1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lợi của các công ty xây dựng niêm yết trên sàn chứng khoán TP HCM

64 564 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 606,3 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phương pháp nghiên cứu Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng mà cụ thể là phương pháp thống kê mô tả, phân tích tương quan và phương pháp hồi quy để hiểu rõ hơn sự tác động c

Trang 1

TP Hồ Chí Minh, 2016

Giảng viên hướng dẫn: Ths Hà Minh Phước Sinh viên th ực hiện: Nguyễn Thị Tường Vi MSSV: 1211191233

Lớp: 12DTNH04

KHOA K Ế TOÁN – TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG

Trang 2

TP Hồ Chí Minh, 2016

Giảng viên hướng dẫn:Ths Hà Minh Phước Sinh viên th ực hiện: Nguyễn Thị Tường Vi MSSV: 1211191233

Lớp: 12DTNH04

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP HỒ CHÍ MINH KHOA K Ế TOÁN – TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG

Trang 3

Trang i

Tôi cam đoan đây là đề tài nghiên cứu do bản thân tôi thực hiện theo sự

hướng dẫn của Ths Hà Minh Phước Đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lợi của các công ty xây dựng niêm yết trên sàn chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh” được thực hiện đựa trên số liệu thực tế thu thập được cũng như cơ sở lý thuyết các nghiên cứu của các nhà kinh tế học trước đây Tôi xin cam đoan không

có hiện tượng sao chép hoàn toàn hay một phần những kết quả nghiên cứu của các tác giả khác Đây là đề tài nghiên cứu độc lập của tôi

Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước nhà trường về sự cam đoan nảy

TP Hồ Chí Minh, ngày 22 tháng 6 năm 2016

Tác giả Nguyễn Thị Tường Vi

Trang 4

Với lòng biết ơn sâu sắc, nhóm xin gửi đến quý Thầy Cô Khoa Kế Toán – Tài Chính – Ngân Hàng – Trường ĐH Công Nghệ TPHCM đã cùng với tri thức và tâm huyết của minh để truyền đạt vốn kiến thức quý báu cho em trong suốt thời gian học

tập tại trường

Em xin chân thành cảm ơn Thạc Sĩ Hà Minh Phước đã tận tâm hướng dẫn em qua

những buổi thảo luận và hướng dẫn để em hoàn thành tốt Khóa luận tót nghiệp Bài khóa luận tốt nghiệp được thực hiện trong khoảng thời gian từ 26/03/2016 – 22/06/2016 Vì kiến thức còn hạn chế do đó không thể tranh khỏi những thiếu sót là điều chắc chắn, em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của quý Thầy Cô để kiến thức của em trong lĩnh vực này được hoàn thiện hơn

Em xin chúc quý Thầy cô nhiều sức khỏe và niềm vui trong công việc

Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn

TP.HCM, ngày 22 tháng 06 năm 2016

Tác giả Nguyễn Thị Tường Vi

Trang 5

Trang iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BE/ME Giá trị sổ sách trên giá trị thị trường

CAPM The Capital Asset Pricing Model Fama-French Fama-French Three Factor Model Carhart Carhart Four-Factor Model

Trang 6

Trang iv

DANH M ụC HÌNH Vẽ, BảNG BIểU

Hình 3.1 Mô hình nghiên cứu của khóa luận 19

Bảng 3.1: Phân chia danh mục 23

Bảng 3.2: Kết quả phân chia 30 cổ phiếu ngành xây dựng thành 6 danh mục 23

Bảng 3.3: Tên công ty và mã cổ phiếu nhóm ngành xây dựng niêm yết trên sàn HOSE 24

Bảng 4.1: Phân tích mô tả dữ liệu 27

Bảng 4.2: Tính chất của hệ số tương quan 28

Bảng 4.3 Kết quả hồi quy tổng hợp mô hình CAPM, Fama-French và Carhart 41

Trang 7

Trang v

M ụC LụC

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1

1.1 Lý do chọn đề tài 1

1.2 Mục đích nghiên cứu 2

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 2

1.4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 3

1.5 Phương pháp nghiên cứu 3

1.6 Kết cấu đề tài 3

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 5

2.1 Lý thuyết danh mục đầu tư hiện đại: tiền đề tạo nên mối quan hệ giữa rủi ro và tỷ suất sinh lợi 5

2.2 Lý thuyết và các mô hình có liên quan 6

2.2.1 Mô hình định giá tài sản vốn CAPM (Capital Asset Pricing Model) 6

2.2.2 Mô hình 3 nhân tố của Fama- French (1993) 8

2.2.3 Mô hình 4 nhân tố của Carhart 12

2.3 Tổng kết một số kết quả của các nghiên cứu có liên quan tại Việt Nam và trên thế giới trong thời gian gần đây 12

2.3.1 Nghiên cứu ở những nước trên thế giới 12

2.3.2 Những nghiên cứu tại Việt Nam 14

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16

3.1 Phương pháp nghiên cứu 16

3.2 Dữ liệu nghiên cứu 20

3.2.1 Nguồn dữ liệu 20

3.2.2 Cách lấy và xử lý dữ liệu 21

3.2.3 Mẫu nghiên cứu 24

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 27

4.1 Thống kê mô tả 27

4.2 Phân tích tương quan 28

4.3 Thực hiện mô hình hồi quy 30

Trang 8

Trang vi

4.3.1 Kiểm định với mô hình CAPM 31

4.3.2 Kiểm định với mô hình ba nhân tố của Fama – French ( 1993 ) 33

4.3.3 Kiểm định với mô hình bốn nhân tố của Carhart ( 1994 ) 36

4.4 Kiểm định các giả thiết nghiên cứu 39

4.5 Phân tích hồi quy tuyến tính mô hình CAPM, Fama-French và Carhart 41

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ GIẢI PHÁP 44

5.1 Kết luận 44

5.2 Giải pháp 45

5.3 Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo 46

5.3.1 Hạn chế 46

5.3.2 Hướng nghiên cứu tiếp theo 47

Trang 9

vẫn còn quá non trẻ và ẩn chứa bên trong nhiều biến động, do đó việc đầu tư cũng mang lại không ít rủi ro cho các nhà đầu tư, đặc biệt là những nhà đầu tư mới tham gia vào thị trường hay những nhà đầu tư theo hình thức đám đông, chưa có nhiều

