1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tieu luan QLNN về hồ sơ thầu công nghệ thông tin

18 360 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 208,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tieu luan QLNN về hồ sơ thầu công nghệ thông tin sai phạm trong đấu thầu dự án nâng cấp hệ thống một cửa điện tử Tieu luan QLNN về hồ sơ thầu công nghệ thông tin sai phạm trong đấu thầu dự án nâng cấp hệ thống một cửa điện tử

Trang 1

PHẦN I

LỜI NÓI ĐẦU

 

Việt Nam đang trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế, kinh tế trong nước đang dần chuyển dịch sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, với những bước tăng trưởng mạnh mẽ thông qua các kết quả tăng trưởng GDP hàng năm Đây vừa là cơ hội, động lực, song lại là thách thức rất lớn về nhu cầu cải cách hành chính công, nhằm đáp ứng, theo kịp nhu cầu phát triển kinh tế, văn hóa trong xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Các nội dung của cải cách hành chính công nhằm Xây dựng hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước từ trung ương tới cơ sở thông suốt, minh bạch, vững mạnh, hiện đại, hiệu lực, hiệu quả, tăng tính dân chủ và pháp quyền trong hoạt động điều hành của Chính phủ và của các cơ quan hành chính nhà nước để từng bước hiện đại hóa, phục vụ tốt hơn nhu cầu thiết yếu, đảm bảo các quyền và nghĩa vụ cơ bản của người dân Để giải quyết triệt để các bất cập trong

cơ chế vận hành của bộ máy quản lý tại các cơ quan Nhà nước, từng bước tăng cường hiệu lực hiệu quả, ngày 17/01/2007, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 30/QĐ-TTg, được gọi là

Đề án 30, đơn giản hóa thủ tục hành chính, được thực hiện đồng bộ, từ Trung ương tới cơ sở, với sự tham gia của cả hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước, cũng như của mọi người dân

và doanh nghiệp trong giai đoạn 2007-2010 Thực hiện tốt Đề án 30 sẽ giải quyết cơ bản về thể chế, quan điểm, phương thức của bộ máy hành chính trong hoạt động hành chính công, lấy nhân dân làm trung tâm, theo đúng tinh thần, quan điểm lãnh đạo của Đảng ta là “xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân” Với Đề án 30, lần đầu tiên Việt Nam đã thiết lập và công bố công khai được bộ cơ sở dữ liệu quốc gia về Thủ tục hành chính (TTHC) áp dụng tại 4 cấp chính quyền với hơn 5.700 TTHC, 7.870 văn bản quy định và hơn 85.000 biểu mẫu thống kê TTHC Không chỉ vậy, Đề án 30 giúp chuẩn hóa thu gọn từ 10.000

bộ thủ tục cấp xã, 700 bộ TTHC cấp huyện xuống chỉ còn 63 bộ TTHC cấp xã và 63 bộ cấp huyện tại 63 tỉnh, thành Trung ương trên cả nước

Thông qua quá trình hội nhập, Việt Nam đã tiếp cận, học tập được thành tựu cũng như việc cần đổi mới từ các Quốc gia phát triển và một trong những yếu tố cấu thành sự phát triển

đó có thể kể đến là phát triển ngành Công nghệ Thông tin (CNTT) như Đảng ta đã xác định

“Ứng dụng và phát triển CNTT ở nước ta nhằm góp phần giải phóng sức mạnh vật chất, trí tuệ

và tinh thần của toàn dân tộc, thúc đẩy công cuộc đổi mới, phát triển nhanh và hiện đại hoá các ngành kinh tế, tăng cường năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, hỗ trợ có hiệu quả cho quá trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, đảm bảo an ninh, quốc phòng và tạo khả năng đi tắt đón đầu để thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá” tại Chỉ thị số 58-CT/TW ngày 17/10/2000

Thực hiện Luật CNTT và Luật Giao dịch điện tử; Chính phủ đã ban hành Nghị định số 64/2007/NĐ-CP ngày 10/4/2007 về Ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước

Trang 2

Nghị định này quy định cụ thể về việc xây dựng cơ sở hạ tầng thông tin, cung cấp nội dung thông tin, phát triển nguồn nhân lực CNTT, đầu tư cho ứng dụng CNTT Qua đó, Chính phủ cũng đã thể hiện quyết tâm đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong các cơ quan nhà nước nhằm cải tiến và minh bạch các quy trình công việc, thủ tục hành chính Đây là cơ sở pháp lý quan trọng cho phép các cơ quan xây dựng kế hoạch ứng dụng CNTT của riêng mình Nghị định đã giúp cho quá trình thu thập những yếu tố cần thiết và nền tảng pháp lý ban đầu cho việc xây dựng Chính phủ điện tử

Nghị quyết 30c/NQ-CP của Chính phủ ngày 08/11/2011 Về việc ban hành chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 – 2020, Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020

Ngày 01/03/2007 UBND tỉnh Kiên Giang ban hành Quyết định số 376/QĐ-UBND phê duyệt kế hoạch ứng dụng và phát triển CNTT tỉnh Kiên Giang giai đoạn 2006 – 2010

Kế hoạch số 70/KH-UBND ngày 30/11/2010 của UBND tỉnh Kiên Giang, về việc ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan Nhà nước tỉnh Kiên Giang giai đoạn 2011 – 2015

Kế hoạch số 03/KH-UBND ngày 17/01/2012 của UBND tỉnh Kiên Giang, về việc thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính Nhà nước giai đoạn 2011 – 2020

Quyết định số 48/2009/QĐ-TTg ngày 31/3/2009 của Thủ tướng Chính phủ đã đặt ra những mục tiêu cụ thể sau:

Ngày 20/7/2009 UBND tỉnh Kiên Giang ban hành Quyết định số 1728/QĐ-UBND phê duyệt kế hoạch ứng dụng CNTT của các cơ quan Nhà nước tỉnh Kiên Giang giai đoạn 2009-2010;

Thực hiện chương trình hành động của Chính phủ tại 53/2007/NQ-CP ngày 17/01/2007 của Chính phủ về việc Ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X về đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước Và thực hiện nhiệm vụ xây dựng cơ chế một cửa, một cửa liên thông theo Quyết định số 93/2007/QĐ-TTg ngày 22/06/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc Ban hành quy chế thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương; Năm 2009, Chính phủ ban hành Quyết định số 48/2009/QĐ-TTg, ngày 31 tháng 3 năm 2009 của Chính phủ về việc phê duyệt kế hoach ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước giai đoạn 2009-2010; Công văn số 112/BTTTT-KHTC, ngày 14/1/2010, của Bộ Thông tin và Truyền thông, về việc kinh phí thực hiện Quyết định 48/2009/QĐ-TTg và Quyết định số 50/2009/QĐ-TTg; Trong đó tỉnh Kiên Giang được hỗ trợ triển khai thí điểm phần mềm một cửa cấp huyện

và Thành phố

Từ các phân tích nhận định trên cho thấy ứng dụng CNTT trong hoạt động của các cơ quan nhà nước góp phần nâng cao năng lực quản lý điều hành của các cơ quan nhà nước, phục

Trang 3

vụ tốt hơn, có hiệu quả hơn cho người dân, doanh nghiệp và góp phần đẩy nhanh tiến trình đơn giản hóa thủ tục hành chính Xác định chiến lược về ứng dụng công nghệ thông tin bao gồm xác định ngành kinh tế mũi nhọn, lĩnh vực trọng tâm đột phá Cải cách, đơn giản hóa hành chính công cần được chứng minh theo một cách nhanh chóng, có thể đo lường được cần phải ứng dụng CNTT, ngược lại ứng dụng CNTT phải được xem là chìa khóa để mở và đo lường được nhận thức về công khai, minh bạch trong công cuộc cải cách hành chính công như các Quốc gia phát triển đã từng thành công Tuy nhiên, ở tỉnh ta việc ứng dụng CNTT một cách toàn diện và thực sự có hiệu quả là một vấn đề phức tạp, chưa đồng bộ và tồn tại nhiều khó khăn, bất cập đầu tiên chính là ở khâu lãnh đạo, tổ chức, điều hành, quản lý hành chính

