NỘI DUNG NGHIÊN CỨU - Tổng quan vấn đề nghiên cứu - Đánh giá hiện trạng phân bố và phát triển làng nghề tại các khu vực nông thôn TP.HCM - Đánh giá hiện trạng và dự báo phát thải do hoạ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP HCM
-
TRƯƠNG THỊ THANH TUYỀN
ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG VÀ ĐỀ XUẤT MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TRỒNG HOA KIỂNG TẠI TP.HCM KẾT HỢP DU LỊCH SINH THÁI
GẮN VỚI BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành :Kỹ thuật môi trường
Mã số ngành: 60520320
TP HỒ CHÍ MINH, tháng 07 năm 2016
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP HCM
-
TRƯƠNG THỊ THANH TUYỀN
ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG VÀ ĐỀ XUẤT MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TRỒNG HOA KIỂNG TẠI TP.HCM KẾT HỢP DU LỊCH SINH THÁI
GẮN VỚI BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
Trang 3Thành phần Hội đồng đánh giá Luận văn Thạc sĩ gồm:
(Ghi rõ họ, tên, học hàm, học vị của Hội đồng chấm bảo vệ Luận văn Thạc sĩ)
1 GS TSKH Nguyễn Trọng Cẩn Chủ tịch
3 PGS TS Phạm Hồng Nhật Phản biện 2
Xác nhận của Chủ tịch Hội đồng đánh giá Luận sau khi Luận văn đã đƣợc sửa chữa (nếu có)
Chủ tịch Hội đồng đánh giá LV
Trang 4PHÒNG QLKH – ĐTSĐH Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
TP HCM, ngày … tháng… năm 2016
NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ
Họ tên học viên: Trương Thị Thanh Tuyền Giới tính: Nữ
Ngày, tháng, năm sinh: 21/02/1990 Nơi sinh: TP Hồ Chí Minh
Chuyên ngành: Kĩ thuật môi trường MSHV: 144081001
I- Tên đề tài:
Đánh giá tiềm năng và đề xuất mô hình phát triển làng nghề hoa trồng hoa kiểng tại
TP.HCM kết hợp du lịch sinh thái gắn với bảo vệ môi trường
II- Nhiệm vụ và nội dung:
Nhiệm vụ: đánh giá được tiềm năng và đề xuất được mô hình đểbảo tồn và phát triển
làng nghề hoa cây kiểng tại TP.HCM theo hướng DLST gắn với BVMT
Nội dung:
- Tổng quan vấn đề nghiên cứu
- Đánh giá hiện trạng phân bố và phát triển làng nghề tại các khu vực nông thôn TP.HCM
- Đánh giá hiện trạng và dự báo phát thải do hoạt động của làng nghề trồng hoa kiểng TP.HCM
- Đề xuất tiêu chí xác định “Làng nghề DLST kết hợp với BVMT”
- Áp dụng bộ tiêu chí đã đề xuất để đánh giá cho trường hợp điển hình: Làng nghề hoa kiểng Thủ Đức
Trang 5cho làng nghề hoa kiểng Thủ Đức
III- Ngày giao nhiệm vụ: 23/01/2016
IV- Ngày hoàn thành nhiệm vụ: 30/7/2016
V- Cán bộ hướng dẫn: PGS.TS Lê Thanh Hải
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN KHOA QUẢN LÝ CHUYÊN NGÀNH
(Họ tên và chữ ký) (Họ tên và chữ ký)
PGS TS Lê Thanh Hải
Trang 6LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Lê Thanh Hải và ThS Trần Văn Thanh Các số liệu, kết quả nêu trong Luận văn là trung thực dựa vào kết quả thu được trong quá trình nghiên cứu, khảo sát thực tế, thu thập tài liệu và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan của mình trước quý thầy cô
Trang 7Cám ơn các Thầy Cô dạy lớp cao học khóa 14SMT21 đã truyền đạt kiến thức
và kinh nghiệm quý báu trong thời gian học tập tại trường
Các anh chị làm việc trong tại phòng kinh tế quận Thủ Đức, quận 12, các hộ
nông dân tại làng nghề hoa kiểng đã cung cấp số liệu thực tế cho nghiên cứu này
Cuối cùng xin được tri ân, ghi nhớ tất cả tình cảm của gia đình và bạn bè, đồng nghiệp đã ủng hộ và tạo điều kiện thuận lợi, là động lực giúp cho tôi tự tin hoàn thành
luận văn này./
Trương Thị Thanh Tuyền
Trang 8TÓM TẮT
Làng nghề đã có những đóng góp đáng kể vào sự phát triển kinh tế của các địa phương Tuy nhiên, trước xu thế hội nhập ngày càng sâu rộng như hiện nay, làm thế nào để nâng cao sức cạnh tranh cho các sản phẩm làng nghề, giúp làng nghề vững bước tiến vào hội nhập đang là vấn đề đặt ra đối với các ngành chức năng và cở sở sản xuất ở làng nghề Với xu hướng phát triển hiện nay, phát triển làng nghề kết hợp DLST gắn với BVMT là một hướng đi đúng đắn, đặc biệt là đối với làng hoa kiểng triên địa bàn TP.HCM, một trong những làng nghề có tiềm năng phát triển
Vì thế, luận văn này đánh giá hiện trạng và dự báo phát thải của làng nghề hoa kiểng trên địa bàn TP.HCM và đề xuất các tiêu chí xác định “Làng nghề DLST gắn với BVMT” với 3 tiêu chí: tiềm năng phát triển; CSVCKT, CSHT; tổ chức quản lý và tham gia cộng đồng Từ những tiêu chí đã đề xuất, áp dụng đánh giá tiềm năng phát triển của làng nghề hoa kiểng Thủ Đức và đề xuất các giải pháp khắc phục những vấn
đề về môi trường, du lịch cộng đồng, những giải pháp để phát triển làng nghề theo hướng DLST Qua đó, đề xuất mô hình phát triển làng nghề hoa kiểng Thủ Đức kết hợp DLST gắn với BVMT
Trang 9ABSTRACT
Villages have made a significant contribution to the development of the local economy However, the tendency of deeper integration at present, how to enhance the competitiveness of the products of craft villages, villages help moving steadily into integration is posing problems for functional departments and production establishments in the village With the current development trends, development of craft villages combine ecotourism associated with environmental protection is a right direction, especially for flower village in HCM City, one of the villages potential career development
Therefore, this paper reviews the current situation and forecast emissions of flower villages in HCM City and suggest criteria for identification of "eco-tourism village linked to environmental protection" for 3 criteria: potential for development; technical facilities, infrastructure; organizational management and community involvement Since the proposed criteria, applied to evaluate the potential development of flower village Thu Duc and propose solutions to overcome the problems of the environment, community tourism, to develop solutions villages vocational towards ecotourism Thereby, the proposed development model flower Thu Duc village ecotourism combination associated with environmental protection
Trang 10MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 8
1.1 CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN 8
1.1.1 Khái niệm về làng nghề truyền thống 8
1.1.2 Khái niệm về du lịch làng nghề truyền thống 10
1.1.3 Ý nghĩa của việc phát triển du lịch làng nghề 10
1.2 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC VÀ TRÊN THẾ GIỚI 11
1.2.1 Thế giới 11
1.2.2 Việt Nam 12
1.3 THỰC TRẠNG VÀ TIỀM NĂNG DU LỊCH LÀNG NGHỀ HOA KIỂNG TẠI VIỆT NAM 19
1.3.1 Thực trạng phát triển làng nghề hoa kiểng theo hướng du lịch sinh thái tại một số địa phương 19
1.3.2 Một số bài học kinh nghiệm về phát triển làng nghề hoa kiểng theo hướng du lịch sinh thái 24
1.4 ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG PHÂN BỐ VÀ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TẠI CÁC KHU VỰC NÔNG THÔN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 24
1.4.1 Thực trạng phát triển ngành nghề nông thôn, làng nghề 24
1.4.2 Mục tiêu bảo tồn và phát triển làng nghề tại Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn 2013-2015, định hướng đến năm 2020 28
1.4.3 Thực trạng làng nghề hoa kiểng tại thành phố Hồ Chí Minh 29
CHƯƠNG 2 ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ DỰ BÁO PHÁT THẢI DO HOẠT ĐỘNG CỦA LÀNG NGHỀ TRỒNG HOA KIỂNG TẠI TPHCM 38
2.1 ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG CÁC NGUỒN GÂY TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG CỦA LÀNG NGHỀ HOA KIỂNG TP.HCM 38
2.1.1 Tác động môi trường từ sử dụng phân bón, thuốc BVTV 38
2.1.2 Nước thải 39
2.1.3 Khí thải 40
