Để đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng được yêu cầu công tác đòi hỏi Học viện ANND cần tập trung vào việc nâng cao chất lượng đào tạo trong đó phải trú trọng đến việc phát tr
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
LÊ VĂN TRUNG
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC THÔNG TIN CHO SINH VIÊN HỌC VIỆN AN NINH NHÂN DÂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ THÔNG TIN – THƯ VIỆN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
LÊ VĂN TRUNG
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC THÔNG TIN CHO SINH VIÊN HỌC VIỆN AN NINH NHÂN DÂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ THÔNG TIN – THƯ VIỆN
Chuyên ngành: Khoa học Thông tin – Thư viện
Mã số: 60 32 02 03
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Huy Chương
XÁC NHẬN HỌC VIÊN ĐÃ CHỈNH SỬA THEO GÓP Ý CỦA HỘI DỒNG
Giáo viên hướng dẫn
TS Nguyễn Huy Chương
Chủ tịch hội đồng chấm Luận văn Thạc sĩ
PGS.TS Trần Thị Quý
Hà Nội – 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chƣa đƣợc ai công bố trong bất cứ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Lê Văn Trung
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được luâ ̣n văn này , tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến TS Nguyễn Huy Chương đã tận tình hướng dẫn , chỉ bảo và giúp đỡ để tôi có thể hoàn thành công trình nghiên cứu này Tôi xin cảm ơn Ban Giám hiệu Trường Đại học Khoa ho ̣c xã hô ̣i & Nhân văn – Đa ̣i ho ̣c Quốc Gia Hà Nô ̣i , Phòng Đào tạo Sau đại học, Ban chủ nhiê ̣m Khoa Thông tin – thư viê ̣n, Trung tâm Thông tin Khoa học & Tư liê ̣u giáo khoa đã tạo mọi điều kiện để tôi thực hiện luận văn này
Tôi cũng xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc đến gia đình, người thân, đồng nghiệp, những người luôn động viên, khuyến khích và giúp đỡ về mọi mặt để tôi có thể hoàn thành công việc nghiên cứu của mình
Đề tài “ Phát triển năng lực thông tin cho sinh viên Học viê ̣n An ninh nhân
dân” đươ ̣c hoàn thành trong thời gian ngắn, với khả năng kiến thức còn ha ̣n chế nên
không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhâ ̣n được các ý kiến đóng góp của thầy cô, đồng nghiê ̣p và các đô ̣c giả để tôi tiếp tục hoàn thiện nghiên cứu của mình
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Tác giả luận văn
Lê Văn Trung
Trang 5MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
PHỤ LỤC 7
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài 4
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 7
4 Giả thuyết nghiên cứu 8
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
6 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 9
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 9
8 Dự kiến kết quả nghiên cứu 10
9 Cấu trúc luận văn 10
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC THÔNG TIN CHO SINH VIÊN HỌC VIỆN AN NINH NHÂN DÂN 11
1.1 Những lý luận chung về năng lực thông tin 11
1.1.1 Khái niệm phát triển năng lực thông tin 11
1.1.2 Nô ̣i dung năng lực thông tin 17
1.1.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến công tác phát triển năng lực thông tin 21
1.2 Khái quát Học viện An ninh nhân dân và Trung tâm Thông tin khoa học và Tư liệu giáo khoa 26
1.2.1 Khái quát về Học viện An ninh nhân dân 26
1.2.2 Khái quát về Trung tâm Thông tin Khoa học & Tư liệu giáo khoa 31
1.2.3 Vai trò của Trung tâm trong việc đáp ứng yêu cầu phát triển năng lư ̣c thông tin cho sinh viên 40
1.3 Vai tro ̀ năng lực thông tin đối với sinh viên Học viện An ninh nhân dân 43
Trang 6Tiểu kết 48 Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC THÔNG TIN CỦA SINH VIÊN HỌC VIỆN AN NINH NHÂN DÂN 50 2.1 Mô ̣t số hoa ̣t đô ̣ng hỗ trơ ̣ công tác phát triển năng lực thông tin cấp Học viện 50
2.1.1 Các h oạt động hỗ trợ phát triển năng lực thông tin của lãnh đạo Học viê ̣n An ninh nhân dân 50 2.1.2 Các hoạt động hỗ trợ công tác phát triển năng lực thông tin của giảng viên 53 2.1.3 Các hoạt động hỗ trợ phát triển năng lực thông tin của các tổ chức Đoàn, hô ̣i 57
2.2 Các hoạt động phát triển năng lực thông tin của Trung tâm Thông tin khoa học và tư liệu giáo khoa 58 2.3 Các yếu tố tác động đến công ta ́ c phát triển năng lực thông tin cho sinh viên Học viện An ninh nhân dân 62 2.4 Đánh giá năng lực thông tin của sinh viên Học viện An ninh nhân dân 69 Tiểu kết 93 Chương 3: GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC THÔNG TIN CHO HỌC VIÊN HỌC VIỆN AN NINH NHÂN DÂN 95 3.1 Giải pháp chung cu ̉ a Học viện An ninh nhân dân 95
3.1.1 Đầu tư trang thiết bị, cơ sở vật chất phục vụ công tác phát triển năng lực thông tin cho sinh viên 95 3.1.2 Tăng cường hợp tác, trao đổi với các đơn vị thư viện trong và ngoài lực lượng vũ trang 96 3.1.3 Xây dựng, lồng ghép nội dung chuyên đề năng lực thông tin vào các chương trình đào tạo dành cho sinh viên 97
Trang 73.2 Các giải pháp cu ̉ a Trung tâm Thông tin khoa học & Tư liệu giáo
khoa 99
3.2.1 Tạo điều kiện để cán bộ thư viện học các lớp bồi dưỡng chuyên môn thư viện, đặc biệt là số cán bộ an ninh chưa được qua đào tạo 99
3.2.2 Tham mưu cho Ban Gia ́m đốc Ho ̣c viê ̣n trong công tác tổ chức và phát triển năng lực thông tin cho sinh viên 100
3.2.3 Nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ làm công tác thư viện trong việc phát triển năng lực thông tin cho sinh viên 103
3.2.4 Nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ Thông tin thư viện 104
3.2.5 Đa dạng hóa hình thức đào tạo người dùng tin 105
3.3 Giải pháp cho giảng viên, sinh viên 109
3.3.1 Đổi mới phương pháp giảng dạy nhằm nâng cao năng lực thông tin cho sinh viên 109
3.3.2 Chủ động phối hợp với Trung tâm thông tin khoa học & Tư liệu giáo khoa xây dựng, triển khai các chương trình đào tạo năng lực thông tin cho sinh viên 110
3.3.3 Tích cực khuyến khích sinh viên tham gia nghiên cứu khoa học 113
Tiểu kết 114
KẾT LUẬN 115 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
11 TTKH&TLGK Thông tin khoa học & tƣ liệu giáo khoa
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Tỷ lệ giảng viên áp dụng các phương pháp dạy học 54 Bảng 2.2 Tỷ lệ giảng viên áp dụng phương pháp kiểm tra đánh giá 56
Bảng 2.3 Đánh giá hiểu biết của cán bô ̣ lãnh đa ̣o đối với công tác đào ta ̣o
Bảng 2.4 Ý kiến đánh giá của cán bộ lãnh đạo về NLTT của học viên 64 Bảng 2.5 Đánh giá nhu cầu học năng lực thông tin cho học viên 65 Bảng 2.6
Đánh giá tính hữu ích của chương trình đào tạo và
thời điểm đào tạo NLTT cho học viên năm thứ nhất 70
Bảng 2.7 Bảng đánh giá mức độ tìm kiếm thông tin và các nguồn tìm
Bảng 2.11 Mức độ hiểu biết và thực hiện bản quyền – Luật sở hữu trí tuệ 85
Trang 10DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1.1 Cơ cấu tổ chức cán bộ Học viện An ninh nhân dân 30 Hình 1.2 Sơ đồ cơ cấu tổ chức Trung tâm TTKH&TLGK 32
Hình 2.2 Chức năng tìm kiếm nâng cao kết hợp toán tử AND 76
