ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN --- NGUYỄN THANH BÌNH MỐI QUAN HỆ GIỮA DIỄN NGÔN ĐẠO ĐỨC VÀ DIỄN NGÔN TÌNH YÊU/ TÌNH DỤC TRONG TRUYỀN KỲ MẠN LỤC C
Trang 1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN THANH BÌNH
MỐI QUAN HỆ GIỮA DIỄN NGÔN ĐẠO ĐỨC
VÀ DIỄN NGÔN TÌNH YÊU/ TÌNH DỤC TRONG
TRUYỀN KỲ MẠN LỤC CỦA NGUYỄN DỮ
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
Trang 2
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN THANH BÌNH
MỐI QUAN HỆ GIỮA DIỄN NGÔN ĐẠO ĐỨC
VÀ DIỄN NGÔN TÌNH YÊU/ TÌNH DỤC TRONG
TRUYỀN KỲ MẠN LỤC CỦA NGUYỄN DỮ
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 01 21
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Đỗ Thu Hiền
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Đỗ Thu Hiền Các kết quả và số liệu nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa sử dụng để bảo vệ một công trình khoa học nào
Những luận điểm sử dụng của các tác giả khác, tác giả luận văn đều có ghi chú rõ ràng nguồn gốc Tác giả hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính xác thực và nguyên bản của luận văn
Hà Nội, ngày tháng năm 2016 Tác giả luận văn
Nguyễn Thanh Bình
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới TS Đỗ Thu Hiền - người thầy đã tận tình hướng dẫn, dìu dắt và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy cô trong khoa Văn học, khoa Sau đại học trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, ĐHQG Hà Nội đã nhiệt tình giúp đỡ
và tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu tại trường
Tác giả luận văn chân thành biết ơn những người thân trong gia đình, nhà trường nơi tôi giảng dạy và bạn bè đã giúp đỡ tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi học tập và nghiên cứu
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả
Nguyễn Thanh Bình
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
PHẦN NỘI DUNG 9
Chương 1: CÁC VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT VÀ TÁC PHẨM TRUYỀN KỲ MẠN LỤC 9
1.1 Lý thuyết diễn ngôn 9
1.2 Đặc trưng của thể loại truyền kỳ 12
1.3 Nguyễn Dữ và tác phẩm Truyền kỳ mạn lục 14
1.3.1 Tác giả Nguyễn Dữ 14
1.3.2 Truyền kỳ mạn lục 17
Chương 2: TỪ DIỄN NGÔN ĐẠO ĐỨC ĐẾN DIỄN NGÔN TÌNH YÊU/ TÌNH DỤC TRONG TRUYỀN KỲ MẠN LỤC CỦA NGUYỄN DỮ 20
2.1 Diễn ngôn đạo đức trong Truyền kỳ mạn lục 20
2.1.1.Kỳ thị nữ sắc, điều tiết bản năng 20
2.1.2 Cảnh tỉnh thói tham lam 25
2.1.3 Cảnh tỉnh thói ghen tuông mù quáng 26
2.1.4 Trọn đạo hiếu trung, hành xử cẩn trọng 27
2.1.5 Sự chung thuỷ, đức hy sinh của người phụ nữ trong mối quan hệ vợ chồng 28
2.1.6 Nhân quả báo ứng (của những yêu ma nhiễu dân 30
2.2 Diễn ngôn tình yêu/ tình dục trong Truyền kỳ mạn lục 31
2.2.1.Yếu tố tính dục trong các câu chuyện tình 31
2.2.2 Tình yêu tự do nam nữ không chịu ràng buộc ở lễ giáo phong kiến 37
2.3 Sự vận động của diễn ngôn đạo đức và diễn ngôn tình yêu trong Truyền kỳ mạn lục 47
Chương 3 MỐI QUAN HỆ GIỮA DIỄN NGÔN ĐẠO ĐỨC VÀ DIỄN NGÔN TÌNH YÊU/ TÌNH DỤC TRONG TRUYỀN KỲ MẠN LỤC NHÌN TỪ HÌNH THỨC NGHỆ THUẬT 53
3.1 Hệ thống nhân vật chính trong các câu chuyện tình yêu 53
Trang 63.1.1 Nhân vật nam giới: 53
3.1.2 Nhân vật nữ giới: 57
3.2 Mối quan hệ giữa tự sự- trữ tình và chính luận 61
3.2.1 Phương thức tự sự trong Truyền kỳ mạn lục 61
3.2.2 Phương thức kết hợp trữ tình với tự sự trong Truyền kỳ mạn lục: 64
3.2.3.Màu sắc chính luận trong Truyền kỳ mạn lục 67
3.2.4 Mối quan hệ giữa tự sự, trữ tình và chính luận 69
3.3 Mối quan hệ giữa yếu tố kỳ- thực 82
3.3.1 Yếu tố “kỳ” 82
3.3.2 Yếu tố thực: 88
3.3.3 Yếu tố kỳ- thực có mối liên hệ chặt chẽ 91
3.4 Ngôn từ đậm màu sắc tính dục 93
3.4.1.Lời của các nhân vật ma nữ, yêu hoa 93
3.4.2 Những bài thơ đậm màu sắc nhục dục 96
PHẦN KẾT LUẬN 99
TÀI LIỆU THAM KHẢO 103
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ là tác phẩm có vị trí quan trọng trong tiến
trình phát triển của văn xuôi trung đại Việt Nam Trong cuốn Văn xuôi tự sự thời
trung đại, tác giả Nguyễn Đăng Na khẳng định: “Nguyễn Dữ là người đầu tiên dùng
thuật ngữ “Truyền kỳ” đặt tên cho tác phẩm của mình Có thể nói ông là cha đẻ của loại hình truyền kỳ Việt Nam”.Tác phẩm được đánh giá là một viên ngọc lung linh của thể loại văn xuôi trong văn học trung đại Hơn thế nữa, Truyền kỳ mạn lục được coi là một trong những đỉnh cao của văn học Việt Nam thời trung đại Tác phẩm cho thấy sự trưởng thành của văn xuôi trung đại từ văn xuôi mang nặng tính chức năng sang văn xuôi giàu tính nghệ thuật (Văn học chức năng: “văn dĩ tải đạo”, “thi
dĩ ngôn chí” - văn chương có thể tác động làm thay đổi cá nhân, giáo hóa cá nhân) Đây là giai đoạn văn, sử, triết bất phân; bản chất của quá trình sáng tạo văn học không phải là hành trình đi tìm cái mới, sáng tạo ra hình thức để tái hiện thực tế…
mà là sự thể nghiệm về đạo, hướng về đạo và đề cao đạo lí Tác phẩm cho thấy bước chuyển mình thoát khỏi những ảnh hưởng đậm nét của văn học dân gian và văn xuôi lịch sử để chuyển sang văn xuôi tự sự
Truyền kỳ mạn lục là tác phẩm có sức hấp dẫn lạ kỳ Ngay từ thế kỷ XVI, tác phẩm
đã được Nguyễn Thế Nghi dịch sang chữ Nôm để độc giả có thể thuận tiện trong việc tìm đọc Đây là tác phẩm được Vũ Khâm Lân ngợi ca là “Thiên cổ kỳ bút”
Truyền kỳ mạn lục cũng trở thành đối tượng nghiên cứu có sức hấp dẫn lớn đối với
các nhà nghiên cứu Việt Nam, Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản Những khuôn mẫu đạo đức vốn được coi là “khuôn vàng thước ngọc” của xã hội phong kiến được đặt bên cạnh luồng tư tưởng mới mang theo khát khao bản năng của con người Vấn đề tình yêu tự do không chịu sự ràng buộc của lễ giáo phong kiến, vấn
đề tình dục trong tình yêu được đề cập đến Ông đang bảo vệ cho hệ thống tư tưởng Nho gia hay đang đồng tình với khát vọng yêu đương cháy bỏng - đó có lẽ là câu
hỏi mà nhiều người muốn tìm lời giải đáp Có khá nhiều nghiên cứu về Truyền kỳ
mạn lục và không ít những ý kiến trái chiều; cũng có rất nhiều cách tiếp cận tác
phẩm này dưới những góc độ khác nhau Chính vì vậy, chúng tôi lựa chọn đề tài:
Trang 8Mối quan hệ giữa diễn ngôn đạo đức và diễn ngôn tình yêu/ tình dục cho luận văn
của mình nhằm hy vọng đem đến một góc nhìn mới cho việc nghiên cứu một tác phẩm đã được đào xới quá nhiều của văn học trung đại
2 Mục đích nghiên cứu và ý nghĩa của luận văn
2.1 Mục đích nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là một tác phẩm có sức hấp dẫn, được coi là “Thiên cổ
kỳ bút” Khi nghiên cứu tác phẩm này, chúng tôi muốn tìm hiểu một phương diện quan trọng trong tư tưởng Nguyễn Dữ qua mối quan hệ giữa diễn ngôn đạo đức và
diễn ngôn tình yêu/ tình dục trong Truyền kỳ mạn lục Chúng tôi cũng muốn xem
xét mối quan hệ giữa diễn ngôn đạo đức và diễn ngôn tình yêu/ tình dục đã được thể hiện như thế nào trong hình thức nghệ thuật của tác phẩm
2.2 Ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Thực hiện mục tiêu trên, chúng tôi hy vọng luận văn của mình sẽ hữu ích đối với những người yêu thích tác phẩm này và muốn tìm hiểu về tác giả Nguyễn Dữ Đặc biệt hơn, luận văn sẽ giúp chúng ta có cách lí giải thấu đáo về sự mâu thuẫn trong tư tưởng Nguyễn Dữ Đồng thời, luận văn giúp chúng ta thấy rõ tư tưởng tiến
bộ vượt thời đại của ông trong quan điểm về tình yêu, về hạnh phúc trần thế
3 Lịch sử vấn đề
Truyền kỳ mạn lục là một tác phẩm có sức hút kỳ lạ với các nhà nghiên cứu
Có khá nhiều nghiên cứu tâm huyết về Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ của các
nhà nghiên cứu trong và ngoài nước Tuy nhiên, các nghiên cứu trên chưa thật chú ý
đến mối quan hệ giữa diễn ngôn đạo đức và diễn ngôn tình yêu trong Truyền kỳ mạn
lục Bởi vậy, luận văn của chúng tôi sẽ cố gắng làm rõ mối quan hệ này
Trong bài viết: : Truyền kỳ mạn lục, một thành tựu của truyện ký văn học viết
bằng chữ Hán[47], Bùi Duy Tân có những nhận định, đánh giá đặc biệt về chuyện tình yêu giữa người với hồn ma, yêu hoa Theo quan điểm của ông, những câu chuyện tình giữa người và ma là những chuyện tình được miêu tả “trái với đạo lí Nho gia” [47, tr.518] Thậm chí tình yêu tự do, không bị ràng buộc của lễ giáo phong kiến ở Hà Nhân với Đào, Liễu; Nhị Khanh với Trình Trung Ngộ là “xa lạ với
Trang 9quan niệm lành mạnh về cuộc sống, về tình yêu nam nữ trong truyện Nôm bình dân, trong văn nghệ dân gian” [47, tr 519] Mặc dù vậy, Bùi Duy Tân vẫn khẳng định tư
tưởng nhân đạo của Nguyễn Dữ thể hiện trong Truyền kỳ mạn lục, nhất là những
câu chuyện về tình yêu bởi Nguyễn Dữ bày tỏ thái độ cảm thông với những khao khát yêu đương trần thế ở các nhân vật, Nguyễn Dữ trân trọng sự si tình, hết mình
vì người mình yêu ở nhân vật của mình (không phân biệt người hay ma) Với phần lời bình ở cuối truyện, Bùi Duy Tân chỉ ra sự mâu thuẫn trong tư tưởng của Nguyễn
Dữ vì phần lời bình xuất phát từ “thái độ bảo thủ của Nho giáo” Đáng tiếc là mâu thuẫn trong tư tưởng của Nguyễn Dữ chưa được Bùi Duy Tân khai thác một cách chuyên sâu để lí giải một cách thỏa đáng căn nguyên cũng như đưa đến kết luận cuối cùng là Nguyễn Dữ có thực sự mang “thái độ bảo thủ của Nho giáo” hay không
