Mặt khác, nghiên cứu quá trình Đảng bộ huyện Yên Mô thực hiện nhiệm vụ xây dựng Đảng là đồng thời đặt nó trong mối quan hệ biện chứng với tình hình thực hiện ở các địa phương khác trên c
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn là kết quả nghiên cứu của cá nhân tôi, không sao chép của ai Nội dung luận văn dựa trên kiến thức lý luận về xây dựng Đảng và qua nghiên cứu, khảo sát thực tiễn quá trình xây dựng Đảng của địa phương, dưới sự
hướng dẫn khoa học của TS Trần Hồng Hải Các số liệu được trình bày có nguồn
gốc rõ ràng, tuân thủ đúng nguyên tắc và kết quả trình bày trong luận văn được thu thập trong quá trình nghiên cứu là trung thực, chưa từng được ai công bố trước đây
Tác giả luận văn
Đinh Thị Mai
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất tới người thầy hướng
dẫn TS.Trần Hồng Hải, người đã nhiệt tình hướng dẫn, chỉ bảo và đóng góp những
ý kiến quý báu trong suốt thời gian tôi tiến hành nghiên cứu, hoàn thành luận văn
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới Ban giám hiệu, Phòng Sau đại học, các thầy
cô giáo và đặc biệt là các thầy cô trong bộ môn Lịch sử Đảng, Khoa Lịch sử - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã nhiệt tình giảng dạy, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho chúng tôi trong suốt quá trình học tập cũng như thực hiện luận văn tốt nghiệp
Xin chân thành cảm ơn tập thể cán bộ và nhân viên Kho lưu trữ Văn phòng Tỉnh uỷ tỉnh Ninh Bình, Kho lưu trữ Văn phòng Huyện ủy, Ban tổ chức của huyện Yên Mô đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình khai thác và tìm kiếm tư liệu
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình, người thân, bạn bè đã luôn động viên, khích lệ để tôi hoàn thành khoá học
Hà Nội, ngày 24 tháng 9 năm 2016
Tác giả luận văn
Đinh Thị Mai
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
5 Cơ sở lý luận, nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 6
6 Đóng góp của luận văn 7
7 Kết cấu của luận văn 7
Chương 1 ĐẢNG BỘ HUYỆN YÊN MÔ THỰC HIỆN NHIỆM VỤ XÂY DỰNG ĐẢNG (2001 - 2005) 8
1.1 Các nhân tố tác động đến công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ huyện Yên Mô.8 1.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội 8
1.1.2.Thực trạng công tác xây dựng Đảng ở Đảng bộ huyện Yên Mô trước năm 2001 10
1.2 Đảng bộ huyện Yên Mô thực hiện nhiệm vụ xây dựng Đảng trong những năm 2001 - 2005 14
1.2.1 Chủ trương của Đảng, của Đảng bộ tỉnh Ninh Bình và Đảng bộ huyện Yên Mô về công tác xây dựng Đảng 14
1.2.1.1 Chủ trương của Đảng 14
1.2.1.2 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Ninh Bình và Đảng bộ huyện Yên Mô 16
1.2.2 Đảng bộ huyện Yên Mô chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ xây dựng Đảng ở địa phương 21
Tiểu kết chương 1 38
Chương 2 CHỦ TRƯƠNG VÀ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN YÊN MÔ VỀ THỰC HIỆN NHIỆM VỤ XÂY DỰNG ĐẢNG (2006 - 2015) 39
2.1 Đảng bộ huyện Yên Mô lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ xây dựng Đảng trong những năm 2006 - 2010 39
2.1.1 Đảng bộ huyện Yên Mô vận dụng chủ trương của Đảng và của Đảng bộ tỉnh Ninh Bình trong hoạch định chủ trương về công tác xây dựng Đảng 39
2.1.1.1 Chủ trương của Đảng 39
Trang 62.1.1.2 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Ninh Bình và Đảng bộ huyện Yên Mô 40
2.1.2 Quá trình Đảng bộ huyện Yên Mô chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ xây dựng Đảng ở địa phương 43
2.2 Đảng bộ huyện Yên Mô đẩy mạnh thực hiện nhiệm vụ xây dựng Đảng trong những năm 2011 - 2015 57
2.2.1 Chủ trương của Đảng bộ huyện Yên Mô về công tác xây dựng đảng 57
2.2.1.1 Chủ trương của Đảng 57
2.2.1.2 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Ninh Bình và Đảng bộ huyện Yên Mô 59
2.2.2 Đảng bộ huyện Yên Mô đẩy mạnh chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ xây dựng Đảng ở địa phương 62
Tiểu kết chương 2 75
Chương 3 NHẬN XÉT CHUNG VÀ CÁC KINH NGHIỆM CHỦ YẾU 77
3.1 Nhận xét chung 77
3.1.1 Về những thành tựu cơ bản 77
3.1.2 Về những hạn chế chủ yếu 84
3.2 Một số kinh nghiệm 87
Tiểu kết chương 3 97
KẾT LUẬN 98
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 100 PHỤ LỤC
Trang 7UBKT Uỷ ban kiểm tra UBND Uỷ ban nhân dân XHCN Xã hội chủ nghĩa
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Lịch sử Việt Nam trong thế kỷ XX đã trải qua nhiều bước thăng trầm, và đã
có bước phát triển mang tính cách mạng, đột biến Đó là sự kiện dân tộc ta đứng lên làm cách mạng giải phóng dân tộc, lật đổ chế độ thực dân, phong kiến, giành độc lập dân tộc, kháng chiến bảo vệ Tổ quốc, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, thống nhất đất nước Bước vào công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã từng bước đưa đất nước đi lên và đạt được nhiều thành tựu to lớn, hướng tới mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” hội nhập với cộng đồng quốc tế Đó là kết quả của nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó, đặc biệt phải kể đến tác động tích cực từ những thành quả đạt được trong công cuộc đổi mới, chỉnh đốn Đảng
Tổng kết quá trình lãnh đạo, một trong những bài học kinh nghiệm xuyêt suốt của cách mạng Việt Nam, đó là sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam Và để có được đường lối lãnh đạo đúng đắn đó, vấn đề có ý nghĩa then chốt là Đảng cần phải được xây dựng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức
Thực tiễn cho thấy càng đi vào đổi mới, phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN trong bối cảnh nước ta mở cửa, hội nhập càng cần có sự lãnh đạo của Đảng và coi trọng công tác xây dựng Đảng để nắm bắt thời cơ, thuận lợi, khắc phục khó khăn, thách thức, thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc
Tổ quốc Việt Nam XHCN Tuy nhiên, công tác xây dựng Đảng của nước ta trong những năm gần đây đang đứng trước nhiều yêu cầu, đòi hỏi mới Dưới tác động tiêu cực của mặt trái cơ chế thị trường đã xuất hiện tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên Bên cạnh đó là sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch, phản động nhằm vào Đảng Do đó, tăng cường công tác xây dựng Đảng trong giai đoạn hiện nay vừa là yêu cầu bức thiết của thực tiễn tiến trình xây dựng và bảo vệ chế độ, bảo vệ đất nước, đồng thời là đòi hỏi cấp bách đặt ra trong quá trình phát triển và hội nhập
Trang 9Huyện Yên Mô thuộc tỉnh Ninh Bình được tái lập năm 1996, vốn là vùng đất
có bề dày lịch sử và văn hóa Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, cùng với nhân dân cả nước, nhân dân Yên Mô đang ngày đêm ra sức lao động, với tinh thần cần cù, đôi bàn tay khéo léo và óc sáng tạo, quyết tâm vượt qua mọi khó khăn, thử thách của thời đại và lịch sử để xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp, văn minh Hòa nhập trong công cuộc đổi mới đất nước, huyện Yên Mô hơn 10 năm qua đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng về kinh tế, xã hội Đánh giá về những nỗ lực của Đảng
bộ và nhân dân huyện Yên Mô trong việc thực hiện những mục tiêu phát triển kinh
tế, văn hóa, xã hội những năm qua, Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Yên
Mô lần thứ XVII có đoạn viết: “kinh tế liên tục phát triển, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực Văn hóa, xã hội có nhiều tiến bộ, an sinh xã hội được đảm bảo, đời sống nhân dân ổn định và được cải thiện An ninh chính trị, trật tự an toàn
xã hội được giữ vững” [6, tr 12] Tuy nhiên, bên cạnh đó còn nhiều khó khăn và tồn tại cần khắc phục
Những thành tựu đã đạt được cùng với những tồn tại của Đảng bộ huyện Yên
Mô trong việc thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội giai đoạn từ 2001 đến 2015 cũng gắn liền với việc thực hiện nhiệm vụ xây dựng Đảng Mặt khác, nghiên cứu quá trình Đảng bộ huyện Yên Mô thực hiện nhiệm vụ xây dựng Đảng là đồng thời đặt nó trong mối quan hệ biện chứng với tình hình thực hiện ở các địa phương khác trên cả nước, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm trong công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ Yên Mô trong thời gian tới chính là một trong những mục đích quan trọng
mà đề tài hướng đến
Từ những nhận thức ở trên tôi đã chọn đề tài: “Đảng bộ huyện Yên Mô
(Ninh Bình) thực hiện nhiệm vụ xây dựng Đảng từ năm 2001 đến năm 2015”
làm Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Xây dựng, chỉnh đốn Đảng là một nhiệm vụ quan trọng mang tính then chốt trong công cuộc xây dựng CNXH ở nước ta Chủ trương, đường lối về xây dựng Đảng của Đảng ta luôn luôn được đề cập đến trong các kì Đại hội Để thấy được vai trò quan trọng của công tác xây dựng Đảng, từ trước tới nay đã có không ít công
Trang 10trình nghiên cứu về vấn đề này dưới nhiều góc độ và khía cạnh khác nhau Tiêu biểu là:
Thứ nhất, những công trình nghiên cứu đề cập đến những vấn đề lý luận chung về công tác xây dựng Đảng theo chủ nghĩa Mac - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh Đáng chú ý là các tác phẩm: Mấy vấn đề về xây dựng chỉnh đốn Đảng, của
Lê Đức Bình, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002; Những nhiệm vụ cấp
bách của công tác xây dựng Đảng, của Lê Đức Thọ, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội,
1986; Xây dựng Đảng về tổ chức (tập 1), của Ngô Đức Tĩnh (Chủ biên), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001; Xây dựng Đảng vững mạnh thời kỳ đổi mới
đất nước, của Nguyễn Văn Vinh, Nguyễn Đức Thịnh, Nhà xuất bản Lao động, Hà
Nội, 2000; Một số vấn đề đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng và nâng cao
chất lượng hệ thống chính trị cấp cơ sở, của PGS.TS Phan Xuân Biên (Chủ biên),
Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (Chủ biên), 2005; Đổi mới
