1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Ảnh hưởng của việc bổ sung bột lá sắn đến khả năng sinh trưởng, chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa máu và hình thái tế bào gan ở chim cút

62 402 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 1,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM VŨ THỊ HUYỀN ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC BỔ SUNG BỘT LÁ SẮN ĐẾN KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, CHỈ TIÊU SINH LÝ, SINH HÓA MÁU VÀ HÌNH THÁI TẾ BÀO GAN Ở CHIM C

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

VŨ THỊ HUYỀN

ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC BỔ SUNG BỘT LÁ SẮN ĐẾN KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, CHỈ TIÊU SINH LÝ, SINH HÓA MÁU VÀ HÌNH THÁI TẾ BÀO GAN

Ở CHIM CÚT

Chuyên ngành: Sinh học thực nghiệm

Mã số: 6.42.01.14

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS TỪ QUANG TÂN

Thái Nguyên, năm 2016

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa từng được ai công bố, sử dụng để bảo vệ một học vị nào Các thông tin, tài liệu trích dẫn trong luận văn này đã được gi rõ nguồn gốc

Tác giả

Vũ Thị Huyền

Trang 3

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo và các cán bộ viên chức của phòng thí nghiệm, Bệnh viện Trường Đại học Y – Dược, Đại học Thái Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài

Xin chân thành cảm ơn bạn bè, người thân trong gia đình đã tạo điều kiện động viên tôi trong quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn

Thái nguyên, tháng5 năm 2016

Tác giả

Vũ Thị Huyền

Trang 4

MỤC LỤC

Trang Trang bìa phụ

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục các từ viết tắt iv

Danh mục bảng v

Danh mục hình vi

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu khả năng sinh trưởng 3

1.1.1 Khái niệm về sinh trưởng 3

1.1.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của gia cầm 3

1.2 Vài nét về chim cút 7

1.2.1 nguồn gốc, vị trí phân loại chim cút 7

1.2.2 Tính chất lý học, chức năng các thành phần chính của máu chim cút 8

1.2.3 Vai trò của gan đối với cơ thể sống 17

1.3 Giới thiệu về cây sắn 18

1.3.1 Tên khoa học và nguồn gốc phân bố 18

1.3.2 Thành phần hóa học của lá sắn 19

1.3.3 Độc tố HCN và phương pháp khử HCN trong sắn 19

1.4 Sắc tố trong bột lá thực vật 21

1.4.1 Giới thiệu chung về sắc tố 21

1.4.2 Sắc tố trong thức ăn chăn nuôi 22

1.4.3 Vai trò của sắc tố đối với vật nuôi 25

1.5.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 28

1.5.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 29

Chương 2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30

2.1 Đối tượng địa điểm và thời gian nghiên cứu 30

Trang 5

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 30

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu 30

2.1.3 Thời gian nghiên cứu 30

2.2 Phương pháp nghiên cứu 30

2.2.1 Phương pháp nghiên cứu phân lô so sánh 30

2.2.2 Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu 31

2.2.3 Phương pháp làm tiêu bản nhuộm H.E 33

2.2.4 Phương pháp xử lý số liệu 34

2.3 Cách lựa chọn chim cút thí nghiệm 34

2.4 Cách chế biến bột lá sắn thin nghiệm 34

2.5 Cách lấy mẫu thí nghiệm 34

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 36

3.1 Ảnh hưởng của bôt lá sắn đến sinh trưởng của chim cút 36

3.1.1 Ảnh hưởng của bôt lá sắn đến tỷ lệ nuôi sống của cim cút 36

3.1.2 Ảnh hưởng của bột lá sắn đến sinh trưởng tích lũy của chim cút qua các tuần tuổi 37

3.1.3 Ảnh hưởng của bột lá sắn đến sinh trưởng tuyệt đối của chim cút qua các tuần tuổi 39

3.1.4 Ảnh hưởng của bột lá sắn đến sinh trưởng tương đối 41

3.1.5 Ảnh hưởng của bột lá sắn đến tiêu thụ thức ăn của chim cút 43

3.2 Ảnh hưởng của BLS đến chỉ tiêu sinh lý, sinh hoá máu của chim cút 44 3.2.1 Số lượng hồng cầu, bạch cầu 44

3.2.2 Ảnh hưởng của BLS đến hàm lượng protein và các tiểu phần protein huyết thanh 45

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 49

5.1 Kết luận 49

5.2 Đề nghị 49

TÀI LIỆU THAM KHẢO 50

PHỤ LỤC 54

Trang 6

8 Hb

9 HCN

Hemoglobin cyanhydric

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Trang

Bảng 1.1 Nhiệt độ thích hợp đối với chim cút non 6

Bảng 1.2 Thời gian chiếu sáng thích hợp cho chim cút ở từng độ tuổi (giờ) 7

Bảng 2.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 30

Bảng 2.2 Thành phần nguyên liệu trong khẩu phần ăn của chim cút 31

Bảng 3.1 Tỷ lệ nuôi sống của đàn chim cút qua các ngày tuổi (%) 36

Bảng 3.2 Khối lượng của chim cút qua các tuần tuổi (g/con/tuần) 38

Bảng 3.3 Sinh trưởng tuyệt đối của chim cút qua các tuần tuổi (g/con/ngày) 40

Bảng 3.4 Sinh trưởng tương đối của chim cút qua các ngày tuổi (%) 42

Bảng 3.5 Tiêu thụ thức ăn của chim cút thí nghiệm (g/con/ngày) 43

Bảng 3.6 Ảnh hưởng của BLS đến số lượng hồng cầu bạch cầu ở chim cút 44

Bảng 3.7 Hàm lượng protein và các tiểu phần protein huyết thanh (g/L) 45

Trang 8

DANH MỤC HÌNH

Trang

Hình 3.1 Đồ thị sinh trưởng tích lũy của chim cút 39

Hình 3.2 Đồ thị sinh trưởng tuyệt đối của chim cút 41

Hình 3.3 Đồ thị sinh trưởng tương đối của chim cút 43

Hình 3.4 Cấu trúc vi thể gan chim cút (phương pháp nhuộm màu H.E) 48

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Trong những năm gần đây ngành chăn nuôi ở nước ta đã có những bước phát triển mạnh mẽ về cả số lượng và chất lượng, trong đó chăn nuôi gia cầm đóng một vị trí quan trọng trong việc cung cấp các sản phẩm thịt, trứng cho xã hội Ở một số nước trên thế giới, việc sản xuất bột lá thực vật cung cấp làm thức ăn cho gia súc, gia cầm trở thành một ngành công nghiệp chế biến như: Thái Lan, Ấn Độ, Colombia … Các loại thực vật được trồng để sản xuất bột lá như: keo dậu, cỏ stylo, bèo hoa dâu …Ở nước ta khoảng mười năm gần đây, người chăn nuôi chủ yếu sử dụng thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh trong chăn nuôi gia súc và gia cầm, nhưng trong thức ăn đó hầu như không có bột lá thực vật Hiện nay, nước ta có nhiều dự án nghiên cứu sử dụng protein thực vật thay thế một phần hoặc hoàn toàn protein động vật trong chăn nuôi gia cầm sạch như: sử dụng ngô giàu protein, các loại đậu đỗ, sử dụng các nguyên liệu

có nguồn gốc thực vật, không dùng các chất kích thích tăng trọng để đảm bảo không có bất kì hoá chất nào tồn dư trong thịt

Từ lâu, sắn đã là một cây lương thực quan trọng và được trồng rộng rãi ở các nước nhiệt đới và á nhiệt đới Tại Việt Nam có khoảng 560.000 ha trồng sắn với khoảng 5 tấn bột ngọn lá thu được lúc thu hoạch củ Mặt khác, cây sắn sau khi thu hoạch có khả năng tái sinh cao, năng suất chất xanh lớn, lá sắn giàu dinh dưỡng đặc biệt là protein Qua nhiều nghiên cứu trong nước và trên thế giới cho thấy rằng, khi cho vật nuôi ăn khẩu phần có bột lá sắn thì khả năng sinh trưởng

và sản xuất cao hơn so với khẩu phần ăn không có bột lá sắn

Tuy nhiên, lá sắn có chứa HCN gây ảnh hưởng đến chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa máu và đặc điểm hình thái tế bào gan Xuất phát từ thực tế trên

Tôi tiến hành đề tài: Ảnh hưởng của việc bổ sung bột lá sắn đến khả

năng sinh trưởng, chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa máu và hình thái tế bào gan

ở chim cút”

Trang 10

2 Mục tiêu nghiên cứu

Xác định được mức độ ảnh hưởng của việc bổ sung bột lá sắn đến khả năng sinh trưởng, chỉ tiêu sinh lí, sinh hóa máu và hình thái tế bào gan ở chim cút

