1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nâng cao nhận thức bảo vệ bản thân cho học sinh trường tiểu học vĩnh long huyện vĩnh lộc tỉnh thanh hóa

126 331 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 2,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đề tài luận văn: “Nâng cao nhận thức bảo vệ bản thân cho học sinh trường tiểu học Vĩnh Long huyện Vĩnh Lộc tỉnh Thanh Hóa” Nghiên cứu trường hợp do tổ chức

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

International tại Việt Nam thực hiện)

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Công tác xã hội

Mã số: 60.90.01.01

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Hoàng Thu Hương

Hà Nội - 2016

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài luận văn: “Nâng cao nhận thức bảo vệ bản thân cho học sinh trường tiểu học Vĩnh Long huyện Vĩnh Lộc tỉnh Thanh Hóa”

(Nghiên cứu trường hợp do tổ chức Good neighbor International thực hiện)

là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Hoàng Thu Hương và những kết quả nghiên cứu ở trong luận văn này là hoàn toàn trung thực

Ngày tháng năm

Tác giả luận văn

Phạm Thị Hà

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp chuyên ngành công tác xã

hội với đề tài:: “Nâng cao nhận thức bảo vệ bản thân cho học sinh trường tiểu học Vĩnh Long huyện Vĩnh Lộc tỉnh Thanh Hóa” (Nghiên cứu trường hợp do

tổ chức Good Neighbor International thực hiện), bên cạnh sự nỗ lực và cố

gắng của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ, hướng dẫn và chỉ bảo nhiệt tình của các thầy cô cùng với sự quan tâm, động viên từ phía người thân, gia đình và bạn bè

Để hoàn thành được luận văn tốt nghiệp này, trước tiên bản thân tôi xin

được gửi lời cảm ơn chân thành và lòng biết ơn sâu sắc nhất tới cô giáo, PGS.TS Hoàng Thu Hương đã hướng dẫn, chỉ bảo tận tình cho tôi trong suốt quá trình

hoàn thành luận văn Nhờ có sự giúp đỡ nhiệt tình và tâm huyết của cô mà bản thân tôi đã từng bước làm tốt và hoàn thành được đề tài nghiên cứu, đồng thời ghi nhận lại kết quả cùng những cố gắng của bản thân qua bài báo cáo này Bên cạnh đó, tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa xã hội học nói chung và bộ môn công tác xã hội nói riêng đã tận tình giảng dạy, cung cấp cho học viên những hệ thống kiến thức bổ ích, chuyên sâu và nâng cao hơn, qua

đó học viên có thể vận dụng được nhưng kiến thức đó vào để hoàn thành tốt luận văn này

Hơn nữa, đi cùng tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn là quản lý,

nhân viên tổ chức Good Neighbors International tại Việt Nam, các cán bộ xã,

thôn và các giáo viên, phụ huynh và các em học sinh tại địa bàn nghiên cứu Họ

đã nhiệt tình cùng tôi trong suốt quá trình nghiên cứu, tôi cũng muốn gửi lời cảm

ơn sâu sắc tới họ Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn của mình đến gia đình, bạn bè, đây là nguồn động lực lớn đối với tôi, họ đã luôn bên cạnh, động viên, quan tâm đến tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn

Đối với tôi bản báo cáo là một thành quả đáng khích lệ cho sự cố gắng của bản thân sau thời gian học tập và nghiên cứu Nhưng vì thời gian và kinh nghiệm còn hạn chế cho nên báo cáo này không tránh khỏi những thiếu sót nhất định, tôi

Trang 4

rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo, các bạn và những người quan tâm đến đề tài này

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, Tháng 4/2016

Học viên :Phạm Thị Hà

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 2

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của nghiên cứu 10

4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 10

5 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 11

6 Câu hỏi nghiên cứu 12

7 Giả thuyết nghiên cứu 12

8 Phương pháp nghiên cứu 12

PHẦN 2: NỘI DUNG CHÍNH 15

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 15

1.1Các khái niệm công cụ 15

1.1.1 Học sinh tiểu học 15

1.1.2 Nhận thức bảo vệ bản thân 15

1.1.3 Quyền trẻ em: 15

1.1.4 Tình huống nguy hiểm 16

1.2Các lí thuyết ứng dụng 16

1.2.1 Lý thuyết nhu cầu 16

1.2.2 Lý Thuyết hệ thống 18

1.3 Khái quát về quyền trẻ em và việc thực hiện Quyền trẻ em tại Việt Nam hiện nay 19

CHƯƠNG 2: TÌM HIỂU MÔ HÌNH NÂNG CAO NĂNG LỰC BẢO VỆ BẢN THÂN CHO HỌC SINH TIỂU HỌC (CES) CỦA TỔ CHỨC GOOD NEIGHBORS INTERNATIONAL TẠI VIỆT NAM VÀ VAI TRÕ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI 26

2.1 Vài nét về xã Vĩnh Long và trường tiểu học Vĩnh Long huyện Vĩnh lộc tỉnh Thanh hóa 26

2.2 Vài nét về tổ chức Good Neighbors International tại Việt Nam 28

Trang 6

2.3 Giới thiệu chung về mô hình: Nâng cao năng lực bảo vệ bản thân cho học

sinh tiểu học (CES) của tổ chức GNI Việt Nam 31

2.3.1 Mô hình Nâng cao năng lực bảo vệ bản thân cho học sinh tiểu học 31

2.3.2 Nội dung của mô hình nâng cao năng lực bảo vệ bản thân cho học sinh 33 2.3.3 Kết cấu nội dung của chương mô hình nâng cao năng lực bảo vệ bản thân học sinh 33

2.3.4 Kết cấu mẫu bài giảng mô hình: Nâng cao năng lực bảo vệ bản thân cho học sinh tiểu học 34

2.4 Vai trò của nhân viên CTXH trong việc hỗ trợ nâng cao năng lực bảo vệ bản thân cho học sinh tiểu học tại mô hình CES 35

2.5Nhận diện các vấn đề liên quan đến nhận thức bảo vệ bản thân của học sinh tiểu học và các nguồn lực trợ giúp cho học sinh 38

2.6Đánh giá của giáo viên và phụ huynh học sinh về mô hình của tổ chức GNI 50 CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG NHẬN THỨC BẢO VỆ BẢN THÂN CỦA HỌC SINH TRƯỜNG TIỂU HỌC VĨNH LONG HUYỆN VĨNH LỘC TỈNH THANH HÓA TRƯỚC VÀ SAU KHI THAM GIA MÔ HÌNH CES 61

3.1 Nhận thức chung của học sinh trường tiểu học Vĩnh long về bảo vệ trẻ em trước khi tham gia mô hình 61

3.1.1 Nhận thức chung của học sinh trường Tiểu học Vĩnh Long về Quyền trẻ em.61 3.1.2 Sự hiểu biết của học sinh trường tiểu học Vĩnh Long về cơ thể 65

3.1.3 Nhận thức của học sinh tiểu học Vĩnh Long về cách đánh giá người khác 75 3.1.4 Nhận thức của học sinh trường Tiểu học Vĩnh Long về những tình huống nguy hiểm 80

3.2 Sự thay đổi về nhận thức bảo vệ bản thân của học sinh trường tiểu học Vĩnh Long sau khi tham gia mô hình 87

3.2.1 Sự thay đổi nhận thức về quyền trẻ em 87

3.2.2: Sự thay đổi nhận thức về cơ thể, bản thân 89

3.2.3: Sự thay đổi nhận thức về người tốt, người xấu 94

3.2.4 Sự thay đổi nhận thức về những tình huống nguy hiểm 96

PHẦN 3 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 99

Trang 7

1 Kết luận 99

2 Khuyến nghị 100

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 102

PHỤ LỤC 105

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU

Bảng 3.1: Nhận thức chung của học sinh trường tiểu học Vĩnh Long về Quyền

trẻ em 63

Bảng 3.2: Nhận thức chung của học sinh tiểu học Vĩnh Long về bảo vệ bản thân 70

Bảng 3.3: Sự khác biệt nhận giới trong nhận thức về các bộ phận sinh sản trên cơ thể của học sinh tiểu học 72

Bảng 3.4: Quan điểm của học sinh trường Tiểu học Vĩnh Long về người tốt, người xấu 78

Bảng 3.5: Đánh giá cách xử lý của học sinh trường tiểu học Vĩnh long trước những tình huống nguy hiểm trong cuộc sống 82

Bảng 3.6: Sự thay đổi nhận thức về Quyền trẻ em 88

Bảng 3.7: Sự thay đổi nhận thức về cơ thể, bản thân 92

Bảng 3.8: Sự thay đổi nhận thức về người tốt, người xấu 95

Bảng 3.9 Sự thay đổi nhận thức về những tình huống nguy hiểm 97

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Theo số liệu năm 2010 của Tổng cục Cảnh sát, trung bình hàng năm ở Việt Nam xảy ra khoảng 1300 vụ xâm hại tình dục trẻ em Điều đáng nói là hầu hết đối tượng thực hiện hành vi đồi bại là những người “trong nhà” như bố dượng, bác, chú, thậm chí là anh em, bố đẻ, đặc biệt hơn là có rất nhiều vụ xâm hại tình dục trẻ em nhưng nạn nhân hoặc gia đình nạn nhân không tố cáo

Trong năm 2014, số vụ liên quan đến xâm hại tình dục trẻ em tăng 6,3%

so với năm 2013 Đáng lo ngại là khả năng các em quen biết kẻ xâm hại là 93%

và có 47% kẻ xâm hại ở trong gia đình hoặc họ hàng

Theo số liệu thống kê của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội năm 2010:

“Hiện, cả nước có hơn 25 triệu trẻ em, chiếm 29% tổng dân số, trong đó có hơn 1,4 triệu em có hoàn cảnh đặc biệt, hơn 1,2 triệu em bị khuyết tật Tuy nhiên, điều đáng lo ngại là tình trạng xâm hại trẻ em diễn biến ngày càng phức tạp và trở thành vấn đề bức xúc cho toàn xã hội Các vụ xâm hại trẻ em đặc biệt nghiêm trọng, báo động về sự suy đồi đạo đức như: hiếp dâm tập thể, hiếp dâm trẻ em dưới 5 tuổi, hiếp dâm rồi giết trẻ em, thầy giáo xâm hại học sinh… Số trẻ bị xâm hại tình dục nhiều lần chiếm 28,2% và số trẻ em bỏ học, sống lang thang và bị xâm hại tình dục chiếm 11,6% ”

Số liệu thống kê của Bộ LĐTBXH năm 2013 cho thấy, xâm hại tình dục trẻ em ngày càng có tính chất phức tạp và độ tuổi bị xâm hại ngày càng thấp Số trẻ em bị xâm hại tình dục chủ yếu là bị hiếp dâm (chiếm 65,9%), đối tượng phạm tội phần lớn là người gần gũi với nạn nhân (chiếm 56,1%) Tình trạng loạn luân như (bố đẻ xâm hại tình dục với con gái chiếm 0,6%, bố dượng xâm hại tình dục với con riêng của vợ chiếm 1% Trẻ em ở nhà một mình, đi một mình nơi vắng vẻ… là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến việc trẻ bị xâm hại tình dục (chiếm 51,4% số vụ trẻ bị xâm hại) Một số nguyên nhân dẫn đến xâm hại tình dục trẻ

em là do đối tượng uống rượu say (17,7%); bị kích thích trực tiếp từ băng ảnh, văn hóa phẩn đồi trụy (8,8%)…

Nhìn nhận lại các vụ án xâm hại tình dục cho thấy nạn nhân thường là các

em nhỏ không có đầy đủ khả năng để tự bảo vệ mình, trước sự xâm hại của các

Trang 11

đối tượng, cũng như trước pháp luật Nhiều em vì bị đối tượng đe dọa nên đã giấu gia đình và mặc nhiên trở thành nạn nhân của hành vi xâm phạm tình dục trong thời gian dài