công tác kiểm tra, kỉ luật nhằm nâng cao sức chiến đấu của Đảng trong giai đoạn cách mạng mới, của Nguyễn Thị Doan (Chủ biên), Nhà xuất bản Chính trị Quốc
gia, Hà Nội, 2006; Xây dựng Đảng rèn luyện đảng viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh,
của Đại tá, TS Phạm Gia Đức, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2003;
Đảng Cộng sản Việt Nam 70 năm xây dựng và trưởng thành, của Lê Khả Phiêu,
Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội; Đảng Cộng sản Việt Nam những vấn đề
cơ bản về xây dựng Đảng, của GS.TS Mạch Quang Thắng, Nhà xuất bản Lao động,
2007; Xây dựng chỉnh đốn Đảng một số vấn đề lý luận và thực tiễn, của GS.TS Nguyễn Phú Trọng, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2005; Đề cương bài
giảng xây dựng Đảng (dành cho hệ cao cấp lý luận chính trị), của Khoa Xây dựng
Đảng, Học viện Chính trị hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Chính trị hành chính, Hà Nội, 2011
Thứ hai, các bài báo, công trình khoa học công bố trên các tạp chí khoa học
như của Nguyễn Vũ Cân: “Ngăn chặn đẩy lùi tệ quan liêu, thạm nhũng - biện pháp
quan trọng tiếp tục xây dựng, chỉnh đốn Đảng ngang tầm nhiệm vụ”, Tạp chí Cộng
sản, số 1, tr 60-63, 2006; Dương Trung Ý: “Nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở
Đảng và đảng viên dưới ánh sáng Nghị quyết Đại hội X”, Tạp chí Lịch sử Đảng, số
8, tr 43-46, 2006; Nguyễn Đức Hạt: “Tiếp tục thực hiện tốt nhiệm vụ then chốt tạo
Trang 11chuyển biến cơ bản trong công tác xây dựng Đảng”, Tạp chí Xây dựng Đảng, số 5,
tr 30-34, 2006; Hiền Lương: “Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ
chức cơ sở Đảng trong điều kiện hiện nay”, Tạp chí Lý luận chính trị, số 10, tr
30-33, 2006; Lý Thị Bích Hồng: “Quán triệt quan điểm Hồ Chí Minh về công tác tư
tưởng, lý luận trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay”, Tạp chí Lịch sử Đảng, số
3, tr 44-46 , 2005; bài “Tổng quan hội thảo về nâng cao năng lực và sức chiến đấu
của tổ chức cơ sở Đảng ở nông thôn”, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 12, tr 63-66, 2004;
bài “Đổi mới và chỉnh đốn Đảng đồng bộ về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức,
phương thức lãnh đạo”, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 2+3, tr 3-4, 2005
Thứ ba, một số luận án, luận văn Đáng chú ý là các luận án, luận văn của
các tác giả: Nguyễn Danh Lợi, Công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ liên khu IV từ
tháng 11-1946 đến tháng 7-1954, Luận án Tiến sĩ Lịch sử, chuyên ngành Lịch sử
Đảng Cộng sản Việt Nam, Hà Nội, 2012; Nguyễn Thị Thu Hương, Đảng lãnh đạo
thực hiện công tác tư tưởng thời kỳ 1986 - 2000, Luận văn Thạc sĩ Lịch sử, chuyên
ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Trường Đại học KHXH và NV, Hà Nội,
2001; Đoàn Thị Khánh Hà, Đảng bộ thành phố Việt Trì thực hiện nhiệm vụ xây
dựng Đảng thời kỳ 1996 - 2000, Luận văn Thạc sĩ Lịch sử, chuyên ngành Lịch sử
Đảng Cộng sản Việt Nam, Trường Đại học KHXH và NV, Hà Nội, 2002; Nguyễn
Thị Lan Phương, Quá trình củng cố và phát triển tổ chức cơ sở Đảng của Đảng bộ
thị xã Phủ Lý, tỉnh Hà Nam trong thời kỳ 1991 - 2000, Luận văn Thạc sĩ Lịch sử,
chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Trường Đại học KHXH và NV,
Hà Nội, 2002; Ngô Thị Lan Hương, Đảng bộ huyện Sóc Sơn thực hiện nhiệm vụ xây
dựng Đảng từ năm 1996 đến năm 2010, Luận văn Thạc sĩ Lịch sử, chuyên ngành
Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Trường Đại học KHXH và NV, Hà Nội, 2012
Mặt khác, đề cập đến công tác xây dựng Đảng ở Ninh Bình hiện nay không
thể không kể đến một số cuốn sách như: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Ninh Bình (tập 1) và
Lịch sử Đảng bộ tỉnh Ninh Bình (tập 2) do BCH Đảng bộ tỉnh Ninh Bình biên soạn
Ở Yên Mô, Ban Tuyên giáo Huyện ủy cũng phối hợp với các địa phương cho ra đời
các cuốn lịch sử Đảng bộ xã và Lịch sử Đảng bộ huyện Yên Mô (giai đoạn 1930 -
2005) Những công trình nghiên cứu kể trên đã nêu lên một cách tổng quát những
vấn đề cơ bản, cốt cán của công tác xây dựng Đảng của cả nước cũng như của nhiều tỉnh, nhiều huyện qua những thời kỳ khác nhau, song chưa có một công trình nghiên
Trang 12cứu riêng biệt nào trình bày một cách đầy đủ quá trình Đảng bộ huyện Yên Mô thực hiện nhiệm vụ xây dựng Đảng trong giai đoạn 2001 - 2015 mà chủ yếu mới được đề cập đến trong các báo cáo của Huyện ủy, Ban Tuyên giáo và các ban ngành có liên quan Những báo cáo đó là nguồn tài liệu quan trọng cung cấp cơ sở lý luận, tư liệu
để tác giả hoàn thành luận văn
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.2 Nhiệm vụ
- Trình bày các yếu tố tác động đến công tác xây dựng Đảng ở Đảng bộ
huyện Yên Mô
- Trình bày có hệ thống quá trình Đảng bộ huyện thực hiện các nhiệm vụ của công tác xây dựng Đảng ở địa phương trong những năm 2001 - 2015
- Rút ra những nhận xét về thành tựu, hạn chế, bài học kinh nghiệm từ quá trình thực hiện nhiệm vụ xây dựng Đảng của Đảng bộ huyện Yên Mô trong những
năm 2001 - 2015
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Tập trung nghiên cứu quá trình Đảng bộ huyện Yên Mô (Ninh Bình) thực hiện nhiệm vụ xây dựng Đảng từ năm 2001 đến năm 2015 trên cơ sở những chủ
trương, kế hoạch, giải pháp của Đảng và của Đảng bộ tỉnh Ninh Bình
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Nội dung: Luận văn tìm hiểu chủ trương về xây dựng Đảng của Đảng, của
Đảng bộ tỉnh Ninh Bình và Đảng bộ huyện Yên Mô qua các kỳ Đại hội Từ đó tìm hiểu quá trình Đảng bộ huyện Yên Mô thực hiện nhiệm vụ xây dựng Đảng ở địa phương trên các phương diện: chính trị, tư tưởng và tổ chức Từ những thành tựu và hạn chế của công tác xây dựng Đảng ở Yên Mô (giai đoạn (2001 - 2015)) để rút ra những bài
Trang 13học kinh nghiệm có ý nghĩa thực tiễn đối với công tác xây dựng Đảng ở Yên Mô những năm về sau
- Thời gian: Từ năm 2001 đến năm 2015
- Không gian: Trên địa bàn huyện Yên Mô
5 Cơ sở lý luận, nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn được thực hiện dựa trên những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng Cộng sản Những chủ trương, đường lối về xây dựng Đảng trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước của Đảng Cộng sản Việt Nam
5.2 Nguồn tài liệu
- Các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mac - Lênin và Hồ Chí Minh về công tác xây dựng Đảng
- Các Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng Cộng sản Việt Nam khóa IX, X, XI, XII; Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Ninh Bình lần thứ XIII, XIV, XV, XVI, XVII
- Các công trình nghiên cứu khoa học, các sách, báo, tạp chí có liên quan do các cơ sở nghiên cứu khoa học có uy tín công bố
- Nguồn tư liệu chính của luận văn là các Nghị quyết Đại hội, Hội nghị của tỉnh Ninh Bình, Huyện ủy Yên Mô, các Chương trình hành động, báo cáo tổng kết hàng năm của Đảng bộ huyện Yên Mô Đây là nguồn tài liệu quan trọng nhất giúp tác giả nắm chắc và trình bày có hệ thống những chủ trương, phương hướng, nhiệm
vụ và quá trình thực hiện nhiệm vụ xây dựng Đảng ở Đảng bộ
5.3 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu của luận văn là phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử và các phương pháp nghiên cứu của khoa học lịch sử nói chung, các chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam nói riêng Cụ thể, luận văn chủ yếu sử dụng các phương pháp như: phương pháp lịch sử, phân tích, tổng hợp, thống kê, mô tả, so sánh số liệu, đặc biệt là sự kết hợp chặt chẽ phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic để làm rõ nội dung cần nghiên
cứu
Trang 146 Đóng góp của luận văn
- Góp phần hệ thống hóa những quan điểm, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng bộ tỉnh Ninh Bình và Đảng bộ huyện Yên Mô về xây dựng Đảng trong những năm 2001 - 2015 Dựng lại quá trình Đảng bộ huyện Yên Mô thực hiện nhiệm
vụ xây dựng Đảng từ năm 2001 đến năm 2015
- Nêu lên những nhận xét về thành tựu, hạn chế của công tác xây dựng Đảng ở huyện Yên Mô từ năm 2001 đến năm 2015
- Nêu lên một số kinh nghiệm trong quá trình Đảng bộ huyện Yên Mô thực hiện nhiệm vụ xây dựng Đảng làm bài học kinh nghiệm quý báu cho quá trình xây dựng Đảng của Đảng bộ huyện ở những năm tiếp theo
- Luận văn khi hoàn thành có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho cán bộ, đảng viên, giảng viên, học sinh, sinh viên nghiên cứu vấn đề thực hiện nhiệm vụ xây dựng
Đảng của Đảng bộ huyện Yên Mô từ năm 2001 đến năm 2015
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được bố cục làm ba chương:
Chương 1: Đảng bộ huyện Yên Mô thực hiện nhiệm vụ xây dựng Đảng từ năm 2001 đến năm 2005
Chương 2: Đảng bộ huyện Yên Mô thực hiện nhiệm vụ xây dựng Đảng từ năm 2006 đến năm 2015
Chương 3: Nhận xét chung và các kinh nghiệm chủ yếu
Trang 15Chương 1 ĐẢNG BỘ HUYỆN YÊN MÔ THỰC HIỆN NHIỆM VỤ XÂY DỰNG ĐẢNG
(2001 – 2005)
1.1 Các nhân tố tác động đến công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ huyện Yên Mô
1.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội
* Điều kiện tự nhiên
Huyện Yên Mô nằm ở phía Nam tỉnh Ninh Bình Phía Đông giáp huyện Kim Sơn Phía Bắc giáp huyện Hoa Lư và huyện Yên Khánh, được ngăn cách bởi sông Vạc Phía Tây giáp thành phố Tam Điệp, phía Nam giáp huyện Nga Sơn và huyện
Hà Trung (tỉnh Thanh Hoá), được ngăn cách bởi dãy núi Tam Điệp
Hệ thống giao thông đường bộ của huyện có quốc lộ 1A và đường sắt Bắc - Nam chạy qua, đường 59 chạy dọc huyện từ Bình Sơn đến Lợi Hoà dài 18km; đường Mùa Thu nối Yên Mô với thành phố Tam Điệp, thị trấn Phát Diệm (huyện Kim Sơn) và một số con đường mới được xây dựng tạo thuận lợi cho giao lưu, phát triển kinh tế, văn hoá và xây dựng quốc phòng phục vụ công cuộc bảo vệ đất nước khi có chiến tranh xảy ra Bên cạnh đó là hệ thống sông ngòi nằm rải đều trong huyện Sông Vạc, sông Ghềnh, kênh đào nhà Lê chảy dọc huyện từ Bắc xuống Nam
