Các cơ quan thông tin - thư viện tại các trường đại học, cao đẳng từ lâu đã tiến hành xây dựng hệ thống sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện SP&DVTT-TV nhằm đáp ứng một cách tốt nhất
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
PHẠM THỊ THÊU
SẢN PHẨM VÀ DỊCH VỤ THÔNG TIN - THƯ VIỆN
TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI DƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ THÔNG TIN - THƯ VIỆN
HÀ NỘI - 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
PHẠM THỊ THÊU
SẢN PHẨM VÀ DỊCH VỤ THÔNG TIN - THƯ VIỆN
TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI DƯƠNG
Chuyên ngành : Khoa học Thông tin - Thư viện
Mã số : 60 32 02 03
LUẬN VĂN THẠC SĨ THÔNG TIN - THƯ VIỆN
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Vũ Văn Nhật
HÀ NỘI - 2016
Trang 3Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ban Giám hiệu; các thầy giáo, cô giáo; các em sinh viên Trường Đại học Hải Dương nói chung cũng như Ban Giám hiệu và các cán bộ Trung tâm Thông tin - Thư viện, Trường Đại học Hải Dương nói riêng những người đã tận tình giúp đỡ và tạo điều kiện giúp đỡ tôi có tư liệu để hoàn thành luận văn
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã động viên, giúp đỡ và khích lệ rất lớn về mặt vật chất cũng như tinh thần để tôi hoàn thành luận văn một cách tốt nhất
Mặc dù tôi đã hoàn thành luận văn với tất cả sự nỗ lực của bản thân, song luận văn không tránh khỏi những thiếu sót nhất định về mặt nội dung và hình thức trình bày Kính mong nhận được sự xem xét, đánh giá, đóng góp những ý kiến quý báu của các thầy cô và các bạn!
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 01 năm 2016
Tác giả
Phạm Thị Thêu
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1.Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu 4
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6
4 Giả thuyết nghiên cứu 7
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
6 Phương pháp nghiên cứu 7
7 Ý nghĩa khoa học và ứng dụng của đề tài 8
8 Kết quả nghiên cứu 8
9 Bố cục của luận văn 9
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ SẢN PHẨM VÀ DỊCH VỤ THÔNG TIN - THƯ VIỆN TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI DƯƠNG 10
1.1 Những vấn đề chung về sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện 10
1.1.1 Khái niệm sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện 10
1.1.2 Mối quan hệ giữa sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện 13
1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển SP&DVTT-TV 15
1.1.4 Các tiêu chí đánh giá chất lượng SP&DVT-TT 19
1.2 Khái quát về Trường Đại học Hải Dương 21
1.2.1 Quá trình hình thành và phát triển, chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Trường Đại học Hải Dương 21
1.2.2 Quá trình hình thành, phát triển, chức năng, nhiệm vụ của Trung tâm Thông tin - Thư viện Trường Đại học Hải Dương 30
1.2.3 Đặc điểm người dùng tin và nhu cầu tin tại Trung tâm Thông tin -Thư viện Trường Đại học Hải Dương 33
1.2.4 Nguồn lực thông tin tại Trung tâm Thông tin - Thư viện Trường Đại học Hải Dương 40
Trang 51.3 Vai trò và yêu cầu của SP&DVTT-TV đối với sự nghiệp giáo dục và
đào tạo của Trường Đại học Hải Dương 41
1.3.1 Vai trò của sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện 41
1.3.2 Yêu cầu đối với sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện 43
Chương 2 THỰC TRẠNG SẢN PHẨM VÀ DỊCH VỤ THÔNG TIN - THƯ VIỆN TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI DƯƠNG 47
2.1 Các loại hình sản phẩm thông tin - thư viện 47
2.1.1 Hệ thống mục lục 47
2.1.2 Cơ sở dữ liệu 53
2.1.3 Thư mục thông báo tài liệu mới 59
2.1.4 Trang Web và phần mềm thư viện điện tử 62
2.2 Các loại hình dịch vụ thông tin - thư viện tại Trường Đại học Hải Dương 68 2.2.1 Dịch vụ cung cấp tài liệu 68
2.2.2 Dịch vụ tra cứu tin 75
2.2.3 Dịch vụ Inertnet 76
2.2.4 Dịch vụ hướng dẫn người dùng tin 78
2.3 Các yếu tố tác động đến sự phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện tại Trường ĐHHD 80
2.3.1 Nhu cầu về các SP&DVTT-TV 80
2.3.2 Vấn đề sở hữu thông tin của xã hội 81
2.3.3 Chính sách thông tin quốc gia 81
2.3.4 Trình độ nguồn nhân lực của Thư viện 82
2.3.5 Nguồn lực thông tin của thư viện 83
2.3.6 Hạ tầng công nghệ thông tin 84
2.3.7 Nhu cầu tin của người dùng tin 85
2.4 Đánh giá về chất lượng SP&DV Thông tin -Thư viện tại Trường ĐHHD 86 2.4.1 Đánh giá về Sản phẩm Thông tin - Thư viện 87
2.4.2 Đánh giá Dịch vụ Thông tin - Thư viện 88
2.5 Nhận xét chung về sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện 92
Trang 62.5.1 Điểm mạnh về sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện 92
2.5.2 Điểm yếu về sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện 93
Chương 3 GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM & DỊCH VỤ THÔNG TIN – THƯ VIỆN TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI DƯƠNG 95
3.1 Giải pháp phát triển SP&DV thông tin - thư viện 95
3.1.1 Nâng cao chất lượng các sản phẩm thông tin - thư viện 95
3.1.2 Nâng cao chất lượng các dịch vụ thông tin - thư viện 99
3.2 Đa dạng hóa các loại hình SP&DV thông tin - thư viện 102
3.2.1 Xây dựng các sản phẩm thông tin - thư viện mới 103
3.2.2 Phát triển dịch vụ Thông tin - Thư viện mới 105
3.3 Các giải pháp hỗ trợ 109
3.3.1 Nâng cao chất lượng thông tin và tăng cường cơ sở vật chất 109
3.3.2 Phát huy nguồn lực con người 114
3.3.3 Xây dựng kế hoạch Marketing các SP&DV thông tin - thư viện 117
KẾT LUẬN 121
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 123
Trang 73 DVTT-TV Dịch vụ thông tin - thƣ viện
5 SPTT-TV Sản phẩm thông tin - thƣ viện
6 SP & DVTT-TV Sản phẩm và dịch vụ thông tin - thƣ viện
12 MLTNCCTT Mục lục truy nhập công cộng trực tuyến
2 Bảng các chữ viết tắt Tiếng Anh
1 AACR Anglo – American Cataloguing Rules
4 OPAC Online Public Access Cataloging
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Số lượng đội ngũ giảng viên Trường ĐHHD 25
Bảng 1.2 Quy mô đào tạo của Nhà trường trong các năm học gần đây 26
Bảng 1.3 Số liệu về đội ngũ cán bộ thư viện 32
Bảng 1.4 Nhu cầu tin của NDT theo nội dung tài liệu 37
Bảng 1.5 Nhu cầu tin của NDT theo loại hình tài liệu 38
Bảng 1.6 Mục đích thu thập thông tin của NDT 39
Bảng 1.7 Thời gian thu thập thông tin của NDT 39
Bảng 1.8 Bảng thống kê tổng số vốn tài liệu của TT TT-TV, trường ĐH HD 41
Bảng 2.1 Thống kê mức độ bạn đọc thường xuyên sử dụng các sản phẩm thông tin - thư viện tại Trường ĐHHD 51
Bảng 2.2 Ý kiến đánh về Mục lục truy nhập công cộng trực tuyến 52
Bảng 2.3 Ý kiến đánh giá về cơ sở dữ liệu 58
Bảng 2.4 Đánh giá về chất lượng của Thư mục thông báo tài liệu mới 61
Bảng 2.5 Ý kiến đánh giá về trang Web của TTTT-TV Ttrường ĐHHD 67
Bảng 2.6 Ý kiến đánh giá về Dịch vụ đọc tại chỗ 70
Bảng 2.7 Ý kiến đánh giá về dịch vụ mượn về nhà 73
Bảng 2.8 Công cụ mà NDT thường sử dụng để tìm tin tại TTTT-TV Trường Đại học Hải Dương 76
Bảng 2.9 Ý kiến đánh giá về dịch vụ tra cứu Internet 77
Bảng 2.10 Ý kiến đánh giá về Dịch vụ hướng dẫn người dùng tin 79
Bảng 2.11 Số liệu về đội ngũ cán bộ thư viện 83
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH, SƠ ĐỒ
Hình 2.1 Phiếu mô tả trong mục lục chữ cái 48
Hình 2.2 Giao diện của phân hệ tra cứu 50
Hình 2.3 Biểu đồ ý kiến đánh giá về chất lượng OPAC của 52
thư viện trường ĐHHD 52
Hình 2.4 Đánh giá về mức độ sử dụng OPAC của thư viện trường ĐHHD 53
Hình 2.5 Đánh giá về mức độ sử dụng CSDL của TTTT-TV Trường ĐHHD 58
Hình 2.6 Ý kiến đánh giá về chất lượng của CSDL tại TTTT-TV Trường ĐHHD 59
Hình 2.7 Đánh giá về mức độ sử dụng Thư mục thông báo tài liệu mới 61
Hình 2.8 Ý kiến đánh giá về chất lượng của Thư mục thông báo tài liệu mới 62
Hình 2.9 Biểu đồ ý kiến đánh giá- Trang web của Trung tâm 67
Hình 2.10 Biểu đồ ý kiến đánh giá - Dịch vụ đọc tại chỗ 71
Hình 2.11 Đánh giá về chất lượng Dịch vụ mượn về nhà 73
Hình 2.12 Đánh giá về mức độ sử dụng dịch vụ mượn về nhà 74
Hình 2.13 Biểu đồ ý kiến đánh giá - Dịch vụ Internnet 77
Hình 2.14 Biểu đồ ý kiến đánh giá - Dịch vụ hướng dẫn NDT 79
Sơ đồ 1.2 Cơ cấu tổ chức của TT TT-TV Trường ĐHHD 32
