1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ------ NGUYỄN THỊ YẾN NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG KHU CÔNG NGHIỆP VỚI VIỆC TIẾP CẬN DỊCH VỤ HÀNH CHÍNH CÔNG CỦA CHÍNH
Trang 11
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -
NGUYỄN THỊ YẾN
NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG KHU CÔNG NGHIỆP VỚI VIỆC TIẾP CẬN DỊCH VỤ HÀNH CHÍNH CÔNG CỦA CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG HIỆN NAY
(Nghiên cứu trường hợp khu công nghiệp Bắc Thăng Long,
huyện Đông Anh, Hà Nội)
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
Hà Nội – 2016
Trang 22
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -
NGUYỄN THỊ YẾN
NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG KHU CÔNG NGHIỆP VỚI VIỆC TIẾP CẬN DỊCH VỤ HÀNH CHÍNH CÔNG CỦA CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG HIỆN NAY
(Nghiên cứu trường hợp khu công nghiệp Bắc Thăng Long,
huyện Đông Anh, Hà Nội)
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Xã hội học
Mã số: 60 31 03 01
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Phạm Văn Quyết
Hà Nội – 2016
Trang 33
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 5
1 Lý do chọn đề tài 5
2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 7
3 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn Error! Bookmark not defined
4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu Error! Bookmark not defined
5 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu Error! Bookmark not defined
6 Câu hỏi, giả thuyết nghiên cứu Error! Bookmark not defined
7 Phương pháp nghiên cứu Error! Bookmark not defined
8 Khung phân tích Error! Bookmark not defined
PHẦN NỘI DUNG Error! Bookmark not defined
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀIError! Bookmark not defined 1.1 Khái niệm công cụ Error! Bookmark not defined
1.1.1 Khái niệm dịch vụ hành chính công Error! Bookmark not defined
1.1.2 Khái niệm tiếp cận dịch vụ hành chính côngError! Bookmark not defined
1.1.3 Khái niệm người lao động trong khu công nghiệpError! Bookmark not defined
1.1.4 Khái niệm chính quyền địa phương Error! Bookmark not defined
1.2 Lý thuyết áp dụng Error! Bookmark not defined
1.2.1 Lý thuyết hành động xã hội Error! Bookmark not defined
1.2.2 Lý thuyết lựa chọn hành vi hợp lý Error! Bookmark not defined
1.3 Sơ lược về địa bàn nghiên cứu Error! Bookmark not defined
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TIẾP CẬN DỊCH VỤ HÀNH CHÍNH CÔNG
CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG KHU CÔNG NGHIỆPError! Bookmark not defined 2.1 Thực trạng sử dụng dịch vụ hành chính công của người lao động Error!
