Mục tiêu của chương trình này là góp phần phát triển cơ sở hạ tầng, tận dụng nguồn tài nguyên chung, xúc tiến đẩy mạnh việc trao đổi hàng hoá cũng như nguồn lao động giữa các nước trong
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
TRẦN NGỌC MINH
HỢP TÁC PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG TIỂU VÙNG SÔNG MEKONG GIAI ĐOẠN 1990-2020
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: CHÂU Á HỌC
Hà Nội - 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
TRẦN NGỌC MINH
HỢP TÁC PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG TIỂU VÙNG SÔNG MEKONG GIAI ĐOẠN 1990-2020
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Châu Á học
Mã số: 60 31 06 01
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS Lê Đình Chỉnh
Hà Nội - 2016
Trang 3Lời cảm ơn
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Lê Đình Chỉnh, Nguyên Chủ nhiệm Khoa Đông Phương học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội, người đã tận tình, chu đáo hướng dẫn, và có sự chỉ đạo sát sao trong suốt thời gian tôi thực hiện luận văn tốt nghiệp này
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới những người bạn đồng hành, những người giúp đỡ tôi tìm hiểu - thu thập tư liệu về vấn đề tôi đang quan tâm và nghiên cứu
Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới các quý thầy cô giáo, cùng các cán bộ của Khoa Đông phương học, Trung tâm thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội đã cung cấp cho tôi những tư liệu quý báu và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp, những người luôn động viên, tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong thời gian thực hiện luận văn tốt nghiệp
Do nguồn tài liệu và thời gian nghiên cứu còn hạn chế, nên luận văn không sao tránh khỏi những thiếu sót nhất định Rất mong nhận được đóng góp của các quý thầy cô và các bạn đồng nghiệp để tôi có thể có những bước nghiên cứu tốt hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả
Trần Ngọc Minh
Trang 4Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan luận văn tốt nghiệp này là công trình nghiên cứu độc lập của bản thân, không sao chép từ bất kỳ công trình nghiên cứu nào
Các tài liệu tham khảo, trích dẫn nội dung được sử dụng trong luận văn đã được chú thích rõ nguồn trích dẫn
Tôi xin chịu trách nhiệm hoàn toàn về nội dung luận văn tốt nghiệp và lời cam đoan này
Tác giả
Trần Ngọc Minh
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3 Mục đích nghiên cứu 6
4 Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài 6
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
6 Phương pháp nghiên cứu 7
7 Bố cục của luận văn 8
PHẦN NỘI DUNG 9
Chương 1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ CÁC VÙNG LÃNH THỔ TRONG KHU VỰC TIỂU VÙNG SÔNG MEKONG 9
1.1 Khái quát về tiểu vùng sông Mekong 9
1.1.1 Về điều kiện tự nhiên, xã hội 9
1.1.2 Nguồn lực của các nước trong tiểu vùng sông Mekong 21
1.1.3 Sự hình thành và phát triển hợp tác tiểu vùng Mekong 23
1.2 Hợp tác du lịch tiểu vùng sông Mekong và hợp tác du lịch đa phương 29
1.2.1 Hợp tác du lịch tiểu vùng sông Mekong 29
1.2.2 Hợp tác du lịch đa phương- chìa khóa thúc đẩy kinh tế, xóa đói giảm nghèo 33
Chương 2 CÁC CHƯƠNG TRÌNH HỢP TÁC DU LỊCH TIỂU VÙNG SÔNG MEKONG 37
2.1 Các tổ chức hợp tác du lịch tiểu vùng Mekong 37
2.1.1 Tổ chức du lịch thế giới 37
2.1.2 Hiệp hội du lịch châu Á-Thái Bình Dương 38
2.1.3 Diễn đàn du lịch ASEAN 38
Trang 62.1.4 Văn phòng điều phối du lịch Mekong 39
2.1.5 Diễn đàn du lịch Mekong 40
2.2 Các nội dung hợp tác du lịch ở tiểu vùng Mekong 41
2.2.1 Phát triển nguồn nhân lực du lịch 41
2.2.2 Phát triển cơ sở vật chất phục vụ du lịch 42
2.2.3 Phát triển sản phẩm du lịch, nối tour, trao đổi đoàn khách 45
2.2.4 Xúc tiến quảng bá du lịch 47
2.2.5 Nâng cao chất lượng quản lý nguồn tài nguyên tự nhiên và nhân văn 50 2.3 Các hoạt động nổi bật trong hợp tác du lịch ở tiểu vùng Mekong 51
2.3.1 Chương trình “Ba quốc gia - một điểm đến” 51
2.3.2 Hợp tác du lịch Việt Nam - Thái Lan 53
2.3.3 Dự án “Phát triển du lịch bền vững tiểu vùng sông Mekong” 54
2.3.4 Hợp tác du lịch giữa Việt Nam, Thái Lan với Trung Quốc 56
Chương 3 THÀNH TỰU, CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CỦA HỢP TÁC VÀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH TIỂU VÙNG SÔNG MEKONG 61
3.1 Một số thành tựu chủ yếu của hợp tác du lịch tiểu vùng sông Mekong 61 3.2 Một số định hướng phát triển 70
3.3 Triển vọng hợp tác phát triển du lịch tiểu vùng 78
3.4 Cơ hội cho ngành du lịch tiểu vùng sông Mekong 85
3.5 Khó khăn, thách thức cho du lịch tiểu vùng Mekong và hàm ý cho du lịch Việt Nam 88
3.6 Biện pháp khắc phục khó khăn, thách thức 95
KẾT LUẬN 101
TÀI LIỆU THAM KHẢO 106
Trang 7BẢNG DANH MỤC CÁC TỪ TIẾNG ANH VIẾT TẮT
TT Tên viết tắt Tên tiếng Anh Tên tiếng Việt
1 ASEAN Association of Southeast
4 APEC Asia- Pacific Economic
Cooperation
Diễn đàn hợp tác kinh tế khu vực châu Á- Thái Bình
7 CASP Core Agriculture Support
Program
Chương trình hỗ trợ nông nghiệp chủ chốt
Program
Chương trình môi trường chủ chốt tiểu vùng sôngMekong mở rộng
10 EWEC East West Economic
Quỹ tiền tệ quốc tế
14 MTDP Mekong Tourism Dự án phát triển du lịch
Trang 8Development Project Mekong
19 UNESCO United Nations
Educational, Scientfic and Cultural Orgnization
Tổ chức giáo dục, khoa học
và văn hóa thế giới
20 USD The United States Dolla Đồng Đô la Mĩ
21 TAD Transboundary Animal
26 SEZ Special Economic Zone Khu kiểm dịch đặc biệt
27 SPS Sanitary and
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ngày nay, hội nhập khu vực và quốc tế là xu thế chung diễn ra trên toàn thế giới, trong đó sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia đang ngày càng gia tăng, nhất là những quốc gia trong cùng một khu vực địa lý, đã và đang chia sẻ nhiều mục tiêu và lợi ích trong phát triển Trong xu thế đó, các tổ chức khu vực phát triển theo hướng không chỉ hướng nội mà còn hướng ngoại Chẳng hạn, như ở khu vực Đông Nam Á việc hợp tác phát triển đã có: TTP, AEC, ASEAN+ 1, ASEAN + 3 Kết quả là nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội đang được quan tâm phát triển trong nhiều tổ chức hợp tác đa phương Trong các lĩnh vực ấy, du lịch là lĩnh vực kinh tế mang tính chất mở và khá năng động Vì vậy, hợp tác phát triển du lịch là một trong những xu hướng và nhu cầu tất yếu giữa các quốc gia hiện nay, bởi đây cũng
là một ngành kinh tế mũi nhọn có tầm quan trọng đối với nhiều nước
Sông Mekong là dòng sông có vai trò quan trọng, chảy qua địa phận của sáu quốc gia: Trung Quốc, Myanma, Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam, đây là con sông Mẹ huyết mạch nuôi sống cư dân các nước dọc bờ sông này Dòng sông mang lại rất nhiều nguồn lợi về kinh tế, lợi ích từ dòng sông không chỉ là lợi ích của một quốc gia mà còn là lợi ích của tất cả các nước trong khu vực Chính vì tầm quan trọng của dòng sông và sự tương đồng về địa chính trị, địa kinh tế, địa văn hóa nên đã hình thành nên tiểu vùng sông Mekong có quan hệ mật thiết với nhau về nhiều mặt Việc phát triển kinh tế tiểu vùng có liên quan đến quyền lợi kinh tế mỗi nước thành viên nên cần xem xét, điều chỉnh lợi ích của mỗi quốc gia, dân tộc sao cho phù hợp với lợi ích và xu thế phát triển chung của cả tiểu vùng, chính điều này đặt ra vấn đề hợp tác phát triển bền vững ngay trong bản thân mỗi nước trong tiểu vùng