Trang 4

PHẦN II

MÔ TẢ TÌNH HUỐNG

 

Thực hiện chủ trương của Ủy ban nhân dân tỉnh về tăng cường ứng dụng CNTT trong công tác cải cách hành chính, đặc biệt là ứng dụng các mô hình một cửa điện tử cung cấp dịch

vụ công trực tuyến mức độ cao trên diện rộng làm cho hoạt động của cơ quan Nhà nước trên địa bàn tỉnh được minh bạch hơn, phục vụ người dân và doanh nghiệp tốt hơn, xây dựng hoàn thiện hệ thống thông tin, tạo môi trường làm việc rộng khắp cơ quan Nhà nước, hướng tới nâng cao năng suất lao động của cơ quan Nhà nước trên đại bàn tỉnh, đó là một yêu cầu cấp bách của tỉnh Kiên Giang hiện nay

Ngày 19 tháng 07 năm 2007, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang đã ra Quyết định

số 1328/QĐ-UBND thành lập Ban Chỉ đạo CNTT Tỉnh giai đoạn 2006-2010 để tham mưu giúp

Ủy ban nhân dân tỉnh thực hiện ứng dụng và phát triển CNTT trên địa bàn; Ngày 20 tháng 06 năm 2008, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang đã ra Quyết định số 1498/QĐ-UBND kiện toàn Ban Chỉ đạo CNTT tỉnh giai đoạn 2006-2010 để kịp thời tham mưu giúp Ủy ban nhân dân tỉnh thực hiện ứng dụng và phát triển CNTT của tỉnh trước tình hình mới

Và sau khi thực hiện xong giai đoạn 2006-2010, thực hiện theo Quyết định số 1605/QĐ-TTg, ngày 30 tháng 11 năm 2010 UBND tỉnh đã đề ra Kế hoạch số 70/KH-UBND về việc Ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan Nhà nước tại tỉnh Kiên Giang giai đoạn năm 2011 -2015

Tuy nhiên để thực hiện được các mục tiêu này thì việc ứng dụng CNTT cần phải được triển khai một cách phù hợp, hài hòa với đặc điểm văn hóa, kinh tế xã hội, cũng như nhiệm vụ quản lý nhà nước tại địa điểm triển khai Thực tế là các chương trình, đề án và dự án trọng điểm

về ứng dụng CNTT ở tỉnh ta thường chậm trễ, thiếu đồng bộ và hiệu quả thấp, trong khi đó xuất phát điểm ứng dụng CNTT của Kiên Giang còn thấp, kinh phí hạn hẹp, ít cán bộ chuyên trách, các cán bộ lãnh đạo chưa quán triệt, tính chủ động chưa cao, cán bộ công chức còn ngại thay đổi phương thức làm việc Chính những điều này đặt ra một thách thức không nhỏ cho công tác cải cách hành chính với việc ứng dụng CNTT của tỉnh ta, điều này đòi hỏi người lãnh đạo phải hết sức quan tâm chú trọng, đặc biệt trong công tác phổ cập và tuyên truyền

Trang 5

PHẦN III

XÁC ĐỊNH MỤC TIÊU XỬ LÝ TÌNH HUỐNG

 

Qua thời gian hơn 10 năm cải cách, việc ứng dụng tin học trong quản lý hành chính của tỉnh ta đã tạo ra bước chuyển biến rõ nét nâng cao chất lượng dịch vụ công, làm cho nền hành chính ngày càng thông thoáng và dễ tiếp cận Tuy nhiên, để công tác tin học hóa hành chính phù hợp với tiến độ tin học hóa xã hội, tỉnh ta cần phải xác định các mục tiêu chính cần phải giải quyết như sau:

- Đầu tư xây dựng và củng cố cơ sở hạ tầng mạng, đẩy mạnh tin học hóa trong các cơ quan hành chính Nhà nước Hoàn thiện hệ thống tổ chức phục vụ tin học hóa hành chính và hoàn thiện cơ sở pháp lý

- Cần thực hiện cơ chế một cửa theo Quyết định 93/2007/QĐ-TTg trên tinh thần và trách nhiệm cao, nhất là cơ chế một cửa liên thông lĩnh vực đất đai, giữa cấp xã và cấp huyện Qua