2.1.4 Chất thải rắn 40
2.1.5 Ðất 42
Trang 112.1.6 Hiện trạng chất lượng môi trường tại làng nghề 42
2.2 ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ DỰ BÁO PHÁT THẢI VÀO MÔI TRƯỜNG DO HOẠT ĐỘNG TRỒNG HOA KIỂNG TẠI TP.HCM 45
2.2.1 Đánh giá cân bằng vật chất do hoạt động trồng hoa kiểng 46
2.2.2 Đánh giá hiện trạng và dự báo phát thải 54
CHƯƠNG 3 ĐỀ XUẤT TIÊU CHÍ XÁC ĐỊNH “LÀNG NGHỀ DU LỊCH SINH THÁI KẾT HỢP VỚI BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG” 59
3.1 SỰ CẦN THIẾT ĐỀ XUẤT TIÊU CHÍ XÁC ĐỊNH “LÀNG NGHỀ DU LỊCH SINH THÁI KẾT HỢP VỚI BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG” 59
3.2 ĐỀ XUẤT TIÊU CHÍ XÁC ĐỊNH “LÀNG NGHỀ DU LỊCH SINH THÁI KẾT HỢP VỚI BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG” 59
3.3 ĐỀ XUẤT PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ CÁC TIÊU CHÍ 64
3.3.1 Trình tự đánh giá 64
3.3.2 Phương pháp đánh giá tiềm năng điều kiện tự nhiên phục vụ phát triển du lịch sinh thái 65
3.3.3 Phương pháp đánh giá các tiêu chí về cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển du lịch sinh thái 68
3.3.4 Phương pháp đánh giá các tiêu chí về về tổ chức quản lý và tham gia cộng đồng 71
3.4 ĐÁNH GIÁ TỔNG HỢP 73
3.5 ÁP DỤNG BỘ TIÊU CHÍ ĐÃ ĐỀ XUẤT ĐỂ ĐÁNH GIÁ CHO TRƯỜNG HỢP ĐIỂN HÌNH: LÀNG HOA KIỂNG THỦ ĐỨC 75
3.5.1 Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của làng nghề hoa kiểng thủ đức 75
3.5.2 Đánh giá tiềm năng phát triển của làng nghề hoa kiểng tại quận thủ đức theo hướng DLST gắn với BVMT 84
CHƯƠNG 4 ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP HƯỚNG ĐẾN PHÁT TRIỂN THEO MÔ HÌNH DLST GẮN VỚI BVMT CHO LÀNG HOA KIỂNG THỦ ĐỨC 90
4.1 CÁC GIẢI PHÁP BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TẠI LÀNG NGHỀ 90
4.1.1 Giảm tác động do sử dụng phân bón và thuốc BVTV 91
4.1.2 Giải pháp thu gom và xử lý nước thải 97
4.1.3 Giải pháp tiết kiệm năng lượng và nguyên liệu 98
4.2 ĐẨY MẠNH SỰ THAM GIA CỦA CỘNG ĐỒNG TRONG PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ DLST GẮN VỚI BVMT 99
Trang 124.2.1 Giải pháp dựa vào sự tham gia của cộng đồng – Mô hình du lịch cộng
đồng 99
4.2.2 Giải pháp quản lý: Liên kết 4 nhà 100
4.2.3 Giải pháp quảng bá xây dựng thương hiệu 102
4.3 ĐỊNH HƯƠNG QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TRỒNG HOA KIỂNG KẾT HỢP DLST GẮN VỚI BVMT ĐỐI VỚI LÀNG NGHỀ HOA KIỂNG THỦ ĐỨC, QUẬN THỦ ĐỨC 103
4.3.1 Giai đoạn 1 - Kế thừa 104
4.3.2 Giai đoạn 2 – Quy hoạch tập trung 105
4.4 ĐỀ XUẤT CÁC TOUR DU LỊCH SINH THÁI TẠI LÀNG NGHỀ HOA KIỂNG THỦ ĐỨC 111
4.5 ĐỀ XUẤT LỘ TRÌNH THỰC HIỆN 114
KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ 115
TÀI LIỆU THAM KHẢO 117
Trang 13DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BVTV Bảo vệ thực vật
BVMT Bảo vệ môi trường
BNN&PTNT Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
BTN&MT Bộ Tài nguyên và Môi trường
ÔNKK Ô nhiễm không khí
ÔNMT Ô nhiễm môi trường
TP.HCM Thành phố Hồ Chí Minh
UBND Ủy ban nhân dân
VSMT Vệ sinh môi trường
Trang 14DANH MỤC HÌNH
Hình 1-1.Nhà vườn trang trí hoa trước nhà tạo cảnh quan cho làng hoa 20
Hình 1-2 Làng hoa Tân Quy Đông thu hút khách du lịch tham quan 21
Hình 1-3.Làng hoa tại Sơn Định, Bến Tre 22
Hình 2-1.Bản đồ thể hiện số hộ trồng các loại hoa kiểng ở làng hoa kiểng Thủ Đức 30 Hình 2-2.Bản đồ thể hiện số hộ trồng các loại hoa kiểng ở làng hoa kiểng Thủ Đức 32 Hình 2-3.Phân bố quy mô sản xuất làng nghề hoa kiểng Thủ Đức 33
Hình 2-4.Phân bố quy mô sản xuất làng nghề hoa kiểng Xuân – An – Lộc 33
Hình 3-3.Nước rỉ từ tưới tiêu 39
Hình 3-4.Rảnh trong vườn kiểng 39
Hình 3-9.Bao bì, chai nhựa thuốc BVTV 40
Hình 3-10 Thu gom vỏ thuốc, bao bì thuốc BVTV 41
Hình 3-11 Đốt chung vỏ, bao bì thuốc BVTV với rác thải sinh hoạt 41
Hình 3-14.Biểu đồ thể hiện hình thức xử lý bao bì TBVTV 42
Hình 5-1.Bản đồ quy hoạch quận Thủ Đức 76
Hình 6-1.Bản đồ khu du lịch Suối Tiên 104
Hình 6-2.Bản đồQuy hoạch công viên quận Thủ Đức tại phường Tam Phú 106
Hình 6-3 Khu vui chơi, giải trí (Ảnh minh họa) 107
Hình 6-4.Cảnh quan trong khu du lịch làng nghề(Ảnh minh họa) 108
Hình 6-5 Khu trưng bày sản phẩm 108
Hình 6-6.Hồ trữ nước mưa tạo cảnh quan (Ảnh minh họa) 109
Hình 6-7 Hoa mai bonsai 110
Trang 15DANH MỤC BẢNG
Bảng 0-1.Các thông số phân tích nước thải 6
Bảng 0-2.Các thông số phân tích mẫu đất 6
Bảng 2-1.Tổng số hộ và diện tích trồng hoa tại làng nghề hoa kiểng Thủ Đức 30
Bảng 2-2.Tổng số hộ và diện tích trồng hoa tại làng nghề hoa kiểng quận 12 31
Bảng 3-1.Phân tích mẫu đất hộ trồng lan 42
Bảng 3-3.Phân tích mẫu đất hộ trồng mai 43
Bảng 3-5.Kết quả phân tích nước giếng tại phường Hiệp Bình Phước 44
Bảng 3-7.Kết quả phân tích mẫu nước thải hộ trồng lan ngày thứ nhất 45
Bảng 3-11.Dự báo phát thải của hộ trồng mai 56
Bảng 3-12.Dự báo phát thải của làng nghề hoa kiểng Thủ Đức và quận 12 từ quá trình trồng mai 56
Bảng 3-13.Dự báo phát thải của hộ trồng lan 57
Bảng 3-14.Dự báo phát thải của làng nghề hoa kiểng quận Thủ Đức và quận 12 từ quá trình trồng lan 57
Bảng 4-1.Tiêu chí xác định “Làng nghề sinh thái kết hợp với du lịch và văn hóa địa phương” 60
Bảng 4-2.Thang đánh giá điều kiện tự nhiên phục vụ phát triển du lịch sinh thái tại làng nghề hoa kiểng 67
Bảng 4-3.Thang điểm đánh giá cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ sở hạ tầng của điểm du lịch sinh thái 69
Bảng 4-4.Thang điểm đánh giá các tiêu chí về tổ chức quản lý và tham gia cộng đồng 72
Bảng 4-5.Điểm dánh giá tổng hợp của các chỉ tiêu 74
Bảng 4-6.Mức độ đánh giá các điểm DLST 75
Bảng 5-1.Danh mục di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn quận Thủ Đức 86
Bảng 5-2.Kết quả đánh giá điều kiện tự nhiên phục vụ du lịch sinh thái tại làng nghề hoa kiểng Thủ Đức 89
Trang 16MỞ ĐẦU
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Thành phố hiện có 19 làng nghề hoạt động và phát triển tại 7 quận - huyện: quận 12, Thủ Đức, Gò Vấp, Củ Chi, Cần Giờ, Hóc Môn, Bình Chánh Trong đó, có 4/19 làng nghề mang đậm nét văn hóa truyền thống nhưng không có khả năng phát triển độc lập: làng nghề đan đát Thái Mỹ, huyện Củ Chi; làng nghề đan giỏ trạc Xuân Thới Sơn, huyện Hóc Môn; làng nghề se nhang Lê Minh Xuân, huyện Bình Chánh; làng nghề muối Lý Nhơn, huyện Cần Giờ Và 4 làng nghề đang phát triển và có khả
năng phát triển độc lập, bền vững trong tương lai: làng nghề hoa kiểng Xuân - An - Lộc, quận 12; làng nghề hoa kiểng Thủ Đức, quận Thủ Đức; làng nghề mành trúc
Tân Thông Hội, huyện Củ Chi; làng nghề bánh tráng Phú Hòa Đông, huyện Củ Chi.[1]
Trong số đó, làng nghề hoa cây kiểng có tiềm năng phát triển mạnh do thành phố Hồ Chí Minh, với lợi thế đầu mối cung cấp hoa kiểng cho cả nước và xuất khẩu, vừa là thị trường tiêu thụ hoa kiểng lớn nhất nước, việc phát triển sản phẩm hoa cây kiểng đã tạo nên một nét đặt đặc trưng rất riêng biệt trong quá trình chuyển đổi nông nghiệp của thành phố
Ngoài có điều kiện khí hậu thích hợp cho nhiều loại hoa kiểng nhiệt đới và cả một số lọai hoa kiểng á nhiệt đới Thành phố còn có đội ngũ nghệ nhân tay nghề cao, lao động lành nghề, tập trung các nhà khoa học và đặc biệt thành phố có lợi thế trong các hoạt động giao dịch, xuất khẩu so với các tỉnh khác Cùng với tốc độ tăng trưởng kinh tế, tốc độ phát triển hoa kiểng ngày càng tăng một cách đáng kể, đã trở thành hàng hóa nên đã mang một động lực mạnh mẽ cho việc phát triển ngành nghề hoa kiểng, tạo công ăn việc làm cho hàng ngàn lao động Sản xuất hoa kiểng mang đặc điểm thâm canh với cường độ cao trên cùng diện tích đất sản xuất, cho phép sử dụng hiệu quả đất đai, thu hút nhiều nguồn vốn đa dạng trong nhân dân Nghề trồng hoa và cây kiểng hiện nay là một ngành nghề cho thu nhập cao, gấp vài chục lần so với trồng lúa