kiến thức về lĩnh vực chứng khoán Rủi ro khi đầu tư vào TTCK là không thể tránh

khỏi Do đó, nhà đầu tư phải cân nhắc trước khi quyết định lựa chọn mã chứng khoán vào danh mục của mình để mang lại suất sinh lợi cao với mức rủi rothấp nhất

có thể chấp nhận được Có nhiều nghiên cứu phân tích những nguyên nhân tác động đến TTCK ví dụ như những nhân tố vĩ mô biến động của chu kỳ kinh tế trong nước cũng như thế giới, biến động của lãi suất, tỷ giá hay giá vàng, giá dầu… hay nhân

tố vi mô như ảnh hưởng của thị trường, quy mô công ty, dòng tiền trên giá…Khi đầu tư vào TTCK đòi hỏi phải có kiến thức về chứng khoán và lập trường riêng của

bản thân, nếu không sẽ lúng túng trước những thông tin hay báo cáo của thị trường cũng như của doanh nghiệp Càng khó khăn cho nhà đầu tư hơn khi tham khảo những dự đoán của giới chuyên môn, tổ chức tài chính danh tiếng trên thế giới khi

nhận định về TTCK Việt Nam Do đó, việc nghiên cứu các mô hình định giá chứng khoán từ đó cho nhà đầu tư có kiến thức sâu hơn, tầm nhìn rộng hơn về TTCK là rất quan trọng Có nhiều tranh luận về các mô hình định giá này như: mô hình định giá tài sản vốn, mô hình 3 nhân tố của Fama- French hay mô hình 4 nhân tố của Carhart…Các mô hình này được nghiên cứu trên nhiều TTCK trên thế giới và mang

lại nhiều kết quả hữu ích cho nhà đầu tư khi tham gia vào TTCK TTCK Việt Nam

Trang 10

Trang 2

biến động rất bất thường, không thể chỉ dựa vào những phỏng đoán của giới chuyên môn đặc biệt là đầu tư theo “tâm lý bầy đàn” của nước ta mà phải có cái nhìn sâu sắc hơn, nhận định rõ ràng hơn để mang lại kết quả thỏa đáng Như vậy, việc xem xét các nhân tố tác động đến tỷ suất sinh lợi của chứng khoán là rất cần thiết và giúp cho các nhà đầu tư có thể an tâm khi đưa ra lựa chọn cho mình Nhận ra điều tất yếu

đó, khóa luận này tiến hành kiểm định xem thử trong 3 mô hình trên mô hình nào là phù hợp nhất đối với các công ty thuộc nhóm ngành Xây dựng trên TTCK TP Hồ Chí Minh

• Mô hình định giá tài sản vốn CAPM

• Theo mô hình 3 nhân tố của Fama- French (1993)

• Nhân tố xu hướng trong mô hình của Carhart

1.3 Câu h ỏi nghiên cứu

• TSSL của các chứng khoán có mối quan hệ như thế nào đối với các yếu tố

Trang 11

Trang 3

1.4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu:BCTC đã được kiểm toán và thông tin được lấy từ Sở giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh bao gồm: giá đóng cửa hàng ngày, vốn chủ

sở hữu, số lượng cổ phiếu đang lưu hành, chỉ số VN-Index… từ năm 2013 đến năm

2015 của 30 Công ty nhóm ngành Xây dựng trên Sàn Chứng khoán TP.HCM

Khóa luận còn sử dụng khá nhiều tài liệu về mô hình CAPM, Fama-French (1993) và mô hình 4 nhân tố của Carhart cũng như các nghiên cứu trước đây của các nước có thị trường chứng khoán phát triển và thị trường chứng khoán ở các nước đang phát triển như Việt Nam

Đối tượng nghiên cứu:Khóa luận thực hiện nghiên cứu tổng quan và chi tiết đối với ba mô hình là mô hình CAPM, Fama-French và Carhart với dữ liệu thực tế thu thập được

1.5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng mà cụ thể là phương pháp

thống kê mô tả, phân tích tương quan và phương pháp hồi quy để hiểu rõ hơn sự tác động của 4 nhân tố: rủi ro thị trường, giá trị công ty, quy mô công ty và xu hướng tăng trưởng đến tỷ suất sinh lợi chứng khoán nhóm ngành Xây dựng

Phương pháp kiểm định sự phù hợp của mô hình trong việc dự báo tỷ suất sinh

lời cổ phiếu ngành Xây dựng.Đề tài còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu của các nhà khoa học trước đây trên thế giới và tại Việt Nam để tạo nền tảng kiến thức thuận lợi cho việc nghiên cứu

1.6 Kết cấu đề tài

Nội dung của đề tài bao gồm 5 chương sau:

• CHƯƠNG 1 : GIớI THIệU

• CHƯƠNG 2 : CƠ Sở LÝ LUậN

• CHƯƠNG 3 : PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CứU

• CHƯƠNG 4 : KếT QUả NGHIÊN CứU

• CHƯƠNG 5 : KếT LUậN VÀ GIảI PHÁP

Trang 12

Trang 4

Do phạm vi kiến thức về tài chính nói chung cũng như kỹ năng phân tích và thống

kê nói riêng còn hạn chế, nên việc không thể không tránh khỏi những thiếu sót trong quá trình thực hiện Khóa luận, rất mong nhận được nhiều sự đóng góp từ thầy cô để tài của em được hoàn thiện hơn

Trang 13

Trang 5

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN

2.1 Lý thuyết danh mục đầu tư hiện đại: tiền đề tạo nên mối quan hệ giữa rủi ro và tỷ suất sinh lợi

Được giới thiệu lần đầu tiên vào năm 1959 bởi nhà kinh tế học Harry Markowitz, lý thuyết danh mục đầu tư hiện đại khuyến nghị các nhà đầu tư hãy đa

dạng hóa danh mục đầu tư của mình Bằng cách này họ có thể giảm rủi ro thị trường tác động lên tỷ suất sinh lợi kỳ vọng của danh mục mà mình đang nắm giữ

Ngoài ra, Harry Markowitz còn phát triển nguyên lý trong việc xây dựng danh

mục đầu tư Có một cụm từ đơn giản để hiểu về lý thuyết này đó là “Không để tất

cả trứng vào cùng một giỏ” Một danh mục đầu tư được xem là hiệu quả khi có tỷ

suất sinh lợi kỳ vọng cao ở một mức rủi ro có thể chấp nhận được Tuy nhiên, để làm được điều này không phải là chuyện dễ, bởi vì đầu tư vào chứng khoán luôn kèm theo hai loại rủi ro cơ bản là rủi ro của chính chứng khoán và rủi ro thị trường Nếu không biết tính toán, linh hoạt và cân bằng giữa các loại rủi ro thì chắc chắn danh mục đầu tư sẽ khó có lợi nhuận Vì vậy, trước khi có bất cứ quyết định đầu tư nào cần phải xem xét nhiều yếu tố:

• Mục tiêu của nhà đầu tư là gì?

