Trong sự nghiệp đổi mới hiện nay, cùng với quá trình đặt trọng tâm về kinh tế, phát triển kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc, Đảng cộng sản Việt Nam đã xác định đƣờng lối xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Quan điểm này đánh dấu sự phát triển tƣ duy lý luận của Đảng, đồng thời cũng là kết quả tổng kết thực tiễn xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam trong suốt quá trình lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam. Văn hóa học đƣờng là một nội dung quan trọng trong việc xây dựng nền văn hóa tốt đẹp cho dân tộc, văn hóa ứng xử cho học sinh sinh viên là nhiệm vụ sống còn của cả hệ thống chính trị, của các Nhà trƣờng. Nhà trƣờng là nơi ƣơm mầm cho sự phát triển toàn diện của con ngƣời, là cội nguồn của văn hóa, học sinh sinh viên, cán bộ, giáo viên, nhân viên sẽ là những ngƣời đem lại một nền văn hóa lớn của dân tộc. Khi phát động phong trào thi đua “ xây dựng trƣờng học thân thiện, học sinh tích cực”, nguyên Bộ trƣởng Bộ giáo dục và Đào tạo Nguyễn Thiện Nhân đã nói rõ: Phong trào này “thiết lập lại môi trƣờng sƣ phạm với 6 đặc trƣng là trật tự, kỷ cƣơng, trung thực, khách quan, công bằng, tình thƣơng và khuyến khích sáng tạo, hiệu quả” đây là một nội dung rất cơ bản của văn hóa học đƣờng. Tác động tích cực của văn hóa học đƣờng là xây dựng nhân cách cho học sinh sinh viên, chống lại lối sống tiêu cực. Chính vì thế, mỗi Nhà trƣờng cần có văn hóa học đƣờng của mình. "Văn hóa học đƣờng" là môi trƣờng rất quan trọng để rèn luyện nhân cách và giáo dục thế hệ trẻ trở thành những con ngƣời sống có hoài bão, có lý tƣởng tốt đẹp. Vấn đề xây dựng văn hóa học đƣờng phải đƣợc coi là có tính sống còn đối với từng Nhà trƣờng, vì nếu học đƣờng mà thiếu văn hóa thì không thể làm đƣợc chức năng chuyển tải những giá trị kiến thức và nhân văn cho thế hệ trẻ.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong sự nghiệp đổi mới hiện nay, cùng với quá trình đặt trọng tâm về kinh
tế, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Đảng cộng sản Việt Nam đã xác định đường lối xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Quan điểm này đánh dấu
sự phát triển tư duy lý luận của Đảng, đồng thời cũng là kết quả tổng kết thực tiễn xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam trong suốt quá trình lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam
Văn hóa học đường là một nội dung quan trọng trong việc xây dựng nền văn hóa tốt đẹp cho dân tộc, văn hóa ứng xử cho học sinh sinh viên là nhiệm vụ sống còn của cả hệ thống chính trị, của các Nhà trường Nhà trường là nơi ươm mầm cho
sự phát triển toàn diện của con người, là cội nguồn của văn hóa, học sinh sinh viên, cán bộ, giáo viên, nhân viên sẽ là những người đem lại một nền văn hóa lớn của dân tộc
Khi phát động phong trào thi đua “ xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”, nguyên Bộ trưởng Bộ giáo dục và Đào tạo Nguyễn Thiện Nhân đã nói rõ: Phong trào này “thiết lập lại môi trường sư phạm với 6 đặc trưng là trật tự, kỷ cương, trung thực, khách quan, công bằng, tình thương và khuyến khích sáng tạo, hiệu quả” đây là một nội dung rất cơ bản của văn hóa học đường Tác động tích cực của văn hóa học đường là xây dựng nhân cách cho học sinh sinh viên, chống lại lối sống tiêu cực Chính vì thế, mỗi Nhà trường cần có văn hóa học đường của mình
"Văn hóa học đường" là môi trường rất quan trọng để rèn luyện nhân cách và giáo dục thế hệ trẻ trở thành những con người sống có hoài bão, có lý tưởng tốt đẹp Vấn đề xây dựng văn hóa học đường phải được coi là có tính sống còn đối với từng Nhà trường, vì nếu học đường mà thiếu văn hóa thì không thể làm được chức năng chuyển tải những giá trị kiến thức và nhân văn cho thế hệ trẻ
Sau hơn 30 năm thực hiện sự nghiệp trồng người của trường Trung cấp Kỹ thuật và Nghiệp vụ Nam Sài Gòn, trong đó việc xây dựng và phát triển "Văn hóa
Trang 2học đường" là một trong những nhiệm vụ trọng yếu của Nhà trường Sự nghiệp xây dựng và phát triển "Văn hóa học đường" của Nhà trường đã giúp đại đa số các cán
bộ giáo viên, nhân viên và các em học sinh thậm chí cả các bậc cha mẹ có chuyển biến tích cực, đạt kết quả quan trọng, có cách thức suy nghĩ, tình cảm, hành động tốt đẹp, nhưng vẫn còn một bộ phận học sinh có biểu hiện không đẹp về văn hóa ứng
xử, thái độ sống Mỗi mùa thi đến, bên cạnh những bạn chăm chỉ ôn thi thì vẫn còn những bạn mãi chơi game, lười biếng, quay cóp, gian lận trong thi cử Nhiều học sinh sinh viên còn mắc phải một số lỗi về cách cư xử, giao tiếp với thầy cô, bạn bè Các hiện tượng: Nói xấu người khác; dối trá, nói tục, cãi vã với cha mẹ, người trên;
vô lễ với thầy cô giáo, xả rác bừa bãi; tiêu pha lãng phí; ham chơi lêu lổng, bỏ học, trốn học, trộm cắp; đánh nhau, yêu đương không lành mạnh, diễn ra hàng ngày và ngày càng phổ biến Vẫn còn một số học sinh sinh viên cũng như cán bộ, giáo viên, nhân viên chưa thật sự có ý thức tôn trọng trong quan hệ giao tiếp Học sinh sinh viên có thái độ thiếu tôn trọng, cũng như thiếu lịch sự trong giao tiếp với giáo viên, vấn đề này đang đòi hỏi sự quan tâm từ phía lãnh đạo Nhà trường và đặc biệt là các phòng chức năng tham mưu cho lãnh đạo để góp phần xây dựng nét văn hóa học đường tốt đẹp
Từ những lý do trên đã thôi thúc người viết hình thành một ý tưởng về một công trình nghiên cứu về mảng “ Văn hóa học đường” tại trường mà người viết đang sinh sống và làm việc Và sau khi tiếp cận với những kiến thức chuyên ngành, người viết chọn đề tài cho luận văn cao học chuyên ngành Việt Nam Học của mình
là “ Văn hóa học đường của trường Trung cấp Kỹ thuật và Nghiệp vụ Nam Sài Gòn”
2 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
2.1 Ý nghĩa khoa học:
Thực hiện đề tài này người viết hy vọng có thể đóng góp một phần của mình vào công cuộc nghiên cứu về mảng “văn hóa học đường” trong chuyên ngành Việt Nam học nói chung và hệ thống nghiên cứu về lý luận văn hóa học đường của Trường Trung Cấp Kỹ thuật và Nghiệp vụ Nam Sài Gòn nói riêng Bên cạnh đó,
Trang 3những nghiên cứu của người viết có thể làm tài liệu tham khảo, nghiên cứu cho những công trình nghiên cứu khoa học về lĩnh vực học đường hiện tại và tương lai
2.2 Ý nghĩa thực tiễn
Tìm hiểu lại vấn đề, thấy được thực trạng nền văn hóa học đường của Trường Trung Cấp Kỹ thuật và Nghiệp vụ Nam Sài Gòn Bao gồm những nét tốt đẹp, những nét tích cực và những thiếu sót, tồn đọng trong nền văn hóa tại trường
Để từ đó, đề xuất các giải pháp nâng cao những điểm mạnh và ngăn chặn khắc phục những yếu kém và những nguy cơ tiêu cực đã, đang và sẽ xảy ra
3 Mục đích nghiên cứu
Căn cứ vào chiến lược phát triển của Nhà trường 2010 - 2020, trong đó có việc nâng cao "văn hóa học đường", khảo sát tìm ra những yếu tố tác động đến văn hóa học đường ở trường
Thấy được những biểu hiện của văn hóa học đường, đồng thời phân tích, đánh giá và rút ra nhận xét
Trên cơ sở đó tìm ra các giải pháp nâng cao nền văn hóa học đường tại trường ngày càng phát triển bền vững và tốt đẹp
4 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành luận văn người viết phải sử dụng các biện pháp chuyên ngành
- Phương pháp quan sát – Thu thập tài liệu – Phiếu hỏi
Để thực hiện đề tài này, người viết tìm các nguồn tài liệu từ sách vở, báo chí, trên các trang điện tử, cổng website của Nhà trường để làm cơ sở lý luận cho luận văn
Trang 4Bên cạnh đó, người viết cũng phát phiếu khảo sát cho cả hai đối tượng học sinh và sinh viên trong Nhà trường
- Tiến hành phỏng vấn giáo viên, học sinh – sinh viên Quan sát, chụp ảnh Ghi nhận những thông tin cần thiết cho luận văn của mình
- Phương pháp xử lý số liệu: Biểu đồ, bảng thống kê Trên cơ sở các dữ liệu, người viết tiến hành phân tích, tổng hợp để đưa đến những nội dung làm sáng tỏ luận văn
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
- Các yếu tố tác động đến “ Văn hóa học đường”
- Thực trạng của “ Văn hóa học đường” ở Trường Trung cấp Kỹ thuật và Ngiệp vụ Nam Sài Gòn giai đoạn hiện nay
5.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Người viết tập trung khảo sát thực hiện đề tài tại trường Trung cấp Kỹ thuật và Nghiệp vụ Nam Sài Gòn gồm các cở sở như sau:
+ Số 47 Cao Lỗ, Phường 4, Quận 8, Tp Hồ Chí Minh;
+ Số 5 Bis Huỳnh Thị Phụng, Phường 4, Quận 8, Tp Hồ Chí Minh;
+ Số 89 – 91 Bùi Minh Trực, Phường 6, Quận 8, Tp Hồ Chí Minh;
+ Số 252 Tạ Quang Bửu, Phường 6, Quận 8, Tp Hồ Chí Minh
- Phạm vi thời gian : Người viết tìm hiểu về đặc điểm của Nhà trường khi thành lập cho đến nay (hơn 30 năm)
Người viết thực hiện nghiên cứu nền văn hóa học đường trong Nhà trường 5 năm học gần đây 2011 – 2012; 2012 – 2013; 2013 – 2014; 2014 – 2015 và 2015 -
2016 để thấy rõ được thực trạng “ Văn hóa học đường” hiện nay trong Trường Trung cấp Kỹ thuật và Ngiệp vụ Nam Sài Gòn
Thực hiện khảo sát phát phiếu điều tra và phỏng vấn vào đầu năm học 2015
Trang 6NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA HỌC ĐƯỜNG VÀ TỔNG QUAN VỀ TRƯỜNG TRUNG CẤP KỸ THUẬT VÀ NGHIỆP VỤ NAM SÀI GÒN
1.1 Cơ sở lý luận chung về vấn đề văn hóa học đường
Văn hóa học đường là một bộ phận, yếu tố của văn hóa Trước khi làm rõ khái niệm văn hóa học đường người viết tìm hiểu, phân tích rõ khái niệm văn hóa
1.1.1 Những lý luận cơ bản về văn hóa học đường
1.1.1.1 Khái niệm văn hóa
Trong thư ngỏ gửi những người yêu thích văn hóa trên trang web vanhoa.net Giáo sư, Viện sĩ Trần NgọcThêm có nói: “Con người tồn tại trong môi trường văn hóa Môi trường ấy thể hiện trong không gian và qua thời gian Cuộc sống trong ta
và quanh ta thấm đẫm chất men của không gian văn hóa Cha ông ta, bản thân ta, rồi con cháu ta, sinh ra trong văn hóa, sống trong văn hóa và chết đi trong văn hóa” Thật vậy, trong đời sống xã hội, con người chịu ảnh hưởng bởi môi trường văn hóa
mà trong đó họ sống và hoạt động
Văn hóa là một lĩnh vực khá rộng lớn và phức tạp, đối tượng nghiên cứu rất
đa dạng và phong phú Hiện nay trên thế giới, có khoảng trên 400 định nghĩa khác nhau về văn hóa
Văn hóa là một nội dung hết sức phức tạp được nhiều nhà khoa học thuộc các lĩnh vực khác nhau quan tâm nghiên cứu.Tùy theo hướng tiếp cận khác nhau mà mỗi nhà khoa học có thể đưa ra định nghĩa về văn hóa theo cách hiểu của mình như tiếp cận theo chức năng của văn hóa, theo giá trị chuẩn mực của văn hóa; theo ý nghĩa của văn hóa; đề cao đạo đức nhân cách con người, Về hướng tiếp cận nêu trên đều có hướng đóng góp và có ý nghĩa lịch sử nhất định trong quá trình con người đi sâu khám phá, nghiên cứu bản chất của văn hóa, cũng có nghĩa là tìm hiểu chính bản thân con người và xã hội loài người với những biến đổi khác nhau trong những điều kiện tự nhiên, điều kiện xã hội, điều kiện tâm lý khác nhau, cũng như trong nhiều cạnh khác nhau của những hoạt động sản xuất vật chất, tinh thần, quan
Trang 7hệ ứng xử với môi trường tự nhiên, môi trường xã hội và với chính bản thân con người
Sau đây, người viết trình bày một số quan điểm của những nhà nghiên cứu