và thông ra biển Sông Bút cùng sông Trinh Nữ nối liền với sông Tống Giang đi Thanh Hoá, khu 4 Với hệ thống đường bộ, đường thủy này các phương tiện giao thông có thể di chuyển đến nhiều nơi trong và ngoài tỉnh một cách dễ dàng
Địa hình của huyện Yên Mô không bằng phẳng, có vùng đồng mầu mùa, vùng đồng chiêm trũng và vùng bán sơn địa
Yên Mô nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa Do địa hình ngăn cách nên có những đặc điểm khí hậu riêng Dãy núi Tam Điệp nằm ở phía Nam chắn gió mùa Đông Bắc mùa đông tràn về nên nhiệt độ xuống thấp đột ngột, tạo nên hiện tượng khô hanh kéo dài từ tháng 10 năm trước đến tháng 4 năm sau Về mùa hè, gió Tây Nam từ miền trung (khu IV cũ) tràn sang rất nóng, có ngày nhiệt độ lên đến 39-400C Vào những tháng cuối mùa hè, đầu mùa thu nhiệt độ giảm, lượng mưa tăng đột biến
Trang 16kèm theo giông bão, nước từ trên rừng núi và nước mưa tại chỗ hợp lại dâng cao gây
lũ lụt
*Điều kiện kinh tế - xã hội
Tình hình kinh tế - xã hội của huyện Yên Mô trước năm 2001 tác động đến sự phát triển kinh tế - xã hội và công tác xây dựng Đảng trong giai đoạn mới
Theo báo cáo của BCH Đảng bộ huyện Yên Mô tại Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Yên Mô lần thứ XIV (11/2000), trong nông nghiệp, bình quân lương thực đầu người đã tăng từ 569kg (năm 1996) lên 628kg (năm 1999); sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp tăng trưởng khá, giá trị tiểu thủ công nghiệp bình quân 4 năm (1996 – 1999) đạt 33,2 tỷ đồng, tăng 8,6%/năm [2, tr 6] Dịch vụ có bước phát triển, chất lượng dịch vụ tăng lên Giá trị dịch vụ bình quân hàng năm tăng 11,9% Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch theo hướng tích cực, tỷ trọng công nghiệp tăng từ 11,4% (năm 1998) lên 12,1% (năm 1999), nông nghiệp giảm từ 77,9% (năm 1998) xuống còn 76,7% (năm 1999) [2, tr 7]
Yên Mô là một trong những huyện có mạng lưới cơ sở y tế, giáo dục phát triển Về giáo dục, 100% số trẻ em trong độ tuổi vào tiểu học, THPT hàng năm đạt từ 55-65%; 100% số xã, thị trấn hoàn thành phổ cập THCS; có 6 trường được công nhận đạt chuẩn Quốc gia (Mầm non: 2; Tiểu học: 1; THCS: 3) Về y tế, trên địa bàn huyện hiện có 1 bệnh viện đa khoa, 11 trạm y tế xã và nhiều cơ sở khám chữa bệnh tư nhân, đại lý bán thuốc phục vụ chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân Hàng năm đã khám và điều trị cho hàng chục nghìn lượt người, đảm bảo tốt công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân, không có dịch bệnh lớn xảy ra trên địa bàn Phong trào thể dục thể thao, rèn luyện thân thể, thực hiện nếp sống văn minh được đông đảo quần chúng nhân dân hưởng ứng và thực hiện nghiêm túc Các chính sách xã hội, chính sách đối với người có công, thực hiện mục tiêu giảm nghèo được triển khai kịp thời, đúng đối tượng, có hiệu quả Tỷ lệ hộ nghèo đã giảm từ 16,2% (năm 1996) xuống còn 5,4% (năm 2000) Các xã phần lớn đều đã có nhà văn hóa khang trang, phục vụ cho nhu cầu hội họp, sinh hoạt văn hóa của nhân dân
Về mặt xã hội: Tính đến năm 2002, dân số trung bình của huyện Yên Mô là
178 256 người, “trong đó có khoảng 20% dân số theo đạo công giáo” [7, tr 13] Cư dân trong huyện sinh sống bằng nghề nông là chủ yếu, tuy nhiên bên cạnh đó Yên
Trang 17Mô còn là quê hương của nhiều làng nghề truyền thống như: nghề mộc ở Côi Trì, nề
ở Bình Hải, dệt vải, làm thảm ở Nộn Khê, đan chài lưới ở Yên Lâm, đan lát mây tre ở Yên Phú, làm bún ở Khánh Dương, làm gạch ở Yên Phong, Khánh Thịnh… nhiều sản phẩm của Yên Mô có tiếng trong nước
Tình hình tôn giáo ở huyện Yên Mô trước năm 2001 về cơ bản là ổn định, nhìn chung không xảy ra các hiện tượng phức tạp Trên địa bàn huyện có 2 loại tôn giáo đang hoạt động là đạo Phật và đạo Thiên chúa Một bộ phận giáo dân đạo Thiên chúa đã tham gia vào tổ chức cơ sở Đảng, phát huy được tính tiên phong của đảng viên trong các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội của huyện
Như vậy, trình độ kinh tế, dân trí và trình độ văn hóa – xã hội của cư dân Yên
Mô có sự phát triển khá Thu nhập và đời sống của đa số dân cư trước năm 2001 đã được cải thiện và nâng cao đáng kể Đặc điểm nổi trội của con người Yên Mô là truyền thống lao động cần cù, vượt lên mọi khó khăn để phát triển sản xuất, là truyền thống hiếu học, tinh thần đoàn kết, giàu lòng nhân ái, mến khách và giàu sức sáng tạo trong phát triển kinh tế, mở mang văn hóa – xã hội Đây là một nguồn lực đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện
1.1.2 Thực trạng công tác xây dựng Đảng ở Đảng bộ huyện Yên Mô trước năm 2001
Thực hiện sự chỉ đạo của Tỉnh uỷ Ninh Bình, ngày 10/8/1948, Đại hội Đảng
bộ huyện Yên Mô lần thứ nhất đã được tổ chức tại đình Đông (Côi Trì - Yên Mỹ) Tại thời điểm này toàn Đảng bộ có hơn 2000 đảng viên Đại hội đã bầu BCH Đảng
bộ huyện (khoá I) gồm 9 uỷ viên Đồng chí Lê Văn Dung được bầu làm Bí thư Huyện uỷ Đến tháng 8/1948, ở Yên Mô các xã đều thành lập được chi bộ Đảng Trong đó, “xã Đại Đồng 286 đảng viên, xã Thanh Bình 293 đảng viên, xã Yên Mạc
171 đảng viên, xã Hà Trung 214 đảng viên” [7, tr 58]
Từ cuối năm 1956, cùng với cả nước, thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ
10 BCHTW Đảng (khoá II), Huyện uỷ Yên Mô đã chỉ đạo các cấp các ngành tiến hành sửa sai trong cải cách ruộng đất Bên cạnh đó, công tác xây dựng Đảng càng được Đảng bộ quan tâm Công tác kiểm tra, giữ gìn kỉ luật trong Đảng được tăng cường Cũng trong năm này có 23 đảng viên bị xử lý kỷ luật, 17 đảng viên bị cảnh cáo, 6 đảng viên bị khai trừ ra khỏi tổ chức Đảng Trung tuần tháng 10/1961, Đảng
Trang 18bộ huyện Yên Mô họp Đại hội lần thứ VI, đồng chí Lương Văn Nhân được bầu làm
Bí thư Huyện uỷ
Thực hiện Nghị quyết số 19 của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 40 của Ban Bí thư TW Đảng, từ quý I năm 1963, “Đảng bộ huyện Yên Mô triển khai cuộc vận động
xây dựng “chi bộ 4 tốt”, “đảng viên 4 tốt” [7, tr 121] Sau một năm thực hiện cuộc
vận động, chất lượng đảng viên và TCCSĐ tăng lên rõ rệt Toàn huyện có 16 TCCSĐ, 80% đạt tiêu chuẩn bốn tốt; 85,6% số đảng viên đạt tiêu chuẩn bốn tốt Trong 4 năm 1961-1964, toàn Đảng bộ kết nạp 915 đảng viên mới, nâng tổng số đảng viên của Đảng bộ lên 4 203 đồng chí
Tháng 6/1967, Đại hội Đảng bộ huyện Yên Mô lần thứ IX được tổ chức thành công Năm 1969, thực hiện Nghị quyết Bộ Chính trị về tăng cường năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, Đảng bộ huyện đã tiến hành cuộc vận động thực hiện Chỉ thị 192 của Ban Bí thư TW nhằm nâng cao nhận thức chính trị, nâng cao phẩm chất đạo đức cách mạng, làm trong sạch TCCSĐ ngay từ cơ sở Sau gần một năm thực hiện đã đạt được kết quả như sau: toàn Đảng bộ có 80% số TCCSĐ; 92% số đảng viên đạt tiêu chuẩn 4 tốt Đảng bộ đã ngăn chặn, xử lý nghiêm hàng chục vụ việc sai trái của cán bộ, đảng viên; xử lý kỉ luật một số cấp uỷ, đảng viên bị
vi phạm Điều lệ Đảng Trong 3 năm 1969 - 1971, toàn Đảng bộ cử hơn 280 đảng viên đi chiến đấu, phục vụ chiến đấu, đồng thời kết nạp thêm 370 đảng viên mới
Thời kỳ 1977 – 1994 là thời kỳ hợp nhất giữa huyện Yên Mô và 9 xã phía Bắc huyện Yên Khánh Lúc này tên huyện Yên Mô được chuyển gọi là huyện Tam Điệp Thời kỳ này Huyện uỷ vẫn tiếp tục đẩy mạnh và tăng cường công tác xây dựng Đảng, củng cố, kiện toàn các cấp uỷ cơ sở về số lượng, nâng cao về chất lượng Đồng thời, các cấp uỷ Đảng cũng từng bước bổ sung, hoàn thiện quy chế hoạt động, tích cực đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo
Ngày 9/11/1982, Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Tam Điệp lần thứ II đã được khai mạc Đại hội đã đánh giá, kiểm điểm công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ xây dựng, phát triển kinh tế – xã hội 4 năm (1977 – 1980) và đề ra phương hướng, nhiệm vụ 5 năm (1981 – 1985) Trước những diễn biến phức tạp của kinh tế và đời sống trong nước, công tác xây dựng Đảng được tăng cường Trong cả nhiệm kỳ, Đảng bộ đã tổ chức nhiều lớp tập huấn để tạo sự chuyển biến trong nhận thức, tư tưởng của cán bộ, đảng viên Phong trào xây dựng chi, Đảng bộ
Trang 19trong sạch vững mạnh được tiếp tục phát triển, đồng thời tập trung của cố các chi bộ yếu kém Kết quả là đã “giảm số chi Đảng bộ yếu kém từ 6% xuống còn 4,2% và tăng số chi, Đảng bộ trong sạch vững mạnh từ 82% (năm 1981) lên 87% (năm 1985) [7, tr 176] Công tác cán bộ cũng được kiện toàn từ huyện đến cơ sở Sức chiến đấu của Đảng bộ được nâng lên góp phần thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ chính trị của huyện
Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Tam Điệp lần thứ III (từ 15 đến 20/1/1986) với 144 đại biểu, là Đại hội mở đầu thời kỳ đổi mới Với tinh thần tôn trọng sự thật, nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, Đại hội đã tiến hành kiểm điểm nghiêm túc sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đại hội Đảng bộ khóa II và đề ra phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ cơ bản của nhiệm kỳ 1986 – 1990
Thực hiện Chỉ thị 16 của Ban Bí thư TW Đảng, Nghị quyết 14 của Bộ Chính trị, công tác xây dựng Đảng của huyện Tam Điệp tập trung chủ yếu vào khâu then chốt nhất là “làm trong sạch Đảng, nâng cao năng lực và sức chiến đấu của tổ chức
cơ sở Đảng” [7, tr 193]
Ngày 4/7/1994, Chính phủ ra Nghị định số 59/CP về việc tách 9 xã thuộc huyện Yên Khánh trước đây hợp nhất với huyện Yên Mô (năm 1977) nay trở về thành lập lại huyện Yên Khánh và đổi tên huyện Tam Điệp thành huyện Yên Mô Ngày 20/7/1994, Tỉnh ủy Ninh Bình ra Quyết định số 125-QĐ/TU thành lập BCH Đảng bộ (lâm thời) huyện Yên Mô gồm 24 ủy viên Đồng chí Bùi Văn Phượng được chỉ định làm Bí thư Huyện ủy