• Mức độ chấp nhận rủi ro của nhà đầu tư?

• Hãy đầu tư vào những gì hiểu rõ

• Xác định đúng đắn thời điểm mua bán

Bằng cách cân bằng các cổ phiếu đang nắm giữ để phòng ngừa các biến động thị trường bất lợi, nhà đầu tư có thể nắm giữ một danh mục khá ổn định - ngay cả với

những kênh đầu tư biến động mạnh

Trang 14

Trang 6

2.2 Lý thuyết và các mô hình có liên quan

2.2.1 Mô hình định giá tài sản vốn CAPM (Capital Asset Pricing Model)

Sharpe(1964), Lintner(1965) và Black(1972) đã nghiên cứu và thể hiện mối tương quan giữa rủi ro và tỷ suất sinh lợi của các chứng khoán vào thập niên 1960

Mô hình này cho thấy mối quan hệ cùng chiều giữa tỷ suất sinh lợi kỳ vọng của chứng khoán và beta chứng khoán qua phương trình :

E(Ri): là suất sinh lợi kỳ vọng của một danh mục tài sản i bất kỳ

Rf : là lợi nhuận không rủi ro

E(Rm): là lợi nhuận kỳ vọng của danh mục thị trường

βi: là hệ số beta thị trường của danh mục tài sản i

Mô hình CAPM là mô hình mô tả mối quan hệ giữa rủi ro và lợi nhuận kỳ

vọng Trong mô hình này, lợi nhuận kỳ vọng bằng lợi nhuận phi rủi ro (rick-free) cộng với một khoản bù đắp rủi ro dựa trên cơ sở rủi ro toàn hệ thống của chứng khoán đó Còn rủi ro không toàn hệ thống không được xem xét trong mô hình này

do nhà đầu tư có thể xây dựng danh mục đầu tư đa dạng hoá để loại bỏ rủi ro này Nhà đầu tư sẽ dựa trên rủi ro và tỷ suất sinh lợi từ mô hình để thiết lập đường thị trường chứng khoán SML(security market line), họ đầu tư những chứng khoán đang được định giá thấp (bên trên đường SML) và bán khống (nếu thị trường cho phép) hoặc từ bỏ nắm giữ những chứng khoán bên dưới SML.Như vậy, khi hệ số beta càng cao thì suất sinh lời của chứng khoán càng cao và vì vậy, cũng mang nhiều rủi

ro hơn Beta bằng 0: Lợi nhuận kỳ vọng của chứng khoán có beta bằng 0 chính là lợi nhuận không rủi ro, Rf Beta bằng 1 Lợi nhuận kỳ vọng của chứng khoán có beta bằng 1 chính là lợi nhuận thị trường, E(Rm) Quan hệ giữa lợi nhuận và hệ số rủi ro beta của chứng khoán là quan hệ tuyến tính được diễn tả bởi đường thẳng SML có hệ số góc là E(Rm) - Rf

i f m

(

Trang 15

Trang 7

Đây là mô hình cơ bản, tiền đề cho các mô hình sau

Ngoài ra, lý thuyết mô hình CAPM, đi lên từ lý thuyết danh mục của Markowitz, cho nên nó cần một số giả định sau:

• Nh ững giả định về hành vi của nhà đầu tư

(1)Lý thuyết thị trường vốn cho rằng nhà đầu tư ra quyết định đầu tư dựa theo hai tham số : lợi nhuận kỳ vọng và phương sai của lợi nhuận

(2)Cácnhàđầu tưnói chung là người ngại rủi ro Do vậy, để họ có thể đầu tư cần

phải có phần lợi nhuận bù đắp cho rủi ro mà họ phải gánh chịu

(3)Tấtcảcácnhàđầutưcómộtphạmvithờigiantrongmộtkỳnhưnhauchẳng

hạnnhưmột tháng,sáu thánghaymộtnăm.Môhìnhnàysẽđượcxâydựng chomộtkhoảngthờigiangiảđịnhvàkếtquả củanócũngsẽbịảnhhưởng bởi

việcgiảđịnhkhácđi.Sựkhácnhautrongphạm vithờigian sẽđòihỏicác nhà

phirủirophùhợpvớicácphạmvithờigianđầutư củahọ

• Nh ững giả định về thị trường vốn

(1)Lý thuyết thị trường vốn cho rằng thị trường vốn là thị trường cạnh tranh hoàn hảo, nghĩa là số lượng người mua và người bán đủ lớn và tất cả các nhà đầu

tư riêng lẻ không thể ảnh hưởng tới giá cả tài sản giao dịch trên thị trường

(2) Lý thuyết thị trường vốn còn giả định không có chi phí giao dịch và không

có sự can thiệp nào ảnh hưởng đến cung cầu trên thị trường

(3)Cuối cùng lý thuyết thị trường vốn cho rằng nhà đầu tư có thể vay và cho vay ở mức lãi suất phi rủi ro

Thông thường, để lượng hóa mối quan hệ giữa rủi ro và tỷ suất sinh lợi, người

ta thường sử dụng mô hình định giá tài sản vốn CAPM bởi vì đây là mô hình đơn giản và có cơ sở lý thuyết khá vững vàng Tuy nhiên, việc áp dụng mô hình này trên thực tế của các nghiên cứu thực nghiệm đã đặt ra những vấn đề cần phải quan