về định nghĩa văn hóa
Theo tư tưởng phương Đông, văn hóa có nghĩa gốc được thể hiện chi tiết từ hai từ “văn hóa”, văn nghĩa là “vẻ đẹp”, hóa có nghĩa là “thay đổi, biến hóa, giác hóa”, gọp lại văn hóa theo nghĩa gốc có nghĩa là “làm cho trở nên đẹp”
Văn hóa theo phương Tây được phát sinh từ cultura (với gốc cultus), có hàm nghĩa khởi nguyên là “canh tác, vun trồng” Như vậy, nó vốn là một thuật ngữ thuộc khoa canh nông, nghề trồng trọt Một hạt giống, một mầm cây được chăm sóc và vun xới tưới bón đúng lúc, đúng cách sẽ lớn lên, ra hoa, kết quả, đem lại lợi ích cho cuộc sống con người.Thiếu sự chăm sóc này, cây sẽ trở nên cằn cõi, hoang dại, lụi tàn Và rồi người ta thấy sự chăm sóc này là cần thiết cho quá trình trưởng thành của một con người Do đó culture về sau cũng mang theo nét nghĩa mở rộng “giáo dục, rèn luyện, bồi dưỡng năng lực và phẩm chất con người” Một xã hội với những thành viên được chăm sóc, bồi dưỡng, giáo dục chu đáo sẽ có khả năng tạo dựng một cuộc sống vật chất và cuộc sống tinh thần có chất lượng cao
E.B.Tylor (1832-1917, Anh) đã đưa ra một định nghĩa đến nay vẫn được coi
là kinh điển về văn hóa Trong tác phẩm nổi tiếng “Văn hóa nguyên thủy” (1871), ông viết “văn hóa là một tổ hợp các tri thức, niềm tin, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục và các thói quen khác mà con người với tư cách là thành viên của
xã hội tiếp thu được” [12, tr.9]
Chủ tịch Hồ Chí Minh – vị lãnh tụ vĩ đại, kính yêu của chúng ta được mệnh danh là danh nhân văn hóa thế giới đã rất quan tâm về lĩnh vực văn hóa Người đã nêu ra quan điểm của mình về văn hóa như sau: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, đạo đức, chữ viết, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn hóa, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo
và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những
Trang 8nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” Quan điểm của Hồ Chí Minh đã toát lên cái nhìn toàn diện, sâu sắc về nguồn gốc lịch sử, sự biểu hiện của văn hóa trong lối sống và toàn bộ sinh hoạt của con người
Giáo sư Trần NgọcThêm một nhà khoa học có những nghiên cứu chuyên sâu
về lĩnh vực văn hóa (1991) phát biểu rằng: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị (vật chất và tinh thần, tĩnh và động, vật thể và phi vật thể, ) do con người sáng tạo ra và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội của mình”[31, tr10]
Trong định nghĩa văn hóa của mình, giáo sư Trần Ngọc Thiêm đã nhấn mạnh đến tính hệ thống, tính giá trị (giá trị vật chất, giá trị tinh thần, giá trị sử dụng, giá trị đạo đức,…), tính nhân sinh và tính lịch sử (nói đến quá trình tích lũy, trình độ phát triển, truyền thống văn hóa, những khuôn mẫu được đức kết thành phong tục, tập quán…)
Năm 2002, Tổ chức Giáo dục, khoa học và văn hóa Liên Hiệp Quốc
UNESCO đưa ra định nghĩa: “Văn hóa nên được đề cập đến như một tập hợp những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức xúc cảm của xã hội hay một nhóm người trong xã hội mà nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin”
Nói cách khác, văn hóa được hiểu theo nghĩa rộng là tất cả những giá trị vật chất và tinh thần mà con người đã sáng tạo ra trong quá trình lịch sử, là biểu hiện trình độ của xã hội trong một giai đoạn lịch sử nhất định Theo nghĩa hẹp, văn hóa
là một tổng thể những hệ thống biểu tượng (ký hiệu) chi phối cách ứng xử và sự giao tiếp nơi cộng đồng, khiến cộng đồng ấy có đặc thù riêng Văn hóa là hệ thống những giá trị để đánh giá một sự việc hiện tượng (đẹp hay xấu, phải hay trái, đúng hay sai,…) theo cộng đồng ấy
Giáo sư Hà Văn Tuấn cho rằng: “Văn hóa là hệ thống ứng xử của con người với thiên nhiên và xã hội, trong hoạt động sinh tồn và phát triển của mình Nói khác
đi, văn hóa là sản phẩm hoạt động của con người trong mối quan hệ tương tác với
tự nhiên và xã hội diễn ra trong không gian, thời gian và hoàn cảnh nhất định”
Ông đã nhấn mạnh đến những hệ thống ứng xử của con người và những chuẩn mực
Trang 9được thể hiện ra trong mọi sinh hoạt, mọi hành vi, mọi nếp nghĩ, từ cách ăn, cách ở, cách lao động sản xuất đến cách sinh hoạt, ứng xử
Giáo sư Trần Quốc Vượng tiếp cận văn hóa theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp: “
Văn hóa hiểu hiện theo nghĩa rộng như lối sống, lối suy nghĩ, lối ứng xử, văn hóa theo nghĩa hẹp như văn hóa nghệ thuật, học vấn,… và tùy trường hợp cụ thể mà có thể có những định nghĩa khác nhau” [37, tr23]
Định nghĩa văn hóa theo tinh thần tâm lý học “Văn hóa được hiểu là một phức hợp tâm lý chỉnh thể, hình thành và phát triển cao độ trong hoạt động của cá nhân, phản ánh dấu ấn của một cộng đồng và là một nhân tố quan trọng bậc nhất của sự phát triển toàn bộ nhân cách con người (các yếu tố quan trọng trong sự phát triển nhân cách: gen, văn hóa, sự trải nghiệm”
Giáo sư Vũ Khiêu và giáo sư Nguyễn Hồng Phong lại nhấn mạnh đến “tình
người” của văn hóa Hai tác giả quan niệm rằng: “Văn hóa là nhân hóa, là sự phát triển, tách rời của con người khỏi giới động vật”
Theo từ điển triết học: “Văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình thực tiễn xã hội lịch sử và tiêu biểu cho trình độ đạt được trong lịch sử phát triển xã hội Theo nghĩa hẹp hơn, người ta vẫn thường nói về văn hóa vật chất (kỹ thuật, kinh nghiệm sản xuất, giá trị vật chất)
và văn hóa tinh thần (khoa học, nghệ thuật và văn học, triết học, đạo đức và giáo dục,…) Văn hóa là một hiện tượng lịch sử phát triển, phụ thuộc vào sự thay thế các hình thái kinh tế xã hội”
Giáo sư Phạm Xuân Nam định nghĩa văn hóa: “Văn hóa là sự hiểu biết của con người, nó định hướng cho cách ứng xử bao gồm những cái đúng, cái tốt, cái đẹp” [34, tr21-22]
Xét về mặt cấu trúc, văn hóa là hình thức đặc biệt thể hiện những kinh nghiệm xã hội mà loài người tích lũy được: là chuẩn mực chung, định hướng cho mỗi cá nhân trong xã hội để vương tới trở thành con người xã hội; là hệ thống những giá trị chuẩn mực xã hội do con người sáng tạo ra trong quá trình phát triển Trong hệ thống giá trị đó có chứa các nhân tố của quá khứ, hiện tại và có thể cả
Trang 10tương lai Các giá trị truyền thống và thời đại, dân tộc và quốc tế là hạt nhân của văn hóa Cốt lõi của giá trị văn hóa là tính đạo đức, tính thẩm mỹ, nó kích thích con người hành động vươn tới cái đẹp, cái có ích
Như vậy, giữa văn hóa và con người có mối quan hệ hữu cơ với nhau trong
sự phát triển của xã hội vì văn hóa chính là sản phẩm do con người sáng tạo ra; mặt khác, văn hóa cũng sáng tạo nên phần lớn những phẩm chất con người xã hội, đem lại giá trị nhân cách của mỗi thành viên trong xã hội ấy Do đó, văn hóa không phải
là hiện tượng mang tính cố định mà nó vừa mang tính phổ biến, vừa mang tính cá biệt Nó vừa mang đặc điểm chung, vừa mang đặc điểm riêng của con người ở mỗi thể chế cộng đồng Trong số đó, có khuôn mẫu hành vi kết hợp cả yếu tố bản sắc dân tộc và cũng có khuôn mẫu hành vi bị loại bỏ
Cách nhận định này không những có khả năng bao quát được khá nhiều cách tiếp cận khác nhau, chính hiểu biết khác nhau về văn hóa, mà còn cho phép ta nhận diện được một hiện tượng văn hóa và phân biệt nó với những hiện tượng khác không phải là văn hóa, từ những hiện tượng phi giá trị, những giá trị tự nhiên thiên tạo cho tới những giá trị nhân tạo chưa có tính lịch sử Từ cách nhận định quan điểm về văn hóa, người viết hệ thống lại khái niệm văn hóa như sau:
- Văn hóa có mối quan hệ gắn bó hữu cơ với con người
- Văn hóa là sản phẩm do con người tạo ra trong quá trình hoạt động thực tiễn- xã hội của mình mà con người tích lũy được
- Văn hóa bao gồm các giá trị vật chất và tinh thần Cốt lõi của giá trị văn hóa là tính đạo đức, tính thẩm mỹ hướng con người vươn tới hoạt động tốt đẹp, những giá trị chân, thiện, mỹ
- Khi xem xét bản chất của văn hóa, ta phải đặt văn hóa trong mối quan hệ với tự nhiên, với xã hội và với chính bản thân con người, điều đó có nghĩa là, con người là chủ thể của văn hóa
1.1.1.2 Khái niệm văn hóa học đường
Văn hóa luôn đi liền với giáo dục, giáo dục gắn liền với văn hóa cả hai điều
là sản phẩm đặc thù của loài người, chỉ có loài người mới có V.I.Lênin
Trang 11(1870-1924) đã khẳng định: Giáo dục là “phạm trù vĩnh hằng” - tồn tại mãi mãi cùng loài
người, thế hệ trước phải truyền cho thế hệ sau các kinh nghiệm lịch sử - xã hội; tạo nên tiến hóa không ngừng của loài người Suốt chiều dài lịch sử, chân lý đó ngày càng được sáng tỏ, nhất là từ thế kỷ ánh sáng (thế kỷ thứ XVIII ở Pháp) Giáo dục (bao gồm cả đào tạo) được coi là nhân tố cực kỳ quan trọng, quyết định sự trường tồn của quốc gia, dân tộc Ở nước ta, trong cương lĩnh Đảng Cộng Sản Việt Nam, Năm 1991 ghi rõ: Giáo dục là quốc sách hàng đầu Không bàn tới mầm mống (các hình thức) truyền đạt này theo cơ chế duy truyền mà chỉ nhắc lại một điều chính là bản chất (tính người, tình người, năng lực, nhân cách,…) của con người được hình thành và phát triển từ ngoài xã hội vào - được xã hội hòa nhập tận vào não bộ, lĩnh hội, biểu hiện ra hành vi, hành động, hoạt động theo cơ chế di sản Nói cách khác, đứa trẻ từ bào thai chào đời như một sinh thể muốn thành người thì phải đắm mình vào quá trình giáo dục Quá trình này, ai cũng cảm nhận được, thật dầy công, nhiều khi cả cuộc đời, nhất là từ tuổi thơ đến tuổi vị thành niên Trong tiến hóa loài người, quá trình ấy còn dầy công hơn nhiều Và mãi cho đến cách đây khoảng 5.000 năm, phạm trù Nhà trường như một thể chế xã hội có tổ chức, có mục tiêu,… mới ra đời
ở Trung Đông, rồi 1.500 năm sau ra đời ở Ai Cập; tiếp theo, từ giữa thiên niên kỷ trước Công Nguyên, lớp học và Nhà trường khá phát triển ở Trung Hoa và HyLạp Khái niệm “học đường” có từ đây, đề ra chương trình, hình thành phương pháp, xây dựng địa điểm giảng dạy - không gian tiến hành hoạt động dạy- học là một hoạt động cùng nhau với thầy và trò là chủ thể cùng nhau tiến hành các thao tác trong giờ học, lớp học, phòng thí nghiệm,… Các hành động truyền đạt, tiếp thu nhằm cùng một mục đích là hình thành và phát triển tri thức, kỹ năng thái độ ở người học (3 thành tố của các môn học trong nhà trường theo quyết định của Bộ Giáo dục năm
1985, 1990) Cả hai chủ thể của hoạt động dạy học với cùng động cơ là hình thành, phát triển con người (nhân cách, tay nghề, lương tâm nghề nghiệp,…) trong dòng văn hóa, văn minh của nhân loại và dân tộc Văn hóa, văn minh là nội dung của giáo dục và đào tạo và cũng là mục tiêu của giáo dục và đào tạo Vấn đề đặt ra ở đây là làm sao chuyển vốn học vấn thành vốn văn hóa, từ tri thức, kỹ năng sang thái độ giá trị nhân cách điều thông thường hay nói là dạy chữ, dạy nghề, dạy người Tiến hành giáo dục trước hết và cuối cùng là nhằm phát triển con người, hình thành ở mỗi
Trang 12người nhân cách văn hóa, đòi hỏi một môi trường giáo dục tương ứng mà bây giờ gọi là “văn hóa học đường” (dẫn theo bài nghiên cứu “Giáo dục giá trị xây dựng văn hóa học đường” của Giáo sư Phạm Minh Hạc).