Trang 101
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, nước ta đang bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhằm đưa Việt Nam trở thành nước công nghiệp văn minh, hiện đại Trong sự nghiệp cách mạng to lớn đó, công tác đào tạo nguồn nhân lực luôn giữ vai trò quan trọng; công nghệ thông tin và truyền thông đã trở thành một bộ phận của lực lượng sản xuất trực tiếp, thúc đẩy sự phát triển của kinh tế, làm chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế và biến đổi sâu sắc các lĩnh vực của đời sống xã hội, đưa xã hội loài người tiến vào một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên thông tin và phát triển kinh tế tri thức, trong đó tri thức đóng vai trò ngày càng quan trọng và trở thành nhân tố quyết định
sự phát triển của mỗi quốc gia Mọi sự sáng tạo, đột phá, tiến bộ và vươn lên trong thế giới hiện đại đều bắt nguồn từ thông tin và trên cơ sở của thông tin Nhu cầu tin của con người cũng ngày càng đa dạng và phong phú hơn Thông tin giúp con người có những định hướng đúng đắn, làm chủ được cuộc sống của mình Ngay
trong Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã chỉ rõ: “Phát triển giáo dục và đào tạo
là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là điều kiện để phát triển nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển
xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững”
Việt Nam bước vào thế kỷ XXI với chủ trương xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó tri thức là yếu tố quyết định đến
sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Để thực hiện công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và phát triển nền kinh tế tri thức, Đảng và Nhà nước đã khẳng định tầm quan trọng của giáo dục và đào tạo, thể hiện trong Nghị quyết Trung ương
2 khóa VIII: “Cùng với sự phát triển khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo là
quốc sách hàng đầu” Do vậy giáo dục và đào tạo giữ vai trò quan trọng đối với
việc phát triển kinh tế - xã hội Giáo dục và đào tạo ở Việt Nam hiện nay, trong đó
có giáo dục đại học phải đào tạo được nguồn nhân lực có chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế
Trang 112
Căn cứ vào Nghị quyết số 29 - NQ/TW ngày 4/11/2013 Hội nghị lần thứ 8 (Khóa XI) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, các quan điểm chỉ đạo: “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi, cấp thiết, từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thực hiện; đổi mới từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của nhà nước đến hoạt động quản trị của các cơ sở giáo dục - đào tạo và việc tham gia của gia đình, cộng đồng, xã hội và bản thân người học; đổi mới ở tất cả các bậc học, ngành học” Cụ thể hơn Nghị quyết số 29 đã xác định: “Phát triển giáo dục và đào tạo phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc; với tiến bộ khoa học và công nghệ; phù hợp quy luật khách quan Chuyển phát triển giáo dục và đào tạo từ chủ yếu theo số lượng sang chú trọng chất lượng và hiệu quả, đồng thời đáp ứng yêu cầu số lượng”
Trong xu thế đó, các cơ quan thông tin - thư viện tại các trường đại học, cao đẳng không chỉ là nơi tàng trữ, bảo quản tài liệu mà còn là nơi đáp ứng và thỏa mãn một cách nhanh chóng, đầy đủ, chính xác nhu cầu tin của người dùng tin bằng các phương tiện và phương pháp hiện đại nhất, không phân biệt không gian và thời gian Hoạt động thông tin - thư viện đã và đang có những bước chuyển biến mạnh mẽ nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu thông tin ngày càng cao của xã hội Các cơ quan thông tin - thư viện tại các trường đại học, cao đẳng từ lâu đã tiến hành xây dựng hệ thống sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện (SP&DVTT-TV) nhằm đáp ứng một cách tốt nhất nhu cầu tin của người dùng tin (NDT) Thông qua hệ thống SP&DVTT-
TV các cơ quan thông tin - thư viện có thể đánh giá được hiệu quả hoạt động, đồng thời khẳng định được vai trò cũng như vị trí của mình trong xã hội Nhu cầu được cung cấp thông tin nhanh, chính xác, có chọn lọc ngày càng cao và nhu cầu giao lưu, hội nhập và hợp tác giữa các cơ quan thông tin - thư viện đòi hỏi cần cung cấp những SP&DVTT-TV với chất lượng ngày càng tốt hơn, phù hợp với đặc điểm nhu cầu của NDT Vì vậy, phát triển và nâng cao chất lượng hệ thống SP&DVTT-TV tại các trường đại học, cao đẳng cần đặc biệt được coi trọng nhằm khai thác tối đa giá trị của nguồn lực thông tin tại các cơ quan thông tin - thư viện, đồng thời hỗ trợ cho công tác giảng dạy, học tập và nghiên cứu của cán bộ, giảng viên và học sinh, sinh viên
Trang 123
Là một thành viên trong hệ thống các trường đại học trên địa bàn cả nước nói chung và là trường đại học công lập duy nhất trên địa bàn tỉnh Hải Dương, Trường Đại học Hải Dương (ĐHHD) được thành lập theo Quyết định số 1258/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 26 tháng 07 năm 2011 trên cơ sở nâng cấp từ Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Hải Dương và được đổi tên theo Quyết định số 378/QĐ-TTg ngày
01 tháng 3 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ Do mới được nâng cấp nên cơ sở vâ ̣t chất còn nghèo nàn, đô ̣i ngũ cán bô ̣ còn mỏng, vì vậy, hoạt động đào tạo của Trường ĐHHD còn gặp rất nhiều khó khăn, nhà trường đang từng bước đổi mới và hoàn thiện; một trong những khâu quan trọng có ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng đào tạo đó là SP&DVTT-TV Khắc phục khó khăn, trung tâm Thông tin - Thư viện (TT TT-TV) Trường ĐHHD đã đáp ứng được về cơ bản nhu cầu về thông tin tư liệu, giáo trình, sách tham khảo cho các chuyên ngành đào tạo cũng như các lĩnh vực tri thức khác của cán
bộ, học viên trong Trường; hệ thống các SP&DVTT-TV tại TTTTT-TV Trường ĐHHD đóng vai trò quan trọng, là công cụ, phương tiện và là cầu nối giữa NDT với nguồn lực thông tin, giúp NDT truy cập, khai thác nguồn tin một cách có hiệu quả Bên cạnh đó các SP&DVTT-TV còn giúp cho việc trao đổi, chia sẻ nguồn lực thông tin giữa trung tâm TT TT-TV Trường Đại học Hải Dương với các cơ quan thông tin - thư viện khác một cách dễ dàng, thuận tiện; đòi hỏi các TT TT-TV cần cung cấp những sản phẩm và dịch vụ thông tin với chất lượng ngày một cao hơn, chính xác và kịp thời tới NDT Đây là những yêu cầu cấp bách đặt ra cho TTTT-TV cần tìm ra các gi ải pháp phù hợp nhất nâng cao hiệu quả hoạt động, đặc biệt là chất lượng SP&DVTT-TV nhằm đáp ứng yêu cầu của NDT trong giai đoạn mới
Trong những năm qua, TTTT-TV Trường ĐHHD đã có sự đóng góp to lớn vào việc thực hiện các mục tiêu đào tạo của Nhà trường Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay,với sự phát triển của CNTT và xu thế hội nhập, SP&DVTT-TV tại Trung tâm hiện còn nhiều bất cập, chưa tương xứng với vị trí, vai trò, nhiệm vụ đào tạo và chưa đáp ứng được nhu cầu của các đối tượng NDT, nhiều nguồn tin chưa được tổ chức và khai thác Điều đó thể hiện qua hệ thống SP&DVTT-TV của Trung tâm vẫn còn mang nặng tính truyền thống, chưa đa dạng, phong phú về hình thức và nội
Trang 134
dung, chất lượng còn chưa cao Để khắc phục những hạn chế đó cần có sự nhìn nhận, đánh giá khách quan về thực trạng, đồng thời đưa ra các giải pháp hoàn thiện, phát triển và nâng cao chất lượng hệ thống SP&DVTT-TV nhằm thỏa mãn tối đa nhu cầu tin của NDT cũng như nâng cao hiệu quả hoạt động của Trung tâm
Với mong muốn tìm kiếm những giải pháp khả thi nhằm hoàn thiện, phát triển
và nâng cao chất lượng hệ thống SP&DVTT-TV để đáp ứng đầy đủ, kịp thời nhu cầu tin của người dùng tin; nâng cao hiệu quả hoạt động thông tin đồng thời góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, nghiên cứu khoa học và học tập của giảng viên,
sinh viên trong toàn trường, tôi lựa chọn đề tài “Sản phẩm và dịch vụ thông tin -
thư viện tại Trường Đại học Hải Dương” làm đề tài luận văn thạc sĩ Khoa học
Thư viện của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Vấn đề về SP&DVTT-TV đã được nghiên cứu trên bình diện lý thuyết ở cuốn
giáo trình “Sản phẩn và dịch vụ thông tin - thư viện” của tác giả Trần Mạnh Tuấn xuất bản năm 1998 và giáo trình “Thông tin học” của tác giả Đoàn Phan Tân xuất