Kawamoto Kunyé: Những vấn đề khác nhau liên quan đến TKML (Lịch sử
sáng tác, xuất bản và nghiên cứu theo cái nhìn văn học so sánh) [26] Bài viết của Kawamoto Kunyé (Đại học tổng hợp Nhật Bản) quan tâm đến việc đánh giá tác phẩm dưới góc độ một tác phẩm viết lại theo mô hình thể loại, phong cách, đề tài và
môtip của Tiễn đăng tân thoại Đây là bài tham luận có quan điểm khác với các nhà nghiên cứu văn học Việt Nam Các nhà nghiên cứu Việt Nam cho rằng, Truyền kỳ
mạn lục quả có những điểm tương đồng về nội dung tư tưởng và nghệ thuật so với Tiễn đăng tân thoại, nhưng không phải là một tác phẩm mô phỏng lại Tiễn đăng tân thoại
Trần Thị Băng Thanh khi viết lời tựa cho Truyền kỳ mạn lục đã có cái nhìn
nhân bản khi nhận định về số phận các nhân vật và cách kết thúc truyện Nếu như Bùi Duy Tân cho rằng những câu chuyện tình giữa người và ma là những chuyện tình được miêu tả “trái với đạo lí Nho gia” thì Trần Thị Băng Thanh lại bày tỏ sự cảm thông với những nhân vật nữ giới dù là chuyện tình yêu của họ có đi ngược lại
lễ giáo phong kiến: “Kết quả là người dân lương thiện, đặc biệt là người phụ nữ phải chịu nhiều đau khổ Nguyễn Dữ dành nhiều ưu ái cho những nhân vật này Dưới ngòi bút của ông, họ đều là những thiếu phụ xinh đẹp, chuyên nhất, tảo tần,
Trang 10giàu lòng vị tha nhưng luôn luôn phải chịu số phận bi thảm Đến cả loại nhân vật
“phản biện” như nàng Hàn Than (Đào thị nghiệp oan ký), nàng Nhị Khanh (Mộc miên thụ truyện), các hồn hoa (Tây viên kỳ ngộ ký) và “Yêu quái ở Xương Giang” cũng đều vì số phận đưa đẩy, đều vì “nghiệp oan” mà đến nỗi trở thành ma quái Họ đáng bị trách phạt, nhưng cũng đáng thương” Lời tựa này giúp người đọc trút bỏ bớt cái nhìn khắt khe đối với những nhân vật xưa này bị xa lánh như ma nữ Tuy nhiên, lời tựa mới chỉ dừng lại ở mức độ đánh giả với cái nhìn đầy nhân bản chứ chưa chuyên sâu nghiên cứu về cuộc đời của các nhân vật để các nhân vật nữ thực
sự chiếm được sự cảm thông của người đọc
Trần Ích Nguyên (Đài Loan) đã có một công trình nghiên cứu khá tỉ mỉ và công
phu: Nghiên cứu so sánh Tiễn đăng tân thoại và Truyền kỳ mạn lục [41] Trong bài
viết này, tác giả đã đi sâu khai thác, tìm hiểu sự đón nhận Tiễn đăng tân thoại ở
Hàn Quốc, Nhật Bản, Việt Nam từ đó cho thấy ý nghĩa của việc nghiên cứu so sánh
Tiễn đăng tân thoại và Truyền kỳ mạn lục Không chỉ cung cấp những thông tin hữu
ích về tác giả Cù Hựu, Trần Ích Nguyên còn cho bạn đọc thấy được những tìm hiểu rất nghiêm túc khi nói về Nguyễn Dữ Hơn thế nữa, trong bài viết của mình, Trần Ích Nguyên luôn đưa ra sự đối sánh về nguồn gốc, nội dung tư tưởng và nghệ thuật của hai tác phẩm sau đó chốt lại bài viết bằng những nhận định khách quan mang
tính phát hiện Truyền kỳ mạn lục được coi là tác phẩm phóng tác từ Tiễn đăng tân
thoại, tuy nhiên sự vay mượn chủ yếu là trên phương diện cốt truyện Đối với tác
giả bài viết thì: “Tóm lại, việc lấy tài liệu của bất kỳ một tác phẩm văn học nào đều
có thể là từ nhiều nguồn Chỉ cần các tác giả không thỏa mãn với việc mô phỏng, thì
dù có tiếp thu ảnh hưởng của nước mình hay nước ngoài thì cũng chẳng làm tổn hại
gì đến tính sáng tạo độc đáo” [41, tr 215] Tiễn đăng tân thoại của Cù Hựu hấp dẫn
độc giả không chỉ bởi triết lí nhân sinh gửi gắm qua các câu chuyện mà còn bởi sự hấp dẫn, li kì và độ căng của các tình tiết do yếu tố kỳ ảo tạo nên Trong khi đó
Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ không chỉ là tác phẩm để thỏa mãn tính hiếu kỳ
của người đọc mà còn gửi gắm triết lí nhân sinh và tỏ bày thái độ chính trị - xã hội
Đặc biệt, khác với Tiễn Đăng tân thoại, Truyền kỳ mạn lục đều có phần lời bình của
Trang 11tác giả ở cuối mỗi truyện - một đoạn văn nghị luận ngắn (Trừ Cuộc nói chuyện thơ
ở Kim Hoa) Phần lời bình này thể hiện quan điểm của người viết và có mục đích
thuyết giáo Việc so sánh Tiễn đăng tân thoại và Truyền kỳ mạn lục của Trần Ích
Nguyên giúp ta có cái nhìn tổng quát giữa hai tác phẩm này để nhận ra điểm tương đồng và sự sáng tạo riêng của từng tác giả Tuy nhiên, bài viết chỉ chú trọng nhiều đến việc so sánh hai tác phẩm mà không đi sâu nghiên cứu về đặc sắc trong một
khía cạnh cụ thể của Tiễn đăng tân thoại hay Truyền kỳ mạn lục
Nguyễn Phạm Hùng Với Tìm hiểu khuynh hướng sáng tác trong Truyền kỳ
mạn lục của Nguyễn Dữ Trong bài viết này, tác giả đã đề cập đến rất nhiều vấn đề
của tác phẩm và giúp người đọc hiểu thêm khuynh hướng, tư tưởng, nghệ thuật của
nhà văn Nguyễn Dữ Không chỉ thế, nghiên cứu này còn cho thấy vị trí của Truyền
kỳ mạn lục đối với tiến trình lịch sử văn học dân tộc Tuy nhiên, để tìm hiểu một
cách kỹ lưỡng về sự mâu thuẫn trong tư tưởng Nguyễn Dữ thì bài viết của Nguyễn Phạm Hùng chưa đề cập tới một cách sâu sắc
Bài viết Vài nét về truyện truyền kỳ Việt Nam [36], Nguyễn Đăng Na đã bàn
nhiều về vấn đề nhân đạo trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ Theo quan điểm
của Nguyễn đăng Na, những câu chuyện tình táo bạo đậm màu sắc tính dục, vượt ra khỏi vòng cương tỏa của lễ giáo phong kiến cũng là một cách mà Nguyễn Dữ làm một cuộc thử nghiệm Nguyễn Dữ để nhân vật của mình tự do phóng khoáng mà yêu đương; nồng nhiệt, đắm say mà thỏa mãn khát khao tình dục bởi dẫu sao thì kết cục của họ cũng đều bi đát Phải chăng sinh ra làm người phụ nữ là đã gánh lấy sự thiệt thòi vì “Sống đạo đức tử tế đều bị chết oan Vậy hãy hành động theo ham muốn của tình dục, theo tiếng gọi của trái tim Nguyễn Dữ làm cuộc thử nghiệm ngược lại: cho một số nhân vật phụ nữ sống tự do Tác giả cho Nhị Khanh (Cây gạo) sống một cách “thoải mái”, vượt vòng cương tỏa, chạy theo tình dục”[36] Theo lời Nhị Khanh thì cuộc đời chẳng qua là một giấc chiêm bao ngắn ngủi, trời cho sống ngày nào thì nên tìm lấy những thú vui kẻo hoài phí một thời xuân tươi tốt Dẫu có chính chuyên như Nhị Khanh trong Chuyện người nghĩa phụ ở Khoái Châu hay tần tảo, hy sinh như Vũ Nương thì kết cục vẫn ôm hận mà chết Vậy sao
Trang 12những người phụ nữ không làm một cuộc bứt phá để sống những tháng ngày hạnh phúc ái ân dù là ngắn ngủi? Bài viết này của Nguyễn Đăng Na đã thực sự đứng về phía người phụ nữ mà cảm thông, thương xót cho họ Không chỉ vậy, tác giả bài viết còn đưa ra những lời lẽ hết sức đanh thép để đòi lại công bằng cho những người sinh ra đã phải hứng chịu số kiếp nữ nhi trong xã hội phong kiến: “Đào Hàn Than
có thai Lẽ ra đấy là niềm hạnh phúc lớn nhất của nàng: làm mẹ! Song, xã hội đâu
có chấp nhận cho nàng làm mẹ? Hình ảnh đó như một ám ảnh vò dứt, đập mạnh vào cái xã hội dã man đối với phụ nữ, đồng thời khơi dậy ở người đọc một niềm thương cảm cho thân phận nàng” [36] Những đánh giá sắc sảo, đanh thép này cho thấy Nguyễn Đăng Na đề cao quyền sống của con người (nhất là người phụ nữ), lên tiếng bênh vực họ cho dù họ là những nhân vật mà định kiến xã hội phong kiến tẩy chay Tuy nhiên trong bài viết này, Nguyễn đăng Na mới đưa ra những nhận định mang tính khái quát mà chưa đi vào cụ thể một đối tượng nào để khắc sâu
Trần Nho Thìn đã có một bài viết về Truyền kỳ mạn lục với cách tiếp cận tác
phẩm từ các góc độ khác nhau: thế giới nhân vật, quan hệ giữa cái kỳ và cái thực Ở
bài viết này khi tìm hiểu thế giới nhân vật trong Truyền kỳ mạn lục từ nhân vật trí
thức, đạo sỹ, người nhà chùa cho đến nhân vật nhân vật phụ nữ, tác giả bài viết nhận định: “Các loại nhân vật chủ yếu mà chúng ta vừa xem xét trên đây biểu hiện
tư tưởng chính trị đạo đức và quan niệm về con người của ông”[59, tr400] Đặc biệt,
khi bàn về quan hệ giữa cái kỳ và cái thực trong Truyền kỳ mạn lục, tác giả khẳng
định: “Tất cả các truyện đều có hai phần, phần kể chuyện cuộc sống hiện thực và phần kể chuyện có yếu tố kỳ”[59, tr404] Yếu tố kỳ xuất hiện để khai thông mạch
truyện khi cuộc sống hiện thực vận động đến chỗ bế tắc Với cách đọc Truyền kỳ
mạn lục từ nhiều góc độ khác nhau, người đọc sẽ có những cảm nhận phong phú và
toàn diện về tác phẩm này
Bài viết của Vũ Thanh: Thể loại truyện kì ảo Việt Nam trung đại- quá trình
nảy sinh và phát triển đến đỉnh điểm [60] giúp ta có cái nhìn toàn diện về thể loại
truyền kỳ Đồng thời cũng thấy rõ, Truyền kỳ mạn lục cũng như một số tác phẩm
thuộc loại truyện kỳ ảo trung đại Việt Nam có vay mượn từ cốt truyện dân gian,
Trang 13nhưng lời nói, ngôn ngữ kể chuyện và cách miêu tả nhân vật đã có sự khác biệt Điều đó càng khẳng định những đóng góp của Nguyễn Dữ: “Chú trọng đến việc phản ánh những mâu thuẫn bình thường trong đời sống gia đình, cũng như việc đi sâu khắc họa nội tâm nhân vật đã xác định vị trí người mở đường cho loại truyện ngắn thế sự trong lịch sử văn học dân tộc của Nguyễn Dữ và khiến cho truyện của ông trở nên gần gũi với văn xuôi hiện đại”[60, tr754] Trong bài viết này, tác giả cũng tìm hiểu sự phát triển của mối quan hệ giữa truyện kì ảo trung đại và văn xuôi lịch sử để thấy rằng Nguyễn Dữ đã thoát khỏi những ảnh hưởng thụ động của văn xuôi lịch sử Những nhân vật trong tác phẩm Nguyễn Dữ được xây dựng sáng tạo thành những hình tượng nghệ thuật Tất cả những điều đó khẳng định vị trí và những đóng góp của Nguyễn Dữ đối với văn xuôi trung đại Việt Nam