Sau khi tái lập đến cuối năm 1995, toàn Đảng bộ huyện có “4 682 đảng viên, bằng 4,68% dân số Trong đó có 1 792 đảng viên hưu trí, mất sức chiếm 38%; 694 đảng viên nữ bằng 14,8%; 44 đảng viên gốc giáo bằng 0,9% đang sinh hoạt ở 52 TCCSĐ” [1, tr 10] Thực hiện Nghị quyết TW3 về đổi mới và chỉnh đốn công tác xây dựng Đảng, đến cuối năm 1995 chất lượng đảng viên đã thay đổi rõ rệt Các đảng viên tham gia sinh hoạt đầy đủ hơn, ý thức chấp hành Nghị quyết, chấp hành nguyên tắc Đảng tốt hơn, số đông đảng viên xếp loại đủ tư cách Số đảng viên không đủ tư cách phải đưa ra khỏi Đảng rất ít Bản báo cáo về phân loại đảng viên ngày 27/5/1995 của Huyện uỷ đã cho thấy rõ chất lượng của đội ngũ đảng viên của Đảng bộ cụ thể như sau: trong tổng số 4 682 đồng chí, đảng viên đủ tư cách chiếm 69,7%; đủ tư cách có mặt còn hạn chế 26,9%; vi phạm tư cách 2,3%; không đủ tư
Trang 20cách phải đưa ra khỏi Đảng 1,1% Bên cạnh đó, công tác kiểm tra Đảng cũng được cấp uỷ hết sức coi trọng, tiến hành thường xuyên Từ năm 1991 đến năm 1995 đã có
5 658 lượt đảng viên được kiểm tra Trong đó có 63% đảng viên phấn đấu tốt; 23% đảng viên phấn đấu có mặt còn hạn chế; 14% đảng viên có vi phạm Qua kiểm tra
đã phát hiện, xử lý các trường hợp vi phạm, làm rõ các trường hợp có đơn thư khiếu
tố (trong nhiệm kỳ đã xử lý kỷ luật bằng các hình thức 712 trường hợp, trong đó khai trừ ra khỏi Đảng 40 trường hợp) [1, tr 11]
Thực hiện Chỉ thị của Tỉnh ủy về “Tổ chức Đại hội Đảng bộ các cấp”, ngày 20/3/1996, tại hội trường huyện, Huyện ủy đã tổ chức Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XIII với sự hiện diện của hơn 150 đại biểu của 53 TCCSĐ, đại diện cho 4 682 đảng viên toàn Đảng bộ Với tinh thần “Đoàn kết, dân chủ, kỉ cương”, Đại hội đã nghiêm túc kiểm điểm công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện đường lối đổi mới của Đảng bộ trong những năm 1991 – 1995, đồng thời đề ra phương hướng, nhiệm vụ chủ yếu trong nhiệm kỳ 1996 – 2000 Về công tác xây dựng Đảng, Đảng
bộ tập trung mọi cố gắng để thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ: “Tiếp tục đổi mới và tạo tiến bộ về công tác xây dựng Đảng về cả tư tưởng, tổ chức cán bộ, chất lượng đảng viên và tổ chức cơ sở Đảng” [7, tr 237]
Xác định công tác xây dựng Đảng là then chốt, nhằm nâng cao năng lực tổ chức và lãnh đạo của cán bộ Đảng từ huyện đến cơ sở, huyện Yên Mô đã chú ý mở các lớp tập huấn và khóa học lý luận sơ cấp cho các Bí thư chi bộ cơ sở, cử cán bộ
đi học lớp lý luận trung cấp, cao cấp và lớp quản lý Nhà nước Đội ngũ cán bộ chủ chốt từ huyện đến cơ sở được kiện toàn và sắp xếp lại Việc củng cố TCCSĐ và giáo dục, quản lý đảng viên cơ sở đạt kết quả tương đối tốt Ở nhiệm kỳ này công tác phát triển Đảng cũng thu được những kết quả tích cực Nếu như năm 1996 toàn huyện có 4 772 đảng viên sinh hoạt tại 51 TCCSĐ, năm 1997 có 4 790 đảng viên thì năm 1998 đã tăng lên tới 4 916 đảng viên sinh hoạt ở 49 TCCSĐ Số TCCSĐ xếp loại TSVM hàng năm đều đạt trên 80% Về cơ bản đã khắc phục được những
cơ sở Đảng yếu kém Từ năm 1996 đến năm 2000, Đảng bộ huyện Yên Mô liên tục được BTV Tỉnh uỷ công nhận là Đảng bộ TSVM
Như vậy, trước năm 2001, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng cùng với những
nỗ lực, quyết tâm của toàn thể đảng viên và nhân dân trong huyện, Đảng bộ huyện Yên Mô đã đạt được những thành tựu rất đáng ghi nhận trong công tác xây dựng
Trang 21Đảng (số TCCSĐ đạt tiêu chuẩn TSVM luôn chiếm tỷ lệ cao; số lượng đảng viên mới được kết nạp năm sau cao hơn năm trước; chất lượng đảng viên ngày càng được nâng lên v.v…) Tuy nhiên, sự thay đổi về địa giới hành chính cũng gây ra không ít khó khăn cho công tác xây dựng Đảng về mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức ở Yên Mô thời kỳ trước năm 2001 Đó là những khó khăn mà Đảng bộ Yên Mô cần sớm khắc phục để đưa sự nghiệp cách mạng huyện nhà vững bước tiến lên trong những giai đoạn tiếp sau
1.2 Đảng bộ huyện Yên Mô thực hiện nhiệm vụ xây dựng Đảng trong những năm 2001 - 2005
1.2.1 Chủ trương của Đảng, của Đảng bộ tỉnh Ninh Bình và Đảng bộ huyện Yên Mô về công tác xây dựng Đảng
1.2.1.1 Chủ trương của Đảng
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã họp từ ngày 19/4 đến ngày 22/4/2001, vào thời điểm có ý nghĩa trọng đại: Thế kỷ XXI vừa bắt đầu; toàn Đảng, toàn dân ta đã trải qua 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ VIII của Đảng, 10 năm thực hiện chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội 1991 -
2000 và 15 năm đổi mới
Đại hội IX đã nghiêm túc kiểm điểm và đánh giá những thành tựu cũng như những khuyết điểm trong thời gian qua, từ đó đề ra những quyết sách cho thời kỳ tới, phấn đấu nâng cao hơn nữa năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng nhằm động viên nhân dân phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh sự nghiệp CNH - HĐH, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN vững bước đi vào thế kỷ mới
Năm năm qua, bên cạnh những thành tựu mà nhân dân Việt Nam đã đạt được như: kinh tế tăng trưởng khá; văn hóa - xã hội có những tiến bộ; đời sống nhân dân tiếp tục được cải thiện; tình hình chính trị - xã hội cơ bản ổn định; quốc phòng và an ninh được tăng cường; công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng được chú trọng; hệ thống chính trị được củng cố… Việc thực hiện Nghị quyết Đại hội VIII còn có những yếu kém, khuyết điểm Đặc biệt là trong công tác xây dựng Đảng khi việc giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên chưa ngăn chặn và đẩy lùi được sự suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức lối sống Một số tổ chức Đảng ở các cấp chưa được chỉnh đốn, dân chủ bị vi phạm, kỉ luật, kỉ cương lỏng lẻo…
Trang 22Báo cáo chính trị Đại hội IX đã xác định: “Trong những năm tới toàn Đảng tiếp tục thực hiện cuộc vận động xây dựng chỉnh đốn Đảng với quyết tâm và nỗ lực cao hơn, tạo chuyển biến cơ bản trên cả 3 mặt: chính trị, tư tưởng và tổ chức” [15,
tr 163] Do vậy, Đại hội đã đề ra những nhiệm vụ quan trọng cho công tác xây dựng Đảng như sau:
Thứ nhất, giáo dục chính trị, rèn luyện đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa
cá nhân
Thứ hai, tiếp tục đổi mới công tác cán bộ
Thứ ba, xây dựng, củng cố các TCCSĐ
Thứ tư, kiện toàn tổ chức, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng
Để khẳng định hơn nữa vai trò của công tác xây dựng Đảng trong việc thực hiện thắng lợi những nhiệm vụ chính trị mới, Hội nghị lần thứ 4 BCH TW Đảng
khóa IX đã đưa ra báo cáo số 31/TLHN của Bộ Chính trị về “Tiếp tục thực hiện
Nghị quyết TW 6 (lần 2) khóa VIII, đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi tệ tham nhũng, lãng phí” Trên cơ sở xem xét, đánh giá
tình hình thực hiện cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng từ sau Đại hội IX, báo cáo đã đưa ra một số chủ trương, biện pháp nhằm đẩy mạnh cuộc vận động mà trọng tâm là ngăn chặn, đẩy lùi tệ tham nhũng, lãng phí Báo cáo có đoạn viết: Chống tham nhũng, lãng phí vừa là vấn đề nóng bỏng trước mắt, vừa là cuộc đấu tranh khó khăn, quyết liệt, lâu dài gắn liền với sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc
Sau khi báo cáo 31 của Bộ Chính trị, ngày 19/11/2001, Hội nghị lần thứ 4 BCH TW đã đưa ra Kết luận số 04-KL/TW và khẳng định: “Quán triệt thực hiện Nghị quyết Đại hội IX của Đảng, sắp tới cần phải đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghị quyết TW 6 (lần 2) Trong đó Hội nghị đặc biệt nhấn mạnh: “cả ba nội dung cơ bản của Nghị quyết đều phải đi sâu thực hiện có hiệu quả, trong đó chống tham nhũng, lãng phí là nhiệm vụ trọng tâm trước mắt” [72, tr 254]
Nhằm mục đích cụ thể hóa những nhiệm vụ trong công tác xây dựng Đảng, Hội nghị lần thứ 5 BCH TW Đảng khóa IX (họp ngày 18/3/2002) đã đưa ra Nghị
quyết về “Nhiệm vụ chủ yếu của công tác tư tưởng, lý luận trong tình hình mới” Đặc biệt là Nghị quyết về “Đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ
Trang 23sở xã, phường, thị trấn” Đây là Nghị quyết đầu tiên của TW về vấn đề đổi mới nội
dung và phương thức lãnh đạo của tổ chức Đảng ở cơ sở
Bên cạnh những Nghị quyết quan trọng kể trên, còn có một số Quyết định, Chỉ thị khác Chẳng hạn như: Chỉ thị số 03-CT/TW ngày 7/6/2001 của Bộ Chính trị
về việc “Tiếp tục thực hiện Nghị quyết TW 6 (lần 2) khóa VIII”; Quyết định số 19 của Bộ Chính trị ban hành ngày 3/1/2002 về “Những điều đảng viên không được
sự nghiệp CNH - HĐH đất nước trong những năm tới
1.2.1.2 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Ninh Bình và Đảng bộ huyện Yên Mô
*Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Ninh Bình
Để chuẩn bị cho Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, xuất phát từ tình hình thực tế và yêu cầu, đòi hỏi cụ thể của Ninh Bình, ngày 2/1/2001, Đại hội đại biểu
Đảng bộ tỉnh Ninh Bình lần thứ XVIII đã được triệu tập
Đại hội có ý nghĩa quan trọng đặc biệt đối với sự phát triển của tỉnh Ninh Bình trong những năm đầu thế kỷ XXI Đại hội có nhiệm vụ đánh giá 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ XVII và xác định phương hướng, nhiệm
vụ cơ bản, đồng thời cũng chỉ ra những vấn đề cấp thiết cần tập trung giải quyết nhằm tạo chuyển biến mạnh mẽ về kinh tế - xã hội của Ninh Bình trong nhiệm kỳ
2001 - 2005
Trong Báo cáo chính trị trình Đại hội có đề cập đến những thành tựu mà Đảng bộ và nhân dân Ninh Bình đã đạt được những năm vừa qua trên tất cả các lĩnh vực, trong đó có thành tựu trong công tác xây dựng Đảng đó là: “Cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghị quyết TW 5 và Nghị quyết TW 6 (lần 2) đã tạo được chuyển biến tích cực: “Công tác xây dựng Đảng được triển khai toàn diện, thường xuyên Công tác tư tưởng đã bám sát các nhiệm vụ kinh tế - xã