3 Nội dung nghiên cứu

- Khảo sát ảnh hưởng của bột lá sắn đến khả năng sinh trưởng của chim cút

- Nghiên cứu ảnh hưởng của bột lá sắn đến một số chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa máu:

+ Số lượng hồng cầu (triệu/mm3)

+ Số lượng bạch cầu (nghìn/mm3)

+ Hàm lượng huyết sắc tố (g%)

+ Protein toàn phần:

+ Albumin huyết thanh (g%)

+ Globulin huyết thanh (g%)

+ Hệ số A/G trong huyết thanh

- Nghiên cứu ảnh hưởng của bột lá sắn đến hình thái tế bào gan

4 Ý nghĩa của việc nghiên cứu

4.1 Ý nghĩa khoa học

Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp cho ngành khoa học thức ăn

và dinh dưỡng vật nuôi những thông tin cơ bản về việc sử dụng bổ sung BLS trong chăn nuôi chim cút

4.2 Ý nghĩa thực tiễn

Các trang trại chăn nuôi chim cút có cơ sở khoa học để phối trộn BLS

vào khẩu phần ăn của chim cút đạt hiệu quả kinh tế cao

Trang 11

Chương 1

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Ơ

1.1 Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu khả năng sinh trưởng

1.1.1 Khái niệm về sinh trưởng

Sinh trưởng là quá trình diễn ra đồng thời liên tục trong cơ thể động vật cũng như trong gia cầm Có nhiều tác giả đã đưa ra khái niệm sinh trưởng:

Về mặt sinh học, sinh trưởng được xem như là quá trình tổng hợp protein, cho nên người ta thường lấy việc tăng khối lượng cơ thể làm chỉ tiêu đánh giá sự sinh trưởng Tuy nhiên, cũng có khi tăng khối lượng không phải tăng trưởng (Ví dụ: có trường hợp tăng khối lượng chủ yếu là tích mỡ và nước chứ không có sự phát triển của mô cơ) Sự tăng trưởng thực sự là sự tăng lên về khối lượng, số lượng và các chiều của các tế bào mô cơ [16]

Sinh trưởng cơ thể là tổng hợp sự sinh trưởng của các bộ phận như thịt, xương, da Những bộ phận này không chỉ khác nhau về tốc độ sinh trưởng mà còn phụ thuộc vào chế độ dinh dưỡng và nhiều yếu tố khác [23] “Sinh trưởng

là quá trình tích lũy các chất hữu cơ do đồng hóa và dị hóa, là sự tăng chiều cao, chiều dài, bề ngang khối lượng của các bộ phận và toàn cơ thể con vật trên cơ sở tính chất di truyền từ đời trước” [11]

Sinh trưởng của gia súc luôn gắn với phát dục, đó là quá trình thay đổi chất lượng, là sự tăng lên và hoàn chỉnh các tính chất, chức năng hoạt động của cơ thể Hai quá trình đó liên quan mật thiết và ảnh hưởng lẫn nhau tạo nên

sự hoàn thiện cơ thể gia súc, gia cầm Sinh trưởng và phát dục của cơ thể gia súc tuân theo tính quy luật và theo giai đoạn

1.1.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của gia cầm

1.1.2.1 Ảnh hưởng của đặc điểm di truyền của dòng, giống tới sinh trưởng

Di truyền là một trong những yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến tốc

độ sinh trưởng của cơ thể gia súc, gia cầm Có gen ảnh hưởng đến sự phát

Trang 12

triển chung hoặc ảnh hưởng tới sự phát triển theo nhóm tính trạng hay một vài tính trạng riêng lẻ, sự khác nhau về khối lượng cơ thể gia cầm là rất lớn [10] 1.1.2.2 Ảnh hưởng của tính biệt và tốc độ mọc lông

Sự khác nhau về tốc độ sinh trưởng và khối lượng của cơ thể còn do yếu tố tính biệt quy định Chim đực bé hơn chim mái Biến dị di truyền về tốc

độ mọc lông phụ thuộc vào giới tính, những alen quy định tốc độ mọc lông nhanh phù hợp với tăng khối lượng cao [30]

Đối với gia cầm để đạt hiệu quả cao trong chăn nuôi cần tách và nuôi riêng theo giới tính Người ta thường phân biệt giới tính chim cút sau 2 tuần tuổi khi các khác biệt về giới tính bắt đầu được biểu lộ

Cùng với tính biệt, tốc độ mọc lông cũng ảnh hưởng rõ rệt tới khả năng sinh trưởng của chim cút Kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả đã xác định trong một giống cùng tính biệt những cá thể nào có tốc độ mọc lông nhanh đồng thời cũng có khả năng nhanh và phát triển nhanh Tốc độ mọc lông có liên hệ với chất lượng thịt gia cầm, những gia cầm có tốc độ mọc lông nhanh thường có chất lượng thịt tốt hơn Đây cũng là tính trạng di truyền liên kết với giới tính [1]

1.1.2.3 Ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng tới sinh trưởng

Dinh dưỡng là một khâu rất quan trọng trong việc nâng cao năng suất

và chất lượng sản phẩm Chế độ dinh dưỡng không những có ảnh hưởng trực tiếp tới quá trình sinh trưởng mà còn làm biến động di truyền về sinh trưởng Việc cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng và cân đối giữa các chất sẽ giúp cho gia cầm phát huy tiềm năng di truyền về sinh trưởng

Tương quan giữa tăng trọng của chim cút và hiệu quả sử dụng thức ăn khá cao Để phát huy khả năng sinh trưởng của gia cầm không những cần cung cấp đủ năng lượng thức ăn theo nhu cầu mà còn phải đảm bảo cân bằng protein, axít amin và năng lượng Do vậy, khẩu phần thức ăn cho chim cút

Trang 13

phải được tính toán cân đối trên cơ sở nhu cầu đinh dưỡng của gia cầm và đây

là một trong những vấn đề cơ bản Để phát huy khả năng sinh trưởng của chim cút cần phải cung cấp thức ăn tối ưu với đầy đủ chất dinh dưỡng được cân bằng nghiêm ngặt giữa protein, các axit amin với năng lượng [23]

Thức ăn có tác dụng rất lớn đối với sự phát triển của gia súc, gia cầm Cho ăn khẩu phần đầy đủ chất dinh dưỡng theo từng giai đoạn sẽ thúc đẩy quá trình sinh trưởng, phát dục Ngược lại, nếu thức ăn thiếu protein, vitamin, khoáng thì quá trình sinh trưởng sẽ chậm lại [11]

Như vậy, thông qua cơ sở lý thuyết và kết quả nghiên cứu của một số nhà chuyên môn, có thể nói chế độ dinh dưỡng có ảnh hưởng khá lớn đối với khả năng sinh trưởng của chim cút

1.1.2.4 Ảnh hưởng của yếu tố nhiệt độ tới sinh trưởng

Điều kiện môi trường có ảnh hưởng lớn đến quá trình sinh trưởng của gia cầm Nếu điều kiện môi trường là tối ưu cho sự sinh trưởng của gia cầm thì gia cầm khỏe mạnh, lớn nhanh Nếu điều kiện môi trường không thuận lợi thì tạo điều kiện cho vi sinh vật gây bệnh phát triển ảnh hưởng đến sức khỏe của gia cầm

Trong các giai đoạn sinh trưởng của chim cút thì giai đoạn chim non là giai đoạn chịu ảnh hưởng rõ rệt nhất về nhiệt độ Nhiệt độ của môi trường khác nhau, ở các giai đoạn khác nhau trong năm thì mức độ tiêu thụ thức ăn của chim cút cũng khác nhau Nhiệt độ quá cao làm cho chim cút sinh trưởng chậm, tăng tỷ lệ chết, gây thiệt hại kinh tế lớn

Giữa nhiệt độ môi trường và nhu cầu năng lượng của gia cầm có mối tương quan nghịch Trong điều kiện khí hậu nước ta, chim cút nuôi vụ hè cần phải tăng mức ME và CP cao hơn vụ xuân 10 – 15% Điều đó lí giải như sau: Khi nhiệt độ môi trường cao, khả năng thu nhận thức ăn của gia cầm giảm

Trang 14

Do đó, căn cứ vào nhiệt độ môi trường của từng giai đoạn mà ta có thể điều chỉnh thức ăn và kĩ thuật chăm sóc nuôi dưỡng cho phù hợp

Do vậy, trong điều kiện khí hậu nước ta, căn cứ vào nhiệt độ môi trường từng giai đoạn, tuỳ mùa vụ mà ta điều chỉnh chế độ thức ăn, nước uống, kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng cho phù hợp