Trên thế giới, thuật ngữ “Văn hóa học đường” xuất hiện trong các nước nói tiếng Anh vào khoảng đầu những năm 1990 Ở một số nước như Mỹ, Úc, bước đầu tìm hiểu cho thấy đã có Trung tâm nghiên cứu vấn đề này Họ đã tổ chức khảo sát thực tiễn, xây dựng tiêu chí đánh giá và tiến hành đánh giá Tuy chưa có nhiều tài liệu về chủ đề này, nhưng các tác giả đều nhất trí rằng mỗi Nhà trường cần có VHHĐ của mình.Vì thực tiễn đã chứng minh tác dụng tích cực của VHHĐ và dần dần trở nên phổ biến trên thế giới với ý nghĩa tổng quát.VHHĐ là những giá trị, những kinh nghiệm lịch sử của xã hội loài người đã tích lũy trong quá trình xây dựng hệ thống giáo dục và quá trình hình thành nhân cách
Kent D Peterson cho rằng, văn hóa nhà trường là tập hợp các chuẩn mực, giá trị và niềm tin, các lễ nghi và nghi thức, các biểu hiện và truyền thống tạo ra vẻ bề ngoài của trường Với Stephen Stolp, văn hóa Nhà trường như là một cấu trúc, một quá trình và bầu không khí của các giá trị và chuẩn mực dẫn dắt giáo viên và học sinh đến việc giảng dạy và học tập có hiệu quả
Theo từ điển giáo dục GreenWood (Mỹ): “VHHĐ (hay văn hóa Nhà trường - School Cultuer) là những niềm tin, thái độ và giá trị được lưu giữ bởi các thành viên trong Nhà trường” Theo Peterson, 1999: “VHHĐ là một bối cảnh (phong nền) tiềm
ẩn phản ánh những giá trị, niềm tin, chuẩn mực, truyền thống, lễ nghi được xây dựng qua một thời gian dài, khi chỉ những hành động của các thành viên trong Nhà trường mà cả động cơ, ý thức của họ” Đôi khi người ta coi VHHĐ là bầu không khí trong Nhà trường VHHĐ thường quyết định các thành viên trong nhà trường sẽ cùng hành động và suy nghĩ như thế nào trước một vấn đề, một tình huống xảy ra
Ở Việt Nam, VHHĐ là một thuật ngữ khoa học còn khá mới mẻ, một cụm từ xuất hiện cách đây chưa lâu và cũng chủ yếu trên các phương tiện truyền thông đại chúng, tuy nhiên, nội dung của “VHHĐ” thì các trường ở Việt Nam từ xa xưa đã có
và trở thành các truyền thông quý báu của dân tộc ta như: Tôn sư trọng đạo, kính thầy yêu bạn, nhất tự vi sư bán tự vi sư, kính trên nhường dưới,…
Trang 13Các nhà nghiên cứu lại cho rằng VHHĐ là giá trị văn hóa có tính phổ biến của những người cùng sống, học tập, công tác trong môi trường giáo dục và đào tạo Trong môi trường đó, người dạy và người học là thành phần chủ yếu Những giá trị chung, những phong cách ứng xử, những quan hệ giữa người dạy và người học; giữa những người học với nhau là những yếu tố chủ yếu tạo nên VHHĐ của Nhà trường, của cơ sở giáo dục và đào tạo
Hệ thống giá trị của VHHĐ bao gồm cả những giá trị vật chất và giá trị tinh thần, tồn tại dưới dạng thức khác nhau như: những tồn tại vật lý bao gồm cấu trúc, những nét hoa văn trang trí các phòng học, khung cảnh Nhà trường, trang phục của nhà trường, những biểu tượng, khẩu hiệu, lễ nghi, các hoạt động văn hóa và học tập của Nhà trường, truyền thống, ý thức, tình cảm, niềm tin của các thành viên với Nhà trường, bầu không khí tâm lý,
Xét với góc độ mối quan hệ giữa thầy - trò, VHHĐ là hệ thống những giá trị vật chất và tinh thần được hình thành và tích lũy trong lịch sử bao gồm những suy nghĩ, quan niệm, thói quen, tập quán, tư tưởng, nhằm thiết lập mối quan hệ thầy trò và các thành viên có liên quan đến việc dạy và học đạt kết quả cao VHHĐ là nét đặc trưng của môi trường học tập và là tấm gương phản chiếu trình độ phát triển của
xã hội
Theo Giáo sư, Viện sĩ Phạm Minh Hạc: VHHĐ là hệ thống các chuẩn mực, giá trị giúp các cán bộ quản lý Nhà trường, các thầy cô, các vị phụ huynh và các em học sinh, sinh viên có cách thức suy nghĩ, tình cảm, hành động tốt đẹp
Thạc sĩ Trần Đình Thích, hiện đang công tác tại khoa Sư phạm trường Đại học Cần Thơ, trăn trở về vấn đề này cũng đưa ra quan niệm của mình về VHHĐ:
“VHHĐ là không gian văn hóa bao trùm toàn bộ các hoạt động phong phú, đa dạng trong nhà trường (hoạt động dạy học, sinh hoạt vui chơi, giải trí, ) Tất cả các hoạt động đều đảm bảo những chuẩn mực văn hóa trong Nhà trường Văn hóa giao tiếp
và đạo đức học đường là những bộ phận trong VHHĐ”
Ông cũng đề cập đến vấn đề liên quan đó chính là đạo đức học đường, ông cho rằng đạo đức học đường là một khái niệm thuộc phạm trù đạo đức, nhằm giáo dục đạo đức, tư tưởng, tình cảm trong sáng, tốt đẹp cho học sinh trong Nhà trường,
Trang 14hướng đến những giá trị nhân văn cao quý của con người như: Tình nghĩa thầy trò:
“Tôn sư trọng đạo”, “Tiên học lễ, hậu học văn”; tình cảm gia đình: “Công cha như núi Thái sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”; tình cảm bạn bè, tình người trong cuộc sống: “Thương người như thể thương thân”
Từ các quan điểm trên, người viết đưa ra cách hiểu của mình về VHHĐ: VHHĐ là một bộ phận của văn hóa, là tập hợp những giá trị và niềm tin được hình thành và phát triển trong môi trường học đường giúp các thành viên trong Nhà trường ấy có suy nghĩ, hành động tốt đẹp vươn tới giá trị chuẩn mực, chân, thiện,
mỹ Ở đây, người viết xoáy trọng tâm văn hóa học đường ở hai góc độ:
- Văn hóc học đường là một môi trường văn hóa để chủ thể văn hóa (con người cụ thể là học sinh, sinh viên) có thể hoạt động, phát triển trên môi trường đó
- Văn hóa học đường là giá trị chuẩn mực mà chủ thể văn hóa phải vươn tới
Đó là những giá trị chân, thiện, mỹ hướng tới sự phát triển toàn diện:
1.1.1.3 Mục tiêu của giáo dục văn hóa học đường
Mục tiêu chung nhất của văn hóa học đường là xây dựng trường học lành mạnh, các mối quan hệ thân thiện và chất lượng giáo dục
Trên cơ sở mục tiêu chung của ngành giáo dục, mỗi trường học có mục tiêu, nội dung văn hóa học đường của trường mình Để làm được điều đó, mỗi Nhà trường phải xem xét cụ thể hoàn cảnh, điều kiện của trường mình mà nghiên cứu một hệ thống chuẩn mực, giá trị phù hợp các thành viên trong Nhà trường cùng tham gia xây dựng với những biện pháp thực hiện Hệ chuẩn mực giá trị đó phải phù hợp các thành viên trong Nhà trường cùng tham gia xây dựng với những biện pháp thực hiện Hệ chuẩn mực giá trị đó phải tương hợp với một mức độ nhất định với các truyền thống của phong tục, địa phương, cộng đồng
Văn hóa học đường ở mỗi Nhà trường tạo niềm tin cho xã hội trong việc thực hiện chức năng giáo dục và sứ mệnh nâng cao dân trí
Làm văn hóa học đường trở nên tốt đẹp, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, trong sáng, đẹp đẽ, đầy tính nhân văn, có sức cảm hóa, sức lan tỏa sâu rộng trong xã hội, từ đó góp phần hình thành, phát triển nhân cách con người mới
Trang 15Văn hóa học đường có vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện sứ mạng của Nhà trường Nhiều nghiên cứu của nước ngoài đã khẳng định ảnh hưởng của văn hóa học đường đến chất lượng, hiệu quả dạy học và giáo dục học sinh Văn hóa học đường không phải từ trên trời rơi xuống mà được xây dựng nên và do đó có thể điều khiển được Nó là duy nhất cho dù có thể tìm thấy những đặc điểm chung Vì thế quá trình thay đổi văn hóa học đường đòi hỏi sự hiểu biết sâu sắc và toàn diện
về những vấn đề có tính liên quan và đó là một quá trình thay đổi diễn ra từ từ, theo những bước đi thích hợp
1.1.1.4 Bản chất của văn hóa học đường
Về bản chất, văn hóa học đường là môi trường Môi trường văn hóa học đường là nơi mà mỗi cá nhân hoạt động trong đó có đủ điều kiện thể hiện mình một cách toàn vẹn nhất vì mục tiêu chung của cộng đồng Môi trường văn hóa học đường phải bao gồm cả môi trường địa lý tự nhiên, môi trường vật lý, môi trường tâm lý, ứng xử giao tiếp, mà mỗi thành viên trong đó đều có nhiều hoạt động thể hiện mình Môi trường đó cũng là nơi chốn (thời gian, không gian) với các đối tượng mà mọi người trong xã hội khách quan đều nhìn thấy, đánh giá và cảm nhận được
1.1.1.5 Vai trò của văn hóa học đường
Văn hóa học đường có thể tác động tích cực hoặc cản trở đến sự vận hành của Nhà trường Khi Nhà trường có văn hóa tích cực mang tính chuyên môn cao thì
ở đó sẽ có sự phát triển đội ngũ có ý nghĩa, cải cách chương trình thành công và sử dụng số liệu về học sinh một cách có hiệu quả Ở những trường học như thế, giáo viên và học sinh đều trưởng thành.Văn hóa học đường có tương quan với thái độ của giáo viên đối với công việc của mình Sự chia sẻ thông tin về học sinh hằng ngày sẽ làm cho giáo viên nắm chắc hơn về hành vi và kết quả học tập của học sinh Sự chú ý này của giáo viên sẽ tạo cho học sinh cảm giác mình thuộc về Nhà trường (là thành viên của Nhà trường) và từ đó chúng cố gắng cải thiện hành vi và kết quả học tập của chúng Văn hóa học đường tạo động lực làm việc Động lực sư phạm được tạo nên bởi nhiều yếu tố, trong đó văn hóa là một động lực vô hình nhưng có sức mạnh kích cầu hơn cả các biện pháp kinh tế Văn hóa học đường giúp
Trang 16nhân viên thấy rõ mục tiêu, định hướng và bản chất công việc mình làm Đó là nền tảng tinh thần cho sự sáng tạo – điều vô cùng quan trọng với hoạt động sư phạm mà đối tượng là tri thức và con người Văn hóa học đường với chất lượng đào tạo và thương hiệu Nhà trường Văn hóa học đường ảnh hưởng nhiều chiều tới chất lượng