đó cần tuyên truyển đến những người dân và doanh nghiệp một cách rộng rãi và thường xuyên bằng nhiều hình thức

- Cần triển khai thực hiện ứng dụng CNTT ở các địa phương, đơn vị trong tỉnh Kiên Giang đồng bồ tránh mỗi cơ quan đơn vị là một công nghệ khác nhau Ngân sách đầu tư cho CNTT của tỉnh phải được bố trí đầy đủ và phù hợp cho các chương trình, kế hoạch, qua đó để triển khai các dự án phát triển CNTT được hiệu quả hơn

- Cần chọn lựa ra những cán bộ chuyên trách về CNTT có trách nhiệm và tâm huyết, cần

có những chính sách ưu đãi để thu hút nguồn nhân lực CNTT có trình độ cao vào làm việc trong cơ quan nhà nước Muốn thực hiện tốt thì lãnh đạo của các cơ quan đơn vị phải quyết tâm hơn nữa, dám nghĩ dám làm

- Có chính sách khuyến khích đầu tư, phát huy tiềm năng, thế mạnh hiện có, xem CNTT

là động lực cho mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế xã hội, tăng cường thương mại dịch vụ, tạo tăng trưởng kinh tế bền vững

- Nâng cao vai trò của cơ quan chủ trì tham mưu Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong công tác điều phối chung, tổng hợp, đôn đốc, theo dõi việc thực hiện các chương trình hoạt động của Chương trình tổng thể tại các bộ, ngành, địa phương kịp thời đề xuất tháo gỡ khó khăn, vướng mắc

Trang 6

PHẦN IV

PHÂN TÍCH NGUYÊN NHÂN VÀ HẬU QUẢ

 

Nguyên nhân

Kiên Giang là một tỉnh cực Tây Nam của Tổ quốc, nằm trong vùng đồng bằng sông Cửu Long Như là một Việt Nam thu nhỏ, được thiên nhiên ưu đãi với đầy đủ: sông nước, núi rừng, đồng bằng và biển cả Vì thế mà GDP tính theo bình quân thu nhập đầu người so với cả nước thuộc vào loại khá, trình độ dân trí ở mức trung bình so với mặt bằng chung của cả nước Tuy nhiên tỉnh chúng ta chưa tận dụng được sự ưu đãi về thiên nhiên cũng như nguồn thu nhập cao tại địa phương để phát triển cơ sở hạ tầng nói chung và CNTT vào các hoạt động kinh tế -chính trị - xã hội nói riêng một cách có hiệu quả

Tỉnh ta chưa quan tâm nhiều đến việc phát triển và ứng dụng CNTT, đặc biệt là việc triển khai ứng dụng CNTT trong hoạt động quản lý, điều hành của các cơ quan nhà nước Tỉnh ta đã song hành cùng cả nước trên hành trình thực hiện Đề án 30 của Chính phủ với nhiều giải pháp

và quyết tâm cao nhưng chúng ta chưa xác định và lựa chọn được chiến lược phát triển CNTT

là đòn bẩy để thúc đẩy tất cả các ngành khác phát triển theo Sau hơn 10 năm triển khai và thực hiện Chỉ thị 58/CT-TW của Bộ Chính trị về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT, ta thấy được một kết quả thực tế là tỉnh nào hay địa phương nào ứng dụng CNTT tốt bao nhiêu thì con đường cải cách hành chính càng ngắn bấy nhiêu (Có thể kể đến một số tỉnh thực hiện khá tốt việc ứng dụng CNTT vào công tác thực tiễn như: Đà Nẵng, TP.HCM, Sơn La, Bình Dương, An Giang, Cần Thơ, Cà Mau )