Bookmark not defined
2.1.1 Nhận biết nơi làm các dịch vụ hành chính côngError! Bookmark not defined
2.1.2 Việc sử dụng các dịch vụ hành chính côngError! Bookmark not defined
2.1.3 Mức phí và thời gian làm các dịch vụ hành chính côngError! Bookmark not defined
2.2 Mức độ hài lòng của người lao động với các dịch vụ hành chính công
Error! Bookmark not defined
Trang 44
2.3 Một số bất cập trong tiếp cận các dịch vụ hành chính công Error!
Bookmark not defined
2.4 Mong muốn của người lao động với các thủ tục hành chính công Error!
Bookmark not defined
2.4.1 Mong muốn tìm hiểu thông tin về thủ tục hành chính côngError! Bookmark not defined 2.4.2 Mong muốn cải thiện chất lượng dịch vụ hành chính côngError! Bookmark not defined
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI VIỆC TIẾP CẬN DỊCH VỤ
HÀNH CHÍNH CÔNG CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNGError! Bookmark not defined
3.1 Nhóm các yếu tố từ phía người nhận dịch vụError! Bookmark not
defined
3.2 Các yếu tố từ phía người cung cấp dịch vụ Error! Bookmark not defined
3.2.1 Một số chính sách, văn bản pháp luật về cải cách thủ tục hành chính/
quy trình làm các thủ tục hành chính công Error! Bookmark not defined
3.2.2 Khó khăn trong việc cung ứng dịch vụ hành chính công từ phía chính
quyền địa phương Error! Bookmark not defined
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ Error! Bookmark not defined
KẾT LUẬN Error! Bookmark not defined
KHUYẾN NGHỊ Error! Bookmark not defined
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 13
PHỤ LỤC Error! Bookmark not defined
Trang 55
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Lực lượng lao động là một trong những nguồn lực không thể thiếu trong
sự phát triển của mỗi quốc gia Đồng thời có vai trò là động lực cho tăng trưởng
và phát triển kinh tế
Lực lượng lao động trung bình cả nước năm 2014 là 53,7 triệu người, tăng
so với năm trước là 498 nghìn người (1%) bao gồm 52,7 triệu người có việc làm
và có 1 triệu người thất nghiệp, lực lượng lao động của khu vực nông thôn chiếm 69,3% Tỷ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên tham gia lực lượng lao động là 77,7%, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động chênh lệch đáng kể giữa nam và nữ và không đồng đều giữa các vùng, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của dân số khu vực nông thôn cao hơn khu vực thành thị Trong tổng số 733,6 nghìn người di cư từ 15 tuổi trở lên có hơn bốn phần năm (81,7%) tham gia vào lực lượng lao động [12]
Cùng với việc gia nhập WTO, Việt Nam đang bước vào thời kỳ công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, các khu công nghiệp, khu kinh tế phát triển với tốc độ cao nên tình trạng di dân đến các khu công nghiệp ngày càng gia tăng
Để sinh sống và hòa nhập thì người lao động cũng có nhu cầu lớn đối với các dịch vụ hành chính công tại nơi cư trú, chẳng hạn: giấy tạm trú tạm vắng; hộ khẩu; giấy khai sinh; bảo hiểm lao động…vv và nhiều loại giấy tờ khác Song trên thực tế, hiện nay việc tiếp cận của họ với các dịch vụ này vẫn còn nhiều trở ngại và khó khăn nhất định, tình trạng bộ máy cồng kềnh, chức năng chồng chéo, tính không công khai trong các thủ tục hành chính, năng lực chuyên môn, nghiệp
vụ của người cung ứng dịch vụ còn nhiều bất cập, hạn chế Tình trạng bất bình đẳng phân biệt đối xử trong việc tiếp cận dịch vụ vẫn còn khá phổ biến
Cải cách dịch vụ hành chính công là một yêu cầu cấp thiết cho người lao động, bởi nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính công thể hiện rõ bản chất:
“Nhà nước của dân, do dân, vì dân” của Nhà nước ta