Trang 24hội và các nhiệm vụ trọng tâm của Đảng bộ, nâng cao sự thống nhất về tư tưởng và hành động Chất lượng sinh hoạt và phương thức hoạt động của nhiều TCCSĐ được coi trọng, năng lực lãnh đạo của các cấp ủy được nâng lên Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ được coi trọng Công tác kiểm tra được tăng cường” [77; tr 23-24] Bên cạnh đó còn có một số tồn tại: “Công tác tư tưởng tính chiến đấu chưa cao, chưa sắc bén, có một số cán bộ, đảng viên mất cảnh giác trước những thông tin, tài liệu có nội dung xấu; nội dung chất lượng sinh hoạt chi bộ còn nhiều hạn chế; việc thực hiện quy trình trong công tác cán bộ có trường hợp chưa chặt chẽ, vẫn còn tình trạng bị động, chắp vá, hẫng hụt” [77; tr 97-98]
Từ những thành tựu và hạn chế này, Đại hội đã thảo luận và đề ra phương hướng: “Tiếp tục chăm lo, xây dựng Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu của tình hình, nhiệm vụ mới” Những chủ trương và giải pháp xây dựng Đảng trong 5 năm tới được Đại hội đề ra cụ thể như sau:
Một là, tăng cường xây dựng Đảng về mặt chính trị, tư tưởng, trước hết phải
gắn chặt với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội Tổ chức quán triệt và xây dựng Chương trình hành động, thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII “Thường xuyên rèn luyện, tu dưỡng, năng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, lối sống, trình độ năng lực của cán bộ, đảng viên trên cơ sở thấm nhuần chủ nghĩa Mac - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước” [77, tr 68] Chủ động phát hiện kịp thời và đấu tranh kiên quyết với những quan điểm, hành vi sai trái với cương lĩnh, đường lối, quan điểm, Điều lệ của Đảng, giữ vững trận địa
tư tưởng
Hai là, coi trọng xây dựng Đảng bộ, chi bộ trong sạch vững mạnh Tăng
cường gắn bó chặt chẽ giữa Đảng với nhân dân, đổi mới, chỉnh đốn, nâng cao chất lượng hoạt động và sinh hoạt của các loại hình chi bộ, các cấp uỷ; thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ, thực hiện đúng những điều đảng viên không được làm; tăng cường đoàn kết, thống nhất trong Đảng; mọi đảng viên phải được phân công trách nhiệm cụ thể và thực hiện tốt nhiệm vụ được phân công; thường xuyên tiến hành tự phê bình và phê bình Tăng cường công tác phát triển Đảng, đảm bảo tiêu chuẩn, chất lượng [77, tr 69]
Trang 25Ba là, chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, thực hiện quy hoạch cán bộ, hết sức
coi trọng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cho trước mắt và lâu dài; từng bước trẻ hoá đội ngũ cán bộ, quan tâm hơn nữa đến đội ngũ cán bộ nữ các cấp; có chính sách thu hút, đào tạo, sử dụng nhân tài…[77, tr 70]
Bốn là, tăng cường công tác kiểm tra và kỉ luật của Đảng Xây dựng và kiện
toàn UBKT, tiến hành công tác kiểm tra chặt chẽ, rõ ràng, minh bạch, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm; đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của UBKT các cấp theo hướng tăng hiệu lực và trách nhiệm của UBKT
Năm là, tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, tăng cường sự lãnh
đạo của Đảng đối với công tác xây dựng chính quyền các cấp Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực công tác cho đại biểu HĐND và đội ngũ cán bộ, công chức;
bố trí những cán bộ có phẩm chất và năng lực vào vị trí công tác chính quyền; tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với dân [77, tr 71]
* Chủ trương của Đảng bộ huyện Yên Mô
Thi hành Chỉ thị số 54 - CT/TW của Bộ Chính trị và Kế hoạch của BTV Tỉnh
uỷ Ninh Bình về tổ chức Đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng, từ ngày 16 đến ngày 18/11/2000, Đảng bộ huyện Yên Mô tiến hành Đại hội lần thứ XIV nhiệm kỳ 2001 - 2005 Có 180 đại biểu được triệu tập đại diện cho 4 962 đảng viên toàn Đảng bộ Trên cơ sở bám sát những chủ trương của Đảng
và Tỉnh uỷ Ninh Bình, Đại hội đã thảo luận và xác định nhiệm vụ xuyên suốt của công tác xây dựng Đảng ở địa phương nhiệm kỳ 2001 - 2005 là: “tiếp tục đổi mới và chỉnh đốn Đảng, gắn chặt công tác xây dựng Đảng với nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội” với những mục tiêu cơ bản sau: tăng cường công tác chính trị, tư tưởng góp phần
ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường xây dựng Đảng về tổ chức,
mở rộng dân chủ, tăng cường kỉ luật và giữ vững đoàn kết trong Đảng Các cấp uỷ phải nắm vững và thực hiện đúng các quan điểm của Đảng về công tác cán bộ; tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng” [2, tr 6]
Đối với nhiệm vụ xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, Đảng bộ đã nêu rõ: Bồi dưỡng, nâng cao kiến thức, năng lực lãnh đạo, rèn luyện đạo đức, lối sống cách mạng của đội ngũ cán bộ, đảng viên tạo ra sự thống nhất cao trong nhận thức về Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, về con đường đi lên XHCN và
Trang 26nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức sinh hoạt Đảng Trên cơ sở chú trọng phát triển kinh tế phải đi liền với nâng cao hiệu quả văn hoá - xã hội, gắn với công bằng và tiến bộ xã hội để ổn định về tư tưởng, chính trị Vì vậy Đảng bộ rất coi trọng công tác chính trị, tư tưởng, coi đó là nhiệm vụ của toàn Đảng, của cả hệ thống chính trị, mà trước hết là của Bí thư cấp uỷ và thủ trưởng cơ quan, đơn vị
Để hoàn thành tốt nhiệm vụ xây dựng Đảng về chính trị, Đảng bộ huyện Yên
Mô đã đưa ra một số giải pháp như sau: Tổ chức quán triệt sâu sắc và xây dựng Chương trình hành động cụ thể, thiết thực để thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, Đại hội Đảng bộ tỉnh, huyện lần thứ XIV Tăng cường giáo dục nâng cao nhận thức về bản chất giai cấp công nhân của Đảng, lý luận Mac - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, về quan điểm, đường lối, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước Làm tốt công tác giáo dục, bồi dưỡng nâng cao trình độ lý luận, bản lĩnh chính trị và phẩm chất đạo đức của đội ngũ cán bộ, đảng viên Bên cạnh đó cũng cần phải “thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ, chế độ tự phê bình và phê bình; chấp hành quy định về 19 điều đảng viên không được làm” [2, tr 20] Chủ động dự báo tình hình, làm tốt công tác nắm bắt
dư luận xã hội, “phát hiện kịp thời và kiên quyết đấu tranh chống những quan điểm sai trái, những luận điệu xuyên tạc chủ nghĩa Mac - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
và quan điểm, đường lối của Đảng” [2, tr 20] Đặc biệt, cán bộ, đảng viên phải nêu cao trách nhiệm chủ động làm công tác tư tưởng, tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, gương mẫu về tư tưởng, đạo đức, lối sống
“Xây dựng, củng cố các Đảng bộ, chi bộ cơ sở, nâng cao năng lực lãnh đạo
và sức chiến đấu của Đảng bộ, chi bộ cơ sở đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ CNH - HĐH” được Đảng bộ Yên Mô coi là nhiệm vụ cơ bản nhất trong công tác xây dựng Đảng về tổ chức Muốn làm được điều đó thì từng chi bộ, Đảng bộ phải chủ động phát hiện và giải quyết tình trạng mất đoàn kết, thiếu thống nhất trong lãnh đạo, tiến hành kiểm tra, chỉ đạo kiểm điểm làm rõ đúng sai, vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, chia rẽ bè phái, mất đoàn kết nội bộ, tham nhũng, lãng phí, xử
lý nghiêm những cán bộ, đảng viên có khuyết điểm “Phấn đấu tất cả các Đảng bộ, chi bộ trực thuộc Huyện uỷ hàng năm đều được xếp loại khá trở lên (trong đó 90% được công nhận TSVM), không còn tổ chức yếu kém Làm tốt việc nhận xét, đánh
Trang 27giá, phân loại, các TCCSĐ và đảng viên hàng quý, hàng năm, đảm bảo khách quan, chính xác, thực chất” [2, tr 20] Phải tăng cường công tác quản lý, phân công nhiệm
vụ đảng viên; quan tâm đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ mọi mặt cho đội ngũ đảng viên Thực hiện tốt công tác phát triển Đảng, coi trọng tiêu chuẩn, chất lượng
Về công tác cán bộ: Đảng bộ chủ trương “nắm vững và thực hiện đúng các quan điểm của Đảng về công tác cán bộ, thực hiện nghiêm túc Chương trình hành động của Thường vụ Huyện uỷ theo tinh thần Nghị quyết TW 3 (khoá VIII) về chiến lược cán bộ” [2, tr 20] Thực hiện tốt quy định về đánh giá, bổ nhiệm lại, luân chuyển cán bộ, đảm bảo theo đúng quy trình, đúng người, đúng việc, đúng lúc Trong việc lựa chọn cán bộ cần phải tuyển chọn, giáo dục, bồi dưỡng, nâng cao năng lực, phẩm chất đội ngũ cán bộ Từng bước nâng cao trình độ chính trị, trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ mà trước hết là cán bộ xã, thị trấn, phấn đấu đến năm 2005, cán bộ chủ chốt xã, thị trấn phải có trình độ trung cấp lí luận chính trị và trình độ trung cấp hoặc Đại học chuyên môn Trong xây dựng đội ngũ cán bộ cần phải xây dựng đội ngũ cán bộ Đảng, chính quyền, đoàn thể có bản lĩnh chính trị vững vàng, có phẩm chất đạo đức, kiến thức, năng lực công tác để đáp ứng được những đòi hỏi, yêu cầu cơ bản của nhiệm vụ cách mạng trong thời kỳ đẩy mạnh CNH - HĐH đất nước Làm tốt công tác “quy hoạch cán bộ cho cả trước mắt
và lâu dài, khắc phục tình trạng quy hoạch chỉ là hình thức” [2, tr 20] Trong việc đánh giá cán bộ thì cần đổi mới quan niệm và phương pháp đánh giá Đánh giá và
sử dụng cán bộ phải căn cứ vào tiêu chuẩn cán bộ, yêu cầu công việc, lấy hiệu quả công tác và sự đóng góp thực tế làm thước đo phẩm chất và năng lực cán bộ
“Xây dựng, hoàn thiện quy chế làm việc phù hợp với loại hình tổ chức Đảng” được Đảng bộ coi là nhiệm vụ trung tâm trong việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng Bên cạnh đó cần phải nâng cao chất lượng tham mưu của các ban Đảng, phát huy trách nhiệm của các tổ chức Đảng, đảng viên hoạt động trong các cơ quan Nhà nước, đoàn thể Trong lãnh đạo, chỉ đạo thì phải “có trọng tâm, trọng điểm, tập trung, dứt điểm” Làm tốt công tác kiểm tra và kỉ luật của Đảng