bản năm 2006 Các tài liệu này đã cung cấp một cách cơ bản các vấn đề lý luận về các loại hình SP&DVTT-TV Tuy nhiên trong các tài liệu này, tác giả chưa đi sâu phân tích về các loại hình sản phẩm và dịch vụ trong từng loại hình thư viện cụ thể;
SP&DVTT-TV cũng được đề cập đến trong các tạp chí chuyên ngành, liên ngành như các bài viết sau:
- Một số vấn đề về chính sách phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin tại
Việt Nam của tác giả Nguyễn Hữu Hùng đăng trên Tạp chí Thông tin và Tư liệu - số
2 - năm 2008 - tr.1-6
- Dịch vụ các thư viện chuyên ngành trên địa bàn Hà Nội: Hiện trạng và vấn
đề của tác giả Nguyễn Thị Hạnh đăng trên Tạp chí Thông tin và Tư liệu - số 2 - năm
2008 - tr 10-14
- Dịch vụ cung cấp thông tin theo chuyên đề: Nội dung và một số kiến nghị
của tác giả Trần Mạnh Tuấn đăng trên Tạp chí Thông tin và Tư liệu - số 1- năm
2003 - tr 9-14
Trang 145
- Một số vấn đề về sự phát triển các sản phẩm và dịch vụ thông tin của tác giả
Trần Mạnh Tuấn đăng trên Tạp chí Thông tin và Tư liệu - số 4 - năm 2003 - tr 15-21
- Sản phẩm thông tin từ góc độ Marketing của tác giả Trần Mạnh Tuấn đăng
trên Tạp chí Thông tin và Tư liệu - số 3 - năm 2004 - tr 7-12
- Sản phẩm và dịch vụ thông tin - thực trạng và các vấn đề của tác giả Trần
Mạnh Trí đăng trên Tạp chí Thông tin Khoa học Xã hội - số 4 - năm 2003 - tr 19-26
- Đánh giá các dịch vụ thông tin và thư viện của tác giả Vũ Văn Sơn đăng
trên Tạp chí Thông tin và Tư liệu - số 4 - năm 1997 - tr 10-14
Các bài viết này đã mô tả khái lược một số sản phẩm, dịch vụ thông tin tiêu biểu và phổ biến hiện nay, giúp liệt kê, nhận dạng các nhóm sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện, xác định mối quan hệ giữa cơ sở phân nhóm sản phẩm và dịch
vụ theo những mục đích, khía cạnh khác nhau Đồng thời đề cập đến những phương pháp đánh giá cũng như phân tích các quan điểm tiếp cận về tính hiệu quả của các SP&DVTT-TV
Bên cạnh đó, vấn đề SP&DVTT-TV cũng đã được nhiều luận văn nghiên cứu đến như:
- “Nghiên cứu hoàn thiện hệ thống sản phẩm và dịch vụ thông tin thư viện
của Trung tâm Thông tin Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội” của tác giả Phạm Thị
Yên công bố năm 2005
- “Nghiên cứu hoàn thiện các dịch vụ cung cấp thông tin khoa học Kiến trúc
Xây dựng tại trường Đại học Kiến trúc Hà Nội” của tác giả Vũ Thị Mỹ Nguyên
công bố năm 2008
- “Nghiên cứu phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện tại Trung
tâm Thông tin - Thư viện trường Đại học Sư phạm Hà Nội” của tác giả Vũ Huy
Thắng công bố năm 2009
- “Phát triển và nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư
viện tại Thư viện Hà Nội” của tác giả Trần Nhật Linh công bố năm 2010;
- “Hoàn thiện hệ thống sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện tại Học viện
Công nghệ Bưu chính Viễn thông” của tác giả Trần Thị Ngọc Diệp công bố năm 2011
Trang 156
- “Phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện tại trường Đại học
Ngoại thương Hà Nội” của tác giả Thạch Lương Giang công bố năm 2012
- “Nghiên cứu phát triển các sản phẩm và dịch vụ thông tin thư viện tại
trường Cao đẳng Hải Dương” của tác giả Dương Thị Toàn công bố năm 2012
Những đề tài này đã nghiên cứu và làm rõ khái niệm về SP&DVTT-TV, mối quan hệ giữa chúng, khảo sát và đánh giá các SP&DV hiện có, đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện và phát triển các SP&DVTT-TV Tuy nhiên các đề tài
kể trên đều mới chỉ đề cập đến SP&DVTT-TV ở một cơ quan đơn vị cụ thể, trên một địa bàn cụ thể, đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện và phát triển các SP&DVTT-TV cho một thư viện cụ thể tại nơi mà tác giả nghiên cứu
Nghiên cứu về SP&DVTT-TV Trường Đại học Hải Dương là một vấn đề rất mới chưa có tác giả nào nghiên cứu Do vậy tác giả mạnh dạn nghiên cứu và hoàn thiện hệ thống sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện tại Trường ĐHHD nhằm nâng cao hiệu quả phục vụ NDT, đáp ứng được yêu cầu đổi mới Để thực hiện đề tài này tác giả luận văn đã kế thừa những thành quả nghiên cứu của các tác giả đi trước và những kiến thức, kinh nghiệm của bản thân để làm rõ thực trạng SP&DVTT-TV tại TTTT-TV Trường Đại học Hải Dương Qua đó đề xuất các giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng hệ thống SP&DVTT-TV tại Trường ĐHHD phù với yêu cầu và nhiệm vụ của Thư viện trong giai đoạn hiện nay
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích nghiên cứu, luận văn sẽ giải quyết những nhiệm
vụ sau đây:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận chung liên quan đến SP&DVTT-TV
Trang 164 Giả thuyết nghiên cứu
Nếu TTTT-TV Trường ĐHHD chú trọng tới việc phát triển và nâng cao chất lượng hệ thống SP&DVTT-TV thì sẽ tăng cường được hiệu quả của hoạt động thông tin, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo, nghiên cứu khoa học, học tập của giảng viên và sinh viên của Nhà trường
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu:
Các sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện tại Trường ĐHHD
5.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Trung tâm Thông tin - Thư viện Trường ĐHHD;
- Phạm vi thời gian: Hệ thống SP&DVTT-TV tại Trung tâm Thông tin - Thư viện Trường ĐHHD trong giai đoạn hiện nay;
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp luận
Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời dựa trên các quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về văn hóa và thông tin - thư viện
6.2 Phương pháp cụ thể
- Phương pháp thu thập, phân tích và tổng hợp tài liệu
- Phương pháp quan sát trực tiếp
Trang 178
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
- Phương pháp phỏng vấn trực tiếp
- Phương pháp so sánh, thống kê các số liệu
7 Ý nghĩa khoa học và ứng dụng của đề tài
7.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài
Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần hoàn thiện hệ thống lý luận về sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện của các trường đại học nói chung và của TTTT-TV Trường Đại học Hải Dương nói riêng
7.2 Ý nghĩa ứng dụng của đề tài
Hiện nay chưa có một nghiên cứu nào về vấn đề này tại TTTT-TV Trường ĐHHD Vì vậy nghiên cứu này góp phần vào việc khẳng định vai trò, tầm quan trọng của việc nghiên cứu, phát triển và nâng cao chất lượng hệ thống SP&DVTT-
TV nhằm tăng cường hiệu quả của hoạt động thông tin tại TT TT-TV Trường ĐHHD; góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học của giảng viên
và sinh viên trong Trường Đồng thời đề xuất các giải pháp phát triển và nâng cao chất lượng SP&DVTT-TV tại trường ĐHHD, từ đó cải thiện hình ảnh của Thư viện, nâng cao hiệu quả hoạt động thông tin, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, phục
vụ trực tiếp cho việc cung ứng nhân lực chất lượng cao phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
8 Kết quả nghiên cứu
Luận văn hoàn thành trong 9 tháng với dung lượng từ 80 đến 130 trang trên khổ giấy A4
Nội dung nghiên cứu:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về các SP&DVTT-TV
- Phân tích và đánh giá thực trạng hệ thống SP&DVTT-TV tại Trường ĐHHD và sự cần thiết phải nghiên cứu phát triển SP&DVTT-TV tại Trung tâm
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng hệ thống SP&DVTT-TV tại Trường ĐHHD
Trang 189
9 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, bố cục của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện tại Trường Đại học Hải Dương
Chương 2: Thực trạng sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện tại Trường Đại học Hải Dương
Chương 3: Giải pháp phát triển và nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện tại Trường Đại học Hải Dương
Trang 1910
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ SẢN PHẨM VÀ DỊCH VỤ THÔNG
TIN - THƯ VIỆN TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI DƯƠNG
1.1 Những vấn đề chung về sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện
1.1.1 Khái niệm sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện
Sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện (SP&DV TT-TV) được hình thành
do nhu cầu trao đổi thông tin trong xã hội; có quá trình phát triển lâu dài Cùng với
sự xuất hiện của thư viện thì các sản phẩm và dịch vụ thông tin cũng được ra đời nhưng tương đối đơn giản; các sản phẩm chủ yếu là các bản liệt kê tài liệu, các dịch
vụ đọc và mượn Tuy nhiên, cùng với thời gian và sự phát triển của xã hội, nhu cầu của người dùng tin ở mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau thì nhu cầu về sản phẩm và dịch vụ thông tin cũng đòi hỏi ở mức độ khác nhau Từ giữa thế kỷ XX đến nay, với
sự bùng nổ của công nghệ thông tin và sự phát triển mạnh mẽ của các cơ quan thông tin - thư viện thì hệ thống sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện ngày càng trở nên phong phú và đa dạng về nội dung và hình thức
SP &DVTT-TV được tạo nên bởi con người và luôn được định hướng nhằm thỏa mãn nhu cầu tin và các nhu cầu tinh thần, trí tuệ của con người SP &DV TT-
TV bao gồm nhiều yếu tố cấu thành Đó chính là hệ thống các yếu tố được tạo ra trên cơ sở nhu cầu của xã hội Chúng là hệ thống các yếu tố có quan hệ và tác động mật thiết với nhau, có thể chuyển hóa lẫn nhau, biến đổi và phát triển không ngừng Song xét trên bình diện chức năng đối với người dùng tin thì chúng có thể chia thành hai loại đó là:
- Sản phẩm thông tin - thư viện
Sản phẩm là khái niệm được sử dụng trong lĩnh vực kinh tế học và hoạt động thực tiễn của nền sản xuất Sản phẩm là thứ có khả năng thỏa mãn nhu cầu, mong muốn của khách hàng; cống hiến những lợi ích cho họ và có thể chào bán trên thị trường với khả năng thu hút sự chú ý mua sắm và tiêu dùng sản phẩm Do đó một sản phẩm được cấu tạo và hình thành từ hai yếu tố cơ bản: Yếu tố vật chất và yếu tố
Trang 2011
phi vật chất Để có hiểu biết đúng đắn về sản phẩm cũng như dịch vụ TT-TV, trước hết cần phải tiếp cận một số thuật ngữ, khái niệm có liên quan:
Theo định nghĩa của Giáo trình Kinh tế chính trị Mác-Lênin về phương thức
sản xuất tư bản chủ nghĩa:“Sản phẩm là kết quả của sản xuất Tổng hợp các thuộc
tính về lý học, cơ học, hóa học và các thuộc tính có ích khác cho sản phẩm có công dụng nhất định và có thể thỏa mãn những nhu cầu của con người”.[ 12, tr.39]
Theo từ điển Bách khoa Việt Nam, “Sản phẩm là kết quả của các hoạt động
hoặc các quá trình Sản phẩm có thể là vật chất hoặc phi vật chát và được tạo ra có chủ định hoặc không chủ định” [28, tr.723]
Theo từ điển Đại từ Tiếng Việt: “Sản phẩm là cái do con người lao động tạo
ra hoặc cái được tạo ra như một kết quả của tự nhiên” [32, tr.1427]
Sản phẩm thông tin - thư viện (SPTT-TV) được hình thành nhằm thỏa mãn những nhu cầu thông tin bao gồm: nhu cầu tra cứu thông tin và nhu cầu về chính bản than thông tin Như vậy, sản phẩm phải phụ thuộc chặt chẽ ào nhu cầu cũng như sự biến đổi của nhu cầu
Quá trình lao động để tạo ra SPTT-TV chính là quá trình xử lý thông tin bao gồm: biên mục, phân loại, định từ khóa, tóm tắt, chú giải, biên soạn, tổng luận cũng như các quá trình phân tích, tổng hợp thông tin Người thực hiện quá trình xử lý thông tin có thể là các chuyên gia làm việc tại một cơ quan, tổ chức có chức năng cung cấp thông tin hoặc cũng có thể là các nhà khoa học, các chuyên gia - người dùng tin trong quá trình tự thỏa mãn nhu cầu thông tin cho mình hoặc theo yêu cầu đặt hàng của các cơ quan thông tin, thư viện
Mức độ thỏa mãn nhu cầu tin ở những sản phẩm khác nhau cũng rất khác nhau Các sản phẩm thông tin thư mục có khả năng thỏa mãn những nhu cầu tra cứu thông tin về tài liệu Còn các sản phẩm thông tin dạng dữ kiện, toàn văn, tổng thuật
có khả năng thỏa mãn nhu cầu về chính bản thân thông tin
Như vậy, ta có thể hiểu SPTT-TV là kết quả của quá trình xử lý thông tin (biên
mục, phân loại, định từ khóa, tóm tắt, chú giải, biên soạn, tổng luận, ) do một cá nhân hay tập thể nào đó thực hiện nhằm thỏa mãn nhu cầu của người dùng tin khi
sử dụng các cơ quan thông tin, thư viện
Trang 2112
- Dịch vụ thông tin - thư viện
Khái niệm dịch vụ cho đến nay chưa có một định nghĩa thống nhất vì tính vô hình và khó nắm bắt của nó Có thể hiểu dịch vụ luôn mang lại tiện ích nhằm thỏa mãn nhu cầu cho mọi đối tượng trong cộng đồng
Khác với sản phẩm, các loại dịch vụ là cái mà chúng ta không thể nhìn thấy, nắm bắt hay nhận diện bằng giác quan Dịch vụ luôn gắn với người cung cấp dịch vụ, chất lượng dịch vụ phụ thuộc chặt chẽ vào từng cá nhân thực hiện dịch vụ (trình độ, kỹ năng, ); chất lượng dịch vụ rất khó xác định (tính không xác định) ngay cả nhiều khi đối với cùng một cá nhân thực hiện nhưng chất lượng có sự thay đổi theo thời gian
Chính vì vậy thuật ngữ dịch vụ là một thuật ngữ được sử dụng trước tiên và chủ yếu trong lĩnh vực kinh tế học và hoạt động của nhiều lĩnh vực xã hội:
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam (2007), Tập 1, “ Dịch vụ là những hoạt động
phục vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu sản xuất, kinh doanh và sinh hoạt Do nhu cầu rất đa dạng tùy theo sự phân công lao động nên có nhiều loại dịch vụ: dịch vụ phục vụ sản xuất, kinh doanh; dịch vụ phục vụ sinh hoạt công cộng; dịch vụ cá nhân dưới hình thức những dịch vụ gia đình Những dịch vụ tinh thần dựa trên những nghiệp vụ đòi hỏi tài năng đặc biệt (hoạt động nghiên cứu, môi giới về quảng cáo); những dịch vụ liên quan đến đời sống và sinh hoạt cộng đồng (sức khỏe, giáo dục, giải trí); những dịch vụ về chỗ ở Sản xuất, kinh doanh và dịch vụ tác động chặt chẽ lẫn nhau Dịch vụ là một điều kiện
để sản xuất kinh doanh Sự phát triển dịch vụ hợp lý, có chất lượng cao là một biểu hiện của nền kinh tế phát triển và một xã hội văn minh Do ý nghĩa kinh tế- xã hội to lớn nên hoạt động dịch vụ trở thành một lĩnh vực hết sức quan trọng, có vị trí to lớn trong cơ cấu kinh tế của các quốc gia có tốc độ phát triển cao” [26, tr.671]
Trong Đại từ điển Tiếng Việt, “Dịch vụ là một công việc phục vụ cho đông
đảo quần chúng” [31,tr.537]
Tương tự khái niệm về sản phẩm, thuật ngữ dịch vụ được sử dụng trong nhiều lĩnh vực hoạt động Trong lĩnh vực thông tin, dịch vụ thông tin - thư viện bao gồm những công việc mang tính chất chuyên môn hóa và khi thực hiện cần phải sử dụng (tạm thời hoặc phối hợp) một số tài sản hoặc một số sản phẩm nào đó
Trang 2213
Theo Từ điển giải nghĩa Thư viện học và tin học Anh - Việt, “Dịch vụ Thư
viện (library service) là một từ chung dùng để chỉ tất cả các hoạt động cũng như những chương trình được thư viện cung cấp để đáp ứng nhu cầu thông tin của cộng đồng độc giả” [9,tr.119]
“Dịch vụ Thông tin (information service) là dịch vụ cá nhân trực tiếp do nhân viên của ban tham khảo của thư viện cung cấp cho độc giả trong tiến trình truy tìm thông tin của họ” [9,tr.106]
Dịch vụ Thông tin - Thư viện (DVTT-TV) có mối quan hệ chặt chẽ giữa người dùng tin và cán bộ thư viện Trên cơ sở các yêu cầu về thông tin của NDT, cán bộ thư viện triển khai các dịch vụ và ngược lại nhờ các dịch vụ do cán bộ thư viện tạo
ra thì NDT được thỏa mãn nhu cầu tin của mình DVTT-TV có thể chia thành các nhóm cơ bản như: dịch vụ cung cấp tài liệu; dịch vụ trao đổi thông tin; dịch vụ phổ biến thôn tin; dịch vụ tra cứu tin
Mục tiêu quan trọng nhất là giúp cho các cơ quan thông tin - thư viện nâng cao khả năng đáp ứng nhu cầu khai thác thông tin và giúp NDT tiếp cận, sử dụng có hiệu quả thông tin vào hoạt động của mình
Từ những phân tích trên, có thể thấy theo tác giả Trần Mạnh Tuấn “Dịch vụ
thông tin - thư viện bao gồm những hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu tin thông tin
và trao đổi thông tin của người dùng tin của các cơ quan thông tin - thư viện nói chung”[21, tr.24]
Như vậy, từ những phân tích về SPTT- TV và DVTT- TV trên đây, có thể
hiểu: Sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện là kết quả của hoạt động thông tin
và xử lý thông tin của một cá nhân hay một cơ quan thông tin - thư viện nào đó nhằm thỏa mãn nhu cầu thông tin và trao đổi thông tin của người sử dụng các cơ quan TT - TV nói chung
1.1.2 Mối quan hệ giữa sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện
SP&DVTT-TV có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, chuyển hóa lẫn nhau, hỗ trợ nhau cùng phát triển và không thể tách rời SP&DVTT-TV được tạo ra nhằm khai thác, tim kiếm cũng như được tiến hành hoạt động để thỏa mãn NCT của NDT và là
Trang 2314
một trong những tiền đề để cơ quan thông tin - thư viện khai thác và phát triển các DVTT-TV khác nhau Khi thực hiện một dịch vụ nào đó, cần phải sử dụng một hay một số sản phẩm đã có như hệ thống mục lục, thư mục, các CSDL, các ấn phẩm thông tin đồng thời thông qua các SPTT - TV có thể đánh giá được chất lượng sản phẩm thông qua việc sử dụng chúng trong quá trình tổ chức DVTT-TV
Trong hoạt động thông tin - thư viện, muốn sản phẩm được mở rộng, phát triển phải đa dạng hóa các loại hình dịch vụ khác nhau Ngược lại, muốn phát triển các dịch vụ cần phải không ngừng đa dạng hóa và nâng cao chất lượng của sản phẩm SP&DVTT-TV là một phức thể bao gồm nhiều yếu tố cấu thành, đóng vai trò công cụ để thực hiện các mục tiêu của cơ quan TT-TV SP&DVTT-TV thích hợp giúp cho con người ở mọi lúc, mọi nơi, mọi điều kiện để truy nhập và khai thác nguồn di sản trí tuệ của con người; giúp cá nhân và tổ chức có thể tìm đến với nhau, trao đổi mọi TT một cách thuận tiện và nhanh chóng
Mối quan hệ giữa SP&DVTT-TV là mối quan hệ có sự kết hợp của cái mới và cái cũ; giữa truyền thống và hiện đại; giữa con người và công nghệ Do vậy cần phải đảm bảo sự phát triển cân đối, đồng bộ hệ thống SP&DVTT-TV là hết sức cần thiết nhằm khai thác một cách hiệu quả nguồn lực thông tin từ sản phẩm và ngược lại Khi có một hệ thống dịch vụ đầy đủ, hiện đại, công nghệ cao mà thiếu đi một hệ thống sản phẩm thì dịch vụ đó cũng không phát huy được tác dụng và không mang lại hiệu quả như mong muốn
Để đáp ứng nhu cầu của NDT, thông thường các cán bộ thông tin - thư viện phải tiến hành đồng thời việc tạo ra các SP&DVTT-TV tương ứng Với mỗi sản phẩm đều có một hoặc một số dịch vụ tương ứng, mục đích của dịch vụ là nhằm giúp cho sản phẩm được sử dụng, khai thác một cách tối đa và ngược lại ứng với mỗi dịch
vụ là một hoặc một số sản phẩm phù hợp để dịch vụ đó được triển khai tốt
Mối quan hệ SP&DVTT-TV chặt chẽ và tính tương tác cao Như vậy, vấn đề cần hoàn thiện, đảm bảo sự phát triển cân đối các sản phẩm thông tin phải luôn đi liền với việc tổ chức, kiện toàn dịch vụ thông tin phù hợp với từng loại sản phẩm là việc làm hết sức cần thiết với mỗi cơ quan thông tin - thư viện
Trang 2415
1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển SP&DVTT-TV
SP&DVTT-TV luôn luôn phát triển và rất năng động Hiệu quả của hoạt động này phụ thuộc chặt chẽ vào nhiều yếu tố có tính đặc trưng như: nhu cầu tin (NCT); điều kiện kinh tế xã hội, tựu chung lại có 2 yếu tố cơ bản đó là yếu tố bên ngoài
và yếu tố nội tại trong các cơ quan thông tin - thư viện
1.1.3.1 Các yếu tố bên ngoài cơ quan thông tin - thư viện
- Nhu cầu về các sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện:
Trong điều kiện phát triển kinh tế xã hội hiện nay, nhu cầu về SP&DVTT-TV
là rất đa dạng và phong phú Nhu cầu này được hình thành trên cơ sở nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó nguyên nhân từ chính bản thân phát triển của xã hội, sự phát triển của nền kinh tế; có những nguyên nhân từ nhu cầu phát triển của con người với tư cách là thành viên xã hội, trong đó thông tin được sử dụng như một nguồn lực kinh tế, việc sử dụng thông tin ngày càng mang tính xã hội cao, trong bản thân nền kinh tế của xã hội; ngành công nghiệp thông tin ngày càng phát triển mạnh thì việc xây dựng và phát triển hệ thống SP&DVTT-TV nhằm mục đích tổ chức, sử dụng và khai thác hợp lý nguồn thông tin phục vụ phát triển trong điều kiện hiện nay đương nhiên sẽ tạo ra thị trường thông tin - thư viện mà thông tin được luân chuyển, khai thác, sử dụng
Thông tin được hình thành qua các quá trình hoạt động của con người trong
xã hội ở các lĩnh vực khác nhau Sản phẩm và dịch vụ của các cơ quan thông tin, thư viện không phải là kết quả của việc tạo ra các thông tin mới để góp phần làm giàu di sản trí tuệ mà chính là kết quả của việc xử lý và hệ thống hóa nguồn tin đã
có, nhằm mục đích tạo điều kiện cho con người có thể khai thác được chúng theo những mục đích riêng của mình Mặt khác, để tạo ra được thông tin thì cần được cung cấp thông tin Các cơ quan thông tin - thư viện có chức năng đảm bảo thông tin, thỏa mãn nhu cầu tin trên cơ sở các sản phẩm, dịch vụ mà mình tạo ra Qua khai thác hệ thống SP&DVTT-TV, NDT lại tạo ra được những thông tin mới Cứ như thế chu trình này diễn ra liên tục, không ngừng phát triển vì thế mà hệ thống SP&DVTT-TV ngày càng gia tăng
Trang 2516
- Vấn đề sở hữu thông tin của xã hội
Trong giai đoạn hiện nay khi mà công nghệ đã giúp tạo ta được các SP&DVTT-TV mới cũng như đã xác định được vai trò mới đối với những người cung cấp thông tin thì các nhà sản xuất và cơ quan thông tin - thư viện phải đối diện với vấn đề là xác định cách thức mà họ cung cấp các dịch vụ cho khách hàng của mình Vì vậy, có thể khẳng định việc tạo điều kiện cho con người dùng thông tin qua các sản phẩm, dịch vụ thích hợp để khai thác nguồn tin là hoàn toàn hợp lý Đây cũng là mục tiêu cơ bản của các cơ quan thông tin trong hoạt động của mình
Hiện nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều thừa nhận và khẳng định thông tin là sở hữu chung của toàn xã hội và con người đều có quyền bình đẳng trong việc sử dụng và khai thác thông tin Thông tin được sử dụng như một nguồn lực kinh tế nên vấn đề chia sẻ nguồn lực thông tin không chỉ đơn thuần là vấn đề kỹ thuật mà chủ yếu
là chia sẻ quyền lợi giữa những người tạo ra thông tin, cung cấp thông tin và người sử dụng thông tin Có thể nói mục tiêu tiếp thị, quảng cáo hay chiến lược Marketing sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện chính là sự thỏa thuận hợp lý giữa những người tạo ra thông tin, người cung cấp thông tin và người dùng tin
- Chính sách thông tin quốc gia
Đối với các nước, dù phát triển hay đang phát triển, dù là các nước có nền kinh
tế thị trường hay quản lý tập trung thì hoạt động của các cơ quan thông tin vẫn cần đảm bảo bởi hệ thống chính sách phù hợp Để tạo ra được hệ thống SP&DVTT-TV phù hợp, các cơ quan TT-TV cần có được hạ tầng thông tin quốc gia cho phép nó hòa nhập với cộng đồng thông tin trong khu vực và quốc tế Tuy nhiên, để có được điều kiện này lại hoàn toàn phụ thuộc vào chính sách quốc gia; nhờ đó Chính phủ
có cơ sở kế hoạch định hướng đầu tư thỏa đáng, hợp lý Ở Việt Nam, do sự chuyển đổi của nền kinh tế thị trường ngày càng thấy rõ sự quan trọng và sự cần thiết của một chính sách thông tin quốc gia đồng bộ để tạo điều kiện cho các cơ quan quản
lý, khai thác thông tin có điều kiện để phát huy hết chức năng và tận dụng tốt môi trường thông tin dồi dào ở nước ta hiện nay
Trang 2617
1.1.3.2 Các yếu tố bên trong cơ quan thông tin - thư viện
- Đối tượng xử lý thông tin
Đối tượng xử lý thông tin là một trong những yếu tố quan trọng có ảnh hưởng trực tiếp tới các SP&DVT-TT bởi vì sản phẩm chính là sự phản ánh về đối tượng, nhằm thỏa mãn nhu cầu thông tin về chúng cho NDT Trong những năm gần đây, ngoài nguồn tài liệu (xuất bản phẩm: sách, tài liệu chuyên khảo, báo, tạp chí, bản đồ, video, tranh ảnh, ) vẫn được coi là một trong những đối tượng xử lý thông tin quan trọng; các cơ quan thông tin - thư viện còn quan tâm tới những đối tượng khác nhau như cơ quan, đơn vị hành chính, cá nhân, các quá trình, hiện tượng Mỗi nhóm đối tượng này chứa đựng các thông tin hết sức khác biệt nhau, có khả năng thỏa mãn nhu cầu thông tin khác nhau và ở những mức độ khác nhau
Với mỗi một đối tượng xử lý thông tin cụ thể thì cần có những phương pháp thích hợp để tạo ra các sản phẩm thông tin thỏa mãn NCT Mặt khác, với mỗi nhóm đối tượng khác nhau có thể tạo ra được các SP&DVT-TT đặc thù nhằm cung cấp ở mức cao nhất nội dung thông tin cho NDT
- Người dùng tin