Xét ở góc độ khu vực đồng bằng sông Cửu Long tỉnh Kiên Giang có nhiều tiềm năng phát triển về kinh tế - xã hội nhưng việc ứng dụng các thành tựu khoa học kĩ thuật để thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế là chưa tương xứng với tiềm năng, đặc biệt trong lĩnh vực CNTT Mặt

dù các cấp chính quyền cũng đã quan tâm đến ứng dụng CNTT trong các cơ quan nhà nước để phục vụ công tác điều hành, quản lý nhưng cho đến nay sau hơn một thập kỉ triển khai chúng ta vẫn còn đi sau nhiều tỉnh ở đồng bằng sông Cửu Long, gần chúng ta nhất là An Giang Hiện nay việc cải cách để đơn giản hoá thủ tục hành chính tạo thuận tiện cho người dân khi đến liên

hệ làm việc với các cơ quan Nhà nước ở Kiên Giang còn gặp nhiều bất cập, với việc ứng dụng

mô hình một cửa điện tử chúng ta chỉ mới triển khai trên địa bàn toàn tỉnh được một huyện thị thành phố trực thuộc tỉnh Theo các số liệu từ các tỉnh bạn thì hầu hết các huyện thị thành phố các tỉnh trong đồng bằng sông Cửu Long đều đã triển khai được đến các huyện thị (có Tỉnh đạt trên 100% các huyện thị được triển khai) và đạt hiệu quả khá tốt trong công tác điều hành, quản lý

Sự tiện ích và hiệu quả từ việc ứng dụng công nghệ thông tin có vai trò hết sức to lớn và quan trọng trong công tác cải cách hành chính Tuy nhiên, hiện nay đa số các cơ quan Nhà

Trang 7

nước cấp huyện vẫn chưa có thói quen ứng dụng tin học như hộp thư điện tử, email mà vẫn còn sử dụng phương pháp truyền thống , ban hành quá nhiều văn bản giấy Cũng như tác động tích cực của những thành tựu khoa học công nghệ khác đối với sự phát triển xã hội, ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong cải cách hành chính là sự lựa chọn tất yếu nhằm từng bước cải cách nền hành chính theo hướng khoa học, hiện đại và hiệu quả

Hay như Đề án 112, đây là đề án thất bại của chính phủ trên qui mô cả nước chứ không riêng gì tỉnh Kiên Giang, nhưng cho đến nay chúng ta vẫn còn duy trì hệ thống này trong khi hiệu quả và năng suất mang lại thì chưa được kiểm chứng (có đơn vị sử dụng, có đơn vị không

sử dụng hay chỉ để đó chứ không được tận dụng hoặc không quan tâm), các hệ thống máy chủ phục vụ cho đề án này tính đến nay đã xuống cấp và lỗi thời có thể gặp sự cố bất cứ lúc nào, hiện tại chúng ta vẫn chưa có phương án hay dự án nào mang tính khả thi để giải quyết cho vấn

đề này

Tất cả những hạn chế, khuyết điểm ở tỉnh ta về ứng dụng CNTT trong cải cách hành chính công sau hơn 10 năm thực hiện có thể đưa ra các nguyên nhân chính như sau:

- Chưa kết hợp chặt chẽ và đồng bộ giữa chương trình cải cách hành chính và chương trình ứng dụng CNTT trong các cơ quan Nhà nước tại địa phương

- Một số lãnh đạo cơ quan, đơn vị chưa quan tâm đúng mức đến việc triển khai ứng dụng CNTT để nâng cao năng lực quản lý, điều hành

- Các dự án triển khai thực hiện chậm so với kế hoạch đề ra Kinh phí chủ yếu dành đầu

tư cho các hệ thống của tỉnh Ngoài vốn sự nghiệp, tỉnh chưa bố trí vốn đầu tư phát triển cho ứng dụng CNTT Các huyện, thị, thành trông chờ các dự án đầu tư của tỉnh nối mạng đến huyện, thị, thành

- Ngoài quy định của Trung ương, Kiên Giang chưa ban hành chính sách khuyến khích đối với các thành phần kinh tế hoạt động sản xuất, dịch vụ phục vụ yêu cầu ứng dụng và phát triển CNTT ở địa phương; Chính sách khuyến khích phát triển và ứng dụng CNTT trong toàn

xã hội trên địa bàn tỉnh;

- Quy định về quản lý đầu tư, ứng dụng CNTT thiếu và bất cập, phải vận dụng nhiều quy định khác nhau đã gây khó khăn cho chủ đầu tư, đơn vị quản lý và cả nhà thầu thi công