và hiệu quả giáo dục trong Nhà trường theo hướng phát triển con người toàn diện
Nó ảnh hưởng rõ rệt đến suy nghĩ, cảm nhận và hành động của mỗi thành viên trong Nhà trường, do đó có thể nâng cao hay cản trở động cơ, kết quả dạy học của người học Văn hóa có ý nghĩa và tầm quan trọng đặc biệt đối với xây dựng thương hiệu Nhà trường, hơn bất kỳ một tổ chức nào.Văn hóa học đường tích cực giúp cho người dạy, người học có cảm giác tự hào, hãnh diện vì được là thành viên tổ chức của Nhà trường, được làm việc vì những mục tiêu cao cả của Nhà trường Văn hóa học đường hỗ trợ điều phối và kiểm soát hành vi của các cá nhân bằng các chuẩn mực, thủ tục, quy trình, quy tắc và bằng dư luận, truyền thuyết do những thế hệ con người trong tổ chức Nhà trường xây dựng nên Khi Nhà trường phải đối mặt với một vấn đề phức tạp, chính văn hóa học đường là điểm tựa tinh thần, giúp các nhà quản lý trường học và đội ngũ giáo viên hợp tác, phát huy trí lực để có quyết định
và sự lựa chọn đúng đắn Văn hóa học đường giúp các thành viên tổ chức thống nhất về cách nhận thức vấn đề, cách đánh giá, lựa chọn, định hướng và hành động,
Nó tựa như chất keo gắn kết các thành viên lại thành một khối, tạo ra những dư luận tích cực, hạn chế những biểu hiện tiêu cực trái với quy tắc, chuẩn mực thông thường của tổ chức Nó hạn chế những nguy cơ mâu thuẩn, xung đột và khi xung đột là không thể tránh khỏi thì văn hóa học đường tạo ra hành lang đạo lý phù hợp để góp phần khắc phục, giải quyết xung đột trên nguyên tắc không để phá vỡ tính chỉnh thể của tổ chức Nhà trường
Tổng hợp tất cả các yếu tố trên, từ sự gắn kết, tạo động lực, điều phối kiểm soát và hạn chế những nguy cơ làm giảm sức mạnh của tổ chức thì văn hóa tổ chức
đã làm tăng các hiệu quả hoạt động trong Nhà trường, trên cơ sở đó mà dần tạo nên những phẩm chất đặc trưng khác biệt cho tổ chức trường học Đó là cơ sở nâng cao
uy tín, “thương hiệu” của Nhà trường, tạo đà cho các bước phát triển tốt hơn
Trang 171.1.2 Nội dung của văn hóa học đường
Nội dung của văn hóa học đường vô cùng phong phú và đa dạng, xem xét ở nhiều góc độ, người viết đưa ra ba quan điểm về văn hóa học đường như sau:
Quan điểm thứ nhất của một số thầy cô giáo đưa ra trong hội thảo “Giáo dục văn hóa giao tiếp trong Nhà trường” (2009)
Có nhà nghiên cứu đưa ra nội dung cụ thể của văn hóa học đường bao gồm:
- Làm cho mọi thành viên hiểu mục tiêu và giá trị của Nhà trường;
- Chuẩn học các bộ môn;
- Làm cho mọi người học cam kết có trách nhiệm học tập tốt;
- Xây dựng quan hệ hợp tác trong Nhà trường;
- Tạo cơ hội để các cán bộ và nhà giáo phản ánh kịp thời tình hình, tập thể kiểm tra lẫn nhau và chia sẻ kinh nghiệm với nhau;
- Rèn dũa động cơ nâng cao tay nghề, cải tiến giảng dạy, tạo sự thống nhất trong cán bộ và nhà giáo
Trong thời đại ngày nay, mối quan hệ giữa thầy và trò là nhân tố cực kỳ quan trọng đối với hiệu quả giáo dục Nhà trường Ủy ban Quốc tế về Giáo dục cho thế kỷ XXI của UNESCO đã đặc biệt lưu ý đến mối quan hệ này trong thời đại mới
Quan điểm thứ hai do Giáo sư Phạm Minh Hạc nguyên là Bộ trưởng Bộ Giáo dục dành rất nhiều tâm huyết về văn hóa học đường nêu rõ:
Nội dung văn hóa học đường gồm 3 thành tố chính:
+ Là Nhà trường có hoàn cảnh riêng, nhất là về cơ sở vật chất;
+ Là đồng thời với việc chăm lo cơ sở vật chất, sách giáo khoa, đội ngũ giảng dạy và quản lý, một việc phải bắt tay ngay là xây dựng môi trường giáo dục trong Nhà trường, trong ký túc xá hay nhà trọ, ở gia đình, nơi công cộng;
+ Là “văn hóa ứng xử”, “văn hóa giao tiếp”
Quan điểm thứ ba là do Tiến sĩ Phạm Văn Khanh chủ tịch Hội khoa học tâm
lý và Giáo dục tỉnh Tiền Giang đề xuất:
Trang 18Thứ nhất, văn hóa học đường là văn hóa môi trường.;
Học đường là nơi tiến hành dạy và học với sự tham gia của cơ sở vật chất trường học, cán bộ quản lý giáo dục, thầy, trò, chương trình, nội dung giáo dục để thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục đào tạo của từng trường Do vậy, nói đến văn hóa học đường trước hết phải nói đến môi trường, cảnh quang sư phạm, cây xanh, hoa kiểng, nơi chỗ vui chơi, giải trí, sinh hoạt, họp hội, học tập, thực hành thí nghiệm, vệ sinh an toàn, như thế nào Tổng quan Nhà trường từ cổng, hàng rào, bảng tên trường, bàn ghế học sinh, nhà làm việc, nhà vệ sinh, đều toát lên văn hóa của Nhà trường Nhưng điều đó không hẳn là cổng trường to hay nhỏ, hoa kiểng đẹp hay xấu, cây xanh nhiều hay ít, mà quan trọng là cách sắp xếp, bố cục các vật thể ấy trong Nhà trường như thế nào? Nói lên điều gì? Văn hóa học đường tuy không phải là vật thể nhưng văn hóa học đường thể hiện qua các vật thể ấy
Dĩ nhiên trong tình hình hiện nay nhiều trường học còn khó khăn về cơ sở vật chất cũng là những cản ngại cho xây dựng văn hóa học đường, nhưng tục ngữ Việt Nam có câu “Nghèo cho sạch, rách cho thơm” cho thấy rằng không phải đợi đến khi Nhà trường có cơ sở vật chất tươm tất, đầy đủ rồi mới xây dựng văn hóa học đường
Thứ hai, văn hóa học đường là văn hóa tổ chức;
Trường học là một tổ chức, văn hóa học đường là văn hóa tổ chức Một tổ chức sau khi được hình thành, tồn tại và phát triển thì tự khắc nó sẽ dần dần hình thành nên những nề nếp, chuẩn mực, lễ nghi, niềm tin và giá trị Đó là sợi dây vô hình gắn kết các thành viên trong tổ chức lại với nhau, cùng phấn đấu cho những giá trị chung của tổ chức Đó là nghi lễ, đồng phục, không khí học tập trật tự, sinh hoạt nề nếp, đi học đúng giờ, hiểu biết, tôn trọng, đoàn kết nhau, cùng nhau bảo vệ không làm thiệt hại danh dự, uy tín chung của Nhà trường,
Có thể nói, văn hóa tổ chức là yếu tố cơ bản trong văn hóa học đường, nó hiện diện trong khắp hoạt động của Nhà trường
Trang 19Thứ ba, văn hóa học đường là văn hóa cư xử;
Xét trên nhiều khía cạnh, văn hóa ứng xử tương đồng với văn hóa giao tiếp, văn hóa hành vi (trong môi trường học đường) Văn hóa học đường là hành vi ứng
xử của các chủ thể tham gia hoạt động giáo dục trong Nhà trường, là lối sống văn minh trong trường học, thể hiện như:
+ Ứng xử của thầy, cô giáo với học sinh: Được thể hiện như sự quan tâm đến học sinh, sinh viên, biết tôn trọng người học, biết phát hiện ra ưu điểm, nhược điểm người học để chỉ bảo Thầy cô luôn gương mẫu trước học sinh, sinh viên
+ Ứng xử của học sinh, sinh viên với thầy, cô giáo thể hiện bằng sự kính trọng, yêu quý của người học với thầy, cô giáo Hiểu được những chỉ bảo giáo dục của thầy, cô và thực hiện điều đó có tự giác, có trách nhiệm
+ Ứng xử giữa lãnh đạo với giáo viên, nhân viên thể hiện người lãnh đạo phải có năng lực tổ chức các hoạt động giáo dục Người lãnh đạo có lòng vị tha, độ lượng, tôn trọng giáo viên, nhân viên, xây dựng bầu không khí lành mạnh trong tập thể Nhà trường
+ Ứng xử giữa các đồng nghiệp, học sinh, sinh viên với nhau phải thể hiện qua cách đối xử mang tính tôn trọng, thân thiện, giúp đỡ lẫn nhau
Tất cả các ứng xử trong Nhà trường là nhằm xây dựng một môi trường sống văn minh, lịch sự trong Nhà trường
Nội dung của văn hóa học đường vô cùng đa dạng và phong phú, tùy từng cách tiếp cận mà đưa ra quan điểm của mình, từ cơ sở nghiên cứu về khái niệm cũng như biểu hiện của văn hóa, người viết chọn cách tiếp cận văn hóa học đường bao gồm: văn hóa tổ chức, văn hóa môi trường và văn hóa ứng xử để thực hiện luận văn của mình Nội dung của từng phần văn hóa học đường sẽ được người viết trình bày chi tiết, cụ thể ở Chương 2
Trang 201.2 Văn hóa môi trường học đường
1.2.1 Khái niệm văn hóa môi trường học đường
“Môi trường” là một tổ hợp các yếu tố tự nhiên và xã hội bao quanh bên
ngoài của một hệ thống nào đó Chúng ta tác động lên hệ thống này và xác định xu hướng và tình trạng tồn tại của nó Môi trường có thể coi là một tập hợp, trong đó
hệ thống đang xem xét là một tập hợp con Môi trường của một hệ thống đang xem xét cần phải có tính tương tác với hệ thống đó
Một định nghĩa rõ ràng hơn như: Môi trường là tập hợp tất cả các yếu tố tự
nhiên và xã hội bao quanh con người, ảnh hưởng tới con người và tác động đến các hoạt động sống của con người như: không khí, nước, độ ẩm, sinh vật, xã hội loài người và các thể chế
Nói chung, môi trường của một khách thể bao gồm các vật chất, điều kiện hoàn cảnh, các đối tượng khác hay các điều kiện nào đó mà chúng bao quanh khách thể này hay các hoạt động của khách thể diễn ra trong chúng
Vậy môi trường học đường ở đây là các yếu tố cấu thành nên bề ngoài của Nhà trường
Từ khái niệm môi trường người viết có thể suy luận ra, khái niệm văn hóa môi trường như sau:
Văn hóa môi trường học đường là các yếu tố cấu thành bên ngoài của học
đường mang sắc thái riêng biệt với các tổ chức khác làm nên giá trị thẩm mỹ của Nhà trường, ảnh hưởng, tác động và thể hiện được bộ mặt của Nhà trường