Bảng 1.1 Nhiệt độ thích hợp đối với chim cút non

1.1.2.5 Ảnh hưởng của yếu tố ẩm độ và độ thông thoáng tới sinh trưởng

Ẩm độ cũng là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của gia cầm Ẩm độ của không khí quá cao sẽ ảnh hưởng không tốt đến tốc độ sinh trưởng của gia cầm, do chuồng trại luôn ẩm ướt, lượng khí độc sinh

ra nhiều, thức ăn ẩm mốc là môi trường thuận lợi để vi khuẩn, nấm mốc gây bệnh phát triển Nhiệt độ thấp mà ẩm độ cao chim non dễ mất nhiệt cảm lạnh và ngược lại nhiệt độ cao, độ ẩm cao làm cho gia cầm thải nhiệt khó khăn dẫn đến bị chết

Nước ta là một nước nhiệt đới, khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều Do đó chúng ta phải luôn giữ được độ thông thoáng trong chuồng nuôi nhằm giảm

ẩm độ, tăng cường lượng khí O2 được thuận lợi, đảm bảo cho quá trình sinh trưởng của chim cút và giảm khả năng gây bệnh

Trang 15

1.1.2.6 Ảnh hưởng của chế độ chiếu sáng

Chế độ chiếu sáng cũng ảnh hưởng tới khả năng sinh trưởng vì chim cút rất nhạy cảm với ánh sáng, do vậy chế độ chiếu sáng là một vấn đề cần quan tâm

Theo nguyên tắc thì thời gian chiếu sáng sẽ làm tăng lượng thức ăn tiêu thụ, kích thích cho cơ thể phát triển nhưng lại làm giảm hiệu quả sử dụng thức

ăn Rút ngắn thời gian chiếu sáng sẽ có tác dụng ngược lại Do vậy việc điều chỉnh thời gian chiếu sáng sao cho phù hợp là rất cần thiết

Bảng 1.2 Thời gian chiếu sáng thích hợp cho chim cút

3 – 4 12 Không chiếu sáng vào

1.2.1 nguồn gốc, vị trí phân loại chim cút

Chim cun cút, gọi tắt là chim cút, có nguồn gốc ở châu Á, chúng sống thích hợp ở những vùng khí hậu ấm áp và hơi nóng Lần đầu tiên giống này

Trang 16

được thuần hoá ở Nhật bản từ thế kỷ thứ XI Lúc đầu người ta thuần hoá chúng để nuôi như một loài chim cảnh và chim hót, mãi đến năm 1900, cút Nhật bản mới được nuôi để lấy thịt và trứng ăn, sau đó nhanh chóng lan sang nhiều nước trên thế giới

Phân loại khoa học:

Chim cút thuộc giới (regnum): Động vật (Animalia)

Ngành (phylum): Có xương sống (Chordata)

Lớp (class): Chim (Aves)

Bộ (ordo): Gà (Galliformes)

Họ (familia): Trĩ (Phasianidae)

Chim cút có nhiều giống khác nhau, chuyên thịt hoặc chuyên trứng, có giống chuyên nuôi để phục vụ săn bắn, như giống cút Bobwhile, có giống nuôi để làm cảnh, nghe hót như giống cút Singing quail Ở châu Mĩ có nhiều giống, nhưng nuôi để lấy thịt và trứng thì chủ yếu vẫn là chim cút Nhật Bản tên khoa học là “Corturnix japonica” có đặc điểm dễ nuôi, sức kháng bệnh cao, đẻ nhiều trứng và thời gian khai thác dài Kích thước cơ thể từ 155- 240 gam, chim đực nhỏ hơn chim mái, biết gáy, chim cút đực khi trưởng thành có một u lồi ở hậu môn đây là những đặc điểm để phân biệt chim cút đực và chim cút mái Chim cút mái đẻ nhiều trứng (300 - 340 trứng/ năm), chim mái bắt đầu đẻ trứng từ 39 - 40 ngày, thời gian ấp nở của trứng cút là 16 ngày Cút con mới nở tương đối cứng cáp, chúng có nhu cầu sưởi ấm cao hơn gà, vịt Nuôi cút con tới 25 ngày tuổi thì thay khẩu phần bằng thức ăn nuôi cút thịt Cút thịt nuôi đến 40- 45 ngày tuổi có thể bán, nặng 120 - 160g

1.2.2 Tính chất lý học, chức năng các thành phần chính của máu chim cút

Máu cùng limpho và dịch mô tạo thành môi trường bên trong của cơ thể, có thành phần và tính chất lý – hóa tương đối ổn định, nhờ đó các điều kiện cần thiết cho hoạt động sống của tế bào và mô được đảm bảo

Trang 17

Máu thực hiện chức năng vận chuyển điều tiết dịch thể (bằng hormon), bảo vệ (bằng bạch cầu kháng thể…), giữ nhiệt, ổn định áp suất thẩm thấu và

độ pH trong cơ thể

Máu chiếm tỷ lệ 10 – 13% so với khối lượng cơ thể chim con, khoảng 8.5 – 9% chim trưởng thành Nếu bị mất nhanh khoảnh 1/4 – 1/3 số máu, chim sẽ chết

Thành phần máu phụ thuộc vào trạng thái sinh lý của cơ thể, tuổi, giới tính, điều kiện môi trường và các yếu tố khác Trong máu chim có 14.4% chất khô, của chim trưởng thành có 15.6 – 19.7%

Tỷ trọng của máu chim là 1.05 – 1.06 Tỷ trọng máu có thể tăng lên khi máu bị đặc lại và giảm đi khi bị thiếu máu

Độ nhớt của máu chim trung bình bằng 5 (4.7 – 5.5) nó phụ thuộc vào

số lượng hồng cầu, nồng độ protein và muối Tăng độ nhớt thường gặp khi cơ thể bị mất nước Ví dụ khi bị ỉa chảy hoặc khi tăng số lượng hồng cầu, Khi tăng độ nhớt của máu, huyết áp tăng và giảm sự khuếch tán nước từ mao quản

ra các mô, áp suất thẩm thấu của máu phụ thuộc vào nồng độ các muối tan trong đó, trước hết là muối Natri clorua

Trong máu và các mô, áp suất thẩm thấu tạo thành chủ yếu do NaCl, dung dịch 0.9% NaCl tương ứng với áp suất thẩm thấu máu của động vật

có vú được tính là dung dịch sinh lý, áp suất thẩm thấu của chim bằng dung dịch 0.93% NaCl

Độ pH: đối với chim, pH thường nằm trong khoảng 7.42 – 7.56

Dựa theo mức kiềm dự trữ trong máu có thể đoán được sức đề kháng của cơ thể, cường độ của các quá trình sinh lý Sự dao động lượng kiềm dự trữ trong máu phụ thuộc vào sự thay đổi trạng thái sinh lý của cơ thể Lượng protein trong huyết thanh chim tăng lên theo quá trình sinh trưởng, cao nhất ở thời gian đầu của giai đoạn đẻ trứng

Trang 18

Protein chứa trong huyết thanh bao gồm các tiểu phần: Albumin, β – globulin, γ - globulin… Protein huyết thanh và cấu tử của nó là những chỉ tiêu quan trọng trong trao đổi chất ở gia súc, gia cầm Chúng có mối liên hệ chặt chẽ với quá trình sinh trưởng, phát triển, tính năng sản xuất và đặc điểm di truyền của giống Hàm lượng protein huyết thanh không phải là một hằng số đặc trưng mà trong quá trình sinh trưởng, phát triển nó biến động và phụ thuộc nhiều yếu tố: tuổi, thể trọng, năng suất, hướng sản xuất, phẩm giống, ưu thế lai…

Tỷ số albumin/globulin (hệ số protein) phụ thuộc vào lứa tuổi và sức sản xuất của chim, Ngoài protein ra, trong huyết tương còn có các hợp chất Nitơ phi protein: ure, acid uric, ammoniac, creatin, creatinin, chúng được gọi chung là nito cặn, có nồng độ tương đối lớn trong máu chim (44mg%) Trong máu chim còn có các chất hữu cơ khác: gluxit, lipit và sản phẩm trung gian của quá trình phân giải các chất này

Bột đường gồm glycogen và glucose Nồng độ glucose ở chim cao hơn

Lượng canxi trong máu của chim đẻ lớn hơn so với gia súc Phần lớn canxi trong máu nằm ở huyết thanh (10 – 12mg%), phần nhỏ trong hồng cầu

Trang 19

Trong huyết thanh, canxi có 2 dạng: bị khuyếch tán (60 – 65%) và không bị khuyếch tán (34 – 40%) Sự phân biệt này liên quan đến khả năng của canxi