Trang 16

Trang 8

tâm

• Nh ững phát hiện bất thường khi áp dụng CAPM

Một số học giả khi áp dụng mô hình CAPM đã phát hiện ra một số điểm bất thường khiến CAPM không còn đúng như trường hợp bình thường Những điểm bất thường bao gồm: Ảnh hưởng của qui mô công ty – Người ta phát hiện rằng chứng khoán của công ty có giá trị thị trường nhỏ (giá trị vốn hóa thị trường bằng giá mỗi

cổ phiếu nhân số lượng cổ phiếu) đem lại lợi nhuận cao hơn cổ phiếu của công ty có giá trị thị trường lớn, nếu những yếu tố khác như nhau

Ảnh hưởng của tỷ số P/E (số nhân thu nhập) và ME/BE (giá trị thị trường trên giá trị sổ sách) – Người ta cũng thấy rằng cổ phiếu của những công ty có tỷ số P/E

và tỷ số ME/BE thấp đem lại lợi nhuận cao hơn cổ phiếu của những công ty có tỷ số P/E và ME/BE cao

Ảnh hưởng tháng Giêng – Những người nào nắm giữ cổ phiếu trong khoảng

thời gian từ tháng 12 đến tháng 1 thường có lợi nhuận cao hơn so với những tháng khác.Tuy vậy, người ta cũng lưu ý mặc dù ảnh hưởng tháng Giêng được tìm thấy trong nhiều năm nhưng không phải năm nào cũng xảy ra

2.2.2 Mô hình 3 nhân t ố của Fama- French (1993)

Trong nỗ lực của các nhà nghiên cứu tài chính, một kết quả nghiên cứu có sức ảnh hưởng lớn đó là nghiên cứu của Fama và French đã được công bố vào năm 1992

dựa trên một mô hình, trong đó tổng hợp tất cả những yếu tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lợi như quy mô, đòn bẩy tài chính, tỷ số E/P, Giá trị sổ sách trên giá trị thị trường (BE/ME) và beta của các cổ phiếu của NYSE (Sàn giao dịch chứng khoán New York), AMEX và NASDAQ (sàn giao dịch chứng khoán điện tử của Mỹ) Hai ông cho rằng mối quan hệ giữa beta và tỷ suất sinh lợi trung bình là không cao trong

suốt thời kỳ 1963-1990, ngay cả chỉ dùng beta để giải thích cho tỷ suất sinh lợi trung bình Trong khi đó, các kiểm định lần lượt giữa tỷ suất sinh lợi trung bình với quy mô, hệ số đòn bẩy, tỷ số E/P và tỷ số BE/ME cho thấy rằng tất cả các biến này đều quan trọng và có tín hiệu mong đợi Kết quả cuối cùng, hai ông chỉ ra rằng tỷ số

Trang 17

Trang 9

BE/ME và quy mô công ty là những yếu tố có mối quan hệ mạnh nhất tới tỷ suất sinh lợi cổ phiếu và vai trò của các yếu tố còn lại (đòn bẩy, E/P) là không cao khi đưa hai yếu tố này vào mô hình

Tiếp tục công trình nghiên cứu này, vào năm 1993 Fama và French đã công

bố mô hình 3 yếu tố nổi tiếng của mình.Trong mô hình này, ngoài hai yếu tố như đã trình bày ở trên, hai ông đã đưa thêm vào yếu tố thứ ba đó là phần bù rủi ro cổ phiếu

Trong mô hình ba yếu tố của Fama và French, những cổ phiếu có giá trị vốn hóa nhỏ (small-cap) được gọi là những cổ phiếu quy mô công ty nhỏ, những cổ phiếu có giá trị vốn hóa lớn (big-cap) được gọi là những cổ phiếu quy mô công ty lớn, những cổ phiếu có tỷ số giá trị sổ sách trên giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu cao (high book-to-market) được gọi là những cổ phiếu “giá trị”, những cổ phiếu có

tỷ số giá trị sổ sách trên giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu thấp (low market) được gọi là những cổ phiếu “tăng trưởng” Trong mô hình này, những cổ phiếu có giá trị vốn hóa nhỏ có một phần bù kỳ vọng cao hơn những cổ phiếu có giá

book-to-trị vốn hóa lớn và những cổ phiếu “giá trị” có một phần bù kỳ vọng cao hơn những

cổ phiếu “tăng trưởng”

Phần bù giá trị đại diện cho sự khác nhau giữa suất sinh lợi bình quân của một danh mục đầu tư của những cổ phiếu “giá trị” và suất sinh lợi bình quân của một danh mục đầu tư của những cổ phiếu “tăng trưởng” Giống như vậy, phần bù quy

mô công ty đại diện cho sự khác nhau giữa suất sinh lợi bình quân của một danh mục đầu tư của những cổ phiếu có giá trị vốn hóa nhỏ và suất sinh lợi bình quân của

một danh mục đầu tư của những cổ phiếu có giá trị vốn hóa lớn

Các y ếu tố của mô hình Fama-French

Phần bù của thị trường (market premium): phần bù cho mức độ rủi ro mà các nhà đầu

tư phải gánh chịu liên quan đến thị trường

Trang 18

Trang 10

Phần bù của quy mô công ty (size premium): phần bù do tác động của quy mô công

ty

Phần bù của giá trị (value premium): phần bù do tác động của giá trị công ty

Biểu thức của mô hình ba Yếu tố của Fama-French:

Trong đó:

ft

R − : Tổng phần bù rủi ro tại thời điểm t

α : Tung độ góc của phương trình hồi quy

) (R mtR ft

β : Phần bù của thị trường (market premium) ở thời điểm t

R : Lãi suất phi rủi ro (lãi suất của tín phiếu kho bạc) tại thời điểm t

β , s, h: Hệ số hồi quy riêng phần

SMBt (small minus big): Hiệu số giữa suất sinh lợi bình quân của danh mục các cổ phiếu có giá trị vốn hóa thị trường nhỏ và suất sinh lợi bình quân của danh mục các cổ phiếu có giá trị vốn hóa thị trường lớn tại thời điểm t

HMLt (high book-to-market minus low): Hiệu số giữa suất sinh lợi bình quân của danh mục các cổ phiếu có tỷ số giá sổ sách trên giá thị trường cao (cổ phiếu “giá