Tóm lại, đã có không ít những nhà nghiên cứu với những bài viết có quy mô
về Truyền kỳ mạn lục, tuy nhiên, các nghiên cứu trên chưa thật chú ý đến mối quan
hệ giữa diễn ngôn đạo đức và diễn ngôn tình yêu/ tình dục trong tác phẩm này Bởi vậy, luận văn của chúng tôi sẽ cố gắng làm rõ mối quan hệ giữa diễn ngôn đạo đức và diễn ngôn tình yêu/ tình dục để lí giải những mâu thuẫn trong tư tưởng Nguyễn Dữ
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: giúp người viết luận văn có cái nhìn khách quan
và toàn diện trong quá trình nghiên cứu Chúng tôi so sánh nhân vật trong câu chuyện này với nhân vật trong câu chuyện khác hoặc so sánh nhân vật của Nguyễn
Dữ với nhân vật của tác giả khác
Trang 14- Phương pháp phân tích - tổng hợp: dựa trên cơ sở đã phân tích, từ đó người viết luận văn đưa ra những đánh giá tổng quan về diễn ngôn đạo đức, diễn ngôn tình yêu/ tình dục
- Phương pháp phân tích diễn ngôn: Sử dụng lý thuyết về phân tích diễn ngôn để phân tích tác phẩm
5 Cấu trúc luận văn
- Chương 1: Các vấn đề lý thuyết và tác phẩm Truyền kỳ mạn lục
- Chương 2: Từ diễn ngôn đạo đức đến diễn ngôn tình yêu/ tình dục trong Truyền
kỳ mạn lục
- Chương 3: Mối quan hệ giữa diễn ngôn đạo đức và diễn ngôn tình yêu/ tình dục
trong Truyền kỳ mạn lục nhìn từ hình thức nghệ thuật
Trang 15PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: CÁC VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT VÀ TÁC PHẨM TRUYỀN KỲ
MẠN LỤC
1.1 Lý thuyết diễn ngôn
M Foucault đưa ra ba cách định nghĩa về diễn ngôn
Thứ nhất diễn ngôn bao gồm “tất cả các nhận định nói chung” Theo bà Sara Mills -
một chuyên gia về Foucault thì tất cả các nhận định ấy là “tất cả các phát ngôn hoặc văn bản mang nghĩa và có một hiệu lực nào đó trong thế giới thực, đều được coi là diễn ngôn” [53] Nói cách khác, diễn ngôn là những phát ngôn trực tiếp (lời nói) hoặc gián tiếp (dưới dạng văn bản mang nghĩa) tác động tới thế giới thực Như vậy, diễn ngôn có thể được thể hiện thông qua văn bản (tác phẩm văn học) để thể hiện tư tưởng, tình cảm, thái độ của tác giả trước cuộc sống Bởi vậy, khi tìm hiểu một tác phẩm, cũng có nghĩa là ta đang tiếp cận diễn ngôn của tác giả đó về một phương diện nào đó của cuộc sống
Thứ hai, diễn ngôn như là “một nhóm các nhận định được cá thể hóa” Theo Trần
Văn Toàn, “diễn ngôn trong cách sử dụng này là một nhóm những nhận định được
tổ chức theo một cách thức nào đó và có một mạch lạc và một hiệu lực chung Theo
đó, người ta có thể nói đến chẳng hạn: diễn ngôn nữ quyền, diễn ngôn thuộc địa, diễn ngôn nam tính, diễn ngôn nữ tính, diễn ngôn y học, diễn ngôn phân tâm học…”
[53] Như vậy, khi tìm hiểu Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ, luận văn bàn đến
diễn ngôn đạo đức, diễn ngôn tình yêu/ tình dục
Thứ ba, diễn ngôn “như một hoạt động được kiểm soát/ điều chỉnh nhằm tạo nên
một tập hợp các nhận định” Nói cách khác, chính những qui tắc, những cấu trúc được điều chỉnh, kiểm soát sẽ tạo ra các nhận định ( các diễn ngôn)
Như vậy, ba định nghĩa về diễn ngôn của Foucault vừa độc lập, vừa có mối liên hệ mật thiết với nhau Trên cơ sở định nghĩa của Foucault về diễn ngôn, chúng
tôi tìm hiểu diễn ngôn trong Truyền kỳ mạn lục Trước hết, Truyền kỳ mạn lục là tác
phẩm tâm huyết của Nguyễn Dữ nên sẽ là nơi tác giả gửi gắm tư tưởng, tình cảm và
cách nhìn về cuộc sống của mình Trong Truyền kỳ mạn lục, Nguyễn Dữ có “một
Trang 16nhóm các nhận định được cá thể hóa” chẳng hạn như vấn đề bảo vệ hệ thống đạo
đức Nho gia, vấn đề tình yêu/ tình dục Bởi vậy, tìm hiểu Truyền kỳ mạn lục cũng là
đi tìm hiểu về diễn ngôn đạo đức, diễn ngôn tình yêu/ tình dục được đề cập đến trong tác phẩm Diễn ngôn đó không chỉ được nhìn nhận từ phương diện nội dung,
từ tư tưởng của tác phẩm mà còn qua phương diện hình thức tác phẩm (những qui tắc, cấu trúc…) Thông qua việc tìm hiểu diễn ngôn đạo đức, diễn ngôn tình yêu/ tình dục trong tác phẩm, ta sẽ thấy được một trong những bức thông điệp mà Nguyễn Dữ gửi gắm
Theo giáo sư Trần Đình Sử: “Hiểu tổng quát, diễn ngôn là thực tiễn giao tiếp của con người trong xã hội Nhấn mạnh thực tiễn giao tiếp xã hội để phân biệt với lời nói cá nhân Mọi lời nói cá nhân đều phụ thuộc vào diễn ngôn xã hội Hoạt động diễn ngôn xã hội thể hiện một trạng thái ngôn ngữ, tri thức, quyền lực trong xã hội của diễn ngôn đó mà các cá nhân đều phụ thuộc vào” Bởi vậy, khi tìm hiểu một phát ngôn, ta phải căn cứ vào thực tiễn giao tiếp trong xã hội để hiểu phát ngôn đó
Ví dụ, khi gặp một người bạn tay xách nách mang bao nhiêu đồ ăn từ chợ đi về, người ta có thể chào bằng một câu hỏi:
- Chị đi chợ về à?
Nếu chỉ căn cứ vào lời nói cá nhân mà tách khỏi thực tiễn giao tiếp thì câu trên là một câu hỏi để xác nhận thông tin: có phải chị đi chợ về hay không? Tuy nhiên, như một “luật bất thành văn”, ai cũng hiểu rằng đó không phải là câu hỏi cần thiết phải trả lời mà đó chỉ là câu chào quen thuộc trong hoàn cảnh đó Vậy, tìm hiểu diễn ngôn cần phải thấy rõ, diễn ngôn không phải là lí thuyết suông trên sách vở mà là thực tiễn giao tiếp của con người trong xã hội
Theo Trần Đình Sử, diễn ngôn biểu hiện thành hình thức ngôn ngữ và được coi là
“hiện tượng tư tưởng” Nói cách khác, khi nghiên cứu diễn ngôn là ta đi nghiên cứu
về mặt tư tưởng Không phải là tư tưởng tồn tại trên lý thuyết mà là tư tưởng được thực tiễn hoá trong đời sống giao tiếp hàng ngày Đối với một nhà văn, tư tưởng của nhà văn được kết tinh lại trong tác phẩm văn học Tác phẩm văn học được coi là cái loa phát ngôn cho tư tưởng của nhà văn Tác phẩm văn học cũng được coi là tấm
Trang 17gương phản chiếu đời sống xã hội Bởi vậy, tìm hiểu diễn ngôn trong tác phẩm văn học cũng chính là tìm hiểu tư tưởng, phát ngôn- bức thông điệp bằng tác phẩm mà tác giả muốn truyền tải tới người đọc Thông qua tác phẩm văn học, tư tưởng, tình cảm, khát vọng, sự trao đổi, đối thoại của tác giả được thể hiện Ví dụ, thông qua Bánh trôi nước, Hồ Xuân Hương cho thấy số phận bị phụ thuộc của người phụ nữ trong xã hội phong kiến, đồng thời bênh vực, ngợi ca phẩm chất tốt đẹp của họ Bên cạnh đó, nữ sĩ còn ngầm phê phán xã hội phong kiến bất công khiến cho người phụ
nữ dù có vẻ đẹp, phẩm chất hoàn mĩ thì số phận vẫn bị đặt vào tay nam nhân phong kiến GS Trần Đình Sử nhận định: “Chức năng của diễn ngôn là kiến tạo bức tranh thế giới bằng ngôn ngữ, là gọi tên các sự vật, hiện tượng…Diễn ngôn kiến tạo bức tranh thế giới, sự thật, chân lí theo các quy tắc, cơ chế của nó, ví như thẩm quyền của chủ thể, của ngữ cảnh, của quan hệ giao tiếp, của chiến lược, trật tự nhất định Dựa vào quyền lực nó có thể là áp đặt, cưỡng bức, bắt học tập, cải tạo, có thể trao đổi, đối thoại, hoặc có thể trình bày, giải thích để tiếp nhận…”[45] như vậy, ngôn ngữ chính là chất liệu để kiến tạo bức tranh thế giới, đồng thời thông qua diễn ngôn,
ta có thể đối thoại, trao đổi hoặc bị thuyết phục, bị áp đặt… nếu đó là diễn ngôn có sức thuyết phục cao Thông qua diễn ngôn, bức tranh của đời sống sinh động được kiến tạo một cách rõ nét
Theo GS Trần Đình Sử: “Diễn ngôn là hiện tượng siêu văn bản, liên văn bản, nó thể hiện trong các văn bản nhưng không đồng nhất với văn bản, không giới hạn trong các văn bản Nó gắn với chủ thể diễn ngôn, song không có tác giả cụ thể Diễn ngôn là hiện tượng xã hội, có tính chỉnh thể, tính liên tục, tính thống nhất, tính hệ thống… Diễn ngôn có tính chỉnh thể hữu hạn Do đó nghiên cứu diễn ngôn không thoát li văn bản cụ thể, nhưng không giới hạn trong bất cứ văn bản nào, bởi tính liên văn bản của nó, không câu nệ vào văn bản cụ thể, mà hướng đến khái quát các cơ chế chung trong việc kiến tạo nên diễn ngôn” [46]
Như vậy, diễn ngôn luôn gắn với thực tiễn giao tiếp của con người trong xã hội, diễn ngôn được coi là hiện tượng tư tưởng và nghiên cứu diễn ngôn là nghiên cứu tư tưởng Diễn ngôn là hoạt động trực tiếp tạo ra hiện thực mà con người sống
Trang 18trong đó với những cung bậc cảm xúc như tin, yêu, giận hờn, căm ghét…Nghiên cứu diễn ngôn, ta hiểu được bức thông điệp mà tác giả gửi gắm Đối với một nhà văn, diễn ngôn được thể hiện trong đứa con tinh thần - tác phẩm văn học của mình
Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ chính là nơi tác giả gửi gắm tư tưởng, tình cảm,
khát vọng của mình Trong những câu chuyện có liên quan đến nhân vật nam, nữ trong mối quan hệ tình cảm, Nguyễn Dữ đang truyền tải diễn ngôn đạo đức hay diễn ngôn tình yêu? Nếu là đứa con đẻ của Nho gia, chắc hẳn Nguyễn Dữ đang diễn ngôn đạo đức (và nhiều tác phẩm, đặc biệt là lời bình cuối truyện cho thấy điều đó) Tuy nhiên, ngôn ngữ, giọng điệu và cảm hứng thể hiện trong một số câu chuyện lại cho thấy rằng Nguyễn Dữ đang bảo vệ khao khát yêu đương, khao khát ái ân mãnh liệt - điều này đi ngược lại với quan niệm của Nho gia Và ngay trong một tác phẩm, ta cũng thấy rõ sự mâu thuẫn này Sự mâu thuẫn trong tư tưởng của Nguyễn
Dữ là một bài toán khó cho kết luận: Nguyễn Dữ đang truyền tải diễn ngôn đạo đức hay diễn ngôn tình yêu/ tình dục?