Trang 111
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong “xã hội thông tin” và nền “kinh tế tri thức”, thông tin thực sự trở thành mục tiêu, động lực phát triển kinh tế xã hội, là yếu tố đảm bảo quốc phòng an ninh của mỗi quốc gia, dân tộc trên thế giới.Trước đây nguồn tri thức cung cấp cho con người đơn thuần là những tài liệu dưới dạng in ấn như sách, báo, tạp chí, Ngày nay, với sự tấn công như vũ bão của mạng truyền thông Internet, lượng thông tin khổng lồ với tốc độ tăng trưởng phi mã, có mặt ở mọi lúc mọi nơi, với loại hình đa dạng mà bạn đọc có thể đọc, nghe, nhìn, xem Theo kết quả của một nghiên cứu do Công ty IBM thực hiện năm
2010 cho thấy, lượng thông tin số trên mạng toàn cầu tăng gấp hai lần chỉ sau
11 tiếng Tuy nhiên vấn đề ở đây không nằm ở chỗ thông tin có được cung cấp đầy đủ hay không mà nằm ở chỗ thông tin hiện đang cung cấp quá nhiều, quá ồ ạt và hỗn tạp Việc kiểm định chất lượng và độ tin cậy của thông tin dường như bị phó mặc cho người sử dụng Điều này đòi hỏi mỗi người dùng tin phải có năng lực sàng lọc và phản hồi thích hợp đối với các nguồn thông tin không phù hợp, có chất lượng kém và không đáng tin cậy Khả năng tiếp cận và sử dụng thông tin hay gọi đó là năng lực thông tin của mỗi người trong việc đáp ứng nhu cầu thông tin là khác nhau, năng lực thông tin có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc nâng cao trình độ chuyên môn và giúp con người phát triển năng lực tư duy độc lập và sáng tạo (Rockman, 2004)
Từ cuối những năm 1990 đến đầu những năm 2000, năng lực thông tin đã trở thành một chủ thể quan tâm đối với đông đảo các nhà nghiên cứu, giảng dạy, cũng như đội ngũ cán bộ làm công tác TTTV nói chung trên các phạm vi, vấn đề này quan trọng đến mức mà trong cơ cấu tổ chức của mình, IFLA đã thành lập hẳn một bộ phận chuyên theo dõi vấn đề này ( Information Literacy Section) Học tập mô hình này, nhiều tổ chức trên thế giới đã nghiên cứu, xây
Trang 122
dựng và phổ biến các tiêu chuẩn và mô hình về năng lực thông tin như; Các trường đại học ở Mỹ đều xây dựng các tiểu chuẩn năng lực thông tin cho các sinh viên đại học dựa trên các tiêu chuẩn mà Hiệp hội các thư viện Đại học và thư viện nghiên cứu Mỹ (ACRL) đưa ra; 9 tiêu chuẩn về năng lực thông tin do Hiệp hội cán bộ thư viện trường học Mỹ ( AASL) và Hiệp hội Truyền thông
và công nghệ giáo dục Mỹ (AECT) xây dựng và phổ biến năm 2004 Ở Anh
có mô hình năng lực thông tin 7 trụ cột ( 7 Pillars Model for Information Literacy) do Hiệp hội thư viện đại học, quốc gia và cao đẳng Anh (SCONUL) phổ biến năm 2004 và ở một số nước khác như: Ausxtralia, New Zeland và ở Thái Lan, đã đề ra những tiêu chuẩn năng lực thông tin riêng để đào tạo cho sinh viên của mình Nhìn chung việc đào tạo và phát triển năng lực thông tin ngày càng được chú trọng và phát triển trên thế giới, nó không chỉ là công việc của cán bộ thư viện hay của các thư viện đại học Đây là công việc đòi hỏi phải có sự quan tâm đúng mực của các bộ, ngành, các nhà lãnh đạo có liên quan trực tiếp đến công tác giáo dục
Từ đầu những năm 2013 một số nghiên cứu định nghĩa lại kiến thức thông tin theo một cách hiểu mới đó là “năng lực thông tin” (NLTT), nội hàm khái niệm NLTT bao quát được những vấn đề cơ bản về thông tin và khả năng thông tin của người dùng tin trước sự bùng nổ thông tin trong xã hội hiện nay, tác giả thấy khái niệm này phù hợp nên tác giả lựa chọn khái niệm NLTT theo cách hiểu mới này
Hiện nay, nền giáo dục Việt Nam đang từng bước có những thay đổi phù hợp với yêu cầu phát triển, đáp ứng được yêu cầu dạy và học trong các trường đại học, như Nghị quyết Hội nghị lần thứ II, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã khẳng định “ Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục đào tạo bảo đảm điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh, nhất
là sinh viên đại học; phát triển mạnh mẽ phong trào tự học, tự đào tạo thường
Trang 133
xuyên và rộng khắp trong toàn dân, nhất là thanh niên”[2 ] Có nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, một sinh viên được trang bị kỹ năng và năng lực thông tin tốt sẽ đọc được nhiều hơn, biết tranh luận bằng cách sử dụng thông tin từ nhiều nguồn và ở nhiều góc độ khác nhau, biết sử dụng dẫn chứng để bảo vệ ý kiến của mình, có thể nối các ý tưởng, các khái niệm, biết phân tích và tổng hợp thông tin, có thể trích dẫn thông tin một cách thống nhất và chính xác, đánh giá được mức độ tin cậy và giá trị của thông tin, quản lý và tổ chức thông tin Chính vì vậy, trong môi trường đại học, sinh viên phải luôn biết biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo
Nhưng làm thế nào để biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo? Rất nhiều vấn đề được đặt ra, mà cốt lõi của nó chính là việc trang bị cho sinh viên và sinh viên cũng tự trang bị cho mình năng lực thông tin để nắm bắt tri thức Vấn đề này càng ý nghĩa và phù hợp cho hình thức đào tạo theo tín chỉ được Học viện an ninh thực hiện từ năm học 2012, với hình thức đào tạo này, đòi hỏi sinh viên phải chủ động hơn trong việc tự học, tự nghiên cứu, cho nên việc trang bị năng lực thông tin sẽ giúp sinh viên dễ dàng, chủ động trong việc tìm kiếm, nắm bắt những thông tin mà mình nghiên cứu
Học viện An ninh nhân dân là một trong những cơ sở đào tạo hàng đầu của lực lượng công an nhân dân, hàng năm có hàng ngàn sinh viên, chiến sĩ được tốt nghiệp và trở về công tác trong lực lượng công an nhân dân Hiện nay, Học viện An ninh nhân dân đào tạo cả ba cấp học: Cử nhân, Thạc sỹ, Tiến sỹ và nhiều loại hình đào tạo, bồi dưỡng khác cho toàn ngành Công an
và cán bộ của Bộ An ninh nước Cô ̣ng hòa dân chủ Nhân dân Lào, Bộ nội vụ Vương quốc Campuchia, các lớp hệ dân sự thuộc chuyên ngành công nghệ thông tin và ngành luật
Thực tiễn hoạt động phát triển năng lực thông tin cho sinh viên trong các trường đại học, cao đẳng ở Việt Nam nói chung và ở Học viện An ninh nhân
Trang 144
dân nói riêng còn kém, các cấp lãnh đạo chưa hiểu rõ được tầm quan trọng, chưa quan tâm đúng mức trong việc trang bị năng lực thông tin cho sinh viên Nhiều sinh viên vẫn còn bỡ ngỡ, mơ hồ trong việc tiếp cận nguồn tri thức mà mình cần, hay chưa rõ các loại hình, dịch vụ hoạt động của thư viện để khai thác và sử dụng hiệu quả nguồn lực thông tin Sinh viên Học viện ANND chưa trang bị cho mình các kỹ năng trong việc chủ động nhận dạng nhu cầu tin, tìm kiếm thông tin, đánh giá thông tin và hiểu biết về mă ̣t pháp lý khi sử dụng thông tin trong học tập và nghiên cứu khoa học Để đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng được yêu cầu công tác đòi hỏi Học viện ANND cần tập trung vào việc nâng cao chất lượng đào tạo trong đó phải trú trọng đến việc phát triển năng lực năng lực thông tin cho sinh viên, cán bộ, giáo viên Xuất phát từ vai trò, tầm quan trọng và yêu cầu thực tiễn trong việc phát triển năng lực thông tin cho hinh viên Học viện An ninh nhân dân, tác giả quyết