“Thông qua kiểm tra ngăn chặn kịp thời những vi phạm kỉ luật của Đảng, pháp luật Nhà nước” [2, tr 21] Đồng thời nghiêm túc xem xét, giải quyết đơn thư tố cáo, xử
lý nghiêm những cán bộ, đảng viên có vi phạm
Trang 28Có thể nói rằng những mục tiêu, chủ trương, biện pháp cụ thể được trình bày tại Đại hội Đảng bộ lần thứ XIV của huyện về công tác xây dựng Đảng chính là minh chứng rõ ràng cho sự chuẩn bị chu đáo và tâm huyết của BCH Đảng bộ, trong
đó không thể không kể đến sự đóng góp quý báu của các ban ngành, đoàn thể và quần chúng nhân dân tạo thành phong trào toàn dân tham gia xây dựng Đảng Từ những chủ trương đúng đắn này, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện, trong nhiệm
kỳ 2001 - 2005, công tác xây dựng Đảng ở Đảng bộ Yên Mô hứa hẹn sẽ thu được những kết quả khả quan, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ XIV đề ra
1.2.2 Đảng bộ huyện Yên Mô chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ xây dựng Đảng
ở địa phương
Thứ nhất, Đảng bộ huyện Yên Mô chỉ đạo thực hiện xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị và thực hiện nhiệm vụ chính trị trung tâm
Chỉ đạo xây dựng Đảng bộ huyện vững mạnh về chính trị
Đại hội Đảng bộ huyện Yên Mô lần thứ XIV nêu rõ:
“Nền tảng quan trọng để xây dựng Đảng bộ huyện vững mạnh về chính trị trước hết là: kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo và phát triển phù hợp với thực tiễn Việt Nam; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới; kiên định những vấn đề
có tính nguyên tắc trong công tác xây dựng Đảng; không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng bộ huyện, năng lực hoa ̣ch đi ̣nh đường lối , chính sách phù hợp với quy luâ ̣t khách quan và đă ̣c điểm của huy ện” [2, tr 4]
Trên cơ sở đó, Đảng bộ huyện đã tích cực chỉ đạo nâng cao bản lĩnh chính trị
và trình độ trí tuệ của toàn Đảng bộ và của mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết của cán
bộ lãnh đạo chủ chốt cấp huyện, xã; không dao động trong bất kỳ tình huống nào,
dù khó khăn đến đâu cũng chủ đô ̣ng vượt qua , luôn giữ vững bản chất cách mạng của Đảng, không để ảnh hưởng, tác động xấu đến sự phát triển của đất nước và cuộc sống của nhân dân Và nhiệm vụ quan trọng cần tập trung là nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác tư tưởng, lý luận
Đảng bộ huyện Yên Mô cũng tích cực chỉ đạo tăng cường nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, làm sáng tỏ một số vấn đề về phát triển kinh tế - xã hội và
Trang 29những vấn đề mới nảy sinh trong quá trình tiến hành sự nghiệp đổi mới ở địa phương; kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động “diễn biến hoà bình”; chủ động phòng ngừa, đấu tranh, khắc phục sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên; giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng bộ huyện, sự đồng thuận của nhân dân trong huyện nhà
Chỉ đạo thực hiện thực hiện nhiệm vụ chính trị trung tâm
Trên cơ sở phân tích những thành tựu đã đạt được và những việc chưa làm được trong quá trình Đảng bộ lãnh đạo thực hiện các chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương nhiệm kỳ 1996 - 2000, Đại hội đại biểu Đảng bộ Yên Mô lần thứ XIV (11/2000) đã đề ra những chủ trương phát triển kinh tế - xã hội của huyện trong nhiệm kỳ 2001 - 2005 Trước tiên trên lĩnh vực kinh tế, nhiệm vụ xuyên suốt trong 5 năm này được xác định là: tiếp tục phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế Đảng bộ chủ trương trong những năm từ 2001 đến 2005, kinh tế của huyện phải đạt tốc độ tăng trưởng 7%/năm Bình quân hàng năm giá trị sản xuất nông nghiệp tăng 4-5%, công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và xây dựng cơ bản tăng 13%, dịch vụ tăng 8,5% [2, tr 14] Sản lượng lương thực quy thóc bình quân hàng năm là 70 ngàn tấn; bình quân lương thực đầu người đạt 600kg/năm; giá trị sản phẩm trên một ha canh tác đạt 24 triệu đồng/năm Cơ cấu kinh tế đến năm 2005 chuyển dịch dần theo hướng hiện đại, trong đó công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp
và xây dựng cơ bản chiếm tỉ trọng 15%, dịch vụ chiếm tỷ trọng 25%, nông nghiệp chiếm tỷ trọng 60% [2, tr 14] Phấn đấu giảm hộ nghèo xuống còn dưới 5%, không còn hộ đói Bình quân thu nhập đầu người đến năm 2005 tăng gấp 1,5 lần so với năm 2000
Để đạt được những mục tiêu trên thì nhiệm vụ chủ yếu, trọng tâm của huyện trong nhiệm kỳ 2001 - 2005 là: phát triển nông nghiệp toàn diện, đảm bảo an toàn lương thực, từng bước chuyển sang sản xuất hàng hóa Phương hướng chung là: phát huy tiềm năng, thế mạnh về đất đai, lao động, kinh nghiệm sản xuất nhằm mục tiêu phát triển toàn diện với nhịp độ cao, vươn lên sản xuất hàng hoá có sức cạnh tranh trên thị trường Đảng bộ cũng đưa ra một số giải pháp như “chú trọng phát triển mạnh mẽ cả về trồng trọt và chăn nuôi, trong đó đặc biệt tiếp thu ứng dụng tiến
bộ khoa học kĩ thuật, đảm bảo an toàn về lương thực, có dự trữ và giành một phần
Trang 30cho xuất khẩu” [2, tr 15], tăng nhanh giá trị của chăn nuôi Phấn đấu đến năm 2005,
tỉ trọng giá trị nông nghiệp là: trồng trọt 70%, chăn nuôi 30%
Đối với nghành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp với mục tiêu đưa ra đến năm 2005 đạt tỷ trọng 15%, Đảng bộ đã chú trọng trong nhiệm kì 2000 - 2005 cần phải “phát huy tiềm năng, thế mạnh của huyện về lao động, về nguồn vật liệu xây dựng, về kinh nghiệm để phát triển đa dạng ngành nghề, sản phẩm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp” [2, tr 16], trong đó chú trọng phát triển các ngành nghề truyền thống, đầu tư phát triển các ngành nghề mới như nứa chắp, mây giang, đan, nghề trồng nấm…, tiếp tục liên hệ mở rộng và tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm,
“tạo điều kiện thuận lợi khuyến khích các doanh nghiệp, các tổ hợp mở rộng quy
mô sản xuất, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động” [51, tr 13]
Đối với dịch vụ, Đảng bộ chủ trương “phát triển đa dạng các loại hình dịch
vụ ở địa bàn nông thôn, củng cố, xây dựng chợ nông thôn; hình thành các thị tứ ở các cụm liên xã, tạo điều kiện cho các hộ kinh doanh thuận lợi, đáp ứng yêu cầu sản xuất, đời sống và đảm bảo thực hiện cơ cấu kinh tế” [2, tr 16] Phát triển đa dạng các loại hình vận tải và nâng cao chất lượng dịch vụ bưu chính viễn thông Phấn đấu đến năm 2005 bình quân 1000 người dân có 11 máy điện thoại
Về việc xây dựng quan hệ sản xuất mới, Đảng bộ chủ trương nâng cao chất lượng hoạt động của các hợp tác xã, đảm bảo tốt các khâu dịch vụ, cả đầu vào và đầu ra, mở rộng hình thức hợp tác xã tổ chức kinh doanh dịch vụ sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm và tín dụng Mục tiêu từ nay đến năm 2005 là đưa kinh tế tập thể thoát khỏi những yếu kém hiện nay, phấn đấu tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn, tiến tới có tỷ trọng ngày càng lớn hơn trong GDP của nền kinh tế
Với các vấn đề xã hội, Đảng bộ Yên Mô nhấn mạnh cần tạo bước chuyển biến tích cực về giải quyết việc làm và xoá đói nghèo, “trên cơ sở đẩy mạnh phát triển sản xuất kinh doanh, thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn Phấn đấu 70 - 80% số lao động có việc làm ổn định, có thu nhập đảm bảo cuộc sống” [2, tr 19], tiếp tục thực hiện có hiệu quả chương trình xoá đói giảm nghèo bằng việc tạo điều kiện cho các hộ này vay vốn đồng thời chú trọng công tác đào tạo nghề, hướng dẫn sản xuất, kinh doanh; tiếp tục triển khai tốt công tác dân số
kế hoạch hoá gia đình, quan tâm, chăm sóc, nâng cao sức khoẻ nhân dân, “phấn đấu
Trang 31đến năm 2005 mức giảm sinh 0,4%o, giảm tỷ lệ sinh con thứ ba xuống còn 15%, giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi xuống còn 25,2%” [52, tr 13], tiếp tục đẩy mạnh phong trào toàn dân tham gia xây dựng đời sống văn hoá Đối với công tác quốc phòng an ninh cần phải “gắn nhiệm vụ quốc phòng an ninh với phát triển kinh tế, xã hội, củng cố vững chắc nền quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân” [2, tr 19], góp phần nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, chống âm mưu “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch
Để thực hiện các chủ trương, chính sách trên, Đảng bộ Yên Mô đã chú trọng việc chỉ đạo các cấp chính quyền, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc huyện củng cố tổ chức
và hoạt động nhằm đạt mục tiêu đề ra Trong nhiệm kì 2001 - 2005, hoạt động của HĐND, UBND các cấp trong huyện đạt được những thành tựu đáng kể: kiện toàn chức danh Chủ tịch, Phó chủ tịch UBND huyện, các ban HĐND huyện nhiệm kỳ
2004 - 2009; triển khai thực hiện mô hình một cửa ở các xã, thị trấn Đến nay UBND huyện đã phê duyệt đề án của 15 xã, thị trấn, ban hành 1 722 văn bản để thực hiện nhiệm vụ, tiếp nhận và xử lý 2 054 văn bản của cấp trên, sao lục và chuyển đến các đơn vị 625 văn bản để tổ chức thực hiện
Dưới sự chỉ đạo của Đảng bộ huyện, các ban, ngành, đoàn thể trong huyện đã
ra sức thực hiện các nhiệm vụ về chính trị mà Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ XIV đã đề ra nhằm phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Trong công tác xoá đói giảm nghèo, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc huyện đã phối hợp hoạt động với Hội nông dân, Hội phụ nữ, Đoàn thanh niên… tổ chức động viên nhân dân giúp đỡ nhau đẩy mạnh sản xuất, phát triển kinh tế VAC bằng việc hỗ trợ vốn, cây con giống, phổ biến kinh nghiệm và những tiến bộ khoa học kỹ thuật để áp dụng vào sản xuất nhằm thực hiện mục tiêu xóa đói giảm nghèo Hội nông dân có câu lạc bộ “sản xuất giỏi”, Đoàn thanh niên có “hội khuyến nông trẻ”, “tuổi trẻ lập nghiệp”, … các câu lạc bộ này đã thu hút được đông đảo các hội viên, đoàn viên và nhân dân tham gia
Đặc biệt, để chỉ đạo chung trên lĩnh vực kinh tế, Đảng bộ huyện trong nhiệm
kì 2001 - 2005 đã cho ra một số Chương trình hành động: Chương trình hành động