Trang 66
Chương trình tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 2011 – 2020 xác định
“Trọng tâm cải cách hành chính trong giai đoạn 10 năm tới là: cải cách thể chế; xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, chú trọng cải cách chính sách tiền lương nhằm tạo động lực thực sự để cán bộ, công chức, viên chức thực thi công vụ có chất lượng và hiệu quả cao; nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính và chất lượng dịch vụ công” Trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung Ương Đảng khóa VIII (năm 1999) lần đầu tiên đề cập đến khái niệm “dịch vụ công” Nghị quyết còn yêu cầu “tiến hành từng bước việc phân định rõ biên chế trong bộ máy hành chính với biên chế trong các đơn
vị sự nghiệp, kinh tế, dịch vụ công; thí điểm việc xã hội hóa một số lĩnh vực dịch
vụ, y tế, giáo dục, khoa học và hoạt động văn hóa, thể thao…trước hết là ở các thành phố và các khu công nghiệp
Khu công nghiệp Bắc Thăng Long là nơi thu hút rất nhiều người lao động đến từ các tỉnh khác nhau trong cả nước Có thể nói đây là một trong những khu công nghiệp được xem là điểm sáng của Hà Nội về phát triển ngành công nghiệp
cơ điện tử xuất khẩu, bao gồm cả công đoạn sản xuất lắp ráp cũng như sản xuất chế tạo chi tiết linh kiện Khu công nghiệp này đã thu hút được trên 60 nghìn lao động, mỗi doanh nghiệp cũng thu hút tới vài nghìn lao động Do vậy, đây là địa bàn có nhiều lao động phần lớn là dân nhập cư Do vậy, các vấn đề có liên quan tới hành chính công đã và đang trở thành vấn đề cấp thiết mà nhiều người lao động ở đây rất quan tâm
Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi thực hiện nghiên cứu: “Người lao
động trong khu công nghiệp với việc tiếp cận dịch vụ hành chính công của chính quyền địa phương hiện nay” (Nghiên cứu trường hợp khu công nghiệp
Bắc Thăng Long, huyện Đông Anh, Hà Nội), kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ chỉ
ra thực trạng tiếp cận dịch vụ, cũng như sẽ phân tích rõ được thực trạng tiếp cận dịch vụ hành chính công, mặt khác qua đề tài cũng làm rõ các yếu tố ảnh hưởng tới việc tiếp cận dịch vụ từ phía người lao động và chính quyền địa phương Từ
Trang 77
đó, có thể đưa ra được một số khuyến nghị với mục đích cải thiện và nâng cao hơn chất lượng dịch vụ hành chính công ở cấp cơ sở xã/ phường hiện nay
2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Lực lượng lao động là một trong những bộ phận quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội ở mỗi quốc gia Vì vậy, các vấn đề xã hội có liên quan tới người lao động luôn nhận được sự quan tâm của xã hội Liên quan tới tiếp cận dịch vụ hành chính công của người lao động là một vấn đề mới và cấp thiết đối với người lao động, hiện nay đã có nhiều nghiên cứu trong nước và nước ngoài
về vấn đề này, cũng như các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng tiếp cận dịch vụ hành chính công
Các nghiên cứu về thực trạng tiếp cận dịch vụ hành chính công của người lao động
Nhằm tháo gỡ các khó khăn và hạn chế liên quan tới hành chính công, thì
với đề tài“Cải cách dịch vụ hành chính công ở Việt Nam” (thuộc chương trình
nghiên cứu: các giải pháp thúc đẩy cải cách hành chính ở Việt Nam) chủ nhiệm