định lựa chọn nghiên cứu đề tài "Phát triển năng lực thông tin cho sinh viên Học viện An ninh nhân dân” làm luận văn tốt nghiệp của mình, đây là đề tài
cấp thiết, mang ý nghĩa quan trọng cả về phương diện lý luận và thực tiễn
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu vấn đề năng lực thông tin cho sinh viên và các vấn đề liên quan đã được nhiều tác giả, nhà nghiên cứu, các hội thảo khoa học ngành Thông tin – thư viện đưa ra qua một số công trình nghiên cứu:
Khái niệm “Kiến thức thông tin”, “Thông thạo thông tin” hay “Kỹ năng thông tin” Định nghĩa về thuật ngữ này được trình bày trong các tác phẩm
như: “ Kiến thức thông tin với giáo dục đại học” (Nghiêm Xuân Huy);
“Những tiêu chuẩn kiến thức thông tin trong giáo dục đại học Mỹ và các
chương trình đào tạo kĩ năng thông tin cho sinh viên tại Trung tâm Thông tin Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội” (Nguyễn Huy Chương, Nguyễn Thanh
Lý); “Thông thạo thông tin” (Nguyễn Hữu Viêm )… Các tác giả có những
Trang 155
cách dịch và định nghĩa khác nhau nhưng phần lớn các ý kiến đều thống nhất
nội hàm của thuật ngữ này được hiểu rằng: “năng lực thông tin là khả năng và
kỹ năng tìm kiếm, thu thập, đánh giá và sử dụng thông tin một cách hiệu quả, đúng nhu cầu và hợp pháp của mọi người trong mọi lĩnh vực của họ”
Bên cạnh sự tranh luận về mặt khái niệm thì việc bàn luận về sự cấp thiết phải phát triển năng lực thông tin cho cộng đồng người dùng tin nói chung, đặc biệt là sinh viên nói riêng là vấn đề cấp thiết trong bối cảnh đổi
mới giáo dục hiện nay và được đề cập trong các bài viết : “ Vai trò của kiến
thức thông tin trong giáo dục- đào tạo từ giác độ thư viện” của tác giả
Nguyễn Thị Việt Bắc (2006), “Tăng cường kiến thức thông tin cho sinh viên –
giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo trong các trường đại học” (Tô Thị
Hiền); “Kiến thức thông tin – lượng kiến thức cần thiết cho người dùng tin
trong hệ thống giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay” (Trần Thị Quý); “Đẩy mạnh công tác nghiên cứu và đào tạo kiến thức thông tin ở Việt Nam” (Lê
Văn Viết), “ Đổi mới công tác dào tạo kiến thức thông tin tại Đại học Thái
Nguyên” của tác giả Hà Tố Lâm, 2014
Trong hầu hết các tác phẩm này đều nêu bật vai trò và tầm quan trọng của năng lực thông tin trong thời đại ngày nay và sự cần thiết phải đẩy mạnh đào tạo năng lực thông tin ở các trường đại học Để phát triển năng lực thông tin cho sinh viên, đa phần các ý kiến đều cho rằng cần phải đáp ứng các yêu cầu sau: Đổi mới nội dung, phương pháp và chương trình đào tạo; Đưa năng lực thông tin thành môn học bắt buộc trong chương trình giảng dạy cho sinh viên; Thiết kế chương trình năng lực thông tin phù hợp đồng thời nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ giảng dạy về năng lực thông tin…
Theo hướng nghiên cứu của đề tài, ở trong nước đã có một số công trình nghiên cứu mang tính ứng dụng, điều tra nghiên cứu thực tiễn tại một số
các cơ quan thông tin - thư viện như; Luận án tiến sĩ, “ Phát triển kiến thức
Trang 166
thông tin cho sinh viên đại học ở Việt Nam” của tác giả Trương Đại Lượng
(2015), Luận văn thạc sỹ: “Phát triển kiến thức thông tin cho sinh viên
trường Đại học Hà Nội” của tác giả Nguyễn Thị Ngà, năm 2010 và đề tài:
“Phát triển kiến thức thông tin cho sinh viên tại trường Đại học Bách khoa
Hà Nội” của tác giả Nguyễn Ngọc Sơn (2011)
Các đề tài này đều tập trung nghiên cứu nội dung và vai trò của năng lực thông tin với giáo dục đại học; tiêu chuẩn của năng lực thông tin đối với sinh viên và các giải pháp nhằm phát triển năng lực thông tin cho sinh viên; trên
cơ sở đó xây dựng nội dung phát triển năng lực thông tin phù hợp với đặc điểm riêng của sinh viên mỗi trường Những giải pháp đó cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị và có thể áp dụng trong việc phát triển NLTT cho Sinh viên Học viện ANND Trên thực tế, NLTT đã trở thành môn học chính trong chương trình đào tạo của trường Đại học Hà Nội từ năm học 2012-2013 Các khía cạnh tiếp cận nghiên cứu liên quan đến đơn vị khảo sát là Trung tâm TTKH&TLGK đã có mô ̣t số đề tài nghiên cứu như:
Luận văn “Tăng cường hoạt động thông tin thư viện tại Trung tâm Thông
tin khoa học và tư liệu giáo khoa Học viện An ninh nhân dân” của tác giả
Hoàng Thị Dung, năm 2011
Luận văn thạc sĩ “Tổ chức và bảo quản vốn tài liệu tại Trung tâm Thông
tin khoa học và tư liệu giáo khoa – Học viện An ninh nhân dân” của tác giả
Nguyễn Minh Hoàng, năm 2013
Luận văn thạc sĩ “ Nguồn lực thông tin tại Trung tâm Thông tin khoa học
& tư liệu giáo khoa” của tác giả Vũ Thị Hiền Lương, năm 2015
Các luận văn này đã nghiên cứu được những vấn đề cơ bản về tình hình hoạt động của Trung tâm Thông tin khoa học và Tư liệu giáo khoa, thực trạng công tác tổ chức bảo quản vốn tài liệu tại trung tâm, những ưu điểm nhược điểm trong công tác tổ chức và đưa ra những giải pháp trong công tác bảo
Trang 177
quản tài liệu, các luận văn trên cũng nêu được thực trạng nguồn lực thông tin của Trung tâm và nhu cầu tin trong quá trình học tập của sinh viên Học viện ANND Trên góc độ nào đó, kết quả nghiên cứu của các đề tài này được sử dụng làm căn cứ cho việc phát triển năng lực thông tin phù hợp với sinh viên Học viện An ninh nhân dân
Tuy nhiên về góc độ đánh giá năng lực thông tin, các kỹ năng thông tin của sinh viên các tác giả chưa đề cập đến Hơn nữa, ở Học viện An ninh nhân dân chưa có một công trình nghiên cứu nào nghiên cứu chuyên sâu đến công tác phát triển năng lực thông tin cho sinh viên Vì vậy, việc tác giả lựa chọn
đề tài này làm luận văn tốt nghiệp là yêu cầu cấp thiết và không trùng lặp với các công trình khoa học nghiên cứu trước đó
Để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài, tác giả luận văn đã
kế thừa những thành quả nghiên cứu của các tác giả đi trước kết hợp những kinh nghiệm của bản thân để làm rõ thực trạng phát triển năng lực thông tin của sinh viên Học viện ANND , trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp phát triển NLTT cho sinh viên Học viện ANND
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu
Qua việc khảo sát thực tiễn trong quá trình công tác phát triển năng lực thông tin trong Học viện An ninh nhân dân, tác giả sẽ làm rõ thực tra ̣ng công tác phát triển năng lực thông tin , các khái niệm năng lực thông tin, các tiêu chuẩn đánh giá năng lực thông tin, những đánh giá, đánh giá khả năng năng lực thông tin của sinh viên Học viện An ninh nhân dân, từ đó xác định một số mặt còn hạn chế để đưa ra những giải pháp, đề xuất nhằm nâng cao năng lực thông tin cho sinh viên Học viện An ninh nhân dân
- Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài tập trung làm rõ những vấn đề sau:
Trang 188
- Nghiên cứu những cở sở lý luận về năng lực thông tin
- Nghiên cứu nội dung năng lực thông tin, các tiêu chuẩn năng lực thông tin và một số khái niệm liên quan
- Khảo sát thực trạng nhu cầu về năng lực thông tin của sinh viên Học viện ANND
- Đƣa ra những giải pháp và đề xuất nhằm nâng cao hiểu biết về năng lực thông tin cho sinh viên
4 Giả thuyết nghiên cứu
Hiện nay, công tác phát triển năng lực thông tin ở Học viện ANND vẫn còn yếu, chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu học và tự học theo hình thức đào tạo theo tín chỉ, chƣa có sự quan tâm đúng mức của các cấp lãnh đạo đối với vấn
đề này Nhiều sinh viên vẫn còn mơ hồ trong việc tiếp cận và khai thác thông tin, hay các em chƣa đƣợc trang bị đầy đủ những kỹ năng để đáp ứng nhu cầu tin cho bản thân Những hạn chế này do những yếu tố chủ quan và khách quan gây ra, nếu nhƣ có sự nhìn nhận đúng về tầm quan trọng trong việc phát triển năng lực thông tin, hoàn thiện hệ thống cơ sở vật chất, trang thiết bị cho việc dạy và học thì việc phát triển năng lực thông tin sẽ đƣợc đảm bảo và hiệu quả hơn
5 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài tập trung nghiên cứu công tác phát triển năng lực thông tin cho sinh viên Học viện an ninh nhân dân
Trang 199
+ Phạm vi thời gian: Công tác phát triển năng lực thông tin cho sinh viên Học viện ANND từ năm 2012 đến nay (Từ năm 2012 Học viện An ninh nhân dân bắt đầu áp dụng hình thức đào tạo theo tín chỉ)
6 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh; các quan điểm của Đảng, Nhà nước, các chỉ thị, nghị quyết của các bộ, ngành về công tác giáo dục- đào tạo và công tác thư viện
- Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu hiệu quả đề tài luận văn tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây:
+ Phương pháp tổng hợp, phân tích nghiên cứu tài liệu
+ Phương pháp điều tra qua bảng hỏi, (đối với đối tượng là sinh viên hệ chính quy được áp dụng hình thức đào tạo theo tín chỉ)
+ Phương pháp tổng kết thực tiễn công tác
Trang 2010
- Ý nghĩa về mặt thực tiễn
Qua việc nghiên cứu, luận văn đưa ra một số kiến nghị, đề xuất giải pháp đối với công tác phát triển năng lực thông tin tại Học viện ANND Qua đó ứng dụng một số phương pháp dạy và học mới nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác giáo dục của Học viện An ninh nhân dân
8 Dự kiến kết quả nghiên cứu
- Đề tài sẽ phản ánh được thực trạng công tác phát triển năng lực thông tin tại Học viện An ninh nhân dân
- Luận văn sẽ đưa ra một số giải pháp và đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả công tác phát triển năng lực thông tin và thỏa mãn nhu cầu tin cho sinh viên Học viện An ninh nhân dân
9 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo luận văn gồm 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về năng lực thông tin cho sinh viên
Học viện An ninh nhân dân
Chương 2: Thực trạng phát triển năng lực thông tin của sinh viên Học
viện An ninh nhân dân
Chương 3: Một số giải pháp nhằm phát triển năng lực thông tin cho sinh
viên Học viện An ninh nhân dân
Trang 2111
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC THÔNG TIN CHO SINH VIÊN HỌC VIỆN AN NINH NHÂN DÂN
1.1 Những lý luận chung về năng lực thông tin
1.1.1 Khái niệm phát triển năng lực thông tin
* Khái niệm “phát triển”
Trong phép biện chứng duy vật, Ph Ăngghen đã chỉ ra rằng: “Phát triển
dùng để khái quát quá trình vận động đi lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn” Quá trình đó vừa diễn ra
dần dần, vừa nhảy vọt làm cho sự vật, hiện tượng mới về chất ra đời Phát triển là sự tự thân Động lực của sự phát triển là mâu thuẫn giữa các mặt đối lập bên trong sự vật, hiện tượng, phát triển đi theo đường “xoáy ốc”, cái mới dường như lặp lại một số đặc trưng, đặc tính của cái cũ nhưng trên cơ sở cao hơn; thể hiện tính quanh co phức tạp, có thể có những bước thụt lùi tương đối trong sự phát triển
Phát triển là một trường hợp đặc biệt của vận động Trong quá trình phát triển, sự vật, hiện tượng chuyển hóa sang chất mới, cao hơn, phức tạp hơn; làm cho cơ cấu, tổ chức, phương thức vận động và chức năng của sự vật ngày càng hoàn thiện hơn Phát triển có tính khách quan, phổ biến, đa dạng Từ nguyên lý của sự phát triển, con người rút ra được những quan điểm, nguyên tắc chỉ đạo hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn
* Khái niệm năng lực thông tin
Sự bùng nổ thông tin từ những năm 60 của thế kỷ XX, đã đặt nền tảng cho sự ra đời của xã hội thông tin Xã hội thông tin đã mang lại những thay đổi lớn về phương thức sinh hoạt và những khả năng mới cho con người Để thích nghi với một xã hội luôn luôn biến động đó, con người cần phải có kiến
Trang 22Thứ nhất: NLTT được nhận diện là những kỹ năng và thái độ riêng biệt
có thể học và đo lường được
Thứ hai: NLTT được nhận diện thông qua cách mà một cá nhân trải
nghiệm với thông tin và gắn kết nó với thế giới riêng của họ, hay nói cách khác gắn kết nó với yêu cầu của họ trong cuộc sống
Quan điểm thứ nhất nhấn mạnh đến cách tiếp cận dựa trên những kỹ năng Quan điểm thứ hai dựa vào cách tiếp cận có chủ đích đối với NLTT Cách tiếp cận thông tin dựa trên các kỹ năng của người dùng tin: Nhiều tác giả thừa nhận NLTT như là một tập hợp các kỹ năng và thái độ Quan điểm này được thể hiện trong những định nghĩa dưới đây
Khái niệm NLTT được giới thiệu lần đầu vào năm 1974 bởi Paul Zurkowski – Chủ tịch Hiệp hội Công nghiệp thông tin Mỹ (US Information Industry Association) Theo Zurkowski, người có NLTT là người được huấn
Trang 2313
luyện trong việc áp dụng các nguồn tin vào công việc của họ Họ học tập phương pháp và kỹ năng sử dụng các công cụ thông tin, cũng như các nguồn tin chính thống nhằm hình thành các giải pháp để giải quyết các mu ̣c đích của
họ [26] Trong cách giải thích này, Zurkowski đã xem NLTT như là các phương pháp và kỹ năng đồng thời nhìn nhận NLTT trong mối liên hệ với môi trường công việc, học tập và chia sẻ thông tin với nhau
Đến năm 1984, khái niệm NLTT được định nghĩa lại bởi Kuhlthau, nhưng tác giả đã nhìn nhận lại NLTT trong mối quan hệ với công nghệ thông tin khi cho rằng NLTT bao gồm việc nhận ra nhu cầu tin và tìm kiếm thông tin cần thiết trong đời sống hàng ngày Nó cũng bao gồm việc nhận ra nhu cầu tin và tìm kiếm thông tin để đưa ra những quyết định có ích cho nhu cầu tin của mình NLTT đòi hỏi khả năng có thể quản lý một khối lượng thông tin phức tạp được tạo ra bởi máy tính và các phương tiện truyền thông đại chúng Khả năng học tập suốt đời của mỗi người có thể bị thay đổi bởi sự phát triển của xã hội và khoa học kỹ thuật, đòi hỏi mỗi người phải trang bị cho mình những kỹ năng và tri thức mới [31]
Một trong những định nghĩa về NLTT được sử dụng phổ biến nhất hiện nay là từ Hiệp hội Thư viện Mỹ ( American Libarary Association – ALA) Tổ