đi qua màng siêu lọc (các màng tế bào) Phần lớn canxi bị khuyếch tán nằm dưới dạng ion (Ca2+) và phần nhỏ (15%) liên kết với bicacbonat, xitrat và photphat Canxi không bị khuyếch tán liên kết với protein huyết thanh – anbumin và globulin Canxi có thể được giải phóng khỏi các liên kết này dưới dạng ion Lượng canxi không bị khuyếch tán trong huyết tương có thể thay đổi phụ thuộc vào hàm lượng protein trong đó, chủ yếu là anbumin

Hàm lượng ion canxi trong huyết tương và dịch mô tương đối ổn định, phụ thuộc vào lứa tuổi và sức sản xuất của chim, vào lượng canxi trong khẩu phần thức ăn Ở chim chưa đẻ, trong máu đạt 9 – 12mg% canxi Trong huyết tương chim chưa đẻ đạt trung bình 20 – 26mg% canxi Trong thời gian trứng rụng, khi có tác động của hormon tuyến yên và buồng trứng, lượng canxi có thể tăng lên tới 35mg% Sau khi đẻ trứng, lượng canxi trong máu giảm xuống

12 – 15mg% Ở chim non, hàm lượng canxi trong máu thay đổi không lớn, khi trong khẩu phần thức ăn thiếu canxi, hàm lượng canxi trong máu chim non giảm xuống nhanh

Photpho trong máu chim thường ở dạng các hợp chất vô cơ và hữu cơ

Tỉ lệ giữa 2 dạng này là 8:1 – 10:1 Photpho vô cơ hầu hết nằm trong huyết tương và phần lớn ở dạng ion Hàm lượng photpho vô cơ trong huyết thanh chim thay đổi tương đối lớn, phụ thuộc vào cường độ trao đổi chất và photpho trong thức ăn Người ta nhận thấy sự giảm dần nồng độ photpho trước thời kỳ sinh sản

Photpho hữu cơ gồm photpholipit, photpho tan trong axit và photphonucleotit Ngoài ra, còn có photpho của axit phitin trong hồng cầu có nhân và photpho của ATP

Gần đến thời kì thay lông hàm lượng photpho giảm xuống nhanh Trước và trong thời gian đẻ trứng, lượng photpho tổng số trong máu tăng lên

Trang 20

Cần thận trọng khi dùng các chỉ số nồng độ Ca, P trong máu để đánh giá tình trạng dinh dưỡng các nguyên tố này của chim vì chúng phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố và có biên độ dao động lớn

Trong máu chim có nitriclorua phân li ra thành cation Na+ và anion Cl,Cation K+ có một lượng nhỏ trong huyết tương Nồng độ các ion này trong huyết tương chim cũng tương tự như ở động vật có vú Ion natri và clo trong huyết tương nhiều hơn còn ion kali trong hồng cầu nhiều hơn

-Như trên đã nói, các bicacbonat và photphat của natri và kali tham gia vào thành phần các hệ thống đệm của máu, giữ cân bằng axit – kiềm Việc thải các chất thừa chủ yếu là NaCl là do thận, song ở chim cường độ thải ion Na+ qua thân kém hơn so với động vật có vú Vì vậy, khi lượng muối này quá nhiều, nồng độ Natri trong máu tăng lên, dẫn tới rối loạn hô hấp, hạ huyết áp, và co giật… Chim bị ngộ độc muối thường chết trong vòng vài phút Vì vậy, cần hết sức chú ý đến nồng độ NaCl trong thức ăn cho chim, nhất là trong bột cá

* Hồng cầu

Hồng cầu là loại tế bào có nhiều nhất trong máu, có chức năng vận chuyển O2 và CO2 Nhân hồng cầu ở gia cầm là tác nhân hạn chế chức năng này Số lượng và kích thước hồng cầu phụ thuộc vào loài, giống, tuổi gia cầm, mùa vụ Hồng cầu chứa 60% nước, 40% vật chất khô, hemoglobin chiếm khoảng 1/3 khối lượng, 3 - 8% các protein khác; 0.5% cexitin; 0.3% cholesteron; các muối khoáng trong hồng cầu chủ yếu là kali [8] Thời kỳ bào thai, hồng cầu sinh ra ở lách và các đảo huyết, về sau tủy xương làm nhiệm vụ

đó Sau hàng loạt biến đổi, thành thục, hồng cầu được đưa vào hệ thống tuần hoàn Hồng cầu gia súc hầu hết là hình cầu không nhân, hơi lõm hai mặt Hồng cầu gia cầm nói chung và gà nói riêng có hình bầu dục, không lõm, nhân lớn hình hạt vừng

Trang 21

Số lượng hồng cầu trong 1mm3 máu của mỗi loài động vật thay đổi theo giống, tuổi, giới tính, chế độ dinh dưỡng, trạng thái cơ thể và sinh lý, điều kiện khí hậu [3]

Có hai trường hợp tăng hồng cầu:

+ Tăng tuyệt đối: số lượng hồng cầu cao hơn hằng số của loài trong điều kiện sinh lý bình thường

+ Tăng tương đối: số lượng hồng cầu không tăng, chỉ thay đổi tương quan giữa hồng cầu và huyết tương

Hồng cầu tăng khi động vật bị trở ngại về hô hấp (viêm phế quản, khí quản.…), hoặc máu giảm trạng thái lỏng (ỉa chảy, tăng ure huyết.…) Động vật sống ở vùng cao trong thời gian dài có hiện tượng tăng hồng cầu sinh lý: hàm lượng oxi không khí giảm theo áp suất khí quyển, sản phẩm oxi hóa không hoàn toàn trong các quá trình chuyển hóa của cơ thể tăng lên, kích thích cơ quan tạo máu sinh hồng cầu và giảm kích thước hồng cầu để tăng bề mặt tiếp xúc

Hồng cầu giảm khi cơ thể bị thiếu máu nghiêm trọng: khi mắc bệnh siêu vi trùng, lao, ung thư, ký sinh trùng đường máu và các bệnh gây xuất huyết; khi thức ăn thiếu sắt, đồng, một số axit amin, vitamin B2, vitamin C.…

+ Số lượng hồng cầu trong 1mm3 máu của gà là 2.5 – 3.2 triệu

+ Số lượng hồng cầu trong 1mm3 máu của lợn là 6 – 8 triệu

+ Số lượng hồng cầu trong 1mm3 máu của bò là 6 – 8 triệu

+ Số lượng hồng cầu trong 1mm3 máu của thỏ là 5.5 – 6.5 triệu

Màng hồng cầu là màng lipoproteid rất đàn hồi, có tính thẩm thấu chọn lọc nên hồng cầu rất mẫn cảm với áp suất thẩm thấu

Thời gian tồn tại trung bình của hồng cầu chim từ 90 – 120 ngày [2] những cơ quan tạo máu gồm: tủy xương, lá lách, mô limpho và các thành phần lưới nội mô Ở giai đoạn bào thai, gan cũng tham gia vào quá trình tạo máu Ở tủy đỏ của lách xảy ra quá trình phân hủy hồng cầu, Hồng cầu còn

Trang 22

phân hủy cả ở gan Phân hủy hồng cầu ở các cơ quan này diễn ra bằng phương pháp thủy phân trong các tế bào của hệ lưới nội mô Khi đó từ huyết sắc tố, sắt được giải phóng ra khỏi tế bào Một phần sắt được oxi hóa, chuyển vào sắc tố bilirubin, sắc tố này được thải ra khỏi cơ thể cùng với phân và nước tiểu Phần sắt còn lại được tích tụ trong tế bào của các cơ quan tạo máu và có dùng để tạo ra các hồng cầu mới Ngoài chức năng tạo máu, lách còn giữ vai trò dự trữ máu, nhờ cấu tạo hợp lý của hệ mạch máu tại đây

* Hemoglobin (Hb)

Hàm lượng Hb dao động từ 9 – 14% trong máu động vật khỏe Hb là một chloromoproteid có cấu tạo globin (96%) + nhóm Hem (4%) Kết cấu của nhóm Hem có nhân sắt (Fe) làm cho máu có màu đỏ

Globin có cấu trúc chung là một tetramer gồm 4 chuỗi polypeptide: α,

β, γ, δ Globin có bản chất protein nên Hb mang tính đặc trưng cho loài Mỗi tiểu phần globin đính với một nhóm Hem ở khoảng lõm giữa 2 phân tử axit amin histidin

Chức năng của globin phụ thuộc vào cấu trúc bậc I của nó, vị trí của một vài axit amin trong chuỗi polypeptide thay đổi làm cho hồng cầu có các loại Hb khác nhau, thường gặp trong tình trạng bệnh lý như bệnh hồng cầu lưỡi liềm [20]

Hb có chức năng sinh lý quan trọng trong trao đổi khí nếu không khí bị nhiễm độc bởi CO SO2 NO2, các chất oxy hóa mạnh.… thì Hb bị trúng độc trở thành trạng thái met.Hemoglobin không con chức năng sinh lý