Trang 17Trước những giá trị mang lại từ các làng hoa thì hướng phát triển làng hoa theo
một hướng mới, hướng đến du lịch sinh thái là một điều rất cần thiết.[2]
Du lịch sinh thái (DLST) là loại hình du lịch dựa vào những hình thức truyền thống sẵn có, nhưng có sự hoà nhập vào môi trường tự nhiên với văn hoá bản địa, du khách có thêm những nhận thức về đặc điểm của môi trường tự nhiên, về những nét đặc thù vốn có của văn hoá từng điểm, từng vùng, khu du lịch và có phần trách nhiệm
tự giác để không xảy ra những tổn thất, xâm hại đối với môi trường tự nhiên và nền văn hoá sở tại Còn về quy mô của loại hình du lịch sinh thái thì tuỳ thuộc vào khả năng, điều kiện, biện pháp tổ chức của nhà quản lý hoạt động du lịch, có thể dần dần
từ quy mô khiêm tốn để phát triển rộng rãi
Hiện nay, DLST đang đóng một vai trò quan trọng trong nhiều dự án bảo tồn thiên nhiên và phát triển cảnh quan, các mục tiêu của du lịch sinh thái có liên quan đến các khu bảo tồn thiên nhiên.Trong những năm qua, DLST đã và đang phát triển nhanh chóng ở nhiều quốc gia trên thế giới và ngày càng thu hút được sự quan tâm rộng rãi của các tầng lớp xã hội, đặc biệt đối với những người có nhu cầu tham quan
du lịch và nghỉ ngơi Ngoài ý nghĩa góp phần bảo tồn tự nhiên, bảo vệ đa dạng sinh học và văn hóa cộng đồng; sự phát triển DLST đã và đang mang lại những nguồn lợi kinh tế to lớn, tạo cơ hội tăng thêm việc làm và nâng cao thu nhập cho quốc gia cũng như cộng đồng người dân các địa phương, nhất là người dân ở các vùng sâu, vùng xa - nơi có các khu bảo tồn tự nhiên và các cảnh quan hấp dẫn Ngoài ra, DLST còn góp phần vào việc nâng cao dân trí và sức khỏe cộng đồng thông qua các hoạt động giáo dục môi trường, văn hóa lịch sử và nghỉ ngơi giải trí Chính vì vậy ở nhiều nước trên thế giới và trong khu vực, bên cạnh các lợi ích về kinh tế, DLST còn được xem như một giải pháp hữu hiệu để bảo vệ môi trường sinh thái thông qua quá trình làm giảm sức ép khai thác nguồn lợi tự nhiên phục vụ nhu cầu của khách du lịch, của người dân địa phương khi tham gia vào các hoạt động du lịch
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
- Mục tiêu tổng quát: đề xuất được mô hình đểbảo tồn và phát triển làng nghề
hoa cây kiểng tại TP.HCM theo hướng DLST gắn với BVMT
Trang 183 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
- Đối tượng nghiên cứu: các hộ sản xuất, kinh doanh tại làng nghề hoa kiểng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh (làng nghề hoa kiểng Thủ Đức, quận Thủ Đức; làng nghề hoa kiểng Xuân – An – Lộc, quận 12)
- Phạm vi không gian: các phường tập trung trồng hoa kiểng tại quận Thủ Đức (phường Hiệp Bình Chánh, Hiệp Bình Phước, Tam Bình, Linh Đông) và quận 12 (phường Thạnh Lộc, Thạnh Xuân, An Phú Đông)
- Phạm vi thời gian: Số liệu hiện trạng các hộ sản xuất, kinh doanh đang hoạt động được cập nhật đến năm 2016
4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
- Tổng quan vấn đề nghiên cứu
- Đánh giá hiện trạng phân bố và phát triển làng nghề tại các khu vực nông thôn TP.HCM
- Đánh giá hiện trạng và dự báo phát thải do hoạt động của làng nghề trồng hoa kiểng TP.HCM
- Đề xuất tiêu chí xác định “Làng nghề du lịch sinh thái kết hợp với BVMT”
- Áp dụng bộ tiêu chí đã đề xuất để đánh giá cho trường hợp điển hình: Làng nghề hoa kiểng Thủ Đức
- Đề xuất các giải pháp hướng đến phát triển theo mô hình DLST gắn với BVMT cho làng nghề hoa kiểng Thủ Đức
Trang 195 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
a Phương pháp khảo sát thực địa
Phương pháp khảo sát thực địa kết hợp sử dụng phiếu điều tra, quay phim, chụp ảnh, phỏng vấn tại hiện trường của các đối tượng nghiên cứu chính (các hộ dân trong các làng nghề, chính quyền các địa phương có liên quan, các chuyên gia và các cán bộ quản lý,… nhằm thu thập và xử lý các số liệu về hoạt động sản xuất TTCN tại các làng nghề, hiện trạng ô nhiễm, hiện trạng công tác bảo vệ môi trường, hiện trạng ý kiến của cộng đồng dân cư, cán bộ, công nhân trên địa bàn thuộc các đối tượng nghiên cứu và những người liên quan khác trong các ban ngành của các địa phương
Cụ thể, đề tài tiến hành thực hiện lập các mẫu phiếu điều tra, điều tra khảo sát, thống kê và đánh giá thực trạng tại các cơ sở sản xuất trong làng nghề hoa kiểng tại quận Thủ Đức và quận 12 Thực hiện công tác điều tra khảo sát dự kiến tại 30 cơ sở sản xuất tại làng nghề nhằm nắm rõ tình hình sản xuất, hiện trạng môi trường để làm
cơ sở cho việc đề xuất nội dung, giải pháp thực hiện Để thực hiện nôi dung này sẽ xây dựng các mẫu phiếu phục vụ công tác điều tra (tổ chức điều tra nhằm lấy ý kiến các công ty, doanh nghiệp hoặc cơ sở sản xuất tại làng nghề).Dựa vào quy mô và sự phân bố của các hộ tại làng nghề, mỗi phường sẽ chọn đại diện hộ có 01 quy mô nhỏ
>1.000m2, 02 quy mô vừa >2.000m2 (do các hộ có quy mô vừa chiếm đa số) và 01 quy mô lớn <2.000m2
và 01 hộ trồng lan/cây kiểng (do các hộ này chỉ chiếm 5%/tổng
số hộ) Quy trình trồng và chăm sóc của các hộ trồng mai tương đối giống nhau, chủ yếu khác nhau về diện tích sản xuất Nên sẽ chọn được 5 hộ đại diện/phường để khảo sát
+ Tiến hành khảo sát tại 4 phường Linh Đông, Tam Phú, Hiệp Bình Chánh, Hiệp Bình Phước của làng nghề hoa kiểng quận Thủ Đức, TP.HCM, với số mẫu đại diện là 20 mẫu chia đều trên 4 phường
+ Tiến hành khảo sát tại 3 phường Thạnh Xuân, Thạnh Lộc, An Phú Đông của làng nghề hoa kiểng Xuân – An – Lộc quận 12, với số mẫu đại diện là 15 mẫu chia đều trên 3 phường
Trang 20Tiến hành khảo sát để thu thập thông tin bằng một số phương pháp như: phương pháp điều tra khảo sát thực địa bằng cánh thành lập bảng hỏi và phỏng vấn trực tiếp các chủ hộ trồng hoa kiểng, phương pháp đo đạc lấy mẫu tại hiện trường và phân tích tại phòng thí nghiệm
b Phương pháp kế thừa số liệu
Kế thừa có chọn lọc những kết quả nghiên cứu sẵn có liên quan đến đề tài như:
- Tham khảo và kế thừa các kết quả nghiên cứu đã có ở ngoài nước và trong nước, liên quan đến vấn đề du lịch sinh thái tại làng nghề, các nghiên cứu liên quan đến giảm thiểu ô nhiễm tại làng nghề
- Tài liệu tổng quan chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, tình hình sản xuất kinh doanh tại làng nghề hoa kiểng tại quận 12 và quận Thủ Đức Những thông tin, số liệu này được tổng hợp, thu thập thông qua các báo cáo chuyên đề của các cơ quan chức năng và từ các trang web liên quan
c Phương pháp lấy mẫu và phân tích mẫu nước
- Lấy mẫu đánh giá hiện trạng chất lượng môi trường nước tại làng nghề hoa kiểng quận 12 và quận Thủ Đức, với các chỉ tiêu cần phân tích như sau: TSS, COD, tổng N, tổng P, …
- Đối với phương pháp đo đạc, lấy mẫu tại hiện trường và phân tích tại phòng thí nghiệm: lấy các mẫu nước giếng chưa qua xử lý, và các mẫu đất của hộ trồng mai
và trồng lan, canh kiểng đại diện Việc đo đạc lấy mẫu hiện trương và phân tích tại phòng thí nghiệm được thực hiện theo các yêu cầu đã được chuẩn hóa Kết quả của phương pháp này giúp đánh giá được hiện trạng chất lượng môi trường đất, chất lượng nước ngầm….của nơi sản xuất hoa kiểng
- Các mẫu nước sẽ tiến hành phân tích 4 chỉ tiêu Mẫu đất được phân tích 2 chỉ tiêu.Toàn bộ thí nghiệm phân tích được tiến hành tại phòng thí nghiệm Viện Tài nguyên và Môi trường Tp Hồ Chí Minh Các thông số được phân tích theo phương pháp chuẩn (standard methods) và được mô tả trong bảng 0-1 và 0-2:
Trang 21Bảng 0-1.Các thông số phân tích nước thải
TT Chỉ tiêu phân tích Ðơn vị Phương pháp thử
Bảng 0-2.Các thông số phân tích mẫu đất
TT Chỉ tiêu phân tích Ðơn vị Phương pháp thử
d Phương pháp thống kê và xử lý số liệu
Thống kê, xử lý số liệu sau khi đã phân tích và thu thập được để khai thác có hiệu quả những số liệu thực tế, nhằm rút ra những nhận xét và kết luận khoa học, khách quan đối với những vấn đề cần nghiên cứu
Các thông tin được xử lý bằng phương pháp phân tích định lượng với công cụ phần mềm Excel và phân tích định tính với các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh… để rút ra các nhận xét và kết luận cho vấn đề nghiên cứu
e.Phương pháp so sánh
Nhằm so sánh , đối chiếu giữa các dữ liệu, thông tin thu thập được để đưa ra các tiêu chí xác định “làng nghề sinh thái kết hợp với du lịch và văn hóa địa phương”phù hợp
f.Phương pháp phân tích đa tiêu chí: phương pháp này cho phép người
nghiên cứu lượng hóa các chỉ tiêu, đánh giá xếp hạng vấn đề điều tra
Đưa ra tiêu chí, xem xét từng tiêu chí đánh giá, xác định làng nghề sinh thái và cho điểm hoặc xếp hạng gồm một số bậc được xếp hạng từ thấp tới cao, từ “kém” cho tới “xuất sắc” hoặc một cách sắp xếp tương tự nào đó
Trang 22Mỗi một đặc điểm cần đánh giá sẽ có một thang điểm phù hợp Các đặc điểm cần đánh giá về làng nghề bao gồm 4 nhóm tiêu chí: tiêu chí về môi trường, tiêu chí
về kinh tế, tiêu chí về kỹ thuật, tiêu chí về xã hội
6 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Ý nghĩ khoa học của đề tài
Bước đầu đánh giá hiện trạng và dự báo phát thải trong hoạt động sản xuất tại làng nghề trồng hoa kiểng quận 12 và quận Thủ Đức, TpHCM Từ đó nhận biết thực trạng của vấn đề và đưa ra hướng giải quyết kịp thời
Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở khoa học góp phần vào ứng dụng nghiên cứu phát triển các giải pháp và mô hình để duy trì, phát triển làng nghề hoa kiểng tại thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và cả nước nói chung theo hướng du lịch sinh thái
Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Đề tài có ý nghĩa xác định rõ tiêu chí “làng nghề du lịch sinh thái kết hợp với BVMT”.Từ đó, có cơ sở xây dựng đề án, quy hoạch phù hợp để phát triển làng nghề gắn với DLST, góp phần BVMT tại các làng nghề hướng tới mục tiêu phát triển bền vững
Kết quả đạt được của đề tài là tài liệu tham khảo phục vụ UBND quận 12, UBND quận Thủ Đức và các phường định hướng trong công tác kiểm soát và quản lý chất lượng môi trường của làng nghề
Các mô hình, giải pháp có thể áp dụng triển khai tại một số làng nghề có điều kiện tương tự
Trang 23CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN
Theo Tiến sĩ Phạm Côn Sơn trong cuốn “Làng nghề truyền thống Việt Nam”
thì làng nghề được định nghĩa như sau: “làng nghề là một đơn vị hành chính cổ xưa
mà cũng có nghĩa là nơi quần cư đông người, sinh hoạt có tổ chức, kỉ cương tập quán riêng theo nghĩa rộng Làng nghề không những là làng sống chuyên nghề mà cũng hàm ý là những người cùng nghề sống hợp quần để phát triển công ăn việc làm Cơ sở vững chắc của các làng nghề là sự vừa làm ăn tập thể, vừa phát triển kinh tế, vừa giữ gìn bản sắc dân tộc và các cá biệt của địa phương”[1]
1.1.1.2 Khái niệm làng nghề truyền thống
Hiện nay vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về làng nghề truyền thống, nhưng ta có thể hiểu làng nghề truyền thống là làng cổ truyền làm nghề thủ công truyền thống
Làng nghề thủ công truyền thống là trung tâm sản xuất hàng thủ công, nơi quy
tụ các nghệ nhân và nhiều hộ gia đình chuyên làm nghề mang tính lâu đời, được truyền đi truyền lại qua các thế hệ, có sự liên kết hỗ trợ trong sản xuất, bán sản phẩm theo kiểu phường hội, hệ thống doanh nghiệp vừa và nhỏ, thậm chí là bán lẻ, họ có cùng tổ nghề, các thành viên luôn có ý thức tuân theo những hươngước, chế độ, gia tộc, cùng phường nghề trong quá trình lịch sử phát triển đã hình thành nghề ngay trên đơn vị cư vị cư trú của xóm của họ
Làng nghề thủ công truyền thống thường có đại đa số hoặc một số lượng lớn dân cư làm nghề cổ truyền, thậm chí là 100% dân cư làm nghề thủ công hoặc một vài
Trang 24dòng họ chuyên làm nghề lâu đời, kiểu cha truyền con nối Sản phẩm của họ không những có tính ứng dụng cao mà còn là những sản phẩm độc đáo, ấn tượng, tinh xảo Ngày nay trong quá trình phát triển của kinh tế xã hội Làng nghề đã thực sự thành đơn vị kinh tế tiểu thủ công nghiệp, có vai trò, tác dụng tích cực rất lớn đối với đời sống kinh tế xã hội.[4]
Tiêu chí công nhận nghề truyền thống, làng nghề, làng nghề truyền thống được quy định theo thông tư 116/2006/BNN ban hành ngày 18/12/2006 của Bộ NN&PTNT như sau:
Tiêu chí công nhận nghề truyền thống:
Nghề được công nhận là nghề truyền thống phải đạt 03 tiêu chí sau:
a) Nghề đã xuất hiện tại địa phương từ trên 50 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận;
b) Nghề tạo ra những sản phẩm mang bản sắc văn hoá dân tộc;
c) Nghề gắn với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi của làng nghề
Tiêu chí công nhận làng nghề:
Làng nghề được công nhận phải đạt 03 tiêu chí sau:
a) Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề nông thôn;
b) Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận;
c) Chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Nhà nước
Tiêu chí công nhận làng nghề truyền thống:
Làng nghề truyền thống phải đạt tiêu chí làng nghề và có ít nhất một nghề truyền thống theo quy định tại Thông tư này
Đối với những làng chưa đạt tiêu chuẩn a, b của tiêu chí công nhận làng nghề tại điểm 2, nhưng có ít nhất một nghề truyền thống được công nhận theo quy định của Thông tư này thì cũng được công nhận là làng nghề truyền thống.[5]
Trang 251.1.2 Khái niệm về du lịch làng nghề truyền thống
Nhìn chung, khái niệm du lịch làng nghề (DLLN) truyền thống vẫn còn khá mới mẻ ở nước ta DLLN truyền thống thuộc loại hình du lịch văn hóa
DLLN truyền thống đang là loại hình du lịch thu hút được sự quan tâm của nhiều du khách trong và ngoài nước Xu hướng hiện đại ngày nay cuộc sống căng thẳng nhiều áp lực, con người quay về với những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc.Nhu cầu đi du lịch về những miền nông thôn, làng nghề truyền thống ngày càng cao
“DLLN truyền thống là một loại hình du lịch văn hóa mà qua đó du khách được thẩm nhận các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể có liên quan mật thiết đến
một làng nghề cổ truyền của một dân tộc nào đó”.[6]
1.1.3 Ý nghĩa của việc phát triển du lịch làng nghề
Du lịch làng nghề truyền thống là một chiến lược quan trọng trong việc phát triển làng nghề vền vững Trong xu thế hội nhập và mở cửa, làng nghề truyền thống đang dần khẳng định vị trí quan trọng trong đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội của đất nước
Việc phát triển du lịch làng nghề không chỉ đem lại lợi nhuận kinh tế, giúp người dân nâng cao thu nhập, giải quyết nguồn lao động địa phương, góp phần làm hiện đại hóa cơ sở hạ tầng ở làng nghề v v mà còn là một cách thức để gìn giữ và bảo tồn những giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc Đồng thời việc phát triển du lịch làng nghề còn giúp nâng cao tầm hiểu biết của người dân trong nước về văn hóa lịch sử dân tộc, tăng thêm tình yêu đối với quê hương đất nước; du lịch làng nghề truyền thống còn là một phương thức giới thiệu sinh động về mỗi vùng, miền, địa phương trên đất nước hữu hiệu để quảng bá hình ảnh văn hóa dân tộc tới du khách nước ngoài
