ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN --- LÊ THỊ HUYẾN CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG HOẠT ĐỘNG HỖ TRỢ CHĂM SÓC SỨC KHỎE NGƯỜI CAO TUỔI NGHIÊN CỨU TẠI TRUNG TÂM CHĂ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
LÊ THỊ HUYẾN
CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG HOẠT ĐỘNG HỖ TRỢ CHĂM SÓC SỨC KHỎE NGƯỜI CAO TUỔI (NGHIÊN CỨU TẠI TRUNG TÂM CHĂM SÓC NGƯỜI CAO TUỔI
THIÊN ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI)
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60 90 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Thị Kim Hoa
Hà Nội- 2016
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN I: MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu 3
3 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn 9
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 10
5 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 11
6 Câu hỏi nghiên cứu 11
7 Giả thuyết nghiên cứu 11
8 Phương pháp nghiên cứu 12
9 Kết cấu của đề tài 15
PHẦN II: NỘI DUNG CHÍNH 16
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA NGHIÊN CỨU 16
1.1 Các khái niệm công cụ 16
1.1.1 Người cao tuổi 16
1.1.2 Sức khỏe 16
1.1.3 Công tác xã hội 17
1.1.4 Nhân viên công tác xã hội 19
1.1.5 Hoạt động hỗ trợ 19
1.1.6 Chăm sóc sức khỏe người cao tuổi 19
1.1.7 Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong hoạt động chăm sóc sức khỏe người cao tuổi 20
1.1.8 Cơ sở bảo trợ xã hội 21
1.2 Đặc điểm tâm sinh lý của người cao tuổi 21
1.3 Các lý thuyết được sử dụng trong nghiên cứu 22
1.3.1 Lý thuyết hệ thống 22
1.3.2 Lý thuyết nhu cầu 24
1.3.3 Lý thuyết vai trò xã hội 25
Trang 31.4 Chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về người
cao tuổi và công tác chăm sóc sức khỏe người cao tuổi 26
1.4.1 Những chủ trương của Đảng 26
1.4.2 Chính sách và pháp luật của Nhà nước 28
1.5 Một vài đặc điểm về Trung tâm chăm sóc người cao tuổi Thiên Đức 31
1.5.1 Lịch sử hình thành và phát triển 31
1.5.2 Mục đích, chức năng và nhiệm vụ của Trung tâm 32
1.5.3 Cơ sở vật chất của Trung tâm 33
1.5.4 Đội ngũ cán bộ nhân viên của Trung tâm 34
Tiểu kết chương 1: 36
Chương 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHĂM SÓC SỨC KHỎE NGƯỜI CAO TUỔI TẠI TRUNG TÂM CHĂM SÓC NGƯỜI CAO TUỔI THIÊN ĐỨC 37
2.1 Công tác tiếp nhận chăm sóc người cao tuổi của Trung tâm 37
2.2 Tình hình người cao tuổi tại Trung tâm 38
2.3 Hoạt động chăm sóc sức khỏe người cao tuổi 41
2.3.1 Chăm sóc về thể chất 41
2.3.2 Chăm sóc về tinh thần và xã hội 48
2.4 Những khó khăn trong hoạt động chăm sóc sức khỏe người cao tuổi 54 2.4.1 Khó khăn về áp lực công việc 54
2.4.2 Khó khăn về cơ sở vật chất 55
2.4.3 Một số khó khăn khác 57
Tiểu kết chương 2: 61
Chương 3 VAI TRÕ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG HOẠT ĐỘNG HỖ TRỢ CHĂM SÓC SỨC KHỎE NGƯỜI CAO TUỔI TẠI TRUNG TÂM CHĂM SÓC NGƯỜI CAO TUỔI 62
THIÊN ĐỨC 62
3.1 Một số vai trò của nhân viên công tác xã hội 62
3.1.1 Vai trò người đánh giá, giám sát 63
Trang 43.1.2 Vai trò người tư vấn, tham vấn 65
3.1.3 Vai trò người biện hộ 69
3.1.4 Vài trò người giáo dục 72
3.1.5 Vai trò người tạo môi trường thuận lợi 74
3.1.6 Vai trò người điều phối – kết nối dịch vụ 76
3.2 Khó khăn khi thực hiện các vai trò của nhân viên công tác xã hội trong hoạt động hỗ trợ chăm sóc sức khỏe người cao tuổi 79
Tiểu kết chương 3: 84
PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 85
Kết luận 85
Khuyến nghị 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT 94
TÀI LIỆU TIẾNG ANH 98
PHỤ LỤC 99
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU Hình 1.1 Tháp nhu cầu của Maslow 24 Bảng 0.1 Cơ cấu phỏng vấn sâu ………13 Bảng 2.1 Đặc điểm sức khỏe và độ tuổi của người cao tuổi 39
Trang 6em (những người dưới 15 tuổi) sẽ giảm nhẹ Hơn nữa, ở những vùng phát triển hơn, dân số 60 tuổi trở lên dự tính tăng gần gấp đôi (từ 245 triệu năm
2005 lên đến 406 triệu vào năm 2050), trong khi dân số dưới 60 tuổi sẽ giảm ( từ 971 triệu năm 2005 xuống còn 839 triệu năm 2050)[22] Người cao tuổi ở những nước đang phát triển phải đối mặt với nhiều khó khăn để đảm bảo cuộc sống Họ gặp khó khăn trước hết bởi sự suy giảm thể chất do quá trình lão hóa Bên cạnh đó, các loại bệnh tật phổ biến, bệnh hiểm nghèo, bệnh mới và việc di dân cũng như xu hướng đô thị hóa đã tác động tiêu cực đến đời sống của người cao tuổi Dó đó, họ chính là một trong những nhóm đối tượng dễ bị tổn thương nhất
Việt Nam cũng là quốc gia đang có tốc độ già hóa một cách nhanh chóng, do tuổi thọ bình quân ngày càng tăng trong khi tỷ suất sinh và tỷ suất chết giảm Khuynh hướng nhân khẩu học này là một trong những thành tựu to lớn đối với Việt Nam, liên quan tới những cải thiện đáng kể về
y tế, dinh dưỡng và phát triển kinh tế-xã hội Tuy nhiên, già hóa dân số một cách nhanh chóng cũng tạo ra những thách thức lớn đối với Việt Nam Thời gian để Việt Nam chuyển đổi từ cơ cấu dân số “già hóa” sang cơ cấu dân số
“già” sẽ ngắn hơn nhiều so với các quốc gia có trình độ phát triển cao Theo số liệu Điều tra biến động dân số 1/4/2011, tỷ lệ người từ trên 60 tuổi
là 10,2% Tỷ lệ người trên 65 tuổi là 7,0%, như vậy dân số Việt Nam đã chính thức bước vào già hóa dân số và sớm hơn 6 năm so với dự báo từ kết quả tổng điều tra dân số năm 2009[1] Điều này, đặt ra cho chúng ta những
Trang 7“
2
thách thức lớn trong hoạt động chăm sóc người cao tuổi Việc chăm sóc, phụng dưỡng người cao tuổi không chỉ được hiểu đơn thuần là trách nhiệm trong chăm lo về sức khỏe thể chất cho người cao tuổi mà nó còn bao hàm
cả sự chăm sóc về nhu cầu tình thần, duy trì, củng cố các mối quan hệ tâm
lý, tình cảm, giao tiếp trong gia đình và xã hội đối với người cao tuổi
Trong những năm gần đây, chăm sóc sức khỏe người cao tuổi là một trong những vấn đề được Đảng và Nhà nước ta quan tâm với những hướng ưu tiên cơ bản như [23]:
Tạo cơ hội phù hợp để người cao tuổi tham gia vào các hoạt động kinh tế - xã hội, tiếp tục đóng góp cho sự phát triển chung của quốc gia
Tăng cường sức khỏe và cải thiện cuộc sống vật chất và tinh thần cho người cao tuổi
Đảm bảo môi trường thuận lợi và các dịch vụ thiết yếu hỗ trợ đời sống người cao tuổi
Điều này, đã được cu ̣ thể hóa trong nhiều văn bản pháp luâ ̣t liên quan đến người cao tuổi , bao gồm cả Luâ ̣t người cao tuổi (2009) Luâ ̣t người cao tuổi đã đề câ ̣p đến nhiều khía ca ̣nh liên quan đến người cao tuổi , trong đó Nhà nước khuyến khích các tổ chức , cá nhân đóng góp xây dựng
và phát triển các mô hình chăm sóc người cao tuổi tập trung theo hướ ng xã
hô ̣i hóa Thực hiện chủ trương này, nhiều loại hình dịch vụ chăm sóc người cao tuổi được hình thành và hoạt động tại các địa phương trong khắp cả nước Bên cạnh, những mô hình là các cơ sở bảo trợ xã hội do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội quản lý, các mô hình là các cơ sở bảo trợ xã hội
do tư nhân hoặc liên kết giữa các cá nhân, tổ chức, cơ quan đoàn thể cũng
đã được hình thành và đang có xu hướng phát triển Khác với các mô hình
cơ sở bảo trợ xã hội công lập, các mô hình do tư nhân quản lý, tiếp nhận, nuôi dưỡng, phục hồi cho người cao tuổi dựa trên nhu cầu của người cao tuổi, gia đình người cao tuổi và có thu phí Mặc dù, là mô hình mới được
Trang 8“
3