Nhận thức rõ điều đó, năm 1992, sáu quốc gia thuộc khu vực sông Mekong đã tham gia vào chương trình hợp tác tiểu vùng Mekong mở rộng
Trang 10(Greater Mekong Subregion - GMS) Mục tiêu của chương trình này là góp phần phát triển cơ sở hạ tầng, tận dụng nguồn tài nguyên chung, xúc tiến đẩy mạnh việc trao đổi hàng hoá cũng như nguồn lao động giữa các nước trong Tiểu vùng, tiến tới xây dựng tiểu vùng sông Mekong trở thành một trong những khu vực phát triển thịnh vượng trên thế giới Hoạt động của GMS rất phong phú, đa dạng, có nhiều sáng kiến bao gồm nhiều chương trình, nhưng tập trung chủ yếu vào 9 lĩnh vực khác nhau, trong đó du lịch được xem là lĩnh vực có lợi thế và nằm trong số 11 chương trình ưu tiên của tiểu vùng Mekong Hợp tác về du lịch đang được triển khai có hiệu quả ở các nước thành viên Nhiều chương trình liên kết ra đời là minh chứng cho xu thế hội nhập và hợp tác giữa các nước láng giềng trong tiểu vùng, tạo điều kiện cho xu thế hợp tác ngày càng sâu sắc và đạt hiệu quả hơn
Việc hợp tác phát triển du lịch trong các nước tiểu vùng sông Mekong đang được đặt ra một cách cấp bách trong xu thế khu vực hóa và toàn cầu hóa : vừa khai thác, hợp tác phát triển lại vừa bảo vệ môi trường Với việc dòng sông trải dài trên 06 nước nên việc khai thác nguồn lợi tài nguyên Mekong phục vụ du lịch không chỉ liên quan đến lợi ích của từng quốc gia mà
là của cả khu vực Từ đó đòi hỏi các nước trong tiểu vùng phải tham gia thương lượng và điều chỉnh lợi ích quốc gia, đảm bảo sự phát triển bền vững
và an sinh xã hội, từ vấn đề một dòng sông tiếp sau đó là vấn đề hợp tác chung của cả tiểu vùng
Tình hình thế giới: Năm 1990, tình hình thế giới có nhiều biến động, với sự tan rã của Liên Xô và Đông Âu, chiến tranh lạnh kết thúc tạo điều kiện cho hợp tác các nước trong khu vực với nhau Trong giai đoạn này, ngân hàng phát triển châu Á- ADB đã có những bước thu thập điều tra các nước liên quan đến tiểu vùng Sông Mekong, số liệu ghi lại từ những năm 1990, tạo tiền
đề cho sáng kiến hợp tác tiểu vùng Sông Mekong năm 1992
Trang 11Từ những nội dung đề cập trên, tôi cho rằng đây là một đề tài chứa đựng nhiều nội dung khoa học quan trọng, cần được nghiên cứu hệ thống và
toàn diện hơn Từ nhận thức đó, tôi chọn đề tài „„ Hợp tác phát triển du lịch
tiểu vùng sông Mekong giai đoạn 1990-2020 ‟‟ làm đề tài luận văn tốt nghiệp
của mình
Luận văn này trước hết đề cập đến hoạt động hợp tác du lịch của các quốc gia trong tiểu vùng song Mekong, những thành tựu đã đạt được cũng như các chương trình, hoạt động mà Hiệp hội này đang xúc tiến để quảng bá cho du lịch của cả tiểu vùng Thêm vào đó, luận văn cũng tập trung nêu và phân tích cụ thể những cơ hội và thách thức đối với du lịch Việt Nam trong quá trình hội nhập khu vực Việt Nam có cơ hội gì và phải đối mặt với những khó khăn thách thức nào trong hợp tác du lịch song phương và đa phương với các quốc gia trong Tiểu vùng Mekong mở rộng, nhất là khi tuyến đường xuyên Á và Hành lang kinh tế Đông Tây đã trở thành hiện thực, mở ra nhiều
cơ hội để hợp tác và phát triển với các quốc gia trong Tiểu vùng Xác định rõ
vị trí của du lịch Việt Nam trong khu vực sẽ góp phần xây dựng chiến lược và chính sách đúng đắn trong tiến trình hội nhập khu vực và quốc tế nhằm phát triển tài nguyên du lịch Việt Nam trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn, có tầm cỡ và thương hiệu ghi đậm dấu ấn trên bản đồ du lịch thế giới
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Chủ đề nghiên cứu về tiểu vùng sông Mekong là một lĩnh vực khoa học được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Hiện nay có nhiều nước trên thế giới có
sự quan tâm đặc biệt đến tiểu vùng sông Mekong, có thể kể đến là Nhật Bản,
Mỹ Đây là 2 nước lớn đã đề ra những chiến lược, kế hoạch hoạch định tương lai hợp tác và phát triển ở đây
Hiện nay, các nước trong tiểu vùng cũng đã xây dựng cho mình những trung tâm nghiên cứu về tiểu vùng sông Mekong: Bắc Kinh (Trung Quốc), Viên Chăn (Lào), Băng Cốc (Thái Lan), Hà Nội (Việt Nam), Phnom Penh (Campuchia)…
Trang 12hình thành nên những Học viện Mekong hay Ủy ban Mekong có tác dụng thiết thực trong việc đào tạo cán bộ và nghiên cứu khá toàn diện về Mekong trên tất cả các mặt Trong số đó phải kể đến Thái Lan là quốc gia đi đầu về nghiên cứu Tiểu vùng sông Mekong với trung tâm nghiên cứu Mekong của đại học Khon Kaen (Thái
Lan) cùng bộ sách về các nước tiểu vùng thông qua “Journal of Mekong Societies” Đặc biệt là tiến sĩ Thanyathip Sripana – một chuyên gia nghiên cứu của Viện
nghiên cứu châu Á, Trường Đại học Chulalongkorn (Thái Lan) cũng có khá nhiều công trình nghiên cứu về tiểu vùng này
Nghiên cứu về GMS đã có diễn đàn " Cơ hội đầu tư vào các dự án ưu tiên Tiểu vùng Mekong mở rộng" đã được tổ chức ở nhiều nước châu Á và châu Âu như Bangkok (Thái Lan); Tokyo (Nhật Bản); Seoul (Hàn Quốc), Born (Đức), Bruxen (Bỉ), Paris (Pháp), London (Anh), v.v Năm 1998, khi Đông Nam Á bị tàn phá vì ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính - kinh tế khu vực, hoạt động hợp tác Tiểu vùng sông Mekong bị chững lại Trong khi đó, ở châu Âu vẫn diễn ra các hội thảo lớn về GMS, thu hút cả khu vực tư nhân, chứng tỏ việc quan tâm nghiên cứu GMS ở nước ngoài phát triển khá liên tục
và chiếm vị trí chiến lược
Tại Việt Nam một số nhà nghiên cứu về tiểu vùng có thể kể đến là G.S
Phạm Đức Dương với công trình :“ Có một vùng văn hóa Mekong- Does a
Mekong cultural area exist?” Tương tự, nhà nghiên cứu Nguyễn Trần Quế -
Kiều Văn Trung với công trình“ Sông và tiểu vùng sông Mekong – tiềm năng và
hợp tác phát triển quốc tế” Các nhà nghiên cứu khác như Đào Việt Hưng,
Nguyễn Quốc Nga, Trần Khánh, Phạm Đức Thành, Trương Duy Hòa … đã cho đăng tải nhiều bài viết trên các tạp chí nghiên cứu, các chuyên khảo về tiểu vùng
sông Mekong như : Tạp chí nghiên cứu Đông Nam Á, Tạp chí kinh tế thế giới…
Các nghiên cứu chuyển biến dần từ văn hóa, xã hội song hành cùng nghiên cứu
về kinh tế, đặc biệt là sự hợp tác kinh tế, trong đó du lịch là một trong những ngành được chú trọng quan tâm
Trang 13Hợp tác giữa các nước tiểu vùng Mekong mở rộng là sự kiện to lớn trong khuôn khổ hợp tác đa phương của khu vực Vì vậy, mối quan hệ hợp tác này luôn nhận được sự hoan nghênh và kỳ vọng không những từ những nhà lãnh đạo, từ các nhóm lợi ích mà cả sự quan tâm của báo chí, sự nghiên cứu của các nhà khoa học, giới chuyên môn
Rất nhiều kênh thông tin như truyền thanh, truyền hình, báo chí và website thường đưa tin về các chương trình, dự án hợp tác song phương và đa phương ở tiểu vùng Mekong, nhất là vấn đề hợp tác năng lượng, lương thực
và nguồn nước sông Mekong đang là vấn đề quan trọng thu hút được sự quan tâm ở khu vực và trên thế giới Gần đây, tháng 12/2011, Hội nghị thượng đỉnh GMS lần thứ 4 diễn ra tại thủ đô của Mianma và đưa ra Tuyên bố chung
“ Sau năm 2012: Hướng tới một thập kỷ mới về quan hệ đối tác chiến lược GMS” càng thu hút hơn sự quan tâm và bàn bạc về sự hợp tác trong GMS
Năm 2005, tại đô thị cổ Hội An đã diễn ra hội thảo quốc tế “Hợp tác tiểu
vùng Mekong mở rộng: “ Các vấn đề nghiên cứu và mạng lưới hợp tác” Trong
Hội thảo này, các tác giả đã tập trung thảo luận về các vấn đề như: cơ sở hợp tác kinh tế của tiểu vùng Mekong, hợp tác về an ninh môi trường và khai thác tài nguyên, cơ hội và thách thức của hợp tác tiểu vùng, tác động của hợp tác đến kinh tế Việt Nam… Tuy nhiên, hợp tác về du lịch hầu như ít được nghiên cứu chuyên sâu mà chỉ được đề cập đến như là một trong các nội dung của hợp tác kinh tế
Một trong những công trình có liên quan đến chủ đề nghiên cứu là luận
văn thạc sĩ có tiêu đề “Hợp tác du lịch tiểu vùng Mekong, nhưng cơ hội và
thách thức cho du lịch Việt Nam, Luâ ̣n văn tha ̣c sĩ, ĐHKTQD, Hà Nội (2015)
Luận văn đã bước đầu đi vào khai thác những hoạt động du lịch tiểu vùng và đặt ra những cơ hội và thách thức cho Việt Nam Tiếp nối những thành tựu nghiên cứu đó, luận văn này tiếp tục đi sâu vào những hoạt động hợp tác trong hiện tại, những vấn đề chung của tiểu vùng dưới lợi ích chung trong
Trang 14hoạt động du lịch các nước tiểu vùng Ngoài ra, luận văn còn cập nhật thêm những thành tựu mới trong hoạt động du lịch tiểu vùng Mekong
Có thể thấy rằng ngoài sự hợp tác ASEAN thì các nước trong tiểu vùng sông Mekong còn có sự hợp tác song phương, đa phương Vì thế việc nghiên cứu ngày càng quan trọng, tuy nhiên điều này lại chưa đáp ứng đủ những yêu cầu về nghiên cứu toàn diện vì số lượng và chất lượng nghiên cứu chỉ dừng lại ở mức hạn chế
Luận văn còn giúp cho người đọc những nét đặc trưng về tiểu vùng sông Mekong, phân tích những cơ sở để phát triển kinh tế du lịch, tìm hiểu rõ hơn về GMS những tiềm năng và thực trạng, nêu ra phương hướng hợp tác phát triển kinh tế du lịch bền vững
4 Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài
Về mặt khoa học, luận văn trình bày các luận điểm khoa học về hợp tác
du lịch tiểu vùng, một bộ phận quan trọng trong nội dung của hợp tác kinh tế Xét trên lĩnh vực du lịch, luận văn đưa ra những phân tích về các nội dung, chương trình hợp tác, những tác động của nó đến các nước thành viên, trong
đó Việt Nam là một thành viên tích cực trong nhiều dự án hợp tác Đây chính
Trang 15là sự đóng góp trong nghiên cứu về hợp tác du lịch ở tiểu vùng Mekong và cũng là đóng góp trong nghiên cứu về các mối quan hệ khu vực và quốc tế
Kết quả nghiên cứu của luận văn là tài liệu tham khảo hữu ích trong học tập đối với sinh viên và cũng là tài liệu tham khảo bổ ích cho các quý công ty, tổ chức du lịch nhằm hướng đến sự tăng cường hợp tác trong du lịch giữa các quốc gia tiểu vùng Mekong
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu hợp tác phát triển du lịch bền vững tiểu vùng sông Mekong giai đoạn 1990-2020
5.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Gồm 6 nước trong tiểu vùng sông Mekong
- Về thời gian: Nghiên cứu hợp tác phát triển du lịch bền vững tiểu vùng sông Mekong giai đoạn 1990-2020
6 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu khu vực học: Đây là phương pháp chủ đạo mà
luận văn sử dụng, theo đó luận văn tập trung nêu và phân tích về các điều kiện
tự nhiên và xã hội, văn hóa của khu vực tiểu vùng sông Mekong và coi đó là tiền đề điều kiện quan trọng để nghiên cứu sự hợp tác và phát triển bền vững
về du lịch trong tiểu vùng
Phương pháp nghiên cứu lịch sử, logic: Vận dụng quan điểm lịch sử cụ
thể để nêu rõ thời đoạn phát triển của khu vực tiểu vùng Mekong, những thành tựu, khó khăn, thuận lợi trong hợp tác và phát triển và những vấn đề dự báo của tiểu vùng trong tương lai
Phương pháp thu thập và xử lý tài liệu: trong đó chú trọng việc thu
thập, thống kê và hệ thống hóa thông tin về hợp tác du lịch tiểu vùng sông Mekong, đưa ra những đánh giá về kết quả đã đạt được của các chương trình hợp tác này
Trang 16Phương pháp phân tích và tổng hợp, thống kê: nhằm lựa chọn, sắp
xếp các dữ liệu,thông tin từ các nguồn, tổng hợp thành các nhận định, báo
cáo hoàn chỉnh nhằm đưa ra cái nhìn tổng thể về đối tượng nghiên cứu
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, Luận văn được chia
làm ba chương như sau:
Chương 1: Hợp tác du lịch đa phương - một bộ phận quan trọng của hợp
tác kinh tế tiểu vùng sông Mekong;
Chương 2: Các chương trình hợp tác xúc tiến du lịch tiểu vùng sông Mekong;
Chương 3: Thành tựu, cơ hội và thách thức của hợp tác và phát triển du lịch tiểu
vùng sông Mekong
Trang 17PHẦN NỘI DUNG Chương 1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ CÁC VÙNG LÃNH
THỔ TRONG KHU VỰC TIỂU VÙNG SÔNG MEKONG
1.1 Khái quát về tiểu vùng sông Mekong
1.1.1 Về điều kiện tự nhiên, xã hội
Sông Mekong là con sông dài thứ 12 trên thế giới, bắt nguồn từ độ cao 5000m trên cao nguyên Tây Tạng chảy qua lãnh thổ 6 quốc gia gồm Trung Quốc, Myanma, Thái Lan, Lào, Campuchia và đổ ra biển trên lãnh thổ của Việt Nam, với chiều dài trên 4800 km, với tổng lượng nước hàng năm khoảng
475 tỉ m3 nước Từ bao đời nay, dòng sông mang trong mình trữ lượng tài nguyên nước lớn trong khu vực phục vụ phát triển kinh tế trong các lĩnh vực như tưới tiêu trong phát triển nông nghiệp, thủy điện, giao thông, và các mục đích phi nông nghiệp và du lịch
Sáng kiến Hợp tác kinh tế tiểu vùng Mê Công mở rộng được khởi
xướng năm 1992 bởi Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) “Tiểu vùng sông
Mekong” (Greater Mekong Subregion) viết tắt là GMS bao gồm các nước
thành viên Campuchia, Lào, Myanmar, Thái Lan, Việt Nam, Trung Quốc (với
2 tỉnh đại diện là Vân Nam và Quảng Tây), vốn là khu vực kinh tế tự nhiên gắn kết với nhau bởi sông Mekong Dòng sông Mekong vừa là biên giới tự nhiên vừa là huyết mạch giao thông quan trọng nối các nước trong vùng với nhau GMS có diện tích 2,6 triệu km2 và có dân số hơn 325 triệu người
Trang 18Bản đồ tiều vùng sông Mekong mở rộng Nguồn: http://vietbao.vn/The-gioi/Thu-tuong-6-nuoc-du-hoi-nghi-thuong- dinh-GMS/20465029/159/
Nguồn thủy sinh sông Mekong là kho tài nguyên vô cùng phong phú, chỉ đứng sau sông Amazon, với nhiều loài cá nước ngọt quý hiếm Sông
Trang 19Mekong còn là tuyến đường giao thông tự nhiên của Đông Nam Á, kết nối sáu quốc gia trong vùng trên một mạch chảy liên hoàn từ thượng nguồn Tây Tạng ra đến Biển Đông Dọc theo dòng chảy sông Mekong, nhiều cảnh quan núi đá, cao nguyên, trung du, đồng bằng, cửa biển…với sự đa dạng về văn hóa, lịch sử, phong tục tập quán, tôn giáo của cư dân sống ven sông sẽ là nội lực thúc đẩy du lịch-lĩnh vực tiềm năng của tiểu vùng Có thể nói, nguồn tài nguyên mà sông Mekong mang lại vô cùng to lớn, có ý nghĩa sống còn đối với người dân trong khu vực, ở cả sáu quốc gia có chung một dòng sông
Về mặt địa lí, địa chất và địa hình: Tài nguyên phân bố không đồng đều giữa tả ngạn và hữu ngạn ở vùng thượng lưu sông Mekong, vùng Đông Bắc Thái Lan đất rộng nhưng ít nước, trong khi đó ở Lào có nguồn nước phong phú thì diện tích đất canh tác lại hạn chế Có 5 vùng hình thái đất đai riêng biệt gồm vùng núi phía Bắc, Cao nguyên Korat, vùng núi phía Đông, vùng đồng bằng và vùng cao phía Nam
Về khí hậu, là vùng khí hậu chịu sự chi phối của gió mùa, những đợt gió có cường độ thấp đến trung bình, luôn phiên theo mùa
Chế độ mưa, lượng mưa toàn khu vực nhiều nhưng phân bố không đều khiến cho các vùng trong năm đều bị hạn hán theo mức độ và thời gian khác nhau
Về nhiệt độ, nhiệt độ không khí đồng đều là điều nổi bật trên toàn khu vực, nhiệt độ có thể thay đổi do ảnh hưởng của độ cao, theo mùa hoặc tác động của biển song nhiệt độ trung bình ít chịu ảnh hưởng của biển Độ ẩm trung bình không khí cao nhất vào tháng 9 trên 80% và thấp nhất vào tháng 3 xấp xỉ trên 60% [2, tr 45]
Thủy văn, tổng diện tích lưu vực sông Mekong là 795.00km2, hàng năm sông Mekong đổ ra biển khoảng 475 tỉ m3 nước, trong đó sự phân bố các vùng khá chênh lệch [2, tr 59]
Trang 20Đất và thảm thực vật cũng phong phú đa dạng Vùng hạ lưu sông Mekong chủ yếu là vùng nông nghiệp với 80% dân số làm nghề nông, phạm
vi và địa bàn thay đổi do thói quen đốt nương làm rẫy của đồng bào miền núi Đất bao gồm nhiều nhóm như đất ở vùng đất thấp, đất phức hợp ven biển, đất châu thổ, đồng bằng ngập lũ và các loại đất phức hợp có nước ngầm
Thảm thực vật gồm 2 loại rừng chính là rừng thường xanh và rừng rụng
lá, trong đó nhóm rừng thường xanh gồm rừng mưa nhiệt đới, rừng đồi thường xanh, rừng lá kim, rừng đầm lầy nước ngọt và rừng ngập mặn Bên cạnh đó, các loại rừng ngập lá là rừng rụng lá gió mưa hỗn giao và rừng khô dipterocap Ngoài ra có các rừng ngày nay trở thành xavan hoặc vùng mọc cỏ [1, tr 16]
Sông Mekong như một chiếc cầu nối gắn kết các quốc gia mà nó chảy qua, tạo thành một khu vực kinh tế tự nhiên ở châu Á Tiểu vùng Mekong rộng 2,32 triệu km2, là khu vực rộng lớn với nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, đa dạng bao gồm cả tài nguyên đất, nước, khí hậu, khoáng sản, thủy sản… trong đó nguồn nước cho nông nghiệp, nguồn thủy sản cho ngư nghiệp, phục vụ cho một bộ phận lớn cư dân trong khu vực, nhất là dân cư ở
hạ lưu
Về mặt xã hội, đây là khu vực đông dân, mật độ dân cư thấp, và mức
tăng dân số còn cao Đặc điểm này sẽ là nhân tố quan trọng tạo tăng trưởng kinh tế cao và liên tục của các nền kinh tế ở tiểu vùng, đồng thời cũng là yếu
tố quan trọng thu hút đầu tư nước ngoài và xuất khẩu lao động ở các nước tiểu vùng Mekong
Tiểu vùng Mekong là khu vực đa dạng, phong phú về các tộc người và phong tục tập quán, đồng thời còn là một khu vực địa lý in đậm dấu ấn văn hóa tôn giáo đạo Phật Có thể thấy, hầu hết các quốc gia trong Tiểu vùng sông Mekong mang đậm nét dấu ấn của đạo Phật [2, tr 17].Về phương diện nào đó, dòng Mekong chính là huyết mạch, sự nối kết của tư tưởng Phật giáo trong quá khứ và hiện tại
Trang 21Bảng 1 Tổng hợp diện tích dân số, bình quân GDP đầu người các nước tiểu vùng sông Mekong
tích(km 2
)
Dân số (Triệu người)
GDP bình quân đầu người (USD)
Trang 22đối màu mỡ do hàng năm sông Mekong cung cấp phù sa lớn Các khu vực sản xuất lúa gạo chính chạy dọc theo con sông Tonle Sap và các tỉnh Battambang, Kampong Thum, Kompong Chàm, Prey Vieng và Sray Vieng
Thủy sản đóng góp một phần quan trọng vào nền kinh tế Campuchia,
cá và các sản phẩm từ cá chiếm 40- 80% lượng tiêu thụ và có số lượng khoảng 13kg cá/ người (2005), ngành thủy sản chủ yếu là khai thác tự nhiên thong qua các hoạt động đánh bắt Biển Hồ, Sông Tonlesap và Sông Mekong
là một trong những nguồn cá nước ngọt lớn nhất, sản lượng hàng năm đạt tới
80 000 tấn [6, tr 39]
Bên cạnh lúa gạo và cá, sông Mekong và các vùng ngập nước của nó còn cung cấp các vật dụng cần thiết cho Campuchia như giao thông đường thủy cho các tour du lịch lên quần thể Ankor Wat- di sản thế giới ở tỉnh Siem Reap
Campuchia có khoảng 14 triệu người (2008), với khoảng hơn 90% người Khmer[2, tr 46] Sự phát triển của nền kinh tế Campuchia bị chậm lại một cách đáng kể trong thời kỳ 1997-1998, vì khủng hoảng kinh tế trong khu vực, bạo lực và xung đột chính trị Đầu tư nước ngoài vào du lịch giảm mạnh Trong năm 1999 năm đầu tiên có được hòa bình thực sự trong vòng 30 năm,
đã có những biến đổi trong cải cách kinh tế và tăng trưởng đạt được ở mức 5% [3, tr 25] Mặc dù bị ngập lụt tràn lan, nhưng GDP vẫn tăng trưởng ở mức 5.0% trong năm 2000, 6.3% trong năm 2001 và 5.2% trong năm 2002 [1, tr 16] Du lịch là ngành công nghiệp tăng trưởng mạnh nhất của Campuchia, với
số du khách tăng 34% trong năm 2000 và 40% trong năm 2001 trước sự kiện khủng bố 11/09 tại Mỹ [3, tr 45] Tuy đạt được những sự tăng trưởng như vậy, nhưng sự phát triển dài hạn của nền kinh tế sau hàng chục năm chiến tranh vẫn là một thách thức to lớn Dân cư thất học và thiếu các kỹ năng nghề nghiệp, đặc biệt là ở vùng nông thôn nghèo đói gần như chưa có các điều kiện cần thiết của cơ sở hạ tầng Sự lo ngại về không ổn định chính trị và tệ nạn tham nhũng trong một bộ phận chính quyền làm chán nản các nhà đầu tư
Trang 23nước ngoài và làm chậm trễ các khoản trợ giúp quốc tế Chính quyền đang phải giải quyết các vấn đề này với sự hỗ trợ của các tổ chức song phương và
đa phương Campuchia đã gia nhập WTO ngày 13/10/2004
2 Lào là nước có 88% diện tích nằm trong khu vực sông Mekong và
hơn 80% diện tích là đồi núi.[2, tr 14].Nền kinh tế Lào phiến diện và chủ yếu phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên sẵn có Các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 60% tổng sản phẩm quốc gia và chiếm khoảng 85% lực lượng lao động [2, tr 16] Lào có một tiềm năng thủy điện khổng lồ, cho tới nay Lào mới chỉ khai thác được 2% tiềm năng và tiềm năng này vượt quá yêu cầu năng lượng quốc gia trong một thời gian dài Lào có diện tích rừng được che phủ lớn nhất châu Á và lượng tài nguyên nước tái tạo trên đầu người cao nhất Châu Á, cũng như các nước khác trong tiểu vùng nước ngọt chiếm 82% trong nông nghiệp [12, tr 16] Sông Mekong là nguồn sống của Lào: cung cấp nước cho hầu hết lãnh thổ, là đường giao thông quan trọng và là nguồn lợi thủy sản phong phú
Lào thực hiện chính sách đổi mới, dỡ bỏ việc kiểm soát tập trung hóa
và tăng cường phát triển doanh nghiệp tư nhân vào năm 1986 Kết quả từ một xuất phát điểm thấp đã đạt được những thành quả đáng kinh ngạc Tỷ lệ tăng trưởng trung bình hàng năm đạt 7% trong các năm 1988 - 2001 ngoại trừ một khoảng thời gian tụt xuống do cuộc khủng hoảng tài chính châu Á bắt đầu năm 1997 [4, tr 14] Mặc dù tốc độ tăng trưởng cao nhưng Lào vẫn còn là một đất nước với cơ sở hạ tầng lạc hậu Tại đây đã có tuyến đường sắt nối thủ đô Vientiane (Lào) đến khu vực Noong Khai (Thái Lan), hệ thống đường bộ tuy đã được cải tạo nhưng vẫn đi lại khó khăn, hệ thống liên lạc viễn thông trong nước và quốc tế còn giới hạn, điện sinh hoạt chỉ mới có ở một số khu vực đô thị
Sản phẩm nông nghiệp chiếm khoảng hơn một nửa tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và sử dụng 85% lực lượng lao động Nền kinh tế vẫn tiếp tục nhận
Trang 24được sự trợ giúp của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) và các nguồn quốc tế khác cũng như từ đầu tư nước ngoài trong chế biến sản phẩm nông nghiệp và khai khoáng
3 Lưu vực sông Mekong ở Thái Lan bao trùm toàn bộ vùng Đông Bắc (170.00km2) và một phần vùng phía Bắc chủ yếu là tỉnh Chiang Rai (11.678km2 [12, tr 13] Phát triển kinh tế trong vùng chủ yếu là nông nghiệp và thủy sản Cây trồng quan trọng nhất là lúa gạo và cây trồng khác như thuốc lá, rau và đậu Tuy sản xuất nông nghiệp bao trùm nhưng công nghiệp chế biến nông – lâm sản vẫn còn yếu kém Sản lượng thủy sản hàng năm đạt 50.000-300.000 tấn.[5, tr 17]
Thái Lan vốn là một nước nông nghiệp truyền thống Bắt đầu từ năm
1960 Thái Lan thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội lần thứ nhất và đến nay là kế hoạch thứ 9 [6, tr 27].Trong thập niên 1970 Thái Lan thực hiện
chính sách "hướng xuất khẩu" ASEAN, Mỹ, Nhật Bản, châu Âu là những thị
trường xuất khẩu chính của Thái Lan Ngành công nghiệp và dịch vụ đã dần dần đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế và vai trò của nông nghiệp cũng theo đó mà giảm dần
Hiện nay, Thái Lan là một nước công nghiệp mới Sau khi đạt tốc độ tăng trưởng thuộc loại cao nhất thế giới từ 1985 đến 1995, với tốc độ tăng trưởng trung bình 9% mỗi năm [15, tr 29],sức ép lên việc duy trì đồng baht tại Thái Lan tăng lên, dẫn đến cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997, lan rộng
ra toàn khu vực Đông Á, bắt buộc chính phủ phải thả nổi tiền tệ Sau sự ổn định lâu dài ở mức giá 25 baht đổi 1 đô la Mỹ, đồng baht chạm tới mức thấp nhất với 56 baht đổi 1 đô la vào tháng 1 năm 1998, các hợp đồng kinh tế được
ký kết bằng 10,2% năm trước [7, tr 16]
Năm 1998, Thái Lan bắt đầu có dấu hiệu phục hồi với tốc độ tăng trưởng kinh tế là 4,2%, năm 2000 là 4,4%, phần lớn từ những mặt hàng xuất khẩu chính (tăng 20%) Sự tăng trưởng bị rơi vào tình trạng trì trệ (tăng
Trang 25trưởng 1,8%) do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu năm 2001, nhưng
phục hồi lại vào năm sau Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2002 đạt 5,2% ,
đến năm 2003 và 2004 đã cao hơn mức 6% Dự trữ ngoại tệ ở mức cao 37-38
tỉ USD (tháng 8/1997 ở mức 800 triệu USD) [13, tr 28]
Thái Lan xuất khẩu nhiều hơn 105 tỷ đô la hàng năm [6, tr 51] Các sản phẩm xuất khẩu chính bao gồm gạo, hàng dệt may, giầy dép, hải sản, cao
su, nữ trang, ô tô, máy tính và thiết bị điện Thái Lan đứng đầu thế giới về xuất khẩu gạo, mỗi năm xuất khẩu 6,5 triệu tấn gạo tinh chế Lúa là loại cây lương thực chính được trồng tại Thái Lan, với 55% đất đai trồng trọt được được sử dụng để trồng lúa Đất có thể canh tác được của Thái Lan cũng chiếm
tỷ lệ lớn, 27,25% của toàn bộ khu vực sông Mekong [37]
Các ngành công nghiệp chủ yếu gồm có điện dân dụng, linh kiện điện
tử, linh kiện máy tính và ô tô, trong đó, cũng có đóng góp đáng kể từ du lịch (khoảng 5% GDP Thái Lan) Những người nước ngoài ở lại đầu tư lâu dài cũng góp phần đáng kể vào tổng thu nhập quốc dân
Các tài nguyên thiên nhiên chủ yếu của Thái Lan là thiếc, cao su, ga tự nhiên, vonfram, tantalium, gỗ, chì, cá, thạch cao, than non, fluorite và đất trồng.[2, tr 18]
Thái Lan sử dụng hệ đo lường chuẩn quốc tế, nhưng các hệ đo truyền thống của Anh (feet, inches) vẫn còn được sử dụng, đặc biệt là trong nông nghiệp và vật liệu xây dựng Vì dân số chiếm 95% là đạo Phật nên năm được đánh số B.E
(Buddhist Era - Kỷ Phật giáo) trong giáo dục, dịch vụ dân dụng, chính quyền và
báo chí; tuy vậy lịch Gregory được sử dụng trong ngành ngân hàng và dần trở nên thông dụng trong trong công nghiệp và thương mại.[6, tr 19]
4 Vùng đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam là phần hạ lưu cuối cùng của sông Mekong với diện tích 39.00km2
và dân số khoảng 15 triệu người, mật độ dân số ở Đồng bắng sông Cửu Long khoảng 400 người/
km2,[20] dân cư chủ yếu là người Kinh, ngoài ra còn có ít tỉ lệ dân tộc Hoa,
Trang 26Chàm Đặc điểm lớn nhất của vùng này là địa hình bằng phẳng và trũng (độ cao phổ biến 0,3- 3,0m) đặc điểm này cùng với một mạng lưới sông ngòi dày đặc làm yếu tố môi trường trong vùng tương tác chặt chẽ với nhau và đặc biệt nhạy cảm với các hoạt động khai thác của con người Với phần nước ngọt chủ yếu là do sông Mekong cung cấp và là hạ lưu nên ngoài các nguồn lợi như phù sa, thủy sản, giao thông đường thủy vùng này còn hứng chịu thiên tai lũ lụt và tác động môi trường do thượng nguồn gây ra Nguồn tài nguyên phong phú do sông Mekong mang lại có ý nghĩa quan trọng với người dân Việt Nam, sản xuất nông nghiệp trong vùng chủ yếu là trồng lúa, mặc dù chỉ chiếm 20% diện tích Việt Nam và khoảng 28% dân số nhưng đây là vùng mang lại 57% lượng nước hàng năm, đóng góp hơn 50% sản lượng lúa gạo và hầu hết kim ngạch xuất khẩu lúa gạo[2, tr 50].
Các ngành kinh tế khác là thủy sản và chế biến, mức tiêu thụ hàng năm trên 21kg/ người, tổng sản lượng đánh bắt thủy sản trong vùng đạt khoảng 0,5 triệu tấn/ năm ( theo số liệu năm 2008)[12, tr 13] vùng châu thổ này cũng có khoảng 200.000 ha rừng trong đó 173.000 ha rừng là rừng sản xuất gồm rừng tràm, ngập mặn, dừa nước…rừng phòng hộ khoảng 27.000ha… ước tính sản lượng khai thác hàng năm đạt 1,9 triệu m3
[37]
Giao thông vận tải đường thủy là hình thức thông dụng nhất do đặc điểm kênh rạch của vùng, khối lượng vận chuyển hàng hóa hàng năm đạt 6 triệu tấn và hơn 13 triệu lượt khách[12]
Ngoài đồng bằng sông Cửu Long, Việt Nam còn có một số vùng khác cũng thuộc lưu vực sông Mekong như vùng lòng chảo Điện Biên Phủ và phụ cận thuộc tỉnh Lai Châu (lưu vực sông Nậm Rốn, nhánh Nậm U), lưu vực sông nhánh Sabang Hieng thuộc Quảng Trị, lưu vực sông Sebang thược Thừa Thiên Huế, vùng Tây Nguyên bao gồm 2 lưu vực sông nhánh : Sông Srepok, tỉnh Đắc Lắc; sông Sesan tỉnh Gia Lai- Kon Tum
Trang 27Tây Nguyên là một vùng lớn của Việt Nam thuộc lưu vực sông Mekong và là thượng nguồn của hai nhánh sông Srepok và Sesan, là vùng cao nguyên chưa có các hoạt động phát triển Tiềm năng chính cho vùng này là thủy điện với khoảng 2 triệu KW và cây công nghiệp như cà phê, cao su…
Vùng lưu vực sông Nậm Rốn bao gồm lòng chảo Điện Biên và vùng phụ cận là khu vực kinh tế phát triển nhất ở Tây Bắc với một loạt công trình thủy lợi nước tưới cho nông nghiệp, đây là vựa lúa của Tây Bắc và một số ngành kinh tế như lâm nghiệp, thủy sản
Các vùng thuộc lưu vực Sekon và Sebang Hieng có diện tích nhỏ, dân
cư thưa thớt và hầu như chưa có sự phát triển
5 Myanma là một trong những nước nghèo trên thế giới với hàng thập
kỷ ở trong tình trạng trì trệ, quản lý kém và bị cô lập Sau khi chính phủ nghị viện được thành lập năm 1948, Thủ tướng U Nu đã nỗ lực biến Miến Điện trở thành một quốc gia thịnh vượng Chính quyền của ông đã thông qua kế hoạch kinh tế hai năm, nhưng tiếc thay đây là một kế hoạch sai lầm Vụ đảo chính năm 1962 tiếp sau là một kế hoạch phát triển kinh tế, một kế hoạch nhằm quốc hữu hóa mọi ngành công nghiệp, ngoại trừ nông nghiệp, năm 1989, chính phủ Myanma bắt đầu bãi bỏ kiểm soát tập trung hóa nền kinh tế và tự
do hóa một số lĩnh vực kinh tế.Các ngành công nghiệp mang lại lợi nhuận như khai thác ngọc, dầu khí và lâm nghiệp vẫn bị kiểm soát chặt chẽ
Ngày nay, Myanma thiếu những cơ sở hạ tầng cần thiết Đường giao thông thường không được trải nhựa, trừ các thành phố lớn Bên cạnh đó, các ngành công nghiệp khác gồm sản phẩm nông nghiệp, dệt may, sản phẩm gỗ, vật liệu xây dựng, kim cương, kim loại, dầu mỏ và khí ga… sản lượng còn thấp, và việc thiếu hụt nguồn nhân công trình độ cao cũng là một vấn đề ngày càng bức xúc với nền kinh tế Myanma
Nông nghiệp chiếm 59,5 % GDP và 65,9% lao động Công nghiệp chế biến chiếm 7,1% GDP và 9,1% lao động; khai khoáng 0,5% GDP và 0,7% lao
Trang 28động; xây dựng 2,4% GDP và 2,2% lao động; thương mại 23,2% GDP và 9,7% lao động; tài chính, dịch vụ và công chính 1,5% GDP và 8,1% lao động [11] Nhìn chung kinh tế Myanma vẫn là nền kinh tế lạc hậu kém phát triển
6 Trung Quốc là quốc gia ở vùng thượng nguồn của sông Mekong, chủ yếu chảy qua tỉnh Vân Nam của Trung Quốc Tỉnh Vân Nam có diện tích 384 nghìn km2 , dân số hơn 45 triệu người (2007) [36],thủ phủ là thành phố Côn Minh, là tỉnh có đường biên giới tiếp giáp với Việt Nam, Lào, Mianma Tỉnh Vân Nam giàu tài nguyên, khoáng sản, tuy vậy công nghiệp chỉ dừng lại ở cấp
độ sơ chế Thổ nhưỡng thích hợp với trồng cây thuốc lá, chiếm 70% sản lượng cả nước, chiếm hơn 60% thu nhập trong toàn tỉnh Nghề chế biến chè
và đường cũng chiếm vị trí quan trọng, sản lượng đường đạt 1 triệu tấn/ năm, đưa Vân Nam thành tỉnh thứ 3 của cả nước về sản xuất đường, sản lượng chè đạt 60 nghìn tấn, xuất khẩu ngoại tệ đạt 30 triệu USD [36] Do chính sách phát triển kinh tế nên công nghiệp nặng phát triển đã đưa đến sản lượng thép đạt 2,5 triệu tấn năm[36].Các ngành cao su và chế biến, hóa chất, du lịch… cũng phát triển nhanh, một số ngành mới như điện lực, thực phẩm, y dược, hương liệu, hoa quả đã bắt đầu phát triển và một số ngành đạt quy mô lớn
Về du lịch, Vân Nam là một trong 10 tỉnh phát triển du lịch hàng đầu của Trung Quốc với lượng khách năm 1994 đạt 213 nghìn người và dự tính mỗi năm tăng 27%, vượt xa mức trung bình cả nước [35]
Như vậy, với diện tích 2,6 triệu km2 và có dân số hơn 325 triệu người
và mật độ dân số khoảng 125 người/ km2
hiện tại, Tiểu vùng sông Mêcong là khu vực có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, đó cũng là cơ sở quan trọng đặt ra cho các nước trong tiểu vùng cần có sự hợp tác chặt chẽ trong việc xây dựng
và phát triển chiến lược du lịch nhằm triệt để khai thác những lợi ích kinh tế, những nguồn lợi chung từ thiên nhiên mang lại cho mỗi nước và cho cả các nước trong tiểu vùng hiện nay
Trang 291.1.2 Nguồn lực của các nước trong tiểu vùng sông Mekong
Về nguồn nhân lực trong tiểu vùng, qua thu thập và phân tích các nguồn tài liệu có thể thấy, với lực lượng lao động chiếm 50% tổng số dân, tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm vẫn còn khá nghiêm trọng ở nhiều nơi trong tiểu vùng Bảng thống kê sau đây sẽ phản ánh nguồn nhân lực trong tiểu vùng như sau:
Bảng 2 Nguồn lực các nước tiểu vùng sông Mekong
Đơn vị tính %
Nước Chỉ số phát triển
con người (HDI)
Tuổi thọ bìnhquân (năm)
Tỉ lệ người lớn biết chữ (
%)
Tỉ lệ lao động/dân
số (%) Mức độ Xếp thứ
Nguồn : Báo cáo phát triển con người của Liên Hợp Quốc, năm 2010
Dân số phân bố không đều và có sự khác biệt lớn theo vùng Dân cư phần đông vẫn còn là cư dân nông thôn (khoảng 68 % - năm 2013) Trình độ học vấn của dân cư ở mức khá; tuổi thọ trung bình tăng khá nhanh [25, tr 20]
Trang 30Thể lực và tầm vóc của nguồn nhân lực đã được cải thiện và từng bước được nâng cao, tuy nhiên so với các nước trong khu vực khác (Nhật Bản, châu Âu, ) nói chung thấp hơn cả về chiều cao trung bình, sức bền, sức dẻo dai Lao động khu vực được đánh giá là thông minh, khéo léo, cần cù, tuy nhiên ý thức kỷ luật, năng lực làm việc theo nhóm,… còn nhiều hạn chế
Số lượng nhân lực được tuyển để đào tạo ở các cấp tăng nhanh Điều này có thể được xem như là một thành tựu quan trọng trong lĩnh vực đào tạo nhân lực Theo số liệu thống kê sơ bộ năm 2013, ở Việt Nam số sinh viên đại học và cao đẳng là 2.058.922 người, số tốt nghiệp là 405.900 người; số học sinh các trường trung cấp chuyên nghiệp là 421.705 người [30] Tuy nhiên, chất lượng đào tạo, cơ cấu theo ngành nghề, lĩnh vực, sự phân bố theo vùng, miền, địa phương,… chưa đồng nhất, chưa thực sự phù hợp với nhu cầu sử dụng của xã hội, gây lãng phí nguồn lực của Nhà nước và xã hội
Về trình độ chuyên môn kỹ thuật, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo trong toàn bộ lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên là 17,9%, trong đó ở thành thị là 33,7%, gấp 3 lần tỷ lệ này ở khu vực nông thôn là 11,2%, phân theo giới tính
tỷ lệ này là 20,3% đối với nam và 15,4% đối với nữ; tỷ lệ nhân lực được đào tạo trình độ cao (từ đại học trở lên) trong tổng số lao động qua đào tạo ngày càng tăng (năm 2010 là 5,7%, năm 2012 là 6,4%, sơ bộ năm 2013 là 6,9% )[30]
Năng suất lao động có xu hướng ngày càng tăng: Theo cách tính năng suất lao động đo bằng tổng sản phẩm trong nước (GDP) theo giá hiện hành chia cho tổng số người làm việc bình quân trong 01 năm, năng suất lao động năm 2005 là 21, 4 triệu đồng/người, năm 2010 là 44,0 triệu đồng/người, năm
2012 là 63,1 triệu đồng/người, sơ bộ năm 2013 là 68,7 triệu đồng/người (Việt Nam ) [30]
Dân số, nguồn nhân lực là một trong những yếu tố ảnh hưởng và có tác động mạnh đến kinh tế du lịch tiểu vùng GMS
Trang 311.1.3 Sự hình thành và phát triển hợp tác tiểu vùng Mekong
Nhận ra mối quan hệ chặt chẽ về nguồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường, các nước trong tiểu vùng sông Mekong đã tìm kiếm các cơ chế hợp tác song phương và đa phương nhằm liên kết, phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, bảo vệ môi trường, tài nguyên Trên cơ sở nỗ lực của các nước, từ đầu thập kỷ 1990 đến nay, nhiều sáng kiến về hợp tác khai thác và bảo vệ nguồn tài nguyên ở tiểu vùng sông Mekong đã ra đời
Chương trình hợp tác sớm nhất là Ủy ban Mekong do Liên Hợp Quốc thành lập năm 1957, bao gồm bốn nước hạ lưu là Lào, Thái Lan, Campuchia, Việt Nam Ủy ban có nhiệm vụ khuyến khích, phối hợp, kiểm tra và giám sát việc quy hoạch và nghiên cứu các dự án khai thác nguồn nước khu vực hạ lưu sông Mekong Tuy nhiên, do chiến tranh và tình hình chính trị bất ổn, hoạt động của Ủy ban Mekong bị gián đoạn Đến năm 1995, Ủy ban Mekong được tái thành lập với tên gọi là Ủy hội Mekong (Mekong River Commision - MRC) Nhiệm vụ của Ủy ban này là thúc đẩy sự phát triển bền vững của những nguồn tài nguyên trên sông Mekong Đây là một bước phát triển vượt bậc trong mối quan hệ hợp tác giữa các nước trong tiểu vùng, đánh dấu sự hình thành một tổ chức chung cho các nước thuộc tiểu vùng sông Mekong với
cơ cấu tổ chức và nguyên tắc hoạt động, hợp tác khá rõ ràng Tất cả vì sự thịnh vượng của cả tiểu vùng và của mỗi quốc gia trong khu vực
Nếu như Ủy hội Mekong ra đời với chức năng chủ yếu là khai thác, sử dụng và quản lý nguồn nước cùng việc bảo đảm các vấn đề môi trường có liên quan đến lưu vực sông Mekong thì một chương trình hợp tác khác ra đời - Chương trình hợp tác tiểu vùng Mekong mở rộng (Greater Mekong Subregion – GMS) được hình thành đã vượt ra ngoài các khuôn khổ hợp tác này để trở thành một thực thể kinh tế cùng hợp tác, hội nhập và phát triển bền vững
Chương trình hợp tác GMS được hình thành vào năm 1992 theo sáng kiến của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) GMS bao gồm các nước nằm
Trang 32trong lưu vực sông Mekong: Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan, Myanmar
và tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) Đến năm 2004, thêm tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc) cũng tham gia vào hợp tác GMS
Với sự hỗ trợ từ ngân hàng phát triển Châu Á - ADB, sáu nước trong GMS đã khởi động lại chương trình hợp tác kinh tế tiểu vùng để đầy mạnh quan hệ kinh tế cùng hội nhập và phát triển khu vực Với sự hỗ trợ từ ADB cùng các tổ chức khác, chương trình GMS giúp thực thi các dự án tiểu vùng được ưu tiên trong các lĩnh vực: xã hội, kinh tế, du lịch, năng lượng, thủy
điện…với mục tiêu: “3C- Connectivity, Competitiveness, Community”- (Tính
kết nối, Tính cạnh tranh, Tính cộng đồng) Chương trình GMS xây dựng chiến lược 03 mũi nhọn – 3C – để đạt được tầm nhìn về tiểu vùng thịnh vượng, hội nhập và đoàn kết Cụ thể là:
Tăng cường tính kết nối trong tiểu vùng thông qua phát triển bền vững
cơ sở hạ tầng và hành lang kinh tế xuyên quốc gia
Nâng cao tính cạnh tranh thông qua giao thương hàng hóa và đi lại biên giới của người dân, thị trường hội nhập và quy trình sản xuất, do đó tạo điều kiện dễ dàng cho tiểu vùng hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu
Xây dựng tính cộng đồng vững mạnh thông hơn thông qua các chương trình giải quyết các vấn đề môi trường và xã hội chung
Vấn đề hợp tác luôn được đặt ra một cách bức thiết, tại cuộc họp báo nhằm thông qua những kết quả làm việc trong hai ngày 19-20/08/2010 của Chương trình Hợp tác kinh tế Tiểu vùng sông Mekong (GMS) và Hội nghị
Bộ trưởng các nước GMS lần thứ 16 tại Hà Nội, ông C.Lawrence Greewood,
phó chủ tịch ngân hàng phát triển châu Á (ADB) nhấn mạnh: “vấn đề then
chốt hiện nay là phải tăng cường hợp tác giữa các bên liên quan nhằm đạt được toàn diện các lợi ích từ sự liên kết thực tại‟‟[4, tr.35]
Hợp tác và phát triển bền vững là nhu cầu cấp bách và là xu thế phát triển tất yếu trong tiến trình phát triển của lịch sử loài người, vì vậy các quốc
Trang 33gia trên thế giới luôn xây dựng cho mình những chương trình nghị sự riêng
Có thế thấy GMS cũng không nằm ngoài xu thế tất yếu của thời đại
Năm 1992: Rio de Janeiro, Brasil là nơi đăng cai tổ chức Hội nghị thượng đỉnh về Trái Đất, tên chính thức là Hội nghị về Môi trường và Phát triển của Liên hiệp quốc (UNCED) Tại đây, các đại biểu tham gia đã thống nhất những nguyên tắc cơ bản và phát động một chương trình hành động vì sự
phát triển bền vững có tên Chương trình Nghị sự 21(Agenda 21) Với sự tham
gia của đại diện hơn 200 nước trên thế giới cùng một số lượng lớn các tổ chức phi chính phủ, hội nghị đã đưa ra bản Tuyên ngôn Rio về môi trường và phát triển cũng như thông qua một số văn kiện như hiệp định về sự đa dạng sinh học, bộ khung của hiệp định về sự biến đổi khí hậu, tuyên bố về nguyên tắc quản lý, bảo tồn rừng
Năm 2002: Hội nghị thượng đỉnh Thế giới về Phát triển bền vững nhóm họp tại Johannesburg, Nam Phi là dịp cho các bên tham gia nhìn lại những việc đã làm 10 năm qua theo phương hướng mà Tuyên ngôn Rio và Chương trình Nghị sự 21 đã vạch ra, tiếp tục tiến hành với một số mục tiêu được ưu tiên Những mục tiêu này bao gồm xóa nghèo đói, phát triển những sản phẩm tái sinh hoặc thân thiện với môi trường nhằm thay thế các sản phẩm gây ô nhiễm, bảo vệ và quản lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên Hội nghị cũng đề cập tới chủ đề toàn cầu hóa gắn với các vấn đề liên quan tới sức khỏe
và phát triển Các đại diện của các quốc gia tham gia hội nghị cũng cam kết phát triển chiến lược về phát triển bền vững tại mỗi quốc gia trước năm 2005 Việt Nam cũng đã cam kết và bắt tay vào hành động với Dự án VIE/01/021 "Hỗ trợ xây dựng và thực hiện Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam" bắt đầu vào tháng 11/2001 và kết thúc vào tháng 12/2005 nhằm tạo tiền
đề cho việc thực hiện Vietnam Agenda 21
Trang 34Như vậy chương trình nghị sự 21 đặt ra những vấn đề phát triển bền vững ở thế kỉ XXI của tiểu vùng sông Mekong cũng đã được các nước trong GMS xây dựng và thực hiện
- “Phát triển bền vững”: khái niệm được Liên Hợp Quốc định nghĩa là :“ sự phát triển đáp ứng được những nhu cầu của hiện tại nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau.”
Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất về môi trường và phát triển tổ chức tại Rio de Janeiro ( Braxin) và Hội nghị thượng đỉnh Thế giới về sự phát triển
bền vững tổ chức tại Johannesburg ( Cộng hòa Nam Phi) đã xác định : “phát
triển bền vững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lí hài hòa giữa sự phát triển của ba mặt : phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường” Tiêu chí cơ bản để đánh giá sự phát triển bền vững là : sự tăng
trưởng kinh tế ổn định, thực hiện tốt tiến bộ và công bằng xã hội , khai thác hợp lí, sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo đảm và nâng cao chất lượng môi trường sống
Phát triển bền vững là nhu cầu cấp bách và là xu thế phát triển tất yếu trong tiến trình phát triển của lịch sử loài người, vì vậy các quốc gia trên thế giới luôn xây dựng cho mình những chương trình nghị sự riêng, có thế thấy GMS cũng không nằm ngoài xu thế tất yếu của thời đại Chương trình nghị sự
21 là chương trình đặt ra những vấn đề phát triển bền vững ở thế kỉ XXI của tiểu vùng sông Mekong cũng đã được các nước trong GMS xây dựng và thực hiện
Mục tiêu của GMS là thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, phát triển bền vững, xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống nhân dân lưu vực sông Mekong Do vậy, các nước trong lưu vực đã thỏa thuận hợp tác phát triển hạ tầng giao thông, nông nghiệp, công nghiệp, năng lượng, viễn thông tạo thuận lợi cho thương mại, du lịch, đào tạo nguồn nhân lực Các nước tham gia chương trình
đã và đang thực sự là đối tác bình đẳng trong quá trình hợp tác tiểu vùng, chia
Trang 35sẻ trách nhiệm và đồng lòng thực hiện các nỗ lực chung, đảm bảo sự hợp tác thực tế và hiệu quả nhằm xây dựng GMS thành một khu vực hướng ngoại, hợp tác và phát triển hiệu quả, ổn định, dài hạn (GMS II Summit 2005) [29]
ASEAN luôn dành cho các nước tiểu vùng sông Mekong sự quan tâm đặc biệt Tại cuộc họp thượng đỉnh tháng 12 năm 1995, ASEAN đã chính thức thông qua khái niệm về Sự hợp tác của ASEAN về tiểu vùng sông Mê Công (AMBD), trong đó, Malaixia đã đóng một vai trò nổi bật Sau đó, tháng
06 năm 1996, một khuôn khổ hợp tác cơ bản được thỏa thuận tập trung vào các dự án phát triển nông nghiệp, du lịch, cơ sở hạ tầng, các dịch vụ sinh hoạt
cơ bản, năng lượng, viễn thông, thương mại và đầu tư Mục tiêu của những dự
án này là tăng cường sự giúp đỡ hợp tác ASEAN và các nước thành viên của ASEAN có dòng Mekong chảy qua, nhằm làm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
và phát triển ở tiểu vùng Mekong, nâng cao mức sống, giúp đỡ các nền kinh
tế chuyển sang định hướng thị trường hơn nữa, tiếp nhận sự giúp đỡ từ các quốc gia tài trợ và những tổ chức đa phương
Là quốc gia thành viên trong tiểu vùng, năm 1993, Thái Lan đã đề xướng Chương trình hợp tác bốn bên (QED) nhằm phát triển tứ giác gồm Miền Bắc Thái Lan với Lào, Myanma và tỉnh Vân Nam- Trung Quốc Chương trình hợp tác này đã nhận được sự đồng tình của cả các nước thượng lưu Tiểu vùng sông Mekong Tuy nhiên, từ cuối năm 1993, các hoạt động triển khai chương trình đã giảm sút và bị thay thế bởi nhiều sáng kiến khác, đặc biệt là sáng kiến về Tiểu vùng sông Mekong mở rộng
Sự hợp tác cùng phát triển ở tiểu vùng Mekong không chỉ là nguyện vọng của các quốc gia trong Tiểu vùng mà còn nhận được sự ủng hộ và khích
lệ to lớn từ các nước đối tác bên ngoài Trong đó, Nhật Bản là đối tác tích cực
đã đề ra nhiều sáng kiến hợp tác và các chương trình tài trợ cho các nước Tiểu vùng Mekong Năm 1993, Nhật Bản đã đề xướng thành lập Diễn đàn phát triển toàn diện Đông Dương (FCDI) Diễn đàn được chính thức thành lập năm
Trang 361995 tại Tokyo Diễn đàn này phối hợp các hoạt động phát triển các quốc gia
và những tổ chức đa phương trong việc cung cấp viện trợ cho Việt Nam, Lào, Campuchia để nâng cao tính công dụng và hiệu quả ở những nước này Diễn đàn này bao gồm các Ủy ban công tác về phát triển cơ sở hạ tầng và nhân lực
và một nhóm tư vấn khu vực tư nhân Nó phối hợp với UNDP và ADB để tập hợp tất cả những dự án viện trợ ở ba nước nhằm tránh sự trùng lặp và xác định ra những khu vực đã dành được quá nhiều sự ưu tiên
Tiếp đó, Nhật Bản lại đưa ra sáng kiến về Chương trình hợp tác tiểu vùng tại cuộc họp của các Bộ trưởng Kinh tế ASEAN với Bộ Ngoại giao và Công nghiệp Nhật Bản (AEM-MITI) năm 1994 dành riêng cho Lào, Campuchia và Mianma, trong đó tập trung vào chính sách chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển đầu tư, thương mại
và công nghiệp New Zealand và Thái Lan đã thành lập Viện Nghiên cứu Mekong có trụ sở ở thành phố Khon Kaen, Đông bắc Thái Lan Viện này là địa chỉ cung cấp các chương trình đào tạo và thực hiện việc nghiên cứu chính sách đối với tiểu vùng Trung tâm luật Mekong cũng được lập ra với nhiều mạng lưới nghiên cứu phát triển sông Mekong và cơ chế đối thoại sông Mekong vì sự phát triển bền vững Các tổ chức quốc tế và các tổ chức viện trợ, bao gồm cả Chương trình viện trợ quốc tế Australia cũng đã lập ra những chương trình về tiểu vùng trên từng lĩnh vực
Như vậy, kể từ khi các chương trình hợp tác tiểu vùng sông Mekong ra đời, đến nay đã có nhiều dự án được đầu tư và thực hiện, nhất là trong hai lĩnh vực giao thông và năng lượng Tất cả các quốc gia đều hiểu rằng tăng cường hợp tác kinh tế giữa các nước trong tiểu vùng là một yếu tố bổ sung quan trọng trong chiến lược phát triển của từng quốc gia Hình thức hợp tác này cho phép các quốc gia nâng cao vị trí có tính cạnh tranh quốc tế của mình, đồng thời cho phép họ đáp ứng một cách hiệu quả hơn - với tư cách như một tập thể, cũng như với tư cách từng cá nhân – những cơ hội phát triển
Trang 37kinh tế đang ngày càng mở rộng trong phạm vi khu vực cũng như trên phạm
vi toàn cầu
Có thể nói, một số lượng lớn các sáng kiến, chương trình hợp tác ra đời
đã tạo cơ sở cho sự lạc quan rằng với sự nỗ lực của các quốc gia tiểu vùng sông Mekong và sự trợ giúp tích cực của nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế, tiểu vùng Mekong sẽ trở thành khu vực phát triển năng động và tương lai sẽ đạt được sự thịnh vượng về kinh tế
Trong các sáng kiến, chương trình hợp tác trên, hợp tác kinh tế tiểu vùng Mekong mở rộng nhận được sự quan tâm và đánh giá cao Bởi đây là cơ chế hợp tác thu hút được sự tham gia của tất cả các nước có sông Mekong chảy qua, hoạt động hợp tác ngày càng sâu rộng cũng như nhận được sự hỗ trợ tài chính từ nhiều tổ chức tài chính quốc tế và khu vực
1.2 Hợp tác du lịch tiểu vùng sông Mekong và hợp tác du lịch đa phương 1.2.1 Hợp tác du lịch tiểu vùng sông Mekong
Tại Hội nghị thượng đỉnh 6 nước tiểu vùng sông Mekong tháng 3-2008, Phó Chủ tịch Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) Lawrence Greenwood đã
từng phát biểu: “Mười lăm năm trước, khi các quốc gia Mekong vẫn còn
những bất đồng và nghèo đói, một số người đã mạnh dạn dự đoán các quốc gia này sẽ đạt được những tiến bộ vượt quá dự kiến trong việc giảm nghèo và tăng nhanh các triển vọng kinh tế”[9] Sau đó, tuyên bố chung được đưa ra
tháng 1-2009 của các bộ trưởng du lịch 6 nước Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan, Myanma, Trung Quốc về việc phát triển du lịch GMS đã góp phần hiện thực hóa dự đoán trên [ 28] Các nhà làm du lịch đã ghi nhận những tiến triển hợp tác du lịch của các nước GMS và thống nhất những định hướng trong tương lai Trong thời gian tới, các nước sẽ tập trung khai thác cơ sở hạ tầng và sự kết nối trong tiểu vùng để thúc đẩy phát triển du lịch bền vững, có trách nhiệm với xã hội, tăng cường xúc tiến để du lịch GMS trở thành một điểm đến chung
Trang 38Du lịch là một trong số 09 lĩnh vực ưu tiên của hợp tác GMS, được xem là một lĩnh vực có lợi thế cạnh tranh của tiểu vùng Mekong, tạo ra nhiều việc làm và mang lại những lợi ích cụ thể cho người dân trong khu vực Với
hệ thống sông ngòi phong phú, tập quán sinh hoạt trên sông đa dạng của người dân bản địa như chợ nổi, làng bè , du lịch dọc sông Mekong chắc chắn
sẽ tạo ra nhiều hứng thú cho du khách
Nhìn trên bản đồ đường bộ của các nước thuộc khu vực sông Mekong,
có thể thấy hàng loạt tuyến đường xuyên quốc gia Nếu ở phía Đông (điểm cuối của hai tuyến đường tại Việt Nam) là những bãi biển dài từ Đà Nẵng tới Nghệ An với những di sản thế giới tuyệt đẹp của miền Trung như Hội An, Huế hay động Phong Nha – Kẻ Bàng, thì ở phía Tây là những chùa vàng rực
rỡ với những đặc trưng văn hóa của vùng Đông Bắc Thái Lan và Lào Du khách quốc tế khi đến vùng Đông Bắc Thái Lan có thể tiếp tục hành trình qua Lào sang Việt Nam và ngược lại
Trang 39Bản đồ các nước tiểu vùng sông Mekong (http://www.theworldmap.net/continent/big/mekong-region-map/)
Trang 40Trong số sáu quốc gia thuộc tiểu vùng GMS, có đến 5 quốc gia có các
di sản văn hóa thế giới với nhiều điểm du lịch nổi tiếng, hấp dẫn Từ đó, ý tưởng về “Sáu quốc gia - một điểm đến” ra đời và được ủng hộ, minh chứng cho một bước tiến quan trọng trong quá trình hợp tác du lịch của các nước trong tiểu vùng Những kiến nghị của Chương trình Nghiên cứu Chiến lược
Du lịch tiểu vùng GMS đưa ra hướng tiếp cận đối với phát triển du lịch, bao gồm việc thực hiện các dự án ưu tiên và xúc tiến du lịch môi trường sinh thái
và chống đói nghèo được Chính phủ các nước rất hoan nghênh Các quốc gia trong tiểu vùng sông Mekong mở rộng đã tìm kiếm và nhận được sự trợ giúp
kỹ thuật từ Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) nhằm hoạch định chiến lược phát triển du lịch và kế hoạch hành động Điểm chính trong chiến lược là thúc đẩy phát triển cả tiểu vùng sông Mekong như là một điểm đến du lịch Điều
đó thực hiện bằng cách đảm bảo sự phát triển mở rộng hoạt động du lịch bền vững, tăng tính hấp dẫn của cả tiểu vùng nhằm giảm đói nghèo và phân bổ hợp lý lợi ích do du lịch mang lại, giảm thiểu mọi tác động tiêu cực đối với xã hội và môi trường từ du lịch
Việc liên kết các nước thuộc tiểu vùng nhằm tạo ra một sản phẩm du lịch chung sẽ là một giải pháp góp phần làm phong phú hơn nguồn tài nguyên du lịch, đồng thời có khả năng tạo ra những nét ấn tượng, độc đáo mang bản sắc rất riêng của tiểu vùng
Chiến lược nghiên cứu trên đây tập trung vào một số vấn đề thông qua
07 chương trình chính như sau:
- Xúc tiến quảng bá, marketing cả tiểu vùng như là một điểm đến du lịch
- Phát triển nguồn nhân lực;
- Thúc đẩy quản lý các khu vực bảo tồn văn hóa thiên nhiên cũng như các khu vực có di sản thiên nhiên quan trọng cho hoạt động du lịch và chú trọng tới các tác động tiêu cực của du lịch;