Trang 26TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC VÀ 1.2
TRÊN THẾ GIỚI
1.2.1 Thế giới
Đối với các nước châu Á, sự phát triển kinh tế làng nghề truyền thống là giải pháp tích cực cho các vấn đề kinh tế xã hội nông thôn Thực tế nhiều quốc gia trong khu vực có những kinh nghiệm hiệu quả trong phát triển làng nghề, điển hình là Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Thái Lan Trung Quốc sau thời kỳ cải cách
mở cửa năm 1978, việc thành lập và duy trì Xí nghiệp Hương Trấn, tăng trưởng với tốc độ 20 – 30 % đã giải quyết được 12 triệu lao động dư thừa ở nông thôn Hay Nhật Bản, với sự thành lập “Hiệp hội khôi phục và phát triển làng nghề truyền thống” là hạt nhân cho sự nghiệp khôi phục và phát triển ngành nghề có tính truyền thống dựa theo
“Luật nghề truyền thống”… của Trần Minh Yến
Đối với các làng nghề CBNSTP, ở các nước châu Á như Thái Lan, Malaysia, Trung Quốc…đã đặc biệt chú trọng tới các nghề chế biến tinh bột Theo tác giả Jesuitas của Thái Lan (1996), việc sử dụng phương pháp xử lý hiếu khí bằng bể Acroten đối với nước thải chứa nhiều tinh bột thì lượng hữu cơ theo COD có thể giảm tới 70%
Đặc biệt, “việc sử dụng cộng đồng như những nhà quản lý môi trường không
chính thức và tính cộng đồng là công cụ bảo vệ môi trường đã được thực hiện thành công ở một số nước trong khu vực và thế giới bằng các hình thức khác nhau”của
Đặng Đình Long, 2005 Cũng theo Đặng Đình Long, các nghiên cứu của World Bank
đã chứng minh rằng, “dựa trên sức ép của cộng đồng, cộng với việc tăng cường năng
lực của các cơ quan quản lý môi trường có thể cải thiện được lượng phát thải tại các
cơ sở gây ô nhiễm”
Một số quốc gia đã thực hiện thành công cách quản lý này như: Côlômbia, Trung Quốc, Hàn Quốc, Philippin, Băng-la-đét, Malaysia, In-đô-nê-xia… với phương pháp cho điểm đơn giản để dân chúng nhận rõ cơ sở nào tuân thủ các tiêu chuẩn chống ô nhiễm của quốc gia và địa phương; cơ sở nào không tuân thủ Trung Quốc đã cho phép tính các loại phí ô nhiễm dựa trên sự thảo luận của cộng đồng Mức định giá
Trang 27phí ô nhiễm dựa trên mức độ ô nhiễm, mức dân cư phải hứng chịu hậu quả của ô nhiễm, mức thu nhập bình quân… Cùng với đó, chính phủ nước này cũng thường xuyên nâng cao năng lực của cộng đồng trong nhận thức và hành động giải quyết các vấn đề môi trường địa phương
Ở In-đô-nê-xia, dưới áp lực của cộng đồng địa phương bằng việc phát đơn kiện các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm, qua đó chính phủ và các cơ quan kiểm soát ô nhiễm làm trung gian đứng ra giải quyết, buộc các cơ sở gây ô nhiễm phải đền bù cho cộng đồng và
có những giải pháp giảm thiểu ô nhiễm…
Như vậy, cần thiết có sự phối hợp giữa Nhà nước, Xã hội dân sự và cộng đồng trong quản lý môi trường cũng như giải quyết xung đột môi trường Đây là giải pháp mang tính bền vững cho sự phát triển của xã hội
nghề thủ công truyền thống Việt Nam Trong cuốn “Bảo tồn và phát triển các làng
nghề trong quá trình CNH – HĐH” của Dương Bá Phượng, 2001, tác giả đã đề cập
khá đầy đủ từ lý luận đến thực trạng của làng nghề: từ đặc điểm, khái niệm, con đường và điều kiện hình thành làng nghề, tập trung vào một số làng nghề ở một số tỉnh với các quan điểm, giải pháp và phương hướng nhằm phát triển các làng nghề
trong CNH – HĐH Cùng với hướng này còn có cuốn “Phát triển làng nghề truyền
thống trong quá trình CNH – HĐH”của Mai Thế Hởn, 2003…
Trang 28Về đề tài nghiên cứu: Đề tài khoa học về việc “Hoàn thiện các giải pháp kinh tế
tài chính nhằm khôi phục và phát triển làng nghề ở nông thôn vùng Đồng bằng sông Hồng” của Học viện tài chính, 2004; “Tiếp tục đổi mới chính sách và giải pháp đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm của các làng nghề truyền thống ở Bắc Bộ thời kỳ đến năm 2010”của Bộ Thương Mại, 2003 Đặc biệt phải kể đến là đề tài “Nghiên cứu về quy hoạch phát triển làng nghề thủ công theo hướng CNH nông thôn ở nước CHXHCN Việt Nam” của Bộ NN & PTNT hợp tác cùng với tổ chức JICA của Nhật (2002), đã điều tra
nghiên cứu tổng thể các vấn đề có liên quan đến làng nghề thủ công nước ta về tình hình phân bố, điều kiện KT-XH của làng nghề, nghiên cứu đánh giá 12 mặt hàng thủ công của làng nghề Việt Nam (về nguyên liệu, thị trường, công nghệ, lao động…) của Trần Minh Yến, 2003
Nhìn chung các tác giả đã làm rõ về khái niệm, lịch sử phát triển, đặc điểm, thực trạng sản xuất và xu hướng phát triển của các làng nghề
b) Ở khía cạnh môi trường: Gần đây, trong các nghiên cứu về làng nghề, vấn
đề môi trường đang được nhiều tác giả quan tâm, thực tế thì vấn đề này đang gây nhiều bức xúc và nan giải đối với kinh tế xã hội nói chung:
Cuốn sách “Làng nghề Việt Nam và môi trường”, của Đặng Kim Chi và nnk,
2005: Đây là một công trình nghiên cứu tổng quát nhất về vấn đề làng nghề và thực trạng ô nhiễm môi trường các làng nghề hiện nay Tác giả đã nêu rõ từ lịch sử phát triển, phân loại, các đặc điểm cơ bản làng nghề cũng như hiện trạng kinh tế, xã hội của các làng nghề Việt Nam hiện nay Cùng với đó là hiện trạng môi trường các làng nghề (có phân loại cụ thể 5 nhóm ngành nghề chính) Qua đó cũng nêu rõ các tồn tại ảnh hưởng tới phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường của làng nghề, nêu dự báo phát triển và mức độ ô nhiễm đến năm 2010, một số định hướng xây dựng chính sách đảm bảo phát triển làng nghề bền vững và đề xuất các giải pháp cải thiện môi trường cho từng loại hình làng nghề của Việt Nam
Qua nghiên cứu của tác giả, "100% mẫu nước thải ở các làng nghề được khảo sát có thông số vượt tiêu chuẩn cho phép Môi trường không khí bị ô nhiễm có tính cục bộ tại nơi trực tiếp sản xuất, nhất là ô nhiễm bụi vượt tiêu chuẩn cho phép
Trang 29(TCCP) và ô nhiễm do sử dụng nhiên liệu than củi Tỷ lệ người dân làng nghề mắc bệnh cao hơn các làng thuần nông, thường gặp ở các bệnh về đường hô hấp, đau mắt, bệnh đường ruột, bệnh ngoài da Nhiều dòng sông chảy qua các làng nghề hiện nay đang bị ô nhiễm nặng; nhiều ruộng lúa, cây trồng bị giảm năng suất do ô nhiễm không khí từ làng nghề"
Bên cạnh đó còn có rất nhiều các công trình nghiên cứu của các tác giả khác về tình trạng môi trường và sức khỏe tại các làng nghề:
Nghiên cứu về “Những vấn đề về sức khỏe và an toàn trong các làng nghề Việt
Nam”, các tác giả Nguyễn Thị Hồng Tú, Nguyễn Thị Liên Hương, Lê Vân Trình
(2005) đã nêu một số nét về lịch sử phát triển làng nghề Việt Nam Môi trường và sức khoẻ người lao động An toàn sản xuất làng nghề, các biện pháp phòng ngừa Chăm sóc và nâng cao sức khoẻ cho người lao động làng nghề
Ngoài ra còn có nhiều nghiên cứu khác về các khu vực làng nghề địa phương như nghiên cứu về môi trường lao động một số các làng nghề Nam Định của Trần Văn Quang
và các cộng sự (2001); Nghiên cứu về môi trường, sức khỏe làng nghề chế biến thuốc nam Thiết Trụ (Hưng Yên) của Đan Thị Lan Hương…
Những đề tài này nhìn chung đã giải quyết được vấn đề lý luận cơ bản về các làng nghề, hiện trạng và xu hướng phát triển, vấn đề ô nhiễm môi trường và một số giải pháp Nhưng các đề tài đi sâu vào một làng nghề nào đó thì hầu như chưa nghiên cứu một cách toàn diện nhất Mỗi khu vực làng nghề có những điều kiện và thực tế khác nhau cho sự phát triển và bảo tồn Hơn nữa, mỗi khu vực bị ô nhiễm cũng có những nguồn gây ô nhiễm không giống nhau, vì vậy việc nghiên cứu cụ thể, chi tiết
để có thể đánh giá toàn diện về tiềm năng, thực trạng cũng như xu hướng của các làng nghề có ý nghĩa quan trọng cả về khoa học và thực tiễn