Văn hóa môi trường học đường bao gồm các yếu tố như: Cơ sở vật chất Nhà trường, cảnh quan môi trường học đường, là điều kiện sinh hoạt, vui chơi, giải trí trong khuôn viên trường học Tất cả các yếu ấy hòa quyện với nhau, tạo thành cảnh quan sư phạm đạt chuẩn, thúc đẩy việc học tập và giảng dạy ngày càng tốt hơn Nét đẹp trong văn hóa môi trường Nhà trường là tạo nên bầu không khí thoải mái, trong lành, dễ chịu cho học sinh học tập và vui chơi, phát triển toàn diện
Trang 211.3 Văn hóa tổ chức trong Trường Trung cấp Kỹ thuật và Nghiệp vụ Nam Sài Gòn
1.3.1 Khái niệm văn hóa tổ chức học đường
Khái niệm cơ bản của tâm lý học tổ chức là tổ chức Khái niệm này được xây dựng trên cơ sở trừu xuất những đặc điểm khác biệt giữa các loại tổ chức (thu lợi nhuận hay phi lợi nhuận, công ty tư nhân hay cơ quan công quyền, tập đoàn xuyên quốc gia hay cơ sở sản xuất nhỏ lẻ), để nhìn thấy những đặc điểm chung phổ biến của mọi tổ chức Quan điểm mang tính khái quát này lại xuất phát từ nhu cầu sống còn của mọi tổ chức, đó là hội nhập để tồn tại và phát triển Sự phát triển vũ bão của các phương tiện thông tin liên lạc và giao thông vận tải hầu như đã xóa nhòa các giới hạn về địa lý, làm cho thị trường ngày nay trở thành một thị trường có tính toàn cầu Xu hướng phát triển tương lai của mọi tổ chức là trở thành một tổ chức toàn cầu, mọi tổ chức đều phải gắn nối với nhau như là các phần của một thế giới thống nhất nhằm phục vụ cho một thị trường toàn cầu Trong ý nghĩa đó, khái niệm tổ chức được định nghĩa như sau:
“Tổ chức là một đơn vị xã hội gồm có từ hai người trở lên nhằm thực hiện các chức năng theo quy định của mình trên cơ sở hoạt động liên tục và lâu dài để đạt được mục tiêu chung” (Water- Mash T, Millett B, Robbins S.P, Cacioppe R,
1997)
“Tổ chức là một nhóm từ hai người trở lên, tin tưởng rằng họ có thể đạt được những mục tiêu mà không một cá nhân có thể làm tốt một mình Mục tiêu có thể là từ sự thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người như là thực phẩm, nơi trú ẩn, sự an toàn cho đến sản xuất và phân phối các sản phẩm hay dịch vụ phức tạp tinh tế Trong mọi trường hợp, con người trong tổ chức phải giao tiếp, quyết định, hành động, giải quyết các xung đột và học hỏi lẫn nhau để tạo nên một mối tương quan thuận lợi có tính chất đoàn thể giữa các cá nhân làm việc độc lập”
(Lawson B R, Dhen Z., 1998)
Cũng như nhiều định nghĩa khác về tổ chức đã phát biểu, các định nghĩa trên
đề cập đến sự tập hợp các cá nhân vì một mục tiêu chung và sự tương tác giữa các
Trang 22cá nhân để thực hiện mục tiêu chung đó, đây chính là đặc điểm chung rất quan trọng của mọi tổ chức
Có một khái niệm rất gần gũi với tổ chức, đó là nơi làm việc Khái niệm nơi làm việc được M K Galvin và J Terell (2001) giải thích như sau:
“Nơi làm việc đề cập đến mọi hoàn cảnh bất kỳ mà ở nơi đó công việc được thực hiện Nó bao gồm cả các công việc được thù lao cũng như là các công việc không được thù lao, như là các nổ lực trong công việc thiện nguyện hay làm các thủ lĩnh trong trường học hay nhóm cộng đồng Nó cũng bao gồm việc làm trong một
cơ quan chuyên môn nghiệp vụ của các tập đoàn quốc gia hay làm việc trong cửa hàng hóa địa phương do mình làm chủ, hay là việc thực hiện các cuộc gọi điện thoại từ nhà của mình”(Galvin M.K., Terrell J., 2001)
Một đặc điểm chung nhất giống nhau giữa nơi làm việc và tổ chức, đó lá có việc thực hiện các hoạt động có mục tiêu xác định Tuy nhiên, khái niệm nơi làm việc rộng hơn khái niệm tổ chức Mọi tổ chức bất kỳ chắc chắn phải có nơi làm việc, nhưng có thể có những nơi làm việc không phải là tổ chức, đó là trong trường hợp các cá nhân độc lập làm việc cho riêng mình, không có sự phối hợp hoạt động
để đạt mục tiêu chung, không có sự phân cấp quản lý trong công việc
Nhà trường là một tổ chức đặc biệt, theo I R Arends (2001) thì có một số lí
do để trường cần được nhận thức như là một tổ chức xã hội, giống như các tổ chức
xã hội khác Trước hết, Nhà trường hiện đại là một hệ thống nhân văn phức hợp, trong đó từng thành viên có chức năng quan trọng khác nhau, hành động theo phương thức phụ thuộc lẫn nhau Hơn nữa, Nhà trường cũng có lịch sử và nền văn hóa tổ chức riêng của mình, bao gồm các giá trị, niềm tin và kỳ vọng được duy trì
và phát triển vượt thời gian Ngoài ra, Nhà trường cũng có mục tiêu riêng Mục tiêu
đó chi phối cấu trúc, thủ tục hành chính và hoạt động hàng ngày của Nhà trường Tuy nhiên, Nhà trường là một tổ chức đặc biệt Nhà trường có một số đặc điểm riêng biệt mà các tổ chức xã hội khác không có
Thứ nhất là mục tiêu của Nhà trường thường cụ thể hơn mục tiêu của các tổ chức xã hội khác
Trang 23Thứ hai là Nhà trường có tính chất cộng đồng nhiều hơn các tổ chức cộng đồng khác Mọi người có thể đóng góp công sức, ý kiến, hỗ trợ cho ngân sách nhà trường Toàn bộ Nhà trường là một hệ thống mở
Thứ ba là mối quan hệ đặc biệt giữa nhà trường và học sinh sinh viên Học sinh sinh viên vừa là đối tượng giáo dục, vừa là đối tượng phục vụ của Nhà trường
Và sau hết, Nhà trường có cấu trúc tổ chức theo kiểu mạng lưới, mỗi lớp là một tế bào với một giáo viện chịu trách nhiệm về việc tổ chức lớp cấu trúc đó thường tạo
ra tình huống làm việc đơn độc đối với các giáo viên Họ ra các quyết định giảng dạy và giáo dục mà không yêu cầu sự giúp đỡ của các giáo viên khác Bằng việc bổ sung thêm một số vai trò khác trong Nhà trường như là các chuyên gia đặc biệt, cấu trúc này có thể sẽ thay đổi, nhưng hiện tại nó vẫn là trật tự phổ biến nhất
Qua tìm hiểu khái niệm về tổ chức cũng như nghiên cứu về khái niệm văn hóa trước đó, người viết đưa ra khái niệm văn hóa tổ chức như sau:
Văn hóa tổ chức là yếu tố cấu thành bên trong của tổ chức mang sắc thái riêng, phân biệt với tổ chức khác Văn hóa tổ chức biểu hiện bên trong mối quan hệ giữa cách ứng xử của các thành phần trong tổ chức, mối quan hệ giữa các cá nhân với nhau và cách thức họ làm việc hay ứng xử với công việc như thế nào
Văn hóa tổ chức học đường là toàn bộ cách thức hoạt động, nề nếp, quy củ,
là sự phân công, phối hợp giữa các cá nhân như thầy cô- thầy cô, Hiệu trưởng- nhân viên, giáo viên - học sinh sinh viên đi đến một cơ chế thống nhất, nhằm thực hiện mục tiêu chung của Nhà trường, và mục tiêu lớn của ngành Giáo dục và đào tạo là tìm ra nhân tài cho đất nước
1.4 Văn hóa ứng xử trong Trường Trung cấp Kỹ thuật và Nghiệp vụ Nam Sài Gòn
1.4.1 Khái niệm văn hóa ứng xử
Từ xưa, năng lực giao tiếp ứng xử được người Việt Nam xem là tiêu chuẩn
hàng đầu để đánh giá con người “Vàng thì thử lụa thử than Chuông kêu thử tiếng người ngoan thử lời”
Trang 24Ứng xử là một biểu hện của giao tiếp, là sự phản ứng của con người trước sự tác động của người khác với mình trong một tình huống nhất định được thể hiện qua thái độ, hành vi, cử chỉ, cách nói năng của con người nhằm đạt kết quả tốt trong mối quan hệ giữa con người với nhau Xét trên bình diện nhân cách thì bản chất của ứng
xử chính là những đặc điểm tính cách của cá nhân được thể hiện qua thái độ, hành
vi, cử chỉ và cách nói năng của cá nhân với những người xung quanh
Hành vi ứng xử văn hóa là những biểu hiện hoạt động bên ngoài của con người, được thể hiện ở lối sống, nếp sống, suy nghĩ và cách ứng xử của con người đối với bản thân, với những người chung quanh, trong công việc và môi trường hoạt động hằng ngày Tuy nhiên hành vi ứng xử văn hóa của mỗi cá nhân là khác nhau,
nó được hình thành qua quá trình học tập, rèn luyện và trưởng thành của mỗi cá nhân trong xã hội Hành vi ứng xử văn hóa được coi là giá trị văn hóa, đạo đức, thẩm mỹ của mỗi cá nhân được thể hiện thông qua thái độ, hành vi, cử chỉ, lời nói của mỗi cá nhân đó Nó được hình thành trong mối quan hệ với những người chung quanh Trong học tập, công tác, với bạn bè cùng trang lứa và thậm chí ngay cả với chính bản thân họ
Về khái niệm “ứng xử”, cho đến nay, có nhiều cách hiểu khác nhau nhưng
chung quy lại có thể hiểu theo hai cách như sau:
Theo nghĩa rộng, ứng xử được xem là những phản ứng đáp lại theo cách này hay cách khác của con người đối với tự nhiên Tự nhiên ở đây bao gồm thế giới vật chất bao quanh con người, những con người khác, những mối quan hệ khác, kể cả
những sản phẩm do con người tạo ra Theo C.Mác,“Giới tự nhiên…là thân thể vô
cơ của con người Con người sống bằng giới tự nhiên Như thế nghĩa là giới tự nhiên là thân thể của con người, thân thể mà với nó con người phải ở lại trong quá trình thường xuyên giao tiếp để tồn tại”
Theo nghĩa hẹp, ứng xử thể hiện qua mối quan hệ người với người trên mọi lĩnh vực đời sống Có quan hệ người- người, tức là có quan hệ xã hội, là có ứng xử, nhưng ứng xử không đồng nhất với quan hệ
Với cách hiểu theo nghĩa hẹp trên đây, có thể bắt gặp cách giải thích thuật
ngữ ứng xử trong Từ điển Tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên): Ứng xử tức là “có thái