đề tài là PGS.TS Lê Chi Mai Đề tài đã phân tích thực trạng cung ứng các dịch vụ hành chính công ở nước ta hiện nay, từ đó kiến nghị các giải pháp cải tiến việc cung ứng dịch vụ này nhằm nâng cao hiệu quả phục vụ nhân dân của bộ máy nhà nước Trong đề tài đã mô tả và làm rõ về mặt lý luận khái niệm và nội dung của dịch vụ hành chính công Đề tài tập trung nghiên cứu các dịch vụ hành chính công do các cơ quan hành chính nhà nước cung ứng thông qua tiến hành khảo sát thực tiễn cung ứng 7 loại dịch vụ hành chính công chủ yếu hiện nay (bao gồm thu thuế, cấp giấy phép đầu tư nước ngoài, hải quan, công chứng, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở, xuất nhập cảnh, giấy đăng ký kinh doanh) Đề tài đã sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu phổ biến để đạt được mục tiêu đề ra như là: phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê Tuy nhiên, đề tài chưa đi sâu phân tích việc người lao động nói riêng tiếp cận như thế nào với các dịch vụ hành
Trang 88
chính công đó cũng như có những yếu tố nào ảnh hưởng, khó khăn và thuận lợi khi tiếp cận dịch vụ hành chính công
Cùng với nội dung đổi mới hành chính công thì bài viết “Một số vấn đề
đổi mới quản lý dịch vụ công ở Việt Nam” của TS Đặng Đức Đạm, phó trưởng
Ban nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ Với các trình bày chi tiết các khái niệm có liên quan tới dịch vụ công ở nước ta, trong đó có hành chính công, hơn nữa bài viết cũng nêu ra thực trạng, vấn đề và yêu cầu đổi mới quản lý dịch vụ công Hơn nữa bài viết cũng đề cập tới một số đổi mới chế độ tài chính đối với dịch vụ công, tuy nhiên bài viết chưa làm rõ cụ thể các loại dịch vụ công hiện nay, mặt khác cũng chưa đề cập tới việc tiếp cận các loại dịch vụ này như thế nào? Cũng như hình thức tiếp cận các loại dịch vụ công ra sao
Với nghiên cứu của Hà Thị Phương Tiến, Hà Quang Ngọc: Lao động nữ
di cư tự do nông thôn – thành thị Nhà xuất bản Phụ nữ Hà Nội, 2002 Công
trình đã sử dụng nhiều phương pháp phỏng vấn sâu trên diện rộng cả địa bàn và đối tượng Trong đó có các nội dung chính như: Bối cảnh, tình hình, lý do di cư vào các thành phố lớn và lý do di cư của lao động nữ vào các thành phố; việc làm
và đời sống của lao động nữ di cư tự do vào thành phố (việc làm, thu nhập, sức khỏe, chăm sóc y tế, điều kiện sống, quan hệ xã hội); ảnh hưởng của lao động nữ
di cư đối với các thành phố (nơi nhập cư) dư luận xã hội đối với lao động nữ di
cư vào thành phố; xu hướng và giải pháp cho vấn đề lao động nữ di cư vào thành phố Mặc dù, đã trình bày một số vấn đề có liên quan tới người lao động tuy nhiên, nghiên cứu mới dừng lại ở việc mô tả các yếu tố có liên quan tới người lao động di cư nhưng chưa làm rõ được vấn đề tiếp cận với các dịch vụ xã hội, trong
đó là hành chính công
Nghiên cứu tiếp về vấn đề này bài viết “Việc làm và đời sống của người
lao động theo thời vụ từ nông thôn ra Hà Nội (Nghiên cứu trường hợp tại Hà
Nội và xã Xuân Thượng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định), của tác giả
Nguyễn Thị Bích Nga, tạp chí Xã hội học số 2 (82), 2003 Nghiên cứu được tiếp cận theo phương pháp mô tả thực trạng, vận dụng quan điểm giới và phát triển
Trang 99
trong quá trình thực hiện, xem xét mối tương quan giữa nam và nữ trong mối quan tâm và bối cảnh chung của vấn đề di chuyển lao động nông thôn – thành thị Bài viết đã chỉ ra một số đặc điểm về việc làm và đời sống của người lao động cụ thể như là: Nghề của lao động nam, nữ tại Hà Nội tương tự nhau, đơn giản, phổ thông và sử dụng lao động cơ bắp là chính; Cả nam và nữ đều không chỉ làm một nghề cố định mà còn làm thêm bất cứ công việc gì có thể tạo ra thu nhập; Cùng một nhóm nghề nhưng thu nhập của nam cao hơn nữ, do chi tiêu cá nhân của nam cao hơn nên số tiền gửi về gia đình của nam và nữ tương đương; Khả năng chuyển đổi vị trí làm việc của người lao động thấp Mặc dù nghiên cứu cũng đã chỉ ra một số khó khăn về quan hệ của người lao động với các cơ quan chức năng của địa phương song nghiên cứu mới dừng lại ở việc mô tả sơ bộ khó khăn, chưa đi sâu phân tích việc tiếp cận với các dịch vụ hành chính của địa phương, mặt khác nghiên cứu chưa phân tích cụ thể được những nhu cầu, thực trạng, cũng như các yếu tố ảnh hưởng tới việc tiếp cận dịch vụ hành chính công hiện nay