chức này cho rằng NLTT là một tập hợp các khả năng đòi hỏi các cá nhân
nhận ra khi nào cần thông tin và có khả năng để định, đánh giá và sử dụng thông tin cần thiết một cách hiệu quả [27] ALA cũng nhấn mạnh rằng, người
có NLTT là người học cách để học, họ là người chuẩn bị cho việc học tập suốt đời, bởi vì họ có thể luôn luôn tìm thấy thông tin cần thiết cho bất cứ nhiệm vụ hay quyết định nào Quá trình này chỉ ra thực tiễn của việc tìm kiếm, lựa chọn và đánh giá thông tin, cũng như cho phép người sử dụng tạo ra những ý tưởng mới để chuyển giao thông tin cho người khác bằng cách sử dụng các phương tiện và công nghệ khác nhau Định nghĩa này cũng nhìn
Trang 24có NLTT như sau:
Khả năng nhận biết nhu cầu tin, nhận diện được nguồn tin sẵn có, biết cách tìm tin, khả năng đánh giá kết quả, biết cách làm việc hay khai thác kết quả, hiểu được những vấn đề liên quan đến đạo đức và trách nhiệm của việc
sử dụng tin, biết cách truyền tải hay chia sẻ kế quả; biết cách quản lý kết quả [28]
Một trong những định nghĩa được biết đến nhiều nhất, được giới thiệu vào năm 2011 bởi Hiệp hội Thư viện các trường đại học quốc gia và cao đẳng (Society of College, National and University Libraries – SCONUL) cơ quan
này cho rằng, người có NLTT cần chứng minh rằng, họ nhận thức được cách
để tập hợp, sử dụng, quản lý, tổng hợp,tạo ra thông tin và dữ liệu một cách có đạo đức và sẽ có những kỹ năng để làm điều đó một cách hiệu quả [32]
Trang 2515
Hiện nay, rất nhiều nhà nghiên cứu và tổ chức đang xem xét lại và cập nhật về định nghĩa NLTT để làm cho chúng phù hợp với sự thay đổi của môi trường thông tin và công nghệ, trong đó Hiệp Hội Thư viện nghiên cứu và đại học Mỹ (Association of College & Research Libraries – ACRL) là một ví dụ điển hình ACRL đã giới thiệu một khái niệm và một mô hình mới được biết đến như là khung NLTT dành cho giáo dục đại học ( Framework for information literacy for higher education) ACRL định nghĩa NLTT là tổng hợp của sự hiểu biết , thực tiễn và khuynh hướng tập trung vào sự gắn kết linh động với hệ sinh thái thông tin, được củng cố bởi sự tự phản ánh mang tính phản biện Sự tổng hợp trên bao gồm tìm, đánh giá, làm sáng tỏ, quản lý và sử dụng thông tin để trả lời các câu hỏi và phát triển câu hỏi mới Tạo ra những tri thức mới thông qua sự hợp tác mang yếu tố đạo đức trong các cộng đồng học tập, học tập và thực tiễn [25] Định nghĩa trên chứng tỏ rằng ACRL đá nhấn mạnh đến yếu tố tự phản ánh và nhìn nhận sự phát triển của NLTT trong mối quan hệ với cộng đồng
Ngày nay, NLTT gắn kết chặt chẽ với thực tiễn thông tin và tư duy phản biện trong môi trường công nghệ thông tin và truyền thông Trở thành người
có tư duy phản biện đồng nghĩa với việc các cá nhân phải có tư duy tự đối chiếu khi tương tác với thông tin trong bối cảnh thông tin của chính mình để tìm ra câu trả lời phù hợp nhất cho câu hỏi của mình
Nhiều tác giả lại xem xét NLTT trong mối liên hệ với thực tiễn thông tin Virkus cho rằng NLTT đã chuyển từ cách tiếp cận dựa trên kỹ năng sang một cách hiểu rộng hơn và có tính liên kết với thực tiễn thông tin [36] Khi xem xét phương thức,con người kết nối với bối cảnh thông tin để hình thành nên thực tiễn thông tin của chính họ, Lloyd nhận định rằng, NLTT là một thực tiễn mang tính xã hội [29] Thay vì nhận diện NLTT như là một tập hợp các
Trang 2616
kỹ năng, quan điểm này nhìn nhận NLTT trong mối quan hệ với bối cảnh thông tin nơi có ảnh hưởng mạnh mẽ lên cách con người hiểu thông tin
Các nhà nghiên cứu đã cố gắng làm mới khái niệm NLTT và thuật ngữ
“Metaliteracy” (được hiểu là siêu kiến thức) và “ Transliteracy” (tạm hiểu là chuyển đổi kiến thức) ra đời để nâng cao khái niệm NLTT Cụ thể, khái niệm chuyển đối kiến thức được được định nghĩa là năng lực đọc, viết và tương tác thông qua một loạt hệ thống, công cụ, phương tiện truyền thông, sử dụng các
ký hiệu và lời nói đến viết tay, in ấn, vô tuyến truyền hình, phim đến mạng xã hội Trong khi đó, siêu kiến thức được xem là khung khái niệm dành cho NLTT, để giảm bớt sự khác biệt về mặt lý thuyết, xây dựng mối liên kết thực tiễn và tăng cường những mục tiêu học tập suốt đời được xem là then chốt giữa những loại kiến thức khác nhau Theo Mackey và Jacobson, siêu kiến thức không thừa nhận cách tiếp cận dựa trên những kỹ năng đối với NLTT bằng nhận diện những loại kiến thức có liên quan và kết hợp chặt chẽ với các công nghệ hiện nay Các định nghĩa về tiêu chuẩn NLTT thì không còn phù hợp với cuộc cách mạng công nghệ xã hội, cùng công nghệ trực tuyến ngày càng phổ biến Jacobson và Mackey cũng chỉ ra rằng, khái niệm truyền thống
về NLTT nên được mở rộng thay vì chỉ tập trung vào các kỹ năng rời rạc [30]
Từ những khái niệm của các nhà nghiên cứu trên đây, tác giả đã tổng
hợp, định nghĩa về năng lực thông tin như sau; “ Năng lực thông tin là kết quả
của quá trình vận động, sáng tạo có nhận thức trong việc tìm kiếm nguồn thông tin, tri thức, phục vụ cho nhu cầu và mục đích của bản thân, hay nói cách khác năng lực thông tin chính là kết quả của nhận thức và khả năng của mỗi con người khi có nhu cầu tin”
Trang 2717
1.1.2 Tiêu chí đánh giá năng lực thông tin
Theo quan điểm của UNESCO, người có năng lực thông tin là người
có 12 khả năng dựa trên cơ sở ba yếu tố cấu thành là: Truy cập và tìm kiếm, Hiểu biết và đánh giá, sáng tạo và sử dụng [21]
+ Xác định và trình bày được bản chất, vai trò và phạm vi của thông tin trong những nguồn khác nhau
+ Tìm và xác định được thông tin mình cần đến
+ Đánh giá, truy cập được thông tin một cách có hiệu quả, hợp đạo
lý như là nhà cung cấp thông tin
+ Tìm và lưu giữ tạm thời được thông tin bằng nhiều phương pháp
và công cụ khác nhau
+ Hiểu được sự cần thiết của thông tin cho bản thân và xã hội
+ Đánh giá, phân tích, so sánh, trình bày và áp dụng những tiêu chuẩn thiết yếu để xác định được giá trị của thông tin tìm được và các nguồn chứa thông tin đó, cũng như xác định được vị trí, giá trị của nhà cung cấp thông tin đó trong xã hội
+ Đánh giá và xác thực được các thông tin thu thập được và các nguồn tin tương ứng
+ Tổng hợp và tổ chức được các thông tin đã thu thập được
+ Tạo ra những thông tin mới, tri thức mới với những mục đích khác nhau, theo cách thức đổi mới, hợp đạo đức và sáng tạo
+ Trao đổi, phổ biến được thông tin, tri thức theo cách có đạo đức, hợp pháp và có hiệu quả, sử dụng các kênh và các công cụ thích hợp + Cùng nhà cung cấp thông tin truyền bá các yếu tố đạo đức, pháp luật đối với việc sử dụng thông tin đối với các cộng đồng khác nhau trong xã hội
Trang 28* Khả năng nhận biết nhu cầu thông tin
Người có khả năng nhận biết nhu cầu thông tin của chính mình là người biết:
Xác định, định vị và liên kết nhu cầu thông tin: tìm hiểu các nguồn thông tin cơ bản phù hợp với chủ đề cần nghiên cứu; nhận dạng các từ khoá và thuật ngữ cốt lõi; xác định hoặc sửa đổi nhu cầu thông tin của vấn đề; hỏi ý kiến của những người xung quanh để hiểu rõ chủ đề nghiên cứu hay nhu cầu thông tin khác