thực hiện Nghị quyết TW 5 (khoá IX) về “Tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao
hiệu quả kinh tế tập thể”, Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết TW 5
(khoá IX) về “Tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách khuyến khích và tạo điều kiện
Trang 32phát triển kinh tế tư nhân” ở huyện Yên Mô thời kỳ 2001 - 2010, Chương trình
hành động thực hiện công tác xoá đói giảm nghèo và giải quyết việc làm đến hết năm 2005…
Khi đánh giá về kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ Yên Mô trong việc đề ra Nghị quyết, chủ trương, đường lối phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và lãnh đạo chính quyền các đoàn thể thực hiện các chủ trương đó nhiệm kỳ
2001 - 2005, Văn kiện Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XV đã nêu rõ: “BCH Đảng bộ huyện, BTV Huyện uỷ và các cấp, các ngành từ huyện đến cơ sở đã cụ thể hoá Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp thành Chương trình hành động phù hợp với tình hình thực tiễn ở địa phương, đơn vị” Nhưng bên cạnh đó, Đảng bộ cũng mắc một số khuyết điểm, yếu kém trong lĩnh vực này: Công tác xây dựng hệ thống chính trị tuy
có cố gắng song vẫn còn những bất cập; năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu ở một số TCCSĐ và nhiều chi bộ còn hạn chế, chưa ngang tầm với yêu cầu, nhiệm vụ; việc thực hiện nhiệm vụ kiểm tra ở một số cấp uỷ chưa đi vào nền nếp, có nơi còn vi phạm quyền làm chủ của nhân dân; việc đấu tranh, xử lý những biểu hiện lợi dụng dân chủ, lôi kéo, kích động khiếu kiện chưa kiên quyết [3, tr 15]; quản lý Nhà nước trên một
số lĩnh vực và tổ chức điều hành vẫn là khâu yếu, chậm được khắc phục
Thứ hai, chỉ đạo xây dựng Đảng về mặt tư tưởng
Chỉ đạo tuyên truyền, thực hiện Nghị quyết Đại hội IX và Đại hội Đảng bộ các cấp
Sau khi Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng thành công, Ban Tuyên giáo Huyện ủy Yên Mô đã tổ chức các buổi thông báo nhanh kết quả Đại hội đến 100% cơ sở Đảng Mặt khác, Huyện ủy còn tổ chức các lớp học chuyên đề về Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX Kết quả là 100% các đồng chí Ủy viên Thường vụ Huyện ủy và các Đảng ủy, các ban ngành, các đoàn thể đã được tham gia học tập Bên cạnh đó, nội dung của các Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp, các chương trình, đề án, kế hoạch của Huyện ủy cũng được quán triệt sâu rộng đến đội ngũ cán bộ chủ chốt, đảng viên và quần chúng nhân dân trong huyện Ngay sau khi Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng thành công, ngày19/6/2001, Huyện uỷ đã ra Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội Chương trình đã chủ trương: nhất thiết từ tháng 5/2001, mỗi chi bộ, mỗi UBND, HĐND,
Trang 33mỗi cơ sở Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh đều có báo Nhân dân hàng ngày
và báo Ninh Bình, mỗi cơ sở Đảng đều phải có ít nhất 1 Tạp chí Cộng sản theo quy định của Chỉ thị 11 - CT/TW của Bộ Chính trị
Những năm sau đó công tác tư tưởng của Đảng bộ tập trung vào việc tiếp tục tuyên truyền và tổ chức học tập các Nghị quyết TW 5, 6, 7, 8 (Khóa IX), các Nghị quyết của Tỉnh ủy Đặc biệt, đối với Nghị quyết TW8 về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới đã được quán triệt tới 85-95% cán bộ, đảng viên [28, tr 4] Các đơn vị, TCCSĐ có tỷ lệ đảng viên đi học cao nhất là: Đảng ủy công an 97,3%; Đảng
ủy Bệnh viện đa khoa huyện 95%; Yên Phong 89%; Yên Lâm 98,8%; Yên Mạc 87%; Yên Thịnh 94,5%
Chỉ đạo thực hiện tuyên truyền, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh
Ngày 17/3/2003, Ban Bí thư TW Đảng đã ra Chỉ thị 23/CT-TW về “Đẩy
mạnh nghiên cứu, tuyên truyền giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn mới” Theo tinh thần của Chỉ thị này, Đảng bộ huyện Yên Mô đã xác định trọng
tâm của công tác giáo dục chính trị tư tưởng nhiệm kỳ 2001 - 2005 nhằm vào việc
tổ chức thực hiện các đợt học tập, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh cho cán bộ, đảng viên và toàn thể quần chúng nhân dân Đây thực sự là đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng được triển khai trong toàn huyện Huyện ủy đã tổ chức học tập tư tưởng Hồ Chí Minh cho trên 5 700 lượt cán bộ, đảng viên và trên 239 lượt báo cáo viên ở cơ
sơ Cùng với việc học tập, Huyện ủy Yên Mô còn tổ chức thành công hội thi “Báo cáo viên giỏi về tư tưởng Hồ Chí Minh” ở cấp cơ sở và cấp huyện, chọn 2 thí sinh tham gia hội thi cấp tỉnh và đạt giải ba [28, tr 4] Huyện ủy Yên Mô còn đưa chương trình giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh vào 100% các trường học trong huyện
và tổ chức cuộc thi tìm hiểu về tư tưởng Hồ chí Minh cho đối tượng thanh thiếu niên, thu hút 58 724 lượt người tham dự Qua nghiên cứu, học tập đã củng cố thêm nhận thức của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ về chủ nghĩa Mac - Lênin và tưởng Hồ Chí Minh, tạo ra sự chuyển biến rõ nét về nhận thức và lao động trong cán bộ, đảng viên và nhân dân Đã có nhiều tập thể và cá nhân tiêu biểu làm theo tấm gương đạo đức của Bác
Chỉ đạo công tác tuyên truyền trong lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội
Trang 34Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Huyện ủy và Hướng dẫn của Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Ninh Bình, công tác tư tưởng từ huyện đến cơ sở cũng đã chủ động xây dựng kế hoạch tuyên truyền, giáo dục truyền thống và phục vụ những sự kiện chính trị lớn Năm 2003, công tác tuyên truyền tập trung vào việc cổ động cho sự kiện Đại hội thể dục thể thao Đông Nam Á - Seagame 22 được tổ chức ngay tại Việt Nam Việc tổ chức các hoạt động kỷ niệm và đặc biệt là tổ chức thành công tốt đẹp sự kiện trọng đại này đã tạo nên không khí vui mừng, phấn khởi, góp phần nâng cao niềm tự hào dân tộc trong các tầng lớp nhân dân
Năm 2004, dưới sự chỉ đạo của Huyện ủy, các ban ngành, đoàn thể đã tiến hành tuyên truyền sâu rộng công tác bầu cử đại biểu Quốc hội khóa IX Công tác vận động bầu cử cũng thu được kết quả khả quan, có 99,56% số cử tri của huyện đi bầu Cuộc bầu cử Hội đồng nhân dân 3 cấp (nhiệm kỳ 2004 - 2009) đã kết thúc thắng lợi đảm bảo dân chủ, an toàn, tiết kiệm và đúng luật
Ngoài những sự kiện tiêu biểu, trong nhiệm kỳ 2001 - 2005 những hoạt động tuyên truyền kỷ niệm các ngày lễ lớn của Đảng, của đất nước, của dân tộc cũng được Đảng bộ huyện Yên Mô tổ chức sâu rộng như: kỷ niệm ngày thành lập Đảng 3/2, ngày giải phóng miền Nam 30/4, ngày sinh chủ tịch Hồ Chí Minh 19/5, ngày Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9, tuyên truyền về các kỳ họp của Quốc hội, về Hội nghị TW Đảng lần thứ XI, XII (khóa IX) v.v… dưới nhiều hình thức phong phú, đa dạng, chất lượng, thiết thực như: mít tinh, tham quan, biểu diễn văn nghệ, tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng như báo, đài phát thanh huyện, tập san, tạp chí, tổ chức tuyên truyền trực quan bằng băng dôn, khẩu hiệu, panô, bảng ảnh trưng bày triển lãm trong các Đại hội, Hội nghị và lễ hội… Bên cạnh đó, Đảng bộ còn tổ chức thành công các cuộc thi tìm hiểu “75 năm lịch sử vẻ vang của Đảng Cộng sản Việt Nam” và “60 năm nước Cộng hòa XHCN Việt Nam” thu hút đông đảo cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân tham gia [3, tr 9] Đảng bộ cũng thường xuyên tổ chức các buổi tuyên truyền phục vụ các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng trong đó tập trung chủ yếu vào các nội dung như: chuyển đổi cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp nông thôn ứng dụng các tiến bộ khoa học kĩ thuật, đưa giống mới vào sản xuất, tăng năng suất cây trồng vật nuôi, phát triển các mô hình kinh tế trang trại, xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn,
Trang 35kênh mương nội đồng theo hướng xây dựng nông thôn mới Đối với công tác xã hội, Đảng bộ còn kết hợp cùng các đoàn thể xã hội tuyên truyền cho nhân dân hiểu
và thực hiện xây dựng nếp sống văn minh trong việc cưới, tang và lễ hội; vận động nhân dân tham gia phong trào đền ơn đáp nghĩa Cụ thể là trong 5 năm qua, Đảng
bộ đã đầu tư một phần ngân sách cùng với huy động đóng góp của nhân dân tu sửa, xây dựng đài liệt sỹ, nhà bia tưởng niệm; gây quỹ “vì người nghèo” để tạo nguồn giúp đỡ các hộ gia đình có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn xây dựng nhà ở và vốn phát triển sản xuất, triển khai kế hoạch xuất khẩu lao động đi nước ngoài, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động; tuyên truyền kế hoạch hóa gia đình; giữ gìn
vệ sinh môi trường…
Chỉ đạo công tác biên soạn lịch sử Đảng
Công tác sưu tầm, nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng cũng được BTV Huyện ủy hết sức quan tâm Ngay từ đầu năm 2001, Huyện ủy đã triển khai kế
hoạch biên soạn cuốn “Lịch sử Đảng bộ huyện giai đoạn 1976 - 2000” và đã cơ bản
hoàn thành việc sưu tầm tư liệu và soạn thảo đề cương chi tiết Tính đến hết năm
2005 đã có 5/18 đơn vị hoàn thành xuất bản lịch sử Đảng bộ
Kết quả của việc thực hiện tốt công tác chính trị - tư tưởng đã tạo nên các phong trào sôi nổi trên những lĩnh vực của đời sống - xã hội Phong trào văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao được triển khai đồng bộ, tiếp tục phát huy kết quả đã đạt được trong những năm qua, tạo sự chuyển biến tích cực trong đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân Năm 2005 toàn huyện có khoảng 4 600 gia đình được công nhận
là gia đình thể thao, 14 câu lạc bộ thể dục thể thao hoạt động tập luyện ở nhiều bộ môn và có khoảng trên 44 000 người (trong đó có cả học sinh) thường xuyên tham gia tập thể dục buổi sáng, tập luyện cầu lông, bóng đá, bóng chuyền… [53, tr 4]
Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” tiếp tục