Di dân là một trong những vấn đề mà được nhiều nhà nghiên cứu quan
tâm, với đề tài cấp bộ: “Di dân tạm thời ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh”
do PGS.TS Lưu Bích Ngọc làm chủ nhiệm đề tài Báo cáo đã phân tích và làm rõ các nội dung có liên quan tới người lao động di cư tạm thời, đồng thời báo cáo cũng đã ước lượng di cư tạm thời và dự báo dân số Bên cạnh đó báo cáo cũng chỉ ra được một số vấn đề kinh tế - xã hội của người di cư tạm thời, trong đó báo cáo cũng đề cập đến mức độ hiểu biết và thực hành về một số quyền cơ bản của người di cư hiện nay Những nhân tố ảnh hưởng đến quyết định di cư, báo cáo cũng đề xuất một số giải pháp hạn chế giảm thiểu tiêu cực của di cư tạm thời hiện nay Với mẫu khảo sát tại hai địa bàn Hà Nội và TP HCM, đây là hai trung tâm kinh tế chính trị và văn hóa lớn nhất cả nước, với lợi thế là nơi tập trung đa dạng nhiều ngành nghề, đã tạo điều kiện cơ bản để thu hút được một lực lượng lao động lớn từ nông thôn ra thành thị Kết quả khảo sát cho thấy có sự khác biệt
cơ bản giữa lao động ở Hà Nội và TP HCM, mặc dù vậy, nghiên cứu mới đưa ra
Trang 1010
những kết quả chung cho vấn đề di dân ở nước ta, việc tìm hiểu về việc tiếp cận các dịch vụ xã hội của người di dân vẫn còn nhiều hạn chế, hơn nữa, đề tài mới chỉ ra một số quyền cơ bản khi tiếp cận dịch vụ, chưa phân tích và làm rõ được các nội dung liên quan tới việc tiếp cận dịch vụ hành chính công
Cũng theo nghiên cứu và báo cáo tại các hội nghị Báo cáo viên do Ban Tuyên giáo Trung ương yêu cầu, năm 2010 đã chỉ ra những xu hướng chính của
di dân ở nước ta, đồng thời cũng chỉ ra những đặc trưng cơ bản của người di cư
Số liệu trong những năm gần đây cho thấy số người di cư ngày càng lớn, thiếu đất và thiếu việc làm là một trong những nguyên nhân tạo nên “lực đẩy” xuất cư lớn Đặc biệt, người di cư ngày càng có xu hướng “vươn xa”, tỷ lệ người di cư giữa các tỉnh, huyện, xã tăng nhanh Theo báo cáo cũng chỉ ra một số đặc trưng
cơ bản của người di cư trong những năm gần đây: Phụ nữ di cư ngày càng nhiều hơn nam giới; Đa số những người di cư là trẻ tuổi; Đa số người di cư là chưa kết hôn; Đa số những người di cư có trình độ học vấn từ Trung học cơ sở trở lên; sức khỏe của người di cư nói chung là tốt Mặc dù, nghiên cứu đã chỉ ra được những xu hướng chính và đặc trưng cơ bản song nghiên cứu chưa đi sâu vào nghiên cứu người lao động tiếp cận các dịch vụ xã hội, dịch vụ hành chính công như thế nào?
Đề cập tới vấn đề này, trong cuốn sách “Lao động di trú trong pháp luật
quốc tế và Việt Nam” của trung tâm nghiên cứu quyền con người – quyền công
dân, Đại học Quốc gia Hà Nội Đã nêu ra một số vấn đề có liên quan tới quyền của người lao động di trú, đồng thời cuốn sách cũng đưa ra một số vấn đề có liên quan như là: xuất khẩu lao động; tác động kinh tế - xã hội của di cư quốc tế tại Việt Nam; pháp luật hiện hành về bảo vệ người lao động di cư Tuy nhiên, pháp luật về người di cư nội địa là một vấn đề khó, chưa được đề cập đến nhiều, đặc biệt là các quyền cơ bản của người lao động, trong đó, tiếp cận các dịch vụ xã hội chưa đề cập đến
Tương tự, liên quan tới pháp luật của người lao động di cư thì trong cuốn:
“Bảo vệ người lao động di trú, tập hợp các văn kiện quan trọng của quốc tế, khu vực ASEAN và của Việt Nam liên quan đến vị thế và việc bảo vệ người lao