Trang 19

Trang 11

trị”) và suất sinh lợi bình quân của danh mục các cổ phiếu có tỷ số giá sổ sách trên giá thị trường thấp (cổ phiếu “tăng trưởng”) tại thời điểm t

Mô hình Fama-French vẫn cho rằng tỷ suất sinh lợi cao là phần thưởng cho sự

chấp nhận rủi ro cao Hệ số si và hi lần lượt đo lường mức độ ảnh hưởng của hai nhân tố SMB và HML đến tỷ suất sinh lợi của danh mục i Danh mục i bao gồm những cổ phiếu giá trị sẽ có hệ số hi cao và ngược lại đối với danh mục bao gồm

những cổ phiếu tăng trưởng sẽ có hệ số hi thấp Tương tự, danh mục i bao gồm

những cổ phiếu có vốn thị trường cao thì sẽ có hệ số si thấp và ngược lại đối với những danh mục bao gồm những cổ phiếu có vốn thị trường thấp thì hệ số si cao

Trang 20

Trang 12

2.2.3 Mô hình 4 nhân tố của Carhart

Từ mô hình 3 nhân tố của Fama- French, Carhart phát triển thành mô hình 4 nhân tố sau khi thêm vào mô hình nhân tố đà tăng trưởng (xu hướng) theo phương trình:

Ri(t)-RF(t)=αi + βi[RM(t)-RF(t)] + siSMB(t) + hiHML(t) + wiWML(t) + ei(t) Ngoài 3 nhân tố trong mô hình Fama- French, Carhart thêm vào mô hình nhân

tố xu hướng (đà tăng trưởng), WML(t), đó là TSSL bình quân của những chứng khoán cao giá trừ đi những chứng khoán giảm giá trong một giai đoạn trước đó Kết quả của Carhart cho rằng nhà đầu tư nên mua những chứng khoán đã có TSSL cao trong quá khứ và bán những chứng khoán có TSSL thấp

2.3 Tổng kết một số kết quả của các nghiên cứu có liên quan tại Việt Nam

và trên thế giới trong thời gian gần đây

2.3.1 Nghiên c ứu ở những nước trên thế giới

Từ khi mô hình 3 nhân tố Fama-French ra đời vào năm 1993, hàng loạt các nghiên cứu thực nghiệm được thực hiện để kiểm định khả năng áp dụng mô hình này để xem xét sự thay đổi tỷ suất sinh lợi Các nghiên cứu đó có thể kể đến như

sau:

Nghiên cứu tại các thị trường phát triển như Nima Billou (2004) nghiên cứu cho 3 TTCK lớn NYSE, AMEX, and NASDAQ giai đoạn từ 07/1926 đến 12/2003, với độ tin cậy 95% thì R2 của CAPM là 77% và R2 của Fama - French là 88% Kết

quả cho thấy hai yếu tố quy mô và giá trị rất có ảnh hưởng trên thị trường chứng khoán Mỹ Nghiên cứu của Elhaj Walid và Elhaj Ahlem (2007)cho TTCK Nhật Bản giai đoạn 1/2002 đến 9/2007.Kết quả nghiên cứu cho thấy ở Nhật Bản nhân tố quy

mô công ty và tỷ suất sinh lợi có quan hệ nghịch biến, còn nhân tố giá trị và tỷ suất sinh lợi thì đồng biến.Nhân tố quy mô thể hiện rõ nét ở những chứng khoán có mức

vốn hóa thị trường nhỏ.R2

trung bình của Fama French là 78.2% lớn hơn so với R2

trung bình của CAPM là 70.5%

Trang 21

Trang 13

Một nghiên cứu Nartea and Djajadikerta (2005) cho TTCK NewZealand đã sử

dụng dữ liệu từ 284 chứng khoán trong khoản thời gian 1994 đến 2002 Bài nghiên cứu xác định phần bù giá trị ảnh hưởng ít, trong khi đó phần bù qui mô ảnh hưởng đáng kể đến mô hình

Nghiên cứu của Ajili (2005) cho thị trường chứng khoán Pháp, nghiên cứu của Michael A O’Brien (2007) cho thị trường chứng khoán Australia, cho thấy rằng danh mục của nhóm công ty có quy mô nhỏ có suất sinh lợi trung bình cao hơn danh

mục của nhóm công ty có quy mô lớn và có mối tương quan nghịch biến giữa quy

mô công ty và suất sinh lợi của cổ phiếu Các nghiên cứu này cũng cho thấy danh

mục của nhóm công ty có tỷ số BE/ME cao cho giá trị suất sinh lợi cao hơn danh mục nhóm công ty có tỷ số BE/ME thấp Cũng tương tự như thị trường chứng khoán các nước phát triển, kết quả nghiên cứu tại các thị trường mới nổi như Connor and Sehgal (2001), Bundoo (2004) cho thị trường chứng khoán Nam Phi, Drew và Veeraraghavan (2003) cho thị trường các nước Hong Kong, Hàn Quốc, Malaysia và Philippines cho thấy rằng danh mục của nhóm công ty có quy mô nhỏ có suất sinh

lợi trung bình cao hơn danh mục của nhóm công ty có quy mô lớn và có mối tương quan nghịch biến giữa quy mô công ty và suất sinh lợi của cổ phiếu Các nghiên cứu này cũng cho thấy danh mục của nhóm công ty có tỷ số BE/ME cao cho giá trị suất sinh lợi cao hơn danh mục nhóm công ty có tỷ số BE/ME thấp, hay nói cách khác, các công ty thuộc nhóm “tăng trưởng” thì có suất sinh lợi thấp hơn các công ty thuộc nhóm “giá trị” và có mối tương quan đồng biến giữa tỷ số BE/ME và suất sinh

lợi của cổ phiếu Ngược lại, kết quả nghiên cứu của Bhavna Bahl (2006) cho thị trường mới nổi Ấn Độ cho thấy rằng suất sinh lợi tăng khi tỷ số BE/ME tăng từ thấp đến trung bình nhưng sau đó suất sinh lợi lại giảm khi BE/ME tăng từ trung bình đến cao

Tại Anh, bài nghiên cứu của Alan Gregory et al “Xây dựng và thử nghiệm phiên bản thay thế của Mô hình Fama-French và Carhart ở Anh” Kết quả là mô hình Carhart giải thích tốt hơn mô hình Fama, R2 hiệu chỉnh trung bình của Fama French là 73% và R2 hiệu chỉnh trung bình của Carhart là 74%