Hiểu được tính chất , phạm vi và loa ̣i hình của các nguồn thông tin khác nhau: hiểu được cách tổ chức thông tin, phổ biến và sự phù hợp với nội dung chủ đề nghiên cứu; hiểu được sự khác nhau giữa các giá trị, các nguồn thông tin tiềm năng; hiểu được sự khác nhau giữa nguồn thông tin cấp một và nguồn thông tin cấp hai, hiểu cách sử dụng chúng một cách khoa học với mỗi chủ đề Biết đánh giá lại bản chất của nhu cầu thông tin: xem lại nhu cầu thông tin ban đầu nhằm làm rõ hơn, xem xét lại hoặc thu gọn câu hỏi tìm kiếm; liên kết và sử dụng các tiêu chuẩn để tạo ra các lựa chọn, tạo ra các quyết định thông tin
Sử dụng các nguồn thông tin để ra quyết định: hiểu được các nguồn thông tin khác nhau sẽ biểu hiện dưới những dạng khác nhau; sử dụng các
Trang 2919
nguồn thông tin một cách có hệ thống để hiểu các vấn đề cần nghiên cứu; sử dụng thông tin cho việc ra quyết định và giải quyết vấn đề
* Khả năng tìm kiếm thông tin
Lựa chọn phương pháp hoặc công cụ phù hợp nhất để tìm kiếm thông tin: xác định phương pháp nghiên cứu phù hợp; hiểu được những thuận lợi và khả năng áp dụng của các phương pháp nghiên cứu khác nhau; xác định được mục tiêu, nội dung và cấu trúc của các công cụ truy cập thông tin; tham khảo thủ thư và các chuyên gia thông tin để xác định các công cụ tìm kiếm
Xây dựng và thực hiện các chiến lược tìm kiếm hiệu quả: phát triển kế hoạch tìm kiếm phù hợp với phương pháp nghiên cứu; xác định chính xác từ khoá, từ đồng nghĩa và các thuật ngữ liên quan đến nhu cầu thông tin; xây dựng và thực hiện một chiến lược tìm kiếm sử dụng câu lệnh phù hợp; thực hiện tìm kiếm sử dụng các phương pháp nghiên cứu phù hợp với chủ đề, môn học
Sử dụng các phương pháp phù hợp để tìm kiếm thông tin : sử dụng các công cụ truy cập thông tin phù hợp để truy cập thông tin dưới nhiều dạng khác nhau; sử dụng dịch vụ thông tin phù hợp để tiếp cận nhu cầu thông tin như cung cấp tài liệu, phổ biến tin….; sử dụng các điều tra, thư, phỏng vấn và các hình thức thẩm định khác để truy cập tới nguồn thông tin cấp một (thông tin gốc)
Cập nhật các nguồn thông tin, công nghệ thông tin, các công cụ truy cập thông tin và các phương pháp nghiên cứu: Duy trì kiến thức về vai trò của thông tin và công nghệ truyền thông; Tạo được thói quen đọc lướt các nguồn tin in ấn và điện tử
* Khả năng đánh giá thông tin
Đánh giá các nguồn thông tin hữu ích và có liên quan: Đánh giá chất lượng và sự phù hợp của kết quả tìm kiếm và sử dụng công cụ tìm kiếm thông
Trang 3020
minh hoặc phương pháp phù hợp; Nhận dạng và xác định lỗ hổng thông tin
và thay đổi chiến lược tìm kiếm; Thực hiện tìm kiếm lại, sử dụng chiến lược tìm kiếm mới nếu cần thiết
Xác định và đánh giá các chuẩn đánh giá thông tin: Đánh giá và so sánh thông tin từ các nguồn khác nhau theo phương diện: mức độ phù hợp, giá trị pháp lý, độ chính xác, bản quyền, mức độ cập nhật…
Xem xét đến quá trình tìm kiếm thông tin và thay đổi chiến lược tìm kiếm nếu cần thiết
* Khả năng quản lý thông tin thu thập được và thông tin phát sinh
Ghi chép lại thông tin và nguồn của thông tin đó: Quản lý nội dung cơ bản của thông tin như: gạch đầu dòng, bản nháp hoặc bảng ghi nhớ; Trích dẫn nguồn thông tin và quản lý các nguồn thông tin tìm được một cách có hệ thống; Ghi lại toàn bộ thông tin phù hợp nhằm phục vụ mục đích tra cứu, tham khảo về sau
Tổ chức thông tin (sắp xếp, phân loại, lưu trữ…), biên soạn, sưu tập tài liệu tham khảo theo dạng thư mục; Xây dựng hệ thống quản lý, tổ chức thông tin tìm được bằng các phần mềm như: Endnote, …
* Hiểu biết về pháp lý và đạo đức trong sử dụng và trao đổi thông tin
Biết so sánh và tiếp cận các nguồn kiến thức cũ nhằm xác định giá trị còn lại, các mâu thuẫn hay những đặc điểm khác lạ của thông tin
Có kỹ năng phổ biến, chia sẻ thông tin, tri thức và sáng tạo tri thức mới một cách hiệu quả
Nắm bắt được các khía cạnh kinh tế, pháp luật, chính trị, văn hoá, an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội trong việc sử dụng thông tin
Hiểu biết văn hóa, tôn giáo và các vấn đề kinh tế xã hội liên quan đến việc truy cập và sử dụng thông tin: Nhận dạng được và có khả năng liên kết các vấn đề liên quan đến bản quyền và bảo mật trong môi trường thông tin
Trang 3121
dưới dạng in ấn và điện tử; Nhận dạng và hiểu được các vấn đề liên quan đến việc kiểm duyệt và tự do ngôn luận ; Hiểu và tôn trọng sự riêng biệt , sự đa dạng về văn hóa trong việc sử dụng thông tin
Công nhận những quy ước, quy định liên quan tới việc truy cập và sử dụng thông tin: Hiểu được thế nào là đạo văn và biết cách trích dẫn kiến thức,
ý tưởng của người khác
Vấn đề pháp luật trong việc lưu trữ, phổ biến nguyên bản, hình ảnh, âm thanh: Chấp nhận quyền truy cập thông tin của mọi người dùng tin và không phá hoại các nguồn thông tin hoặc làm “ô nhiễm” môi trường thông tin; Thu thập, lưu trữ và phổ biến thông tin, dữ liệu, hình ảnh hay âm thanh trong giới hạn của pháp luật cho phép; Hiểu được và chấp hành các quy ước trong việc
sở hữu, bản quyền và sử dụng tài liệu có bản quyền
1.1.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến công tác phát triển năng lực thông tin
Phát triển NLTT cho sinh viên hiệu quả không chỉ phụ thuộc vào điều kiện cơ sở vật chất,sản phẩm và dịch vụ, nguồn lực thông tin của mỗi cơ quan TT-TV mà nó còn bị ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố khác nhau
* Văn hóa nhà trường
Văn hóa nhà trường là một tập hợp các chuẩn mực, các giá trị, niềm tin
và hành vi ứng xử… đặc trưng của một trường học, tạo nên sự khác biệt với các tổ chức khác Văn hóa nhà trường liên quan đến toàn bộ đời sống vật chất, tinh thần của một nhà trường Nó biểu hiện trước hết trong tầm nhìn, sứ mạng, triết lý, mục tiêu, các giá trị, phong cách lãnh đạo, quản lý… văn hóa nhà trường thể hiện thông qua các chuẩn mực, các giá trị, niềm tin, ứng xử… được xem là tốt đẹp và được mỗi người trong nhà trường chấp nhận
Với ý nghĩa đó, xây dựng văn hóa nhà trường có vai trò hết sức quan trọng, là một trong những yếu tố quyết định đến sự phát triển của nhà trường
Trang 3222
Xây dựng văn hóa nhà trường là một nhiệm vụ phải đặt lên hàng đầu và được thể hiện thông qua một số nội dung như: Xây dựng tầm nhìn, xứ mệnh và phương châm hành động của nhà trường, xây dựng môi trường sư phạm, học tập lành mạnh, tập thể đoàn kết; xây dựng môi trường học thuật và tác phong làm việc khoa học; Tổ chức cho cán bộ, giảng viên nhân viên tham gia học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, lý luận chính trị và tham gia các hoạt động xã hội, xây dựng không gian cảnh quan nhà trường Một khi văn hóa nhà trường đã ổn định nó sẽ ảnh hưởng đến việc ra các quyết định về quản lý, thiết kế chương trình đào tạo, tuyển dụng và duy trì cán bộ, giảng viên, các mối quan hệ với các thành viên của cộng đồng
Phát triển NLTT cho sinh viên phụ thuộc nhiều vào văn hóa nhà trường bởi lẽ phát triển NLTT cho sinh viên có liên quan đến sứ mệnh, tầm nhìn, các quyết định, chương trình đào tạo, nguồn nhân lực của mỗi nhà trường Vì vậy các thư viện đại học cần cố gắng áp dụng các quan điểm văn hóa để phần tích
cơ hội phát triển NLTT cho sinh viên trong trường đại học vốn rất phức tạp bởi sự chồng chéo, giao nhau của các nhu cầu văn hóa được các thành viên thực hiện bắt nguồn từ văn hóa của tổ chức, văn hóa của các lĩnh vực khoa học và văn hóa của cộng đồng của các nhà chuyên môn
Văn hóa nhà trường còn là nơi tâ ̣p hợp c ác chuẩn mực, giá trị, phương thức, niềm tin được hình thành trong cộng đồng trường đại học sẽ hướng dẫn hành vi của các cá nhân và tổ chức Cụ thể nếu trường đại học có chính sách xây dựng môi trường học thuật, khuyến khích giảng viên và sinh viên nghiên cứu khoa học, hạn chế và đẩy lùi các tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục thì nhu cầu sử dụng thông tin khoa học cũng như nhu nhu cầu nâng cao trình độ NLTT của cán bộ, giảng viên và sinh viên trường đó sẽ không ngừng phát triển
Trang 3323
Văn hóa nhà trường còn thể hiện ở khía cạnh tôn trọng pháp luật và đạo đức trong nghiên cứu khoa học của giảng viên của giảng viên và sinh viên Ở Việt Nam cũng như các nước trên thế giới không hiếm trường hợp các nhà khoa học, giảng viên, sinh viên đạo văn trong nghiên cứu Đạo văn dẫn đến hậu quả là ngày càng ít người nghiên cứu thực sự Một khi người làm nghiên cứu sao chép của người khác họ sẽ không có hoặc giảm bớt nhu cầu sử dụng thông tin khoa học, nhu cầu sử dụng thư viện và cũng không có nhu cầu nâng cao trình độ NLTT Nếu trong trường đại học, sinh viên và nghiên cứu sinh chép luận văn, luận án của người khác mà nhà trường không có biện pháp ngăn chặn, xử lý thích đáng những vi phạm thì hiện tượng này sẽ lan rộng và khi đó công tác phát triển NLTT cho sinh viên sẽ không thu được kết quả
Văn hóa nhà trường ảnh hưởng tới vai trò của cán bộ thư viện với tư các là người giảng dạy NLTT cho sinh viên Điều đáng chú ý là ngay trong cả cộng đồng những người làm công tác thư viện cũng không nhất quán về vai trò của người cán bộ thư viện như là giáo viên Cuộc tranh luận đang diễn ra trong văn hóa chuyên môn của chính cán bộ thư viện có thể ảnh hưởng đến công tác phát triển NLTT cho sinh viên đại học Trong một số trường hợp văn hóa trường đại học nhấn mạnh đến vai trò của thư viện trong việc hỗ trợ sinh viên học tập và nghiên cứu khoa học, nó không chắc rằng thư viện sẽ thực hiện thành công các sáng kiến về NLTT cho sinh viên nếu văn hóa của thư viện đại học xem cán bộ thư viện như người xây dựng bộ sưu tập chứ không phải là giáo viên – người phối hợp giảng NLTT cho sinh viên Chương trình giảng dạy NLTT tồn tại trong một mạng lưới phức tạp của văn hóa trong nhà trường Để thúc đẩy sự thành công chương trình phát triển NLTT cho sinh viên, điều quan trọng là hiểu được khía cạnh văn hóa đặc thù của mỗi trường đại học Hiểu biết sâu sắc mọi khía cạnh văn hóa trong khuôn viên trường là quan trọng đối với các nhà quản lý thư viện để sẵn sàng áp dụng quan điểm
Trang 3424
văn hóa cho công việc của mình như là một phần của bất kỳ sáng kiến NLTT cho sinh viên
* Động cơ của sinh viên
Khái niệm động cơ thực sự rất khó để định nghĩa một cách chính xác và đầy đủ Theo Gardner động cơ bao gồm bốn khía cạnh: đó là mục tiêu, sự nỗ lực, sự mong muốn đạt được mục tiêu đó và thái độ tích cực đối với hoạt động đang nói tới [35] Như vậy động cơ quan trọng vì nó quyết định mức độ tham gia và thái độ tích cực của sinh viên đối với việc học
Động cơ học tập là “một động lực thúc đẩy sinh viên học tập, trên cơ sở nhu cầu hoàn thiện tri thức, mong muốn nắm vững tiến tới làm chủ tri thức
mà mình được học tập, làm chủ nghề nghiệp đang theo đuổi” Động cơ học tập là một thành phần quan trọng trong hoạt động học tập của sinh viên Nó quyết định đến mục đích và thúc đẩy việc học tập của sinh viên
Kết quả từ một nghiên cứu của PGS.TS Nguyễn Công Khanh, trường Đại học Sư phạm Hà Nội cho thấy có một tỷ lệ cao sinh viên (54,5%) không hứng thú trong các bài giảng Vấn đề đặt ra đâu là nguyên nhân chán học của sinh viên? Trong các nguyên nhân khác nhau thì có việc sinh viên chưa xác định được đúng đắn các mục tiêu làm động cơ tự thân cho việc học của mình
Vì vậy, các nhà giáo trước khi dạy tri thức, rèn luyện kỹ năng, phải dạy cho người học biết rằng; Học tập là mục tiêu tự thân Chỉ khi nào sinh viên xác định được hay nhà trường giúp các sinh viên xác định được những mục tiêu học tập đúng đắn cho chính họ làm động cơ tự thân thì họ mới tích cực nỗ lực học tập Vậy mục tiêu phát triển NLTT mà giảng viên và cán bộ thư viện cần
hướng cho sinh viên là gì để thu hút được họ nhiệt tình học tập? Do đó tài liệu
thư viện cung cấp phải liên quan đến sinh viên, nội dung chương trình phát triển NLTT phải gắn liền với các môn học của sinh viên, liên quan mật thiết tới nhu cầu học tập của sinh viên Mục tiêu của sinh viên trong thời gian học
Trang 3525
tập là học tập đạt kết quả cao thông qua chương trình đào tạo của trường Điều quan trọng và đương nhiên là phải thiết kế chương trình NLTT như một phần của chương trình giảng dạy trong nhà trường NLTT cần được tích hợp vào các môn học để ràng buộc và khuyến khích sinh viên có động cơ học tập hơn là một lựa chọn
* Trình độ cán bộ thư viện
Cán bộ thư viện là người có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển NLTT cho sinh viên, nó ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình học tập và nghiên cứu của sinh viên Nhưng muốn phát triển NLTT cho sinh viên trước hết cán bộ tham gia thiết kế chương trình và triển khai đào tạo phải được trang bị tốt về NLTT Điều này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình phát triển NLTT trong trường đại học Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng cán bộ thư viện sẽ
là người đóng vai trò quan trọng trong việc phối hợp với giảng viên, các khoa chuyên ngành, là người khởi xướng, xây dựng chính sách, chương trình phát triển NLTT cho sinh viên
Trình độ cán bộ thư viện thể hiện ở nhiều bình diện khác nhau như: kinh nghiệm giảng dạy, trình độ chuyên môn (ngành khoa học thư viện), trình
độ ngoại ngữ, tin học,kỹ năng giao tiếp và kiến thức về các ngành đào tạo của trường đại học mà mình đang công tác Đối với người giảng dạy NLTT hiệu quả cho sinh viên nếu thiếu các loại trình độ trên sẽ không thể đảm bảo giảng dạy NLTT cho sinh viên một cách hiệu quả nhất Trình độ về khoa học thư viện thông tin sẽ giúp cán bộ thư viện nắm được cách thức tổ chức và khai thác thông tin, kỹ năng đánh giá thông tin và nguồn tin, trình độ về tin học sẽ giúp cán bộ thư viện khai thác mạng và sử dụng các thiết bị tin học, phần mềm ứng dụng trong lưu trữ và khai thác thông tin hiệu quả; kiến thức về ngoại ngữ đặc biệt là tiếng Anh sẽ giúp họ nắm bắt được nhiều nguồn thông tin giá trị trên thế giới; trình độ NLTT giúp họ nắm được các kỹ năng giải
Trang 3626
quyết các vấn đề, kỹ năng tư duy độc lập, các vấn đề đạo đức, xã hội có liên quan đến sử dụng thông tin; kỹ năng giao tiếp giúp cán bộ thư viện trong giảng dạy và truyền đạt nội dung NLTT cho sinh viên
* Sự phối hợp giữa cán bộ thư viện với giảng viên
Gần đây các nghiên cứu về phát triển NLTT cho sinh viên đại học đều khẳng định rằng lồng ghép NLTT cho chương trình giảng dạy đại học là con đường tốt nhất để trang bị NLTT cho sinh viên [8] Để tích hợp NLTT vào chương trình đào tạo thành công cần có sự phối hợp giữa cán bộ thư viện và giảng viên trong việc thiết kế chương trình giảng dạy, phương pháp kiểm tra đánh giá kết quả đầu ra của sinh viên, cung cấp học liệu cho quá trình dạy học
và nghiên cứu, hướng dẫn giảng viên và sinh viên các nguồn thông tin liên quan đến môn học Song để cán bộ thư viện và giảng viên làm việc được với nhau cần đến văn hóa phối hợp, hợp tác trong môi trường đại học Ngoài kiến thức về thư viện, cán bộ thư viện cần có kiến thức về chuyên ngành mà giảng viên đang đảm nhiệm Kiến thức về chuyên ngành là cầu nối giúp giảng viên
và cán bộ thư viện có thể làm việc cùng nhau, giúp cán bộ thư viện nắm được nhu cầu thông tin của thầy và trò, từ đó giới thiệu cho họ những nguồn thông tin phù hợp nhất Đây chính là điểm yếu của nhiều cán bộ thư viện đại học ở Việt Nam vì họ chỉ được đào tạo về chuyên ngành thông tin – thư viện
1.2 Khái quát Học viện An ninh nhân dân và Trung tâm Thông tin khoa học và Tư liệu giáo khoa
1.2.1 Khái quát về Học viện An ninh nhân dân
* Lịch sử hình thành và phát triển
Học viện An ninh nhân dân (ANND) ngày nay tiền thân là trường Huấn luyện Công an được thành lập ngày 25/06/1946 trước yêu cầu đào tạo và bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ Công an làm nhiệm vụ bảo vệ chính quyền và thành quả cách mạng Việt Nam sau khi giành được chính quyền Đó là cái nôi
Trang 3727
đầu tiên đào tạo ra những cán bộ , chuyên gia về an ninh ở tầm chiến lược , chiến thuật và nghiên cứu , phục vụ cho công cuô ̣c bảo vê ̣ An ninh Quốc gia , giữ gìn trâ ̣t tự an toàn xã hô ̣i
Lịch sử Học viện ANND trải qua nhiều giai đoạn với những tên gọi khác nhau như: Trường Huấn luyện Công an (1946-1949); Trường Công an Trung cấp (1949-1953), Trường Công an Trung ương (1953-1974), Trường sĩ quan
An ninh (1974-1981), Trường Đại học An ninh nhân dân (1981- 2001) và Học viện An ninh nhân dân từ năm 2001 đến nay
Trong quá trình xây dựng và phát triển, Học viện đã vinh dự được Đảng, Nhà nước phong tặng nhiều phần thưởng, huân chương, huy chương, danh hiệu cao quý Trong đó có Huân chương Độc lập, Huân chương Hồ Chí Minh lần thứ 2 và danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân” thời kỳ đổi mới lần 2 Đặc biệt, nhân dịp kỷ niệm 65 năm Ngày truyền thống, Học viện
đã vinh dự và tự hào được đón nhận Huân chương Sao Vàng - phần thưởng cao quý nhất của Đảng và Nhà nước trao tặng Những phần thưởng to lớn đó
là niềm tự hào to lớn của các thế hệ cán bộ, giáo viên trong sự nghiê ̣p “xây dựng lực lượng Công an nhân dân vững mạnh, toàn diện” mà cương lĩnh của Đảng đã đề ra
* Chức năng nhiệm vụ
Học viện ANND trực thuộc Bộ trưởng Bộ Công an Bộ trưởng Bộ Công
an ủy quyền cho Tổng cục trưởng Tổng cục Chính trị Công an nhân dân quản
lý, chỉ đạo hoạt động của Học viện An ninh nhân dân theo đúng chức năng, nhiệm vụ được giao
Học viện ANND có trách nhiệm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ANND có trình độ đại học và sau đại học; đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, chỉ huy của lực lượng ANND, tham mưu, xây dựng lực lượng Công an nhân dân và của Bộ Công an; thực hiện nhiệm vụ hợp tác quốc tế về giáo dục, đào tạo theo
Trang 38bộ cho lực lượng ANND; đào tạo cán bộ có trình độ đại học về tin học, ngoại ngữ cho lực lượng Công an nhân dân theo quy chế văn bằng của Nhà nước và quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục
Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, chỉ huy; cán bộ trong quy hoạch lãnh đạo, chỉ huy cho lực lượng ANND, tham mưu, xây dựng lực lượng Công
an nhân dân và Bộ Công an; đào tạo, bồi dưỡng giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục cho các trường ANND; có trách nhiệm cử giảng viên giảng dạy cho các trường Công an nhân dân và cho các trường ngoài ngành ở trung ương theo kế hoạch, chỉ tiêu và quy định của Bộ trưởng
Bồi dưỡng kiến thức về an ninh quốc gia cho cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý nhà nước cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các bộ, ban, ngành ở trung ương theo quy định của Thủ tướng Chính phủ
Nghiên cứu đề xuất Tổng cục trưởng Tổng cục Chính trị Công an nhân dân báo cáo Bộ trưởng ban hành mục tiêu, chương trình đào tạo, bồi dưỡng các ngành học thuộc từng bậc học, hệ học và tổ chức thực hiện chương trình đào tạo, bồi dưỡng theo chỉ tiêu, kế hoạch hàng năm của Bộ trưởng
Nghiên cứu biên soạn và đưa vào sử dụng các loại giáo trình, tài liệu phục vụ dạy học sau khi được thẩm định theo quy định của Bộ trưởng; tổng kết kinh nghiệm về các mặt công tác giảng dạy, học tập, quản lý; hoàn thiện, đổi mới mục tiêu, nội dung, chương trình và phương pháp đào tạo, gắn quá trình đào tạo của Học viện với thực tiễn công tác, chiến đấu, xây dựng lực lượng Công an nhân dân
Trang 3929
Nghiên cứu các đề tài khoa học về khoa học giáo dục; về phương pháp đào tạo và tổ chức quá trình dạy học mang tính đặc thù của lực lượng ANND; chủ trì hoặc phối hợp với các đơn vị có liên quan nghiên cứu các đề tài khoa học về hệ thống lý luận nghiệp vụ Công an, khoa học quản lý Nhà nước về an ninh quốc gia, về phòng ngừa, điều tra các tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia; chủ trì và tham gia nghiên cứu các đề tài khoa học cấp Nhà nước theo kế hoạch được giao và phân công của Bộ trưởng
Tổ chức xuất bản Tạp chí Khoa học giáo dục an ninh, quản lý tư liệu và tổ chức công tác thông tin khoa học nghiệp vụ phục vụ giảng dạy, học tập, nghiên cứu khoa học của Học viện ANND theo quy định của Nhà nước và của Bộ trưởng
* Cơ cấu tổ chức, đội ngũ cán bộ, giáo viên
Ban giám đốc Ho ̣c viê ̣n có 06 đồng chí ( 01 Giám đốc, 05 Phó Giám đốc) Tổng số cán bộ giáo viên : 1012 (Tính đến tháng 1/2016)
Trong đó có:05 Giáo sư,21 Phó Giáo sư, 58 Tiến sỹ, 161 Thạc sỹ, 03 Nhà giáo nhân dân, 14 Nhà giáo ưu tú, 77 Giảng viên chính, 72 Giảng viên,
65 Trợ giảng
Trang 4030
Hình 1.1: Cơ cấu tổ chức cán bộ Học viện ANND
Hiện nay, Học viện đã có những bước phát triển vững chắc trên còn đường hội nhập cùng đất nước và nền giáo dục nước nhà, từng bước thay đổi