Trang 25độ, hành động, lời nói thích hợp trong xử sự” Tuy nhiên, cách giải thích này còn sơ giản, chưa chỉ ra một cách rõ ràng cụ thể cũng như đối tượng hướng tới của ứng xử
Trong Tâm lí học ứng xử, khái niệm ứng xử cũng được tác giả Lê Thị Bừng
và Hải Vang xác định: “ứng xử là phản ứng của con người đối với sự tác động của người khác đến mình trong một tình huống cụ thể nhất định Nó thể hiện ở chỗ con người không chủ động giao tiếp mà chủ động trong phản ứng có sự lựa chọn, có tính toán, thể hiện qua thái độ, hành vi, cử chỉ, cách nói năng tùy thuộc vào tri thức, kinh nghiệm và nhân cách của mỗi người, nhằm đạt kết quả giao tiếp cao nhất” Ở
đây, tác giả đã xác định được chủ thể và đối tượng hướng tới của ứng xử, đặc biệt là
xác định được “tình huống nhất định” của một cuộc ứng xử Song đó chỉ là quan hệ
ứng xử cá nhân con người, chưa khái quát được những quan hệ người khác rộng
hơn của đời sống xã hội Hơn nữa, trên thực tế, quan hệ giữa “thái độ” với “lời nói” và “hành vi” thực ra là quan hệ giữa cái được biểu hiện và cái biểu hiện, tức
trong một cuộc ứng xử, thái độ của chủ thể được thể hiện qua lời nói hoặc hành vi, ngược lại “khách thể” hay đối tượng lại dựa vào hành vi hoặc lời nói để nhân biết thái độ chủ thể
Trong cuốn Ứng xử sư phạm, các tác giả Trịnh Trúc Lâm và Nguyễn Văn Hộ
cho rằng: “Ứng xử trong xã hội được hiểu là cách hoạt động của các vai trò xã hội nào đó trước một chủ thể xã hội khác cũng như có một vị trí xã hội Như vậy, ứng
xử xã hội trước tiên là hành động của các vai trò xã hội khác nhau và sau nữa là cách hành động của chủ thể với chính bản thân mình, với đồ vật, với môi trường tự nhiên” Ở định nghĩa này, mặc dù các tác giả đã khái quát được một cách đầy đủ,
khoa học về ngoại diên cũng như nội hàm của chủ thể cũng như khách thể của ứng
xử nhưng lại chưa xác định được tính phản ứng trong hành động của chủ thể ứng
xử
Có thể hiểu về ứng xử như sau: “ứng xử là sự phản ứng có lựa chọn thể hiện qua lời nói hoặc hành vi của chủ thể xã hội nào đó trước sự tác động của một chủ thể xã hội khác cũng như có một vị trí xã hội trong một tình huống cụ thể” Như
vậy, khái niệm ứng xử được đề cập đến ở đây là cách hiểu ứng xử theo nghĩa hẹp
Trang 26Trong ứng xử, trước sự tác động của một vai trò xã hội, nếu chủ thể ứng xử biết lựa chọn, vận dụng các yếu tố văn hóa trong hành vi, thái độ và lời nói của mình vào hoạt động ứng xử làm cho quá trình ứng xử chứa đựng một ý nghĩa, mangchở một giá trị (kinh tế, chính trị, luân lý, thẩm mỹ,…) nào đó thì đó chính là biểu hiện sinh động của văn hóa con người Cách lựa chọn như thế vừa là văn hóa vừa là nghệ thuật
Bởi vậy, khái niệm về văn hóa ứng xử được trình bày như sau: “Văn hóa ứng
xử là toàn bộ các nhân tố văn hóa được chủ thể ứng xử chọn lọc, sử dụng và biểu hiện trong hoạt động ứng xử, thể hiện bản sắc ứng xử của chủ thể đó nhằm tạo nên những giá trị, khuôn mẫu ứng xử” [34, tr139]
Có thể thấy, văn hóa ứng xử chính là một hệ thống được cấu trúc bởi bốn thành tố có mối quan hệ biện chứng với nhau là: Chủ thể ứng xử, khách thể ứng xử, hoàn cảnh ứng xử và các nhân tố văn hóa được chủ thể vận dụng vào quá trình ứng
xử Trong đó, hoàn cảnh ứng xử quy định việc chủ thể ứng xử chọn nhân tố văn hóa nào để thể hiện vào lời nói, hành động, cử chỉ của mình phản ứng lại sự tác động của khách thể ứng xử, gây cho khách thể ứng xử một tình cảm, thái độ, một hành động nào đó tích cực hoặc tiêu cực Các nhân tố văn hóa được chủ thể ứng xử chọn lọc, sử dụng và biểu hiện trong quá trình ứng xử bao gồm các giá trị văn hóa dân tộc
và giá trị văn hóa nhân loại, cả giá trị văn hóa vật chất và giá trị văn hóa tinh thần
Khi các chủ thể ứng xử biết khéo léo lựa chọn các yếu tố văn hóa này trong lời nói, hành vi để phản ứng lại tác động của khách thể thì không những tạo nên đặc trưng văn hóa riêng cho bản thân, tạo vị thế cho mình, tạo ấn tượng tốt đối với
“khách thể” mà còn tạo ra những khuôn mẫu, giá trị văn hóa cho xã hội, được xã
hội chấp nhận, lưu truyền, kế thừa và phát huy từ đời này đến đời khác Những câu chuyện của Mạc Đĩnh Chi giỏi vận dụng chữ nghĩa, vận dụng những hiểu biết về Nho giáo trong đối nhân xử thế khi quan hệ bang giao xưa là những ví dụ điển hình cho văn hoá, nghệ thuật ứng xử của người Việt được lưu truyền hậu thế
Biểu hiện của văn hóa ứng xử rất đa dạng phong phú, sinh động và cũng khá phức tạp Ở đâu có quan hệ xã hội, ở đó có văn hóa ứng xử
Trang 27Dựa vào mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể ứng xử có văn hóa ứng xử giữa cá nhân và cá nhân, văn hóa ứng xử giữa cá nhân và tập thể và ngược lại, giữa tập thể với tập thể, cộng đồng với cộng đồng và giữa các quốc gia với nhau…
Dựa vào tình huống ứng xử, văn hóa ứng xử có những biểu hiện khác nhau như: Văn hóa ứng xử trong gia đình, văn hóa ứng xử trong dòng tộc, văn hóa ứng
xử học đường, văn hóa ứng xử nơi công sở, văn hóa ứng xử doanh nghiệp, văn hóa ứng xử giao thông, văn hóa ứng xử cộng đồng… Trong gia đình, dòng tộc là ứng xử giữa những người ruột thịt, trong môi trường học đường là ứng xử giữa thầy và trò, thầy với thầy, trò với trò, văn hóa ứng xử biểu hiện giữa thủ trưởng với nhân viên, nhân viên với thủ trưởng và giữa các đồng nghiệp với nhau…
Tùy từng mối quan hệ, tùy từng tình huống, môi trường ứng xử khác nhau
mà chủ thể hay khách thể ứng xử bộc lộ văn hóa ứng xử khác nhau
VHHĐ là giá trị văn hóa có tính phổ biến của những người cùng sống, học tập công tác trong môi trường giáo dục và đào tạo.Trong môi trường đó, người dạy
và người học là những thành phần chủ yếu Những giá trị chung, những phong cách ứng xử những quan hệ giữa người dạy học và người học; giữa người học với nhau
là những yếu tố tạo nên VHHĐ của Nhà trường, của cơ sở giáo dục và đào tạo
Bản chất của ứng xử học đường là trao đổi (hai hoặc nhiều người cùng đối thoại) thông tin, quan hệ giao lưu,… thông qua tiếp xúc giữa người với người, là một dạng hoạt động quan trọng của con người, là đối tượng mà nhiều ngành khoa học quan tâm nghiên cứu
Những mối quan hệ ứng xử chủ yếu ở đây là mối quan hệ ứng xử giữa Hiệu trưởng với thầy cô giáo và công nhân viên, học sinh; thầy- trò, giữa thầy giáo, cô giáo với nhau, giữa các em học sinh Trong đó có mối quan hệ văn hóa ứng xử giữa thầy và trò là mối quan hệ ứng xử quan trọng nhất Văn hóa ứng xử thể hiện bằng hành động, thái độ, cử chỉ,…
Trang 281.5 Tổng quan về Trường Trung cấp Kỹ thuật và Nghiệp vụ Nam Sài Gòn
1.5.1 Qúa trình hình thành và phát triển của Trường Trung cấp Kỹ thuật
và Nghiệp vụ Nam Sài Gòn
Đến năm 1998 theo quyết định số 3702/QĐ-UB-VX ngày 17 tháng 7 năm
1998 của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Trung tâm Dạy nghề Quận 8
đã chuyển thành Trường Trung học nghề Quận 8 trực thuộc Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố Hồ Chí Minh Một năm sau đó (1999), trường được đổi tên thành Trường Trung học Kỹ thuật và Nghiệp vụ Nam Sài Gòn, đây thực sự là một bước ngoặt để đưa Nhà trường sang một trang sử mới, bắt đầu đào tạo hệ Trung học Chuyên nghiệp Đến năm 2006, được sự quan tâm của Thành phố, của Quận ủy, Ủy ban nhân dân Quận 8, Nhà trường đã có thêm một cơ sở mới chính là địa điểm trụ sở của Nhà trường ngày nay số 47 Cao Lỗ, phường 4, quận 8, thành phố Hồ Chí Minh
Hình 1 Toàn cảnh Trường Trung cấp Kỹ thuật và Nghiệp vụ Nam Sài Gòn
Trang 29Đến năm 2009 với sự tin tưởng và tạo điều kiện của Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố Hồ Chí Minh một lần nữa trường được đổi tên với một tầm vóc lớn lao hơn, đó chính là tên gọi thân thương và rất đỗi tự hào của mỗi thầy cô giáo, mỗi em học sinh hôm nay - Trường Trung cấp Kỹ thuật và Nghiệp vụ Nam Sài Gòn Trường được thành lập theo quyết định số 2634/QĐ-UBND ngày 28 tháng 5 năm
2009 của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
Hình 2 Toàn cảnh sân dạy lái xe B1 và B2 (xe ô tô)
1.5.2 Khái quát về Trường Trung cấp Kỹ thuật và Nghiệp vụ Nam Sài Gòn
- Về công tác tuyển sinh và đào tạo:
Từ một trung tâm dạy nghề với sức vóc khiêm tốn, chỉ đào tạo các ngành nghề ngắn hạn nhằm giải quyết nhu cầu việc làm cho người lao động ở địa bàn Quận 8 là chủ yếu, nay đã vươn vai trở thành một Trường Trung cấp công lập lấy chất lượng đào tạo lên hàng đầu Trước năm 2000, Nhà trường chỉ đào tạo hệ Trung cấp nghề với 4 nghề chính là Điện toán máy tính, Điện dân dụng & công nghiệp, Sửa chữa ô tô, xe máy và ngành Công nghệ may Từ năm 2000, Nhà trường bắt đầu đào tạo hệ Trung cấp Chuyên nghiệp, tồn tại song song với hệ công nhân kỹ thuật, sau là Trung cấp
Trang 30nghề Hiện nay, Nhà trường có 26 ngành đào tạo hệ trung cấp chuyên nghiệp và hơn
70 nghề ngắn hạn
Tình hình tuyển sinh của Trường Trung cấp Kỹ thuật và Nghiệp vụ Nam Sài Gòn (đầu vào) Toàn trường trong năm học 2011 – 2012 tổng số học sinh là 2.656 học sinh
Năm học 2012 – 2013 tuyển 1.149 học sinh; năm học 2013 – 2014 tuyển 1.700 học sinh; năm học 2014 – 2015 tuyển 1.800 học sinh; năm học 2015 – 2016 tuyển 2.000 học sinh;
Quy mô đào tạo tăng liên tục theo từng năm, năm 2015 – 2016 trường có gần
5000 học sinh
Song song với việc mở mã ngành và đa dạng hóa loại hình đào tạo để đáp ứng nhu cầu xã hội là việc cải tiến không ngừng nội dung, chương trình đào tạo, phương pháp giảng dạy, tăng thời gian tham quan, thực hành, thực tập tại doanh nghiệp Trong 30 năm qua, hơn hàng chục nghìn học sinh đã tốt nghiệp từ mái trường này, đang là lực lượng lao động quan trọng trong công ty, nhà máy,… góp một phần lớn trong tiến trình phát triển kinh tế của thành phố và khu vực phía Nam
Hoạt động giáo dục không chỉ thể hiện qua nội dung bài giảng trong lớp mà được tăng cường, bổ sung qua các hoạt động phong trào của Đoàn thể (phong trào văn nghệ, văn thể mỹ, tổ chức trại truyền thống 26/3…), các câu lạc bộ ngoại khóa như: Câu lạc bộ tiếng Anh, Câu lạc bộ Võ thuật Vovinam, Câu lạc bộ cán bộ Đoàn, Câu lạc bộ Phát thanh học đường, Câu lạc bộ Mác – Lênin … Từ năm 2009, Nhà trường đã đưa chương trình huấn luyện kỹ năng sống vào giáo dục học sinh, cũng là một trong những trường tiên phong đầu tiên nhận thấy rõ vai trò kỹ năng sống của học sinh trong học tập, trong cuộc sống và đặc biệt phục vụ cho công việc sau khi tốt nghiệp Nhờ vậy học sinh tốt nghiệp ra trường dễ thích nghi với những yêu cầu của xã hội, có kiến thức xã hội nhất định Chính sự kết hợp giữa giáo dục đào tạo về kiến thức, đạo đức, tư tưởng chính trị và các kỹ năng nghề nghiệp, kỹ năng mềm đã tạo nên nét đặc trưng độc đáo của trường và đã làm nên những thành công không thể phủ nhận được trong những năm học qua
Trang 31Công tác quan hệ hợp tác đào tạo và giải quyết việc làm được Nhà trường chú trọng và quan tâm Nhằn đáp ứng được yêu cầu chung của xã hội, tạo môi trường học tập thực tế, học tập lâu dài và liên thông lên Cao đẳng, Đại học, cũng như tạo điều kiện cho học sinh thực tập, tìm việc làm sau khi tốt nghiệp Nhà trường
đã không ngừng duy trì quan hệ liên kết với các đơn vị truyền thống và mở rộng mối quan hệ hợp tác với các trường đại học, các doanh nghiệp, bệnh viện và các trường Mầm non Nhà trường tiến hành ký biên bản ghi nhớ với nhiều đơn vị, doanh nghiệp, bệnh viện trong hợp tác đào tạo và giải quyết việc làm, đặc biệt là phối hợp tổ chức thực tập chuyên sâu nghề nghiệp cho học sinh tại các đơn vị sản xuất đồng thời cùng với doanh nghiệp tổ chức đánh giá kỹ năng nghề nghiệp của học sinh trong các kỳ thi, kiểm tra Trước mỗi đợt thi tốt nghiệp, Nhà trường đều tổ chức chuyên đề “Kỹ năng tìm việc cho học sinh”, qua đó đã tổng hợp được nhiều ý kiến, nhiều nguyện vọng về việc làm của học sinh và cũng là cơ sở thống kê tình hình việc làm của học sinh sau tốt nghiệp Hiện nay, Nhà trường đã duy trì mối quan hệ với các doanh nghiệp, cơ sở y tế, bệnh viện, công ty Dược; trường Mầm non và các phòng Giáo dục đào tạo trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận
- Về công tác tồ chức bộ máy, đội ngủ Cán bộ- Giáo viên- Nhân viên:
Để có được như ngày hôm nay, người viết không thể nào quên những cán bộ lãnh đạo qua các thời kỳ đã luôn dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm như một người lính không biết mệt mỏi, không giờ phút lãng quên với trường lớp, với đơn
vị Các tiền bối đã coi ngôi trường là ngôi nhà thứ hai của mình Đó là thầy Trần Văn Sáu là Giám đốc từ năm 1985 – 1987, người có công khai sinh ra Trung tâm Dạy nghề Quận 8 Thầy Huỳnh Văn Minh là Giám đốc từ năm 1987 – 1991, Thầy
Võ Hồng Chinh là Giám đốc từ năm 1991 – 1998 Tiếp đến là thầy Trần Ngọc Trình – người có công lớn lập nên ngôi trường Trung cấp Kỹ thuật và Nghiệp vụ Nam Sài Gòn của người viết ngày hôm nay, Thầy giữ chức vụ Hiệu trưởng gần 15 năm, từ năm 1998 – tháng 3/2013 Nhận nhiệm vụ từ tháng 4/2013 đến nay, Thầy Nguyễn Trí Dũng đã cùng với Cán bộ- Giáo viên- Nhân viên Nhà trường tiếp tục truyền thống, chung vai gánh sức đưa Nhà trường đi lên Những tiền bối của người viết chính là những con người tiên phong đã góp công lớn khai sinh và từng bước
Trang 32đưa Nhà trường ngày một vững mạnh Với bao suy tư trăn trở, các vị đã không ngại khó khăn, lăn lội khắp mọi nơi để mở rộng quan hệ hợp tác trong nước và quốc tế, tạo nguồn cho công tác tuyển sinh đồng thời tìm nơi cho học sinh thực tập và tìm việc làm ổn định cho học sinh sau khi rời ghế Nhà trường
30 năm xây dựng và phát triển, Nhà trường không ngừng hoàn thiện về bộ máy tổ chức, đổi mới quản lý, đặc biệt chú trọng phát triển đội ngũ giáo viên, nhằm đáp ứng tốt cho nhu cầu duy trì, xây dựng và phát triển Nhà trường Hiện nay cơ cấu tổ chức của Nhà trường: Gồm một Hiệu trưởng phụ trách chung, 03 Phó Hiệu trưởng phụ trách các mảng đào tạo, cơ sở vật chất, công tác học sinh- sinh viên – hợp tác quốc tế Có 8 Phòng chức năng, 13 Khoa- Tổ (trong đó có 9 Khoa chuyên ngành), một Ban phụ trách công tác quản lý ký trúc xá, một Ban phụ trách đào tạo lái xe Song song với hoàn thiện bộ máy tổ chức, công tác bổ sung đội ngũ và đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ được Nhà trường chú trọng Hiện nay Nhà trường có tổng số
268 CB- GV- NV, trong đó có 158 cán bộ - giáo viên – nhân viên cơ hữu, với 62 người có học vị thạc sĩ, 6 giáo viên đang nghiên cứu sinh, 28 đang được đào tạo thạc sĩ, 100% giáo viên giảng dạy đều có trình độ đại học trở lên, có chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm Nhà trường luôn có chính sách hỗ trợ cho CB- GV- NV học tập nâng cao trình độ, tăng cường năng lực sử dụng ngoại ngữ - tin học, tạo các điều kiện thuận lợi để CB- GV- NV được học tập đạt chuẩn, vượt chuẩn Nhà trường luôn chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng giáo viên dạy giỏi Thường xuyên tổ chức dự giờ và phân tích sư phạm, mỗi năm đều tổ chức hội giảng cấp Khoa, hội giảng cấp Trường và bồi dưỡng giáo viên tham gia hội giảng cấp thành phố và toàn quốc Trong các kỳ thi hầu hết các giáo viên dự thi đều đạt giải Từ năm 2000 đến nay có 25 giáo viên được công nhận giáo viên dạy giỏi cấp thành phố, 08 giáo viên được công nhận giáo viên giỏi cấp toàn quốc Đội ngũ cán bộ- giáo viên- nhân viên của trường thực sự là một tập thể sư phạm đoàn kết nhất trí, vững vàng về chính trị, giỏi về chuyên môn nghiệp vụ, tâm huyết tâm với nghề nghiệp, mẫu mực về phong cách đạo đức lối sống
-Về cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học:
Trang 33Từ một trung Tâm dạy nghề với cơ sở vật chất nhỏ hẹp & hạn chế, đến nay trường được đầu tư và phát triển mạnh mẽ Ngoài cơ sở chính có diện tích trên 20.000m2 tại số 47 Cao Lỗ, trường còn có ba Phân hiệu với diện tích gần 5000m2
Từ chỗ chỉ có trên 10 phòng học, đến nay đã có hơn 96 phòng học, phòng thực hành, xưởng thực tập Các phòng thực hành, phòng thí nghiệm được chú ý nâng cấp, đầu tư các trang thiết bị hiện đại đáp ứng nhu cầu học tập thực tế của học sinh Trong xu hướng phát triển và xây dựng trường học tiên tiến theo QĐ 3036 của UBND TP Hồ Chí Minh trường tiếp tục được đầu tư xây dựng các công trình: Xây dựng chuẩn hóa phòng thực hành với vốn đầu tư 47 tỷ đồng; xây dựng phòng khám
đa khoa (nguồn vốn kích cầu); xây dựng trường Mầm non thực hành (nguồn vốn kích cầu)…
-Về các hoạt động xã hội:
Trong 30 năm qua, Nhà trường không chỉ chú trọng đến các hoạt động chuyên môn mà các hoạt động khác cũng được quan tâm sâu sắc Thông qua tổ chức Công đoàn, Đoàn thanh niên các hoạt động chính trị, xã hội, văn thể mỹ thường xuyên tổ chức tạo sân chơi lành mạnh, không khí sôi nổi trong toàn trường nhằm tác động tích cực trong giáo dục toàn diện học sinh
Phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc “Uống nước nhớ nguồn”, “tương thân, tương ái”, Nhà trường cũng thực hiện tốt công tác xã hội, hoạt động từ thiện
Tổ chức các hoạt động xã hội, hoạt động từ thiện Từ đầu năm 2014 đến nay Nhà trường đã tổ chức hơn 18 đợt khám từ thiện ở một số xã thuộc tỉnh ĐắcLắc, Long
An, VũngTàu, Đồng Tháp, Đồng Nai, An Giang… Với những hoạt động thiết thực mang tính cộng đồng trên, Khoa Y Dược của Nhà trường được Báo Sức khỏe cộng đồng thuộc Hội Giáo dục chăm sóc Sức khỏe cộng đồng Việt Nam chứng nhận là Thương hiệu uy tín vì Sức khỏe cộng đồng Ngoài hoạt động khám từ thiện, Nhà trường còn tổ chức các đợt hiến máu nhân đạo “Nghĩa cử cao đẹp hiến máu cứu người” Hàng năm, Đoàn trường tổ chức cho đoàn viên đến thăm và trao quà cho trẻ
em khuyết tật ở Mái ấm Hi Vọng (phường 8, quận 8), chăm sóc Đình Bình Đông (khu tưởng niệm Bác Tôn Đức Thắng)… Tổ chức học sinh tham gia hoạt động các Câu lạc bộ, chiến dịch Hoa phượng đỏ, Mùa hè xanh Hỗ trợ chính quyền địa
Trang 34phương chăm lo quà tết cho gia đình chính sách, gia đình nghèo, neo đơn, hỗ trợ xây dựng nhà tình thương…
Ba mươi năm là một chặng đường tuy chưa dài nhưng thời gian này đã đánh dấu quá trình xây dựng và trưởng thành, Nhà trường từng bước phát triển toàn diện;
Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học được đầu tư, đáp ứng nhu cầu học tập của học sinh; Đội ngũ giáo viên có tay nghề, giàu lòng nhiệt huyết, có trí tuệ, trình độ khá giỏi, thương yêu học sinh; Các thầy cô thường xuyên tự học, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, rèn luyện tư tưởng đạo đức, tích cực đổi mới phương pháp dạy học “học đi đôi với hành”,… đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công tác giáo dục, đào tạo
Với nhiều thành tích xuất sắc đạt được, Nhà trường đã vinh dự được nhận những phần khen thưởng cao quý: Bằng khen của Chính phủ năm 2012, Bằng khen của Bộ giáo dục và Đào tạo năm 2014, được Ủy ban nhân dân thành phố tặng nhiều bằng khen và Cờ thi đua xuất sắc, từ năm 2006 đến nay trường luôn được công nhận là tập thể lao động xuất sắc Chi bộ nhiều năm liền được công nhận Chi bộ trong sạch vững mạnh, Công đoàn trường nhiều năm liền đạt danh hiệu “Công đoàn
cơ sở vững mạnh xuất sắc” Đoàn thanh niên đạt xuất sắc nhiều năm liền, được Trung Ương Đoàn tặng Bằng khen về thành tích hoàn thành xuất sắc Công tác Đoàn
và phong trào thanh niên năm học 2010- 2011, 2014- 2015 Cùng với tập thể, nhiều
cá nhân có thành tích xuất sắc được các Sở ban ngành, thành phố, bộ, Nhà nước khen thưởng và tặng thưởng nhiều danh hiệu thi đua cao quý
Những thành tích trên đã khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của chi bộ Đảng, Ban Giám Hiệu Nhà trường với chiến lược sáng tạo phù hợp với từng giai đoạn, đặc biệt chú trọng “Học nghề đi đôi với rèn người”, đó là sự nổ lực của các thầy cô giáo không ngừng là tấm gương sáng cho học sinh noi theo về tư tưởng đạo đức, tác phong tự học tự sáng tạo, tinh thần đoàn kết thống nhất Đồng thời còn là sự quan tâm của Sở Giáo dục và Đào tạo, UBND quận 8, các sở ban ngành, các bậc phụ huynh và nhân dân tới sự phát triển giáo dục của Nhà trường
Những thành tích của Nhà trường đạt được trong 30 năm qua là rất to lớn và thật đáng tự hào Nhìn về phía trước, dù còn nhiều thách thức nhưng với ý chí tự lực
Trang 35tự cường, phát huy nội lực, khai thác nội lực, với bề dày kinh nghiệm của 30 năm đồng thời tranh thủ sự giúp đỡ, chỉ đạo của Sở Giáo dục và Đào tạo, của địa phương, Nhà trường quyết tâm xây dựng Trường Trung cấp Kỹ thuật và Nghiệp vụ Nam Sài Gòn thành Trường Trung cấp Chuyên nghiệp công lập tiên tiến giai đoạn 2015- 2020 Phấn đấu giữ vững và khẳng định vị thế là một cơ sở đào tạo uy tín, chất lượng nhằm đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực theo nhu cầu xã hội
+ Đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực của xã hội
+ Tạo sự ổn định và phát triển nghề nghiệp
+ Xây dựng thương hiệu đào tạo uy tín
Vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
CÁC DOANH HIỆU THI ĐUA
Từ năm 2000 đến năm 2005: Tập thể tiến tiến cấp cơ sở
Từ năm 2005 đến năm 2006: Tập thể lao động tiến tiến
Trang 36 Từ năm 2006 đến năm 2015: Tập thể lao động xuất sắc
Thủ tướng Chính phủ
Bằng khen đạt thành tích xuất sắc 2 năm liền hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ (2009- 2010; 2010- 2011)
Chủ tịch Ủy ban nhân dân Tp Hồ Chí Minh
Trang 376 2012- 2013 Cờ thi đua xuất sắc năm học
Chủ tịch Ủy ban nhân dân Tp Hồ Chí Minh
9 2014- 2015 Cờ thi đua xuất sắc năm học
2014- 2015
Chủ tịch Ủy ban nhân dân Tp Hồ Chí Minh
Hình 3 Bằng khen Thủ Tướng Chính Phủ tặng vì đã có thành tích trong công tác
giáo dục và đào tạo từ năm 2009 đến năm 2012
Trang 38Hình 4 Cờ thi đua của Ủy Ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tặng vì đơn vị
dẫn đầu trong phong trào thi đua năm học 2014-2015
1.5.3 Những đặc điểm cơ bản và điều kiện kinh tế- văn hóa – xã hội về Trường Trung cấp Kỹ thuật và Nghiệp vụ Nam Sài Gòn
1.5.3.1 Vị trí địa lý
Trường Trung cấp Kỹ thuật và Nghiệp vụ Nam Sài Gòn thuộc khu vực nội thành và nằm ở phía Nam Thành phố Hồ Chí Minh, có tọa độ địa lý từ 10045’8” đến
10041’45” vĩ độ Bắc; 106035’51” đến 106041’22” kinh đông: Phía Đông giáp quận
4, quận 7; phía Tây giáp quận Bình Tân và huyện Bình Chánh; phía Nam giáp huyện Bình Chánh và tỉnh Long An; phía Bắc giáp quận 5, quận 6 và quận 1 Trường nằm ở vị trí chuyển tiếp giữa khu đô thị cũ (quận 5, quận 6 và quận 1) và khu đô thị mới Nam thành phố, nên chịu sự tác động của đô thị hóa cao; có hệ thống giao thông khá phát triển; ngày càng được cải thiện với một số tuyến chính nối từ trung tâm thành phố tới Nhà trường và qua đô thị Nam Sài Gòn, Đại lộ Đông Tây, Đại lộ Nguyễn Văn Linh, đường Phạm Thế Hiển, đường Cao Lỗ, đường Tạ Quang Bửu,…do đó trường hội đủ các nhân tố cần thiết cho sực phát triển nhiều ngành nghề Ngoài ra với vị trí thuận lợi, Trường Trung Cấp Kỹ thuật và Nghiệp vụ Nam
Trang 39Sài Gòn còn có nhiều tiềm năng thu hút các đối tác về giáo dục trong và ngoài nước cho sự phát triển của Nhà trường
1.5.3.2 Điều kiện kinh tế- văn hóa – xã hội về Trường Trung cấp Kỹ thuật và Nghiệp vụ Nam Sài Gòn
Trường có một chi bộ cơ sở với 40 đảng viên Các tổ chức đoàn thể quần chúng như: Công đoàn cơ sở có 11 tổ công đoàn với 250 đoàn viên; Đoàn thanh niên Cộng Sản Hồ Chí Minh được thành lập với 105 chi đoàn với 900 đoàn viên
Hoạt động của chi bộ và các đoàn thể hàng năm đều được thành phố xếp loại xuất sắc, nổi bậc nhất về công tác chính trị tư tưởng, thực hiện các công việc vận động, chủ trương lớn liên quan của ngành giáo dục nhằm tăng cường Giáo dục đạo đức, phẩm chất chính trị trong cán bộ, giáo viên và học sinh
Nghiêm túc thực hiện và có hiệu quả các cuộc vận động: “ Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, “Nói không với tiêu cực thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục”, đổi mới mạnh mẽ công tác quản lý giáo dục, công tác thi đua, khen thưởng và thanh tra, kiểm tra trong giáo dục chuyên nghiệp, hưởng ứng cuộc vận động “ Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” của Bộ Giáo dục và Đào tạo
- Thực hiện các giải pháp phòng ngừa HSSV với trò chơi trực tuyến, ngăn ngừa phòng chống ma tuý và tổ chức quán triệt học tập các quy chế về công tác HSSV
- Tổ chức đợt sinh hoạt đầu năm học "Tuần sinh hoạt công dân - HSSV" phối hợp GVCN các lớp quán triệt học tập qui chế, giáo dục HSSV không tham gia vào trò chơi trực tuyến trên internet và phòng chống tệ nạn ma tuý, tác hại của ma tuý đối với cá nhân, gia đình, cộng đồng
Trường thường xuyên phổ biến các cuộc vận động “Hai không” không ỷ lại, không gian lận để giáo viên và học sinh biết và triệt để chống gian lận trong các kỳ thi Từ đó đã thực sự hạn chế tối đa việc gian lận trong các cuộc thi cử, khảo sát hàng tháng học sinh có ý thức tự giác học bài, không ỷ lại vào bạn bè và không còn hiện tượng mở sách vở trong lúc thi Ban giảm hiệu và Ban chỉ đạo quán triệt và
Trang 40tăng cường kiểm tra giáo viên về việc đánh giá học sinh hàng tháng cả về định lượng và định tính, mỗi học kỳ kiểm tra việc chấm bài và vào điểm số của học sinh đối với giáo viên chủ nhiệm và giáo viên bộ môn, kịp thời phát hiện những sai phạm và đánh giá, cho điểm
Tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng sống
- Trước nhu cầu và tình hình thực tế về hoạt động kỹ năng sống trong các năm học trước Phòng CTCT-HSSV đã chủ trì phối hợp với các Phòng- Khoa tổ chức lấy ý kiến đóng góp về điều chỉnh chương trình và nội dung phù hợp với nhu cầu thực tế hoạt động của Nhà trường
- Trong các năm học gần đây 2011- 2012; 2012- 2013; 2013- 2014 và
2014-2015, trên cơ sở lấy kiến từ các Phòng- Khoa cùng với tham mưu của Phòng HSSV, Ban Giám hiệu Nhà trường đã ra quyết định kế hoạch điều chỉnh và Ban hành chương trình đào tạo huấn luyện Kỹ năng sống từ năm 2014
CTCT Với việc điều chỉnh và Ban hành chương trình đào tạo huấn luyện kỹ năng sống đã rút ngắn tiến độ đào tạo cho khối THCS bớt 1 học kỳ trên cơ sở đảm bảo trang bị những kỹ năng cần thiết cho học sinh
- Trên cơ sở chương trình đào tạo đã điều chỉnh và ban hành, công tác huấn luyện của Huấn luyện viên, Báo cáo viên đảm bảo tiến độ chung
- Góp phần ổn định tình hình HSSV trong toàn trường năm học qua (năm học 2013 – 2014) Đa số HSSV nghiêm chỉnh chấp hành nội quy của trường, của lớp đề ra; có ý chí phấn đấu, khắc phục hoàn cảnh khó khăn để học tập, rèn luyện, quyết chí vì tương lai, vì ngày mai lập thân, lập nghiệp
- Trang bị cho học sinh sinh viên những kiến thức và kỹ năng cần thiết trong cuộc sống Bên cạnh học lý thuyết thì những hoạt động thực hành được tiến hành đồng thời trong suốt quá trình huấn luyện như Sơ cấp cứu, thực hành về Phòng cháy chữa cháy, hoạt động ráp mô hình thông minh qua bộ dụng cụ huấn luyện Teambuilding, xây dựng mô hình học tập với những vật tư có sẵn làm bàn ăn, xây dựng mô hình trại Gắng sức …
- Hoạt động huấn luyện kỹ năng sống còn mới mẻ nên việc xây dựng một bộ tài liệu thống nhất còn gặp nhiều khó khăn Trong năm học 2014-2015, việc sưu tập tài liệu, những bài giảng các chuyên đề đã thực hiện tuy nhiên chưa có xây dựng