sơ đồ 3.2 tương quan giữa bạo lực gia đình với nhận thức, cảm xúc, hành vi đối với bản thân của trẻ trong gia đình có bạo lực (Trang 76)
Bảng 3.6 Chia mức nhận thức về bản thân của trẻ trong gia đình có bạo lực - Nhận thức, cảm xúc, hành vi của trẻ em trong gia đình có bạo lực
Bảng 3.6 Chia mức nhận thức về bản thân của trẻ trong gia đình có bạo lực (Trang 77)
Bảng 3.7 Chia mức cảm xúc đối với bản thân của trẻ trong gia đình có bạo lực - Nhận thức, cảm xúc, hành vi của trẻ em trong gia đình có bạo lực
Bảng 3.7 Chia mức cảm xúc đối với bản thân của trẻ trong gia đình có bạo lực (Trang 83)
Bảng 3.8 Chia mức hành vi đối với bản thân của trẻ trong gia đình có bạo lực - Nhận thức, cảm xúc, hành vi của trẻ em trong gia đình có bạo lực
Bảng 3.8 Chia mức hành vi đối với bản thân của trẻ trong gia đình có bạo lực (Trang 85)
Hình thức  Mức độ - Nhận thức, cảm xúc, hành vi của trẻ em trong gia đình có bạo lực
Hình th ức Mức độ (Trang 112)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w