- Thiếu cán bộ quản lý, chuyên trách về CNTT, Chưa có chính sách khuyến khích, đãi ngộ cán bộ chuyên trách về CNTT nên khó thu hút nguồn nhân lực CNTT có trình độ vào làm việc tại các cơ quan Nhà nước

- Một số mục tiêu xây dựng còn định tính nên rất khó đánh giá đúng hiệu quả, khó làm rõ trách nhiệm của cơ quan, tập thể, cá nhân có liên quan trong tổ chức thực hiện

- Công tác truyền thông về Chương trình tổng thể làm chưa tốt, nên chưa tạo ra sự thống nhất cao về nhận thức trong toàn bộ hệ thống chính trị và sự đồng thuận trong nhân dân

Trang 8

Hậu Quả

Qua những nguyên nhân vừa phân tích dẫn đến một số hậu quả mà tỉnh ta phải chấp nhận,

đó là:

- Tụt hậu về ứng dụng CNTT trong hành chính nhà nước ở tỉnh ta chính là sự tụt hậu về năng lực, phương thức điều hành nền hành chính Nếu không thay đổi cách tiếp cận trong việc đưa ứng dụng CNTT vào nền hành chính, sự tụt hậu về hành chính công sẽ là rất lớn so với sự phát triển xã hội chung của cả nước

- Qua kết quả thăm dò, đánh giá của một số tổ chức độc lập, tỉnh Kiên Giang chúng ta là một trong những tỉnh mà người dân chưa hài lòng về công tác phục vụ hành chính công còn chiếm tỉ lệ khá cao, từ đây dẫn đến tiêu cực trong các hoạt động dịch vụ công của cơ quan, tổ chức Nhà nước trên địa bàn tỉnh Kiên Giang

- Khi không áp dụng CNTT vào việc xử lý hồ sơ công việc cho người dân (cụ thể là áp dụng phần mềm một cửa điện tử, một cửa liên thông trên môi trường mạng) dẫn đến một bộ phận cán bộ tham ô, cửa quyền, gây phiền hà cho người dân

- Làm giảm sự minh bạch, giảm xúc lòng tin của nhân dân vào Đảng và Nhà nước ta tại địa bàn tỉnh Trang thiết bị ứng dụng CNTT vào hành chính công sở lạc hậu so với nhu cầu thực tế

- Vẫn còn tình trạng họi họp nhiều, giấy tờ hành chính gia tang; chế độ họp chậm đổi mới Hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước vẫn chưa theo kịp yêu cầu của sự nghiệp Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa đất nước

- Ứng dụng CNTT trong nội bộ cơ quan nhà nước chủ yếu ở quy mô nhỏ, chưa phát huy hiệu quả của ứng dụng CNTT Ứng dụng CNTT phục vụ người dân và doanh nghiệp còn hạn chế, các trang thông tin điện tử chủ yếu mới cung cấp thông tin

Trang 9

PHẦN V

XÂY DỰNG, PHÂN TÍCH VÀ LỰA CHỌN PHƯƠNG ÁN

 

Triển khai quán triệt Nghị quyết số 30c/NQ-CP ngày 08/11/2011 của Chính phủ, ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020 và Kế hoạch 03/KH-UBND, mà trọng tâm cải cách hành chính giai đoạn 2011-2020 ở tỉnh là: Cải cách thủ tục hành chính và nâng cao chất lượng thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông; xây dựng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức

Ứng dụng CNTT sẽ là một trong các giải pháp nhằm đạt mục tiêu phục vụ cải cách hành chính Vì cải cách hành chính là nhằm đến tính hiệu quả, chất lượng trong cách thức hoạt động, điều hành của bộ máy hành chính Nhà nước; là làm cho bộ máy chuyển từ chức năng chèo thuyền sang lái thuyền, chuyển từ hành chính "xin cho" sang phục vụ; và làm cho nền hành chính có khả năng kiểm soát lãng phí, thất thoát và tham nhũng Điều đó đòi hỏi các hoạt động phải được quy trình hóa, phải rõ ràng về chức năng, nhiệm vụ, về các hoạt động và các mối quan hệ Qua đó sẽ tạo được yếu tố công khai, minh bạch trong nền hành chính Quá trình thiết lập các hệ thống CNTT trong cơ quan hành chính Nhà nước phải xuất phát từ quá trình thiết lập trật tự các quy trình, các cơ chế và các mối quan hệ giữa các chức năng, các cơ quan

và các cấp Từ các nhận định trên tôi đưa ra 3 phương án giải quyết như sau:

Phương án 1:

Bồi dưỡng Cán bộ, công chức, viên chức để nâng cao trình độ về CNTT và có chính sách

ưu đãi hợp lý về lĩnh vực này

Ưu điểm:

- Nâng cao trách nhiệm quản lý của từng cán bộ, công chức, viên chức

- Tiết kiệm được nguồn kinh phí lớn cho ngân sách địa phương

Hạn Chế:

- Chưa có chính sách lương và chế độ tốt đối với người có trình độ CNTT đang hoạt động tốt tại các cơ quan, tổ chức, hành chính Nhà nước

- Chưa quan tâm nhiều vào việc ứng dụng CNTT và xem việc ứng dụng CNTT là không khả quan

Phương án 2:

Đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hệ thống thiết bị CNTT hiện đại nhằm phục vụ, đáp ứng cho công tác cải cách hành chính công ở hiện tại và tương lai

Trang 10

Sớm hay muộn thì cũng phải đầu tư phương án này nhưng đầu tư theo từng thời điểm như thế nào cho hợp lý là điều cần phải được nghiên cứu kĩ

Ưu điểm:

- Làm nền tảng cơ sở hạ tầng vững chắc cho các mục tiêu ứng dụng CNTT lâu dài phục

vụ cho công cuộc cải cách hành chính theo hướng hiện đại hoá nền hành chính công

- Dễ dàng cập nhật, nâng cấp phần mềm cũng như phần cứng cho hệ thống mới, an toàn cho cơ chế vận hành của toàn bộ hệ thống trên địa bàn tỉnh

- Tiết kiệm được nguồn nhân sự đáng kể để quản lý hệ thống thiết bị

Hạn chế:

- Sẽ phải sử dụng nguồn ngân sách địa phương lớn để đầu tư lại toàn bộ hệ thống thiết bị CNTT của tỉnh

- Có thể phát sinh các vấn đề đầu tư cho các dự án không đồng bộ, chồng chéo giữa các

cơ quan chủ quản, chịu trách nhiệm thực hiện dự án, từ đây dễ dẫn đến tình trạng tham nhũng, gây mất đoàn kết trong cơ chế quản lý chung

Phương án 3:

Nhận thức của lãnh đạo đối với việc ứng dụng CNTT trong cải cách hành chính phục vụ cho cơ qua nhà nước là nhiệm vụ trọng thể, qua đó làm bước đệm để phát triển kinh tế - xã hội cho tỉnh Kiên Giang

Với phương án này đòi hỏi phải có một sự quyết tâm cao độ và tâm huyết của lãnh đạo đối với việc ứng dụng CNTT, nếu có những yếu tố này mới có thể tạo ra chuyển biến, đột phá mới Từ những phân tích trên, muốn cải cách được nền hành chính công hiện đại phải bắt đầu xây dựng từ gốc của vấn đề đó là lãnh đạo phải nhận thức một cách sâu sắc và toàn diện việc ứng dụng CNTT có vai trò quan trọng như thế nào trong mọi mặt của đời sống xã hội Vì chỉ khi lãnh đạo nhận thức sâu sắc về vấn đề này thì việc giải quyết bài toán về ứng dụng CNTT trong cải cách nền hành chính công theo hướng hiện đại hoá mới đạt được kết quả tốt nhất Bên cạnh đó một nhân tố không thể thiếu góp phần vào sự thành công của phương án này

đó chính là đội ngũ cán bộ, công chức những người đang trực tiếp tham gia vào công tác này phải thay đổi cách suy nghĩ và tiếp cận cách làm việc khoa học mới, phải loại bỏ cách làm bằng văn bản, giấy tờ thuần túy mà thay vào đó là cách làm việc hoàn toàn mới trên môi trường mạng, công nghệ số hiện đại

Ngày đăng: 23/02/2017, 15:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w