Hb + CO → HbCO (met.hemoglobin)

Fe++ Fe+++

Hàm lượng Hb trong hồng cầu phụ thuộc vào dung tích oxy của máu

Ở người, mỗi gam Hb có 1.36 ml oxy, ở gia cầm có 1.40 – 1.41 ml oxy, Ở

gà trung bình có 22 – 23g Hb, tức là có 30 – 46.2 ml oxy, ở vịt có 56 – 78.4

ml oxy.…[8]

Trang 23

Định lượng Hb là một xét nghiệm thường dùng trong chẩn đoán lâm sang, nhằm bổ sung cho phương pháp đếm hồng cầu Các nhà sinh lý học quy ước hàm lượng Hb trong máu ở mức 16.67g là 100%, nếu cơ thể gia súc đo được lớn hơn 60% là bình thường, nhỏ hơn 60% là thiếu máu Hàm lượng Hb phản ánh chất lượng của máu, dù số lượng hồng cầu ít nhưng hàm lượng Hb cao thì máu vẫn tốt

Hàm lượng Hb trong máu của các loài gia súc thay đổi theo giống, tuổi, tính biệt, trạng thái dinh dưỡng, tình trạng bệnh tật Hàm lượng Hb tăng khi thân nhiệt tăng, lao động nặng, mất nước do ỉa chảy, thiếu máu do ký sinh trùng, sung huyết.…[3]

* Bạch cầu

Bạch cầu có nhiệm vụ bảo vệ cơ thể Số lượng bạch cầu ít hơn hồng cầu khoảng 1000 lần, số lượng bạch cầu dễ biến động hơn hồng cầu Ngay trong một ngày số lượng bạch cầu có thể thay đổi khác nhau giữa lúc sáng và chiều Số lượng bạch cầu thường tăng sau khi ăn, khi đang vận động và giảm khi tuổi tăng lên

Bạch cầu là những tế bào có nhân, có bào tương, được phân loại thành: + Bạch cầu có hạt: các hạt nằm ở nguyên sinh chất, tùy theo tính chất bắt màu của hạt mà phân ra bạch cầu trung tính, toan tính, kiềm tính

+ Bạch cầu không hạt: gồm bạch cầu đơn nhân và lâm đa cầu

Chức năng sinh lý của bạch cầu là bảo vệ cơ thể thông qua các phương thức: thực bào, miễn dịch dịch thể và miễn dịch tế bào Trong đó, thực bào là phương thức quan trọng nhất chống lại sự nhiễm trùng của cơ thể, là chức năng chủ yếu của bạch cầu có hạt Còn bạch cầu không hạt tham gia vào quá trình miễn dịch tế bào và miễn dịch dịch thể

Trước đây khi nói tới các đáp ứng miễn dịch người ta thường chỉ nghĩ đến khả năng của cơ thể chống lại các kháng nguyên bằng cách tạo ra các kháng thể đặc hiệu, khả năng này do một số lympho bào phụ trách Nhưng

Trang 24

những thành tựu của miễn dịch học gần đây đã chỉ ra rằng các đáp ứng miễn dịch là kết quả của sự hợp tác giữa nhiều loại tế bào; sự hợp tác giữa các quần thể lympho bào với nhau Bởi vậy trong các đáp ứng miễn dịch đặc hiệu, các quần thể lymlpho bào và đại thực bào có vai trò trọng yếu, đó là các lympho

B với khả năng tạo kháng thể, quần thể lympho T phụ thuộc tuyến ức gồm nhiều tiểu quần thể với các tính chất và chức năng khác nhau, lympho T hỗ trợ (THB, TC, TTDH, TFR) Các quần thể lympho T tham gia các đáp ứng miễn dịch tế bào và điều hòa các đáp ứng miễn dịch [20]

Số lượng bạch cầu ít hơn số lượng hồng cầu khoảng 1000 lần và dễ biến động hơn số lượng hồng cầu (số lượng bạch cầu trong 1mm3 máu gà là

22 – 34 nghìn, vịt là 34 – 35 nghìn, ngỗng là 27.8 – 38.6 nghìn) Số lượng bạch cầu phụ thuộc vào điều kiện nuôi dưỡng, trạng thái sức khỏe (bạch cầu tăng khi có bệnh), đặc điểm giống, loài, thậm chí là các thời điểm khác nhau trong ngày (buổi sáng ít, buổi chiều nhiều hơn) [8]

Tỷ lệ các loại bạch cầu trong máu gọi là công thức bạch cầu Khi sinh lý cơ thể thay đổi công thức bạch cầu cũng biến đổi, dựa vào đó để chẩn đoán lâm sàng

* Protein huyết thanh và các tiểu phần protein huyết thanh

Thành phần hữu hình trong máu có Hb là một chromoproteit mang chức năng sinh lý trong trao đổi oxy Thành phần vô hình là protein huyết thanh bao gồm các tiểu phần: albumin, α-globulin, β-globulin và γ-globulin

Hàm lượng protein huyết thanh không phải là một hằng số đặc trưng

mà trong quá trình sinh trưởng, phát triển cá thể nó biến động và phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tuổi, thể trọng, năng suất, hướng giống, phẩm giống và

ưu thế lai, phụ thuộc vào giới tính

Albumin và globulin là 2 loại protide dạng cầu rất phổ biến trong thành phần mô bào động vật, gồm toàn axit amin trong đó tỷ lệ axit amin có tính chất axit chiếm khá cao Phân tử lượng của albumin là 70.000 kDa, của

Trang 25

globulin là hàng chục vạn đến hàng triệu kDa Albumin và globulin có nhiều trong máu, huyết thanh và cơ

Albumin có vai trò tạo hình trong trao đổi huyết thanh, gắn liền với quá trình dinh dưỡng do có phân tử lượng thấp, dễ liên kết với các sản phẩm dinh dưỡng Albumin là thành phần chủ yếu tạo nên protein huyết thanh Vì vậy

mà trong quá trình phát triển cá thể động vật, hàm lượng tương đối hay tỷ lệ phần trăm của albumin thường biến động đồng thời với hàm lượng protein huyết thanh Hàm lượng albumin biến động theo tuổi ứng với vai trò tạo hình của albumin trong huyết thanh của gia súc, gia cầm Ngoài ra, hàm lượng albumin cũng biến động theo phẩm giống, thể trọng, ưu thế lai, năng suất.…

Globulin có 3 nhóm chính: α-globulin, β-globulin và γ-globulin Ngoài

ra còn có một số nhóm khác

Trong đó, γ-globulin chứa phần lớn kháng thể tự nhiên và các loại protide miễn kháng Điều này có ý nghĩa lớn trong quá trình tiến hóa của sinh vật Đây là loại globulin liên quan đến sức đề kháng của cơ thể nên rất có ý nghĩa trong chẩn đoán, α-globulin liên quan đến hướng sản xuất sự tổng hợp

và tích lũy mỡ của cơ thể β-globulin tham gia vào quá trình tạo máu, tham gia vận chuyển Zn, Cu, Mn [12]; [17]

* Hệ số A/G

Hệ số A/G là trị số dùng để chỉ tỷ lệ albumin/globulin trong máu Nếu A/G>1 là rất tốt Tương quan A/G phụ thuộc vào tuổi và khối lượng sinh trưởng Ví dụ ở gà đẻ là 0.96%, còn ở gà con thời kỳ sinh trưởng lượng albumin giảm còn lượng globulin tăng [2]

1.2.3 Vai trò của gan đối với cơ thể sống

Gan có nhiều vai trò quan trọng đối với cơ thể sống như:

Gan có vai trò chuyển hóa: Gan chuyển hóa glucid từ ruột theo tĩnh mạch cửa về gan chủ yếu là glucose, chuyển hóa tổng hợp acid béo từ glucid, protid và từ các sản phẩm thoái hóa của lipid Gan chuyển hóa và dự trữ

Trang 26

protid bao gồm 2 quá trình: chuyển hóa acid amin và tổng hợp protein Tế bào gan sản xuất gần 50% lượng protein trong cơ thể, tổng hợp toàn bộ albumin của huyết tương và một phần globulin Vì vậy, khi suy gan, protein máu giảm làm giảm áp suất keo, dịch từ mạch máu thoát vào tổ chức nhiều gây ra phù Mật là sản phẩm bài tiết của tế bào gan có màu xanh hoặc vàng, mật có chức năng tiêu hóa thức ăn tan trong dầu, giúp hấp thu chất dinh dưỡng của cơ thể Gan dự trữ cho cơ thể nhiều chất quan trọng (máu, glucid, sắt và một số vitamin như A, D, B12)

Gan có chức năng giải độc bằng 2 cơ chế:

- Giữ lại một số kim loại nặng như đồng, chì, thủy ngân và một số chất màu như Bromo-Sulfo-Phtalein (BSP) Sau đó, sẽ thải ra ngoài

- Bằng các phản ứng hóa học để biến các chất độc thành chất không độc hoặc ít độc hơn rồi thải ra ngoài qua đường mật hoặc đường thận

1.3 Giới thiệu về cây sắn

1.3.1 Tên khoa học và nguồn gốc phân bố

Cây sắn thuộc giới plantae, bộ Malpighiales, họ Euphorbiaceae, phân

họ Crtonoideae, tông Manihot, loài M esculenta Cây sắn có tên khoa học là Manihot Esculenta Crantz, sắn có một số tên gọi khác là cassava, manioc, tapioca maniva cassava.… Ở Việt Nam cây sắn còn được gọi là cây khoai mì, cây củ mì, sắn tầu…

Cây sắn có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới của châu Mỹ La tinh (Crantz 1976) và được trồng cách đây 5.000 năm (CIAT 1993) Trung tâm phát sinh cây sắn được giả thiết tại vùng Đông bắc của nước Brazin thuộc lưu vực sông Amazon, nơi có nhiều chủng loại sắn trồng và hoang dại [14] Ngày nay sắn được trồng ở hầu hết các nước có vĩ độ 300N đến 300S và tập trung chủ yếu ở

106 nước thuộc Châu Mỹ, Châu phi và Châu Á Thái Bình Dương [30]; [14]

Trang 27

Cây sắn được du nhập vào Việt Nam khoảng giữa thế kỷ 18, sắn là cây hoa màu truyền thống và quan trọng của nhân dân ta, nhất là khu vực trung du

và miền núi phía bắc

1.3.2 Thành phần hóa học của lá sắn

Lá sắn có chứa nhiều chất dinh dưỡng Hàm lượng tinh bột rất ít từ 1.8- 3.2%, hàm lượng dẫn xuất không đạm của lá sắn có từ 3.7- 6.4% Chất đạm của lá sắn có khá đầy đủ các axít amin cần thiết, giàu lysin nhưng thiếu methionin [5]; [13]; [19]

Hàm lượng vitamin trong lá sắn khá cao, trong bột lá sắn khô có chứa tới 66.7 mg% caroten [5] Hàm lượng caroten trong lá sắn tươi là 3.0 mg% vitamin B1 là 0.25 mg%, B2 là 0.66 mg%, PP là 0.66 mg% Đặc biệt vitamin

C trong lá sắn khá cao 295 mg% [21]

Thành phần khoáng đa lượng và vi lượng của lá sắn nói chung cao hơn

so với củ Hàm lượng canxi dao động từ 0.74- 1.13%; phốt pho từ 1.52- 1.71% Đặc biệt hàm lượng sắt và mangan rất cao, tương ứng là 344.0 - 655.2/kg chất khô [13]

Lá sắn dễ phơi khô, bột lá sắn giàu caroten, xanthophin và protein Vì vậy, nó không chỉ là nguồn bổ sung sắc chất mà còn là nguồn cung cấp protein cho gia súc và gia cầm

1.3.3 Độc tố HCN và phương pháp khử HCN trong sắn

Trong lá sắn ngoài các chất dinh dưỡng cũng chứa một lượng độc tố HCN đáng kể căn cứ vào hàm lượng độc tố ngời ta phân làm hai loại: sắn ngọt và sắn đắng, các giống sắn ngọt có 80 - 110 mg HCN/1kg lá tươi Các giống sắn đắng chứa 160 - 240 mg HCN/1kg lá tươi Trong cây sắn lượng độc

tố phân bố không đều, chủ yếu tập trung ở bộ phận dưới mặt đất Sự phân bố HCN trong các bộ phận của cây sắn được chia ra như sau:

Trang 28

+ Bộ phận trên mặt đất: Chiếm 29.3% Trong đó lá chiếm 2.1% và thân chiếm 27.2% hàm lượng HCN cả cây

+ Bộ phận dưới mặt đất: Chiếm 70.7% trong đó gốc già dưới đất có 8.9% và rễ củ chiếm 61.8% hàm lượng HCN cả cây

Khi gia cầm thu nhận hàm lượng HCN quá cao thì sẽ làm cho con vật

bị trúng độc thường thấy ở hai thể cấp tính và mãn tính, ngộ độc cấp tính làm cho con vật chết rất nhanh và ngộ độc mãn tính thường không có biểu hiện rõ ràng [29], động vật thường xuất hiện dấu hiệu ngộ độc khi cho ăn liên tiếp những lượng nhỏ HCN, nhưng gan vẫn có khả năng giải độc HCN nhờ vào lưu huỳnh trong axit amin để tạo ra thioxianat ít độc hơn HCN, lượng độc tố

có thể gây chết động vật khoảng 2.5 mg/kg khối lượng cơ thể [30]

Khi gia súc, gia cầm thu nhận hàm lượng HCN quá cao làm cho con vật chúng độc Độc tố gây ngộ độc có thể giải thích trên cơ sở của mối liên hệ giữa axit HCN với ion kim loai như Cu2+ và Fe 2+ Gốc CN sẽ liên kết chặt với hemoglobin của hồng cầu để tạo ra phức chất cyanohemoglobin Chất này không có khả năng vận chuyển oxi trong máu làm cho cơ thể thiếu oxi dẫn đến con vật ngạt thở, niêm mạc, da tím bầm và chết nhanh

Chính vì lượng độc tố trong sắn có ảnh hưởng lớn tới việc làm thức ăn trong chăn nuôi nên người ta đã phải nghiên cứu để loại bỏ hàm lượng độc tố HCN có trong sắn, việc loại bỏ độc tố HCN thường áp dụng theo nguyên tắc sau:

Loại bỏ trực tiếp cyanogen glucoid bằng cách hòa tan trong nước Vì vậy cyanogen sản sinh ra HCN, chất này bị loại bỏ thì HCN cũng bị loại bỏ

Làm phân giải cyanogen glucoid thành HCN và aceton sau đó dùng làm nhiệt bốc hơi HCN hoặc dùng nước làm rửa trôi HCN

Làm phá hủy hoặc ức chế enzym linamariaza và glucocidaza Các enzim này không hoạt động thì cyanogen glucoid không thể phân hủy thành aceton và HCN [30]

Trang 29

Dựa trên các nguyên lí trên trong thực tế người ta đã sử dụng các biện pháp dưới đây để hạn chế và loại bỏ HCN trong lá sắn:

Việc phân hủy các glucoside sau đó loại HCN bằng bốc hơi hay rửa được sử dụng nhiều trong kỹ thuật chế biến như: thái lát phơi khô, băm nhỏ (lá sắn) phơi khô, thái lát xử lý bề mặt lát cắt bằng ngâm nước (nước lã, nước vôi, nước muối, axit clohydric, axit axetic.…) sắn sợi (nạo), làm sắn hạt, làm bột sắn khô, chế biến tinh bột sắn ủ chua (lá sắn), ủ tươi (củ sắn) và lên men

vi sinh vật cho bột sắn

Luộc hoặc muối dưa lá sắn, Luộc lá sắn làm giảm đáng kể hàm lượng HCN, trong lá sắn luộc hàm lượng HCN chỉ con khoảng 1 - 5mg% Kết quả của Từ Quang Hiển đã thí nghiệm muối dưa chỉ còn 1 - 2mg% HCN [6] Tuy nhiên, theo các tác giả trên thì biện pháp phơi khô lá sắn và nghiền thành bột

là tốt nhất Trong lá sắn phơi khô, chỉ còn chứa 1- 2mg% HCN Sau khi nghiền thành bột thì hàm lượng HCN lại giảm đi rất nhiều và có thể cất giữ cẩn thận sau 4 - 5 tháng bột lá sắn vẫn còn chất lượng tốt Lượng bột lá sắn gia súc gia cầm ăn được gấp 3 - 4 lần so với số lượng sắn được ở dạng lá tươi, luộc hoặc muối dưa

1.4 Sắc tố trong bột lá thực vật

1.4.1 Giới thiệu chung về sắc tố

Carotenoid là sắc tố hữu cơ được tìm thấy ở thực vật và các loài vi sinh vật khác có thể tiến hành tự quang hợp được như tảo, một số loài nấm và vi khuẩn Các sắc tố này đóng hai vai trò là (1) hấp thụ năng lượng từ ánh sáng mặt trời trong quá trình quang hợp, (2) bảo vệ tế bào cây trồng khỏi bị thối rữa Hiện nay người ta đã tìm được 750 loại carotenoid Do sự có mặt hay không có của phân tử oxy, carotenoid được chia thành 2 nhóm là caroten (beta carotene, lycopen hay alpha caroten) và xanthophyll (astaxanthin, lutein

và zeaxanthin) Carotenoid không phải là tên riêng của một chất nào mà là tên của một nhóm các hợp chất hữu cơ có công thức cấu tạo tương tự nhau và tác