1.2 Đặc trƣng của thể loại truyền kỳ
Truyền kỳ là thể loại tự sự ngắn thịnh hành từ đời Đường ở Trung Quốc Đây
là thể loại bắt nguồn từ chí quái nhưng có sự gia công bằng nhiều chi tiết, tình tiết sóng gió, ly kỳ bởi vậy tạo được sức hấp dẫn kỳ lạ Truyện truyền kỳ phát triển qua
ba giai đoạn ở đời Đường: Sơ Đường, Trung Đường và Vãn Đường Đỉnh cao của
thể loại truyền kỳ ở Trung Quốc là Liêu trai chí dị của Bồ Tùng Linh đời Thanh Thời Minh, truyền kỳ cũng đạt được thành tựu lớn với Tiễn đăng tân thoại của Cù Hựu, Tiễn đăng dư thoại của Lý Xương Ký…Bởi vậy truyền kỳ ở Trung Quốc đã
du nhập vào các nước đồng văn, đồng chủng ở Châu Á trong đó có Việt Nam Khi
du nhập vào Việt Nam, ở giai đoạn đầu, thể loại truyền kỳ vẫn còn mang đậm chất
dân gian Nhưng đến khi Thánh Tông di thảo (tương truyền là của Lê Thánh Tông), Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ xuất hiện thì truyền kỳ thực sự đã đạt đến đỉnh cao và đơm hoa kết trái Sau những tác phẩm này là sự nối tiếp của Truyền
kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm, Tân truyền kỳ lục của Phạm Quý Thích Những tác
phẩm truyền kỳ ở nước ta tuy tiếp nhận và chịu ảnh hưởng thể loại của Trung Quốc
Trang 19nhưng vẫn mang những dấu ấn riêng biệt Đặc biệt là truyền kỳ ở nước ta chịu ảnh hưởng lớn từ văn học dân gian Việt Nam Nói cách khác, trong quá trình phát triển, thể loại truyền kỳ ngày càng hoàn thiện bằng cách tiếp thu một số thành tố dân gian như mô típ, đề tài, cốt truyện sau đó phát triển thành tác phẩm văn học viết có tính hoàn chỉnh về nội dung và nghệ thuật với kết cấu chặt chẽ và phần lời bình ở cuối truyện (có những truyện không có phần lời bình)
Theo Nguyễn Đăng Na: “Tuy là văn học viết, nhưng truyền kỳ dựa trên cơ sở truyền thống tự sự dân gian, khai thác các môtip, nhân vật, cốt truyện, thậm chí cả lối kể dân gian Cho nên, muốn tìm nét đặc trưng hoặc so sánh ảnh hưởng của truyền kỳ giữa các dân tộc trong khu vực đồng văn, một nguyên tắc bắt buộc là phải xuất phát từ kho tàng truyện dân gian của dân tộc đó Truyền kỳ lấy yếu tố kỳ ảo làm phương thức thể hiện nội dung Nhưng, mức độ của cái kỳ ảo phụ thuộc vào truyền thống thẩm mĩ dân tộc và nhu cầu lịch sử của dân tộc ấy Như vậy phải bám sát lịch sử và truyền thống thẩm mĩ dân tộc khi nghiên cứu truyền kỳ của họ” [36] Trong truyện truyền kỳ, hệ thống các nhân vật người thường được xây dựng song song với các nhân vật kỳ ảo (ma nữ, tiên, yêu hoa) để thông qua đó phản ánh những vấn đề có tính chất hiện thực “Truyền kỳ” là truyền đi sự lạ, truyền đi những chuyện ít thấy, những chuyện biến hóa khác thường, những chuyện không có thật (nhấn mạnh tính hư cấu) Đặc trưng về mặt hình thức của thể loại truyền kỳ: sự kết hợp giữa văn xuôi và thơ Nhờ đôi cánh kỳ ảo, người đọc có thể bay vào một thế giới chỉ có trong tưởng tượng Đó có thể là thế giới bồng lai tiên cảnh đáng mơ ước;
đó cũng có thể là thế giới của ma quỷ chốn âm ti địa phủ rùng rợn Nhưng dù là thế giới nào đi chăng nữa thì đó cũng là những khung trời mới lạ để thỏa sức tưởng tưởng; để thoải mái khám phá Đó là khung trời không chịu bất cứ ràng buộc khắc nghiệt nào của lễ giáo phong kiến; là thế giới mà cái tôi trần thế, trần tục nhất của con người lại mượn loài yêu ma mà bộc lộ rõ rệt; là thế giới hình chiếu của hiện thực với muôn trò bất công được vạch trần- nơi kẻ có quyền tước lợi dụng chức vụ
để lộng hành, nơi những thánh thần cũng ăn của hối lộ, cũng ăn trộm vì đói khát…Cả một thế giới sinh động được gửi gắm thông qua thể loại truyền kỳ Bởi
Trang 20vậy, thể loại truyền kỳ với đặc trưng là yếu tố “kỳ” góp phần bộc lộ quan điểm, thái
độ, cách đánh giá của tác giả đối với cuộc sống một cách công khai hay gián tiếp Như vậy, hai yếu tố “kỳ” và “thực” là đặc trưng của thể loại truyền kỳ Hơn thế nữa, truyền kỳ là thể loại chú trọng chủ đề tình yêu nam nữ Đó là thế giới mà thông qua nhân vật ma nữ, yêu hoa, những câu chuyện tình được thể hiện một cách sinh động, hấp dẫn
Tư tưởng của kẻ sĩ cũng chịu những dư chấn của cơn bão khủng hoảng Kẻ sĩ có nhiều sự lựa chọn, nhiều hướng ứng xử (một bộ phận nhà nho xử sự trung liệt; một
bộ phận mang tư tưởng nhập thế cứu đời, không câu nệ về vấn đề chính thống hay phi chính thống; một bộ phận khác chọn con đường ở ẩn, quay lưng lại với triều đại, thể hiện sự bất hợp tác trước thời cuộc đen bạc, đảo điên, đổ nát) Nguyễn Dữ cũng chịu tác động của yếu tố thời đại Nguyễn Dữ từng ra làm quan một năm - dù thời gian nhập thế ngắn ngủi nhưng cũng cho thấy ông mang trong mình lý tưởng của nhà nho nhập thế Tuy nhiên sau đó, trước sự đảo điên của thời cuộc, Nguyễn Dữ đã
từ quan về quê - góp mình vào bộ phận những nhà nho ẩn dật
Tóm lại, thời đại Nguyễn Dữ sống là thời đại đầy biến động với bao phen thay đổi sơn hà Không chỉ khủng hoảng về chính trị, lòng tin về những thiết chế
Trang 21đạo đức cũng có dấu hiệu lung lay Bộ luật Hồng Đức khắt khe càng bóp nghẹt quyền tự do cá nhân bao nhiêu thì lại càng làm dấy lên khát vọng “tháo cũi sổ lồng” bấy nhiêu Vậy nên, trong tác phẩm của mình, những tư tưởng phóng khoáng đối chọi với những luật lệ hà khắc của chế độ phong kiến phải chăng là biểu hiện của tinh thần phản kháng mãnh liệt Con người cá nhân không phải lúc nào cũng o ép mình trong lễ giáo cương thường Họ cũng cần một khoảng trời riêng để cho tình cảm tự nhiên bay bổng và tư tưởng Lão - Trang, Phật xuất hiện như một cứu cánh Khi xã hội rối ren kéo theo bao nhiêu tệ trạng khôn lường, những cương thường lễ giáo bị đảo lộn, những mặt trái của xã hội bị phơi bày ra ánh sáng Ngay tầng lớp quan lại, nho sĩ cũng làm những việc trái với luân thường, làm nghiêng ngả bức tường thành tư tưởng vững chắc của nho gia đã tồn tại vững chắc bấy lâu Đạo Lão
và Đạo Phật đã dần dần lấy lại địa bàn tâm linh đã mất của mình Trong Truyền kỳ
mạn lục, những lời bình cuối truyện của Nguyễn Dữ để thuyết pháp các quan điểm
đạo đức Nho gia, để diễn ngôn đạo đức cũng không đủ sức lấn lướt luồng tư tưởng phóng khoáng thấm đẫm trong các câu chuyện Cuối thế kỷ XVI, nội thương và ngoại thương phát triển khá mạnh Những thương nhân nước ngoài đã tụ hội lập phố xá, cửa hàng buôn bán lâu dài Tư tưởng thị dânbắt đầu xâm lấn vào từng ngõ ngách góp phần làm nghiêng đổ những quan niệm cổ hủ của Nho gia Người ta nhận thấy rằng, cuộc sống quá bó khuôn trong những định kiến, những cương thường sẽ bóp nghẹt những khát khao của con người Họ suy nghĩ phóng khoáng hơn, tự do hơn và quan tâm đến hạnh phúc cá nhân nhiều hơn
Trước thời đại đầy biến động như vậy, Nguyễn Dữ vốn sinh ra từ cửa Khổng, sân Trình, ông luôn mang trong mình khát vọng nhập thế giúp đời Ông cũng từng làm quan một năm sau đó chọn con đường lui về ở ẩn Nguyễn Dữ tìm đến văn chương như một tất yếu để giải tỏa nỗi lòng Sự mâu thuẫn trong tư tưởng đạo đức (một mặt muốn vực lại hệ thống đạo lý Nho gia đang trên đà sụp đổ, một mặt lại muốn cất cao đôi cánh của khát vọng tự do yêu đương, những khát khao trần thế
nhất) được thể hiện trong Truyền kỳ mạn lục
Trang 221.3.1.2 Cuộc đời Nguyễn Dữ
Nguyễn Dữ (có người đọc là Nguyễn Tự), hiện tại năm sinh, năm mất của ông vẫn còn là một ẩn số Các nhà nghiên cứu đoán định ông sống khoảng thế kỷ XVI - một thế kỷ dân tộc nhìn về hình thức bên ngoài thì là độc lập, nhưng lại trải qua những biến động dữ dội trong lòng xã hội phong kiến về nhiều phương diện như kinh tế, chính trị, văn hóa, tư tưởng Đây cũng là thế kỷ mở đầu cho các cuộc nội chiến kéo dài và Nguyễn Dữ cũng là nạn nhân hứng chịu các cơn bão lịch sử Bởi vậy, những tài liệu ghi chép ít ỏi về Nguyễn Dữ là những căn cứ để chúng ta đưa ra những giả thiết về cuộc đời ông Nguyễn Dữ là người xã Đỗ Tùng huyện Trường Tân nay thuộc huyện Thanh Miện tỉnh Hải Dương Ông xuất thân trong một gia đình khoa bảng Cha Nguyễn Dữ là Nguyễn Tường Phiêu, là người đỗ đạt cao (đỗ tiến sĩ khoa Bính Thìn thời Hồng Đức năm 1496) Nguyễn Tường Phiêu làm quan to (Thượng Thư Bộ Hộ), bởi vậy Nguyễn Dữ được sống trong những ngày thái bình thịnh trị còn lại của chế độ phong kiến, được hưởng trọn vẹn nền giáo dục bài bản Được sống và học tập trong điều kiện đầy đủ, tư tưởng, học thuyết của nền giáo dục nho học thấm sâu vào máu thịt Nguyễn Dữ Ông cũng mang tư tưởng “trí quân trạch dân”, cũng muốn xông pha nhập thế cứu đời để đền ơn nhà Lê Vốn thông tuệ học rộng nhớ nhiều lại thừa hưởng tư chất và truyền thống của gia đình, Nguyễn Dữ học hành, thi cử, đỗ đạt, làm quan (Nguyễn Dữ được bổ nhiệm làm Tri huyện Thanh Tuyền) Nhưng chỉ khoảng một năm sau ông từ quan về ở ẩn., mở
trường dạy học và dành thời gian viết Truyền kỳ mạn lục Lý do Nguyễn Dữ từ quan
về quê nhà cho tới bây giờ vẫn có nhiều ý kiến khác nhau Theo Trần Ngọc Vương, nguyên nhân khiến Nguyễn Dữ từ quan là “nước loạn, hay nước bị ngoại bang cai trị, triều đại đang cầm quyền bị coi là không chính thống hoặc triều đình đang bị quyền thần lũng đoạn và đôi khi có những lí do riêng của giòng họ hay của bản thân khiến cho họ khó xử trong quan hệ với triều đình” [60, tr 45] Ý kiến của nhà nghiên cứu Trần Ngọc Vương đã tổng hợp các lí do khiến Nguyễn Dữ từ quan, tuy nhiên không chốt một nguyên nhân nào cụ thể Phải chăng khi hăm hở làm quan với lí tưởng giúp vua cứu đời, Nguyễn Dữ đã va ngay phải hiện thực tàn nhẫn của cục