hình thành trong những năm gần đây nhưng nó đã góp phần không nhỏ vào công tác chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi Một trong những Trung tâm chăm sóc người cao tuổi tập trung đầu tiên ở Việt Nam, đại diện cho
mô hình cơ sở bảo trợ xã hội do tư nhân quản lý đó là Trung tâm chăm sóc người cao tuổi Thiên Đức Để có được những thành tựu trong hoạt động chăm sóc người cao tuổi ở mô hình tư nhân này, có rất nhiều ngành nghề tham gia, trong đó có công tác xã hội Dù công tác xã hội cũng là một nghề mới ở nước ta, song công tác xã hội đã và đang thể hiện được vị trí và vai trò không thể thiếu của mình trong việc trợ giúp các đối tượng trong đó có người cao tuổi Đây cũng chính là ý tưởng gợi nên trong tôi hướng nghiên
cứu đề tài: “Công tác xã hội trong hoạt động hỗ trợ chăm sóc sức khỏe người cao tuổi” (nghiên cứu tại Trung tâm chăm sóc người cao tuổi Thiên
Đức, thành phố Hà Nội)
2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu
2.1 Những nghiên cứu trên thế giới
Cùng với sự phát triển của xã hội, đời sống của người cao tuổi cũng được quan tâm hơn và người ta đã triển khai rộng rãi với nhiều góc độ các nghiên cứu về người cao tuổi
Ở khía cạnh về sức khỏe của người cao tuổi, Annette L Fitzpatrick, Neil R.Powe, Lawton S.Cooper, Diane G Ives và John A.Robbins (Đại học Washington, Đại học Johns Hopkins, Đại học Pittsburgh, Đại học
California – Davis và Đại học Wake Forest) đã có nghiên cứu: “Barriers to Health Care Acces Among the Elderly an Who Perceives Them”(Những rào cản chăm sóc sức khỏe người cao tuổi và nhận thức về chúng) Đề tài
này được tiến hành từ năm 1993 đến 1994 tại Viện nghiên cứu sức khỏe tim mạch Nghiên cứu này được thực hiện bằng phương pháp định lượng với 5888 đàn ông và phụ nữ từ 65 tuổi trở lên Mẫu này được chọn ngẫu nhiên từ danh sách đủ điều kiện chăm sóc y tế ở 4 cộng đồng: Quận
Trang 9“
4
Forsyth, Sacramento, Washington và Allegheny Nghiên cứu cho thấy các rào cản chủ yếu là sự thiếu đáp ứng của bác sỹ đối với bệnh nhân, các rào cản tâm lý và thể chất khác … Nghiên cứu này khái quát thực trạng chăm sóc khỏe đối với người cao tuổi, những rào cản tác động tới việc người cao tuổi nhận được sự quan tâm, chăm sóc của riêng nước Mỹ Chính những điều được chỉ ra từ nghiên cứu này có thể liên hệ tới những rào cản trong
hệ thống chăm sóc sức khỏe người cao tuổi ở Việt Nam Điều đó đặt ra sự quan tâm lớn đối với những người làm nghiên cứu nói riêng và những nhà hoạch định chính sách của nước ta nói chung [48]
Tiếp đó, Dean Blevins, Bridget Morton và Rene McGovern cũng có
nghiên cứu: “Evaluating a community – based participatory research project for elderly mental healthcare in rural America” (Đánh giá một dự
án nghiên cứu có sự tham gia của cộng đồng về chăm sóc sức khỏe tâm thần cho người cao tuổi nông thôn Mỹ), được công bố 2008 Nghiên cứu này nhằm khám phá bản chất giữa các đối tác trong chương trình chăm sóc sức khỏe tâm thần cho người người cao tuổi ở nông thôn Kết quả nghiên cứu cho thấy hầu hết mọi người hài lòng với vai trò của họ và mức độ thành công của chương trình Từ đó, các tác giả cũng đề xuất những phương pháp để cải thiện hơn nữa các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần cho người cao tuổi tại nông thôn Mô hình chăm sóc sức khỏe tâm thần tại cộng đồng của Hoa Kỳ là điều chúng ta cần quan tâm nghiên cứu để có thể góp phần xây dựng các mô hình cho người cao tuổi phù hợp với nước ta [50]
Một công trình trong khu vực Đông Nam Á, nghiên cứu về mô hình chăm sóc sức khỏe người cao tuổi cũng cần được nhắc đến, do Chanitta Soommaht, Songkoon Ratchasima, Buriram, Surin và Khon Kaen thực hiện
là: “Developing Model of Health Care Management for the Elderly by Community Participaton in Isan”(Xây dựng mô hình quản lý chăm sóc sức
Trang 10“
5
khỏe cho người cao tuổi có sự tham gia của cộng đồng tại Isan) Nghiên cứu được tiến hành từ 2/8/2008 tại 7 tỉnh Đông Bắc Thái Lan là Mahasarakham, Roi – et, Sakon Nakhon, Nakhon Ratchasima, Buriram, Surin và Khon Kaen Nghiên cứu này được tiến hành bằng phương pháp nghiên cứu định tính Các tác giả đã tiến hành phân tích các vấn đề liên quan đến việc quản lý chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi về thể chất lẫn tinh thần Đồng thời, nghiên cứu đã tiến hành phân tích sự phát triển của việc chăm sóc sức khỏe người cao tuổi có sự tham gia của cộng đồng ở Isan Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng việc quản lý của các tổ chức cộng đồng trong chăm sóc sức khỏe người cao tuổi là phương pháp hiệu quả Tất
cả công dân cao tuổi đều đồng ý rằng việc chăm sóc y tế được cung cấp bởi các tổ chức cộng đồng giúp họ thoải mái và ấm áp hơn Mô hình này gợi cho chúng ta những bài học kinh nghiệm khi áp dụng vào Việt Nam trong công tác chăm sóc sức khỏe người cao tuổi tại cộng đồng [2]
Ngoài những nghiên cứu trên, nhằm phân tích thực trạng người cao tuổi và già soát tiến độ thực hiện các chính sách và hành động của Chính phủ và các cơ quan liên quan, Quỹ dân số Liên Hợp Quốc (UNFPA) và Tổ chức Hỗ trợ người cao tuổi quốc tế (Hepl Age International) đã thực hiện
đề tài: “Già hóa trong thể kỷ 21: Thành tựu và thách thức” và được xuất
bản 2012 Báo cáo đã đánh giá quá trình kể từ khi Hội nghị thế giới lần thứ
2 về người cao tuổi thực hiện kế hoạch hành động quốc tế Madrid về người cao tuổi Nhiều ví dụ minh họa về những chương trình đổi mới đã đáp ứng thành công các mối quan tâm của người cao tuổi được đưa ra trong báo cáo Bên cạnh đó, báo cáo này cũng đưa ra khuyến nghị về định hướng tương lai nhằm đảm bảo mọi người ở mọi lứa tuổi trong xã hội bao gồm cả người cao tuổi và giới trẻ đều có cơ hội góp phần xây dựng xã hội cũng như cùng được hưởng những phúc lợi xã hội đó Theo báo cáo, năm 1950, toàn thế giới có 205 triệu người từ 60 tuổi trở lên Đến 2012, số người cao
Trang 11“
6
tuổi tăng gần 810 triệu người Dự tính con số này là 1 tỷ người trong vòng
10 năm nữa và đến 2050 sẽ tăng gấp đôi là 2 tỷ người Trong khi đó, có sự khác nhau giữa các vùng, các dân tộc, các giới tính … Chính vì thế, phải có một chiến lược nhằm hỗ trợ riêng cho từng đối tượng đạt hiệu quả cao nhất [37]
Tóm lại, các công trình nghiên cứu trên đã tìm hiểu thực trạng đời sống của người cao tuổi, những vấn đề mà người cao tuổi gặp phải trong cuộc sống, các rào cản trong việc tiếp cận dịch vụ chăm sóc trợ giúp người cao tuổi Đây là những cơ sở khoa học quan trọng trong việc nghiên cứu hoạt động chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi ở Việt Nam
2.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam
Nghiên cứu về người cao tuổi ở Việt Nam có nhiều đề tài khác nhau Sau đây là một số nghiên cứu tiêu biểu về người cao tuổi:
Tìm hiểu tác động chủ yếu của chính sách ruộng đất trong quá trình hình thành hệ thống an sinh xã hội đối với người cao tuổi ở nông thôn, tác
giả Dương Chí Thiện đã có bài viết:“Mấy vấn đề ruộng đất và an sinh xã hội đối với người già ở nông thôn hiện nay” (1996) Nghiên cứu đã chỉ ra
những chính sách này bước đầu đã đem lại hiệu quả tích cực cho sự nghiệp phát triển nông thôn nói chung và đã mang lại cho người cao tuổi ở nông thôn sự ổn định về chật chất và tinh thần [39]
Đề cập đến phúc lợi xã hội đối với người cao tuổi, tác giả Bùi Thế
Cường đã có bài viết: “Nghiên cứu phúc lợi xã hội: Nhìn lại một chặng đường” (2005) Trong bài, tác giả đã trình bày những nghiên cứu phúc lợi