Môi trường xã hội ngày càng tiềm ẩn nhiều nguy cơ dẫn đến trẻ em bị xâm hại tình dục Những ấn phẩm đồi trụy, internet, phim ảnh ngoài luồng có tính chất bạo lực, khiêu dâm… cùng các hiện tượng tiêu cực khác ngoài xã hội đã tác động mạnh đến tư tưởng, lối sống của một bộ phận lớp trẻ Ngoài ra, hệ thống bảo vệ trẻ em ở nước ta vẫn chưa được như các nước khác trên thế giới, do đó bên cạnh việc pháp luật xử lý nghiêm minh các đối tượng phạm tội thì việc phòng ngừa, phát hiện sớm, can thiệp kịp thời để giảm thiểu hoặc loại bỏ các nguy cơ trẻ bị xâm hại tình dục là việc phải được đặt ra như một giải pháp cấp bách trước khi để xảy ra những vụ án đau lòng Để góp phần vào việc nâng cao các biện pháp bảo vệ trẻ em trước những nguy cơ trên đề tài này nghiên cứu một

mô hình: “Nâng cao nhận thức bảo vệ bản thân cho học sinh trường tiểu học

Vĩnh Long huyện Vĩnh Lộc tỉnh Thanh Hóa (nghiên cứu trường hợp do tổ chức Good Neighbors international (GNI) thực hiện)” với mong muốn góp phần mình

phần nào đưa ra một phương thức giáo dục cho trẻ em biết cách bảo vệ bản thân mình trước những nguy cơ bị xâm hại Nghiên cứu đi sâu vào việc tiếp cận một phương thức trang bị kiến thức về giáo dục giới tính cho trẻ, các biện pháp bảo

vệ bản thân trẻ trước những tình huống có nguy cơ bị xâm hại đặc biệt là xâm hại tình dục

2 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

Trẻ em là đối tượng dễ bi tổn thương nhất trong bất kì hoàn cảnh nào vì

vậy việc bảo vệ trẻ em, đảm bảo quyền trẻ em cũng là một trong những nhiệm vụ quan trọng của Đảng và nước ta Rất nhiều chính sách của nhà nước đã ra đời nhằm củng cố hơn những cách thức bảo vệ trẻ em và đây cũng là những nhiệm

vụ quan trọng của mỗi gia đình, nhà trường và cả cộng đồng Những cố gắng của nhà nước ta về việc cung cấp các dịch vụ bảo vệ trẻ em tại Việt nam đã và đang dần hoàn thiện Việc phát triển hệ thống cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em (CCDVBVTE) sẽ góp phần hỗ trợ tích cực, “Chương trình Quốc gia bảo vệ trẻ

em giai đoạn từ 2011-2020” nhanh chóng đạt mục tiêu đề ra Bà Lê Thị Thu Hà,

Trang 12

Trưởng phòng Bảo vệ, chăm sóc trẻ em, Cục Bảo vệ, chăm sóc trẻ em (Bộ

LĐTB&XH) tổng kết chương trình cho rằng: “sau 4 năm triển khai, hệ thống

cung cấp dịch vụ bảo vệ và chăm sóc trẻ em đã được củng cố và phát triển Hiện nay, cả nước đã có 41/63 tỉnh thành lập Ban điều hành bảo vệ trẻ em; 361 quận, huyện có Ban điều hành trẻ em do Phó Chủ tịch UBND quận làm Trưởng ban; xây dựng được 65.549 cộng tác viên tham gia tại 4.558 xã, phường trong cả nước; tập huấn cho gần 150.000 lượt cán bộ làm công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em; tổ chức tư vấn, trị liệu tâm lý cho hơn 85.000 lượt trẻ em; trợ giúp y tế, giáo dục và phúc lợi xã hội cho gần 2,5 triệu trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt”

Để bảo vệ trẻ em tốt hơn, phát huy quyền của các em nhiều hơn thì việc nghiên cứu những cách thức hỗ trợ trẻ em cũng là một trong những phần rất quan trọng Tại Việt nam hiện nay đã có rất nhiều những nghiên cứu chuyên sâu về vị

trí, vai trò của từng ban nghành trong xã hội về bảo vệ trẻ em phải kể như:

“Nghiên cứu vị trí vai trò của gia đình và cộng đồng trong việc bảo vệ và

chăm sóc và giáo dục trẻ em Việt Nam”, do UBBV&CSTE Việt Nam chủ trì,

GS.TS Phạm Tất Dong làm chủ nhiệm đã cho thấy tỷ lệ người dân hiểu luật

BVCS&GD trẻ em là tương đối lớn, trung bình là 80% điều này cho thấy việc tuyên truyền, phổ biến về Luật được thực hiện thường xuyên liên tục Đa số người được hỏi đều tiếp nhận qua Luật, kênh ti vi, đài và báo chí và nghiên cứu cũng chỉ ra những điều thú vị trong công tác chăm sóc và giáo dục trẻ em và đề xuất những kiến nghị bao gồm 4 quan điểm qua tổng hợp các kết quả nghiên cứu với 5 đề tài nhánh Nghiên cứu đã cung cấp những số liệu và đánh giá khái quát trong việc gia đình và cộng đồng sẽ là nơi quan trọng để bảo vệ và chăm sóc trẻ

em

Bên cạnh những nghiên cứu chính sách để bảo vệ trẻ em cũng có rất nhiều những nghiên cứu củng cố chính sách bảo vệ trẻ em bằng hệ thống luật học như

luận án tiến sĩ của: Nghiên cứu sinh Lê Thị Nga (2015), Bảo vệ quyền trẻ em

bằng hệ thống tư pháp hình sự ở Việt Nam đã góp phần bổ sung lý luận về bảo vệ

quyền trẻ em khi tham gia vào các hoạt động tư pháp hình sự, hoàn thiện hệ thống lý luận về hệ thống tư pháp hình sự bảo vệ quyền trẻ em; kết quả nghiên cứu của luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các hoạt động nghiên

Trang 13

cứu và giảng dạy về về quyền trẻ em, về hoạt động xây dựng và hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền trẻ em; các chuyên đề về tư pháp hình sự bảo vệ quyền trẻ

em Đây đồng thời cũng có thể nguồn tham khảo cho cơ quan lập pháp, lập quy

và cho các cơ quan tiến hành tư pháp hình sự, người tiến hành tư pháp hình sự, người tham gia tư pháp hình sự và các tổ chức, cá nhân có liên quan

Với những ý nghĩa tích cực như trên việc quan tâm tới trẻ em không chỉ là nhiệm vụ của Đảng và nhà nước mà là của toàn xã hội, những nghiên cứu, khảo sát về Quyền trẻ em tuy còn ít ỏi những cũng đã được thực hiện gần đây như một

số đề tài sau:

UNICEFF (2010), Báo cáo tóm tắt phân tích tình hình trẻ em tại Việt Nam

2010 Báo cáo này bắt nguồn từ bối cảnh Đánh giá giữa kì chương trình hợp tác

giữa chính phủ Việt Nam và UNICEF báo cáo đề cập đến sự tham gia của trẻ em trong gia đình, nhà trường, cộng đồng trong đó báo cáo nhận định rằng: các sáng kiến của trẻ em tham gia nhìn chung vẫn còn rải rác và không có sự tham gia đầy

đủ của trẻ em Còn thiếu nhận thức và kĩ năng chung của người lớn và thanh niên tham gia ở tất cả các cấp và một số nơi thiếu sự tương đồng về ngôn ngữ và sử dụng các thủ tục pháp lý, môi trường vật chất chưa phù hợp với trẻ em

Christian Salazar Volkman (2005), Những điểm mở và thách thức cơ bản

với phương thức làm chương trình dựa trên cở sở quyền con người cho phụ nữ

và trẻ em Việt Nam của có một mục về sự tham gia và tăng cường quyền năng đề

cập đến sự tham gia của trẻ em Nghiên cứu này đã nhận định: Quan niệm của người Việt Nam về trẻ em còn bị ảnh hưởng nặng nề bởi Khổng giáo là yêu cầu trẻ em phải vâng lời cha mẹ Mãi đến gần đây vấn đề tham gia của trẻ em và người chưa thành niên mới được coi trọng hay được đặt thành vấn đề bàn luận tại Việt Nam

Luận văn Thạc sĩ Trần Thị Thúy Hào, người hướng dẫn khoa học PGS.TS

Định Văn Hường- ĐHKHXH&NV, Báo in với vấn đề Quyền tham gia của trẻ

em hiện nay tìm hiểu đánh giá việc tuyên truyền và thực hiện nhóm quyền tham

gia của trẻ em trên báo Thiếu niên tiền phong, thiếu nhi dân tộc, Hoa học trò… nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hiệu quả trong việc tuyên truyền và thực hiện quyền tham gia của trẻ em trên các trang báo trên

Trang 14

Những giải pháp này góp phần tạo môi trường thuận lợi cho trẻ em có cơ hội thể hiện tâm tư tình cảm của mình đồng thời có tác động với những đối tượng liên quan đến trẻ em

Công trình nghiên cứu:Trịnh Hòa Bình (2005), Sự hiểu biết giữa gia đình

và trẻ em về vấn đề Quyền trẻ em hiện nay (qua cuộc điều tra kiến thức, thái độ

hành vi cuả cộng đồng về Quyền trẻ em 2004-2006) tác giả đăng trên tạp chí xã hội học, nghiên cứu tập trung về kiến thức, thái độ hành vi của cộng đồng về Quyền trẻ em, trên quy mô 10 tỉnh, thành phố cả nước với sự tham gia của 3000 cha mẹ với những phát hiện quan trọng là sự thấu hiểu của cha mẹ và con cái trong gia đình ở Việt Nam còn ít, mâu thuẫn cơ bản tồn tại

Công trình nghiên cứu của GS.TS Phạm Tất Dong, Nghiên cứu vị trí vai trò của gia đình và cộng đồng trong việc bảo vệ và chăm sóc và giáo dục trẻ em Việt Nam, tài trợ bởi UBBV&CSTE Việt Nam chỉ ra những điều thú vị trong

công tác chăm sóc và giáo dục trẻ em và đề xuất những kiến nghị bao gồm 4 quan điểm qua tổng hợp các kết quả nghiên cứu với 5 đề tài nhánh Nghiên cứu

đã cung cấp những số liệu và đánh giá khái quát trong việc gia đình và cộng dồng

sẽ là nơi quan trọng để bảo vệ và chăm sóc trẻ em

Thông cáo báo chí: UNICEF (2013), Cần xây dựng hiến pháp phù hợp

hơn với trẻ em trong bối cảnh quốc hội Việt Nam đang tổ chức lấy ý kiến nhân

dân về sửa đổi hiến pháp, UNICEF công bố tài liệu: “Xây dựng hiến pháp vì lợi

ích tốt nhất cho trẻ em Việt Nam” đã thể hiện những cách thức góp phần đem tới

cho trẻ em quyền được bảo vệ chăm sóc của mình.`

Trịnh Hòa Bình và cộng sự (2001), Báo cáo Hoạt động tư vấn xây dựng

chương trình truyền thông, vận động quyền trẻ em giai đoạn 2001-2005 do tổ

chức PLAN tài trợ thực hiện đã đánh giá nhận thức của người dân về LBVCSTE&GDTE và một số quyền cơ bản của trẻ em trên 9 tỉnh thành phố Từ

đó xây dựng chương trình truyền thông –vận động quyền trẻ em giai đoạn

2001-2005 Báo cáo đã đưa ra những bước đầu về nhận thức của người dân về quyền trẻ em là xây dựng những chương trình truyền thông nhận thức về Quyền trẻ em

Hội nghị khoa học: “Mối quan hệ giữa quyền và bổn phận của trẻ em –

thực trạng và giải pháp” đã được tổ chức tại Hà Nội do Ủy ban BVCS&GDTE

Trang 15

cùng với viện nghiên cứu thanh niên chủ trì mục đích của hội thảo khoa học này

là đánh giá việc thực hiện quyền trẻ em và làm rõ mối quan hệ giữa Quyền và bổn phận trẻ em trong quá trình thực hiện Luật Đồng thời cũng phân tích rõ thực trạng và đề ra những giải pháp cơ bản cho vấn đề này

Hiện nay vấn nạn đang nhức nhối và ảnh hưởng rất lớn đối với sự phát triển thể chất và tinh thần của các em và để lại nhiều di chứng nặng nề phải kể đến những hành vi xâm hại tình dục trẻ em Đây là một trong những vấn đề cần quan tâm sát sao hơn nữa để ngăn chặn tình trạng này không để cho nó phát triển bởi trẻ em có thể bị xâm hại tình dục ở bất kì đâu trên sân chơi, trong trường học thậm chí tại chính ngôi nhà của mình Chính vì thế nghiên cứu về những vấn đề xung quanh việc xâm hại tình dục trẻ em cũng chính là một cách để bảo vệ trẻ

em tránh những mối nguy hiểm này

Trong nhiều năm trở lại đây có không ít những nghiên cứu nói chung về xâm hại tình dục trẻ em trong đó có không ít những nghiên cứu chỉ ra những biện pháp phòng chống xâm hại trẻ em trên toàn cầu, có những nghiên cứu đã được đưa vào thực hành và đem lại hiệu quả cao Mỗi nghiên cứu có những phương pháp và cách tiếp cận khác nhau song ở nước ta dưới góc độ công tác xã hội có rất ít những nghiên cứu chỉ ra vai trò của công tác xã hội trong việc hỗ trợ phòng chống xâm hại tình dục trẻ em giúp cho trẻ em nâng cao được nhận thức bảo vệ bản thân mình trước những nguy cơ bị xâm hại nhất là xâm hại tình dục

Công tác xã hội là một ngành nghề mới ở Việt nam, hiện tại vai trò của nhân viên công tác xã hội trong tất cả các lĩnh vực chưa thực sự nổi bật, nghiên cứu này sẽ góp phần chỉ ra những vai trò của công tác xã hội trong việc nâng cao nhận thức cho trẻ em biết cách bảo vệ bản thân mình và phòng chống xâm hại tình dục cho trẻ em nhất là đối tượng học sinh tiểu học- đối tượng ít có khả năng

tự vệ cao

Hiện tại ở Việt Nam chưa có nhiều nghiên cứu cụ thể quan tâm nhiều về vấn

đề này các nghiên cứu chủ yếu thiên về các nghiên cứu ảnh hưởng tâm lí với trẻ

em bị xâm hại tình dục và những nghiên cứu này mới thực hiện tại như đối tượng trẻ em đường phố, nghiên cứu tác động tâm lý với cá nhân trẻ, cũng rất ít nghiên

Trang 16

cứu những hậu quả của xâm hại tình dục trẻ em nhất là các em trong độ tuổi là học sinh tiểu học

Trung tâm Nghiên cứu quản lý và phát triển bền vững (MSD) (2005), Đề

tài:“Huy động sự tham gia hành động vì trẻ em bị xâm hại tình dục và lạm dụng

chất gây nghiện” do đã cho thấy: “Nghiên cứu của MSD được thực hiện đối với

trẻ em đường phố tại TP.HCM từ 8 tuổi đến dưới 18 tuổi Kết quả cho thấy tình trạng các em bị xâm hại tình dục và lạm dụng chất gây nghiện đang ở mức đáng báo động Cụ thể, 92,5% trẻ em đường phố tại TP.HCM từng bị xâm hại tình dục Nghiên cứu cho thấy tác hại của việc bị xâm hại tình dục không chỉ gây tổn thương tới các em về mặt thể chất mà còn ở tinh thần Các em chịu tổn thương về mặt tâm lý trong một thời gian dài, không chia sẻ được nên đã có những hành

động tiêu cực tự làm đau bản thân như rạch tay, chân, có ý muốn tự tử.”

Năm 2010 tổ chức Plan tại Việt Nam đã phối hợp với Vụ thanh tra thuộc

Ủy ban dân số gia đình và trẻ em tiến hành nghiên cứu ở 10 tỉnh Thành phố ở Việt Nam qua nghiên cứu cho thấy độ tuổi bị xâm hại tình dục nhiều nhất là từ 11~16 tuổi, thực trạng trẻ em bị xâm hại cũng cao lên đến 33 % như ở Hà Tĩnh Các kết quả nghiên cứu cũng đã phần nào chỉ ra rằng thực trạng về xâm hại tình dục ở trẻ em là đáng báo động và chúng cần phải được cảnh báo và đưa ra những phương pháp phù hợp để hỗ trợ việc nâng cao nhận thức cho các em về vấn đề này cung cấp thông tin để các em tự bảo vệ bản thân một cách thông minh, khoa học và hiệu quả

Có rất nhiều nghiên cứu ngoài nước tập trung chủ yếu vào ảnh hưởng của việc lạm dụng tình dục ảnh hưởng tới sự phát triển tâm lí của trẻ em và những hậu quả của chúng khi những đứa trẻ này lớn lên và trưởng thành Nghiên cứu

của Rellini A1, Meston C (2008), Sexual function and satisfaction in adults

based on the definition of child sexual abuse cho rằng xâm hại tình dục giai đoạn

trẻ em ảnh hưởng nặng nề lên tâm lí, thể chất và tinh thần đối với những đứa trẻ sau này trưởng thành Với việc so sánh sự phát triển tâm lí của hai nhóm: một là nhóm bị lạm dụng tình dục trước khi 16 tuổi và nhóm trẻ em không bị lạm dụng tình dục Nghiên cứu đã chỉ ra có sự khác biệt đáng kể nhóm đã được quan sát trong nghiên cứu Những phụ nữ bị lạm dụng tình dục khi còn trong độ tuổi trẻ

Trang 17

em thường xuất hiện những đặc điểm về thể chất và tinh thần bao gồm viêm âm đạo, sợ hãi khi nghĩ lại thời điểm, thời gian bị lạm dụng, lẩn tránh các mối quan

hệ với thủ phạm

Một số nghiên cứu ngoài nước về những hậu quả của xâm hại tình dục trẻ

em như: Terri L Messman – Moore Oklahoma State University: Child Sexual

Abuse and Revictimization in the Form of Adult Sexual Abuse, Adult Physical Abuse, and Adult Psychological Maltreatment 2007:

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng hậu quả -những người là nạn nhân của lạm dụng tình dục trẻ em (CSA) thường nguy cơ lớn hơn trở thành người đi lạm dụng người khác khi tới độ tuổi trưởng thành có thể sẽ xuất hiện một hiện tượng được gọi là hoán đổi (nạn nhân trở thành thủ phạm) Nghiên cứu cũng đi sâu vào tìm hiểu những tổn thương về tâm lí lâu dài khi một người trong khi còn trẻ bị xâm hại tình dục thì khi lớn lên một là chúng có xu hướng thu mình lại hoặc xu hướng thứ hai là lạm dụng lại người khác

Với những ảnh hướng qua to lớn với quá trình phát triển tâm lý, sinh lí của một đưa trẻ vì vậy cần thiết phải ngăn chặn tình trạng xâm hại tình dục trẻ em bởi nỗi đau gây ra cho các em cả về thể chất và tinh thần không gì có thể bù đắp nổi Các em còn một tương lai rất dài ở phía trước và không thể sớm quên đi tai nạn này nó ảnh hưởng rất nhiều đến tâm lí của các em, trách nhiệm này thuộc về cả cộng đồng

Không chỉ bị ảnh hưởng nặng nề về tâm lí mà những người bị xâm hại, bị lạm dụng tình dục mà còn ảnh hưởng rất nhiều đến sự trưởng thành về nhân cách

và hành vi Thông thường những hành vi: tự sát và sử dụng chất kích thích, tham gia băng đảng, mang thai ngoài ý muốn, rối loạn căng thẳng sau chấn thương (PTSD), hành vi tình dục nguy hiểm Những hành vi này tương ứng cho mỗi kết quả có xu hướng thay đổi theo từng giai đoạn phát triển Tuy nhiên, vấn đề là các hành vi đều xuất hiện ở trẻ em bị lạm dụng tình dục của tất cả các nhóm tuổi Một số nghiên cứu tìm thấy sự khác biệt trong kết quả theo giới tính, chủng tộc

và tuổi tác- Kimberly A TylerCorresponding (2005), Social and emotional

outcomes of childhood sexual abuse: A review of recent research- Nghiên cứu đi

Trang 18

vào tìm hiểu các hành vi có thể dẫn tới khi trẻ em bị xâm hại tình dục đến quá trình trưởng thành của chúng

Không chỉ trẻ em nữ mà trẻ em nam cũng là một trong những đối tượng bị xâm hại tình dục và việc này các em lại ít có khả năng nhận biết hơn Đa số những hành vi xâm hại tình dục trẻ em nam khó nhận biết hơn và hậu quả cũng nghiêm trọng và đáng báo động chung Theo C Nagayama Hall - Kent State

University-Richard (2009)-Kent State University, Sexual Aggression against

Children- A Conceptual Perspective of Etiology-Gordon Các nhà nghiên cứu

cũng đưa ra các mô hình hỗ trợ can thiệp để hỗ trợ những trẻ em này, mô hình bốn bên được đề xuất bao gồm kích thích sinh lý tình dục- giúp các em nhận thức đúng đắn hơn về tình dục, nâng cao nhận thức của các em có để biện minh cho

sự xâm hại tình dục- chỉ cho chúng rằng đó là một tai nạn và không phải là lỗi của chúng, giúp chúng tránh rơi vào những trạng thái tình cảm tiêu cực, và giúp cho trẻ giảm những động lực làm tăng khả năng có hành vi tình dục hung hăng- nhận thức đúng về tình dục

Với những hậu quả nặng nề về thể chất và tinh thần của xâm hại tình dục trẻ

em với mong muốn trang bị cho các em học sinh tiểu học đối tượng không có khả năng tự vệ phòng tránh xâm hại tình dục trẻ em giúp cho các em nâng cao

nhận thức về bảo vệ bản thân mình, đề tài: “Nâng cao nhận thức bảo vệ bản thân

cho học sinh trường tiểu học Vĩnh Long huyện Vĩnh Lộc tỉnh Thanh Hóa (nghiên cứu trường hợp do tổ chức Good Neighbors international (GNI) thực hiện)” mặc

dù không phải là một nghiên cứu hoàn toàn mới nhưng cũng có một số khác biệt với các đề tài khác về phòng tránh xâm hại tình dục và bảo vệ trẻ em

Thứ nhất, là sự khác biệt về khách thể nghiên cứu, nghiên cứu được tiến

hành với nhóm học sinh trong độ tuổi tiểu học- tại trường tiểu học Vĩnh Long thuộc huyện Vĩnh Lộc tỉnh Thanh Hóa

Thứ hai, là khác biệt về đối tượng nghiên cứu, đây là nghiên cứu tập trung

vào việc tìm hiểu nhận thức của học sinh về thế nào là bảo vệ bản thân trẻ em, sự thay đổi nhận thức của các em sau khi được tiếp cận một mô hình hỗ trợ mới

Thứ ba, hoạt động trợ giúp cho nhóm đối tượng được tập trung vào việc

đánh giá mô hình nâng cao nhận thức của học sinh tiểu học về bảo vệ trẻ em của

Trang 19

một tổ chức phi chính phủ, giúp các em nhận biết sự quan trọng của cơ thể, đánh giá các nguy cơ có thể bị xâm hại, giúp các em nâng cao được nhận thức bảo vệ bản thân mình

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của nghiên cứu

3.1 Ý nghĩa khoa học

Dưới góc độ tiếp cận Công tác xã hội, đề tài vận dụng các lý thuyết cũng như các kỹ năng CTXH nhằm tìm hiểu, đánh giá nhận thức về bảo vệ bản thân của học sinh tiểu học, tìm hiểu và đánh giá mô hình mà tổ chức phính phủ GNI tại Việt nam đang dùng để hỗ trợ các em học sinh tiểu học trong việc nâng cao nhận thức bảo vệ bản thân, giúp các em đối phó với các nguy cơ bị xâm hại để có thể học hỏi thêm kinh nghiệm trong lĩnh vực CTXH với trẻ em

Thông qua thực tế nghiên cứu, người nghiên cứu đưa ra những ý kiến mới góp phần xây dựng mô hình CTXH với trẻ em trong việc phòng tránh nguy cơ bị xâm hại phù hợp với bối cảnh và nhu cầu ở Việt Nam

Kết quả nghiên cứu góp phần làm sáng tỏ sự cần thiết của công tác xã hội trong trường học và định hướng mô hình CTXH trong trường học

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Nghiên cứu thực hiện nhằm vào tìm hiểu nhận thức về bảo vệ bản thân

của học sinh tiểu học tại địa bàn nghiên cứu, và mô hình: Nâng cao nhận thức bảo vệ bản thân cho học sinh tiểu học do tổ chức GNI thực hiện tại Việt Nam nhằm đánh giá cách thức hỗ trợ trẻ em nâng cao nhận thức bảo vệ bản thân trước những tình huống có nguy cơ bị xâm hại, giúp các em bảo vệ quyền của mình.,

tìm ra những điểm mạnh và yếu của mô hình trong việc áp dụng tại Việt nam

4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 20

dục cho trẻ em Từ đó đưa ra biện pháp để nâng cao mô hình góp phần giải quyết

vấn đề, nâng cao ý thức cho học sinh phòng chống và đối phó tệ nạn này

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Mô tả nhận thức bảo vệ bản thân của học sinh trường tiểu học Vĩnh long

huyện Vĩnh Lộc tỉnh Thanh hóa

Phân tích hoạt động của chương trình: Nâng cao nhận thức bảo vệ bản thân cho học sinh tiểu học do tổ chức GNI thực hiện

Đánh giá sự thay đổi nhận thức của các em học sinh sau khi các em được tham gia mô hình Nâng cao năng lực bảo vệ bản thân cho học sinh tiểu học của

tổ chức GNI

Đề xuất những phương pháp phù hợp để nâng cao hiệu quả của chương trình: Nâng cao năng lực bảo vệ bản thân cho học sinh tiểu học

5 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Cách thức “nâng cao nhận thức bảo vệ bản thân cho học sinh tiểu học tại

trường tiểu học Vĩnh Long huyện Vĩnh lộc tỉnh Thanh hóa” của tổ chức GNI

thực hiện

5.2 Khách thể nghiên cứu:

Học sinh, phụ huynh học sinh trường tiểu học Vĩnh Long

Giáo viên, và những người làm công việc giống như nhân viên Công tác xã hội thời điểm này tại trường TH Vĩnh Long

Đối tượng khảo sát: Học sinh thuộc lớp 2~lớp 5

Phụ huynh học sinh có con tham gia chương trình

Nhân viên CTXH, giáo viên nhà trường, giảng viên – nhân viên tổ chức GNI

5.3 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nội dung nghiên cứu: Trong luận văn này tác giả đi vào nghiên cứu nhận thức của các em học sinh trường tiểu học Vĩnh long về bảo vệ bản thân đồng thời tìm hiểu về mô hình nâng cao năng lực bảo vệ bản thân cho học sinh tiểu học của tổ chức GNI, so sánh sự thay đổi nhận thức của học sinh trước và sau khi tham gia mô hình

Trang 21

Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 1 /2014 – 9/2014

Không gian: Trường tiểu học Vĩnh Long - Xã Vĩnh long – huyện Vĩnh Lộc- tỉnh Thanh Hóa

6 Câu hỏi nghiên cứu

Nhận thức của học sinh trường tiểu học Vĩnh long huyện Vĩnh Lộc tỉnh

thanh hóa về bảo vệ bản thân như thế nào?

Chương trình nâng cao năng lực bảo vệ bản thân của học sinh tiểu học do

tổ chức GNI thực hiện bao gồm những hoạt động nào, cách thức triển khai chương trình ra sao?

Học sinh tham gia đã có sự thay đổi nào về nhận thức sau khi tham gia mô hình, sự tác động của mô hình đến nhận thức của học sinh như thế nào?

Có phương pháp nào để để nâng cao hiệu quả cho mô hình này?

7 Giả thuyết nghiên cứu

Nhận thức của học sinh trường tiểu học Vĩnh Long về bảo vệ bản thân

mình trước những tình huống được coi là nguy hiểm còn nhiều hạn chế Sau khi được tham gia vào mô hình của tổ chức GNI hỗ trợ, nhận thức về bảo vệ bản thân của các em đã tăng lên và có sự thay đổi theo hướng tích cực và đây là mô hình

có ý nghĩa trong việc góp phần nâng cao nhận thức bảo vệ bản thân cho học sinh tiểu học

Thông qua mô hình này học sinh tiểu học tại địa bàn nghiên cứu đã có cái nhìn tổng quan hơn về quyền trẻ em của mình, được cung cấp những kiến thức về giới tính và hơn hết đó là học sinh được trang bị phương thức bảo vệ bản thân mình trước những tình huống có nguy cơ bị xâm hại

Nghiên cứu một cái nhìn mới trong việc truyền tải những kiến thức về giáo dục giới tính cho học sinh nhất là độ tuổi học sinh tiểu học và áp dụng vào thực tế cho lứa tuổi học sinh này

8 Phương pháp nghiên cứu

8.1 Phương pháp phỏng vấn sâu

Mục đích: Phương pháp phỏng vấn sâu nhằm khai thác thêm nhiều thông

tin hơn nữa trong việc đánh giá kiến thức, mô hình mà đối tượng học sinh được cung cấp, những đối tượng khác cũng được phỏng vấn để báo cáo đánh giá khách

Trang 22

quan hơn về hiệu quả tác động của mô hình mà tổ chức GNI cung cấp cho học sinh Những đối tượng đó bao gồm: giáo viên trực tiếp tham dự vào chương trình,

phụ huynh, học sinh tham dự vào chương trình

Số lượng phỏng vấn sâu : 05 bản

Bảng phỏng vấn sâu số 1: Phỏng vấn giáo viên tham gia chương trình

Bảng phỏng vấn sâu số 2: Phỏng vấn học sinh trực tiếp tham gia chương trình

Bảng phỏng vấn sâu số 3: Phỏng vấn phụ huynh học sinh tham gia chương trình

Bảng phỏng vấn sâu số 4: Phỏng vấn giáo viên tham gia chương trình

Bảng phỏng vấn sâu số 5: Phỏng vấn giáo viên giảng dạy chương trình – nhân viên của tổ chức GNI

8.2: Phương pháp phân tích tài liệu

Phân tích các tài liệu liên quan đến mô hình: Nâng cao nhận thức cho học sinh của tổ chức GNI Việt Nam bao gồm nội dung tài liệu ,các báo cáo đánh giá, công cụ thực hiện và cách thức tổ chức chương trình với đối tượng là học sinh tiểu học

8.3: Phương pháp trưng cầu ý kiến

Người nghiên cứu tiến hành thiết kế bảng trưng cầu ý kiến để khai thác và

đo lường về nhận thức của học sinh tiểu học trước và sau khi tham gia vào học nội dung trong của tổ chức, bằng cách sử dụng bảng hỏi cho đối tượng được thụ hưởng trực tiếp nguồn lợi từ chương trình là học sinh đang ở độ tuổi tiểu học trước và sau khi tham gia vào từng nội dung của mô hình này

Cỡ mẫu được thực hiện trong nghiên cứu : 70 mẫu cho 70 học sinh từ lớp

3 đến lớp 5

Số lượng

Phần trăm (%) Giới

Trang 23

Đặc

điểm học

sinh

Trẻ là học sinh dự án tổ chức GNI 48 68 Trẻ không là học sinh trong dự án tổ

chức GNI

8.4 Phương pháp quan sát

Phương pháp quan sát nhằm mục đích tìm hiểu mô hình: Nâng cao nhận

thức bảo vệ bản thân cho học sinh tiểu học thông qua việc tham dự ba lớp học

mô hình mà tổ chức GNI thực hiện tại địa bàn trường tiểu học xã Vĩnh Long huyện Vĩnh Lộc tỉnh Thanh hóa

Quan sát quy trình thực hiện mô hình, tổ chức lớp học, nội dung giảng viên giảng giảng dạy, công cụ, tương tác của giáo viên và học sinh về nội dung chương trình

Số lần quan sát: 02 lần- 02 lớp học

Thời điểm quan sát: Quan sát lớp học tổ chức buổi sáng từ 9:00~10.30

Trang 24

PHẦN 2: NỘI DUNG CHÍNH CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Các khái niệm công cụ

1.1.1 Học sinh tiểu học

Trước hết ta phải tìm hiểu rõ khái niệm “học sinh” và “học sinh tiểu học”

Học sinh được hiểu với tư cách là khách thể của quá trình giáo dục, nhận sự tác động có định hướng, có kế hoạch, có phương pháp, có tổ chức, có hệ thống của giáo viên và nhà giáo dục.[Từ điển tiếng Việt tr.313]

Học sinh tiểu học: Là học sinh đang học từ lớp 1 đến lớp 5 trong trường tiểu học

Trong đề tài nghiên cứu này học sinh tiểu học được hiểu là những học sinh đang học tại các trường tiểu học trong hệ thống giáo dục tại Việt Nam từ lớp 1 đến lớp 5

Học sinh tiểu học với đặc thù về tâm lí lứa tuổi cho nên đây là độ tuổi cần phải có định hướng cụ thể về nhận thức giúp các em có thể phát triển một cách

toàn diện nhất về thể chất và tinh thần

1.1.2 Nhận thức bảo vệ bản thân

Trước hết ta cần hiểu “nhận thức được hiểu là: việc nhận ra, biết được,

hiểu được một vấn đề”.[Từ điển tiếng Việt trang.387] Nó là một quá trình phản

ánh và tái hiện hiện thực vào trong tư duy

Trong đề tài nghiên cứu này nhận thức được coi như việc là học sinh sẽ

được nghe và hiểu, nhớ sâu hơn về vấn đề được nghe giảng

Bảo vệ bản thân: Bảo vệ bản thân trong đề tài nghiên cứu này được hiểu

là những biện pháp, những cách thức để duy trì tình trạng không nguy hiểm đến

cơ thể bản thân học sinh, đảm bảo an toàn cho các em

Như vậy nhận thức bảo vệ bản thân là được nghe, hiểu sâu hơn về những biện pháp, cách thức giúp bảo vệ cơ thể, bản thân mình một cách an toàn tránh những nguy cơ nguy hiểm tác động vào

1.1.3 Quyền trẻ em: Có nhiều định nghĩa về Quyền trẻ em nhưng định nghĩa

phổ biến nhất hay được dùng đó là: “những đặc quyền tự nhiên mà trẻ em được

hưởng, được làm, được tôn trọng và thực hiện nhằm bảo đảm sự sống còn, tham

Trang 25

gia và phát triển toàn diện Quyền trẻ em chính là biện pháp nhằm bảo đảm cho trẻ em không những là những người tiếp thu thụ động tình thương hay lòng tốt

của bất cứ ai, mà trở thành chủ thể của quyền”

Trong đề tài nghiên cứu này Quyền trẻ em được đề cập bám sát vào định nghĩa Quyền trẻ em trong Công ước quốc tế về quyền trẻ em được Liên hợp quốc

phê chuẩn năm 1989 có hiệu lực từ ngày 2/9/1990

1.1.4 Tình huống nguy hiểm: Được hiểu là hoàn cảnh,diễn biến cần đối

phó khi rơi vào tình huống khó xử ([Từ điển tiếng Việt trang.351])

Trong khuôn khổ của đề tài luận văn này thì những tình huống nguy hiểm chính là những tình huống học sinh thường hay gặp phải trong cuộc sống và

là những tình huống có nguy cơ bị xâm hại Những tình huống nguy hiểm mà các em có thể gặp hàng ngày có nguy cơ bị xâm hại như việc: trẻ em phải ở nhà một mình mà không có người lớn bên cạnh có người lạ muốn vào nhà, trẻ em bị

dụ dỗ trên đường đi học về như: trẻ bị nói dối là người thân đang nằm viện cần đi theo người lạ để tới thăm, trẻ bị xâm hại, bị người thân, người lạ muốn sờ vào các bộ phận kín của trẻ, hay bắt trẻ sờ vào các bộ phận kín của người lớn mà dặn trẻ không được nói, kể cho ai biết, hoặc hai trẻ đang chơi trò chơi có nguy cơ xâm hại nhau Những tình huống này được xác định là những tình huống nguy hiểm và trẻ em là những đối tượng có nguy cơ bị xâm hại về thể chất và tinh thần nhiều nhât

1.2 Các lí thuyết ứng dụng

1.2.1 Lý thuyết nhu cầu

Nhu cầu là yếu tố tất yếu, cần thiết để đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của mỗi cá nhân, nhóm và cộng đồng Nếu nhu cầu được thoả mãn thì sẽ tạo nên cảm giác thoải mái và an toàn cho sự phát triển Ngược lại nếu không được đáp ứng thì sẽ gây nên sự căng thẳng và có thể dẫn đến những hậu quả nhất định Nhu cầu khác với ý muốn Ý muốn là điều mà ta mong muốn, còn nhu cầu là cái gì

đó mà khi thiếu thì sẽ dẫn đến những hạn chế trong quá trình phát triển con người Chính vì vậy mà mục tiêu của công tác xã hội là tăng cường khả năng hoạt động cá nhân hay tổ chức thông qua đáp ứng nhu cầu của đối tượng

Trang 26

Vì khách thể được trực tiếp nghiên cứu trong đề tài này là nhóm học sinh đang trong độ tuổi học cấp tiểu học vì vậy việc tìm hiểu nhu cầu của học sinh trong

độ tuổi này rất quan trọng nó sẽ cho biết những mong muốn của học sinh trong việc bày tỏ các em muốn gì, cần gì để có thể tự mình đương đầu tự mình bảo vệ mình trước những nguy cơ có thể bị xâm hại

Có rất nhiều cách phân loại nhu cầu khác nhau, nhưng trong đề tài nghiên

cứu “Nâng cao nhận thức bảo vệ bản thân cho học sinh trường tiểu học Vĩnh Long huyện Vĩnh Lộc tỉnh Thanh Hóa” chúng tôi sử dụng thang nhu cầu của

Maslow để chỉ ra được những nhu cầu cơ bản mà các em học sinh và gia đình cần được đáp ứng Theo Maslow, con người có những nhu cầu được sắp xếp theo thứ tự bậc thang từ thấp đến cao, từ nhu cầu thiết yếu đến nhu cầu thứ yếu Sự thoả mãn nhu cầu của con người cũng theo các bậc thang đó Cụ thể trong nghiên cứu này, đối với nhóm học là học sinh tiểu học thì việc đánh giá nhu cầu theo bậc thang nhu cầu của Maslow cần lưu ý đến những nhu cầu cơ bản sau:

- Nhu cầu cơ bản (basic needs): thực phẩm, nước uống, điều kiện chăm sóc sức khoẻ Đây là những nhu cầu cơ bản mà bất cứ ai cũng cần được đáp ứng Nhu cầu an toàn (safety needs): Đó là tình yêu thương của mọi người trong gia đình, họ hàng, bạn bè , giúp các em biết cách cho và nhận tình yêu thương của nhân loại, học cách gánh vác trách nhiệm của cha mẹ, anh chị

- Nhu cầu về xã hội (social needs): nhu cầu được hoà nhập, được thuộc về nhóm nào đó

- Nhu cầu về được quý trọng (esteem needs): được chấp nhận có vị trí trong một nhóm người, cộng đồng, xã hội…

Nhu cầu được thể hiện mình (self-actualizing needs): nhu cầu được hoàn thiện, phát triển trí tuệ, được thể hiện khả năng và tiềm lực của mình

Nhìn chung với nghiên cứu về hỗ trợ giáo dục cho học sinh tiểu học trước hết cần tìm hiểu kỹ những vấn đề mà học sinh lứa tuổi này đang quan tâm, đang gặp phải và những nguy cơ mà bọn chúng đang có thể phải đối mặt Qua đó xác định được những nhu cầu còn thiếu của các em, từ những nhu cầu vật chất cơ bản nhất đến nhu cầu được hòa nhập, nhu cầu phát triển được thể hiện bản thân Vì

Trang 27

đây là giai đoạn các em cần được đáp ứng đầy đủ các điều kiện để việc phát triển được hoàn thiện nhất, đặc biệt là phát triển trí tuệ

1.2.2 Lý Thuyết hệ thống

Đây là một thuyết quan trọng được vận dụng trong công tác xã hội nhằm

chỉ cho thân chủ, nhóm thân chủ và cộng đồng những gì họ thiếu và những hệ thống nguồn lực nào họ có thể tiếp cận và tham gia, hội nhập Bởi trọng tâm của

hệ thống là hướng đến cái tổng thể và mang tính hoà nhập Nguyên tắc về cách tiếp cận này chính là các cá nhân phụ thuộc vào hệ thống trong môi trường xã hội trung gian của họ nhằm thoả mãn được cuộc sống riêng Do đó, công tác xã hội phải nhấn mạnh đến các hệ thống như vậy trong quá trình trợ giúp cho nhóm đối

tượng

Theo định nghĩa trong Lý thuyết công tác xã hội hiện đại [26, tr.192-193]:

“Hệ thống là một tập hợp các thành tố được sắp xếp có trật tự và liên hệ với nhau

để hoạt động thống nhất.” Theo lý thuyết này, con người phụ thuộc vào những hệ thống trong môi trường xã hội trực tiếp của họ Có rất nhiều cách phân loại hệ

thống, theo tính chất thì công tác xã hội chú ý đến 3 hệ thống:

- Các hệ thống phi chính thức hay còn gọi là các hệ thống thân tình hay tự nhiên như gia đình, bạn bè, người thân hay đồng nghiệp

- Các hệ thống chính thức như các cơ quan, tổ chức của nhà nước, hay các tổ chức công đoàn…

- Các hệ thống tập trung như của các tổ chức xã hội như bệnh viện, trường học…

Hay phân loại theo cấp độ thì hệ thống cũng được chia làm ba cấp độ:

- Vĩ mô: Cá nhân

- Trung mô: Gia đình, cộng đồng, cơ quan nhà nước tại cộng đồng

- Vĩ mô: Các hệ thống xã hội, chính sách, các cơ quan nhà nước

Đối với khách thể là học sinh tiểu học thì cần lưu ý đến các hệ thống như: gia đình, bạn bè, nhà trường (giáo viên), chính quyền địa phương Đây là những

hệ thống gần gũi và tiếp xúc thường xuyên nhất với nhóm học sinh này Cần thu thập thông tin và khai thác nguồn lực từ chính các hệ thống này để nhận diện rõ vấn đề và có thể trợ giúp cho đối tượng Bên cạnh đó cũng cần chú ý đến các

Trang 28

chức năng của hệ thống như: tính thích ứng, hội nhập của các tiểu hệ thống trong một hệ thống lớn để có thể phát huy, sử dụng tối đa các hệ thống nguồn lực trong cộng đồng Cụ thể là trong nghiên cứu này có thể liên kết tối đa các hệ thống để hỗ trợ giáo dục cho các em học sinh trong độ tuổi tiểu học – độ tuổi cần được bảo vệ

Để có thể nâng cao nhận thức cho học sinh trong độ tuổi này cần phải có sự vào cuộc của không chỉ nhà trường, tổ chức GNI mà còn phải có sự tham gia của gia đình, các cấp lãnh đạo thôn xã và toàn xã hội

1.3 Khái quát về quyền trẻ em và việc thực hiện Quyền trẻ em tại Việt Nam hiện nay

Việt Nam là nước đầu tiên ở Châu Á và là nước thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước về Quyền trẻ em, vào ngày 20/2/1990 Từ đó đến nay, mặc dù còn nhiều khó khăn, Việt Nam đã đạt nhiều tiến bộ trong việc đưa tinh thần và nội dung của Công ước vào chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và luật pháp quốc gia Ví dụ: như Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, Luật phổ cập giáo dục, Luật lao động, Luật dân sự, Luật tố tụng hình sự được ban hành hay sửa đổi đều quan tâm thích đáng đến quyền lợi của trẻ em

Quyền trẻ em là tất cả những gì trẻ em cần có để được sống và lớn lên một cách lành mạnh và an toàn Quyền trẻ em nhằm đảm bảo cho trẻ em không chỉ là người tiếp nhận thụ động lòng nhân từ của người lớn, mà các em là những thành viên tham gia tích cực vào quá trình phát triển Bao gồm 4 nhóm quyền cơ bản: quyền được sống còn, quyền được bảo vệ, quyền được phát triển, quyền được tham gia

Một số quyền của trẻ em trong pháp luật Việt Nam

Quyền được khai sinh:Quyền được khai sinh là một trong những quyền quan trọng đầu tiên của mỗi người Khoản 1 điều 11 luật Bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định: “Trẻ em có quyền được khai sinh và có quốc tịch” Quyền được khai sinh là điều kiện tiên quyết để khẳng định mỗi trẻ em sinh ra một công dân của một quốc gia, một công dân bình đẳng, có những quyền và nghĩa vụ như những công dân khác

Trang 29

Tuyên ngôn của Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em năm 1959 ghi nhận: “Trẻ

em khi sinh ra có quyền được khai sinh” Công ước Quốc tế về quyền trẻ em cũng khẳng định: “Trẻ em phải được đăng ký ngày lập tức khi sinh ra…” Điều

đó cho thấy pháp luật quốc tế cũng như pháp luật Việt Nam đều đặc biệt quan tâm đến quyền được khai sinh của trẻ

Quyền có quốc tịch:Quốc tịch là một khái niệm, một phạm trù chính trị - pháp lý xác định mối quan hệ giữa một con người với một nhà nước Quốc tịch gắn liền với mỗi con người từ khi sinh ra đến khi chết đi và là tiền đề để họ được hưởng các quyền và làm nghĩa vụ công dân đối với Nhà nước Hệ thống pháp luật Việt Nam nhiều lần quy định về vấn đề quốc tịch của công dân nói chung và của trẻ em nói riêng Hiến pháp năm 1992 ghi nhận tại điều 49: “Công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam” Bộ luật Dân sự 2005 quy định tại điều 45: “Cá nhân có quyền có quốc tịch…” Luật Bảo

vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 khẳng định: “Trẻ em có quyền được khai sinh và có quốc tịch” Vì vậy, mọi trẻ em sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam đều phải được xác định rõ quốc tịch và có quyền có quốc tịch

Quyền được chăm sóc nuôi dưỡng: Được chăm sóc, nuôi dưỡng, đáp ứng đầy đủ nhu cầu về vật chất và tinh thần ở mức cao nhất có thể là quyền của trẻ

em và là mục tiêu phấn đấu của gia đình, Nhà nước và xã hội Hiến pháp 1992 khẳng định chế độ bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em đồng thời đề cao trách nhiệm của gia đình, trách nhiệm của cha mẹ đối với con cái: “Cha mẹ có trách nhiệm nuôi dạy con thành những công dân tốt”(điều 64) “Trẻ em được gia đình, Nhà nước và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục”(điều 65) Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 tiếp tục cụ thể hoá những quy định trên: “Trẻ

em có quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng để phát triển thể chất, trí tuệ, tinh thần

Trang 30

dành lợi ích tốt nhất cho trẻ em; trẻ em thuộc diện chính sách xã hội, có hoàn cảnh đặc biệt được trợ giúp để hoà nhập với gia đình, cộng đồng

Quyền sống chung với cha mẹ: “Trẻ em có quyền sống chung với cha mẹ Không ai có quyền buộc trẻ em phải cách ly cha mẹ, trừ trường hợp vì lợi ích của trẻ em”(Điều 13 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em) Pháp luật quy định cha mẹ có nghĩa vụ và quyền sống chung với con Quyền sống chung với cha mẹ

là quyền tự nhiên, tất yếu và bất khả xâm phạm của mọi trẻ em, kể cả trường hợp trẻ em là con riêng của vợ hoặc chồng Không ai có quyền buộc trẻ em phải cách

ly cha mẹ trái với ý muốn của cha mẹ và trẻ em, trừ trường hợp cha mẹ bị hạn chế quyền chăm nom, chăm sóc, giáo dục đối với con chưa thành niên hoặc trường hợp cha mẹ đang thi hành án phạt tù tại trai giam thì người có thẩm quyền thực hiện pháp luật sẽ quyết định cách ly trẻ em với bố mẹ để bảo vệ lợi ích tốt nhất cho trẻ

Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định việc giao con chưa thành niên cho cha hoặc mẹ chăm nom, nuôi dưỡng, giáo dục phải căn cứ vào quyền và lợi ích mọi mặt của trẻ Trường hợp trẻ em được nhận làm con nuôi Thì việc giao nhận con nuôi phải tuân theo quy định của pháp luật và phải đảm bảo lợi ích tốt nhất cho trẻ em

Quyền được tôn trọng, bảo vệ tính mạng, nhân phẩm, danh dự

Đây là quyền cơ bản của công dân nói chung và trẻ em nói riêng được Hiến pháp 1992 ghi nhận tại điều 17: “Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm” Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 và Bộ luật Dân sự 2005 quy định

cụ thể hoá quyền này như sau: Trẻ em được gia đình, Nhà nước và xã hội tôn trọng bảo vệ tính mạng, thân thể, nhân phẩm và danh dự; Cá nhân có quyền được đảm bảo an toàn về tính mạng, sức khoẻ, thân thể; Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ Bộ luật Hình sự năm 1999

có một chương (Chương X) quy định về người chưa thành niên phạm tội, và một chương (chương XII) quy định về các tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, dânh dự của con người trong đó đặc biệt quan tâm tới trẻ em

Trang 31

Quyền được chăm sóc sức khoẻ:Trẻ em có quyền được chăm sóc bảo vệ sức khoẻ Quyền này được quy định cụ thể tại điều 15 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Theo đó, trẻ em dưới 6 tuổi được chăm sóc sức khoẻ ban đầu, được khám, chữa bệnh không phải trả tiền tại các cơ sở y tế công lập; trẻ em được y tế

cơ sở quản lý sức khoẻ, được tiêm chủng phòng bệnh, phòng dịch, được khám bệnh chữa bệnh

Để trẻ em được hưởng các quyền lợi về y tế, gia đình, cha mẹ và người nuôi dưỡng có trách nhiệm thực hiện những quy định về kiểm tra sức khỏe, tiêm chủng theo kế hoạch của các cơ sở y tế, chăm sóc sức khỏe trẻ em khi ốm đau và thực hiện các chỉ định của thầy thuốc trong khám chữa bệnh cho trẻ

Quyền được học tập: Quyền được học tập là một quyền vô cùng quan trọng đối với con người đặc biệt là đối với trẻ em Vì vậy, Hiến pháp năm 1992 đã quy định: “Học tập là quyền và nghĩa vụ của công dân” Cùng với hiến pháp, quyền này còn được cụ thể hóa trong nhiều văn bản khác trong hệ thống pháp luật Việt Nam Luật Bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em năm 2004 khẳng định tại điều 16:

“Trẻ em có quyền được học tập” “Trẻ em học bậc tiểu học trong các cơ sở giáo dục công lập không phải trả học phí” Theo quy định của pháp luật Việt Nam bậc tiểu học là bậc giáo dục bắt buộc đối với mọi trẻ em Mọi trẻ em không phân biệt điều kiện, hoàn cảnh đều được bình đẳng về cơ hội học tập và được nhà nước tạo điều kiện cho học tập

Luật giáo dục năm 2005 cũng khẳng định mục tiêu của giáo dục Việt Nam

là “đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.” Với mục tiêu đó, trẻ em có quyền và được tạo điều kiện tiếp cận một nền giáo dục cơ bản, toàn diện và có chất lượng để trở thành một thế hệ công dân mới có đức, có tài tiếp bước cha anh xây dựng Tổ quốc

Quyền vui chơi, giải trí:Điều 17 Luật bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em năm

2004 có quy định: “Trẻ em có quyền vui chơi, giải trí lành mạnh, được hoạt động văn hoá, nghệ thuật, thể dục, thể thao, du lịch phù hợp với lứa tuổi” Vui chơi

Trang 32

giải trí là nhu cầu của con người Riêng đối với trẻ em đây không chỉ là nhu cầu đơn thuần mà còn là điều kiện để trẻ em phát triển hài hòa về thể chất và tinh thần Trong thời đại ngày nay, khi mà trẻ em sớm phải tiếp cận, làm quen và ứng dụng khoa học kỹ thuật cũng như công nghệ tiên tiến thì việc vui chơi giải trí lành mạnh càng trở nên quan trọng hơn, giúp tạo nên sự thoải mái về tinh thần, cân bằng về sức khỏe Đặc biệt, việc thực hiện quyền vui chơi, giải trí của trẻ em chính là một bước chuẩn bị về tâm lý, sự năng động và sự thích nghi cho một xã hội công nghiệp phát triển mạnh trong tương lai

Quyền được phát triển năng khiếu: Phát triển năng khiếu, bồi dưỡng nhân tài

là một trong những chính sách quan trọng của Đảng và Nhà nước ta Điều đó được thể hiện rõ trong hệ thống các quy định của pháp luật Việt Nam Hiến pháp năm 1992 ghi nhận: “ Học sinh có năng khiếu được nhà nước và xã hội tạo điều kiện hoạc tập để phát triển tài năng” Luật Bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 quy định tại điều 18: “Trẻ em có quyền được phát triển năng khiếu Mọi năng khiếu của trẻ em đều được khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để phát triển” Nội dung này tiếp tục được khẳng định tị điều 10 Luật giáo dục như sau: “Nhà nước và cộng đồng tạo điều kiện cho những người có năng khiếu phát triển tài năng” Các quy định trên cho thấy việc phát triển năng khiếu của trẻ em luôn được quan tâm chú trọng Thực hiện những quy định đó trong nhiều năm qua, cả nước đã mở nhiều lớp năng khiếu, lớp tài năng, trường chuyên, lớp chọn,

tổ chức nhiều cuộc thi với hình thức đa dạng, phong phú và phù hợp với lứa tuổi nhằm thu hút sự tham gia của các em thiếu niên, nhi đồng Qua đó kích thích khả năng sáng tạo, phát hiện, bồi dưỡng các em sớ trở thành nhân tài phục vụ Tổ quốc

Quyền có tài sản:Điều 19 Luật bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em năm 2004 quy định: “Trẻ em có quyền có tài sản, quyền thừa kế theo quy định của pháp luật” Quy định này đã cụ thể hóa quyền tài sản của công dân được ghi nhận Hiến pháp năm 1992: “Công dân có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, vốn và tài sản khác trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác; Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế của công dân.”

Trang 33

Quyền có tài sản của trẻ em còn được quy định trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 như sau: “Con có quyền có tài sản riêng.Tài sản riêng của con bao gồm tài sản được thừa kế riêng, thu nhập do lao động của con, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của con và các thu nhập hợp pháp khác”

Quyền có tài sản của trẻ em đã được cụ thể hóa trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật nhưng do trẻ em chưa có đủ khả năng quản lý, định đoạt tài sản riêng nên pháp luật đã quy định trách nhiệm của cha, mẹ, người giám hộ trong việc quản lý và định đoạt tài sản riêng của trẻ em

Về việc thực hiện quyền trẻ em hiện nay ở nước ta : Nhà nước Việt Nam luôn cam kết bảo vệ các quyền và lợi ích của trẻ em và tạo mọi điều kiện để trẻ

em được thực thi đầy đủ các quyền của mình, thể hiện trước hết qua các quy định của Hiến pháp (Điều 65) và một số văn bản pháp luật như: Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Lao động, Luật Giáo dục, Luật Đất đai, Luật Phòng chống HIV/AIDS, Luật Bình đẳng giới, Luật Trợ giúp pháp lý, Luật Điện ảnh, Luật Phòng chống Bạo lực Gia đình, Luật Tương trợ Tư pháp Đặc biệt, Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục Trẻ em (sửa đổi 2004) đã cụ thể hoá các nguyên tắc cơ bản của Công ước Quyền Trẻ em mà Việt Nam là thành viên, trong đó nhấn mạnh nguyên tắc không phân biệt đối xử và vì lợi ích tốt nhất của trẻ; trao cho trẻ

em nhiều quyền hơn, từ những quyền mang tính thụ động như quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng, bảo vệ đến những quyền mang tính chủ động là quyền bày tỏ ý kiến và tham gia hoạt động xã hội

Hệ thống các cơ quan bảo vệ quyền trẻ em bao gồm Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội, Hội Bảo vệ Quyền Trẻ em, Hội Cứu trợ Trẻ em Tàn tật, Hội Bảo trợ Người Tàn tật và Trẻ Mồ côi Việt Nam Hệ thống tổ chức của các cơ quan này được thiết lập và phát triển ở tất cả các cấp trong toàn quốc.Việt Nam

đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ về đảm bảo quyền và lợi ích của trẻ

em Bên cạnh Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em Việt Nam giai đoạn 2001- 2010 đang được tích cực triển khai, việc bảo vệ và thúc đẩy quyền trẻ em cũng được lồng ghép vào các chi ến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tạo điều kiện cho trẻ em ngày càng được hưởng đầy đủ hơn các quyền của mình Các chương trình khám chữa bệnh miễn phí, các biện pháp giảm tỷ lệ tử vong trẻ sơ

Trang 34

sinh và suy dinh dưỡng đã được triển khai khá hiệu quả (khoảng 8,4 triệu trẻ, chiếm trên 90% trẻ em dưới 6 tuổi, được phát thẻ khám chữa bệnh miễn phí) Tỉ

lệ học sinh đi học đúng độ tuổi ngày càng cao (năm học 2005 – 2006, tỷ lệ học sinh tiểu học đạt 95,04%, trung học cơ sở đạt 80,3%); tỷ lệ học sinh bỏ học giảm dần; nhiều chính sách quan tâm, ưu đãi được dành cho trẻ em nghèo, có hoàn cảnh khó khăn, trẻ em di cư, trẻ em người dân tộc thiểu số… Cơ bản đã tạo được môi trường vui chơi giải trí an toàn, lành mạnh cho trẻ em (có khoảng 40% xã, phường và 80,3% số quận, huyện có điểm vui chơi cho trẻ em; 100% thư viện cấp tỉnh và 30% ở cấp huyện có phòng đọc dành cho trẻ em ) Trẻ em được tạo điều kiện bày tỏ ý kiến, tham gia vào hoạt động văn hóa, xã hội ở trường học và cộng đồng thông qua các diễn đàn quốc gia, quốc tế, Đội Thiếu niên Tiền phong, Câu lạc bộ Phóng viên nhỏ

Tuy nhiên, việc đảm bảo các quyền của trẻ em trong thời gian qua vẫn còn những thiếu sót do những khó khăn, thách thức đặt ra từ quá trình hội nhập kinh

tế quốc tế, cơ sở hạ tầng trong nước lạc hậu, năng lực quản lý của các cơ quan hữu quan trong việc hoạch định, triển khai các chính sách giáo dục, bảo vệ và chăm sóc trẻ em còn hạn chế

Các dự án phát triển cộng đồng của GNI tại Việt Nam nhằm tạo ra sự thay đổi môi trường sống tác động tích cực đến sự tồn tại và phát triển của trẻ em trong cộng đồng Tổng số tiền tài trợ cho trẻ được phân bổ vào các mảng hoạt động cải thiện điều kiện sống cộng đồng như: hỗ trợ dụng cụ học tập, xây dựng trường lớp, hỗ trợ xây dựng hệ thống công trình nước sạch – vệ sinh môi trường, phát triển nông nghiệp, cải thiện sinh kế Những thay đổi tại gia đình, trường học, cộng đồng đó tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến trẻ; giúp cải thiện điều kiện sống hiện tại của trẻ; giúp có thêm nhiều cơ hội sống và phát triển

Trang 35

CHƯƠNG 2: TÌM HIỂU MÔ HÌNH NÂNG CAO NĂNG LỰC BẢO

VỆ BẢN THÂN CHO HỌC SINH TIỂU HỌC (CES) CỦA TỔ CHỨC GOOD NEIGHBORS INTERNATIONAL TẠI VIỆT NAM VÀ VAI TRÕ

CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI

2.1 Vài nét về xã Vĩnh Long và trường tiểu học Vĩnh Long huyện Vĩnh lộc tỉnh Thanh hóa

Bản đồ hành chính xã Vĩnh Long huyện Vĩnh Lộc tỉnh Thanh Hóa

là một địa phương giàu truyền thống cách mạng, là nơi có di sản văn hóa thế giới Thành Nhà Hồ Xã Vĩnh Long chính là nơi thành lập chi bộ Đảng đầu tiên của Huyện Vĩnh Lộc Hiện nay, cơ cấu ban lãnh đạo xã bao gồm: Đảng ủy, Hội đồng nhân dân, UBND, mặt trận tổ quốc và các đoàn thể Trong đó bao gồm các đoàn thể: Hội cựu chiến binh; hội phụ nữ; hội nông dân; hội Đoàn thanh niên; hội khuyến học; hội chữ thập đỏ Ngoài ra, tại địa phương còn có một số câu lạc bộ đang tiến hành sinh hoạt định kỳ như: Câu lạc bộ thể dục thể thao, câu lạc bộ thơ, câu lạc bộ văn hoá- văn nghệ Trường tiểu học Vĩnh Long huyện Vĩnh Lộc tỉnh Thanh Hóa nằm tại địa chỉ: Thôn Đông Môn- Xã Vĩnh Long- Huyện Vĩnh Lộc-

Trang 36

Tỉnh Thanh Hoá Trường được thành lập từ năm 1934 Trải qua bao nhiêu năm xây dựng và trường thành hiện nay cơ cấu lãnh đạo của nhà trường bao gồm: 01 hiệu trưởng, 01 hiệu phó, 01 chủ tịch công đoàn.Các tổ chức, đoàn thể của nhà trường: Chi bộ, Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Công đoàn, Đội Thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh

Quy mô nhà trường hiện nay đã tăng lên về cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên,

số lượng học sinh mà chất lượng đào tạo còn tăng lên Quy mô nhà trường năm học 2013-2014: Tổng số Cán bộ giáo viên – nhân viên: 30, trong đó cán bộ quản lí: 02

Tổng số giáo viên: 23 (Giáo viên văn hóa: 18, Giáo viên đặc thù: 5, nhân viên: 05

Tổng số học sinh: 436 em Tổng số lớp: 17 lớp Hiện nay cơ sở vật chất của nhà trường có 17 phòng học kiên cố/17 lớp

Hiện tạo cơ sở vật chất của nhà trường tương đối khang trang và tương đối đầy đủ, nhà trường đạt Chuẩn quốc gia mức độ 1 năm 2007 và được công nhận lại năm 2013 là điều kiện thuận lợi để mỗi cán bộ giáo viên phát huy hơn nữa thế mạnh dạy và học Với truyền thống hiếu học của xã anh hùng, tập thể cán bộ giáo viên phấn đấu thực hiện thắng lợi mục tiêu giáo dục, từng bước tiếp cận phấn đấu đạt chuẩn Quốc gia mức độ 2, góp phần cùng với địa phương xây dựng nông thôn mới

Từ những năm học trước đây cho đến những năm học gần đây, nhà trường luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình đó là xây dựng một môi trường sư phạm

có nề nếp, kỉ cương và trách nhiệm Bên cạnh việc xây dựng đội ngũ, nhà trường luôn quan tâm sát sao đến chất lượng đại trà và chất lượng mũi nhọn Chất lượng mũi nhọn luôn được đầu tư thích đáng từ khi phát hiện và bồi dưỡng học sinh có năng khiếu ở tất cả các môn học: Toán, Tiếng Việt, Mĩ thuật, Thể dục, Hát nhạc, Cùng với chất lượng giáo dục, việc giáo dục đạo đức cho học sinh cũng

là một phần đặc biệt quan tâm Học sinh phần lớn ngoan, lễ phép, kính Thầy Tến bạn, không có học sinh vi phạm đạo đức và các tệ nạn xã hội Song song với công tác giáo dục chất lượng và hạnh kiểm, các hoạt động đoàn thể luôn được nhà trường quan tâm cả về chiều sâu và chất lượng

Trang 37

Năm học 2012-2013, tập thể nhà trường được UBND Tỉnh tặng danh hiệu Tập thể Lao động xuất sắc Công đoàn đạt công đoàn vững mạnh xuất sắc được công đoàn giáo dục Tỉnh tặng giấy khen Đội TNTP HCM và Chi hội chữ thập

đỏ được tặng giấy khen của Liên ngành cấp Tỉnh Năm học 2013-2014, đơn vị được UBND Tỉnh tặng cờ thi đua “ Đơn vị dẫn đầu khối”, được Bộ GD &ĐT tặng Bằng khen.Công đoàn được Liên đoàn Lao động Tỉnh tặng giấy khen Năm học 2014-2015, đơn vị đạt tập thể Lao động tiên tiến Đội TNTPHCM đề nghị

TW đoàn tặng Bằng khen Có thể nói tập thể sư phạm trường Tiểu học Vĩnh Long 1 là một khối thống nhất về hoạt động, tích cực góp phần vào việc thực hiện tốt nhiệm vụ chung của nhà trường đề ra Ban Giám Hiệu chuyên tâm, sát sao chỉ đạo hoạt động nhà trường, gần gũi động viên giáo viên, gắn kết thành một tập thể sư phạm đoàn kết nhất trí cao Vì thế nhà trường những năm gần đây luôn đạt được kết quả giảng dạy cao

Từ năm 2012 trưởng tiểu học Vĩnh Long huyện Vĩnh Lộc tỉnh Thanh hóa

là một trong những đối tác của tổ chức GNI trong lĩnh vực giáo dục và bảo trợ trẻ

em Học sinh nghèo trong trường tiểu học Vĩnh Long là đối tượng hưởng lợi chính trong dự án của tổ chức GNI Bên cạnh việc hỗ trợ vật chất dụng cụ học tập cho học sinh như: đồng phục, áo khoác các học sinh còn được tham gia các chương trình ngoại khóa nâng cao kĩ năng sống cho học sinh Học sinh được phát triển cả về thể chất lẫn tinh thần nâng cao quyền trẻ em và bảo vệ trẻ em cũng là một trong những mục tiêu phấn đấu của nhà trường và cả tổ chức GNI

2.2 Vài nét về tổ chức Good Neighbors International tại Việt Nam Good Neighbors International (GNI) là một tổ chức phi chính phủ nhân

đạo và phát triển quốc tế Với nhiệm vụ là cải thiện cuộc sống của con người – đặc biệt là trẻ em – thông qua các chương trình giáo dục, phát triển cộng đồng, chăm sóc sức khỏe, nước sạch vệ sinh môi trường và các chương trình cứu trợ khẩn cấp Tổ chức GNI được thành lập năm 1991 tại Seoul, Hàn Quốc, với mục đích duy nhất là đem hi vọng cho những trẻ em thiệt thòi Vào thời điểm đó, GNI tập trung vào các dự án như trẻ mồ côi, dự án cho trẻ khuyết tật, tìm nhà cho những góa phụ lâm vào cảnh nghèo khổ, và những gia đình bị bệnh lao phổi

Trang 38

Năm 2004, tổ chức GNI bắt đầu quan tâm đến những người tị nạn tại Rwandan thông qua những đội hỗ trợ y tế và xây dựng 2 trường học không chính thức tại các trại tị nạn Hiện nay, GNI đang triển khai dự án tại 34 nước, hỗ trợ khoảng 16.8 triệu người, bao gồm 9.6 triệu trẻ em Tổ chức đã gây quỹ và thiết lập mạng lưới Mỹ, Hàn, Nhật Bản, Öc và Thụy Sĩ Tổ chức GNI cũng xây dựng mối quan hệ hợp tác với các chính quyền địa phương, các nhà tài trợ trung gian quốc tế, và các cộng đồng nghèo; nâng cao nhận thức của cộng đồng thông qua hoạt động biện hộ trong khi tuyển dụng và đào tạo những tình nguyện viên và chuyên viên Tổ chức GNI đã được nhận giải thưởng của Liên hợp quốc về mục tiêu phát triển thiên niên kỷ năm 2007

Tổ chức Good Neighbors Vietnam (GNV) là một thành viên của GNI, bắt đầu hoạt động tại Việt Nam vào tháng 6 năm 2005 Đến nay, GNV đã phát triển hoạt động tại nhiều vùng miền khó khăn trên cả nước Tính đến tháng 1 năm

2013, GNV đã triển khai dự án tại 14 địa phương với dân số hơn 40.000 người,

hỗ trợ thường xuyên 9300 trẻ em Từ năm 2005 đến nay, tổ chức đã huy động được 11,464,449 USD vốn hỗ trợ cộng đồng và trẻ em nghèo và viện trợ khẩn cấp 8,306,589 USD cho các vùng gặp thiên tai bão lụt

Địa bàn hoạt động dự án của tổ chức GNI : Tỉnh Hòa Bình: Huyện Tân Lạc: Tỉnh Hòa Bình : 3 xã Gia Mô, Lỗ Sơn ,Do Nhân , huyện Mai châu: 2 xã Xăm Khòe và Piềng Vế, thành phố Hòa Bình: 2 Phường: Thịnh Lang và Thái Bình,2

Hà Nội: Dự án lớp học tiếng Hàn hợp tác với Đại học văn hóa Hà Nội

Tổ chức với sứ mệnh và tầm nhìn như: “Không ai còn bị đói ăn”; “Không ai trở thành nạn nhân của các thảm họa có thể ngăn ngừa được”; “Mọi người bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau, không còn sự kì thị, phân biệt chủng tộc”

Tổ chức GNI hoạt động với sứ mệnh: “Tôn trọng những giá trị của con

con người, nỗ lực trong việc khôi phục và bảo vệ phẩm giá con người”; “Thành

Trang 39

lập hệ thống hỗ trợ toàn cầu để góp phần biến đổi thế giới thành nơi mọi người

có thể chung sống hạnh phúc”; Tận dụng nguồn lực địa phương để đem lại tác động mạnh nhất và hiệu quả cao nhất cho công việc.Thúc đẩy sự phát triển bền vững cho mỗi cá nhân, gia đình và cộng đồng dựa vào chính năng lực của họ Ưu

tiên hàng đầu cho vấn đề trẻ em

Cam kết của tổ chức GNI:”Đến bất kỳ đâu cần được giúp đỡ, không phân biệt màu da, văn hóa hay khoảng cách địa lý”; “Thúc đẩy sự phát triển bền vững cho mỗi cá nhân, gia đình và cộng đồng dựa vào chính năng lực của họ”; “Ưu tiên hàng đầu cho các vấn đề về quyền trẻ em”

Các lĩnh vực hoạt động chính của tổ chức GNI:

Lĩnh vực bảo trợ trẻ em và phát triển giáo dục tạo nền tảng cho sự phát triển

bền vững của gia đình cũng như xã hội nói chung Hiện nay tổ chức GNI tại Việt Nam đang hỗ trợ 9300 học sinh trong dự án tại các tỉnh Thanh hóa, Tuyên quang

và Hòa Bình với các chương trình như hỗ trợ vật chất như quần áo mùa đông mùa hè, đồng phục, bên cạnh đó còn hỗ trợ nhà trường các trang thiết bị như máy

tính, máy chiếu, máy lọc nước, bàn ghế, sách vở

Lĩnh vực khai thác nước sạch và vệ sinh môi trường nhằm mục tiêu cải thiện

điều kiện môi trường sống, giảm tỷ lệ người mắc các bệnh do sử dụng nước không hợp vệ sinh Các chương trình hỗ trợ như xây dựng hệ thống nước tự chảy,

hỗ trợ xây dựng giếng khoan hợp vệ sinh, xây dựng các nhà vệ sinh hợp tiêu

chuẩn cho các hộ gia đình có con em trong dự án

Lĩnh vực phát triển sinh kế là hoạt động hỗ trợ người dân nâng cao thu nhập

dựa vào các nguồn lực có sẵn có và tiềm năng trong cộng đồng bao gồm việc hỗ trợ giống, vốn, phân bón để các hộ gia đình tự chăn nuôi trồng trọt hoặc tăng

thêm thu nhập

Vận động, nâng cao năng lực nhận thức cộng đồng thông qua các chiến dịch

truyền thông, kêu gọi quyền bình đẳng giới và thực hiện quyền trẻ em cũng như các chương trình giáo dục nhận thức nâng cao nhận thức của người dân về vệ

sinh môi trường

Trang 40

Lĩnh vực cứu trợ khẩn cấp: Các hoạt động ứng phó với tình trạng khẩn

cấp được thực hiện để hỗ trợ những cộng đồng chịu ảnh hưởng nặng nề của thiên tai

2.3 Giới thiệu chung về mô hình: Nâng cao năng lực bảo vệ bản thân cho học sinh tiểu học (CES) của tổ chức GNI Việt Nam

2.3.1 Mô hình Nâng cao năng lực bảo vệ bản thân cho học sinh tiểu học

Mô hình Nâng cao năng lực bảo vệ bản thân cho học sinh- Tên tiếng anh

là: (Child Empowering Service) là một mô hình nằm trong chương trình chung với mục đích nâng cao nhận thức của học sinh bảo vệ bản thân mình trước

những tình huống có nguy cơ bị tước đoạt quyền

Đây là chương trình GNI Việt Nam nhận tài liệu từ Hàn Quốc, chương trình này được đưa về Việt Nam 2013 và đã có những biên tập chuyển đổi nội dung và khảo sát đánh giá xem xét sự phù hợp của chương trình với văn hóa Việt Nam

Tổ chức GNI tại Việt Nam đã mời chuyên gia tư vấn của Bộ Lao Động Thương Binh và Xã hội làm báo cáo đánh giá nội dung chương trình, đánh giá sự phù hợp với văn hóa Việt Nam và đã có những bước thử nghiệm chương trình tại hai vùng

dự án có đặc thù riêng như địa bàn nông thôn – huyện Vĩnh lộc tỉnh Thanh Hóa

và địa bàn thành thị như Phường Thái bình – Thành phố Hòa Bình

Đây là chương trình đào tạo đầu tiên về giáo dục quyền trẻ em của tổ chức

GN quốc tế và đồng thời chương trình đã xây dựng nền tảng cho những chương trình giáo dục quyền trẻ em ngày nay tại tổ chức GN quốc tế

Nội dung chương trình dựa vào chương trình giáo dục Công ước Quyền trẻ

em của Liên hiệp quốc, với mục đích giúp trẻ nhận ra quyền của mình và học cách ứng phó thích hợp với tình huống bị tước đoạt quyền, xâm phạm quyền của mình.Mục đích của chương trình: Giúp trẻ nhận thức về cơ thể quý báu và bày tỏ cảm xúc bằng cách tiếp nhận giáo dục về cơ thể và những tiếp xúc cơ thể

Đặc điểm của mô hình: Chương trình này dựa trên Công ước về Quyền

trẻ em của Liên hợp quốc (CRC) Công ước được nhất trí thông qua tại Đại hội đồng Liên hiệp quốc vào năm 1989, là một hiệp định có ý nghĩa vì Công ước quốc tế về Quyền trẻ em nhìn nhận trẻ em không phải vật thể bảo vệ thụ động

mà là chủ thể có phẩm chất và quyền Hơn hết, công ước đã thể hiện quyền được

Ngày đăng: 21/02/2017, 17:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
6. Mary Ann Forgey & Carol S. Cohen Thực hành Công tác xã hội chuyên nghiệp, sách dịch, Đại học mở - bán công TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hành Công tác xã hội chuyên nghiệp
7. Malcolm Payne Lý thuyết Công tác xã hội hiện đại. Nxb Lyceum Books, INC 5758 S.Blackstone Avenue, Chicago. Người dịch: ThS Trần Văn Kham Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý thuyết Công tác xã hội hiện đại
Nhà XB: Nxb Lyceum Books
9.The Foundation Retrieved 5 March 2015, A Coordinated Response to Child Abuse and Neglect3. Tài liệu trực tuyến Sách, tạp chí
Tiêu đề: A Coordinated Response to Child Abuse and Neglect
1. Theo Trung tâm nghiên cứu Pháp luật về Quyền con người và Quyền công dân, Công ước quốc tế về các quyền trẻ em,http://hcrc.hcmulaw.edu.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công ước quốc tế về các quyền trẻ em
6:cong-c-quc-t-v-cac-quyn-tr-em&catid=6:b-lut-nhan-quyn-quc-t&Itemid=20, cập nhật ngày 18/11/2011.Theo Cổng thông tin điện tử Bộ tƣ pháp, Luật hôn nhân và gia đình năm 2000,http://moj.gov.vn/vbpq/Lists/Vn%20bn%20php%20lut/View_Detail.aspx?ItemID=6123 , cập nhật ngày 9/6/2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật hôn nhân và gia đình năm 2000
15. Theo trang web tƣ vấn tâm lý cập nhật ngày Quyền trẻ em và những điều cần biết về quyền trẻ em:http://thamvantamly.net/51/344/tu-van-tam-ly-hoc-duong/Quyen-tre-em-va-nhung-dieu-can-biet-ve-quyen-tre-em.htm Link
15. Trung tâm Nghiên cứu quản lý và phát triển bền vững (MSD) 2005, Huy động sự tham gia hành động vì trẻ em bị xâm hại tình dục và lạm dụng chất gây nghiện Khác
16. Phạm Viết Vƣợng (2000), Giáo dục học, nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội17. Từ điển tiếng Việt (2000), Nhà xuất bản Văn hóa thông tin Khác
1. Alice Miller Retrieved 5 March 2015, Child Abuse and Mistreatment&#34 Khác
2. Carrie Turk – Ngân hàng thế giới (tháng 11- 1999), Việt Nam tiếng nói của người nghèo Khác
3. C. Nagayama. Hall - Kent State University-Richard. Hirschman 2009 - Kent State University, Sexual Aggression against Children- A Conceptual Perspective of Etiology-Gordon Khác
4. Child Abuse Symptoms, Causes, Treatment Retrieved December 24, 2012, How can child abuse be prevented Khác
5. Child Abuse and Neglect Retrieved 20 October 2008, Types, Signs, Symptoms, Help and Prevention Khác
8. Kimberly A TylerCorresponding 2005, Social and emotional outcomes of childhood sexual abuse: A review of recent research Khác
16. Báo cáo quốc gia kiểm điểm định kì về việc thực hiện quyền con người ở Việt Nam – Bộ Ngoại giao Việt Nam 2013 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng phỏng vấn sâu số 2:  Phỏng vấn học sinh trực tiếp tham gia chương  trình - Nâng cao nhận thức bảo vệ bản thân cho học sinh trường tiểu học vĩnh long huyện vĩnh lộc tỉnh thanh hóa
Bảng ph ỏng vấn sâu số 2: Phỏng vấn học sinh trực tiếp tham gia chương trình (Trang 22)
Bảng 3.1: Nhận thức chung của học sinh trường tiểu học Vĩnh Long về  Quyền trẻ em - Nâng cao nhận thức bảo vệ bản thân cho học sinh trường tiểu học vĩnh long huyện vĩnh lộc tỉnh thanh hóa
Bảng 3.1 Nhận thức chung của học sinh trường tiểu học Vĩnh Long về Quyền trẻ em (Trang 72)
Bảng 3.2: Nhận thức chung của học sinh tiểu học Vĩnh Long về bảo vệ  bản thân - Nâng cao nhận thức bảo vệ bản thân cho học sinh trường tiểu học vĩnh long huyện vĩnh lộc tỉnh thanh hóa
Bảng 3.2 Nhận thức chung của học sinh tiểu học Vĩnh Long về bảo vệ bản thân (Trang 79)
Bảng 3.4: Quan điểm của học sinh trường Tiểu học Vĩnh Long về người  tốt, người xấu - Nâng cao nhận thức bảo vệ bản thân cho học sinh trường tiểu học vĩnh long huyện vĩnh lộc tỉnh thanh hóa
Bảng 3.4 Quan điểm của học sinh trường Tiểu học Vĩnh Long về người tốt, người xấu (Trang 87)
Bảng 3.5: Đánh giá cách xử lý của học sinh trường tiểu học Vĩnh long  trước những tình huống nguy hiểm trong cuộc sống - Nâng cao nhận thức bảo vệ bản thân cho học sinh trường tiểu học vĩnh long huyện vĩnh lộc tỉnh thanh hóa
Bảng 3.5 Đánh giá cách xử lý của học sinh trường tiểu học Vĩnh long trước những tình huống nguy hiểm trong cuộc sống (Trang 91)
Bảng 3.8: Sự thay đổi nhận thức về người tốt, người xấu - Nâng cao nhận thức bảo vệ bản thân cho học sinh trường tiểu học vĩnh long huyện vĩnh lộc tỉnh thanh hóa
Bảng 3.8 Sự thay đổi nhận thức về người tốt, người xấu (Trang 104)
Bảng 3.9 Sự thay đổi nhận thức về những tình huống nguy hiểm - Nâng cao nhận thức bảo vệ bản thân cho học sinh trường tiểu học vĩnh long huyện vĩnh lộc tỉnh thanh hóa
Bảng 3.9 Sự thay đổi nhận thức về những tình huống nguy hiểm (Trang 106)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w