c) Nghiên cứu về các giải pháp: Hiện tại, đối với mỗi công trình nghiên cứu về
vấn đề môi trường làng nghề ít nhiều đều có đề cập đến các giải pháp khác nhau nhằm
cải thiện và bảo vệ môi trường, hướng tới sự phát triển bền vững
Tổng quát nhất có lẽ phải đề cập đến cuốn “Làng nghề Việt Nam và môi
trường” của Đặng Kim Chi và các cộng sự Dựa trên cơ sở đã nghiên cứu tổng quan
Trang 30về đặc điểm cũng như thực trạng sản xuất, hiện trạng môi trường các làng nghề, tác giả
đã đi đến các giải pháp chung nhất cho từng loại hình làng nghề Ở đây cũng đề cập đến việc định hướng xây dựng một số chính sách đảm bảo phát triển làng nghề bền vững (như các chính sách về hỗ trợ tài chính, chính sách về thị trường, về cơ sở hạ tầng, giáo dục môi trường…) Qua đó đề xuất các giải pháp, nhìn chung tập trung vào hai nhóm chính là giải pháp kỹ thuật và giải pháp quản lý nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường
cho các làng nghề Các giải pháp này được đề cập cụ thể hơn trong “ĐTNC cơ sở khoa
học và thực tiễn cho việc xây dựng các chính sách và biện pháp giải quyết vấn đề môi trường ở các làng nghề Việt Nam” (KC.08.09, 2005), cụ thể là các “Tài liệu hướng dẫn
áp dụng các giải pháp cải thiện môi trường” cho các làng nghề nhựa; chế biến nông
sản, thực phẩm; thủ công mỹ nghệ; dệt nhuộm
Ngoài những giải pháp về kỹ thuật (sản xuất sạch hơn và sử dụng công nghệ
xử lý chất thải) thì trong công tác quản lý môi trường, các nhà nghiên cứu hiện đang lưu ý đến một số giải pháp có tính khả thi và có hiệu quả trong điều kiện của Việt Nam hiện nay đó là giải pháp có sự tham gia của cộng đồng và phát triển làng nghề gắn với phát triển du lịch Về khía cạnh này có một số nghiên cứu, bài viết điển hình
như: “Sổ tay hướng dẫn xây dựng kế hoạch phát triển làng nghề sử dụng phương
pháp có sự tham gia của cộng đồng” của Bùi Đình Toái và Nguyễn Thị Thu Quế,
2005; “Môi trường làng nghề với việc phát triển du lịch bền vững”của Lê Hải, 2006;
“Phát triển bền vững du lịch làng nghề sinh thái – văn hóa”của Nguyễn Thị Anh
Thu, 2005;
Việt Nam cũng đang có nhiều cố gắng trong việc tiếp thu kinh nghiệm của các nước đi trước trên thế giới và trong khu vực trong lĩnh vực quản lý môi trường Đối với môi trường làng nghề, năm 2005 Bộ Tài nguyên và Môi trường phối hợp với Ngân hàng thế giới (WB) cùng với Bộ Môi trường Hàn Quốc tổ chức Hội thảo áp dụng kinh nghiệm Hàn Quốc trong quản lý môi trường các làng nghề truyền thống Việt Nam
Hơn nữa, kể từ khi Hiệp hội làng nghề Việt Nam được thành lập (2005) cho đến nay đã có nhiều chương trình hoạt động cụ thể nhằm cải thiện về mặt chính sách, ủng hộ về nguồn vốn, nâng cao kinh nghiệm quản lý, mở rộng thị trường, tạo thương
Trang 31hiệu cho các sản phẩm, quan tâm đến vấn đề môi trường các làng nghề…, khuyến khích
cho các làng nghề phát triển về nhiều mặt
Các nghiên cứu đã được thực hiện trong nước về đánh giá hiện trạng và đưa ra biện pháp giảm thiểu tại các làng nghề:
- Đề tài: “Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc xây dựng các chính
sách và biện pháp giải quyết vấn đề môi trường ở các làng nghề Việt Nam”với mã số
KC08.09 do chương trình Khoa học và Công nghệ Bảo vệ Môi trường và Phòng chống thiên tai KC.08 giai đoạn 2001-2005 Thành quả nghiên cứu đã được đúc kết
trong quyển “Làng nghề Việt Nam và Môi trường” do tác giả Đặng Kim Chi làm chủ
biên
Tác giả đã nêu rõ lịch sử phát triển, đặc điểm, phân loại, điều kiện kinh tế - xã hội của các làng nghề Việt Nam hiện nay.Đồng thời, tác giả còn đánh giá hiện trạng môi trường làng nghề, qua đó nêu rõ những tồn tại ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế
và môi trường làng nghề Ngoài ra, đề tài này còn trình bày kết quả dự báo phát triển
và mức độ ô nhiễm tại làng nghề đến năm 2020, một số định hướng xây dựng chính sách đảm bảo phát triển bền vững làng nghề và đề xuất các giải pháp cải thiện môi trường cho từng loại làng nghề Việt Nam, là những giải pháp tổng hợp sau khi đã tìm hiểu thông tin về sản phẩm, công nghệ, hiện trạng sản xuất và hiện trạng môi trường tại các làng nghề
- Báo cáo khoa học: “Đánh giá hiện trạng, đề xuất phương án giảm thiểu và
xử lý ô nhiễm môi trường cho làng nghề Long Kiên- phường Long Toàn, thị xã Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu” Đề tài được chủ trì bởi GS.TS Nguyễn Văn Phước, được
quản lý bởi Sở Khoa Học Công Nghệ và Môi Trường tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu Thời gian thực hiện tháng 10/2001 – 10/2002
Nhiệm vụ của đề án là thực thi có hiệu quả các công cụ quản lý môi trường Cụ thể: Tổ chức điều tra, thống kê, kiểm kê, phân loại làng nghề và các cơ sở sản xuất trong làng nghề theo loại hình sản xuất và nguy cơ gây ô nhiễm môi trường; các làng nghề được công nhận, làng nghề chưa được công nhận và làng nghề truyền thống Chính sách phát triển của làng nghề và các biện pháp cải thiện môi trường, nêu ra biện
Trang 32pháp sản xuất sạch hơn Đồng thời đề xuất mô hình xây dựng nhà xưởng đảm bảo thông thoáng cho các hộ sản xuất và chăn nuôi, đề xuất phương án xử lý nước thải sản xuất
- Đề tài: “Điều tra đánh giá hiện trạng làng nghề trên địa bàn tỉnh Thái Bình,
đề xuất các giải pháp cải thiện môi trường và xây dựng dự án kiểm soát ô nhiễm” do:
GS.TS.Đặng Kim Chi, được quản lý bởi Sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh Thái Bình thực hiện từ 5/2007 – 3/2008
Đề tài đã tiến hành tổng hợp thông tin, phân loại mức độ ô nhiễm của các làng nghề, lựa chọn 12 làng nghề thuộc các loại hình sản xuất đặc trưng để tiến hành quan trắc môi trường Đề xuất một số giải pháp để giảm thiểu ô nhiễm môi trường làng nghề Xây dựng bộ số liệu cập nhật và chính xác về hiện trạng ô nhiễm môi trường nước, không khí và đất, cũng như hiện trạng quản lý chất thải rắn tại các làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm, thủy hải sản, chăn nuôi, ươm tơ dệt lụa và thủ công
mỹ nghệ Đưa ra kiến nghị về các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường làng nghề, bao gồm các giải pháp quản lý môi trường và giải pháp kỹ thuật Đề xuất một
số nhiệm vụ cải thiện môi trường làng nghề như áp dụng thử nghiệm mô hình quản lý
và giáo dục Môi trường nâng cao nhận thức BVMT cho cộng đồng dân cư làng nghề tại Thái Bình, xây dựng mô hình xử lý nước thải tại chỗ cho một làng nghề chăn nuôi tại tỉnh Thái Bình, xây dựng mô hình xử lý nước thải tập trung cho làng nghề chế biến thủy sản tại Thái Bình, xây dựng khu quản lý và xử lý chất thải rắn tập trung cho một cụm công nghiệp làng nghề tại Thái Bình, nghiên cứu lựa chọn mô hình xử lý khí thải phù hợp cho làng nghề thủ công mỹ nghệ
- Đề tài: “Điều tra, đánh giá, bình chọn các mô hình xử lý chất thải làng nghề,
bãi rác và một số ngành công nghiệp” do GS.TS Đặng Kim Chi, được quản lý bởi
Cục Bảo vệ Môi trường - Bộ Tài nguyên và Môi trường thực hiện vào năm 2006
Đề tài đã khái quát được hiện trạng công nghệ xử lý môi trường đang áp dụng tại các làng nghề/CSSX nhỏ đối với ba loại hình sản xuất:dệt nhuộm, chế biến nông sản thực phẩm và tái chế giấy Báo cáo đã đưa ra những tiêu chí khởi đầu nhằm đánh giá công nghệ môi trường áp dụng cho làng nghề và cơ sở sản xuất nhỏ Dựa vào các tiêu
Trang 33chí xây dựng đề tài đã đánh giá và bình chọn được các công nghệ xử lý chất thải phù hợp và khả thi cho các đối tượng nghiên cứu đã lựa chọn Kết quả nghiên cứu của đề tài đã góp phần rất lớn trong tiến trình bảo vệ môi trường nông thôn Việt Nam, giúp người dân tại các làng nghề/CSSX nhỏ lựa chọn được công nghệ xử lý thích hợp và hiệu quả về mặt môi trường vừa phù hợp với điều kiện kinh tế nông nghiệp Đồng thời đây sẽ là cơ sở khoa học để các nhà công nghệ, nhà quản lý lựa chọn được loại hình công nghệ nào là thích hợp nhất và khả thi nhất có thể áp dụng tại mỗi loại hình làng nghề Đây cũng là một nhiệm vụ có tính thực tiễn cao để các nhà hoạch định chính sách, nhà quản lý môi trường đưa ra các giải pháp thích hợp hạn chế ô nhiễm tại các làng nghề/CSSX nhỏ, góp phần vào việc phát triển công nghệ môi trường Việt Nam trong tương lai
Bên cạnh đó, còn rất nhiều bài báo khoa học, hội thảo về các vấn đề môi trường
và giải pháp phát triển tại các làng nghề như:
- Hội thảo “Làng nghề và phát triển du lịch”: “Làng nghề gốm sứ Bình
Dương và phát triển du lịch ở địa phương” Văn Thị Thùy Trang - Nhà nghiên cứu,
Phó ban Quản lí Di tích và Danh thắng tỉnh Bình Dương và TS Phan Anh Tú - Nhà nghiên cứu, Phó ban Quản lí Di tích và Danh thắng tỉnh Bình Dương
- Bài báo khoa học: “Du lịch làng nghề ở Đồng bằng sông Cửu Long – Một
lợi thế văn hóa để phát triển du lịch” Bài báo được thực hiện bởi ThS Nguyễn Phước
Quý Quang đăng trên Tạp chí Phát triển và hội nhập Số 10 (20) - Tháng 05-06/2013
- Báo cáo kết quả giám sát“Về việc thực hiện chính sách, pháp luật về môi
trường tại các khu kinh tế, làng nghề” của Quốc hội năm 2011
- Đề tài khoa học cấp Bộ “Nghiên cứu về phát triển làng nghề và đề xuát định
hướng, giải pháp phát triển thương mại tại làng nghề Việt Nam” Bộ Công Thương và
Viện Nghiên cứu thương mại của TS Từ Thanh Thủy năm 2010
- Công trình “Nghiên cứu đề xuất tiêu chí khu du lịch sinh thái ở Việt Nam”
của TS Ðỗ Thị Thanh Hoa (2007) Ðề tài đã đưa ra khung một số tiêu chí khu du lịch
sinh thái ở Việt Nam gồm: Nhóm các tiêu chí về tài nguyên; nhóm các tiêu chí về quy
mô, quy hoạch và kiến trúc cảnh quan; nhóm tiêu chí về kết cấu hạ tầng- kỹ thuật du
Trang 34lịch; nhóm các tiêu chí về bảo vệ môi trýờng; nhóm tiêu chí về tổ chức quản lý và tham gia cộng đồng
THỰC TRẠNG VÀ TIỀM NĂNG DU LỊCH LÀNG NGHỀ HOA 1.3
KIỂNG TẠI VIỆT NAM
1.3.1 Thực trạng phát triển làng nghề hoa kiểng theo hướng du lịch sinh thái tại một số địa phương
1.3.1.1 Làng hoa kiểng Tân Qui Đông, thị xã Sa Đéc
Lợi thế có nhiều tài nguyên du lịch phong phú như: vườn quốc gia Tràm Chim
- nơi bảo tồn hệ sinh thái Đồng Tháp Mười cổ xưa với rất nhiều loài chim quý, khu du lịch sinh thái Gáo Giồng, làng hoa kiểng Sa Đéc, trong giai đoạn 2011-2015, ngành
du lịch Đồng Tháp sẽ phát triển theo hướng du lịch sinh thái, văn hóa, lịch sử trên cơ
sở khai thác triệt để các tài nguyên sẵn có, sản phẩm du lịch phải đáp ứng được nhu cầu của thị trường khách du lịch Đồng thời, cũng gắn phát triển du lịch với việc bảo
vệ và tôn tạo cảnh quan môi trường sinh thái, đảm bảo phát triển du lịch mang tính bền vững
Đồng Tháp có trên 10 cồn lớn, nhỏ nằm rải rác ở các huyện và nhiều di tích lịch sử văn hóa, cách mạng như khu di tích Nguyễn Sinh Sắc, khu di tích Xẻo Quýt, tượng đài Gò Quản Cung-Giồng Thị Đam Hơn thế, nơi đây còn có sự giao thoa của nhiều sắc thái văn hóa được thể hiện rõ nét qua những di tích Gò Tháp, chùa Bửu Lâm, dinh Ông Đốc Vàng, nhà cổ Huỳnh Thủy Lê, nhà cổ ở thị xã Sa Đéc và huyện Hồng Ngự, chùa Kiến An Cung, chùa Hương, chùa Bà, chùa Tổ, đình Thần Tân Phú Trung, miếu Ông Bà Chủ chợ Cao Lãnh Ngoài ra, Đồng Tháp còn khá nhiều làng nghề truyền thống nổi tiếng như Chiếu Định Yên, Nem Lai Vung, Dệt Choàng Long Khánh và các khu cửa khẩu quốc tế Thường Phước, Dinh Bà có thể phát triển loại hình du lịch tham quan kết hợp mua sắm
Sản xuất hoa kiểng kết hợp với tham quan du lịch là một trong những chủ trương lớn được thành phố Sa Đéc đề ra trong những năm gần đây và ngày càng có nhiều du khách đến với làng hoa Sa Đéc
Trang 35Hội Nông dân phường Tân Quy Đông đã thành lập thí điểm Câu lạc bộ “Sản xuất hoa kiểng kết hợp với bảo vệ môi trường” tại khóm Tân Hiệp từ tháng 4/2014 với 21 thành viên Nhiệm vụ chính của các thành viên trong CLB là thực hiện và vận động nông dân thay đổi tập quán sản xuất truyền thống, ứng dụng cách thức sản xuất tiến bộ, sản xuất sạch không gây ô nhiễm môi trường
CLB sinh hoạt định kỳ vào ngày 15 tây hàng tháng, vừa trao đổi kinh nghiệm sản xuất hoa kiểng, vừa chia sẻ về kỹ thuật, giống nhất là các giải pháp đảm bảo môi trường trong sản xuất, mời các chuyên gia đến phổ biến và tập huấn các kỹ thuật mới để cho các thành viên trong tổ có ý thức cho vườn hoa sạch sẽ để khách du lịch đến tham quan.Một trang trí điển hình của hộ trồng hoa tại Tân Quy Đông như Hình 1-1
Hình 1-1.Nhà vườn trang trí hoa trước nhà tạo cảnh quan cho làng hoa
Theo nghiên cứu của cơ quan chuyên môn, khi phun thuốc để trừ dịch hại thì chỉ có từ 5 đến 7% lượng thuốc trực tiếp tham gia vào quá trình tiêu diệt dịch hại phần còn lại bị rửa trôi vào nguồn nước, thẩm thấu vào đất canh tác gây ô nhiễm nguồn nước ngầm, làm cho đất giảm độ màu mỡ và tiêu diệt các loại vi sinh vật có lợi Đặc biệt, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật không đúng kỹ thuật sẽ dẫn đến hiện tượng sâu bệnh lờn thuốc, kháng thuốc nên những vụ sau muốn tiêu diệt sâu bệnh người dân phải tăng nồng độ và liều lượng các loại thuốc cao hơn Vì thế lượng thuốc bảo vệ thực vật tăng dần qua hàng năm trên cùng đơn vị diện tích, gây tốn kém về kinh tế, ô nhiễm môi trường và nguy hại đến sức khỏe con người Ngoài ra, việc vứt bỏ bừa bãi
vỏ, chai thuốc trừ sâu cũng gây ảnh hưởng đến cây trồng, vật nuôi và sức khỏe con
Trang 36người.Vận động người dân trồng hoa thay đổi tập quán sản xuất, giảm dần việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, từng bước ứng dụng công nghệ sạch, sử dụng phân vi sinh vào sản xuất là một trong những giải pháp giúp nông dân làng hoa Sa Đéc nâng cao chất lượng sản phẩm, thân thiện với môi trường và không ảnh hưởng đến sức
khỏe mọi người
Kết quả sau hơn 1 năm đi vào hoạt động, CLB Sản xuất hoa kiểng kết hợp với bảo vệ môi trường đã làm thay đổi nhận thức của một bộ phận người sản xuất, nhiều vườn hoa được trang trí sạch, đẹp,thu hút khách tham quan, vỏ chai thuốc BVTVđược thu gom tập trung Khách du lịch tham quan tại làng hoa Tân Quy Đông như Hình 1-2
Hình 1-2 Làng hoa Tân Quy Đông thu hút khách du lịch tham quan
Đây là một mô hình hoạt động có hiệu quả của địa phương Thứ nhất là thành viên của CLB đã thay đổi dần thói quen nhận thức trong việc sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật, phân hóa học trong sản xuất hoa kiểng nhờ đó đã tiết kiệm được chi phí sản xuất, tạo được nguồn sản phẩm sạch, có giá trị nâng cao thu nhập đồng thời thu gom,
xử lý các vỏ bao, chai lọ chứa hóa chất theo đúng hướng dẫn của ngành chuyên môn góp phần vào việc giảm ô nhiễm môi trường trong sản xuất nông nghiệp đảm bảo sức khỏe cho gia đình và cộng đồng Thứ hai là thành viên trong CLB đều được tập huấn
kỹ năng tuyên truyền từ đó các thành viên của CLB trở thành các tuyên truyền viên ở
cơ sở hướng dẫn các hộ nông dân khác thay đổi thói quen sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật, phân hóa học và nâng cao ý thức bảo vệ môi trường trong sản xuất hoa
Trang 37kiểng Thứ ba là thông qua các buổi sinh hoạt hàng tháng đã tạo ra sự gắn kết giữa các thành viên trong CLB, chia sẻ kinh nghiệm, áp dụng công nghệ mới vào sản xuất
Câu lạc bộ sản xuất hoa kiểng kết hợp với bảo vệ môi trường ở phường Tân Quy Đông mang lại chính là tiền đề để các xã, phường còn lại trên địa bàn thành phố nghiên cứu, nhân rộng nhằm từng bước tạo vẻ mỹ quan cho làng hoa đặc biệt là tạo ra thêm nhiều sản phẩm đẹp, an toàn để ngày càng nâng cao hơn nữa thương hiệu hoa
Sa Đéc.[7]
1.3.1.2 Làng hoa tại Sơn Định, Bến Tre
Sơn Định còn có 02 làng nghề cây giống hoa kiểng, mỗi năm cung cấp cho thị trường trên 500 ngàn cây giống, hoa kiểng các loại.Một số hình ảnh của làng hoa tại Sơn Định, Bến Tre như Hình 1-3
Hình 1-3.Làng hoa tại Sơn Định, Bến Tre
Để đáp ứng nhu cầu du lịch, tham quan, nghỉ dưỡng, khám phá của du khách ngày càng tăng.Sơn Định huyện Chợ Lách đã triển khai mô hình họat động mới - Phát triển du lịch sinh thái làng nghề Nhằm định hướng ngành nghề ngày càng phát triển tạo thu nhập bền vững cho nhân dân, đồng thời tạo điều kiện giao lưu văn hóa cho địa phương với các vùng lân cận, góp phần giải quyết an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo
Dự án có quy mô hơn 30 ngàn mét vuông Kinh phí xây dựng ở giai đoạn I hơn 9,4 tỷ đồng và giai đoạn II hơn 1 tỷ 120 triệu đồng Nguồn ngân sách tỉnh hỗ trợ 400 triệu đồng, phần còn lại do 3 hộ dân trong xã trực tiếp đóng góp Trong đó gồm có 3 điểm du lịch phục vụ du khách tham quan như: Điểm khu du lịch sinh thái dã ngoại Đại Lộc Tham quan vườn ương cây giống – hoa kiểng lớn tiêu biểu, phục vụ cho du
Trang 38khách tự uốn sửa kiểng, chiết ghép cây giống và du lịch tắm cồn- giao lưu đờn ca tài
tử - thưởng thức món ăn dân dã miệt vườn Hiện tại các điểm du lịch đã hoàn thành giai đoạn I đưa vào họat động, đang triển khai thực hiện giai đoạn II
Riêng khu du lịch sinh thái dã ngoại Đại Lộc có tổng diện tích 20 ngàn mét vuông, bao gồm các hạng mục: nhà nghỉ dưỡng, tham quan vườn cây ăn trái; thưởng thức món ăn dân dã miền quê sông nước; du thuyền trên sông; chèo xuồng, bắt cá trong mương vườn, Sau thời gian đi vào hoạt động, cơ sở có nhiều thuận lợi được sự quan tâm các ngành, các cấp ở địa phương, du khách đến tham quan khá nhiều
Giai đoạn I đã hoàn tất, các điểm du lịch đã phát huy hiệu quả, từ đó tiến hành giai đoạn II (2013-2015), mở rộng mô hình họat động ra toàn xã Trong đó chú trọng các ấp có điều kiện, có đình chùa, nhà thờ, bến cảng, chợ đầu mối trái cây Đầu tư xây dựng mới 4 điểm nghỉ, phục vụ ăn uống tại nhà dân cặp sông Tiền Giang ấp Tân Thới, Thới Lộc, Tân Phú Riêng điểm du lịch ấp Sơn Châu, Phụng Châu hiện có tiếp tục đấu tư theo hướng chất lượng hoàn hảo, hoàn thành hệ thống giao thông đường
bộ
Các giải pháp, nhiệm vụ Sơn Định trong thời gian tới: Đẩy mạnh xã hội hóa phát triển du lịch, nhất là về vốn của các thành phần kinh tế và trong dân, dựa vào thế mạnh tài nguyên sẵn có xây dựng các sản phẩm du lịch đặc thù của địa phương, xây dựng chương trình tham quan thường xuyên Đầu tư phát triển các điểm du lịch vườn,
du lịch trên sông rạch, Tập trung đầu tư nâng cao chất lượng các dịch vụ, đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý, nhân viên kinh doanh du lịch và tổ chức tốt dịch vụ du lịch.Tiếp đến hình thành và phát triển các mô hình du lịch như: Du lịch sông nước miệt vườn gắn với hộ gia đình, lưu trú du lịch, dịch vụ ăn uống, giải khát, vườn cây ăn trái theo mùa, chèo thuyền trên sông rạch nhỏ, tour xe đạp, nghỉ nhà dân, làm nông dân, làm nghệ nhân sửa kiểng Hình thành và ổn định một số nghề, dịch vụ, sản phẩm, phương tiện đưa rước khách chuyên phục vụ cho du lịch Đặc biệt phải thương hiệu hóa các sản phẩm của địa phương Phát triển chọn lọc những ngành nghề có thế mạnh của địa phương như uốn sửa kiểng cổ, bon sai, cắt tháp cây giống, chăm sóc cây trồng phục
vụ khách du lịch [8]
Trang 391.3.2 Một số bài học kinh nghiệm về phát triển làng nghề hoa kiểng theo hướng du lịch sinh thái
Thực tế cho thấy, hoạt động du lịch làng nghề ở nước ta vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế cần khắc phục: sản phầm làng nghề tuy nhiều, phong phú nhưng ít sản phẩm
có thương hiệu mang tầm quốc gia và quốc tế; các địa phương chưa có chủ trương, cơ chế, chính sách phù hợp để phát triển du lịch làng nghề; công tác quản lý còn lỏng lẻo, chồng chéo; người dân chưa có kỹ năng khai thác giá trị du lịch làng nghề; cơ sở
hạ tầng cũng như nguồn nhân lực du lịch tại các làng nghề còn thiếu và yếu; môi trường nhiều làng nghề bị ô nhiễm trầm trọng…
Từ thực trạng đó, giải pháp để phát triển làng nghề và du lịch làng nghề như: tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng tại các làng nghề; chú trọng quảng bá các sản phẩm thủ công truyền thống; nâng cao khả năng “làm du lịch” của người dân và nhà quản lý; tập trung phát triển những sản phẩm chủ lực, mang thương hiệu quốc gia…
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG PHÂN BỐ VÀ PHÁT TRIỂN LÀNG 1.4
NGHỀ TẠI CÁC KHU VỰC NÔNG THÔN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
1.4.1 Thực trạng phát triển ngành nghề nông thôn, làng nghề
1.4.1.1 Lĩnh vực hoạt động của ngành nghề nông thôn, làng nghề
Thành phố Hồ Chí Minh hiện có 65 ngành nghề tiểu thủ công nghiệp.Trong đó, khu vực thành thị có 31 ngành nghề, khu vực nông thôn có 34 ngành nghề Hoạt động ngành nghề nông thôn tại Thành phố Hồ Chí Minh có đủ các loại hình theo quy định tại Điều 3, Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 07 tháng 7 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn Hiện có 5 nhóm ngành chính: nhóm chế biến, bảo quản nông, lâm, thủy sản; nhóm tiểu thủ công nghiệp, sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ; nhóm xây dựng, dịch vụ; nhóm công nghiệp; nhóm cây trồng và kinh doanh sinh vật cảnh
Tính đến tháng 4 năm 2013, thành phố hiện có 19 làng nghề hoạt động và phát triển tại 7 quận – huyện Có 4/19 làng nghề mang đậm nét văn hóa truyền thống nhưng không có khả năng phát triển độc lập: làng nghề đan lát Thái Mỹ huyện Củ
Trang 40Chi, làng nghề đan giỏ trạc Xuân Thới Sơn huyện Hóc Môn, làng nghề se nhang Lê Minh Xuân huyện Bình chánh, làng nghề muối Lý Nhơn huyện Cần Giờ
Hiện có 4 làng nghề truyền thống đang phát triển và có khả năng phát triển độc lập, bền vững trong tương lai: làng nghề hoa kiểng Xuân – An – Lộc quận 12, làng nghề hoa kiểng Thủ Đức quận Thủ Đức, làng nghề mành trúc Tân Thông Hội huyện
Củ Chi, làng nghề bánh tráng Phú Hòa Đông huyện Củ Chi Các làng nghề này đều có ngành nghề hoạt động phù hợp với chương trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp đô thị của Thành Phố Để phát triển ổn định, bền vững các làng nghề này cần phải có giải pháp, chính sách hỗ trợ phát triển trong thời gian tới
1.4.1.2 Số lượng hộ/cơ sở, lao động tham gia sản xuất tại làng nghề
Tính đến tháng 4 năm 2013, khu vực ngoại thành thành phố có khoảng 4.747 hộ/cơ sở, với 14.241 lao động tham gia sản xuất tại 19 làng nghề thuộc 7 quận – huyện
1.4.1.3 Thu nhập của hộ, cơ sở tham gia sản xuất – kinh doanh tại làng nghề
Theo kết quả điều tra của Chi cục phát triển nông thôn năm 2012, thu nhập bình quân của hộ dân làng nghề đạt 112,7 triệu đồng/hộ/năm (bình quân 36,94 triệu đồng/lao động/năm) Trong đó, hộ dân thuộc làng nghề hoa cây kiểng có thu nhập cao nhất là 134 triệu đồng/hộ/năm; hộ dân thuộc làng nghề muối có thu nhập thấp nhất là 43,6 triệu đồng/hộ/năm
1.4.1.4 Đánh giá những thành tựu – tồn tại của ngành nghề nông thôn, làng nghề
a Thành tựu
Hệ thống chính sách khuyến khích phát triển ngành nghề nông thôn thôn ngày càng được hoàn thiện, nhất là từ khi Chính phủ ban hành Nghị định 66/2006/NĐ-CP ngày 07 tháng 7 năm 2006 về phát triển ngành nghề nông thôn nhằm thống nhất hành động của các Bộ, ngành Trung ương và địa phương đối với hoạt động hỗ trợ phát triển ngành nghề nông thôn, làng nghề