Trang 23diện chính trị Điều đó khiến bao nhiêu lí tưởng sụp đổ, bao nhiêu hoài bão thời trai trẻ tan biến Nguyễn Dữ cũng như Nguyễn Bỉnh Khiêm chọn cho mình cuộc sống
ẩn dật để giữ tâm thanh thản Về quê, Nguyễn Dữ mở trường dạy học và dành nhiều
thời gian viết Truyền kỳ mạn lục Trong Truyền kỳ mạn lục, không ít tác phẩm cho
thấy lòng tin vào chính quyền đương thời bị lung lay Phải chăng, chứng kiến cảnh triều cương nhiễu loạn, ngoại bang lăm le, lòng người hiểm ác…Nguyễn Dữ đã bắt đầu nhận ra những hạn chế của bộ máy cai trị cũng như hạn chế của tư tưởng Nho gia Thế nhưng vốn xuất thân từ gia đình khoa bảng, lại được coi là đứa con đẻ của chế độ phong kiến, những giáo lí, cương thường, những quy tắc hành xử của nho giáo ăn sâu vào máu thịt Nguyễn Dữ, ông vẫn muốn vãn hồi, vẫn muốn thuyết giáo cho những tư tưởng đạo đức Nho gia Tuy nhiên ngòi bút của Nguyễn Dữ ít nhiều ảnh hưởng của lối sống thị dân nên khi viết về những câu chuyện yêu đương rất phóng túng, thậm chí có những chuyện còn cất cao đôi cánh cho những tư tưởng phóng khoáng về tình yêu/ tình dục Đó là những điều khiến Nguyễn Dữ như bức tượng đài của tư tưởng đạo đức phong kiến nghiêm nghị nhưng lại đang mỉm cười đón luồng gió mới cách tân
1.3.2 Truyền kỳ mạn lục
Là tác phẩm viết bằng chữ Hán, gồm 20 truyện ra đời vào nửa đầu thế kỷ
XVI Truỳên kỳ mạn lục với nghĩa là sao chép tản mạn những chuyện lạ Tuy nhiên,
Truyền kỳ mạn lục dù có nghĩa là sao chép tản mạn những chuyện lạ nhưng không
phải là một công trình sưu tập bình thường mà thực sự là một sáng tác văn học đầy
sáng tạo Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ có sự gia công hư cấu, sự trau chuốt,
gọt giũa bằng cả trái tim của Nguyễn Dữ chứ không chỉ là ghi chép đơn thuần Có
những truyện trong Truyền kỳ mạn lục bên cạnh hình thức văn xuôi còn xen lẫn văn
biền ngẫu và thơ khiến nó thực sự là một sáng tác đầy hấp dẫn đối với người đọc Các truyện lấy bối cảnh hầu hết ở thời Lí, thời Trần, thời Hồ và Lê sơ Đa số các
truyện đều có yếu tố hoang đường kỳ ảo (Trừ Chuyện nàng Thúy Tiêu) Đằng sau
những yếu tố hoang đường, kỳ ảo là hiện thực xã hội phong kiến đương thời với tất
cả những mặt trái của nó Những tệ trạng xấu xa nhất của xã hội phong kiến được
Trang 24vạch trần Nhờ đặc trưng của thể loại truyền kỳ (sự kết hợp giữa yếu tố “kỳ” và
“thực”), tất cả những mặt trái của xã hội được phơi bày một cách công khai Sắc thái phê phán được mặc sức bộc lộ mà không sợ búa rìu dư luận Hơn thế nữa, những tư tưởng vượt thời đại, những khao khát trần thế cháy bỏng, khát vọng “tháo cũi sổ lồng” được thể hiện một cách táo bạo, mạnh mẽ, ngấm ngầm Trong thế giới
sinh động của Truyền kỳ mạn lục, những quan niệm đạo đức phong kiến được thể
hiện qua lớp vỏ ngôn từ ở phần lời bình cuối truyện Và đây lại là thế giới đơm hoa kết trái của khao khát mãnh liệt về tình yêu/ tình dục Những câu chuyện tình đi ngược lại lễ giáo phong kiến, những khát khao nhục dục và niềm sung sướng được thỏa mãn khoái cảm thể xác tràn lan trong thế giới tưởng tượng Dù không muốn thừa
nhận thì qua cách miêu tả trong thể loại truyền kỳ này, ta thấy bức thông điệp về khao
khát tình yêu tự do, khát vọng cháy bỏng về tình dục được thể hiện mãnh liệt
Bởi vậy, Truyền kỳ mạn lục có giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc được
Vũ Khâm Lân (thế kỉ XVII) khen tặng là “thiên cổ kì bút” Đây cũng là tác phẩm tạo được sự hấp dẫn không chỉ trong nước mà còn ở nước ngoài Mặc dù một số câu
chuyện trong Truyền kỳ mạn lục, Nguyễn Dữ truyền tải diễn ngôn đạo đức, có ý
bênh vực những quan điểm đạo đức Nho gia dù hà khắc thì xuyên suốt toàn bộ truyền kỳ và đặc biệt là những câu chuyện có liên quan đến nhân vật nam, nữ trong mối quan hệ tình cảm, ta thấy rằng đích đến của Nguyễn Dữ là diến ngôn tình yêu/ tình dục Giá trị hiện thực sâu sắc đã góp phần lật tẩy bộ mặt thối nát của xã hội phong kiến đương thời khi những bậc đức cao vọng trọng làm trò đồi bại (Thần Thuồng luồng, nho sĩ, quan lại, sư sãi…) Giá trị nhân đạo được tô đậm khi Nguyễn
Dữ bênh vực những người thấp cổ bé họng (đặc biệt là người phụ nữ) Hơn thế nữa, Nguyễn Dữ đồng tình với những khát vọng về tình yêu tự do không chịu ràng buộc bởi lễ giáo phong kiến, ông cũng để một khoảng trống cho những khát khao nhục dục trần thế nhất thỏa sức tung hoành trên bầu trời hà khắc của lễ giáo phong kiến Những phát ngôn có tính chất “nổi loạn” mặc nhiên được công khai Và dù không trực tiếp thì sắc thái phê phán đối với những thế lực chà đạp lên quyền sống của con người cũng được thể hiện Hơn thế nữa, khi bày tỏ sự đồng tình với khát khao về
Trang 25tình yêu, sự hòa hợp về tình dục, những tác phẩm của Nguyễn Dữ còn lấp lánh ánh sáng của chủ nghĩa nhân bản Có thể nói, đây là lần đầu tiên trong văn học trung đại, quyền được yêu (cả thể xác lẫn linh hồn) được thể hiện táo bạo và trực tiếp Nói
cách khác, Truyền kỳ mạn lục là đứa con tinh thần của Nguyên Dữ để phát ngôn cho những tư tưởng của ông (dù trực tiếp, dù gián tiếp) Thông qua Truyền kỳ mạn lục,
diễn ngôn về đạo đức, diễn ngôn về tình yêu/ tình dục được thể hiện
Tiểu kết: Ở chương 1, luận văn đã tìm hiểu và trình bày một số vấn đề lý thuyết
diễn ngôn, tác giả Nguyễn Dữ và tác phẩm Truyền kỳ mạn lục Từ lý thuyết diễn
ngôn, ta thấy rằng đối với một nhà văn, diễn ngôn chính là tư tưởng mà tác giả gửi gắm trong tác phẩm của mình Thông qua thời đại mà Nguyễn Dữ sống, thông qua cuộc đời của ông, thông qua những đặc trưng của thể loại truyền kỳ và tác phẩm
Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ; ta có thể thấy được sự mâu thuẫn trong tư tưởng
của ông Nguyễn Dữ sinh ra và lớn lên trong một thời đại có những biến động dữ dội Bản thân Nguyễn Dữ vẫn luôn muốn bảo vệ, củng cố hệ tư tưởng nho giáo Tuy nhiên, hệ thống tư tưởng nho gia đã bộc lộ những khiếm khuyết không thể phủ nhận
và Phật giáo, Đạo giáo đang dần lấy lại địa bàn đã mất của mình Tư tưởng thị dân dần lớn mạnh nhờ những thay đổi về xã hội Một mặt ông truyền tải diễn ngôn đạo đức, ngợi ca những chuẩn mực đạo đức Nho gia, phê phán những kẻ đi ngược lễ giáo phong kiến; mặt khác tấm lòng nhân đạo và một trái tim phóng khoáng, cởi mở lại khiến ông đồng tình với những khát vọng yêu đương mãnh liệt, những ham muốn ái ân cuồng nhiệt - nói cách khác, ông diễn ngôn tình yêu/ tình dục Thông qua việc tìm hiểu các vấn đề lý thuyết, bước đầu chúng tôi nhận thấy việc tìm hiểu
về lý thuyết diễn ngôn, tác giả Nguyễn Dữ và Truyền kỳ mạn lục là cơ sở lí luận và
thực tiễn để chúng tôi lí giải mối quan hệ giữa diễn ngôn đạo đức và diễn ngôn tình
yêu/ tình dục trong Truyền kỳ mạn lục
Trang 26Chương 2: TỪ DIỄN NGÔN ĐẠO ĐỨC ĐẾN DIỄN NGÔN TÌNH YÊU
TRONG TRUYỀN KỲ MẠN LỤC CỦA NGUYỄN DỮ
2.1 Diễn ngôn đạo đức trong Truyền kỳ mạn lục
Nguyễn Dữ là môn đệ của cửa Khổng sân Trình, bởi vậy tư tưởng chính thống của Nho gia ăn sâu vào máu thịt của ông Đạo Nho đề cao vai trò tu dưỡng cá nhân, khắc kỷ, phục lễ Đạo Nho khuyên răn con người sống phải biết kiểm soát bản thân, điều tiết hành vi đạo đức và bản năng của mình; không tham lam, không đắm trong sắc dục… vì cuộc đời có luân hồi- quả báo Bởi vậy kết thúc các tác
phẩm trong Truyền kỳ mạn lục đều kèm theo lời bình có ý nghĩa răn dạy, mang tầm
triết lí Hơn nữa cách kết thúc các truyện đều cho thấy kẻ không kiểm soát được hành vi của mình, sa đà vào nữ sắc đều chịu kết quả đáng tiếc Đó chính là một khía
cạnh trong bức thông điệp mà Nguyễn Dữ gửi gắm khi diễn ngôn đạo đức
2.1.1.Kỳ thị nữ sắc, điều tiết bản năng (đối tượng là các nho sĩ, lái buôn, sư sãi)
Bàn đến vấn đề nữ sắc, trước tiên ta cần hiểu được cái nhìn của nhà nho về vấn đề này Đối với người phụ nữ trong các thuyết giáo của Nho gia thì “tam tòng,
tứ đức” luôn đặt lên hàng đầu Người phụ nữ được đề cao phải hội tụ cả tam tòng và
tứ đức Tam tòng (ba điều theo) là nguyên tắc của lễ giáo phong kiến Nó cho thấy người phụ nữ thực sự là người bị phụ thuộc trong gia đình: “Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử” Nếu phạm vào những điều cấm kỵ này thì đồng nghĩa với việc bị xã hội lên án Và tứ đức phải có là: công, dung, ngôn, hạnh Trong tứ đức thì “dung” được hiểu là hình thức bề ngoài (dung mạo) của người phụ nữ nhưng lại không hiểu theo góc độ nhan sắc xinh đẹp hay xấu xí “Dung” ở đây đơn giản chỉ là thần thái bề ngoài, cách đi đứng, điệu bộ, cử chỉ đúng mực, cách điểm trang thể hiện sự thanh tao, trang nhã, tinh tế Cách ứng xử, thần thái, phẩm hạnh đã được coi là thước đo thay cho tiêu chuẩn nhan sắc Tại sao sắc đẹp lại là điều không được coi trọng (chính xác hơn là điều tránh né)? Bởi theo quan niệm của Nho gia, sắc đẹp thường gắn với tai họa Đạo Nho răn đe người đàn ông phải tránh xa sự cám
dỗ của nhan sắc, lòng thanh tiết dục thì đại họa ấy tất không giáng xuống Người phụ nữ có nhan sắc bị hắt hủi, xa lánh, bị coi như mối họa diệt vong, bị ví như loài
Trang 27yêu ma chuyên đi quyến rũ, mê hoặc để hại người Ngay Nguyễn Trãi cũng từng
làm thơ Răn sắc :
“Sắc là giặc, đam làm chi!