Nghiên cứu NDT là một trong những nhiệm vụ quan trọng của bất kỳ cơ quan thông tin - thư viện nào với mục tiêu là thỏa mãn nhu cầu thông tin của họ NDT và NCT đã trở thành một cơ sở thiết yếu định hướng cho hoạt động của các cơ quan này nói chung, trong đó đặc biệt là trong quá trình tạo ra các SP&DVT-TT là một bộ phận quan trọng không thể tách rời một hệ thống thông tin nào, là yếu tố tương tác hai chiều với các đơn vị thông tin
Thứ nhất, NDT được coi là đối tượng phục vụ, là khách hàng, là người tiêu thụ
sản phẩm và dịch vụ của cơ quan thông tin giống như mọi khách hàng của các dịch vụ
xã hội NDT thể hiện NCT của chủ thể hoạt động tức là của cá nhân, tập thể hay một nhóm người; những nhu cầu này chính là cơ sở để định hướng hoạt động của các cơ quan thông tin
Thứ hai, NDT được coi là người sản xuất “nguyên liệu thông tin” cho hoạt động
của cơ quan thông tin - thư viện Sau khi nhận được SP&DVT-TT theo yêu cầu, NDT
Trang 2718
tham gia vào hầu hết các công đoạn của hoạt động thông tin như: đánh giá nguồn tin, giúp đỡ lựa chọn và bổ sung tài liệu, hiệu chỉnh các hoạt động thông tin - thư viện Nếu như NDT được cung cấp các SP&DVT-TT có chất lượng tốt sẽ tạo ra nguồn tin có giá trị cao Với nguồn tin có giá trị ấy, các cơ quan thông tin - thư viện sẽ tạo ra những sản phẩm thông tin có chất lượng cao Nghiên cứu NDT sẽ xác định được đối tượng NDT tức là NDT thuộc đối tượng nào; lĩnh vực chuyên môn nào mà họ quan tâm; loại hình tài liệu nào mà họ thường sử dụng và mức độ sử dụng cũng như ý kiến đánh giá về các SP&DVT-TT họ thường sử dụng để không ngừng nâng cao khả năng thỏa mãn NCT của NDT
NDT là một trong những yếu tố cấu thành và tác động trực tiếp tới sự sống còn của các cơ quan thông tin - thư viện NDT với NCT của họ trở thành cơ sở thiết yếu định hướng cho hoạt động của các cơ quan thông tin - thư viện đặc biệt là trong quá trình tạo ra các SP&DVT-TT
- Công nghệ thông tin
Nước ta hiện nay đang bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhằm đưa Việt Nam trở thành nước công nghiệp văn minh, hiện đại Trong sự nghiệp cách mạng to lớn đó, công tác đào tạo nguồn nhân lực luôn giữ vai trò quan trọng và công nghệ thông tin và truyền thông đã trở thành một bộ phận của lực lượng sản xuất trực tiếp, thúc đẩy sự phát triển của kinh tế, làm chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh
tế và biến đổi sâu sắc các lĩnh vực của đời sống xã hội, đưa xã hội loài người tiến vào một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên thông tin và phát triển kinh tế tri thức, trong đó tri thức đóng vai trò ngày càng quan trọng và trở thành nhân tố quyết định sự phát triển của mỗi quốc gia
Trong lĩnh vực hoạt động của các cơ quan TT-TV, cụ thể là trong quá trình tổ chức hoạt động thư viện thì vai trò của công nghệ thông tin được thể hiện hết sức to lớn; nó tác động tới tất cả các quá trình nhằm tạo ra sản phẩm và thực hiện các dịch
vụ thông tin, giúp NDT rút ngắn được thời gian, công sức và chi phí cho hoat động khai thác nguồn tài liệu, tạo ra được tính đa dạng, phong phú và năng động trong việc tạo ra các SP&DVT-TT của mình
Trang 2819
Bên cạnh đó, thông tin được lưu giữ dưới hình thức số hóa trở lên hết sức đa dạng, không còn bị giới hạn dưới dạng truyền thống mà bao gồm cả các dạng khác như: âm thanh, hình ảnh tĩnh, hình ảnh động, Công nghệ thông tin còn thâm nhập cả vào quá trình tạo lập nội dung thông tin, quá trình phân phối thông tin, quá trình trao đổi thông tin và truyền tin để hình thành nên các sản phẩm tương ứng đặc biệt là việc khai thác, sử dụng và chia sẻ SP&DVT-TT của nhiều cơ quan khác nhau
Có thể nói những yếu tố được nêu ở trên đã tác động tới sự phát triển của các SP&DVT-TT đòi hỏi các cơ quan thông tin - thư viện phải luôn đổi mới cách thức tổ chức, phương thức hoạt động, tạo nguồn tin thích hợp cũng như việc tổ chức, hoàn thiện hệ thống SP&DVT-TT phù hợp với NCT của NDT trong giai đoạn mới
1.1.4 Các tiêu chí đánh giá chất lượng SP&DVT-TT
Đánh giá SP&DVTT-TV là quá trình thu thập, lựa chọn và phân tích thông tin
về dịch vụ hoặc một số khía cạnh của dịch vụ nhằm đưa ra những quyết định đúng đắn về dịch vụ đó Mục đích của việc đánh giá SP&DVTT-TV là giúp cơ quan TT-
TV phân tích được điểm mạnh và hạn chế của các SP&DV cũng như xác định được giá trị và hiệu quả mà sản phẩm và dịch vụ mang lại cho NDT để từ đó đưa ra những quyết định cần thiết về SP&DV đó Để có thể phát triển được đa dạng các loại hình SP&DVT-TT thì cần đưa ra các tiêu chí cơ bản để có thể đánh giá được chất lượng, đánh giá được sự phù hợp của các SP&DVT-TT có đáp ứng được NCT của mọi đối tượng NDT hay không?
1.1.4.1 Đối với sản phẩm thông tin - thư viện
SPTT-TV là kết quả của quá trình xử lý thông tin do một cá nhân hay môt tập thể nào đó thực hiện nhằm thỏa mãn NCT của NDT Để tạo ra được các SPTT-TV thì cần phải có một quá trình xử lý thông tin như: biên mục, phân loại, định từ khóa, tóm tắt, chú giải, Do đó để có thể đưa ra được những sản phẩm tốt, có chất lượng và đáp ứng được nhu cầu của NDT thì cần có những tiêu chí cơ bản để đánh giá chất lượng của sản phẩm thông tin Và cho đến nay cũng có rất nhiều tiêu chí để đánh giá chất lượng của SPTT-TV như:
Trang 2920
- Mức độ bao quát nguồn tin
Mức độ bao quát nguồn tin là khả năng bao quát toàn bộ nguồn tin thể hiện ở
sự đầy đủ, đa dạng, phong phú bao quát các lĩnh vực thông tin mà NDT quan tâm Bên cạnh đó, mức độ bao quát nguồn tin không chỉ đòi hỏi ở sự phát triển đồng đều giữa các loại hình sản phẩm mà phải phát triển các loại hình mới phù hợp với những đối tượng NDT mới
- Mức độ chính xác, khách quan
Tính chính xác, khách quan thể hiện thông tin phải sát thực với tài liệu gốc, đảm bảo những nguyên tắc trong việc sử dụng và xử lý thông tin từ biên mục, phân loại, định từ khóa, Bên cạnh đó khắc phục, loại bỏ những thông tin không cần thiết, không rõ ràng, nội dung sai lệch hoặc không chính xác Đây là thước đo phản ánh hiệu quả và trình độ phát triển của hoạt động TT-TV
- Khả năng cập nhật thông tin và tìm kiếm thông tin
Khả năng cập nhật thông tin thể hiện ở chỗ thông tin được tiên hành đều đặn,
bổ sung thường xuyên, bảo đảm tính liên tục;
Còn khả năng tìm kiếm thông tin thể hiện ở các phương tiện tra cứu tin phải giúp NDT dễ dàng sử dụng và khai thác.Tốc độ tìm tin linh hoạt, nhanh chóng, kịp thời, đáp ứng tối đa NCT của NDT Ngoài ra, khả năng tìm kiếm thông tin phải được thể hiện dưới nhiều hình thức tìm tin khác nhau: mục lục chữ cái; mục lục phân loại; thư mục hay trên các cơ sở dữ liệu
- Mức độ thân thiện của sản phẩm
Sản phẩm tạo ra phải quan tâm chú trọng tới việc phát triển và hoàn thiện cả
về nội dung và hình thức; phải gây được sự chú ý, thiện chí với NDT; đảm bảo giúp NDT dễ dàng khai thác, sử dụng Nếu sản phẩm có hàm lượng thông tin khoa học cao cần có các chương trình hướng dẫn sử dụng sản phẩm, sao cho sản phẩm đạt hiệu quả khai thác tối ưu Có thể nói đây là một trong những yêu cầu quan trọng và không thể thiếu đối với mỗi sản phẩm thông tin - thư viện
1.1.4.2 Đối với dịch vụ thông tin - thư viện
Cũng giống như SPTT-TV để đánh giá chất lượng dịch vụ thông tin thư viện (DVTT-TV) xét cho cùng cũng được thể hiện ở việc giúp NDT tiếp cận, khai thác
Trang 3021
và thu được khối lượng thông tin đầy đủ, nhanh chóng, cập nhật, phù hợp, chính xác
và khách quan Chính vì thế mà các cơ quan TT-TV phải luôn coi trọng yếu tố chất lượng của dịch vụ TT-TV dựa trên cơ sở của những tiêu chí sau:
- Chi phí thực hiện dịch vụ: Đây là một tiêu chí rất quan trọng trong việc đánh
giá chất lượng DVTT-TV Chi phí này bao gồm chi phí hiện và chi phí ẩn;
+ Chi phí ẩn: phản ánh những khoản chi khó xác định: trình độ, kinh nghiệm, chuyên môn để xây dựng và bảo trì các nguồn thông tin;
+ Chi phi hiện: là tất cả những chi phí dễ dạng nhận thấy như: chi phí in ấn tài liệu, chi phí sao chụp tài liệu, chi phí dịch thuật,
- Tính kịp thời của dịch vụ: Các kết quả mà dịch vụ đạt được có đủ để NDT sử
dụng một cách hiệu quả và hợp lý không, tức là mọi dịch vụ đều cần một khoảng thời gian xác định để thực hiện
- Tính thuận tiện: thể hiện các dịch vụ đó có thuận tiện hay không, sử dụng