phát triển sâu rộng Tính đến cuối năm 2005, toàn huyện có 44 đơn vị, 4 058 gia đình được công nhận đạt văn hóa cấp huyện, 10 đơn vị được công nhận văn hóa cấp tỉnh [53, tr 4] Các phong trào trong các đoàn thể của Mặt trận Tổ quốc cũng được
tổ chức có chất lượng Từ trong các phong trào nhiều gương người tốt việc tốt đã được nhân rộng
Trang 36Với những nỗ lực về mọi mặt, công tác chính trị - tư tưởng của Đảng bộ Yên
Mô đã đạt được kết quả có ý nghĩa Đại đa số cán bộ, đảng viên và nhân dân trong huyện đều tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, vào sự nghiệp đổi mới, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tích cực thực hiện thắng lợi các nhiệm
vụ chính trị của địa phương Tuy nhiên trong công tác chính trị - tư tưởng nhiệm kỳ
2001 - 2005 Đảng bộ huyện Yên Mô vẫn còn tồn tại một số điểm cần khắc phục: Việc tổ chức quán triệt học tập các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, học tập tư tưởng
Hồ Chí Minh ở một số nơi chất lượng chưa cao, tỷ lệ đảng viên dự học thấp, ý thức học tập của một bộ phận đảng viên còn hạn chế, do đó có hiện tượng hiểu sai, nhận thức chưa đầy đủ về quan điểm, chủ trương và chính sách của Đảng Mặt khác, công tác tham mưu của Ban Tuyên giáo từ huyện đến cơ sở có lúc, có việc còn thiếu chủ động, nhất là việc nắm bắt diễn biến tư tưởng, dư luận xã hội để định hướng tư tưởng, dư luận ở một số nơi chưa kịp thời, bị động Công tác thông tin, tuyên truyền
cả chiều sâu và bề nổi so với yêu cầu còn có mặt hạn chế Công tác biên soạn lịch
sử Đảng của huyện và các xã tiến độ chậm, không đạt mục tiêu đã đề ra
Thứ ba, chỉ đạo xây dựng Đảng về mặt tổ chức
Chỉ đạo xây dựng TCCSĐ trong sạch vững mạnh
Củng cố Đảng về tổ chức là một yêu cầu cấp bách trong công tác xây dựng Đảng, đảm bảo cho tổ chức Đảng chặt chẽ, thống nhất ý chí và hành động, hoạt động nhịp nhàng, có hiệu quả Vì vậy, ngay từ đầu nhiệm kỳ, sau khi các tổ chức Đảng và Đại hội Đảng bộ huyện kết thúc thành công, tổ chức bộ máy của Đảng từ huyện đến cơ sở cũng được củng cố, kiện toàn Trên tinh thần tiếp tục thực hiện
Nghị quyết TW 5 (khóa IX) về “Đổi mới và nâng cao chất lượng của hệ thống
chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn”, xác định được vai trò quan trọng của hệ
thống chính trị ở cơ sở cho nên Đảng bộ Yên Mô đã khẳng định nhiệm vụ trọng tâm trong công tác củng cố các TCCSĐ là: đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo của TCCSĐ ở cơ sở Đặc biệt là chi bộ xóm, phố Chi bộ xóm, phố phải làm đúng vai trò hạt nhân lãnh đạo toàn diện các mặt
Công tác củng cố cơ sở Đảng ở Đảng bộ Yên Mô tập trung vào các mặt sau đây: tiếp tục bổ sung, hoàn thiện quy chế hoạt động của các loại hình TCCSĐ; đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động chi bộ; cải tiến phong cách, lề lối làm việc, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân Một trong những nội dung được
Trang 37Đảng bộ Yên Mô nhấn mạnh đó là tiếp tục cải tiến nội dung sinh hoạt, nâng cao chất lượng hoạt động của các chi bộ, Đảng bộ theo kế hoạch số 24 KH/TCTU của Ban tổ chức Tỉnh ủy Theo định kỳ vào ngày mồng 3 mỗi tháng, các chi bộ duy trì đều đặn buổi sinh hoạt Căn cứ vào tình hình thực tiễn ở các địa phương mà cấp ủy triệu tập các buổi sinh hoạt để thảo luận về các chuyên đề như: triển khai kế hoạch sản xuất mùa vụ; bàn về công tác vệ sinh môi trường, an ninh trật tự trên địa bàn; xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn… Thời gian trung bình trong mỗi buổi họp kéo dài từ 2,5 đến 3 giờ, tùy thuộc vào nội dung họp của từng tháng Địa điểm
ở nhà văn hóa của thôn xóm Nhìn chung, số lượng đảng viên tham gia sinh hoạt tương đối đầy đủ, đạt từ 80-85%, các buổi sinh hoạt có nội dung sâu sắc, đảm bảo đúng nguyên tắc tập trung dân chủ, thông qua Nghị quyết chi bộ Do vậy, các TCCSĐ đã phát huy được vai trò lãnh đạo về mọi mặt của đời sống chính trị ở địa phương, tạo được sự đoàn kết thống nhất giữa Đảng và quần chúng nhân dân, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đảng bộ đề ra
Thực hiện Chỉ thị số 30 - CT/TW của Bộ Chính trị khóa VIII về “Xây dựng
và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở”, Đảng bộ huyện Yên Mô đã chỉ đạo các cấp
ủy cơ sở kiện toàn, củng cố các TCCSĐ Huyện ủy chỉ đạo trước hết phải thực hiện dân chủ trong Đảng Các chủ trương, Quyết định đều phải được đưa ra bàn bạc, thảo luận dân chủ, thống nhất trong BCH Đảng bộ và trong tổ chức Đảng Bên cạnh đó, các cấp ủy cơ sở còn phải sâu sát cơ sở, lắng nghe ý kiến nhân dân,
tổ chức nhân dân tham gia đóng góp ý kiến phê bình cán bộ, đảng viên; xây dựng quy trình lấy ý kiến đóng góp, phê bình nhận xét cán bộ, đảng viên, nhất là đối với cán bộ chủ chốt, giúp cho việc đánh giá, bố trí, sử dụng cán bộ chặt chẽ, khách quan và chính xác hơn
Hàng năm Đảng bộ Yên Mô đều tiến hành rà soát, phân loại TCCSĐ để tìm
ra những nguyên nhân, biện pháp phù hợp củng cố TCCSĐ vững mạnh và giải quyết các cơ sở Đảng yếu kém Trên cơ sở khảo sát thực tế ở những cơ sở Đảng vững mạnh và một số cơ sở Đảng còn gặp khó khăn, Ban tổ chức Huyện ủy đã kết hợp với các cấp ủy cơ sở xác định rõ nguyên nhân của những khó khăn để từ đó đề
ra biện pháp khắc phục thích hợp và xử lý nghiêm minh những cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật Đảng, bố trí lại cán bộ, quán triệt nguyên tắc tập trung dân chủ trong
Trang 38lãnh đạo Đảng, củng cố các đoàn thể quần chúng Trong nhiệm kỳ, Huyện ủy Yên
Mô đã tiến hành kiểm tra việc chấp hành Chỉ thị, Nghị quyết của cấp trên, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, thực hiện nhiệm vụ được giao đối với 38 tổ chức Đảng Qua kiểm tra đã xử lý kỉ luật 3 tổ chức Đảng Công tác kiểm tra đã góp phần nâng cao trách nhiệm, ý thức tổ chức kỷ luật của cán bộ, đảng viên, giữ gìn kỷ luật,
kỷ cương trong Đảng [3, tr 11]
Nhìn chung, trong nhiệm kỳ 2001 - 2005 các TCCSĐ đã giữ vững và phát huy được vai trò lãnh đạo, sức chiến đấu được nâng lên Một số TCCSĐ nhiều năm liền duy trì được thành tích TSVM như: Đảng bộ xã Yên Thái, Đảng bộ Quân sự huyện, Đảng bộ Mai Sơn, Yên Thắng, Khánh Dương Một số Đảng bộ có khó khăn
đã có chuyển biến tích cực như: Đảng bộ xã Yên Từ, Yên Hòa Tính đến tháng 12/2005, Đảng bộ huyện Yên Mô có 61 TCCSĐ bao gồm 18 Đảng bộ xã, thị trấn; 4 Đảng bộ cơ quan; 39 chi bộ cơ quan trực thuộc Điều đáng nói là trong 5 năm 2001
- 2005, số TCCSĐ đạt trong sạch vững mạnh không ngừng tăng lên, không có TCCSĐ yếu kém Nếu như số TCCSĐ trong sạch vững mạnh năm 2002 là 61,6% thì năm 2003 là 78,3%, năm 2004 số TCCSĐ đạt TSVM đã lên tới 83,3% (trong đó
có 28% đạt TSVM tiêu biểu) Năm 2005, Đảng bộ huyện được BCH Đảng bộ tỉnh tặng bằng khen đơn vị hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong nhiệm kỳ 2001 - 2005 và
3 TCCSĐ được tặng cờ thi đua, bằng khen (Đảng bộ xã Yên Thái, Đảng bộ Quân sự huyện và chi bộ UBKT Huyện ủy) [3, tr 10]
Tuy nhiên, công tác xây dựng, củng cố TCCSĐ của Đảng bộ huyện Yên Mô
từ năm 2001 đến năm 2005 vẫn tồn tại những bất cập: Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của một số tổ chức Đảng còn hạn chế, chất lượng sinh hoạt chi bộ chưa cao; thực hiện chế độ tự phê bình và phê bình ở một số tổ chức Đảng chưa thường xuyên, chưa nghiêm túc; công tác quản lý, phân công nhiệm vụ đảng viên ở một số nơi chưa được coi trọng, còn mang tính hình thức [3, tr 15]
Chỉ đạo xây dựng đội ngũ đảng viên
Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên về phẩm chất, năng lực, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng trong từng giai đoạn, từng thời kỳ đi lên của đất nước luôn là vấn đề quan trọng và then chốt của công tác xây dựng Đảng Trong
Trang 39nhiệm kỳ 2001 - 2005, công tác đảng viên luôn được Huyện ủy Yên Mô quan tâm, chú trọng Việc tiến hành tự phê bình và phê bình theo tinh thần Nghị quyết TW 6 lần 2 (khóa VIII) được tiến hành từ huyện đến cơ sở, dân chủ trong Đảng được phát huy Nội dung các Quy định số 19 - QĐ/TW (3/1/2002) của Bộ Chính trị về những
điều đảng viên không được làm và Quy định 76 - QĐ/TW của Bộ Chính trị “Về
đảng viên đang công tác giữ mối liên hệ với cấp ủy nơi cư trú” đã được triển khai
thực hiện một cách nghiêm túc 100% đảng viên trong cơ quan, doanh nghiệp trong huyện đã thường xuyên dự sinh hoạt với cấp uỷ và gắn mối liên hệ với cấp uỷ cơ sở, góp phần tăng cường mối liên hệ công tác giữa đảng viên trong cơ quan, doanh nghiệp Nhà nước với cấp uỷ, đảng viên và quần chúng nơi cư trú [49, tr 7]
Trong nhiệm kỳ Đảng bộ Yên Mô cũng tập trung chỉ đạo việc thực hiện Nghị quyết TW 6 lần 2 (khóa VIII) Công tác phê bình và tự phê bình trong Đảng được đẩy mạnh, các bản kiểm điểm của các cấp ủy Đảng, đội ngũ đảng viên đều tập trung phân tích những thiếu sót, tồn tại, tìm nguyên nhân và đề ra phương hướng sửa chữa, khắc phục, thực hiện phương châm nói đúng, nói hết, sai đâu sửa đấy, ai sai cũng phải sửa trên tinh thần xây dựng Việc thực hiện đánh giá, phân loại đảng viên được tiến hành một cách khách quan, nghiêm túc theo đúng Hướng dẫn số 18 - HD/TW và Hướng dẫn số 20 - HD/TW của Ban tổ chức TW “Năm
2004, có 63,9% đảng viên đủ tư cách hoàn thành tốt nhiệm vụ (trong đó có 18,7% đảng viên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ); đảng viên vi phạm tư cách còn 1,1% so với đầu nhiệm kỳ giảm 1,9%” [3, tr 11] Kết quả phân loại đảng viên trong nhiệm
kỳ 2001 - 2005 như sau:
Trang 40Tỷ lệ % Số
đảng viên
Tỷ lệ
%
Số đảng viên
Tỷ lệ
%
Số đảng viên
Số liệu cụ thể như sau: Năm 2001 đã bồi dưỡng kết nạp được 237 đảng viên mới, tăng 8% so với năm 2000 Trong số mới kết nạp, Đoàn viên thanh niên có 168 đồng chí (71%) Nữ có 114 đồng chí (48,7%); trình độ văn hoá cấp III có 193 đồng chí (81,2%); trình độ chuyên môn nghiệp vụ Đại học, Cao đẳng có 56 đồng chí