Thuở trọng còn phòng có thuở suy
Trụ mất quốc gia vì Đát Kỷ;
Ngô lìa thiên hạ bởi Tây Thi” [40, 444]
Không ít những câu chuyện lưu trong sử sách Trung Quốc, Việt Nam về người tài sắc trở thành quân cờ tranh quyền, đoạt vị, trở thành tai họa cho dân Họ bị kẻ có quyền, có tiền dùng vào những mục đích khác nhau và không ít người trở thành tội nhân thiên cổ Nàng Tây Thi “nghiêng nước nghiêng thành” bị Việt Vương Câu Tiễn biến thành quân cờ để trả thù nước Ngô Trong mắt nước Ngô, Tây Thi chính
là một “yêu cơ khuynh đảo cả triều chính” U Vương mê sắc đẹp của Bao Tự cũng
tự đào mộ chôn mình Các sử gia Nho giáo đã tổng kết sự sụp đổ của các triều đại
mà “cái họa do đàn bà nhan sắc có thể đem lại cho gia đình và quốc gia”: “Hạ dĩ Muội Hỉ, Thương dĩ Đát Kỉ, Chu dĩ Bao Tự” Và Tuân Tử cũng viết: “Ham sắc đẹp của người con gái là chuốc lấy ác nghiệt vậy”[57, 289] Bởi vậy, một trong những điều răn đe của Nho gia là phải tránh xa nữ sắc, coi nhan sắc của nữ nhân là mối họa cần phải thanh trừ Do quan niệm kỳ thị nữ sắc nên trong mắt các nhà nho, những người con gái nhan sắc đều là do yêu ma, quỷ quái biến thành để mê hoặc người đàn ông, đưa họ vào cạm bẫy rồi chuốc lấy họa diệt vong Không chỉ Nho gia, đạo Phật cũng lên tiếng kì thị đối với nữ sắc Đạo Phật coi nữ sắc là sự cản trở việc đến cõi niết bàn, là nguyên nhân dẫn tới vô minh… Nguyễn Dữ là người thấm
nhuần tư tưởng Nho gia, bởi thế Truyền kỳ mạn lục là tác phẩm ông dùng để diễn ngôn đạo đức cũng là điều dễ hiểu Trong Truyền kỳ mạn lục, Nguyễn Dữ đưa ra lời
cảnh báo đối với nam nhân về hiểm họa do nữ sắc mang lại Lời cảnh báo ấy được thể hiện qua cách kết thúc các truyện có xự xuất hiện của người đẹp (dù là người hay là ma) và qua lời bình
Ở Chuyện cây gạo, cuộc đời của Trình Trung Ngộ từ khi gặp Nhị Khanh có
thể coi là hành trình sa vào cạm bẫy của nhan sắc và chuốc lấy hậu quả đáng tiếc
Trang 28Ngay trong lời bình, Nguyễn Dữ đã khẳng định: “Than ôi cái giống ma quỷ, tuy từ xưa không phải cái nạn đáng lo cho người thiên hạ, nhưng kẻ thất phu đa dục thì
thường khi mắc phải” [52, tr 45] Trung Ngộ say đắm cô gái mà mình gặp đơn giản
vì đó là một giai nhân tuyệt sắc chứ không phải vì phẩm hạnh hay điều gì đó đặc biệt ở nàng Ngay trong lần trò chuyện đầu tiên nàng đã táo bạo gió trăng nói đến chuyện ái ân, thậm chí còn bộc lộ mong muốn ái ân một cách cuồng nhiệt Và cũng ngay trong lần gặp chính thức đầu tiên họ đã “cùng nhau ân ái hết sức thoả mãn” Trình Trung Ngộ đã sa vào cạm bẫy hoan lạc mà không chút đề phòng, suy ngẫm tại sao nàng chỉ hẹn hò, ân ái lúc đêm khuya còn gần sáng lại từ biệt? Tại sao nàng không bao giờ ngỏ ý mời chàng qua thăm nhà cửa dù đã tình cảm mặn nồng? Cho đến khi được những người bạn khuyên nhủ, chàng mới tính đến chuyện hỏi thăm tường tận gốc tích, lai lịch Lúc biết được sự thật (sau một tháng mặn nồng ân ái) thì mọi sự đã muộn Kết cục của chàng đúng như mong muốn của Nhị Khanh khi làm thơ: “Đồng huyệt chưa tròn nguyền ước ấy/ Vì nhau một thác sẵn xin liều” Một kiếp của Trung Ngộ- chàng trai đẹp lại giàu có thật ngắn ngủi bởi không thoát được cạm bẫy nữ sắc Sau khi chết hai người làm yêu làm quái sách nhiễu dân lành dẫn đến hoạ bị đào mả phá quan tài ném sông trôi theo dòng nước Với Trung Ngộ đúng
là hoạ nọ tiếp hoạ kia Khi sống chìm đắm trong hoan lạc, khi chết dường như vẫn chưa thoả được thú vui tình ái Bởi vậy khi tựa thân nơi cây gạo, hai người còn: thân thể loã lồ mà cùng nhau cười đùa nô giỡn phiền toái ngay cả chốn cửa chùa thanh tịnh Bởi vậy Trung Ngộ lại phải gánh lấy đại hoạ lần thứ ba Hai người bị sáu bảy trăm lính đầu trâu gông trói mà dẫn đi sau khi chịu một trận roi vọt kêu
khóc thảm thiết Như vậy, trong Chuyện cây gạo, kẻ thất phu đa dục như Trung Ngộ
không thoát khỏi ham mê nữ sắc, mất hết lí trí, hậu quả đau đớn Nếu Trung Ngộ không phải kẻ ham mê sắc dục thì Nhị Khanh làm sao có thể mê hoặc rồi khiến chàng rơi vào cạm bẫy không lối thoát Cách kết thúc truyện cũng như lời bình cuối truyện cho ta thấy rằng không nên ham mê nữ sắc, đắm mình trong sắc dục vì sẽ chuốc hoạ vào thân Đây cũng là một bức thông điệp mà Nguyễn Dữ muốn nhắn nhủ tới mọi người Nói cách khác, Nguyễn Dữ đang truyền tải diễn ngôn đạo đức
Trang 29Chuyện kỳ ngộ ở trại Tây không viết về một anh lái buôn mà là một chàng
nho sinh Hà Nhân là một nho sinh, lẽ thường phải tu chí đèn sách, thi thố quan trường, lập nên công danh sự nghiệp Chàng là người lòng trẻ tràn đầy sức xuân, không kiềm chế được bản thân trước hai mỹ nhân kiều diễm Trước những cử chỉ đùa cợt, gây sự chú ý của Đào, Liễu, Hà Nhân đã như kẻ khát khô gặp dòng nước mát Nếu chàng là bậc chính nhân như Địch Lương Công đời Đường thì yêu hoa sẽ không dám giáp mặt chứ đừng nói là buông trò cợt nhả Có điều, Hà Nhân cũng chỉ
là một nho sĩ phong lưu, đa cảm “không mần ngơ được” Khi chàng rủ rê hai nàng tới phòng trọ của mình là bước đầu sa vào mối luỵ tình, làm trái với lễ giáo phong kiến “nam nữ thụ thụ bất thân” Và đây cũng là hành động có tính chất mở đường cho dục vọng của Hà Nhân lấn lướt Sóng tình nghiêng ngả, chìm trong hoan lạc, bỏ
bê đèn sách là đi ngược với mục đích lên kinh dự thi Xong điều đó có thể vì nể bởi dẫu sao chàng cũng là người trẻ tuổi, lòng nhiều ham muốn Nhưng đến khi trái ý cha mẹ, không yên bề gia thất vì mối luỵ tình thì quả thật trong mắt của xã hội phong kiến chàng là kẻ liều lĩnh, to gan Không những thế, vì để trốn mối duyên sắp đặt, Hà Nhân nói dối cha mẹ là đợi ngày đèn sách lập nên sự nghiệp Đấy chẳng
phải là lừa dối bậc sinh thành đó sao? Chuyện kỳ ngộ ở trại Tây dù rằng có một kết
thúc tạm gọi là bình yên, song lời bình cuối truyện vẫn là lời răn dạy, cảnh báo Nếu lòng dục lặng yên, tất điều thiện sẽ vào, lũ yêu ma quỷ quái không thể thừa cơ mê hoặc Còn như Hà Nhân lòng trẻ vẫn nhiều ham muốn nên yêu hoa Đào và Liễu mới thừa cơ quyến rũ chàng được Tuy Hà Nhân không đến nỗi có kết cục bi đát như Trình Trung Ngộ, không bị giảm thọ một kỉ như viên quan họ Hoàng nhưng chí ít việc học hành của chàng cũng trễ nải Bởi vậy, kẻ nho sinh thì nên tu chí, giữ lòng thanh, diệt dục, cầu sự nghiệp, công danh
Chuyện nghiệp oan của Đào thị càng khắc sâu thêm quan niệm tránh xa nữ sắc của
Nho gia, coi nữ sắc là mối họa lớn đẩy con người vào vòng sai trái tội lỗi Người có nhan sắc là mối họa cho kẻ khác và cho cả chính bản thân mình Hàn Than trẻ trung, xinh đẹp, sau khi bị thải ra khỏi cung do vua Dụ Tôn mất, nàng thường đi lại nhà Ngụy Nhược Chân khiến cho vợ Ngụy ghen tuông mà sai người đánh đập Khi
Trang 30nàng phải đến nương mình nơi chùa Lệ Kỳ, sư cụ Pháp Vân đã liệu trước mối họa
do nữ sắc gây ra: “Người con gái này, nết không cẩn nguyệt, tính bén lẳng lơ, tuổi
đã trẻ trung, sắc lại lộng lẫy, ta e lòng thiền không phải đá, sắc đẹp dễ mê người” [52, 94] Đúng như dự liệu của sư cụ Pháp Vân, nàng “mặc áo lụa, mang quần là, điểm môi son, tô má phấn” khiến Vô Kỵ mê đắm Vô Kỵ là sư bác mà không kiểm soát được dục tính, ham mê nữ sắc, xa rời kinh kệ, lấy luyến ái làm vui ngay giữa nơi cửa Phật thật không còn gì đáng trách hơn Có thể nói chuyện đi ngược lễ giáo của Vô Kỵ và Hàn Than làm ô uế nơi cửa Phật và hai người đã phải trả giá thích đáng Hàn Than mang thai chết trên giường cữ, Vô Kỷ xót thương rồi cũng ốm chết
Đó là kết cục xứng đáng cho những kẻ dám làm điều trái đạo lí Trong tư tưởng của Nho gia thì đạo khác là dị đoan Bởi vậy lời bình cho rằng “Theo về dị đoan chỉ là
có hại” [52, 106] Hơn thế nữa, Vô Kỷ là sư mà gian dâm, tà dục, dối người, dối Phật, kết thúc như vậy là thích đáng Không chỉ Vô Kỵ, Ngụy Nhược Chân cũng gánh mối họa tự thân mà ra Ông làm quan mà không chính gia Trong thời phong kiến “nam nữ thụ thụ bất thân” mà lại thường xuyên qua lại với Hàn Than (dẫu không biết có tình thực hay không) cũng khiến người khác nghi hoặc Suýt chút nữa gánh họa diệt môn Đây quả là bài học cho những kẻ làm quan mà chưa chính gia
Chuyện yêu quái ở Xương Giang là một phát ngôn đầy đủ nhất cho quan
niệm của Nho gia về vấn đề sắc dục Sắc đẹp chính là cội nguồn của mọi tai họa Viên quan họ Hoàng nghe tiếng khóc rất ai oán, chèo thuyền đến xem thấy người con gái trẻ trung, nhan sắc ngồi trên đệm cỏ khóc Tiếng khóc khiến lòng sắt đá cũng phải mềm Là một viên quan, họ Hoàng từng đèn sách, thi thố, há không biết lời răn sắc đẹp? Không né tránh, họ Hoàng còn ngỏ ý cho nàng ngồi nhờ thuyền, thậm chí tin vào câu chuyện nàng kể rồi sẵn sàng vì nàng bỏ một số tiền, lượm thu hài cốt dưới sông sâu đưa về cố hương mai táng Rõ ràng, chẳng quen chẳng biết, chỉ là duyên “bèo nước “ gặp nhau; không đắn đo suy ngẫm tìm hiểu mà tin ngay lời người xa lạ Đơn giản bởi đó là một mĩ nhân dung sắc kiều lệ, cử chỉ có vẻ đoan trang Họ Hoàng cũng chỉ là con người bình thường có nhiều ham muốn, dục vọng Cho đến khi hai người thành vợ chồng, tình ái rất thắm thiết, nhưng đây cũng là gốc
Trang 31rễ của mọi tai họa “Thần y” phải dùng mưu mới qua mắt được Thị Nghi để cho chàng uống thuốc và buộc nàng phải hiện nguyên hình Trong bài tấu của mình lên Diêm Vương, họ Hoàng đã giãi bày tỉ mỉ Đặc biệt, chàng cũng nhận ra lỗi sai của mình khi trong cảnh: “Tịch mịch nửa chăn, riêng nặng nỗi buồn lẻ bạn” nên đã bị yêu ma mê hoặc Phút yếu lòng suýt nữa chuốc tai vạ diệt vong:
“Đem môi son má phấn làm tôi say mê Rút nguyên khí chân tinh khiến tôi hao tổn
Nếu không gặp thần y cứu chữa, Sớm đã về chín suối vật vờ” [52, tr148]
Đây cũng là bài học cho họ Hoàng nói riêng và những đáng nam nhi nói chung trước vấn đề sắc dục Trong lời phê của Diêm Vương và lời bình cuối truyện một lần nữa nhấn mạnh hơn lời răn tránh xa sắc dục:
“Không biết bắt chước Nhan Thúc Tử chối từ cô ả láng giềng Lại đi nối bước Vũ Thừa Tự mê mải con yêu hoa nguyệt” [52, tr150] Cho nên họ Hoàng lòng nhiều ham muốn, không biết tiết chế, dễ bị mê hoặc phải nhận cái kết đích đáng: “Bỏ nết cương thường, theo đường tà dục, giảm thọ một kỷ” [52, tr 150] Kết thúc này cũng là bài học cho những đấng nam nhi trước vấn đề sắc
dục Chuyện yêu quái ở Xương Giang là tác phẩm thể hiện rõ nét nhất vấn đề diễn
ngôn đạo đức ở khía cạnh tránh xa nữ sắc
2.1.2 Cảnh tỉnh thói tham lam
Chuyện đối tụng ở long cung là một câu chuyện có cái kết viên mãn giống