đối với người cao tuổi được tiến hành từ 1991 và tổng kết lại những nghiên cứu về người cao tuổi trong suốt thời gian dài Trên sở sở nghiên cứu đó, tác giả đưa ra những đề xuất, khuyến nghị để nâng cao hơn nữa về việc chăm sóc sức khỏe người cao tuổi ở Việt Nam [2]
Ở một khía cạnh khác, liên quan đến người cao tuổi là vấn đề bạo lực gia đình, Viện Nghiên cứu người cao tuổi Việt Nam đã có nghiên cứu:
Trang 12“
7
“Người cao tuổi và bạo lực gia đình” (2007) Đề tài được tiến hành tại Đăk
Lăk, Phú Yên và Quảng Trị Nghiên cứu này tìm hiểu về thực trạng, nguyên nhân bạo lực gia đình đối với người cao tuổi Trên cơ sở đó, đánh giá vai trò người cao tuổi và đề xuất những giải pháp phòng, chống bạo lực gia đình từ chính người cao tuổi [45]
Còn nhằm điều tra về thực trạng đời sống và vai trò của người cao tuổi, già làng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, an ninh chính
trị … ở Tây Nguyên, tác giả Nguyễn Thế Huệ đã có nghiên cứu: “Người cao tuổi và già làng trong phát trển bền vững Tây Nguyên” (2008) Kết
quả đề tài đã chỉ ra được vai trò to lớn của người cao tuổi, già làng trong tất
cả các hoạt động tại cộng đồng Điều này góp phần khẳng định vị trí quan trọng của người cao tuổi trong đời sống xã hội [15]
Bên cạnh đó, đề cập đến Hội người cao tuổi và những vấn đề liên quan đến người cao tuổi, Viện nghiên cứu người cao tuổi Việt Nam và Ban
Tổ chức, Ban Phòng trào, Ban Xã hội – Sức khỏe, Văn phòng Trung ương Hội và Ban đại diện Hội người cao tuổi của 2 tỉnh Quảng Ngãi và Quảng
Ninh đã cùng phối hợp nghiên cứu: “Nâng cao chất lượng hoạt động của Hội người cao tuổi Việt Nam trong thời kỳ mới” Đề tài này, được hai tác
giả Đinh Văn Tư và Nguyễn Thế Huệ biên tập thành sách và được xuất bản năm 2010 Nghiên cứu đã tiến hành khảo sát hoạt động của Hội người cao tuổi, thực trạng chăm sóc người cao tuổi, hoạt động phát huy vai trò người cao tuổi và các nguyên nhân, bài học kinh nghiệm về các hoạt động này Đồng thời, nghiên cứu cũng đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội người cao tuổi tại địa phương [46]
Trong bối cảnh nước ta đang bước vào giai đoạn già hóa dân số và gần đây nhiều loại hình dịch vụ chăm sóc người cao tuổi được hình thành Việc nghiên cứu đánh giá thực trạng hiệu quả hoạt động của các loại hình dịch vụ chăm sóc người cao tuổi đó ở Việt Nam là rất cần thiết Viện
Trang 13“
8
Nghiên cứu Truyền thống và Phát triển đã phối hợp với Ủy Ban Dân số, Gia đình và Trẻ em, nghiên cứu đề tài:“Người cao tuổi và các mô hình chăm sóc người cao tuổi ở Việt Nam” trong giai đoạn 2006 – 2007 và của
Viện Nghiên cứu Truyền thống và Phát triển giai đoạn 2008 – 2009 Nghiên cứu được tiến hành tại Hà Nội, Đà Nẵng và TP Hồ Chí Minh trên các nhóm đối tượng: người sử dụng dịch vụ chăm sóc người cao tuổi; người cung cấp dịch vụ chăm sóc người cao tuổi; cán bộ địa phương và cộng đồng Đề tài này được tác giả Đặng Vũ Cảnh Linh biên tập thành sách
và xuất bản năm 2009 Đề tài đã chỉ ra một số khía cạnh cơ bản về người cao tuổi như sau [23]:
Già hóa dân số, một vấn đề toàn cầu đang được nhiều quốc gia trên thế giới quan tâm Xu hướng già hóa dân số đang diễn ra mạnh mẽ, kéo thao nhiều vấn đề kinh tế - xã hội cần giải quyết và Việt Nam không nằm ngoài tình trạng trên Để chuẩn bị cho tình trạng trên những vấn đề như nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe người cao tuổi hoặc xây dựng mô hình chăm sóc sức khỏe người cao tuổi cần được đặc biệt quan tâm
Điều kiện sống tăng và việc tạo điều kiện về không gian yên tĩnh, trong lành, một cuộc sống vui vẻ, đầm ấm sẽ nâng cao sức khỏe cho người cao tuổi
Sức khỏe và đời sống của người cao tuổi tại các tỉnh thành đã được cải thiện rõ rệt nhờ thành tựu to lớn của sự nghiệp đổi mới và sự quan tâm của các cấp, ngành đối với công tác chăm sóc sức khỏe người cao tuổi
Tại nhiều địa bàn khảo sát, hoạt động chăm sóc sức khỏe người cao tuổi tại cộng đồng còn ít, đơn lẻ, tự phát là phổ biến
Một số mô hình chăm sóc người cao tuổi bước đầu đã giải quyết được các vấn đề xã hội và ít nhiều giúp được người cao tuổi có được cuộc sống thanh thản và nhận được sự quan tâm, chăm sóc chu đáo Tuy nhiên,
Trang 143 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
3.1 Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu đóng góp vào việc phân tích và làm sáng tỏ những lý luận của công tác xã hội khi áp dụng vào một vấn đề cụ thể là người cao tuổi
Vận dụng những kiến thức chuyên ngành công tác xã hội để nghiên cứu, phân tích và khuyến nghị những giải pháp trợ giúp một cách khoa học, hiệu quả cho người cao tuổi
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu hoạt động chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi của Trung tâm chăm sóc người cao tuổi Thiên Đức và vai trò trực tiếp của nhân viên công tác xã hội trong hoạt động này có thể là tài liệu tham khảo để:
Trung tâm chăm sóc người cao tuổi Thiên Đức thực hiện các phương pháp nhằm tăng cường và nâng cao hiệu quả của công tác chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi
Trang 15“
10
Nhân viên công tác xã hội đưa ra những biện pháp để phát huy và hoàn thành vai trò của mình một cách tốt nhất trong hoạt động chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi tại Trung tâm
Những nhà hoạch định chính sách hiểu được những vấn đề khó khăn trong hoạt động chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi hiện nay của các trung tâm do tư nhân quản lý, từ đó đưa ra những chính sách phù hợp
với điều kiện thực tế
Ngoài ra, kết quả nghiên cứu của đề tài còn góp phần xây dựng và
hoàn thiện mô hình chăm sóc người cao tuổi tập trung do tư nhân quản lý
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở tìm hiểu và phân tích thực trạng hoạt động chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi và vai trò của nhân viên công tác xã hội trong hoạt động hỗ trợ chăm sóc sức khỏe người cao tuổi tại Trung tâm chăm sóc người cao tuổi Thiên Đức Từ đó, đề xuất những khuyến nghị nhằm hỗ trợ chăm sóc sức khỏe người cao tuổi tại Trung tâm được hiệu quả hơn
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu một số khái niệm, lý thuyết liên quan đến đề tài: Công tác xã hội trong việc hỗ chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi ( nghiên cứu
tại Trung tâm chăm sóc người cao tuổi Thiên Đức )
Khảo sát thực trạng và những khó khăn hoạt động chăm sóc sức khỏe người cao tuổi đang diễn ra ở Trung tâm chăm sóc người cao tuổi Thiên Đức
Nghiên cứu tình hình thực hiện vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc hỗ trợ chăm sóc sức khỏe người cao tuổi
Góp phần đề xuất những khuyến nghị để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi tại Trung tâm
Trang 16“
11
5 Đối tƣợng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Công tác xã hội trong hoạt động hỗ trợ chăm sóc sức khỏe người cao tuổi
6 Câu hỏi nghiên cứu
Thực trạng hoạt động chăm sóc sức khỏe người cao tuổi ở Trung tâm Thiên Đức đang diễn ra như thế nào?
Những khó khăn trong hoạt động chăm sóc sức khỏe đáp ứng nhu cầu của người cao tuổi tại Trung tâm ra sao?
Nhân viên công tác xã hội thực hiện các vai trò của mình như thế nào trong hoạt động hỗ trợ chăm sóc sức khỏe người cao tuổi tại Trung tâm Thiên Đức?