Trang 30

dụng bảo vệ cơ thể động thực vật cũng tương tự nhau Carotenoid được biết đến sớm nhất và có vai trò lớn trong đời sống là beta - caroten hay còn gọi là tiền vitamin A Trong những năm gần đây, người ta mới biết thêm về vai trò của các carotenoid khác như astaxanthin, lycopene, lutein và zeaxathin đó là những sắc tố quan trọng nhất có tác dụng đến sức khỏe con người và động vật Chúng có hoạt tính gấp 10 lần so với beta caroten Nó có tác động tốt đến não và hệ thần kinh trung ương và có tác động rất tốt trong quá trình miễn dịch của cơ thể, làm giảm 1000 lần tác động của tia cực tím so với beta caroten Carotenoid là sắc tố tự nhiên tạo ra màu vàng, da cam, đỏ của rất nhiều các loại quả (gấc, chanh, đào, mơ, cam, nho ), rau (cà rốt, cà chua), nấm

và hoa Chúng cũng có mặt trong các sản phẩm động vật như trứng, tôm hùm,

cá Ngày nay, các hợp chất carotenoid rất được quan tâm nghiên cứu Carotenoid là chất màu tự nhiên, chúng được tìm thấy trong lục lạp của thực vật bậc cao, mặc dù trong mô quang hợp những màu sắc này được che đậy bởi chất diệp lục Những chất này được tìm thấy trong tảo, vi khuẩn, nấm và nấm men Người ta ước tính rằng thiên nhiên sản xuất hằng năm khoảng 100 triệu tấn carotenoid

1.4.2 Sắc tố trong thức ăn chăn nuôi

Sắc tố trong thực vật bao gồm 4 nhóm (chlorophyll, carotenoid, flavonoid và betalain) Trong thức ăn chăn nuôi chỉ đề cập đến một trong bốn nhóm nói trên, đó là carotenoid Khi nói đến hàm lượng sắc tố trong thức ăn,

có nghĩa là nói đến carotenoid trong tổng số Nó gồm 2 nhóm đó là xanthophyll và caroten Xanthophyll còn có tên gọi là oxy - carotenoid Nó cũng có 2 nhóm là carotenoid không màu và có màu Carotenoid không màu

có 2 đại diện chính là cryptoxanthin và violaxanthin, còn carotenoid có màu thì có 2 nhóm nhỏ, nhóm thứ nhất là xanthophyll với đại diện là lutein và zeaxanthin, còn nhóm thứ 2 có các đại diện như apoester, canthaxanthin, citranaxanthin, capxanthin (capsorubin), astaxanthin Chính vì vậy, khi nói đến hàm lượng xanthophyll trong thức ăn, có nghĩa là nói đến xanthophyll

Trang 31

tổng số, chứ không phải là một sắc tố cụ thể nào đó trong nhóm này Caroten

có các đại diện là anpha (α), beta (β), zeta (z), gama (γ) carotene, lycopen và phytofluen Vì vậy, khi nói tới hàm lượng caroten trong thức ăn, có nghĩa là nói đến caroten tổng số trong thức ăn (không phải là một sắc tố cụ thể trong nhóm này)

Để khẩu phần thông thường có chứa một lượng sắc tố đáp ứng yêu cầu của vật nuôi, người ta phải lựa chọn các nguyên liệu thức ăn giàu sắc tố để đưa vào khẩu phần hoặc bổ sung sắc tố tổng hợp Sau đây là một số nguyên liệu thức ăn giàu sắc tố

+ Ngô : Thức ăn thường chiếm tỷ lệ lớn trong khẩu phần (40 - 60%) và lại khá giàu sắc tố là ngô, hàm lượng carotenoid của ngô hạt khoảng 15 - 25mg/kg VCK, còn gluten trong ngô khoảng 130 - 300mg/kg VCK Hàm lượng này đáp ứng khoảng 40 - 60% sắc tố theo yêu cầu của gia cầm nuôi thịt

và đẻ trứng Thí nghiệm trên gà đẻ trứng cho thấy nếu chỉ sử dụng ngô là nguồn cung cấp sắc tố chính trong khẩu phần thì độ đậm màu lòng đỏ đạt 5 -

7 điểm theo thang điểm màu của Roche

+ Bột lá thực vật: Một số loại nguyên liệu thức ăn có chứa hàm lượng sắc tố rất cao và dễ sản xuất đó là bột lá xanh từ các cây họ đậu (keo giậu, alfalfa, stylo ), từ lá sắn và hoa cúc vạn thọ hàm lượng caroten của các loại bột lá nằm trong khoảng 200 - 1000 mg VCK Do mỗi loại bột lá có một điểm hạn chế riêng, như chứa độc tố (mimosin, HCN) chất kháng dinh dưỡng, mùi hắc, vị đắng, tỷ lệ xơ cao nên không thể phối hợp các loại bột lá này vào trong khẩu phần với tỷ lệ lớn, thường là dưới 10% đối với gia cầm, 20% đối với lợn, nhưng chỉ cần tỷ lệ đó kết hợp với ngô, lúa mỳ đã hoàn toàn thỏa mãn nhu cầu sắc tố của vật nuôi Hàm lượng sắc tố trong bột lá xanh phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau, như loài, giống cây, giai đoạn thu cắt, đặc biệt là phương pháp chế biến BLS được chế biến bằng phương pháp băm nhỏ, sấy ở 650c thì trong 1kg VCK có 510 mg caroten [9] Oxycarotenoid