như môtip thường thấy trong truyện cổ tích: môtip trừng phạt Và đây cũng là lời răn đe đối với những kẻ ham mê nữ sắc, ham chiếm đoạt những gì không thuộc về mình Thần Thuồng luồng cũng đã vào bậc được lập đền thờ, hưởng sự cúng tế mà còn đi cưỡng đoạt vợ người, trái với luân thường đạo lý Cũng may họ Trịnh là người có tình và may mắn quen được Bạch Long hầu, không thì mối hận bị cướp vợ không biết khi nào mới trả được Ấy vậy mà trước mặt đức vua, Thần Thuồng luồng còn buông lời xằng bậy, chối bay tội lỗi Khi cuộc đối chất diễn ra, Dương thị thẳng thắn vạch mặt kẻ cưỡng đoạt: “- Người áo xanh kia là chồng thiếp, còn người áo đỏ
Trang 32là kẻ thù Độ trước không may bị cái yêu ấy bắt cướp, trải đã ba năm trời nay Nếu không nhờ được sự soi lời của vầng thái dương, thì hồn tàn vóc nát sẽ phải chịu nhơ nhuốc trọn đời, còn mong gì được ló mặt ra nữa”[52, tr 86] Lời của Dương thị cho thấy hai điều Thứ nhất là tội trạng của Thần Thuồng luồng cướp đoạt Dương thị; thứ hai là mong muốn được gột rửa tiếng nhơ dù thân tàn vóc nát Hai điều ấy cũng cho thấy cái nhìn sâu sắc của Nguyễn Dữ dưới góc độ đạo đức phong kiến Là nam nhi, phải tránh xa sắc dục, không tham lam vô độ dẫn tới hậu quả khôn lường Là
nữ nhi phải đặt danh tiết lên hàng đầu Không may rơi vào cảnh bị làm nhục thì cũng luôn mong mỏi có ngày được rửa sạch nỗi nhuốc nhơ để khỏi hổ thẹn với đời Trong bản luận tội của Đức vua với Thần Thuồng luồng đã chỉ rõ: “Than ôi, vợ người cố chiếm, đã rất mực mê cuồng, phép nặng không dong, để răn phường gian ác”[52, tr 87] Tuy nhiên hình phạt đối với Thần Thuồng luồng trong màn luận công luận tội của Đức vua có vẻ chưa làm hài lòng tác giả Thế nên, Nguyễn Dữ đã nhấn mạnh hơn nữa điều này trong lời bình cuối truyện: “Thế thì cái tội của Thần Thuồng luồng chỉ phải bị đày thôi sao! Quảng Lợi vương dụng hình như thế, thật là chưa đáng Tất phải làm như Hứa Tốn, Thứ Phi mới là cái việc thú vị được Cho nên Địch Nhân Kiệt khi làm Tuần phủ Hà Nam tâu xin phá hủy đến một nghìn bảy trăm tòa đền thờ không xứng đáng, thật là phải lắm”[52, tr 88] Qua câu chuyện về vụ đối tụng ở Long cung, các đấng nam nhi tự rút ra bài học cho bản thân mình Những kẻ càng có chức tước, được ăn lộc dân thì phải là bậc chính đạo Nếu có công trạng, được bổng lộc mà làm càn cũng không vì đã từng lập công mà bỏ qua tội trạng Là
kẻ nam nhi muốn được người đời coi trọng, muốn giữ địa vị lâu bền thì phải tránh
xa sắc dục, biết tự tiết chế, không nổi lòng tham, không làm điều xằng bậy ắt sẽ được lâu bền
2.1.3 Cảnh tỉnh thói ghen tuông mù quáng
Trong Chuyện người con gái Nam Xương, Nguyễn Dữ cho thấy, thói ghen
tuông mù quáng chính là mầm mống của tai họa Một người không theo học sách thánh hiền, ghen tuông mù quáng, độc đoán như Trương Sinh thì hậu quả nhận lại chính là mất đi người vợ hiền thục trong nỗi đau đớn xót xa, ân hận Chỉ tiếc thay
Trang 33cho Vũ Nương phải hàm oan mà chết Lời bình cuối truyện cũng là lời nhắc nhở đối với đấng nam nhi trong thiên hạ: “Làm người đàn ông, tưởng đừng nên để cho giai nhân oan uổng thế này”[52, tr 212] Kẻ trượng phu phải là kẻ biết cân nhắc trước sau, xử lý tình huống thấu tình đạt lí Có như vậy người phụ nữ của đời mình mới không uổng một kiếp “nâng khăn sửa túi” Cái chết của Vũ Nương để minh chứng cho danh tiết của mình theo quan niệm Nho gia quả là đáng nêu gương Bởi vậy Vũ Nương được xếp vào người phụ nữ tiết liệt Đối với nữ nhi thời phong kiến, tiết hạnh được đặt vị trí vô cùng quan trọng “Quả phụ thất tiết không bằng kỹ nữ hoàn lương” Bởi thế, Vũ Nương bị nghi là thất tiết quả là nỗi nhuốc nhơ ngàn năm không gột rửa sạch được Nàng đã khấn trời rồi gieo mình xuống sông tự vẫn, lời khấn của nàng linh ứng, nàng được Linh Phi rẽ một đường nước để nàng thoát chết Điều đó cho ta thêm lòng tin sâu sắc vào quy luật ở hiền gặp lành
2.1.4 Trọn đạo hiếu trung, hành xử cẩn trọng
Chuyện Lệ Nương, kể về mối tình say đắm của Phật Sinh với Lệ Nương
Trong thời đại phong kiến, làm thân nam nhi sinh ra vốn đã mang món nợ công danh Nhiều trang nam nhi đã thể hiện chí lớn và khát vọng lập công để lại sự nghiệp, lập danh để lại tiếng thơm, “không công danh thà nát với cỏ cây”… Tuy nhiên, Phật Sinh lại chỉ đắm mình trong tình cảm nam nữ (trái với lời giáo huấn của nho gia) Đã thế chàng vì tư tình nam nữ mà bỏ mất cơ hội ngàn năm có một để lập công danh sự nghiệp thì chẳng đáng trách lắm sao? Hơn thế nữa, Phật Sinh vì Lệ Nương “chưa nỡ lấy ai”, nấn ná chuyện hôn nhân khi nàng còn sống đã đành Cho tới khi Lệ Nương chết mà “chàng buồn rầu quay về, từ đấy không lấy ai nữa” thì quả đúng quá si tình, không biết nghĩ cho cha mẹ, cho dòng giống sau này Chàng
đã phạm vào đại kị trong tội bất hiếu đó là tuyệt tự Bởi thế, dẫu kết thúc truyện, Phật Sinh không bị trách phạt gì nhưng trong lời bình cuối truyện, sắc thái phê phán thể hiện rõ Phật Sinh rơi vào cảnh “tình thật đáng thương mà lẽ phải thì chưa được ổn…liều chết để đi tìm đã không nên, huống nữa lại thôi không lấy vợ, để đứt dòng giống của tiên nhân phỏng có nên không?”[52, tr 239] Ngụ ý không đồng tình với
sự si tình của Phật Sinh thể hiện một cách rõ nét Bởi vậy, làm trai mà chính đạo thì
Trang 34còn phải biết cân nhắc phải trái, đúng sai, nên và không nên chứ không thể cứ theo
ý mình được
Đến Chuyện nàng Thúy Tiêu thì người như Dư Nhuận Chi quả là đáng trách
Trong phần lời bình, Nguyễn Dữ đưa ra lời răn đe cảnh báo đối với các trang nam nhi trước vấn đề sắc dục Phải nên biết cân nhắc điều gì là quan trọng với mình Thúy Tiêu “hết là vợ họ Trương lại là hầu họ Lý? Vậy mà lại khinh thường sự đi đến, nhẫn nhục tới ở với người, sờ đầu cọp, vuốt râu cọp, suýt nữa thì không thoát miệng cọp Như chàng Nhuận Chi, thật là một người ngu vậy” [52, tr 191] Không bàn đến kết thúc truyện, đơn thuần chỉ bàn đến hành động của Nhuận Chi theo quan điểm Nho gia thì ngàn lần không nên Nho gia không coi trọng nữ nhi; đối với họ, mất Thúy Tiêu này sẽ có Thúy Tiêu khác thay thế Đối với Nho gia, tình yêu bị gạt
đi, có chăng là tình cảm vợ chồng Tuy nhiên, là thân nam nhi phải bền gan, vững chí, phải có chí vươn lên, phải biết cân nhắc chuyện lớn nhỏ Chàng họ Dư không nên vì ả ca xướng Thúy Tiêu mà buông bỏ không thiết thi cử, ảnh hưởng đến con đường công danh sự nghiệp; và càng không nên vì nàng mà khiến mình rơi vào cảnh huống như cá nằm trên thớt Bởi vậy, dưới góc độ nho gia, Nhuận Chi đúng là người ngu
2.1.5 Sự chung thuỷ, đức hy sinh của người phụ nữ trong mối quan hệ vợ
chồng
Trong Chuyện người nghĩa phụ ở Khoái Châu, Nhị Khanh nêu cao tấm
gương về người phụ nữ theo đúng chuẩn mực “tam tòng”, “tứ đức” của xã hội phong kiến Nàng tỏ rõ là người phụ nữ tiết liệt đáng ngưỡng mộ: “- Ta sở dĩ nhịn nhục mà sống là vì nghĩ Phùng lang hãy còn; nếu chàng không còn thì ta đã liều mình chứ quyết không mặc áo xiêm của chồng để đi làm đẹp với người khác” [52, tr 24] Sự kiên trung và tấm lòng của Nhị Khanh với chồng còn thể hiện rõ khi hội ngộ cùng chàng trong cảnh cơ hàn Cho đến khi Trọng Quỳ vì thua bạc, gán cả Nhị Khanh, nàng vẫn điềm tĩnh xin về từ biệt các con rồi tự tận để giữ trọn tiết hạnh Đối với nàng, cái chết không có nghĩa lí gì cả, thà chết chứ không để mình bị vấy bẩn Cả khi chết đi, hồn nàng còn lo lắng cho tương lai của hai con Nhị Khanh quả
Trang 35đúng là người phụ nữ đáng trọng Lời bình cuối truyện “Có người vợ như thế mà
để cho phải hàm oan, Trọng Quỳ thật là tuồng chó lợn” [52, tr 34] đã phê phán Trọng Quỳ Nhị Khanh là nhân vật mà Nguyễn Dữ dành nhiều tình cảm trân trọng (sau khi chết, nàng được Thượng đế thương tình nên cho được lệ thuộc vào đền Trưng Vương) Hơn nữa, sự hối hận muộn màng của Trọng Quỳ cũng là chút an ủi đối với một kiếp hồng nhan lắm truân chuyên
Cũng là cái chết trong oan uổng, tức tưởi, Chuyện người con gái Nam Xương
đem đến cho người đọc lòng thương cảm và khâm phục sự hiếu thảo, thủy chung của Vũ Nương Nàng đối đãi với mẹ chồng rất mực chu toàn, nàng không cầu vinh hoa, phú quý khi chồng ra trận mà chỉ mong được hai chữ bình an, nàng động viên con, xoa dịu bớt nỗi nhớ cha của con bằng cách chỉ bóng mình trên vách và bảo đó
là cha Đản…Chỉ có điều sự đa nghi, độc đoán của Trương Sinh đã khiến nàng phải hàm oan mà chết Nàng chính là hình tượng người phụ nữ chuẩn mực trong xã hội
phong kiến (đối nghịch hẳn với những Nhị Khanh trong Chuyện cây gạo) Chỉ có
điều, kết thúc cuối cùng của nàng vẫn là cái chết Cuối truyện, Nguyễn Dữ cũng có phê phán Trương Sinh, nhưng chỉ là sự phê phán nhẹ nhàng: “Làm người đàn ông, tưởng đừng nên để cho giai nhân oan uổng thế này” [52, tr 212]
Xây dựng những nhân vật này, Nguyễn Dữ cho thấy những chuẩn mực về người phụ nữ đức hạnh trong xã hội phong kiến Sắc thái ngợi ca sự hy sinh vì gia đình của họ, thái độ trân trọng phẩm giá của Nhị Khanh và Vũ Nương cùng với lời phê phán những đấng mày râu trong lời bình cuối truyện cho thấy Nguyễn Dữ đang truyền tải diễn ngôn đạo đức Những người đàn ông trong hai truyện trên là kẻ đáng phê phán (tuy nhiên, dường như mức độ còn nhẹ nhàng quá chăng?) Và cách kết thúc của câu chuyện khiến người ta vẫn nhói lòng khi nghĩ đến số kiếp người phụ
nữ Dầu ngoan ngoãn, đảm đang, tháo vát, hy sinh hết mình cho gia đình thì cái họ nhân lại được là gì ngoài số kiếp hẩm hiu Và dầu ngang ngược, nổi loạn hay say trong men tình ái rồi phá bĩnh đi chăng nữa như những ma nữ thì kết cục của họ cũng vẫn là cái chết Nhưng có thể nói, cách cư xử của Nhị Khanh và Vũ Nương trong hai truyện trên cho thấy tình cảm sâu nặng của hai nàng với gia đình mình
Trang 36Tình cảm ấy không chỉ là tình nghĩa vợ chồng mà là tình yêu tha thiết Quan niệm tình yêu trong xã hội phong kiến khác hẳn quan niệm tình yêu hiện đại Thời phong kiến, hôn nhân sắp đặt theo kiểu “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy nên lấy nhau về có khi mới biết mặt nhau Tình yêu của người phụ nữ thể hiện qua tình cảm họ vun đắp cho gia đình, sự phục tùng đối với người chồng, sự hy sinh cho chồng con… Bởi vậy, lấy cái chết để giữ trọn thủy chung với chồng như nàng Nhị Khanh, lấy cái chết
để chứng minh sự trong sạch của mình như nàng Vũ Nương chính là những biểu hiện cho tình yêu của người phụ nữ dưới chế độ phong kiến Với họ, chồng, con, gia đình chồng chính là bầu trời của họ Họ chấp nhận hy sinh quên mình, gắn bó cả đời với bầu trời ấy dẫu nó trong xanh hay vẩn đục chứ quyết không tìm cho mình một khung trời khác
2.1.6 Nhân quả báo ứng, luân hồi quả báo (của những yêu ma nhiễu dân)
Trong ba chuyện mà nhân vật chính đều là ma nữ hoặc là linh hồn đầu thai
báo oán, kết cục của những ma nữ hại người đều bi thảm Ở Chuyện cây gạo, Nhị
Khanh dùng nhan sắc quyến rũ Trình Trung Ngộ khiến chàng mê mệt hàng đêm Sau khi khiến chàng “đồng huyệt” với mình, Nhị Khanh còn làm bao chuyện tác quái khác Những hành động ấy khiến cho khi nói đến ma nữ là người ta quy kết vào hạng xấu xa hại người Và ở đời có luật nhân quả Hài cốt của Nhị Khanh và Trình Trung Ngộ bị vứt bỏ xuống sông cho trôi theo dòng nước Đạo Phật dạy con
người lấy đức báo oán Tuy nhiên, trong Chuyện nghiệp oan của Đào thị, căn
nguyên nỗi khổ của Hàn Than là do nàng lấy oán báo oán và oán càng thêm chồng chất Sau khi chết, Hàn Than đã rủ Vô Kỷ thác hóa đầu thai để trả cho xong một cái
nợ oan gia ngày trước Đó cũng là hành động phá hoại sự yên bình của con người
Sư cụ Pháp Vân đã trừng trị thích đáng đối với họ, kết cục thân xác ra tro là hoàn
toàn xứng đáng Và Thị Nghi lấy oán trả ân trong Chuyện yêu quái ở Xương Giang
càng khắc sâu vào tiềm thức loài yêu ma là xấu xa, độc ác Thị Nghi dùng nhiều thủ đoạn để viên quan họ Hoàng cho ả mồ yên mả đẹp, sau đó khiến chàng bị bệnh điên cuồng, hoảng hốt, mê lịm đi không còn biết gì Một người “khăn cũ giầy rách, ăn mặc lôi thôi” đã khiến Thị Nghi hiện nguyên hình là đống xương trắng rồi bị tống
Trang 37giam vào ngục tối Trong ba chuyện này đều có hành động nhiễu nhương, làm hại người khác hoặc sách nhiễu dân lành và đều là ma nữ Cả ba đối tượng đều bị đạo nhân diệt trừ hoặc vạch trần bản chất Vị đạo nhân xuất hiện đúng lúc phải chăng là minh chứng hùng hồn cho quy luật nhân quả báo ứng Kẻ làm điều ác ắt gặp tai ương Qua kết cục của những nhân vật này, Nguyễn Dữ đưa ra lời răn đe, cảnh báo đối với những kẻ làm tổn hại tới cuộc sống bình yên của người khác Những kẻ đó chỉ nhận lại thảm kịch cho bản thân bởi những hành vi của mình Bởi vậy, trong những chuyện này, Nguyễn Dữ diễn ngôn đạo đức
2.2 Diễn ngôn tình yêu/ tình dục trong Truyền kỳ mạn lục
Không thể phủ nhận trong 20 truyện của Truyền kỳ mạn lục thì số lượng
truyện có liên quan đến tình cảm nam nữ là khá lớn và đều là những truyện hấp dẫn (10 truyện) Người đọc như lạc vào một thế giới khác (không phải là cái xã hội của thế kỷ XVI với “phân quyền, cát cứ, khởi nghĩa nông dân” hay những cương thường lễ giáo đè bẹp khát vọng tình yêu Ở đó cũng chẳng phân biệt người với ma, cõi âm với cõi dương Ở đó chỉ có tình yêu say đắm, nồng nàn đẹp như một giấc mộng với những lời thề non hẹn biển Ở đó chỉ có những khao khát ái ân trần thế đắm say, rạo rực; có hạnh phúc vỡ òa khi những ham muốn về tình yêu, tình dục được thăng hoa Trong thế giới ấy, con người được sống là mình, sống hết mình với khát vọng tình yêu/ tình dục Mặc dù kết thúc “đâu lại vào đấy” nhưng không thể phủ nhận vẻ đẹp và độ say đắm, nồng nàn của những câu chuyện tình yêu trong
Truyền kỳ mạn lục Phải chăng đó cũng là bức thông điệp mà Nguyễn Dữ để cho
người đọc tự khám phá
2.2.1 Yếu tố tính dục trong các câu chuyện tình
Trong thời kỳ trung đại, Nho giáo và Phật giáo có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống tinh thần của người dân Những quan niệm của nho giáo, Phật giáo bắt rễ vào mạch nguồn tư tưởng, ăn sâu vào nếp nghĩ của họ, đặc biệt là Nho giáo Đối với Nho giáo, vấn đề tình dục được coi là vấn đề cấm kị “Diệt dục” được coi là tiêu chí
để đảm bảo sự thành công về sự nghiệp Kẻ nào không biết “tiết dục”, “diệt dục” thì khó có thể công thành doanh toại Nho giáo đề cao lễ nghi, quy định về mối
Trang 38quan hệ giữa nam và nữ rất ngặt nghèo: “nam nữ thụ thụ bất thân” Bởi thế mà giữa nam và nữ phải luôn giữ khoảng cách, không được tiếp xúc gần gũi, trong trường học chỉ có nam nhân Nho giáo rất coi trọng chuyện giữ gìn trinh tiết Trong bộ luật Gia Long ghi rõ: “Nam nữ đã đính hôn với nhau, nhưng chưa cưới mà đã thông gian thì phải phạt 100 trượng”, “Người đàn bà phạm tội gian dâm thì hết cả liêm sỉ, nên bắt cởi áo cánh, cho để mặc váy mà gia hình, còn tội khác, khi phạt cũng được mặc
cả áo” [30, tr 277] Vấn đề quan hệ tình dục trước hôn nhân trong con mắt Nho gia
là vấn đề đáng xấu hổ, làm nhục gia môn, bị lên án gay gắt, bị răn đe cảnh báo Đối với người phụ nữ, vấn đề tình dục dường như không được phép chủ động, phải biết giữ khoảng cách nếu không sẽ bị coi là thất tiết Người phụ nữ “không chồng mà chửa” còn bị cạo đầu, bôi vôi, thả bè trôi sông Trong văn học trung đại, người ta ngại động chạm đến vấn đề tình dục, đa số là né tránh, có chăng cũng dùng hình ảnh ước lệ để không gây sự “phản cảm” theo cách nhìn của con người thời trung đại
Ngay trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, khi miêu tả cảnh tiếp khách ở chốn lầu
xanh, Nguyễn Du cũng sử dụng những hình ảnh ước lệ:
“Biết bao bướm lả ong lơi, Cuộc say đầy tháng trận cười suốt đêm
Dập dìu lá gió cành chim, Sớm đưa Tống Ngọc tối tìm Trường Khanh”
Những cảnh ân ái được miêu tả núp sau những khuôn vàng thước ngọc của ước lệ tượng trưng chứ không được miêu tả trực tiếp
Bên cạnh việc tiết chế tình dục, Nho giáo còn đề cao những tấm gương liệt nữ, những người phụ nữ biết chịu đựng, hy sinh vì chồng Việc đề cao những tấm gương tiết liệt tự vẫn để thủ tiết cũng là hình thức thuyết giáo cho vấn đề “diệt dục”, đặc biệt là người phụ nữ Tóm lại, trong xã hội phong kiến, vấn đề tình dục là vấn
đề bị né tránh, vấn đề cấm kị Bởi vậy cũng thật dễ hiểu khi thông điệp về tình yêu/ tình dục (đặc biệt là tình dục) mà Nguyễn Dữ muốn truyền tải lại được đặt vào những “cuồng ngôn”, “dâm ngôn” của những ma nữ, những tinh hoa chứ không phải là những nữ nhân bình thường Phải chăng do tinh thần của thời đại chi phối
Trang 39cách thể hiện diễn ngôn về tình dục? Dù những phát ngôn về tình dục là của ma hay
người thì cũng cho thấy sự táo bạo và nét riêng biệt của Nguyễn Dữ trong Truyền kỳ
mạn lục Vấn đề tình dục trong tác phẩm này được thể hiện khá táo bạo dù rằng chủ
yếu là qua những hình ảnh ước lệ hay những từ ngữ giàu sức gợi mà ít miêu tả trực
tiếp Bởi thế, Truyền kỳ mạn lục là tác phẩm đậm màu sắc tính dục có lẽ là điều cho
thấy sự can đảm của Nguyễn Dữ (chính Nguyễn Dữ cũng là một nhà Nho) Yếu tố tính dục thể hiện rõ nét hơn cả ở những tác phẩm có nhân vật nữ yêu ma
Trong Chuyện cây gạo, yếu tố tính dục được thể hiện đậm nét Những lời mà
Nhị Khanh nói với Trình Trung Ngộ trong buổi trò chuyện đầu tiên có thể khiến bất
cứ cô gái nào ở thế kỷ XXI phải kinh ngạc: “Chi bằng trời để cho sống ngày nào nên tìm lấy những thú vui Kẻo một sớm chết đi, sẽ thành người của suối vàng, dù
có muốn tìm cuộc hoan lạc ái ân, cũng không thể được nữa” [51, 38] Đây chẳng phải là quan niệm sống gấp để tận hưởng hoan lạc đó sao Và cũng bao người không khỏi giật mình vì khát khao táo bạo, mãnh liệt bộc lộ trực tiếp qua lời nói mà không cần vòng vo ý tứ: “ - Thân tàn một mảnh, cách với chết cũng chẳng bao xa Ngày tháng quạnh hiu, không người săn sóc Nay dám mong quân tử quạt hơi dương vào hang tối, thả khí nóng tới mầm khô, khiến cho tía rụng hồng rơi, được trộm bén xuân quang đôi chút, đời sống của thiếp như thế sẽ không phải phàn nàn gì nữa.” [52, tr 38] Đó là lời trò chuyện, lời giãi bày tâm sự thầm kín, lời cầu mong (cầu xin) khẩn khoản của một hồn ma khao khát chuyện ái ân Cách ví von giàu hình ảnh nhưng cũng không làm mờ đi sắc thái nhục dục trong lời đối đáp Cuộc ân
ái với chàng sẽ như hang tối quạnh hiu lạnh lẽo được quạt hơi dương để xua tan quạnh quẽ; như mầm khô gần cạn kiệt sự sống được hồi sinh bởi luồng khí nóng ấm áp; như tía rụng, hồng rơi được tái sinh khi hưởng chút hơi xuân khoẻ khoắn của ái tình Những khao khát thầm kín nhất ở con người không ngờ lại được phát ngôn một cách trực tiếp và táo tạo ở một nữ nhi (dù đó là ma nữ ) Cuộc hoan lạc say sưa khiến cho Nhị Khanh thi hứng dồi dào còn làm thơ tặng Trung Ngộ Cuộc ấp yêu, cảm giác vuốt ve mơn trớn, cảnh trút áo cởi xiêm, đắm chìm trong bâng khuâng hoan lạc được thể hiện “táo tợn” trong những vần thơ đậm màu sắc nhục dục Cho
Trang 40tới khi phải ẩn thân nơi cây gạo thì Trình Trung Ngộ và Nhị Khanh dường như vẫn say trong giấc mộng ân ái Yếu tố tính dục trong tác phẩm được nhấn mạnh rõ nét:
“Giữa lúc sông quạnh trăng mờ, bốn bề im lặng, đạo nhân thấy một đôi trai gái, thân thể loã lồ mà cùng nhau cười đùa nô giỡn” [52, 44] Những đoạn tự sự như thế này khiến ta có thể khẳng định đây không hẳn là câu chuyện về tình yêu đơn thuần mà đây còn là câu chuyện về tình dục Biểu hiện cao nhất của tình yêu là tình dục, là vấn đề xác thịt Tuy nhiên “thân thể loã lồ” mà cười đùa nô giỡn rồi dắt nhau vào gõ cửa hỏi gọi trong chùa thì vấn đề tình dục trở thành vấn đề nổi trội Dấu ấn xác thịt, hoan lạc của những cuộc ái ân dù không được miêu tả cụ thể nhưng chỉ bằng một vài chi tiết đã đã khiến ta có thể khẳng định, một trong những điều mà Nguyễn Dữ muốn truyền tải ở tác phẩm này là vấn đề về tình yêu/ tình dục
Đến Chuyện kỳ ngộ ở trại Tây yếu tố tính dục còn được thể hiện một cách
táo bạo hơn nữa ở chuyện tình thắm thiết giữa ba người, thậm chí là cảnh ái ân tập thể Có lẽ giới trẻ hiện đại không ít kẻ giật mình, đỏ mặt trước “chuyện ân ái ba
người” Trào lưu three some (quan hệ tình dục tay ba) của một bộ phận giới trẻ bị
đả kích rất nhiều từ phía dư luận Thay vì nam nữ quan hệ tình dục theo cách thông thường thì một số người có xu hướng tìm kiếm những cảm giác mới lạ trong chuyện tình dục Bởi vậy họ đã quan hệ tình dục phá cách theo kiểu “bầy đàn” (từ ba người trở lên) và không có sự ràng buộc về tình cảm nào sau đó Đây là lối sống phóng túng, đi ngược lại quan niệm về tình dục truyền thống chỉ để thoả mãn thú chơi sa đoạ Điều đáng chú ý là tới thế kỉ XXI này, trào lưu ấy mới rộ lên ở một bộ phận và
đã bị lên án gay gắt
Trong xã hội phong kiến, chuyện nam nhân lấy nhiều vợ là chuyện bình thường Các bà vợ vẫn chung sống “hoà thuận” với nhau (ít ra là bằng mặt dù không bằng lòng) Nhưng có thể nói chưa từng thấy chuyện ái ân nam nữ ba người lại được
miêu tả trong văn chương trung đại Việt Nam trước đó Bởi vậy, Chuyện kỳ ngộ ở
trại Tây có thể coi như là một trường hợp táo bạo và hiếm có Vấn đề tính dục được
thể hiện một cách mạnh mẽ, thậm chí hai nàng Đào, Liễu còn mạnh dạn bày tỏ sự e ngại của mình về chuyện chăn gối, lo lắng không làm thoả mãn được tình lang: “-