7 Giả thuyết nghiên cứu
Hoạt động chăm sóc sức khỏe người cao tuổi tại Trung tâm chăm sóc người cao tuổi Thiên Đức được thực hiện toàn diện về thể chất, tinh thần và
xã hội, vì mục tiêu phục hồi và sự phát triển của người cao tuổi
Trang 178 Phương pháp nghiên cứu
8.1 Phương pháp phân tích tài liệu
Báo cáo về hoạt động chăm sóc sức khỏe người cao tuổi tại Trung tâm
Chính sách, pháp luật liên quan đến hoạt động chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi
Báo cáo nghiên cứu tình hình thực hiện thực hiện các chính sách trợ giúp người cao tuổi về chăm sóc sức khỏe
Các công trình nghiên cứu, sách, báo, đánh giá, bài viết về người cao tuổi
8.2 Phương pháp phỏng vấn sâu
Tiến hành phỏng vấn sâu 18 người, bao gồm: Cán bộ quản lý; nhân viên chăm sóc người cao tuổi; nhân viên công tác xã hội; người cao tuổi tại Trung tâm chăm sóc người cao tuổi Thiên Đức, cụ thể như sau:
Trang 18Cán bộ quản lý
03 (1 giám đốc ,1trưởng phòng hành chính và 1 phó phòng hành chính)
- Lịch sử hình thành của Trung tâm
- Mục đích, chức năng và nhiê ̣m vu ̣ của Trung tâm
- Đối tượng người cao tuổi được tiếp nhâ ̣n chăm sóc sức khỏe
- Số lượng người cao tuổi
- Cơ sở vâ ̣t chất, đô ̣i ngũ nhân viên
- Hoạt động tổ chức chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi
- Nguồn kinh phí xây dựng và hoa ̣t đô ̣ng của Trung tâm
- Khó khăn của Trung tâm trong hoạt
đô ̣ng chăm sóc sức khỏe người cao tuổi
- Đánh giá về vai trò của nhân viên công tác xã hội
- Chính sách liên quan đế n hoa ̣t đô ̣ng của Trung tâm
- Kiến nghi ̣, đề xuất với Nhà nước , cấp trên có liên quan
Nhân viên chăm
sóc người cao
tuổi
04 (1 bác sỹ,1 điều dưỡng viên, 1 y tá trưởng,1nhân
viên bếp)
- Tình trạng sức khỏe người cao tuổi
- Vấn đề khó khăn người cao tuổi thường gă ̣p phải
- Các hoạt động chăm sóc sức khỏe thể chất, tinh thần và xã hô ̣i cho người cao tuổi
Trang 19“
14
- Nhâ ̣n đi ̣nh về cuô ̣c sống hiê ̣n nay của người cao tuổi ta ̣i Trung tâm
- Khối lượng công viê ̣c phải đảm nhiê ̣m
- Chuyên môn đào ta ̣o, kinh nghiê ̣m làm viê ̣c liên quan đến chăm sóc sức khỏe người cao tuổi
- Những khó khăn trong thực hiê ̣n công viê ̣c chăm sóc sức khỏe người cao tuổi
- Đánh giá về công viê ̣c mình đang đảm nhâ ̣n và chế đô ̣ đãi ngô ̣ của Trung tâm
Nhân viên công
tác xã hội 01
- Chuyên môn , kinh nghiê ̣m làm viê ̣c liên quan đến hoa ̣t đô ̣ng chăm sóc sức khỏe người cao tuổi
- Vai trò trong viê ̣c hỗ trợ chăm sóc sức khỏe vật chất và tinh thần cho người cao tuổi ta ̣i Trung tâm
- Những hoa ̣t đô ̣ng cu ̣ thể liên quan đến hoạt động hỗ trợ chăm sóc sức khỏe người cao tuổi
- Sự phối hợp với các nhân viên , các bộ phâ ̣n trong viê ̣c thực hiê ̣n vai trò
- Những khó khăn trong viê ̣c thực hiê ̣n các vai trò
Người cao tuổi
10 (4 cụ ông có
độ tuổi từ 73
- 79 và 6 cụ
bà có độ tuổi
- Lý do vào Trung tâm
- Tình trạng sức khỏe của bản thân
- Đánh giá về các hoa ̣t đô ̣ng chăm sóc sức khỏe cho bản thân của Trung tâm
- Đánh giá về vai trò của nhân viên
Trang 20“
15
từ 71 – 80) chăm sóc và nhân viên công tác xã hô ̣i
trong viê ̣c chăm sóc sức khỏe thể chất , tinh thần của bản thân
- Sự đáp ứng nhu cầu cho bản thân của Trung tâm
- Nguyê ̣n vo ̣ng của bản thân
8.3 Phương pháp quan sát
Quan sát hoạt động thực hiện các vai trò của nhân viên công tác xã hội trong mối tương tác với người cao tuổi, cán bộ, nhân viên tại Trung tâm, người thân của người cao tuổi và các tổ chức, cá nhân khác liên quan đến hoạt động chăm sóc sức khỏe người cao tuổi
Quan sát các phương tiện, trang thiết bị, dụng cụ và cách thức tổ chức sử dụng chúng cho hoạt động chăm sóc người cao tuổi
Quan sát thể trạng và những biểu hiện trong giao tiếp, ứng xử giữa người cao tuổi với nhau, giữa người cao tuổi với nhân viên và khách đến Trung tâm
Quan sát thái độ, hành vi của cán bộ, nhân viên đối với người cao tuổi trong hoạt động chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi
9 Kết cấu của đề tài
Đề tài có kết cấu gồm các phần: Phần mở đầu, phần nội dung chính, phần kết luận và kiến nghị Nội dung chính tập trung trong 3 chương là:
Chương 1 Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của nghiên cứu
Chương 2 Thực trạng hoạt động chăm sóc sức khỏe người cao tuổi tại Trung tâm chăm sóc người cao tuổi Thiên Đức
Chương 3 Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong hoạt động chăm sóc sức khỏe người cao tuổi tại Trung tâm chăm sóc người cao tuổi Thiên Đức
Trang 21“
16
PHẦN II: NỘI DUNG CHÍNH CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA NGHIÊN CỨU 1.1 Các khái niệm công cụ
1.1.1 Người cao tuổi
Khái niệm người cao tuổi là một khái niệm lịch sử, gây ra nhiều tranh luận trên bình diện tiếp cận của các khoa học, trình độ phát triển xã hội và các nền văn hóa Ngày nay, việc xác định độ tuổi của người cao tuổi trên thế giới và Việt Nam cũng vẫn có nhiều quan điểm khác nhau
Theo tổ chức y tế thế giới (WHO): Người cao tuổi phải từ 70 tuổi trở lên
Còn theo Hiến pháp 1992 của nước ta lại quy định: Người cao tuổi Việt Nam là công dân của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ 60 tuổi trở lên Người cao tuổi Việt Nam bao gồm các thành phần, các dân tộc
và tôn giáo
Như vậy, có nhiều quan điểm khác nhau về độ tuổi của người cao tuổi Song thực tế công tác người cao tuổi cho thấy việc phân nhóm người cao tuổi còn phải được xem xét trong những trường hợp cụ thể với các chỉ báo về tình trạng sức khỏe, điều kiện và môi trường sống gắn với các điều kiện kinh tế - văn hóa – xã hội nhất định
Trong luận văn này, khái niệm người cao tuổi được thống nhất trong sử dụng theo Luật Người cao tuổi Việt Nam được ban hành tại kỳ
họp thứ VI QH khóa XII, ngày 23/11/2009: “Người cao tuổi là công dân Việt Nam từ đủ 60 tuổi trở lên” [35]
1.1.2 Sức khỏe
Khái niệm về sức khỏe là một khái niệm tương đối, thay đổi theo cách nghĩ của từng người Khái niệm sức khỏe còn thay đổi từ xã hội này sang xã hội khác theo văn hóa và thời gian Lịch sử y học và lịch sử y tế cũng có nhiều học thuyết về sức khỏe Gần đây, người ta thừa nhận định
Trang 22“
17
nghĩa sức khỏe của Tổ chức Y tế thế giới (WHO (1948)): “Sức khỏe là một trạng thái hoàn toàn thoải mái về vật chất, tinh thần và xã hội, chứ không phải chỉ là không có bệnh hay tật”[7, tr.39]
Trong đó, sức khỏe thể chất chính là khả năng hoạt động cơ bắp, có sức nâng, kéo, đẩy … làm các công việc chân tay một cách thoải mái như mang vác, sử dụng công cụ, khả năng phản ứng của chân tay nhanh nhạy,
có sự dẻo dai và khả năng chịu được những khắc nghiệt của môi trường
Sức khỏe tinh thần là cảm thấy có đủ khả năng tự tin, có thể đối mặt với những mức tình trạng căng thẳng ở bình thường, luôn giữ được các mối quan hệ một cách thoải mái, có một cuộc sống độc lập, và dễ hồi phục sau những tình huống khó khăn…
Sức khỏe xã hội là sự hòa nhập của cá nhân với cộng đồng được gọi
là sức khỏe xã hội Nó thể hiện ở sự thoải mái trong các mối quan hệ đa dạng, đa chiều và phức tạp giữa giữa cá nhân với các thành viên trong gia đình, nhà trường, bạn bè, hàng xóm, cơ quan
Cả ba yếu tố sức khỏe thể chất, tinh thần và xã hội có quan hệ chặt chẽ và ảnh hưởng lẫn nhau Để có được sức khỏe tốt đòi hỏi phải có sự thăng bằng, hài hòa của tất cả những khả năng sinh học, tâm lý và xã hội của con người Ngày nay sức khỏe không phải chỉ là “sản phẩm tình cờ” hay “sản phẩm phụ” của sự phát triển mà phải là mục tiêu và đồng thời là hạt nhân thúc đẩy sự phát triển toàn diện về kinh tế, xã hội
1.1.3 Công tác xã hội
Khi nghiên cứu về khái niệm công tác xã hội, xuất phát từ các góc
độ khác nhau mà cũng có nhiều cách hiểu về công tác xã hội Mặc dù chưa
có cách định nghĩa thống nhất, nhưng nhìn chung, các định nghĩa đều phản ánh ở mức độ nhất định bản chất của công tác xã hội Sau đây là các định nghĩa khác nhau về công tác xã hội:
Theo Liên đoàn công tác xã hội chuyên nghiệp quốc tế ở Canada
Trang 23“
18
(IFSW (2004)): Công tác xã hội là một hoạt động chuyên nghiệp nhằm tạo
ra sự thay đổi, phát triển của xã hội bằng sự tham gia vào quá trình giải quyết các vấn đề xã hội (vấn đề nảy sinh trong mối quan hệ xã hội) vào quá trình tăng cường năng lực và giải phóng tiềm năng của cá nhân, gia đình
và cộng đồng, công tác xã hội giúp cho con người phát triển đầy đủ, hài hòa và đem lại cuộc sống tốt đẹp hơn cho người dân [ 26, tr.12]
Theo Hiệp hội quốc gia các nhân viên công tác xã hội Hoa Kỳ (
NASW (1970): “Công tác xã hội là những hoạt động chuyên nghiệp, nhằm mục đích giúp đỡ các cá nhân, nhóm và cộng đồng trong hoàn cảnh khó khăn, tăng cường hoặc khôi phục năng lực thực hiện các chức năng xã hội của họ và tạo ra những điều kiện thích hợp nhằm đạt được mục tiêu ấy”
Một số tác giả khác ở Việt Nam cho rằng: “Công tác xã hội là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng
xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội” [26, tr.19]
Trên cơ sở nghiên cứu Công tác xã hội dưới góc độ lý thuyết và thực hành, kế thừa, tiếp thu tính hợp lý và phương diện thống nhất của các khái niệm đã có về công tác xã hội, có thể hiểu công tác xã hội như sau:
Công tác xã hội là khoa học, một nghề chuyên nghiệp có sử dụng các phương pháp đặc thù, dựa trên nền tảng về lý thuyết và các nguyên tắc đạo
Trang 24“
19
đức của ngành nhằm trợ giúp các cá nhân, nhóm, cộng đồng vươn lên giải quyết các vấn đề gặp phải, nâng cao năng lực và tăng cường chức năng xã hội; hướng tới tiến bộ và công bằng xã hội
1.1.4 Nhân viên công tác xã hội
Theo Hiệp hội các nhà công tác xã hội chuyên nghiệp Quốc tế
(IASW): “Nhân viên công tác xã hội là người được đạo tạo và trang bị các kiến thức và kỹ năng trong công tác xã hội, họ có nhiệm vụ: trợ giúp các thân chủ nâng cao khả năng giải quyết và đối phó với vấn đề trong cuộc sống; tạo cơ hội để các thân chủ tiếp cận được các nguồn lực cần thiết; thúc đẩy sự tương tác giữa các cá nhân, giữa cá nhân với môi trường tạo ảnh hưởng tới chính sách xã hội, các cơ quan, tổ chức vì lợi ích của cá nhân, gia đình, nhóm và cộng động thông quan hoạt động nghiên cứu và hoạt động thực tiễn” [26, tr.143].
Như vậy, có thể hiểu nhân viên công tác xã hội là những người được đào tạo, có kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp Nhân viên công tác
xã hội thực hành nghề nghiệp ở nhiều lĩnh vực với nhiều vai trò khác nhau
để trợ giúp những thân chủ (cá nhân, nhóm, cộng đồng) tự giải quyết vấn
đề xã hội để vươn lên hòa nhập cộng đồng và tiến tới phát triển
1.1.5 Hoạt động hỗ trợ
Hoạt động là mối quan hệ tác động giữa con người với thế giới (khách thể) để tạo ra sản phẩm cả về thế giới, cả về phía con người (chủ thể)
Hoạt động hỗ trợ là một phức hợp bao gồm các hành vi có tính chất chăm sóc, trợ giúp cho người bệnh thực hiện các hành vi của mình
1.1.6 Chăm sóc sức khỏe người cao tuổi
Chăm sóc là hoạt động nhằm duy trì, điều chỉnh vào lúc cần thiết để phục hồi khả năng hoạt động bình thường của cơ thể, tạo được trạng thái thoải mái về vật chất, tinh thần cho mỗi người dân [47]
Trang 25“
20
Theo Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người của Liên Hợp Quốc (1948): Chăm sóc sức khỏe là chẩn đoán, điều trị và phòng ngừa bệnh, bệnh tật, thương tích và các khiếm khuyết về thể chất và tinh thần trong con người
Chăm sóc sức khỏe người cao tuổi được hiểu là các hoạt động tổ chức chăm sóc đời sống vật chất, tinh thần và xã hội cho nhóm người cao tuổi trong xã hội, đảm bảo cho họ những quyền lợi cơ bản như quyền được nghỉ ngơi, vui chơi giải trí, quyền được tiếp cận các dịch vụ y tế, văn hóa
xã hội, có môi trường sống tốt đẹp trong gia đình và xã hội Chăm sóc sức khỏe người cao tuổi không chỉ nằm trong trách nhiệm của người cao tuổi, gia đình người cao tuổi, ngành y tế mà còn là trách nhiệm chung của toàn
xã hội, trong đó có ngành công tác xã hội
1.1.7 Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong hoạt động chăm sóc sức khỏe người cao tuổi
Vai trò là tác dụng, chức năng của ai hay cái gì trong sự hoạt động,
sự phát triển của một tập thể, một tổ chức Ví dụ: vai trò của người cha trong gia đình, nguồn vốn giữ một vai trò quyết định trong kinh doanh [43]
Một vai trò là một tập hợp các mong đợi, các quyền và những nghĩa
vụ được gán cho một địa vị cụ thể Những mong đợi này xác định các hành
vi của con người được xem là phù hợp và không phù hợp đối với người chiếm giữ một địa vị [6]
Theo quan điểm của Feyerico (1973), trong quá trình trợ giúp đối tượng nói chung và trợ giúp chăm sóc sức khỏe người cao tuổi nói riêng, nhân viên công tác xã hội có những vai trò cơ bản sau đây: (1) Vai trò là người điều phối - kết nối; (2) Vai trò là người biện hộ; (3) Vai trò là người giáo dục; (4) Vai trò người tạo sự thay đổi; (5) Vai trò là người tư vấn, tham vấn; (6) Vai trò người đánh giá, giám sát; (7) Vai trò là người xử lý
dữ liệu; (8) Vai trò là người quản lý hành chính Tuy nhiên, trong thực hành
Trang 26“
21
công tác xã hô ̣i , tùy vào bối cảnh, đối tượng và vấn đề cu ̣ thể cần được trợ giúp và khả năng của nhân viên công tác xã hội mà viê ̣c thực hiê ̣n các vai trò của nhân viên côn g tác xã hô ̣i có thể diễn ra ở nhiều khía cạnh và mức
đô ̣ khác nhau
1.1.8 Cơ sở bảo trợ xã hội
Theo Nghị định 68/2008/NĐ – CP ngày 30/05/2008 của Chính phủ quy định: Cơ sở bảo trợ xã hội là cơ sở chăm sóc, nuôi dưỡng từ 10 đối tượng trở lên Cơ sở bảo trợ xã hội gồm cơ sở bảo trợ xã hội công lập và cơ
sở bảo trợ xã hội ngoài công lập
Cơ sở bảo trợ xã hội công lập do cơ quan nhà nước quản lý, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, bảo đảm kinh phí cho các nhiệm vụ chi thường xuyên của cơ sở bảo trợ xã hội
Cơ sở bảo trợ xã hội ngoài công lập do các tổ chức, cá nhân trong
và ngoài nước đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và bảo đảm kinh phí cho các nhiệm vụ chi thường xuyên của cơ sở bảo trợ xã hội[5]
1.2 Đặc điểm tâm sinh lý của người cao tuổi
Đối với mỗi người, khi bước vào giai đoạn tuổi già thường có những thay đổi lớn về tâm sinh lý và xã hội
Về mặt sinh lý: Ở người cao tuổi diễn ra quá trình lão hóa Cơ thể
người cao tuổi có những thay đổi theo chiều hướng giảm, tóc bạc, da có nhiều nếp nhăn và xạm màu, bộ răng yếu khiến cho người cao tuổi gặp khó khăn khi ăn uống, nhất là những thức ăn cứng và dai Các cơ quan cảm giác như nghe, nhìn, nếm, ngửi hoạt động ngày một kém đi Các cơ quan nội tạng như tim, phổi, dạ dày, gan, thận và hệ xương khớp cũng hoạt động không còn tốt như trước Do vậy, người cao tuổi dễ mắc nhiều loại bệnh như nhồi máu cơ tim, tai biến, suy tim, cao huyết áp, tiểu đường, thoái hóa khớp, loãng xương
Trang 27“
22
Về mặt tâm lý và xã hội: Người cao tuổi do những đặc điểm sinh lý
và do sự thay đổi về vai trò ở ngoài xã hội cũng như gia đình khi bước vào giai đoạn tuổi già, do vậy họ cảm thấy mình bị bỏ quên, bị bất lực và là người thừa trong gia đình và xã hội Họ cũng thường hướng về quá khứ, hướng về cội nguồn Họ sợ cái chết, nhất là khi những tâm nguyện của họ chưa được thực hiện Đối với những người cao tuổi trước đây họ công tác tại các cơ quan thì ở những người này thường xuất hiện hội chứng về hưu Các mối quan hệ xã hội của họ bị thu hẹp lại khi họ không còn đi làm nữa
Họ cũng không còn làm những công việc gắn bó với họ nhiều năm họ cảm thấy buồn chán, trống trải
Tất cả những thay đổi về tâm sinh lý đó, đòi hỏi công tác chăm sóc người cao tuổi phải có những hoạt động phù hợp Có như vậy, người cao tuổi mới vượt qua những vấn đề họ gặp phải và tiếp tục sống vui, sống khỏe, sống có ích cho những năm tháng còn lại của cuộc đời sau những gì
mà họ đã cống hiến cho gia đình và cho xã hội
1.3 Các lý thuyết được sử dụng trong nghiên cứu
1.3.1 Lý thuyết hệ thống
Lý thuyết hệ thống được đề xướng năm 1940 bởi nhà sinh vật học nổi tiếng Ludwig von Bertalanffy( 1901-1972) Để phản đối chủ nghĩa đơn giản hóa và việc cô lập hóa các đối tượng của khoa học, ông đưa ra quan điểm rằng tất cả các cơ quan đều là hệ thống, bao gồm những hệ thống nhỏ hơn và là phần tử của hệ thống lớn hơn Sau này lý thuyết hệ thống được các nhà khoa học khác nghiên cứu và phát triển như Hanson(1995), Mancoske(1981), Siponrin (1980)
Lý thuyết hệ thống cho rằng mọi tổ chức hữu cơ đều là hệ thống, được tạo thành từ các tiểu hệ thống và ngược lại cũng là một phần tử của hệ thống lớn hơn Do đó, con người là một bộ phận của xã hội, đồng thời cũng tạo nên từ những phần tử nhỏ hơn
Trang 28“
23
Các hệ thống có mối liên hệ mật thiết, tác động qua lại lẫn nhau Khi một hệ thống thay đổi kéo theo sự thay đổi của hệ thống khác và ngược lại khi muốn thay đổi một hệ thống thì phải thay đổi hệ thống nhỏ tạo nên
nó và thay đổi cả hệ thống lớn bao trùm nó
Lý thuyết hệ thống sử dụng trong công tác xã hội chú ý nhiều tới các quan hệ giữa các phần tử nằm trong hệ thống hơn là chú ý tới thuộc tính của phần tử
Ứng dụng thuyết hê ̣ thống vào nghiên cứu đề tài khi đi tìm hiểu đánh giá về hệ thống xung quanh người cao tuổi đang sống ta ̣i Trung tâm chăm sóc người cao tuổi Thiên Đức Bởi nó cho nhân viên công tác xã hội biết rằng người cao tuổi đang thiếu nhưng gì và những hệ thống mà họ có thể tham gia và tiếp cận bởi trọng tâm của hệ thống là hướng đến những cái tổng thể và mang tính hòa nhập
Lý thuyết này cũng hướng nhân viên công tác xã hội có thể nhận biết những điểm khả thi và các mức độ can thiệp với vấn đề của người cao tuổi đang gă ̣p phải, sau đó là lựa chọn một hay nhiều cách tiếp cận phù hợp
và hiệu quả nhất
Những hệ thống mà nhân viên công tác xã hội làm việc là những hệ thống đa dạng: hệ thống gia đình, hê ̣ thống các trung tâm chăm sóc người cao tuổi, hệ thống xã hội…Hay còn được phân thành các loại hệ thống như
hệ thống tự nhiên (gia đình, bạn bè, người đưa thư…), hệ thống chính thức (nhóm cộng đồng, tổ chức công đoàn…), hệ thống xã hội (trung tâm chăm sóc người cao tuổi , bệnh viện, trường học, các thiết chế xã hội, hay hệ thống chính sách…)
Vấn đề xã hội xảy ra khi thân chủ là người cao tuổi không tiếp cận được với những hệ thống đó hoặc có vấn đề với việc tiếp cận các hệ thống trên Bởi vậy, thuyết hệ thống cung cấp cho nhân viên công tác xã hội có cái nhìn toàn diện về vấn đề người cao tuổi chủ đang gặp phải và có kế
Trang 29“
24
hoạch giúp đỡ họ một cách hiệu quả Thuyết này cũng quan trọng trong việc xác định những yếu tố trong hệ thống sinh thái mà người cao tuổi đang sống, nhân viên công tác xã hội sẽ nhìn nhận xem người cao tuổi liên hệ chặt chẽ với yếu tố nào, chưa chặt chẽ với yếu tố nào [13]
1.3.2 Lý thuyết nhu cầu
Thuyết nhu cầu được nhiều ngành khoa học quan tâm nghiên cứu
và sử dụng ở nhiều lĩnh vực khác nhau trong đời sống, xã hội Trong số đó
có thể chú ý đến tháp nhu cầu được nhà tâm lý học Abraham Maslow đưa
ra vào năm 1943 Theo ông, nhu cầu của con người được chia làm hai nhóm chính: nhu cầu cơ bản (basic needs) và nhu cầu bậc cao (meta needs) Dưới đây là năm tầng trong tháp nhu cầu của Maslow gồm:
Hình 1.1 Tháp nhu cầu của Maslow
(1) Các nhu cầu căn bản nhất thuộc về "thể lý" (physiological) - thức
ăn, nước uống, nơi trú ngụ, tình dục, bài tiết, thở, nghỉ ngơi ; (2) Nhu cầu
an toàn (safety) - cần có cảm giác yên tâm về an toàn thân thể, việc làm, gia đình, sức khỏe, tài sản được đảm bảo; (3) Nhu cầu được giao lưu tình cảm
và được thuộc (love/belonging) - muốn được trong một nhóm cộng đồng nào đó, muốn có gia đình yên ấm, bạn bè thân hữu tin cậy, muốn nhận được nhiều sự yêu thương từ gia đình, người thân, bạn bè; (4) Nhu cầu được quý trọng, kính mến (esteem) - cần có cảm giác được tôn trọng, kinh mến, được tin tưởng’ (5) Nhu cầu về tự thể hiện bản thân (self-
Trang 30gì, nhu cầu nào là quan trọng và cần được đáp ứng đầu tiên Trên cơ sở đó, nhân viên công tác xã hội sẽ thiết lập được kế hoạch can thiệp và huy động được các nguồn lực liên quan để giúp người cao tuổi giải quyết các vấn đề
về sức khỏe mà họ gặp phải
1.3.3 Lý thuyết vai trò xã hội
Đây là một trong những lý thuyết cơ bản được sử dụng trong nghiên cứu xã hội học và có ứng dụng mạnh mẽ trong thực hành công tác xã hội
Về mặt trị liệu cho những bệnh nhân tâm thần với sử dụng chương trình phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng thì những khái niệm và ứng dụng của thuyết này đặc biệt hiệu quả người cao tuổi với những thiếu hụt trong quá trình thực hiện vai trò xã hội của mình thì việc áp dụng lý thuyết này trong can thiệp cũng mang lại nhiều hiệu quả
Những nghiên cứu của xã hội học đã tạo nên sự đóng góp đáng kể cho thực hành công tác xã hội Ứng dụng của Thuyết Vai trò xã hội từ xã hội học, và khái niệm chủ chốt về thực hiện chức năng xã hội (rút ra từ lý thuyết này), có thể mang tới đóng góp đáng kể hơn nữa cho thực hành công
Trang 31“
26
tác xã hội Lý thuyết Vai trò xã hội là một quá trình biến đổi cho việc phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng, nghĩa là đây là lý thuyết nền tảng cho sự cung ứng chương trình dẫn dắt sự thích nghi và thực hiện chức năng xã hội Thích nghi được định nghĩa là sự chữa trị cũng như kiểm soát thành công những triệu chứng của tình trạng bệnh tâm thần và đáp lại một cách hợp lý với những mong đợi của những người khác trong môi trường xã hội Thực hiện chức năng xã hội được định nghĩa như những hành vi có tính quy chuẩn trong một hoàn cảnh xã hội Việc thiết lập những hành vi đặc trưng cho sự thích nghi hoặc thực hiện các chức năng xã hội một cách thích hợp không áp đặt lên thân chủ bởi các nhà trị liệu Hơn nữa, những can thiệp lâm sàng được thiết lập để trợ giúp thân chủ khám phá những hành vi cho chính bản thân họ [13]
Ứng dụng thuyết vai trò để xác định ba loại cơ bản: (1) Vai trò được thiết chế hóa của nhân viên công tác xã hội được thực hiện trong hoạt động hỗ trợ chăm sóc sức khỏe người cao tuổi tại Trung tâm Thiên Đức; (2) Vai trò kỳ vọng của người cao tuổi và người cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe người cao tuổi đối với nhân viên công tác xã hội; (3) Vai trò khách quan của nhân viên công tác xã hội hay chính là sự đánh giá của người cao tuổi và người cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe người cao
tuổi về vai trò của nhân viên công tác xã hội
1.4 Chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về người cao tuổi và công tác chăm sóc sức khỏe người cao tuổi
Trang 32“
27
những người cao tuổi thực hiện chính sách đền ơn đáp nghĩa, chăm sóc sức khoẻ, nâng cao đời sống tinh thần và vật chất trong điều kiện mới; đáp ứng nhu cầu thông tin, phát huy khả năng tham gia đời sống chính trị của đất nước và các hoạt động xã hội; nêu gương tốt, giáo dục lí tưởng và truyền thống cách mạng cho thanh niên, thiếu niên…”
Trong bài phát biểu tại cuộc gặp mặt nhân ngày quốc tế người cao tuổi (01/10/2002) do Trung ương Hội Người cao tuổi Việt Nam tổ chức tại
Hà Nội, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh đã nói: “…Chưa bao giờ lực lượng người cao tuổi nước ta lại đông đảo như hiện nay Đảng, Nhà nước và nhân dân ta tự hào về lớp người cao tuổi nước ta Với uy tín cao, sự mẫu mực về phẩm chất chính trị, đạo đức và lối sống cùng với vốn tri thức, kinh nghiệm, kĩ năng lao động và nghiệp vụ phong phú, đa dạng của mình, người cao tuổi thực sự là một bộ phận hợp thành nguồn lực nội sinh quý giá của cả dân tộc Chúng ta tôn trọng, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực ấy”…
Báo cáo chính trị tại Đại hội X của Đảng ghi rõ: “Vận động toàn dân tham gia các hoạt động đền ơn đáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn đối với lão thành cách mạng, những người có công với nước, người hưởng chính sách xã hội Chăm sóc đời sống vật chất và tinh thần của người già, nhất là những người già cô đơn, không nơi nương tựa…”
Tóm lại, Chỉ thị 59/CT-TW, các văn kiện Đại hội Đảng và Thông báo số 12-TB/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng đều khẳng định: Người cao tuổi là nền tảng của gia đình, là tài sản vô giá, nguồn lực quan trọng cho sự phát triển xã hội Do vậy, chăm sóc và phát huy tốt vai trò người cao tuổi là thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ ta và đạo đức người Việt Nam, góp phần tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân vì sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh [9]
Trang 33“
28
1.4.2 Chính sách và pháp luật của Nhà nước
Từ khi Nhà nước được thành lập, đã có rất nhiều chính sách, văn bản pháp luật ra đời, trong đó có những quy định liên quan đến người cao tuổi, sau đây là một số chính sách và luật tiêu biểu:
Luật Hôn nhân và gia đình, Điều 36, khoản 2 quy định:“Con có nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ, đặc biệt khi cha mẹ ốm đau, già yếu, tàn tật…Và Điều 47, khoản 2 quy định: “Cháu có bổn phận… chăm sóc, phụng dưỡng ông bà nội, ngoại”
Luật Bảo vệ chăm sóc sức khoẻ nhân dân đã dành một chương
riêng: Bảo vệ sức khoẻ người cao tuổi … trong đó, khoản 1 Điều 41 của Luật này quy định: “Người cao tuổi … được ưu tiên khám bệnh, chữa bệnh, được tạo điều kiện thuận lợi để đóng góp cho xã hội phù hợp với sức khoẻ của mình”
Luật Lao động, Điều 124, quy định: “Người sử dụng lao động có trách nhiệm quan tâm chăm sóc sức khoẻ người lao động cao tuổi, không được sử dụng người lao động cao tuổi làm việc nặng nhọc, nguy hiểm… ảnh hưởng sức khoẻ”
Bộ luật Hình sự, Điều 151 quy định: “Tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình” và Điều 152 quy định “Tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng” Bên cạnh đó, luật cũng quy định một số tình tiết giảm nhẹ khi “người phạm tội
là người già”
Chỉ thị 117/CP của Thủ tướng Chính phủ năm 1996 ban hành “Về
chăm sóc người cao tuổi và hỗ trợ hoạt động cho Hội người cao tuổi Việt
Nam” Chỉ thị khẳng định: “Kính lão đắc thọ” là truyền thống tốt đẹp của
nhân dân ta, Đảng và Nhà nước ta coi việc quan tâm, chăm sóc đời sống vật chất và tinh thần của người cao tuổi là đạo lý của dân tộc, là tình cảm và
Trang 34“
29
trách nhiệm của toàn đảng, toàn dân Các cấp chính quyền đã đề ra nhiều
chính sách thể hiện sự quan tâm đó
Pháp lệnh Người cao tuổi của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội được ban hành năm 2000 Pháp lệnh Người cao tuổi ra đời là bước đi thích hợp
để chăm sóc người cao tuổi Pháp lệnh Người cao tuổi đã dành chương 2: Phụng dưỡng, chăm sóc người cao tuổi (14 Điều) tập trung đề cập trách nhiệm của gia đình, Nhà nước, các tổ chức, cá nhân trong việc phụng dưỡng chăm sóc người cao tuổi trong đó chính sách chăm sóc sức khoẻ được quan tâm khá toàn diện Điều này đựơc minh chứng ở khoản 2 Điều 10; (khoản 2 Điều 12); (Điều 13); (khoản 1, 2 Điều 14); (Điều 15); (Điều
16)
Nghị định số 30/CP của Chính phủ ban hành năm 2002 “Quy định
và hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh Người cao tuổi” Điều 9
nêu rõ: Người cao tuổi được chăm sóc sức khoẻ theo quy định của Luật
Bảo vệ sức khoẻ nhân dân ngày 11 tháng 8 năm 1989
Thông tư số 02/ 2004/TT – BYT Bộ Y tế năm 2004, hướng dẫn
thực hiện công tác chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi trong đó quy định:
người cao tuổi được chăm sóc sức khoẻ, được khám chữa bệnh khi ốm đau, bệnh tật; được chăm sóc sức khoẻ ban đầu, được ưu tiên khám, chữa bệnh tại các cơ sở y tế; Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm đảm bảo chế độ chăm sóc sức khoẻ cho người cao tuổi tại địa phương Ngành y tế chịu trách nhiệm về chuyên môn, kỹ thuật trong chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi… Tổ chức mạng lưới tình nguyện viên chăm sóc sức khoẻ cho người cao tuổi tại nhà Trạm y tế xã, phường, thị trấn có trách nhiệm quản lý sức khoẻ và thực hiện chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho người cao tuổi tại địa phương Trường hợp người cao tuổi bị tàn tật, cô đơn không nơi nương tựa
bị ốm đau nhưng không đến khám, chữa bệnh tại nơi quy định thì trưởng trạm y tế cấp xã cử cán bộ y tế đến khám, chữa bệnh tại nơi ở của người
Trang 35“
30
cao tuổi hoặc báo cáo Uỷ ban nhân dân địa phương tổ chức đưa người bệnh đến cơ sở khám, chữa bệnh… thực hiện việc ưu tiên khám trước cho người bệnh cao tuổi (Sau trường hợp cấp cứu), phát triển các phương pháp chữa bệnh không dùng thuốc nhất là ở tuyến y tế cơ sở đối với người bệnh cao
tuổi
Người cao tuổi từ 90 tuổi trở lên được hưởng các chế độ bảo hiểm y
tế theo quy định tại Thông tư số 24/2003 ngày 6/11/2003 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội hướng dẫn thi hành Nghị định số 120/2003/NĐ-
CP ngày 20/10/2003 của Chính phủ Khuyến khích các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài, gia đình của người cao tuổi mua thẻ bảo hiểm y
tế cho người cao tuổi
Có thể nói, Thông tư 02/2004 của Bộ Y tế đã tiến một bước dài trong việc thể chế hoá chính sách y tế cho người cao tuổi Việt Nam, tạo tiền đề quan trọng cho việc xây dựng chính sách y tế mới cho người cao
tuổi khi Luật Người cao tuổi được Quốc hội thông qua
Nghị định 67/CP, năm 2007 của Chính phủ “Về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội”, trong đó có đối tượng là người từ 85 tuổi trở lên không có lương hưu hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội, được hưởng 120.000
đồng/tháng
Luật Người cao tuổi được Quốc hội ban hành ngày 23/11/2009 và
có hiệu lực ngày 1/7/2010 thể hiện rất rõ nét tính ưu việt cũng như truyền thống "uống nước nhớ nguồn" của xã hội ta Ngoài việc được Nhà nước, các tổ chức, đoàn thể chúc thọ, mừng thọ theo quy định, người cao tuổi sẽ được chăm sóc sức khỏe thông qua việc định kì khám, chữa bệnh tại các cơ
sở y tế, đặc biệt ưu tiên cho người đủ 80 tuổi trở lên Các bệnh viện sẽ thành lập các khoa lão khoa hoặc dành một số giường để điều trị người bệnh cao tuổi Người cao tuổi được chăm sóc đầy đủ hơn về đời sống tinh thần trong hoạt động văn hoá, giáo dục, thể dục, thể thao, giải trí, du lịch,
Trang 36“
31
hưởng phúc lợi từ các công trình công cộng và giao thông công cộng do Nhà nước và xã hội đầu tư Chính phủ sẽ ban hành danh mục dịch vụ mà người cao tuổi sử dụng với mức miễn, giảm nhất định Mặc dù, đất nước còn khó khăn nhưng Đảng, Chính phủ vẫn bố trí một phần ngân sách nhà nước để thực hiện bảo trợ xã hội đối với người cao tuổi, hộ có người cao tuổi nghèo Theo luật mới ban hành, người đủ 80 tuổi trở lên không có lương hưu và bảo hiểm xã hội sẽ được trợ cấp hàng tháng, được hưởng bảo hiểm y tế, được hỗ trợ chi phí mai táng khi chết Các cơ quan nhà nước cũng có trách nhiệm tạo điều kiện tốt nhất để người cao tuổi phát huy vai trò phù hợp với khả năng của mình thông qua việc bày tỏ ý kiến, nguyện vọng, kiến nghị, việc trực tiếp cống hiến trong khoa học, sản xuất, kinh
doanh…
Như vậy, ngoài nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng, chăm sóc của gia đình, người thân, Nhà nước có những cơ chế, chính sách cụ thể, phù hợp và
sẽ bổ sung, tăng dần theo xu thế đà tăng trưởng của nền kinh tế để bảo đảm
chăm sóc và phát huy vai trò của người cao tuổi
1.5 Một vài đặc điểm về Trung tâm chăm sóc người cao tuổi Thiên Đức
1.5.1 Lịch sử hình thành và phát triển
Trung tâm chăm sóc người cao tuổi Thiên Đức tại phường Đông Ngạc, quận Bắc Từ Liêm trực thuộc Công ty cổ phần an dưỡng đường Thiên Phúc, được thành lập vào tháng 4 năm 2001 do ông Nguyễn Tuấn Ngọc làm giám đốc
Với 13 năm kinh nghiệm làm việc tại bệnh viện Thanh Nhàn - Hà Nội trong vai trò trợ lý của giáo sư Nguyễn Văn Xang - nguyên giám đốc bệnh viện và được hướng dẫn tận tình của giáo sư - tiến sĩ y học Ngô Hy - Nguyên phó giám đốc bệnh viện Thanh Nhàn, Giám đốc Trung tâm bác sĩ gia đình, ông Nguyễn Tuấn Ngọc đã thành lập và xây dựng Trung tâm chăm sóc sức khỏe Người cao tuổi Minh Khai - Từ Liêm vào tháng 4 năm
Trang 37“
32
2001 Sau nay đổi tên thành Trung tâm chăm sóc người cao tuổi Thiên Đức Trung tâm chăm sóc người cao tuổi Thiên Đức được bắt đầu xây dựng trên diện tích 500m2 với 20 phòng ở, 1 hội trường và 1 sân chơi Tháng 10 năm 2004 trung tâm đã mở rộng thêm 900m2 thành 1 khu hoàn chỉnh với 45 phòng ở, 3 hội trường và 1 phòng tập phục hồi chức năng, nâng tổng số giường lên tới 150 giường
Vì đây là một mô hình hoàn toàn mới tại Việt Nam nên hầu như rất ít người đưa bố mẹ vào viện dưỡng lão vì cho rằng như vậy là bất hiếu Trong
ba năm đầu, với một ngày mới gặp rất nhiều khó khăn về mọi mặt nhưng với một niềm tin mãnh liệt ông Nguyễn Tuấn Ngọc vẫn quyết tâm tiếp tục xây dựng và phát triển trung tâm Ông không ngừng nghiên cứu, liên hệ với các nhà dưỡng lão ở các nước tiên tiến như: Đài Loan, Nhật Bản, Mỹ, Đức để học hỏi mô hình này Đồng thời ông đã tập hợp được một đội ngũ nhân lực gồm các bác sĩ, y tá, điều dưỡng trẻ, đầy nhiệt tình và tận tụy
Với tiêu chí ngày càng hoàn thiện hơn, vào tháng 4 năm 2009 Trung tâm chuyển về tại Xóm 3 - xã Đông Ngạc, Từ Liêm, Hà Nội Đây là trung tâm được xây dựng theo mô hình của Nhật Bản và của Đức với khu nhà ở cao cấp đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội
Đến tháng 6 năm 2011 Giám đốc Nguyễn Tuấn Ngọc quyết định mở thêm cơ sở 2 tại khu dân cư Lâm Trường, Minh Phú, Sóc Sơn Hà Nội
Để đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng nhiều của người cao tuổi, đến tháng 7 năm 2013 trung tâm quyết định mở thêm cơ sở 3 tại
số 57 xóm Chùa - Nhật Tảo - Từ liêm - Hà Nội
Sau 14 năm hoạt động, trung tâm đã xây dựng, mở rộng và phát triển thành một hệ thống nhà dưỡng lão gồm 300 giường được chia thành nhiều khu và nhiều loại phòng phù hợp với từng nhóm bệnh cần chăm sóc Hiện tại, trung tâm đang chăm sóc 159 người cao tuổi, trong đó cơ sở 1 chăm sóc
74 người cao tuổi, cơ sở 2 chăm sóc 31 người cao tuổi và cơ sở 3 chăm sóc
54 người cao tuổi
1.5.2 Mục đích, chức năng và nhiệm vụ của Trung tâm
Trang 38 Chức năng: Trung tâm chăm sóc người cao tuổi Thiên Đức là trung tâm thực hiện chức năng quản lý chăm sóc, nuôi dưỡng người cao tuổi Giúp họ có được cuộc sống vui vẻ, an nhàn khi về già, không những thế trung tâm còn là nơi chăm sóc sức khỏe và điều trị cho người cao tuổi cảm thấy thật thoải mái khi được sống ở đây
Nhiệm vụ: Trung tâm có nhiêm vụ tổ chức, tiếp nhận, quản
lý, nuôi dưỡng và chăm sóc người cao tuổi
1.5.3 Cơ sở vật chất của Trung tâm
Trải qua hơn chục năm hoạt động, Trung tâm chăm sóc sức khỏe Thiên Đức ngày càng được đầu tư phát triển và mở rộng về cơ sở vật chất
để đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi trong cả nước Hiện nay, cả 3 cơ sở của Trung tâm đều được xây dựng nhiều loại phòng ở như phòng ở dành cho 1 người, phòng dành cho 2 người, phòng dành cho 4 người … với các trang thiết bị sinh hoạt khá hiện đại và đầy đủ để đáp ứng nhu cầu đa dạng của người cao tuổi Bên cạnh đó,
ở các cơ sở còn có 1 phòng phục hồi chức năng và 1 hội trường lớn với các phương tiện khá hiện đại để tổ chức phục hồi chức năng và tổ chức các hoạt động tập thể cho người cao tuổi
Trang 39“
34
Ngoài ra, các cơ sở đều được trang bị thêm nhiều phương tiện vật chất khác để đảm bảo đáp ứng nhu cầu làm việc và chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi của Trung tâm như: Hệ thống cấp nước; hệ thống thoát nước; hệ thống thông tin liên lạc; hệ thống phòng cháy chữa cháy; hệ thống
xử lý rác thải
Như vậy, có thể nói với một mô hình do tư nhân quản lý như Trung tâm chăm sóc người cao tuổi Thiên Đức, việc có được cơ sở vật chất như hiện nay là sự cố gắng rất lớn và là một điều đáng ghi nhận Hệ thống cơ sở vật chất đó đã tạo ra nhiều thuận lợi cho hoạt động chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi và đáp ứng được những yêu cầu cơ bản của người cao tuổi Tuy nhiên, với nhu cầu ngày càng đa dạng và càng cao của người cao tuổi,
hệ thống cơ sở vật chất hiện nay của Trung tâm vẫn chưa thể đáp ứng hết nhu cầu của người cao tuổi
1.5.4 Đội ngũ cán bộ nhân viên của Trung tâm
Hiện nay đội ngũ cán bộ nhân viên của Trung tâm Thiên Đức bao gồm 106 người được tổ chức theo phòng, tổ như sau:
Ban giám đốc: 01 người
Phòng tổ chức – hành chính: 09 người
Phòng kế toán – tài chính: 03 người
Tổ nghiệp vụ - kỹ thuật: 08 người
Tổ bếp: 09 người
Tổ tạp vụ: 07 người
Tổ bảo vệ, lái xe: 10 người Tổ chuyên môn: 59 người
Tổ chuyên môn gồm 1 bác sỹ, 4 y tá trưởng, 3 y tá hành chính, 41 y
tá điều dưỡng, 7 nhân viên đông y, 3 nhân viên dược và 1 nhân viên công tác xã hội Hầu hết các nhân viên ở đây là nữ và họ chủ yếu được đào tạo
về ngành y Tổ chuyên môn là bộ phận đảm nhiệm việc theo dõi, chăm sóc sức khỏe người cao tuổi, hướng dẫn người cao tuổi tuân theo chế độ sinh
Trang 40về công tác xã hội Họ chính là những nhân viên công tác xã hội bán chuyên nghiệp Trong bối cảnh hiện nay, ngay tại các cơ sở bảo trợ xã hội
do nhà nước quản lý, việc có mặt của đội ngũ nhân viên công tác xã hội vẫn còn rất thiếu vắng Cho nên, đối với các cơ sở bảo trợ xã hội ngoài công lập hoạt động trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi, việc xuất hiện vai trò của nhân viên công tác xã hội như Trung tâm chăm sóc người cao tuổi Thiên Đức là một trong những điểm mới hiện nay