Ngày đăng: 22/02/2017, 12:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Chí Bảo (1978), Cơ sở sinh học của nhân giống và nuôi dưỡng gia cầm, Nxb Khoa học và Kỹ thuật, trang 129 – 191 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở sinh học của nhân giống và nuôi dưỡng gia cầm
Tác giả: Nguyễn Chí Bảo
Nhà XB: Nxb Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 1978
2. Trần Cừ, Cù Xuân Dần, Lê Thị Minh (1972). Giáo trình sinh lý học gia súc, Trường Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình sinh lý học gia súc
Tác giả: Trần Cừ, Cù Xuân Dần, Lê Thị Minh
Năm: 1972
3. Cù Xuân Dần, Nguyễn Xuân Tịnh, Tiết Hồng Ngân, Nguyễn Bá Mùi, Lê Mộng Loan, (1996), Sinh lý học gia súc, Nxb nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh lý học gia súc
Tác giả: Cù Xuân Dần, Nguyễn Xuân Tịnh, Tiết Hồng Ngân, Nguyễn Bá Mùi, Lê Mộng Loan
Nhà XB: Nxb nông nghiệp
Năm: 1996
4. Bùi Hữu Đoàn (chủ biên), (2011), Các chỉ tiêu dùng trong nghiên cứu chăn nuôi gia cầm, Nxb nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bùi Hữu Đoàn (chủ biên), (2011), "Các chỉ tiêu dùng trong nghiên cứu chăn nuôi gia cầm
Tác giả: Bùi Hữu Đoàn (chủ biên)
Nhà XB: Nxb nông nghiệp
Năm: 2011
5. Vũ Công Hậu và Trịnh Thường Mai (1990), Cây sắn, Nxb Nông nghiệp Hà Nội, trang 9 – 25 và trang 94 – 104 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây sắn
Tác giả: Vũ Công Hậu và Trịnh Thường Mai
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1990
6. Từ Quang Hiển (1982), "Nghiên cứu sử dụng lá sắn chăn nuôi lợn" Thông tin khoa học kỹ thuật Viện chăn nuôi Hà Nội T4. tr 61 – 65 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu sử dụng lá sắn chăn nuôi lợn
Tác giả: Từ Quang Hiển
Năm: 1982
7. Từ Quang Hiển (1983), kết quả sử dụng bột lá sắn chăn nuôi lợn thịt và gà đẻ trứng, Trích “Những kết quả nghiên cứu về cây sắn” KHKT Đại học Nông Nghiệp Bắc Thái, trang 54 – 60 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ Quang Hiển (1983), kết quả sử dụng bột lá sắn chăn nuôi lợn thịt và gà đẻ trứng, Trích "“Những kết quả nghiên cứu về cây sắn
Tác giả: Từ Quang Hiển
Năm: 1983
8. Từ Quang Hiển (1995), Giáo trình chăn nuôi gia cầm, Nxb Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chăn nuôi gia cầm
Tác giả: Từ Quang Hiển
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1995
9. Nguyễn Duy Hoan, Trần Thanh Vân (1998), Giáo trình chăn nuôi gia cầm, Nxb Nông Nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chăn nuôi gia cầm
Tác giả: Nguyễn Duy Hoan, Trần Thanh Vân
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp Hà Nội
Năm: 1998
10. Trần Thị Hoan (2012), "Nghiên cứu trồng sắn thu lá và sử dụng bột lá sắn trong chăn nuôi gà thịt và gà đẻ bố mẹ Lương Phượng", Luận án tiến sĩ khoa học nông nghiệp Đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu trồng sắn thu lá và sử dụng bột lá sắn trong chăn nuôi gà thịt và gà đẻ bố mẹ Lương Phượng
Tác giả: Trần Thị Hoan
Năm: 2012
11. Nguyễn Mạnh Hùng, Hoàng Thanh, Nguyễn Thị Mai, Bùi Hữu Đoàn (1994), Chăn nuôi gia cầm, Nxb Nông nghiệp Hà Nội, trang 125 – 137, 148 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chăn nuôi gia cầm
Tác giả: Nguyễn Mạnh Hùng, Hoàng Thanh, Nguyễn Thị Mai, Bùi Hữu Đoàn
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1994
12. Trần Đình Miên, Hoàng Kim Đường, (1992), Chọn và nhân giống gia súc, Nxb Nông nghiệp, trang 40, 41, 94, 99, 116 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chọn và nhân giống gia súc
Tác giả: Trần Đình Miên, Hoàng Kim Đường
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1992
13. Nguyễn Thị Minh (1980), Nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa máu vịt Cỏ, vịt Bầu Thanh Hóa, Trường Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa máu vịt Cỏ, vịt Bầu Thanh Hóa
Tác giả: Nguyễn Thị Minh
Năm: 1980
14. Nguyễn Nghi (1985), Xác định thành phần khoáng đa lượng và vi lượng trong một số thức ăn ở Việt Nam. Tuyển tập công trình nghiên cứu KH và KT nông nghiệp 1981– 1985, phần chăn nuôi, Nxb Nông nghiệp Hà Nội, trang 27– 29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Nghi (1985), "Xác định thành phần khoáng đa lượng và vi lượng trong một số thức ăn ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Nghi
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1985
15. Trần Ngọc Ngoạn (1990), Giáo trình cây sắn, ĐH Nông Lâm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình cây sắn
Tác giả: Trần Ngọc Ngoạn
Năm: 1990
16. Lê Đức Ngoan và cs (2005), Giáo trình thức ăn gia súc, Nxb Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình thức ăn gia súc
Tác giả: Lê Đức Ngoan và cs
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2005
17. Phan Cự Nhân, Trần Đình Miên, Tạ Toàn, Trần Đình Trọng (1972), Cơ sở di truyền của năng suất và chọn giống động vật I, II, Nxb Khoa học kĩ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở di truyền của năng suất và chọn giống động vật I, II
Tác giả: Phan Cự Nhân, Trần Đình Miên, Tạ Toàn, Trần Đình Trọng
Nhà XB: Nxb Khoa học kĩ thuật
Năm: 1972
18. Lê Khắc Thận, Nguyễn Thị Phước Nhuận (1974), Giáo trình sinh hóa học động vật, Trường Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình sinh hóa học động vật
Tác giả: Lê Khắc Thận, Nguyễn Thị Phước Nhuận
Năm: 1974
19. .Nguyễn Văn Thiện (1997), Phương pháp nghiên cứu trong chăn nuôi, Nxb nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu trong chăn nuôi
Tác giả: Nguyễn Văn Thiện
Nhà XB: Nxb nông nghiệp
Năm: 1997
32. Job et al. (1980), From http://betuco.be/manioc/Processing% 20cassava %20for% 20animal% Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.2. Thời gian chiếu sáng thích hợp cho chim cút - Ảnh hưởng của việc bổ sung bột lá sắn đến khả năng sinh trưởng, chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa máu và hình thái tế bào gan ở chim cút
Bảng 1.2. Thời gian chiếu sáng thích hợp cho chim cút (Trang 15)
Bảng 2.1. Sơ đồ bố trí thí nghiệm - Ảnh hưởng của việc bổ sung bột lá sắn đến khả năng sinh trưởng, chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa máu và hình thái tế bào gan ở chim cút
Bảng 2.1. Sơ đồ bố trí thí nghiệm (Trang 38)
Bảng 3.1. Tỷ lệ nuôi sống của đàn chim cút qua các ngày tuổi (%) - Ảnh hưởng của việc bổ sung bột lá sắn đến khả năng sinh trưởng, chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa máu và hình thái tế bào gan ở chim cút
Bảng 3.1. Tỷ lệ nuôi sống của đàn chim cút qua các ngày tuổi (%) (Trang 44)
Hình 3.1. Đồ thị sinh trưởng tích lũy của chim cút  3.1.3. Ảnh hưởng của bột lá sắn đến sinh trưởng  tuyệt  đối của chim cút  qua các tuần tuổi - Ảnh hưởng của việc bổ sung bột lá sắn đến khả năng sinh trưởng, chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa máu và hình thái tế bào gan ở chim cút
Hình 3.1. Đồ thị sinh trưởng tích lũy của chim cút 3.1.3. Ảnh hưởng của bột lá sắn đến sinh trưởng tuyệt đối của chim cút qua các tuần tuổi (Trang 47)
Bảng 3.3. Sinh trưởng tuyệt đối của chim cút qua các tuần tuổi - Ảnh hưởng của việc bổ sung bột lá sắn đến khả năng sinh trưởng, chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa máu và hình thái tế bào gan ở chim cút
Bảng 3.3. Sinh trưởng tuyệt đối của chim cút qua các tuần tuổi (Trang 48)
Hình 3.2. Đồ thị sinh trưởng tuyệt đối của chim cút - Ảnh hưởng của việc bổ sung bột lá sắn đến khả năng sinh trưởng, chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa máu và hình thái tế bào gan ở chim cút
Hình 3.2. Đồ thị sinh trưởng tuyệt đối của chim cút (Trang 49)
Bảng 3.4. Sinh trưởng tương đối của chim cút qua các ngày tuổi (%) - Ảnh hưởng của việc bổ sung bột lá sắn đến khả năng sinh trưởng, chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa máu và hình thái tế bào gan ở chim cút
Bảng 3.4. Sinh trưởng tương đối của chim cút qua các ngày tuổi (%) (Trang 50)
Hình 3.3. Đồ thị sinh trưởng tương đối của chim cút - Ảnh hưởng của việc bổ sung bột lá sắn đến khả năng sinh trưởng, chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa máu và hình thái tế bào gan ở chim cút
Hình 3.3. Đồ thị sinh trưởng tương đối của chim cút (Trang 51)
Hình 3.3 cho thấy, sinh trưởng tương đối của chim cút từ 3 tuần tuổi trở - Ảnh hưởng của việc bổ sung bột lá sắn đến khả năng sinh trưởng, chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa máu và hình thái tế bào gan ở chim cút
Hình 3.3 cho thấy, sinh trưởng tương đối của chim cút từ 3 tuần tuổi trở (Trang 51)
Bảng 3.6. Ảnh hưởng của BLS đến số lượng hồng cầu, bạch cầu ở chim cút - Ảnh hưởng của việc bổ sung bột lá sắn đến khả năng sinh trưởng, chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa máu và hình thái tế bào gan ở chim cút
Bảng 3.6. Ảnh hưởng của BLS đến số lượng hồng cầu, bạch cầu ở chim cút (Trang 52)
Hình 3.4. Cấu trúc vi thể gan chim cút (phương pháp nhuộm màu H.E) - Ảnh hưởng của việc bổ sung bột lá sắn đến khả năng sinh trưởng, chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa máu và hình thái tế bào gan ở chim cút
Hình 3.4. Cấu trúc vi thể gan chim cút (phương pháp nhuộm màu H.E) (Trang 56)
Hình 1 chuồng nuôi chim cút - Ảnh hưởng của việc bổ sung bột lá sắn đến khả năng sinh trưởng, chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa máu và hình thái tế bào gan ở chim cút
Hình 1 chuồng nuôi chim cút (Trang 62)
Hình 3 Khảo sát khối lượng của chim cút - Ảnh hưởng của việc bổ sung bột lá sắn đến khả năng sinh trưởng, chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa máu và hình thái tế bào gan ở chim cút
Hình 3 Khảo sát khối lượng của chim cút (Trang 62)
Hình 2 phối trộn thức ăn cho chim cút - Ảnh hưởng của việc bổ sung bột lá sắn đến khả năng sinh trưởng, chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa máu và hình thái tế bào gan ở chim cút
Hình 2 phối trộn thức ăn cho chim cút (Trang 62)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm