ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN --- TẠ THỊ YẾN CHI HỖ TRỢ HOÀN THIỆN CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC GISỚI TÍNH NHẰM KHẮC PHỤC TÌNH TRẠNG QUAN HỆ TÌNH DỤC TRƯ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
TẠ THỊ YẾN CHI
HỖ TRỢ HOÀN THIỆN CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC GISỚI TÍNH NHẰM KHẮC PHỤC TÌNH TRẠNG QUAN HỆ TÌNH DỤC TRƯỚC HÔN NHÂN
TRONG HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HIỆN NAY
(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP HỌC SINH TRƯỜNG
THPT THANH THỦY, HUYỆN THANH THỦY, TỈNH PHÚ THỌ)
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
Hà Nội - 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
TẠ THỊ YẾN CHI
HỖ TRỢ HOÀN THIỆN CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC GIỚI TÍNH NHẰM KHẮC PHỤC TÌNH TRẠNG QUAN HỆ TÌNH DỤC TRƯỚC HÔN NHÂN
TRONG HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HIỆN NAY
(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP HỌC SINH TRƯỜNG
THPT THANH THỦY, HUYỆN THANH THỦY, TỈNH PHÚ THỌ)
LUẬN VĂN THẠC SĨCHUYÊN NGÀNH CÔNG TÁC XÃ HỘI
Mã số: 60.90.01.01 Người hướng dẫn khoa học: TS MAI THỊ KIM THANH
Hà Nội - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Mai Thị Kim Thanh Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và xuất phát từ tình hình thực tế của địa bàn nghiên cứu.Tôi xin chịu trách nhiệm trước những kết quả đã điều tra được trong luận văn này
Hà Nội, tháng 12 năm 2016
Tác giả luận văn
Tạ Thị Yến Chi
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới TS Mai Thị Kim Thanh – người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ tôi từ khi hình thành ý tưởng cho đến khi hoàn thành luận văn.Bên cạnh đó là sự hợp tác của toàn thể cán bộ giáo viên và học sinh tại trường THPT Thanh Thủy cũng như chính quyền địa phương đã giúp tôi thực hiện nghiên cứu một cách chân thực, hiệu quả
Ngoài ra, tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn tới Thư viện trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Thư viện trường Đại học Lao động – xã hội đã tạo điều kiện giúp đỡ để tôi có thời gian tìm hiểu và nghiên cứu thêm các tài liệu chuyên ngành quý giá giúp tôi thực hiện Luận văn của mình Qua đây, tôi cũng xin nói lời cảm ơn chân thành tới toàn thể các thầy cô trong Khoa Xã hội học – trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn đã tạo điều kiện để tôi được học tập, tiếp thu và lĩnh hội những nguồn kiến thức quý báu, giúp tôi trưởng thành hơn trên con đường học tập cũng như trong cuộc sống
Một lời tri ân tôi muốn gửi tới gia đình, bạn bè và những người thân thiết đã luôn quan tâm, động viên, khuyến khích tôi trong quá trình hoàn thành luận văn tốt nghiệp của mình
Một lần nữa, tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội,ngày 20 tháng 12 năm 2016
Tác giả luận văn
Tạ Thị Yến Chi
Trang 51
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 5
DANH MỤC BẢNG BIỂU 6
MỞ ĐẦU 7
1 Lý do lựa chọn đề tài 7
2 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 9
3 Ý nghĩa nghiên cứu 15
4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 16
5 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 16
6 Phương pháp nghiên cứu 17
7 Câu hỏi nghiên cứu 19
8 Giả thuyết nghiên cứu 19
9 Kết cấu của đề tài 20
NỘI DUNG CHÍNH 21
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 21
1.1 Các khái niệm công cụ 21
1.1.1 Khái niệm tình dục 21
1.1.2 Khái niệm quan hệ tình dục 21
1.1.3 Khái niệm hôn nhân 23
1.1.4 Khái niệm chương trình 23
1.1.5 Khái niệm giáo dục giới tính 24
1.1.6 Khái niệm học sinh 25
1.1.7 Khái niệm nhân viên Công tác hội 25
1.1.8 Khái niệm hỗ trợ hoàn thiện 26
Trang 62
1.2 Các lý thuyết vận dụng trong đề tài nghiên cứu 26
1.2.1 Lý thuyết hành vi 26
1.2.2 Lý thuyết về hành vi lệch chuẩn 27
1.2.3 Lý thuyết xã hội hoá 29
1.3 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 30
1.4 Đặc điểm của đối tượng học sinh THPT 32
1.4.1 Đặc điểm học sinh THPT nói chung 32
1.4.2 Đặc điểm học sinh THPT Thanh Thủy nói riêng 33
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 35
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ QHTD THN CỦA HỌC SINH THPT HIỆN NAY VÀ CHƯƠNG TRÌNH GDGT ĐÃ ĐƯỢC TRIỂN KHAI THỰC HIỆN 36
2.1 Thực trạng vấn đề QHTD THN của học sinh hiện nay 36
2.1.1 Nhận thức của học sinh về giáo dục giới tính 36
2.1.2 Mức độ quan tâm của học sinh về giáo dục giới tính 37
37
2.1.3 Nhận thức, thái độ của học sinh về QHTD THN và các vấn đề liên quan 38
2.1.4 Quan điểm của học sinh về vấn đề QHTD THN 40
2.1.5 Nguyên nhân dẫn đến vấn đề QHTD THN của học sinh hiện nay 43
2.2 Thực trạng chương trình giáo dục giới tính đã được triển khai thực hiện tại trường THPT Thanh Thủy, T Phú Thọ 45
2.2.1 Bức tranh khái quát về việc triển khai chương trình GDGT dành cho học sinh tại trường 45
2.2.2 Vai trò của nhân viên CTXH trong việc thực hiện chương trình 54
Trang 73
2.2.3 Nguyên nhân dẫn đến thực trạng triển khai chương trình
GDGT tại trường 59
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 63
CHƯƠNG 3 HỖ TRỢ HOÀN THIỆN CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC GIỚI TÍNH CHO HỌC SINH TRƯỜNG THPT THANH THỦY DỰA TRÊN TRÊN ĐIỀU KIỆN CỦA ĐỊA PHƯƠNG VÀ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 64
3.1 Những vấn đề đặt ra từ chương trình GDGT cho học sinh trường THPT Thanh Thủy 64
3.1.1 Mục đích của chương trình GDGT 64
3.1.2 Nội dung của chương trình GDGT 68
3.1.3.Về hình thức của chương trình GDGT 72
3.1.4 Về phía nhân viên CTXH 74
3.2 Hỗ trợ hoàn thiện chương trình GDGT cho học sinh trường THPT Thanh Thủy 76
3.2.1 Mục đích của chương trình GDGT cho học sinh tại trường 76
3.2.2 Nội dung chương trình GDGT cho học sinh tại trường 78
3.2.3 Hình thức chương trình GDGT cho học sinh tại trường 83
3.2.4 Vai trò của nhân viên CTXH trong các hoạt động 93
3.2.5 Một số lưu ý đối với giáo viên giảng dạy/ nhân viên CTXH trong chương trình GDGT 96
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 99
KẾT LUẬN 100
1 Về lý luận 100
2 Về thực tiễn 100
KHUYẾN NGHỊ 101
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 105
Trang 84
PHỤ LỤC 107 CÁC CÂU HỎI PHỎNG VẤN SÂU 107 PHIẾU TRƢNG CẦU Ý KIẾN DÀNH CHO HỌC SINH 108
Trang 10giữa học sinh khối 10, 11, 12
THPT Thanh Thủy về hiệu quả của các hình thức triển khai chương trình GDGT
53
Trang 11Quá trình toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ
có ảnh hưởng trên tất cả các lĩnh vực và tác động trực tiếp đến từng quốc gia, dân tộc, cá nhân, đặc biệt là đối với thế hệ học sinh – lớp người trẻ tuổi, tầng lớp thanh thiếu niên, nó tạo cho thanh thiếu niên một lối sống nhạy bén, năng động, tự lập phù hợp với xu thế thời đại Mặt khác, quá trình ấy đưa thanh thiếu niên tiếp cận với lối sống tự do phương Tây và hình thành những quan niệm cởi mở, phóng khoáng hơn trong quan hệ nam nữ Cũng chính vì thế,
khái niệm “nam nữ thụ thụ bất thân” cũng dần không còn tồn tại trong đông
đảo giới trẻ.Các công trình nghiên cứu khoa học về tâm sinh lý đều cho thấy hiện nay lớp trẻ có sự phát dục ngày càng sớm và mạnh hơn so với các thế hệ trước đây
Theo ước tính của tổ chức Y tế thế giới (WHO), mỗi năm có khoảng
250 triệu người mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục Ở Việt Nam, nhóm tuổi thanh niên từ 16 đến 30 tuổi có khoảng 6,1 triệu người chiếm 1,3
% tổng số người trong độ tuổi lao động Kinh tế xã hội phát triển, điều kiện sống của người dân ngày càng được nâng cao, do ảnh hưởng của lối sống văn hoá hiện đại, thanh niên nước ta cũng như nhiều nước khác trên thế giới bước vào tuổi dậy thì và sinh sản sớm Quan hệ tình dục (QHTD) trong điều kiện thiếu hiểu biết và kinh nghiệm phòng tránh thai có thể dẫn đến những hậu quả
Trang 128
không mong muốn đối với thanh thiếu niên, đặc biệt là tình trạng nạo thai trước hôn nhân và các tình trạng nạo thai trước hôn nhân và các bệnh liên quan đến đường tình dục
Ở Việt Nam, trong thời gian gần đây cũng có rất nhiều những nghiên cứu xoay quanh vấn đề quan hệ tình dục trước hôn nhân (QHTD THN) và những hệ quả của nó Qua những báo cáo đó có thể thấy rằng, hiện tượng giới trẻ quan hệ tình dục trước hôn nhân ngày càng tăng cao Điều này cho thấy, nhận thức và quan niệm của thế hệ trẻ về vấn đề tình dục ngày càng khác xa
so với thế hệ trước Đây cũng là kết quả của sự biến đổi xã hội trong bối cảnh hiện nay, khi mà nền kinh tế - xã hội phát triển một cách nhanh chóng và đặc biệt là sự tiến bộ của ngành công nghệ thông tin đã góp phần du nhập một số
những khuynh hướng quan niệm “thoáng” về tình dục từ các nước trên thế
giới Những quan niệm này không hoàn toàn là lệch lạc, tuy nhiên, xét trên phạm vi văn hoá truyền thống và bối cảnh hiện tại của Việt Nam, nó đã gây ra những hậu quả xã hội khôn lường, trở thành mối quan tâm, lo lắng của không chỉ các nhà nghiên cứu mà là của cả cộng đồng
Thực trạng về vấn đề QHTD THN và những hậu quả của nó đối với tầng lớp thanh thiếu niên đặt ra nhiều suy nghĩ và cho toàn xã hội và điều đó khiến xã hội lo lắng về sự suy giảm sức khoẻ thể chất cũng như tinh thần của một bộ phận không nhỏ dân số trẻ.Đây cũng chính là vấn đề quan trọng của đất nước trong quá trình hội nhập quốc tế cho bài toán lối sống, đạo đức và chất lượng cuộc sống gia đình, những tế bào tương lai của xã hội Đồng thời thực trạng và diễn biến của nó đặt các nhà hoạch định chính sách về dân số và
kế hoạch hoá gia đình đứng trước ngã ba đường: những biện pháp để nâng cao nhận thức cho vị thành niên về tình dục và QHTD THN; nên hay không nên giáo dục hành vi QHTD an toàn cho vị thành niên và thanh niên; và những giải pháp nào sẽ phát huy được hiệu quả, hạn chế được tình trạng trên
Trang 139
Vấn đề QHTD THN đang là một vấn đề xã hội bức xúc, đáng báo động, cần có những số liệu, nghiên cứu và đánh giá đúng đắn, xác thực để có cái nhìn sâu sắc về thực trạng trên Tầng lớp học sinh - những người thông minh, nhạy bén với thời cuộc, có tầm nhìn phong phú, có tư tưởng tiến bộ song không thể tránh khỏi những suy nghĩ tiêu cực, lệch lạc Cũng vì thế, chúng tôi nhận thấy việc nghiên cứu, đánh giá quan điểm, suy nghĩ của tầng lớp học sinh, đặc biệt là học sinh THPT về vấn đề nhạy cảm ấy là điều rất cần thiết để chúng ta có được cái nhìn khách quan toàn diện hơn
Từ việc khái quát bức tranh toàn cảnh về vấn đề QHTD THN, nghiên cứu sẽ đi sâu tìm hiểu về quan điểm của giới trẻ cũng như học sinh về vấn đề
ấy Đồng thời, chúng tôi tiến hành xem xét, nghiên cứu về các chương trình giáo dục giới tính hiện nay để tìm ra những giải pháp hiệu quả nhằm nâng cao nhận thức, hành vi, thái độ của tầng lớp thanh thiếu niên đối với vấn đề tình dục trước hôn nhân Từ đó, có những đề xuất, khuyến nghị tới gia đình, nhà trường, các cơ quan chức năng và toàn xã hội về việc giáo dục, định hướng cho giới trẻ những quan điểm, lối sống phù hợp với chuẩn mực đạo đức Việt Nam và có những biện pháp kịp thời nhằm hạn chế thực trạng trên, nâng cao chất lượng cuộc sống, ổn định dân số
Với tất cả những lý do nêu trên, chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài
“Hỗ trợ hoàn thiện chương trình giáo dục giới tính nhằm khắc phục tình trạng quan hệ tình dục trước hôn nhân trong học sinh Trung học phổ
thông hiện nay” (Nghiên cứu trường hợp học sinh trường THPT Thanh Thủy, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ)
2 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Ở trên thế giới nghiên cứu về SKSS-GDGT có mặt rất sớm nhưng được gọi với cái tên khác nhau chẳng hạn sức khỏe vị thành niên hay giới tình tình
Trang 14Ở Ai Cập, trẻ từ 12-14 tuổi được giáo viên giảng dạy những kiến thức giải phẫu sinh học như cấu tạo cơ quan sinh dục nam nữ, cơ chế hoạt động, quan hệ tình dục, nguyên nhân có thai và các bệnh truyền nhiễm qua đường tình dục
Tuy nhiên, các nghiên cứu cụ thể cho thấy, ở châu Phi, tỷ lệ mang thai ngoài ý muốn dao động từ 50 – 90 % trong số thanh niên chưa chồng và 25 – 40% trong số thanh niên có chồng[1]
Khảo sát các chương trình giáo dục giới tính ở Châu Á cũng đang có những mức độ phát triển rất khác nhau Indonesia, Mông Cổ, Hàn Quốc có khung chính sách hệ thống về việc giảng dạy giới tính trong các trường học Malaysia, Philippines và Thái Lan đánh giá các nhu cầu sức khoẻ sinh sản thanh niên Ấn Độ có các chương trình với mục tiêu hướng tới trẻ em từ chín tới mười sáu tuổi Tại Nhật Bản, giáo dục giới tính là bắt buộc từ 10 hay 11 tuổi, chủ yếu đề cập tới các chủ đề sinh học như kinh nguyệt và xuất tinh Tại Trung Quốc và Sri Lanka, giáo dục giới tính truyền thống gồm đọc về đoạn sinh sản trong các cuốn sách giáo khoa sinh học Tuy nhiên, ở Bangladesh, Myanmar, Nepal và Pakistan thì không có những chương trình GDGT như vậy[2]
Trang 1511
Đối với các quốc gia châu Âu như Pháp, vào tháng 02/2000, Chính phủ Pháp quyết định đưa kiến thức giới tính lên Đài truyền hình và sóng đài phát thanh, đồng thời phát khoảng 5 triệu tờ rơi cho học sinh phổ thông về các phương pháp tránh thai an toàn, hiệu quả
Tại Đan Mạch, cuối những năm 80 của thế kỷ XX đã có chương trình truyền hình được Chính phủ tài trợ đã trở thành kênh thông tin quen thuộc về giới tính và SKSS cho lứa tuổi vị thành niên Chính vì thế, Đan Mạch là nước
có tỷ lệ trẻ vị thành niên mang thai thấp nhất thế giới và là hình mẫu “lý tưởng” cho các nước khác học tập cách thức GDGT trong trường học
Tại Châu Mỹ, các trường học đều đưa GDGT vào chương trình học của học sinh lớp 7-12, có nơi bắt đầu từ lớp 5, lớp 6 Học sinh tiếp cận với kiến thức giới tính thuộc 2 kiểu: toàn diện kiến thức chung hoặc kiến thức sâu về một khía cạnh, vấn đề
Tuy nhiên, Mỹ lại là một trong những nước có tỷ lệ sinh ở trẻ vị thành niên cao nhất thế giới (có khoảng 20% số phụ nữ sinh con trước tuổi 20, tỷ lệ nhiễm bệnh qua đường tình dục ở thanh thiếu niên cũng là cao nhất[3]
Như vậy, có thể thấy rằng trên thế giới, việc triển khai các chương trình giáo dục giới tính đã được thực hiện khá phổ biến và cũng đã đem đến những kết quả nhất định.Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn có rất nhiều vấn đề nảy sinh từ tình trạng QHTD THN, đòi hỏi mỗi quốc gia cần có những nhìn nhận
và giải pháp hiệu quả hơn cho vấn đề này
( [1], [2], [3]: Theo giáo dục giới tính toàn cầu của trang http://tailieu.vn)
2.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Ở Việt nam, trong thời gian gần đây, cùng với giáo dục dân số, GDGT cũng đã bắt đầu được quan tâm rộng rãi.Lứa tuổi THPT đang ở giai đoạn cuối thời kỳ dậy thì và bắt đầu giai đoạn thanh niên nên các em có sự thay đổi mạnh mẽ về tâm sinh lý Ở đây, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả
Trang 16từ năm 1988, một đề án với quy mô lớn nghiên cứu về đời sống gia đình và giới tính cho học sinh (gọi tắt là Giáo dục đời sống gia đình) có ký hiệu VIE/88/P09 (gọi tắt là đề án P09) đã được Hội đồng Chính phủ, Bộ Giáo dục
và Đào tạo, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam thông qua và cho phép thực hiện với sự tài trợ của UNEPA và UNESCO khu vực Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của GS.Trần Trọng Thủy và GS Đặng Xuân Hoài, đề án đã được tiến hành rất thận trọng và khoa học, nghiên cứu khá sâu rộng nhiều vấn đề như: quan niệm về tình bạn, tình yêu, hôn nhân, nhận thức về giới tính và GDGT của giáo viên, phụ huynh, học sinh… ở nhiều nơi trong cả nước, đẻ chuẩn bị
cho học sinh phổ thông từ lớp 9 đến lớp 12
Từ khoảng năm 1990 đến nay, ở Việt Nam đã có nhiều dự án Quốc gia, nhiều đề tài liên kết với các nước, các tổ chức quốc tế nghiên cứu về giới tính
và những vấn đề có liên quan như: giáo dục SKSS; giáo dục về tình yêu trong thanh niên, học sinh; giáo dục đời sống gia đình; GDGT cho học sinh… Việc nghiên cứu giới tính và giáo dục giới tính đã được sự quan tâm nhiều của Nhà nước, Bộ Giáo dục và đào tạo, Bộ Y tế, các nhà khoa học và các bậc phụ huynh
Cuộc điều tra quốc gia về vị thành niên và thanh niên Việt Nam lần thứ nhất, được công bố cuối năm 2007 Đây là cuộc điều tra có quy mô lớn và toàn diện nhất về thanh thiếu niên được triển khai, với gần 7.600 người tại 42
Trang 1713
tỉnh, thành phố tham gia trả lời về giáo dục, việc làm, tình trạng sức khỏe - sức khỏe sinh sản Kết quả điều tra cho thấy: 7,6% số người trong độ tuổi thanh niên có QHTDTHN, trong đó tỉ lệ nam thanh niên là 11,1%, nữ chỉ có 4% QHTDTHN phổ biến nhất ở khu vực dân tộc thiểu số với 39,8% ở nam thanh niên và 26,1% với nữ thanh niên Tuổi quan hệ tình dục lần đầu của thanh niên Việt Nam là 19,6…
Theo nghiên cứu gần đây của tác giả Vũ Mạnh Lợi (Viện Xã hội học
Việt Nam) về vấn đề “Tình dục trước hôn nhân: Nghiên cứu so sánh thanh niên Hà Nội, Thượng Hải và Đài Loan - Trung Quốc”, phần khảo sát 6.363
thanh niên Hà Nội ở độ tuổi 15-24 cho thấy: Tuổi trung bình khi quan hệ tình dục lần đầu của nam, nữ thanh niên Hà Nội lần lượt là 20,15 và 20,34, thấp hơn thanh niên ở Thượng Hải và Đài Loan Đại đa số thanh niên đã sinh hoạt tình dục cho biết họ tham gia lần đầu với người yêu hay vợ, chồng tương lai.Những người này chiếm 83% ở Thượng Hải và 90% ở Đài Loan.Ở Hà Nội, tỷ lệ những người này chỉ là 63% Đặc biệt, 4% thanh niên trong số nghiên cứu đã từng có hoạt động tình dục ở Hà Nội đã có lần đầu tiên làm tình với người bán dâm, trong khi tỷ lệ này ở Thượng Hải, Đài Loan chỉ là 1%
Theo số liệu chính thức điều tra quốc gia về thanh niên và vị thành niên thì 7,6% số thanh thiếu niên có quan hệ tình dục trước hôn nhân Tuổi quan
hệ tình dục lần đầu tiên của thanh niên Việt Nam là 19,6%, gần 80% thanh niên chỉ quan hệ tình dục (QHTD) khi đã lập gia đình Có tới 66,7% nam giới chấp nhận QHTD trước hôn nhân Tuy nhiên, trên thực tế, con số ấy có thể lớn hơn rất nhiều Điều đáng lưu tâm ở đây là các nghiên cứu cho thấy, xu hướng quan hệ tình dục ngày càng trẻ hóa, có những em khoảng 12 đến 15 tuổi đã QHTD lần đầu Nhiều người sẵn sàng quan hệ tình dục trước hôn nhân trong khi những hiểu biết về sức khỏe tình dục, sinh sản của nhóm đối tượng này còn rất hạn chế
Trang 1814
Trong “Nghiên cứu tình dục ở Việt Nam – những điều đã biết và chưa biết” (Khuất Thu Hồng – 2001) đã chỉ ra sự biến đổi trong quan niệm, thái độ
và hành vi tình dục ở Việt Nam từ quá khứ đến hiện tại Quan niệm về QHTD
và ý nghĩa của nó trong lớp trẻ hiện nay đã thay đổi rất nhiều, những người càng trẻ càng có xu hướng tự do hơn, không coi chuyện QHTD THN là điều kinh khủng như thế hệ trước đã nghĩ
Trong nghiên cứu “Tìm hiểu nhu cầu thông tin về sức khoẻ sinh sản VTN qua nghiên cứu thư gửi về Chương trình “Cửa sổ tình yêu” của Đài tiếng nói Việt Nam” (Nguyễn Thị Tuyết Minh, 2002) đã chỉ ra hiện tượng QHTD THN
ngày càng trở nên phổ biến hơn, 70 % học sinh - sinh viên gọi điện xin tư vấn
về tình dục, mang thai ngoài ý muốn và các biện pháp tránh thai
Công trình về Quan điểm của sinh viên trường Đại học Khoa học xã hội – nhân văn và Đại học Khoa học tự nhiên, Đại học quốc gia Hà Nội về QHTD THN, Khoa Xã hội học 2B, 2006cũng đề cập đến thực trạng QHTD
THN trong sinh viên có tới 23,1% số người được hỏi trả lời đã từng QHTD
Tỷ lệ nam sinh viên QHTD THN cao gấp 2,2 lần so với nữ sinh viên Có tới 5,4% QHTD lần đầu tiên khi 15 tuổi; từ 15 – 17 tuổi chiếm 17,9% Tuổi trung bình có QHTD lần đầu tiên là 19,7% tuổi tương đương kết quả điều tra của SAVY (19,6 tuổi trong đó nam là 20 tuổi, nữ là 19,4 tuổi)
Dựa trên số liệu định lượng của cuộc “Điều tra cơ bản thực trạng bình đẳng giới và tác động của chính sách đối với phụ nữ, nam giới nhằm phục vụ công tác hoạch định chính sách ở Việt Nam” (Viện Khoa học xã hội, 2006), bài viết “Thái độ về quan hệ ngoài hôn nhân và tình dục” đã phân tích vấn đề
thái độ về QHTD THN trong mối tương quan với các yếu tố khu vực, nhóm tuổi và trình độ học vấn người trả lời Kết quả nghiên cứu cho thấy những quan niệm và giá trị đạo đức truyền thống vẫn là yếu tố ảnh hưởng mạnh mẽ đến thái độ về tình dục ngoài hôn nhân nói chung và trước hôn nhân nói riêng
Trang 192007) đã đề cập đến thực trạng quan hệ tình dục trước hôn nhân của sinh viên
có tới 22,6% số người được hỏi trả lời đã từng quan hệ tình dục trong đó 31,4% nam sinh viên đã từng quan hệ tình dục, nữ là 14,1%, tỷ lệ nam cao hơn 2,2 lần so với nữ, tuổi quan hệ lần đầu tiên là 19 tuổi Trong số những người đã từng QHTD, có 73,9% đã từng sử dụng một trong số các biện pháp tránh thai Tỷ lệ sinh viên chấp nhận QHTD THN là 21,4%, tương đương với 1/5 số sinh viên trong mẫu điều tra Đề tài cũng chỉ ra rất rõ các yếu tố tác động tới thái độ của sinh viên về vấn đề này
Thực tế cho thấy, từ trước tới nay có rất nhiều các đề tài nghiên cứu về QHTD THN chủ yếu đối với đối tượng thanh niên là học sinh, sinh viên.Các nghiên cứu đều chỉ ra tình trạng báo động về QHTD THN và những thiếu hụt trong việc thực hiện chương trình GDGT
3 Ý nghĩa nghiên cứu
Nghiên cứu nhằm mô tả về nhận thức, thái độ, hành vi về vấn đề QHTD THN của học sinh và khái quát về chương trình GDGT tại trường THPT Thanh Thủy dưới góc độ CTXH Từ đó, đưa ra những giải pháp, khuyến nghị nhằm nâng cao chương trình để trang bị đầy đủ các kiến thức về chăm sóc SKSS-GDGT cho các em học sinh
Đồng thời, nghiên cứu mong muốn các bậc phụ huynh, nhà trường và toàn xã hội cần có hiểu biết rõ ràng và sự quan tâm cần thiết tới tâm sinh lý của các em học sinh để đưa ra những định hướng cụ thể cho các em Qua đó,
Trang 204.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tập trung nghiên cứu tìm hiểu nhận thức, thái độ, hành vi của học sinh hiện nay về vấn đề QHTD THN
- Làm rõ những nguyên nhân dẫn đến các suy nghĩ, quan niệm đó
- Phát hiện các hệ quả xã hội nảy sinh từ những quan niệm đó
- Xem xét, đánh giá về các chương trình giáo dục giới tính hiện hành và vai trò của nhân viên CTXH trong đó
- Trên cơ sở đó, đưa ra những giải pháp, kết luận, đề xuất một vài khuyến nghị nhằm nâng cao nhận thức của học sinh nói riêng và thế hệ trẻ nói chung về vấn đề QHTD THN nhằm giảm bớt tỷ lệ nạo phá thai, các bệnh lây truyền qua đường tình dục, giảm tỷ lệ người nhiễm HIV/AIDS
5 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Hỗ trợ hoàn thiện chương trình giáo dục giới tính nhằm khắc phục tình trạng quan hệ tình dục trước hôn nhân trong học sinh Trung học phổ thông hiện nay
5.2 Khách thể nghiên cứu
Trang 2117
- Học sinh trường THPT Thanh Thủy, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ
- Cán bộ, giáo viên trong trường THPT Thanh Thủyvà các ban ngành có liên quan
- Một số phụ huynh học sinh
5.3 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 03/2016 đến tháng 05/2016
- Địa bàn nghiên cứu: trường THPT Thanh Thủy, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ
- Giới hạn về nội dung nghiên cứu:
+ Nghiên cứu tập trung vào việc đánh giá tình trạng QHTD THN và hiểu biết của học sinh trường THPT Thanh Thủy về SKSS
+Nghiên cứu đánh giá về chương trình giáo dục giới tính hiện hành tại trường THPT Thanh Thủy
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp luận Mác xít
Những lý luận và phương pháp luận của triết học Mác – Lênin trong đó bao gồm chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng là cơ sở xuyên suốt của đề tài nghiên cứu
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử: cần phải nhận thức, giải quyết các hiện tượng xã hội trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể Vì thế, cần tìm hiểu nhận thức, thái độ, hành vi của học sinh hiện nay về vấn đề QHTD THN cần phải đặt trên cơ sở nghiên cứu trong khoảng thời gian và không gian nhất định để từ đó đưa ra được hướng giải quyết vấn đề phù hợp
Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng là xem xét và giải thích các quá trình, hiện tượng của đời sống xã hội trong mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau, có tính chất quy luật giữa chúng Điều đó có nghĩa nghiên cứu nhận thức, thái độ, hành vi của học sinh hiện nay về QHTD THN phải được xem
Trang 226.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
6.2.1 Phương pháp định lượng
Phương pháp thu thập thông tin bằng bảng hỏi
Phiếu trưng cầu ý kiến được chuẩn bị sẵn với 37 câu hỏi xoay quanh vấn đề nghiên cứu Chúng tôi tiến hành thu thập thông tin bằng việc điều tra dựa vào phiếu trưng cầu ý kiến với cơ cấu 200 phiếu cho học sinh các khối
10, 11, 12 tại trường THPT Thanh Thủy
Phương pháp thống kê xã hội học
Với 200 phiếu hỏi thu được, chúng tôi tiến hành xử lý kết quả điều tra bằng phương pháp thống kê xã hội học Chương trình thống kê SPSS sẽ được
sử dụng để xử lý thông tin thu được từ các bảng hỏi đó
6.2.2 Phương pháp định tính
Phương pháp thu thập và phân tích tài liệu
Đây là phương pháp mà chúng tôi thực hiện dựa trên việc tiến hành tra cứu, rà soát các công trình nghiên cứu đã hoàn thành, các bài viết đăng trên báo, tạp chí cũng như các sách, kỷ yếu khoa học đã được công bố Trên cơ sở
đó, chúng tôi sẽ có sự hình dung khái quát về vấn đề nghiên cứu, làm cơ sở cho việc thiết kế và triển khai đề tài này, đảm bảo tính kế thừa và tránh trùng lặp với các nghiên cứu trước đó
Trang 2319
Phương pháp phỏng vấn sâu cá nhân
Chúng tôi tiến hành phỏng vấn sâu 17 trường hợp:
- 1 Lãnh đạo trường
- 5 thầy cô giáo
- 2 phụ huynh
- 9 học sinh đại diện cho 3 khối: 10, 11, 12 (3 học sinh/ 1 khối)
Quá trình phỏng vấn dưới hình thức trò chuyện xung quanh vấn đề QHTD trước hôn nhân, SKSS và giáo dục giới tính.Từ đó tìm hiểu những nhận định của người được hỏi về vấn đề nghiên cứu.Kết quả của cuộc phỏng vấn sẽ được sử dụng định tính trong báo cáo
7 Câu hỏi nghiên cứu
- Thực trạng nhận thức, thái độ và hành vi của học sinh trường THPT Thanh Thủy, huyện Thanh Thủy, T.Phú Thọ về vấn đề tình dục, QHTD THN như thế nào?
- Thực trạng chương trình giáo dục giới tính tại trường THPT Thanh Thủy
8 Giả thuyết nghiên cứu
- Học sinh trường THPT Thanh Thủy chưa có nhận thức đầy đủ về tình dục, quan hệ tình dục an toàn, quan hệ tình dục trước hôn nhân và những ảnh hưởng tiêu cực của việc QHTD trước hôn nhân Học sinh có thái độ, quan niệm cởi mở, phóng khoáng trong quan hệ nam nữ
- Chương trình GDGT cho học sinh tại trường THPT Thanh Thủy đã được triển khai nhưng chưa thực sự hiệu quả
Trang 2420
- Nhân viên CTXH – trong vị trí là các cán bộ Đoàn hội, cũng đã tham gia vào các chương trình GDGT nhưng chưa thực sự sát sao và vai trò của
họ chưa được đánh giá đúng nghĩa
- Để nâng cao chương trình GDGT cho học sinh tại trường THPT Thanh Thủy cần tăng cường các hoạt động nhằm trang bị đầy đủ kiến thức về SKSS-GDGT cho học sinh; vận động sự phối hợp của các ban ngành tại địa phương, gia đình, nhà trường; tổ chức các câu lạc bộ giao lưu giữa các trường trong khu vực; kết hợp GDGT trong các môn học chính khóa…
9 Kết cấu của đề tài
Đề tài có kết cấu gồm ba phần chính: Phần mở đầu, phần nội dung, phần kết luận Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, phần nội dung của Luận văn gồm ba chương Nội dung chính tập trung trong ba chương là:
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
CHƯƠNG 2.THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ QHTD THN CỦA HỌC SINH THPT HIỆN NAY VÀ CHƯƠNG TRÌNH GDGT ĐÃ ĐƯỢC TRIỂN KHAI THỰC HIỆN
CHƯƠNG 3.HỖ TRỢ HOÀN THIỆN CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC GIỚI TÍNH CHO HỌC SINH TRƯỜNG THPT THANH THỦY DỰA TRÊN TRÊN ĐIỀU KIỆN CỦA ĐỊA PHƯƠNG VÀ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Trang 2521
NỘI DUNG CHÍNH CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Các khái niệm công cụ
1.1.1 Khái niệm tình dục
Tình dục là xung lực nội tại của người muốn có khoái cảm, muốn thoả mãn những nhu cầu sinh lý của con người.Trong điều kiện thông thường, nhu cầu mạnh mẽ nhất và cũng đem lại khoái cảm cao nhất là nhu cầu quan hệ nam nữ.Như vậy, tình dục là bản năng tự nhiên
Tình dục là sự phát triển tự nhiên và tất yếu của tính dục khi con người bước vào tuổi dậy thì Đó là ham muốn khoái lạc tập trung vào đối tượng khác giới, kèm theo những tình cảm tốt đẹp
Tình dục là một nhu cầu tự nhiên của con người, bắt đầu xuất hiện ở tuổi dậy thì và là một bản năng duy trì nòi giống tình dục là một hoạt động sống mạnh mẽ nhất, đam mê nhất, đồng thời đem lại khoái cảm mãnh liệt nhất, nhờ đó mà có sự sinh sản để duy trì nòi giống
Tình dục là sản phẩm xã hội, bị quy định bởi các yếu tố văn hóa và xã hội Chúng ta nghĩ và làm theo giống như người khác trong cộng đồng của mình Các nền văn hoá khác nhau có những quan niệm, thái độ và hành vi tình dục khác nhau
(Theo Đào Xuân Dũng, “Giáo dục giới tính”, NXB Thanh niên, 1995)
1.1.2 Khái niệm quan hệ tình dục
Quan hệ tình dục còn gọi là giao hợp hay giao cấu, thường chỉ hành vi đưa bộ phận sinh dục nam vào trong bộ phận sinh dục nữ Quan hệ tình dục cũng có thể diễn ra giữa những thực thể khác hoặc cùng giới tính hoặc lưỡng tính Những năm gần đây, việc thực hiện với những bộ phận không phải là bộ phận sinh dục (quan hệ đường miệng, đường hậu môn, hoặc dùng ngón tay) cũng được bao gồm trong định nghĩa này
Trang 2622
Trong cách tiếp cận của xã hội học, QHTD không chỉ đơn thuần là mang những đặc tính về mặt sinh học mà còn mang tính văn hoá, xã hội và lịch sử.Chỉ có thể lĩnh hội được các hình thức và ý nghĩa của tình dục trong bối cảnh tổng thể của một nền văn hoá mang tính định chế xã hội, bao gồm cả
sự phân biệt giới, các khuôn mẫu của nam tính và nữ tính.Như vậy, ở con người, QHTD không chỉ mang tính bản năng mà còn chịu sự chi phối của các giá trị, chuẩn mực xã hội
Trong cách tiếp cận của xã hội học, QHTD không chỉ đơn thuần là mang những đặc tính về mặt sinh học mà còn mang tính văn hoá, xã hội và lịch sử.Chỉ có thể lĩnh hội được các hình thức và ý nghĩa của tình dục trong bối cảnh tổng thể của một nền văn hoá mang tính định chế xã hội, bao gồm cả
sự phân biệt giới, các khuôn mẫu của nam tính và nữ tính.Như vậy, ở con người, QHTD không chỉ mang tính bản năng mà còn chịu sự chi phối của các giá trị, chuẩn mực xã hội
Theo cách hiểu trên ở các nước phương Đông, trong đó có nước ta, vốn coi trọng sự tiết dục, coi tình dục chỉ là việc trong hôn nhân, trinh tiết được rất coi trọng đối với người con gái trước khi về nhà chồng.Tuy nhiên, khi Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế cũng có nghĩa là phải đồng thời chấp nhận hội nhập về văn hoá và lối sống ở một mức độ nhất định.Xu hướng tình dục
“thoáng” hiện nay là một thực tế đã được báo động trước mà ta không thể nào
tránh được Vì vậy cần được trang bị những kiến thức nhằm nâng cao nhận thức, thái độ, hành vi của tầng lớp thanh niên đối với vấn đề tình dục trước hôn nhân, giúp giới trẻ tránh được những hậu quả của QHTD trước hôn nhân mang lại
(Theo PGS.TS Nguyễn Thị Thuận - CN Trần Xuân Kỳ, “Giới và phát triển”,
NXB Lao động - xã hội, 2009)
Trang 2723
1.1.3 Khái niệm hôn nhân
Hôn nhân là một dạng liên kết khác giới thuộc loại đặc biệt được pháp luật thừa nhận, có giá trị lâu dài.Khái niệm “hôn nhân” không thể được rút gọn về một tiêu chuẩn riêng, như tính “hợp pháp” hay khả năng tái sinh sinh học và xã hội.Vì tính chất thể loại đặc biệt của nó được lý giải bởi cấu trúc bên trong đặc biệt và bởi xã hội đã giao phó cho nó những chức năng đa dạng nhất trong xã hội loài người Dù tất cả sự khác biệt văn hoá thì hôn nhân ở bất
cứ đâu, dù có sự khác biệt về mức độ trách nhiệm vẫn được công nhận là “thể chế” xã hội để đảm bảo sự kế tục hợp pháp, thường được xã hội bảo vệ và ở mức độ nhiều hay ít chịu sự điều tiết của xã hội, lý giải sự tiếp tục kế thừa và đòi hỏi sự tương trợ và hợp tác lẫn nhau của cả hai bên
Như vậy, hôn nhân được đề cập đến với tư cách là một mối quan hệ được luật pháp và xã hội thừa nhận.Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng
khái niệm hôn nhân nhằm mục đích so sánh mối quan hệ “ngoài hôn nhân”
của một bộ phận không nhỏ giới trẻ hiện nay với những quan hệ hôn nhân đã được xác lập
(Theo Đào Xuân Dũng, “Giáo dục giới tính”, NXB Thanh niên, 1995)
1.1.4 Khái niệm chương trình
Theo Từ điển Bách Khoa Tiếng Việt, chương trình là toàn bộ những việc cần làm đối với một lĩnh vực công tác hoặc tất cả các mặt công tác của một cơ quan, một ngành chủ quản hay của Nhà nước nói chung theo một trình
tự nhất định và trong thời gian nhất định
Đối với những chương trình quan trọng, cần có sự phê duyệt hoặc ra quyết định ban hành của cơ quan có thẩm quyền Sau khi đã được phê duyệt hoặc ban hành thì các cơ quan, tổ chức có liên quan phải tổ chức thực hiện nghiêm túc
(Theo Từ điển Bách khoa Tiếng Việt)
Trang 2824
1.1.5 Khái niệm giáo dục giới tính
Theo định nghĩa của ngành Y Tế, giáo dục giới tính là một thuật ngữ rộng miêu tả việc giáo dục về giải phẫu sinh dục , sinh sản , quan hệ tình dục, sức khỏe sinh sản, các quan hệ tình cảm, quyền sinh sản và các trách nhiệm, tránh thai , và các khía cạnh khác của thái độ tình dục của loài người
Những cách giáo dục giới tính thông thường là thông qua cha mẹ, người chăm sóc, các chương trình trường học và các chiến dịch sức khoẻ cộng đồng
Giáo dục giới tính có thể được dạy một cách không chính thức, như khi một ai đó nhận được thông tin từ một cuộc trò chuyện với cha mẹ, bạn bè, người lãnh đạo tôn giáo, hay qua truyền thông Nó cũng có thể được truyền dạy qua các tác giả với các tác phẩm về giới tính, chuyên mục báo chí, hay qua các trang web về giáo dục giới tính Giáo dục giới tính chính thức diễn ra khi các trường học hay người cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khoẻ thực hiện điều này
Theo Từ điển Bách khoa về giáo dục: “ Giáo dục giới tính là giáo dục chức năng làm một người có giới tính, điều quan trọng là đề cập vấn đề giới tính một cách công khai và đầy đủ ở lớp từ nhà trẻ đến đại học, giúp học sinh cảm thấy an toàn và tự do trong việc biểu hiện cảm xúc liên quan đến đời sống giới tính”
Theo A.G.Khrivcova, D.V Kolexev thì “Giáo dục giới tính là một quá trình hướng vào việc vạch ra những đường nét, những phẩm chất, những đặc trưng cũng như khuynh hướng phát triển nhân cách, xác định thái độ xã hội cần thiết của con người đối với người khác”
Thỉnh thoảng giáo dục giới tính chính thức được dạy như một chương trình đầy đủ như một phần của chương trình học tại các trường trung học hay trung học cơ sở Ở những trường hợp khác nó chỉ là một bài học bên trong
Trang 2925
một lớp học rộng hơn về sinh học, sức khỏe, kinh tế gia đình hay giáo dục thể chất Một số trường không dạy giáo dục giới tính, bởi nó vẫn là một vấn đề gây tranh cãi ở một số quốc gia, đặc biệt là Hoa Kỳ (đặc biệt về vấn đề độ tuổi trẻ em cần nhận được sự giáo dục như vậy, số lượng chi tiết liên quan, và các chủ đề về khuynh hướng tình dục ví dụ như cách thực hiện, tình dục an toàn, thủ dâm, tình dục trước hôn nhân và đạo đức tình dục)
(Theo Từ điển Bách khoa về giáo dục)
1.1.6 Khái niệm học sinh
Học sinh được hiểu là những người đang trong độ tuổi đến trường, tham gia quá trình học tập tại trường học Ở đây, trong phạm vi của đề tài nghiên cứu, chúng tôi tập trung nghiên cứu về trường hợp học sinh THPT (trong độ tuổi từ 15 đến 17 tuổi, tương đương với học sinh của 3 khối 10, 11,
12) (Theo Từ điển Bách khoa về giáo dục)
1.1.7 Khái niệm nhân viên Công tác hội
Hiệp hội CTXH quốc tế và các trường đào tạo CTXH quốc tế (2011)
thống nhất một định nghĩa về CTXH như sau: “Công tác xã hội là nghề nghiệp tham gia vào giải quyết vấn đề liên quan tới mối quan hệ của con người và thúc đẩy sự thay đổi xã hội, tăng cường trao đổi quyền và giải phóng quyền lực nhằm nâng cao chất lượng sống của con người CTXH sử dụng các học thuyết về hành vi con người với môi trường sống.”
Trong nhiều tài liệu Tiếng Việt, có thể gặp những khái niệm nhân viên công tác xã hội, cán bộ xã hội, cán sự xã hội, người trợ giúp Nhân viên xã hội (social worker) được Hiệp hội các nhà công tác xã hội chuyên nghiệp quốc tế
- IASW định nghĩa: “Nhân viên xã hội là người được đào tạo và trang bị các kiến thức và kỹ năng trong công tác xã hội, họ có nhiệm vụ: trợ giúp các đối tượng nâng cao khả năng giải quyết và đối phó với vấn đề trong cuộc sống, tạo cơ hội để các đối tượng tiếp cận được nguồn lực cần thiết, thúc đẩy sự
Trang 3026
tương tác giữa các cá nhân, giữa cá nhân với môi trường tạo ảnh hưởng tới chính sách xã hội, các cơ quan, tổ chức vì lợi ích của cá nhân, gia đình, nhóm
và cộng đồng thông qua hoạt động nghiên cứu và hoạt động thực tiễn”
(Nguồn: theo TS Bùi Thị Xuân Mai, “Nhập môn Công tác xã hội,
NXB Lao động - xã hội, 2010)
1.1.8 Khái niệm hỗ trợ hoàn thiện
Theo Từ điển bách khoa Tiếng Việt, “hỗ trợ” là giúp đỡ lẫn nhau, bổ sung, thêm vào để hoàn chỉnh hơn “Hoàn thiện” tức là sự trọn vẹn, đầy đủ,
tốt đẹp
Trong phạm vi đề tài nghiên cứu, khi đặt hai cụm từ gần nhau, “hỗ trợ hoàn thiện” cho thấy ý nghĩa đó là đưa ra những định hướng, phương pháp
nhằm bổ sung giúp cho đầy đủ, hoàn chỉnh và đạt được hiêu quả cao hơn
1.2 Các lý thuyết vận dụng trong đề tài nghiên cứu
1.2.1 Lý thuyết hành vi
Xuất phát của thuyết này là từ hành vi của mỗi cá nhân Những người theo thuyết hành vi quan niệm rằng tất cả hay phần lớn các hành vi của con người đều được giải thích theo mô hình kích thích và phản ứng Đại diện cho thuyết này là hai nhà xã hội học người Mỹ: Moreno và Hopmans
Theo thuyết hành vi, ở mỗi con người đều có những động cơ riêng rẽ nhất định, song nó không đóng vai trò gì quan trọng trong các hành vi của họ; những động cơ của con người thường mang tính chủ quan và không có tính quy luật Do đó, chúng ta không thể nghiên cứu những động cơ chủ quan của con người về mặt khoa học mà chỉ có thể tự biện về nó mà thôi Chúng ta không thể tái tạo được những gì đang diễn ra trong nội tâm con người, điều quan trọng và cái duy nhất chúng ta có thể nắm bắt được là những hiện tượng bộc lộ ra bên ngoài Những người theo thuyết hành vi luôn coi hành vi là những phản ứng theo tình huống, cứ cho một tác động hay một kích thích vào
Trang 3127
một cá thể nào đó thì sẽ nhận được một phản ứng nhất định, những phản ứng này độc lập với động cơ chủ quan của con người
Như vậy, ta có công thức nổi tiếng trong tâm lý học: S – R (kích thích – phản ứng) Hành vi xuất phát từ mô hình kích thích – phản ứng Còn hành động diễn ra theo nguyên tắc hành động phản ứng có suy nghĩ Trong hành vi không có động cơ, người ta chỉ phản ứng thôi Trong hành động có động cơ, người ta muốn đạt được một cái gì đó
Thuyết hành vi cho rằng sự phát triển hành vi của con người phụ thuộc vào kích thích Con người đóng vai trò là một cơ quan Hành vi của con người không phụ thuộc vào động cơ tình cảm của họ Trong phạm vi của đề tài này, tác giả sẽ xem xét quan niệm của học sinh hiện nay về quan hệ tình dục trước hôn nhân như là các hộp đen Khi đó, các phương tiện truyền thông đại chúng, các cá nhân như bố/mẹ, anh/chị/em, bạn bè, cán bộ tuyên truyền, môi trường sống, điều kiện kinh tế… sẽ đóng vai trò là nguồn cung cấp kích thích tác động đến hộp đen này Từ đó, ta có thể đo được phản ứng của học sinh về các vấn đề nhận thức, thái độ, hành vi của học sinh về QHTD THN
(Nguồn: theo TS Bùi Thị Xuân Mai, “Nhập môn Công tác xã hội,
NXB Lao động - xã hội, 2010)
1.2.2 Lý thuyết về hành vi lệch chuẩn
Lý thuyết về hệ thống môi trường cho thấy hành vi con người chịu tác động từ sự tương tác với các hệ thống và môi trường xã hội Để được xã hội chấp nhận như một thành viên, cá nhân phải hành xử theo mong đợi của xã hội khi cá nhân tuân thủ những chuẩn mực của xã hội đề ra Tiến trình xã hội hóa là tiến trình cá nhân học hỏi những chuẩn mực được xã hội qui định, và những khuôn m u hành vi đúng, và những hành vi không đúng Khi các cá nhân trong xã hội cùng tuân thủ các chuẩn mực xã hội và thực hiện các vai trò
xã hội như xã hội mong muốn, xã hội sẽ đạt được trạng thái ổn định và đạt
Trang 3228
được mục đích của toàn thể xã hội Như vậy, chuẩn mực, vai trò mà văn hóa cung cấp sẽ là những khung qui chiếu để con người hành xử theo như mong đợi của xã hội; nhờ đó, họ trở thành một thành viên trong xã hội Hành vi lệch chuẩn sẽ xuất hiện, khi một cá nhân hoặc một số cá nhân phá vỡ và không tuân theo những qui chiếu này
Chuẩn mực là “hành vi của cá nhân được chấp nhận hay bị đòi hỏi trong một hoàn cảnh đặc thù” (Landis, 1989: 438).Chuẩn mực xuất hiện trong tiến trình tương tác xã hội.Khi các cá nhân tương tác với nhau, họ học được
và cùng chấp nhận đâu là những cách hành xử thích hợp và được chấp nhận, đâu là những cách hành xử không thích hợp và không được chấp nhận.Chuẩn mực được chấp nhận nhờ vào giá trị của chúng Chuẩn mực cho phép chúng
ta có thể dự đoán được hành vi của nhau
Hành vi lệch chuẩn là “hành vi đi trái với các chuẩn mực được chấp nhận một cách chung” (Landis, 1989: 390) Các chuẩn mực này có thể nằm trong phạm vi gia đình, nhóm, tổ chức hay xã hội vốn được thiết lập bởi phong tục và đôi khi được hỗ trợ bởi luật pháp Hành vi lệch chuẩn thường được nhìn trong khía cạnh tiêu cực Tuy nhiên, hành vi lệch chuẩn cũng có khía cạnh tích cực khi nó tạo ra thay đổi xã hội (social change)
Các nguồn gốc của hành vi lệch chuẩn nằm bên trong cấu trúc xã hội (social structure) Hành vi lệch chuẩn như là kết quả của sự xung đột giữa các mục đích của xã hội do văn hóa qui định và các rào cản khiến con người không đạt được mục đích đó (Eizen et al, 1997:5) Cấu trúc xã hội là mạng lưới các chuẩn mực, luật lệ, địa vị, nhóm, thể chế xã hội mà qua mạng lưới đó con người tương quan với nhau trong xã hội (Landis, 1989: 441)
“Hành vi lệch chuẩn cá nhân” xảy ra khi một cá nhân hành động lệch lạc một cách đơn độc ra khỏi các chuẩn mực xã hội đã được thiết lập “Hành
vi lệch chuẩn nhóm” xảy ra khi một nhóm các thành viên hành động trái
Trang 33- Phạm vào các chuẩn mực của tập thể
- Qua kiểm tra, xã hội thấy phải có hình phạt
Như vậy, lệch chuẩn bao gồm những gì đi chệch ra khỏi các chuẩn mực theo chiều hướng không được ủng hộ Trong đề tài này, QHTD THN được xem như là một hành vi đi chệch các chuẩn mực đạo đức truyền thống của Việt Nam
(Nguồn: Theo TS Nguyễn Thị Hồng Nga, “Hành vi con người và môi trường
xã hội”, NXB Lao động - xã hội, 2010)
1.2.3 Lý thuyết xã hội hoá
Xã hội hoá là quá trình mà qua đó cá nhân nội hoá những quy tắc, chuẩn mực giá trị của một xã hội.Sau đó, cá nhân sẽ ngoại hoá những gì hấp thụ và học được qua hành động xã hội của mình Xã hội hoá trước hết được hiểu như là một quá trình theo đó đứa trẻ lớn lên trong xã hội Nhưng theo một nghĩa rộng hơn, xã hội hoá chính là khả năng hội nhập của cá nhân vào một cộng đồng xã hội
Khi nghiên cứu quan niệm của học sinh về vấn đề QHTD THN, lý thuyết xã hội hoá có thể giải thích cho chúng ta hiểu được rằng trước những chuẩn mực xã hội đối với vấn đề tình dục, quan hệ tình dục an toàn, những ảnh hưởng của QHTD THN như thế nào?
Lý thuyết xã hội hoá được dùng làm cơ sở để nhìn nhận và lý giải vấn đề.Có nhiều cách hiểu khác nhau về xã hội hoá Căn cứ vào tính chủ động của
cá nhân trong quá trình xã hội hoá, chúng ta có thể chia thành hai loại:
Trang 34Áp dụng vào đề tài này cho thấy nhận thức, hành vi của học sinh được hình thành trên cơ sở tiếp thu những kinh nghiệm, giá trị, chuẩn mực của môi trường sống Bản thân họ cũng có khả năng tác động trở lại làm biến đổi những giá trị chuẩn mực đó Nhận thức của học sinh chịu sự tác động của môi trường xã hội hoá gia đình, xã hội, nhóm bạn bè và phương tiện truyền thông
(Nguồn: theo Phạm Tất Dong, “Xã hội học đại cương”, NXB Quốc gia
Hà Nội, 2001)
1.3 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
Thanh Thủy là một thị trấn thuộc huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ, Việt Nam thành lập năm 2010 trên cơ sở xã La Phù (cũ) Thị trấn Thanh Thủy có diện tích 9,24 km², dân số năm 2010 là 5.118 người, mật độ dân số đạt 554 người/km² Trong những năm gần đây, thị trấn đã có nhiều bước phát triển mạnh mẽ về mọi mặt kinh tế, giáo dục, y tế.Điều này cũng chính là đòn bẩy giúp cho huyện Thanh Thủy phát triển, đóng góp cho sự văn minh tiến bộ của nước nhà
Trang 3531
Trường THPT Thanh Thủy được thành lập ngày 7/11/1966, nằm ngay tại vị trí khu trung tâm của thị trấn Thanh Thủy Trải qua bao thăng trầm của lịch sử dân tộc, cùng với 4 lần chuyển địa điểm, ngày nay nhà trường nằm
trên đường tỉnh lộ 316 thuộc thị trấn Thanh Thủy, huyện Thanh Thủy, tỉnh
Phú Thọ 50 năm qua, với hơn 13.000 học sinh có trình độ tú tài đã tốt nghiệp, các thế hệ học sinh sau khi ra trường đã đóng góp tích cực vào việc dựng xây đất nước Gần một ngàn người có trình độ đại học và trên đại học
Tiếp nối những thành công, Trường THPT Thanh Thủy hôm nay đã phát huy truyền thống tốt đẹp và phát triển ngày càng vững mạnh.Trên địa bàn của một huyện miền núi, điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn
nhưng với nỗ lực của thầy và trò, Trường THPT Thanh Thủy hiện đang xếp ở top 6 trường dẫn đấu trong khối các trường THPT của tỉnh về kết quả dạy
và học Gắn với phong trào thi đua hai tốt, nhà trường luôn thực hiện đúng nguyên lý giáo dục của Đảng, xây dựng kỷ cương nền nếp dạy và học, biết chăm lo xây dựng và đào tạo đội ngũ, khơi dậy tiềm năng từ nội lực của mỗi
cán bộ, giáo viên Đội ngũ giáo viên nhà trường có 58 người thì 100% đạt chuẩn, trong đó có 5,5% giáo viên trên chuẩn theo tiêu chí của ngành giáo
dục Đội ngũ giáo viên của trường được đào tạo theo chuẩn nghề nghiệp với
đạo đức tốt, giỏi về chuyên môn, tận tâm với nghề và vững vàng về chính trị
Vì thế nhiều năm nay nhà trường đã được Sở GD & ĐT Phú Thọ đánh giá là
trường đã có thương hiệu Đặc biệt, từ năm học 2000 - 2001 đến nay, trường
luôn đạt danh hiệu trường tiên tiến xuất sắc, tập thể lao động xuất sắc được UBND tỉnh Phú Thọ, Bộ GD & ĐT, đồng thời vinh dự được Thủ tướng Chính phủ tặng bằng khen, Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng
Ba năm 2006 Năm học 2010 - 2011 là năm học thứ 45 của nhà trường, với thành tích xất sắc của nhà trường trong 5 năm (2006 - 2011) nhà trường đã
Trang 361.4 Đặc điểm của đối tượng học sinh THPT
1.4.1 Đặc điểm học sinh THPT nói chung
Học sinh THPT còn gọi là tuổi thanh niên, là giai đoạn phát triển bắt đầu từ lúc dậy thì và kết thúc khi bước vào tuổi người lớn Tuổi thanh niên được tính từ 15 đến 25 tuổi, được chia làm 2 thời kì:
+ Thời kì từ 15-18 tuổi: gọi là tuổi đầu thanh niên
+ Thời kì từ 18-25 tuổi: giai đoạn hai của tuổi thanh niên (thanh niên sinh viên)
Học sinh là đại diện cho thế hế trẻ, là bộ phận đông đảo trong giới trẻ Học sinh trước hết mang đầy đủ những đặc điểm chung của con người, mà
theo Mác là "tổng hoà của các quan hệ xã hội" Nhưng họ còn mang những
đặc điểm riêng: Tuổi đời còn trẻ, dễ thay đổi, chưa định hình rõ rệt về nhân cách, ưa các hoạt động giao tiếp, có tri thức nhưng chưa được đào tạo chuyên môn Học sinh vì thế dễ tiếp thu cái mới, thích cái mới, thích sự tìm tòi và sáng tạo Đây cũng là tầng lớp xưa nay vẫn khá nhạy cảm với các vấn đề chính trị- xã hội, đôi khi cực đoan nếu không được định hướng tốt
Học sinh vì thế dễ tiếp thu cái mới, thích cái mới, thích sự tìm tòi và sáng tạo Đây cũng là tầng lớp xưa nay vẫn khá nhạy cảm với các vấn đề chính trị- xã hội, đôi khi cực đoan nếu không được định hướng tốt
Một đặc điểm rất đáng chú ý đang xuất hiện trong những người trẻ hôm nay, liên quan đến sự phát triển của công nghệ thông tin với tư cách là một cuộc cách mạng, đó là sự hình thành một môi trường ảo, hình thành một lối sống ảo Đặc điểm này chỉ biểu hiện trong giới trẻ, đặc biệt những người có
Trang 3733
tri thức như học sinh Về môi trường sống, học sinh thường theo học tập trung tại trường học, sinh hoạt trong một cộng đồng (trường, lớp) gồm chủ yếu là những thành viên tương đối đồng nhất về tri thức, lứa tuổi, với những quan hệ
có tính chất bạn bè khá gần gũi Với sự tác động của cơ chế thị trường, học sinh ngày càng phát huy tính năng động, hoạt bát, nhạy bén với thời cuộc.Học sinh thời nay luôn có nhiều những ước mơ, hoài bão, lý tưởng sống và luôn vươn tới những cơ hội mới, thách thức mới
Bên cạnh đó, tầng lớp học sinh còn thể hiện tính cá nhân khá cao Đó là trào lưu dân chủ hoá, làn sóng công nghệ thông tin và việc nâng cao dân trí đã làm ý thức cá nhân ngày càng cao Họ tự ý thức cao về bản thân mình và muốn thể hiện vai trò cá nhân.Dường như có sự đề cao lợi ích hơn nghĩa vụ cá nhân.Sự hy sinh và quan tâm đến người khác thấp đi, và nếu có thì đánh giá dưới góc độ kinh tế thực dụng hơn là tình cảm và sự chia sẻ.Vì thế dần xuất hiện thái độ bàng quan với xung quanh ở một bộ phận học sinh
Sự phát triển của công nghệ thông tin và ảnh hưởng của lối sống Tây hoá đã kéo theo sự thay đổi trong nhận thức và cuộc sống của học sinh Việt Nam hiện nay Họ sống năng động, giao lưu tích cực hơn với xã hội, cộng đồng, văn hoá sống từ đó cũng trở nên cởi mở hơn Sự nhanh nhạy với thời cuộc kết hợp với việc tiếp nhận đa dạng các luồng tư tưởng văn hoá từ các nước trên thế giới đã đem lại cho học sinh một tầm nhìn bao quát rộng mở, hiểu biết tương đối phong phú và sâu sắc Trước mỗi vấn đề xã hội, học sinh luôn có cách nhìn nhận nhiều chiều khác nhau và đưa ra quan điểm riêng của mình.Những quan điểm, quan niệm ấy có sự ảnh hưởng quan trọng đối với cuộc sống, cách ứng xử của bản thân mỗi học sinh
1.4.2 Đặc điểm học sinh THPT Thanh Thủy nói riêng
Xuất phát từ đặc điểm của trường THPT Thanh Thủy ( là nằm tại thị trấn Thanh Thủy, huyện Thanh Thủy, T Phú Thọ) nên lối sống, suy nghĩ,
Trang 3834
quan niệm của học sinh tại đây cũng chịu ít nhiều ảnh hưởng Học sinh thời nay đã được tiếp cận nhiều tiến bộ văn hóa, công nghệ thông tin, vì thế chịu tác động đa chiều từ mọi mặt của xã hội
Các em học sinh có hoàn cảnh gia đình khác nhau, và tương ứng với mỗi hoàn cảnh sống sẽ là quan điểm, suy nghĩ khác nhau.Sự giáo dục của cha
mẹ, mức độ quan tâm của gia đình, điều kiện kinh tế, tất cả những điều đó đều ảnh hưởng tới sự phát triển nhân cách của các em.Bên cạnh những nguồn thông tin tích cực, thì sự tập nhiễm các thói quen, trào lưu, lối sống không lành mạnh vẫn có thể diễn ra Chính vì thế, trong khoảng thời gian gần đây, các vấn đề xoay quanh học sinh của trường đã làm dấy lên làn sóng dư luận
về bạo lực học đường, xâm hại tình dục và đặc biệt là vấn đề quan hệ tình dục trước hôn nhân, nạo phá thai, tảo hôn… - đây cũng chính là vấn nạn mà chúng tôi muốn hướng tới bàn bạc trong đề tài nghiên cứu này
Trang 3935
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Từ việc đưa ra các khái niệm liên quan tới đề tài nghiên cứu, các lý thuyết được vận dụng vào đề tài và đặc biệt là bức tranh khái quát về địa bàn nghiên cứu, chúng tôi tạo dựng tiền đề cho việc nghiên cứu một cách chuyên sâu hơn nữa về vấn đề giáo dục giới tính Đồng thời, nội dung chương đầu giúp độc giả và thầy cô nắm bắt sơ bộ hệ thống lý thuyết khoa học xuyên suốt trong nghiên cứu của chúng tôi Đây cũng chính là giá đỡ vững chắc cho mọi lập luận, phân tích về thực trạng cũng như việc đưa ra giải pháp ở phần sau
Trang 4036
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ QHTD THN CỦA HỌC SINH THPT HIỆN NAY VÀ CHƯƠNG TRÌNH GDGT ĐÃ ĐƯỢC TRIỂN
KHAI THỰC HIỆN 2.1 Thực trạng vấn đề QHTD THN của học sinh hiện nay
2.1.1 Nhận thức của học sinh về giáo dục giới tính
Đối với người phương Đông nói chung và người Việt Nam nói riêng
“tình dục” vẫn luôn là một chủ đề kín đáo, e dè, đôi khi còn là cấm kỵ Các
bậc cha mẹ ít khi đề cập đến vấn đề này đối với con cái mình.Còn thanh niên thì chỉ tự tìm hiểu, chứ ít dám trao đổi, nói công khai với nhau.Song không thể phủ nhận rằng tình dục là một vấn đề quan trọng trong cuộc sống, có ảnh hưởng rất lớn đến hạnh phúc và sức khoẻ con người Quan niệm về tình dục của con người cũng thay đổi theo thời gian và khác nhau ở mỗi nền văn hoá Nhiều nghiên cứu về sự phát triển của thanh niên trong nhiều thập kỷ trở lại đây cho thấy cùng với những cải thiện về dinh dưỡng, tuổi dậy thì của các em học sinh sớm hơn, tuổi kết hôn đang tăng lên Do đó quãng thời gian hoạt động tình dục trong đời sống của mỗi cá nhân cũng tăng theo Xu hướng hoạt động tình dục trước hôn nhân đang tăng ở các nước phát triển và các nước đang phát triển Tất cả các kiến thức liên quan tới tình dục đều được tựu chung trong giáo dục giới tính Vậy học sinh – lớp người đại diện cho thế hệ trẻ, họ có nhận thức như thế nào về giáo dục giới tính?
Trong câu hỏi khảo sát “Bạn đã từng nghe nói đến giáo dục giới tính bao giờ chưa?”, kết quả cho thấy có tới 100% số người trả lời đã từng nghe
nói đến Điều này cho thấy SKSS-GDGT đã được phổ biến rộng khắp trên các phương tiện truyền thông đại chúng, bước đầu được lồng ghép với một số
môn học trong nhà trường.Vì thế, cụm từ “giáo dục giới tính” không còn là xa
lạ đối với học sinh phổ thông hiện nay