dịch vụ đó một cách dễ dàng nhất, nhanh nhất, thủ tục đơn giản nhất Không những thế, dịch vụ TT-TV phải đảm bảo, khẳng định được tính kịp thời khi cung cấp các
SP TT-TV nhanh chóng, chính xác, phù hợp với NCT của NDT
Tóm lại, hệ thống SP&DV TT-TV là công cụ cơ bản để thỏa mãn NCT của NDT Chúng là chỉ số quan trọng để nghiên cứu, đánh giá hoạt động TT-TV Việc tạo ra hệ thống SP&DV TT-TV thích hợp sẽ giúp NDT có thể tiếp cận khai thác và
sử dụng được nguồn tri thức chung của nhân loại
1.2 Khái quát về Trường Đại học Hải Dương
1.2.1 Quá trình hình thành và phát triển, chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Trường Đại học Hải Dương
- Sơ lược quá trình hình thành và phát triển
Trường ĐHHD (Trường Đại học Kinh tế - Kỹ thuật Hải Dương) là Trường công lập trực thuộc UBND tỉnh Hải Dương, được thành lập theo Quyết định số 1258/QĐ-Ttg của Thủ tướng Chính phủ ngày 26 tháng 07 năm 2011 trên cơ sở nâng cấp từ Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Hải Dương và được đổi tên theo Quyết định số 378/QĐ-TTg ngày 01 tháng 3 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ
Trang 3122
Với truyền thống trên năm mươi năm xây dựng và trưởng thành, Nhà trường
có uy tín lãnh đạo và dạy nghề các bậc Trung cấp, Cao đẳng, Đại học theo các khối ngành Kinh tế - Kỹ thuật - Xã hội Xuất phát điểm là Trường Trung cấp Quản lý Kinh tế Hải Hưng thuộc Ban Đào tạo và Tuyển sinh Hải Hưng được thành lập năm
1979 trên cơ sở thống nhất 03 trường của 03 ngành: Tài chính, Kế hoạch và Lao động Năm 1993, sáp nhập Trường Thương nghiệp của Sở Thương mại (nguyên từ Trường Thương nghiệp được thành lập vào năm 1960 trực thuộc Bộ Nội thương chuyển giao về Tỉnh) Sau đó, Trường được đổi tên thành Trường Trung cấp Kinh
tế Hải Hưng trực thuộc Sở Giáo dục Hải Hưng
Năm 2001, Nhà trường được nâng cấp thành lập Trường Cao đẳng Kinh tế -
Kỹ thuật Hải Dương trực thuộc Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Hải Dương theo Quyết định số 272/2001/QĐ-BGD&ĐT-TCCB ngày 11 tháng 01 năm 2001 của Bộ trưởng
Năm 2011, Nhà trường được nâng cấp thành lập Trường Đại học Kinh tế -
Kỹ thuật Hải Dương trực thuộc UBND Tỉnh Hải Dương theo Quyết định số 1258/2011/QĐ-TTg ngày 26/7/2011 của Thủ tướng Chính phủ và được đổi tên thành Trường ĐHHD theo Quyết định số 378/QĐ-TTg ngày 01 tháng 3 năm 2013 Đây là Trường Đại học công lập đầu tiên trực thuộc Tỉnh, là kết quả sau phấn đấu của toàn thể cán bộ giảng viên, công nhân viên trong Trường, đặc biệt là đội ngũ Ban Giám hiệu Nhà trường
- Chức năng, nhiệm vụ
Căn cứ Theo Luật Giáo dục đại học 08/2012/QH13 ngày 18 tháng 6 năm
2012 của Quốc hội khóa XIII, Điều lệ Trường Đại học ban hành kèm theo Quyết định số 70/2014/QĐ-TTg ngày 10 tháng 12 năm 2014 của Thủ tướng Chính phủ, hoạt động của ĐHHD bao gồm:
Trang 3223
+ Chức năng
Trường ĐHHD là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Hải Dương có chức năng đào tạo sinh viên có trình độ đại học, cao đẳng, trung cấp thuộc các khối ngành kinh tế, kỹ thuật, xã hội, tổ chức nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ phục vụ giáo dục và đào tạo theo quy định của Pháp luật
Trường Đại học Hải Dương là đơn vị sự nghiêp có thu, tự chủ và chịu trách nhiệm
về tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính theo quy định của pháp luật Trường có tư cách pháp nhân, có con dấu và được mở tài khoản riêng tại ngân hàng và kho bạc nhà nước
+ Nhiệm vụ
Một số nhiệm vụ cơ bản của Nhà trường hiện nay là tổ chức đào tạo bồi dưỡng cũng như thực hiện các hoạt động giáo dục khác theo mục tiêu, chương trình đào tạo các ngành nghề được các cấp có thẩm quyền phê duyệt; Xây dựng và triển khai các chương trình, nội dung đào tạo trên cơ sở các chương trình khung của Bộ Giáo dục và Đào tạo và yêu cầu thực tiễn của xã hội Để đáp ứng yêu cầu tổ chức thực hiện nhiệm
vụ và công tác quản lý từ ngày thành lập đến nay nhà trường đã thường xuyên củng cố hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy và nguồn nhân lực lao động để có một tập thể cán bộ công chức với bộ máy tổ chức hoạt động tương đối nhịp nhàng;
Tổ chức đào tạo và hoạt động giáo dục theo mục tiêu chương trình, ngành nghề đào tạo đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo và cơ quan có thẩm quyền cho phép, công nhận tốt nghiệp, cấp văn bằng, chứng chỉ theo quy định;
Tổ chức tuyển sinh và quản lý sinh viên theo quy định Phối hợp quản lý và xây dựng đội ngũ cán bộ, giảng viên, nhân viên đáp ứng yêu cầu phát triển;
Triển khai thực hiện hoạt động nghiên cứu khoa học, kết hợp đào tạo nghiên cứu khoa học, ứng dụng khoa học và công nghệ trong công tác đào tạo nhằm tiếp cận khoa học hiện đại Tổ chức công tác đào tạo hợp tác quốc tế và nghiên cứu khoa học theo quy định chung của Nhà nước Huy động, quản lý và sử dụng các nguồn nhân lực nhằm mục tiêu giáo dục, liên kết với các cơ quan hữu quan nhằm phát triển, nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo;
Quản lý và sử dụng cơ sở vật chất, tài chính tài sản, đất đai được giao theo quy định
Trang 3324
- Cơ cấu tổ chức và đội ngũ cán bộ
a) Cơ cấu tổ chức: Cơ cấu tổ chức của ĐHHD gồm có:
Thông tin – Thƣ viện
Công tác Học sinh
- Sinh viên
Quản trị
- Thiết
bị
Tài chính
Kế toán
Quản
lý Đào tạo
Một cửa LT
&
Hợp tác Đào tạo
Bảo vệ -Tổ QLTS Liên Hồng
CÁC LỚP HỌC SINH - SINH VIÊN
CHÍ
MINH
CÔNG ĐOÀN
HỘI CỰU CHIẾN BINH BCH ĐẢNG BỘ
Khảo thí &
KĐCL
Dịch
vụ
Hỗ trợ đào tạo
KHOA HỌC CHUNG
NCKH
&
các DAPT
Ngoại Ngƣ̃
xã hội tổng hợp
CÂU LẠC BỘ NƢ̃
HỘI SINH VIÊN
Phục vụ đời sống
và việc làm
Ngoại ngữ
Tài chính
- Ngân hàng
Kinh
Tƣ̉
Truyền thông
CNT
T
Cơ điê ̣n lạnh
QT Văn phòng
&
Du lịch
-
KS
Chăn nuôi
và thú
Quản trị
Quản lý
ký túc
xá KHỐI TRUNG TÂM
KHỐI KHOA
Sƣ phạm
kỹ thuật
Phát triển nông thôn
Trang 3425
b) Đội ngũ cán bộ:
Đội ngũ giảng viên của Nhà trường đang phát triển rất nhanh và bền vững cả về
số lượng và chất lượng Hiện tại giảng viên cơ hữu gồm trên 300 người với trình độ chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm tốt và đam mê học tập, nghiên cứu nâng cao trình
độ chuyên môn
Đội ngũ giảng viên thỉnh giảng gồm 150 người giàu tâm huyết, có học hàm, học vị hoặc chuyên gia đã trải nghiệm qua thực tiễn và giảng dạy đến từ các cơ sở đào tạo đại học, sau đại học, cơ quan, doanh nghiệp ở trong nước và quốc tế đang tích cực tham gia xây dựng, phản biện nội dung, chương trình đào tạo, hợp tác nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ phù hợp với thực tiễn của Hải Dương, khu vực đồng bằng Sông Hồng và cả nước
Đội ngũ cán bộ của Nhà trường là một trong những nhóm NDT quan trọng của thư viện Theo số liệu thống kê mới nhất từ Phòng Tổ chức Cán bộ đến tháng 4 năm
2015 thì tổng số cán bộ giảng viên của trường là 348 người trong đó: có 24 tiến sĩ, 16 nghiên cứu sinh, 124 thạc sỹ, 99 học viên cao học, 09 sau đại học, 54 đại học, 10 cao đẳng, 10 trung cấp
Bảng 1.1 Số lượng đội ngũ giảng viên Trường ĐHHD
Trang 3526
Là một trường đại học trẻ mới được thành lập hiện nay đội ngũ giảng viên của nhà trường chủ yếu là đội ngũ trẻ, chưa có nhiều kinh nghiệm trong giảng dạy Hiện nay với chính sách khuyến khích học nâng cao trình độ đội ngũ giảng viên đã hăng hái tham gia đi học cao học và nghiên cứu sinh tại các trường có uy tín trong và ngoài nước với các ngành khác nhau Bên cạnh đó, nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy nhà trường đã mở ra các viện nghiên cứu lý thuyết và thực hành cho các giảng viên nghiên cứu giảng dạy và để việc giảng dạy, nghiên cứu soạn bài tốt thì các giảng viên thường xuyên phải lên thư viện để tìm kiếm, tổng hợp tài liệu Họ chính
là nhóm NDT quan trọng mà thư viện cần phải quan tâm
- Hoạt động đào tạo của Nhà trường trong những năm gần đây
Trải qua hàng chục năm xây dựng và phát triển, quy mô và chất lượng đào tạo của Nhà trường ngày một tăng lên Quy mô đào tạo của Nhà trường năm 2009 - 2010
là trên 9000 học sinh, sinh viên với 17 chuyên ngành thuộc các hệ Cao đẳng, Trung cấp, Nghề và đào tạo Liên thông Trung cấp - Cao đẳng, liên kết đào tạo Liên thông Cao đẳng – Đại học; tổ chức các lớp bồi dưỡng, đào tạo Sau Đại học Cụ thể:
Bảng 1.2 Quy mô đào tạo của Nhà trường trong các năm học gần đây
HSSV
Trong đó
Ghi chú
dưỡng
Liên kết
Trang 362009 - 2010, quy mô đào tạo tăng gấp 18 lần, năm 2010 - 2011 tăng gấp trên 20 lần;
Với tốc độ phát triển, quy mô đào tạo như vậy đến giai đoạn năm học
2015-2016 đến 2020 sẽ đạt mức quy mô ổn định khoảng 23.000-25.000 học sinh, sinh viên Đối chiếu với định hướng quy hoạch của Chính phủ tại Quyết định số 121/2007/QĐ-TTg ngày 27/7/2007 phê duyệt quy hoạch mạng lưới trường đại học giai đoạn 2006-2020: “Các trường đại học, học viện đào tạo các ngành nghề kỹ thuật - công nghệ, kinh tế, luật, sư phạm và các lĩnh vực khác có gắn với kinh tế -
kỹ thuật: khoảng 15.000 sinh viên quy đổi thì quy mô đào tạo của Nhà trường đạt chuẩn của một trường đại học”
Các ngành đào tạo bậc đại học đang được tiếp tục mở rộng Năm 2009, Nhà trường triển khai đào tạo được 08 ngành học hệ Cao đẳng, Trung cấp: 03 ngành Kinh tế, 03 ngành Kỹ thuật, 02 ngành Quản lý xã hội với 17 chuyên ngành Năm
2011, sau khi Trường được nâng cấp lên đại học, ngay sau đó Trường được đào tạo thêm 01 ngành Kế toán bậc Đại học và hiện nay có 09 ngành đào tạo đại học;
Từ năm 2009 Trường đã xác định mục tiêu: “Đào tạo đạt chất lượng gắn
liền với tiết kiệm chi phí cho người học”,gần đây gắn với điều kiện và nhu cầu hội
nhập khu vực, quốc tế, chiến lược của Nhà trường được xác định là: “Đào tạo giúp
làm giầu, vì Quê hương, vì Đất nước, vì Nhân loại” Bằng thái độ chân thành, cầu
thị cùng với việc thực hiện nhiều giải pháp khả thi, tập thể lãnh đạo cùng cán bộ, viên chức, lao động và học sinh-sinh viên Nhà trường đã sáng tạo, học hỏi kiến thức
từ bốn phương của nhân loại để tự đào tạo mình, từng bước đưa Trường phát triển Chất lượng đào tạo của Nhà trường ngày càng đáp ứng nhu cầu thực tiễn của
xã hội cả về chiều rộng và chiều sâu
Đặc biệt từ năm học 2014- 2015, thực hiện Nghị Quyết 29 của Bộ Chính trị
về việc đổi mới căn bản và toàn diện; Nhà trường đã thực hiện đổi mới việc dạy và học cụ thể:
Trang 3728
Nhằm đáp ứng theo nhu cầu của xã hội và khả năng học tập, nghiên cứu của học sinh, sinh viên trên địa bàn tỉnh, cùng thực tế đội ngũ cán bộ, giảng viên và cơ
sở vật chất trang thiết bị… hiện có của Nhà trường, Hội đồng Khoa học Nhà trường
đã nghiêm túc nghiên cứu để tích hợp kiến thức liên mục - liên bài - liên môn - liên ngành một cách chặt chẽ và logic… Nhờ đó đã hình thành các nhóm kiến thức, các chuyên đề riêng Hiện tại Nhà trường thay đổi từ hình thức đào tạo theo các học phần (môn học) riêng lẻ với rất nhiều kiến thức chưa được chọn lọc, sắp xếp theo trình tự và logic… bằng các nhóm chuyên đề nghiệp vụ chuyên môn riêng Do đó, sinh viên học tại Trường không nhất thiết phải có trình độ đầu vào cao vì được tổ chức học theo các nhóm kiến thức (chuyên đề) đã được sàng lọc và tích hợp logic nên dễ học, dễ hiểu, dễ nhớ một cách hệ thống và có rất nhiều cơ hội để rút ngắn thời gian học tập (tích lũy đủ kiến thức theo tín chỉ để tốt nghiệp ra trường sớm) mà không cần giảm tải khối lượng kiến thức; đồng thời dễ vận dụng kiến thức đã học vào hoạt động thực tiễn chuyên môn nghiệp vụ…
Mặt khác, cũng nhờ kết hợp đào tạo tích hợp theo chuyên đề nên Trường tổ chức đào tạo được rất nhiều chuyên ngành trong cùng một ngành, giúp học sinh - sinh viên thuận lợi trong lựa chọn để học tập, nghiên cứu và tìm kiếm việc làm sau khi ra trường…
Đó là một sự phát triển vượt bậc của Nhà trường trong những năm gần đây Chỉ trong thời gian ngắn đã có những bước chuyển mình đáp ứng hợp lý, kịp thời, phù hợp với sự phát triển của xã hội
- Điều kiện cơ sở vật chất và ứng dụng CNTT
Về diện tích đất: Diện tích đất của Nhà trường bao gồm 23,7 ha Cụ thể:
Cơ sở 1: Trụ sở và cơ sở đào tạo chính hiện nay với diện tích đất gồm 02 ha tại Khu 8 phường Hải Tân, ở giữa só 1002 và 1004, đại lộ Lê Thanh Nghị (đi thẳng vào 200m), thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương
Trang 3829
Diện tích xây dựng tại cơ sở 1: 15.575 m2 Trong đó: 2170 m2 Phòng học (40 phòng); 540 m2 Phòng thực hành (9 phòng); 677m2 Giảng đường trung tâm (300 chỗ ngồi); 810 m2 Ký túc xá; 360 m2 Nhà ăn tập thể; 1.018 m2 Nhà làm việc của cán
bộ, giảng viên và phòng khách; 10.000 m2 sân vận động
Cơ sở 2: Trụ sở của Trường từ năm 2013 trở đi với diện tích quy hoạch là 21,7 ha, tại xã Liên Hồng, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương và nằm trong quy hoạch diện tích đất xây dựng khu liên hợp thể thao, văn hóa, y tế, giáo dục ở phía Nam cầu
Lộ Cương
Trang thiết bị phục vụ dạy học: Hiện 100% các phòng học, thực hành, thí nghiệm trong trường đều có máy chiếu Projecto Trong đó: 10 phòng học còn có hệ thống camera phục vụ đặc trách công tác thi, kiểm tra; 5 phòng máy vi tính (25-36 máy/ phòng); 4 phòng thí nghiệm, thực hành Điện – Điện tử - Nhiệt lạnh; 02 phòng thực hành công nghệ quản lý kinh tế - tài chính; 42 máy chiếu Projector…
Trường được lãnh đạo tỉnh có chủ trương giao Trường quản lý, sử dụng và khai thác Khu ký túc xá sinh viên tập trung do Tỉnh đầu tư với tổng diện tích quy hoạch 21
ha (Trong đó: Giai đoạn 1 gồm 11,2995 ha đã hoàn thành công tác đền bù giải phóng
Trang 39* Khái quát lịch sử phát triển
TTTT-TV Trường ĐHHD tiền thân là Thư viện Trường Đại học Kinh tế - Kỹ thuật Hải Dương, là Thư viện Trường công lập trực thuộc UBND tỉnh Hải Dương, được thành lập ngày 26 tháng 7 năm 2011 trên cơ sở nâng cấp từ Thư viện Trường Cao đẳng kinh tế - Kỹ thuật Hải Dương, theo Quyết định số 1258 của Thủ tướng Chính phủ Ngày 23 tháng 11 năm 2012 Trường có Tờ trình số 378/TTr- ĐHKTKT đề nghị đổi tên trường thành Trường ĐHHD, được Ban Thường vụ Tỉnh uỷ nhất trí tại Thông báo số 638-TB/TU ngày 28/12/2012 và UBND tỉnh Hải Dương đề nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo xem xét, trình Thủ tướng Chính phủ tại Tờ trình số 02/TTr-UBND ngày 02 tháng 01 năm 2013; được Bộ Giáo dục và Đào tạo thẩm định, nhất trí trình Thủ tướng Chính phủ ra quyết định đổi tên Trường Đại học Kinh tế - Kỹ thuật Hải Dương thành Trường ĐHHD tại tờ trình số 154/TTr- BGDĐTngày 23
tháng 02 năm 2013 và thư viện cũng đổi tên thành Thư viện Trường ĐHHD
Trang 4031
- Nhiệm vụ:
+ Xây dựng và thực hiện kế hoạch dài hạn và hàng năm về việc bổ sung, cập nhật tài liệu giáo trình, sách báo và các tạp chí với các chủ để phù hợp đáp ứng yêu cầu giảng dạy và nghiên cứu học tập của trường
+ Công tác nghiệp vụ Thông tin - Thư viện bao gồm: Thu thập, bổ sung, xử lý hình thức, xử lý nội dung, lưu trữ tìm và phổ biến thông tin cho bạn đọc
+ Quản lý, sử dụng hiệu quả các trang thiết bị và cơ sở vật chất của thư viện; + Tổ chức và quản lý tốt hoạt động Thư viện nhằm phục vụ có hiệu quả cho việc khai thác và sử dụng thông tin - tư liệu của cán bộ, giảng viên
+ Xây dựng và quản trị Website của Trường, quản trị phần mềm Thư viện điện tử do các giảng viên khoa Công nghệ thông tin Nhà trường viết
+ Đáp ứng mọi nhu cầu về giáo trình, tài liệu, bài giảng và các ấn phẩm khác phục vụ cho công tác đào tạo, nghiên cứu khoa hoc và công tác quản lý của đơn vị; + Không ngừng mở rộng quan hệ trao đổi, hợp tác chia sẻ tài nguyên với các đối tác trong và ngoài nước Đặc biệt chú trọng trao đổi thông tin tư liệu với các trường đại học và thư viện Tỉnh để trao đổi chuyên môn nghiệp vụ cũng như trao đổi tài liệu
+ Quản lý tốt cơ sở vật chất hiện có, từng bước có kế hoạch nâng cấp, tăng cường năng lực phục vụ đào tạo, nghiên cứu khoa học và quản lý của đơn vị
+ Quản lý tốt các ấn phẩm của Tạp chí Đại học Hải Dương
+ Thực hiện các nhiệm vụ khác do lãnh đạo Nhà trường giao
* Cơ cấu tổ chức và đội ngũ cán bộ
- Cơ cấu tổ chức: Do Trường mới nâng cấp lên đại học, hiện nay Trung tâm
Thông tin - Thư viện vẫn chưa được chú trọng đầu tư Bộ máy tổ chức của Trung tâm
hiện nay bao gồm: Ban Giám đốc, các phòng chuyên môn và phòng phục vụ bạn đọc
TTTT-TV là một đơn vị trong cơ cấu tổ chức của Trường ĐHHD vì vậy Trung tâm vẫn hoạt động dưới sự chỉ đạo của hiệu trưởng Trung tâm chưa tiến hành hoạt động độc lập, tự chủ, chưa có tư cách pháp nhân con dấu riêng, chưa phát huy hết được vai trò của Thư viện