Trang 22

Trang 14

2.3.2 Những nghiên cứu tại Việt Nam

Tại Việt Nam trong khả năng tìm hiểu của mình, tác giả đã thu thập được một số các nghiên cứu thực nghiệm cụ thể như sau:

Năm 2008, tại HOSE nghiên cứu của hai tác giả Vương Đức Hoàng Quân và

Hồ Thị Huệ cho thấy rằng danh mục của nhóm công ty có quy mô nhỏ có suất sinh lợi trung bình cao hơn danh mục của nhóm công ty có quy mô lớn hay có mối tương quan nghịch biến giữa quy mô công ty và suất sinh lợi của cổ phiếu Khi xem xét sự tác động của yếu tố HML thì ta thấy rằng yếu tố thuộc về đặc tính giá trị công ty (tỷ

số BE/ME) danh mục của nhóm công ty có tỷ số BE/ME thấp cho giá trị suất sinh

lợi cao hơn danh mục nhóm công ty có tỷ số BE/ME cao, hay nói cách khác, các công ty thuộc nhóm “tăng trưởng” thì có suất sinh lợi cao hơn các công ty thuộc nhóm “giá trị” Kết quả là mô hình Fama Frenchgiải thích tốt hơn mô hình CAPM

và R2 trung bình trong mô hình Fama French là 86.8% còn R2 trong mô hình CAPM

là 62.5%, kết quả này giống với kết quả nghiên cứu của các tác giả khác nghiên cứu trên các thị trường đã phát triển cũng như mới nổi.Tuy nhiên, trong nghiên cứu của hai tác giả Vương Đức Hoàng Quân và Hồ Thị Huệ có một số vấn đề cần phải xem xét lại, đó là (1) lãi suất phi rủi ro được sử dụng ở đây là lãi suất trái phiếu Chính

phủ kỳ hạn 5 năm, và (2) cở mẫu quá nhỏ (chỉ có 28 công ty) Lãi suất phi rủi ro là lãi suất của tín phiếu kho bạc chứ không phải là lãi suất của trái phiếu Chính phủ kỳ hạn 5 năm vì trái phiếu Chính phủ kỳ hạn 5 năm có ẩn chứa yếu tố rủi ro là lạm phát Và cở mẫu quá nhỏ (chỉ có 28 công ty) nên ý nghĩa thống kê thấp và tính khái quát vấn đề chưa cao

Năm 2008, tại HOSE, tác giả Đinh Trọng Hưng có nghiên cức việc áp dụng

mô hình Fama – French trong việc định giá danh mục đầu tư Nghiên cứu này cũng

có một số vấn đề cần phải xem xét lại, đó là (1) lãi suất phi rủi ro được sử dụng là lãi suất trái phiếu Chính phủ kỳ hạn 5 năm, (2) không thấy phương trình hồi quy nhưng lại có kết quả R2

của từng mã cổ phiếu, (3) cở mẫu cũng quá nhỏ (chỉ có 26 công ty), (4) thời gian quan sát quá ít (chỉ 15 tháng từ ngày 30/9/2006 đến ngày

Trang 23

Trang 15

31/12/2007) và (5) cũng nghiên cứu trên HOSE năm 2008 và cho kết quả hồi quy cũng giống như nghiên cứu của hai tác giả Vương Đức Hoàng Quân và Hồ Thị Huệ Tại HOSE (2010) nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Sĩ cũng cho thấy rằng danh mục của nhóm công ty có quy mô nhỏ có suất sinh lợi trung bình cao hơn danh

mục của nhóm công ty có quy mô lớn hay có mối tương quan nghịch biến giữa quy

mô công ty và suất sinh lợi của cổ phiếu và nhóm công ty có tỷ số giá trị sổ sách trên giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu (BE/ME) cao cho giá trị suất sinh lợi cao hơn nhóm công ty có tỷ số BE/ME thấp Kết quả cũng cho thấy mô hình Fama French giải thích tốt hơn so với mô hình CAPM.R2 của CAPM là 85.9% còn R2 của Fama French là 90.4%

Trang 24

Trang 16

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Phương pháp nghiên cứu

Nếu chương 2 đề cập đến các khái niệm, các lý thuyết về TSSL và một số nghiên

cứu trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài nghiên cứu thì chương 3 sẽ nói về phương pháp nghiên cứu Có thể nói, xác định đúng phương pháp nghiên cứu là

một phần quan trọng, không thể thiếu trong quá trình nghiên cứu.Nếu chúng ta có

cơ sở lý thuyết tốt, mô hình được xác định đúng và có phân tích một cách cẩn thận, thì việc có được một kết quả nghiên cứu có ý nghĩa là điều hoàn toàn có thể xảy ra Bài nghiên cứu này sử dụng các phương pháp nghiên cứu định lượng mà cụ thể như sau:

Phân tích tương quan (Corellation Analysis): cần xác định mối quan hệ

tương quan giữa các nhân tố trong mô hình trước khi chạy ra kết quả Quá trình phân tích tương quan được thực hiện dựa trên ma trận tương quan (Correlation matrix)

Phân tích tượng quan được thực hiện giữa các biến phụ th uộc (Ri – Rf) và các biến độc lập (Rm – Rf, SMB, HML, WML) Giá trị tuyệt đối của Pearson càng gần đến 1 thì các biến này có mối tương quan tuyến tính càng chặt chẽ Đồng thời cũng cần phân tích tương quan giữa các biến độc lập Vì những tương quan như vậy có thể ảnh hưởng lớn đến kết quả của phân tích hồi quy như gây ra hiện tượng đa công tuyến

Phân tích hồi quy tuyến tính (Linear Regression): Được thực hiện cho từng

danh mục đầu tư theo phương pháp bình phương bé nhất thông thường (Ordinary Least Square – OLS) Cụ thể, quá trình phân tính hồi quy được thực hiện lần lượt qua các bước sau:

Kiểm định giả thuyết và độ phù hợp của mô hình

Kiểm định giả thuyết về ý nghĩa của hệ số hồi quy

Trang 25

Trang 17

Kiểm định giả định về hiện tượng đa cộng tuyến thông qua giá trị của dung sai (Tolerance) hoặc hệ số phóng đại phương sai VIF (Variance Inflation Factor) Nếu VIF >10 thì có hiện tượng đa cộng tuyến

Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến

Khi các biến giải thích có một mối cộng tuyến hoàn hảo thì các ước lượng cho mô hình sẽ không thể tính toán một cách đầy đủ.Sự cộng tuyến giữa 2 biến có nghĩa là

có sự kết hợp gần như tuyến tính hoàn hảo giữa 2 biến.Mối quan hệ tuyến tính gần như hoàn hảo này mở rộng cho 3 biến trở lên thì được gọi là đa cộng tuyến Có 2 loại đa cộng tuyến là đa cộng tuyến hoàn hảo (perfect multicollinearity) và đa cộng tuyến cao hay đa cộng tuyến không hoàn hảo (near multicollinearity)

 Đa cộng tuyến hoàn hảo xuất hiện khi hai hay nhiều biến giải thích tương quan hoàn hảo với nhau Hiện tượng đa cộng tuyến hoàn hảo thường ít xảy ra, và thường xảy ra đối với các biến dữ liệu thời gian

 Đa cộng tuyến cao/không hoàn hảo: đây là đa cộng tuyến thường gặp trong thực nghiệm Nó xảy ra khi hai hay nhiều biến giải thích có tương quan cao với nhau Chúng ta có thể ước lượng hệ số hồi quy trong trường hợp này nhưng sai số chuẩn rất lớn và vì vậy hệ số hồi qui ước lượng không chính xác, kiểm định ít có ý nghĩa thống kê và dễ dàng bác bỏ giả thuyết “không”

Điều quan tâm đầu tiên về đa cộng tuyến đó là khi mức độ đa cộng tuyến tăng lên thì ước lượng của các hệ số trong mô hình hồi quy sẽ không còn ổn định và sai số chuẩn của các hệ số sẽ bị phóng đại Vì lẽ đó, đa cộng tuyến làm gia tăng khả năng

mắc sai lầm loại II (chấp nhận giả thuyết không khi nó sai), và gây khó khăn trong

việc phát hiện một tác động nếu nó (đa cộng tuyến) tồn tại

 Dấu hiệu nhận biết hiện tượng đa cộng tuyến :

• Hệ số 𝑅𝑅2 lớn nhưng tỷ số t nhỏ

• Tương quan cặp giữa các biến giải thích cao

Trang 26

Trang 18

Chúng ta sử dụng hệ số Pearson colleration trong SPSS để xem tính tương quan

giữa các biến độc lập.Nếu hệ số này >0.8 thì có thể xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến.Tuy nhiên đây chỉ mang tính chất lý thuyết, thực tiễn có nhiều biến độc lập tuy tương quan không cao vẫn xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến

 Sử dụng nhân tố phóng đại phương sai (VIF)

Nhân tố phóng đại phương sai gắn với biến giải thích nào đó, ký hiệu là VIF Theo

một số nhà nghiên cứu có kinh nghiệm, nếu VIF một biến vượt quá 10 (xảy ra khi

𝑅𝑅𝑗𝑗2 > 0.9) thì biến này được xem là cộng tuyến cao Tuy nhiên đối với các dữ liệu thông thường thì VIF<2 thì sẽ không xảy ra hiện tượng cộng tuyến

3.1 Mô hình nghiên cứu

Để đưa vào mô hình các biến thích hợp có thể giải thích chính xác nhất mức độ phù

hợp của mô hình cho việc giải thích nguồn gốc tỷ suất sinh lời của các cổ phiếu hay

sự biến động của thị trường chứng khoán Việt Nam Việc chọn lựa yếu tố để đưa vào mô hình sẽ phụ thuộc vào cách nhìn nhận và đánh giá mức độ quan trọng các

yếu tố của mỗi cá nhân nghiên cứu Trong phạm vi đề tài dựa vào nền tảng lý thuyết tài chính về mô hình CAPM, Fama – French và Carhart, dựa vào các kết quả nghiên cứu thực nghiệm của các nước trên thế giới, từ đó để làm căn cứ xây dựng mô hình nghiên cứu cho luận văn này Trước nhất, khi thiết lập mô hình tác giả vẫn xem xét

yếu tố then chốt ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lợi của cổ phiếu đó là bốn yếu tố trong

mô hình Carhart bao gồm Phần bù của thị trường (market premium), Phần bù của quy mô công ty (size premium), Phần bù của giá trị (value premium), phần bù xu hướng (Momentum premium)

Trang 27

Trang 19

Mô hình nghiên cứu được thiết lập như sau:

Hình 3.1Mô hình nghiên cứu của khóa luận

Tóm lại, phương trình hồi quy của mô hình mở rộng có:

• Biến phụ thuộc Y : Tổng phần bù rủi ro của cổ phiếu

• Yếu tố giá trị (value premium): phần bù cho tác động của giá trị công ty

• Yếu tố xu hướng phần bù xu hướng WMLt (Winners minus Losers), yếu tố này cho tác động khi thực hiện chiến lược đầu tư theo xu hướng

Phương trình hồi quy của mô hình có dạng như sau:

ε β

β β

β

=

= f(X) 0 1X1 2X2 3X3 4X4Y

Trang 28

Trang 20

Trong đó:

• Y: Tổng phần bù rủi ro của cổ phiếu

• β0: Tung độ góc của phương trình hồi quy

• βi: Hệ số hồi quy

• X1: Biến Yếu tố thị trường (Rm – Rf) hay BETA

• X2: Biến phần bù quy mô (SMB)

• X3: Biến phần bù giá trị công ty (HML)

• X4: Biến phần bù xu hướng ( WML)

Các giả thiết nghiên cứu

Các giả thiết sau đây được đề nghị biểu diễn trong mô hình nghiên cứu của luận văn này như sau:

H1: Có mối tương quan đồng biến giữa yếu tố thị trường và tổng phần bù rủi ro

của cổ phiếu

H2: Có mối tương quan nghịch biến giữa yếu tố quy mô công ty và tổng phần

bù rủi ro của cổ phiếu

H3: Có mối tương quan đồng biến giữa yếu tố giá trị công ty và tổng phần bù

rủi ro của cổ phiếu

H4: Có mối tương quan đồng biến giữa yếu tố phần bù xu hướng và tổng phần

bù rủi ro của cổ phiếu

3.2 Dữ liệu nghiên cứu

3.2.1 Nguồn dữ liệu

Nguồn dữ liệu của bài nghiên cứu được lấy từ trang www.hsx.vn vì nguồn dữ liệu

của Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh nên không có sự sai lệch và hoàn toàn chính xác bên cạnh đó còn sử dụng nguồn dữ liệu từ trang

www.cophieu68.com so sánh với trang www.hsx.vn thì dữ liệu cũng hoàn toàn chính xác

Trang 29

liệu thật chính xác.Vớithời kỳ mẫu 3 năm, có tất cả 745 ngày giao dịch

Để thuận lợi cho việc tính toán, TSSL được tính ở đây bỏ qua việc tính cổ tức và TSSL ngày được tính dựa vào công thức như sau:

𝑹𝑹𝒊𝒊 =𝑷𝑷𝑷𝑷 − 𝟏𝟏 − 𝟏𝟏𝑷𝑷𝑷𝑷Trong đó:

P t : là giá đóng cửa cổ phiếu ngày t

P t-1 : giá đóng cửa cổ phiếu ngày t

 TSSL tài sản phi rủi ro (Rf)

Lãi suất phi rủi ro trong bài nghiên cứu được lấy là lãi suất của trái phiếu chính phủ

kỳ hạn 5 năm do Kho bạc nhà nước phát hành, dữ liệu lấy trên trang web của Bộ tài chính Lãi suất này là lãi suất trúng thầu của các đợt phát hành trái phiếu do Kho bạc nhà nước phát hành

 Giá trị thị trường và giá trị sổ sách

Giá trị thị trường và giá trị sổ sách được lấy từ BCTT theo quý của các công ty Hầu

hết các báo cáo tài chính đã được kiểm toán và được soát xét

 Hệ số Beta trong mô hình Fama - French hay cả CAPM được phân tích sơ bộ bằng công thức:

β = 𝑪𝑪𝑪𝑪𝑪𝑪(𝑹𝑹𝒊𝒊,𝑹𝑹𝑹𝑹)𝑽𝑽𝑽𝑽𝑽𝑽(𝑹𝑹𝑹𝑹)

Với R i , R m lần lượt là tỷ suất sinh lợi danh mục i và danh mục thị trường

Trang 30

Trang 22

Cov (R i , R m) là hiệp phương sai giữ tỷ suất sinh lợi danh mục i và danh mục thị trường

Var (R m ): phương sai của tỷ suất sinh lợi danh mục thị trường

 Phần bù quy mô (SMB) và phần bù giá trị (HML)

Quy mô (giá trị thị trường-ME) công ty được tính bằng giá cổ phiếu đóng cửa nhânvới số cổ phiếu đang lưu hành ở ngày hiện tại.Số cổ phiếu đang lưu hành đã trừ

đi cổphần ưu đãi Giá trị sổ sách(BM) ở đây theo Fama- French(1993)là giá trị sổ sách củavốn chủ sỡ hữu cộng với thuế thu nhập hoãn lại trên Bảng cân đối kế toán trừ đi giá trịsổ sách cổ phần ưu đãi Giá trị thị trường và giá trị sổ sách tính trên cổ

phần thường vìcổ phần ưu đãi không cho người nắm giữ quyền quản lý công ty Theo Fama- Frenchnăm 1993 các chứng khoán được sắp xếp theo quy mô và chia thành 2 nhóm theo tỷ lệ50%-50%, nếu quy mô công ty nào nhỏ hơn hoặc bằng 50%

vốn hóa trung bình củatoàn thị trường thì được xếp vào nhóm quy mô nhỏ (Small)

và ngược lại được xếp vàonhóm quy mô lớn (Big) Yếu tố B/M được sắp xếp tăng

dần và chia thành 3 nhóm là L (Low), M ( Medium ), H ( High) tương ứng với giá

trị thấp, vừa và cao Sáu danh mục quy mô công ty (S/L, S/M, S/H, B/L, B/M, B/H)

là sự tổ hợp của hai nhóm ME và ba nhóm BE/ME

Nhân tố SMB được tính bằng TSSL bình quân của 3 danh mục có quy mô nhỏ trừ choTSSL bình quân của 3 danh mục quy mô lớn :

𝑆𝑆𝑆𝑆𝑆𝑆 = 𝑆𝑆𝑆𝑆 + 𝑆𝑆𝑆𝑆 + 𝑆𝑆𝑆𝑆3 −𝑆𝑆𝑆𝑆 + 𝑆𝑆𝑆𝑆 + 𝑆𝑆𝑆𝑆3Nhân tố HML được tính bằng TSSL bình quân của 2 danh mục có B/M cao trừ choTSSL bình quân của 2 danh mục có B/M thấp

𝑆𝑆𝑆𝑆𝑆𝑆 = 𝑆𝑆𝑆𝑆 + 𝑆𝑆𝑆𝑆2 −𝑆𝑆𝑆𝑆 + 𝑆𝑆𝑆𝑆2

Trang 31

Trang 23

Bảng 3.1: Phân chia danh mục

B ảng 3.2:Kết quả phân chia 30 cổ phiếu ngành xây dựng thành 6 danh mục

PTX, C47, L10,

LM8, PXI, THG,VSI

CDC, HU1, HU3, MDG, PTC, UDC, VRC, HAS

ACC, C32, CTD, FNC, LGC, PXS, SC5, TV1

BCE, DIG, HBC, HTI, LCG, VNE

MCG

 Nhân tố xu hướng (đà tăng trưởng) – WML

Nhân tố xu hướng được xây dựng tương tự như nhân tố HML, lần lượt chia thành các nhóm W ( Winners ), M ( Medium ), L (Lose ) tương ứng với xu hướng cao, trung bình và thấp Tương tự trong mô hình 3 nhân tố, phối hợp với nhóm ME ta cũng được 6 danh mục SW, BW, MW, SLc, MLc, BLc

Nhân tố WML được tính bằng trung bình của 2 danh mục tăng giá mạnh nhất trừ cho trung bình cuả 2 danh mục giảm giá :

Trang 32

Trang 24

3.2.3 Mẫu nghiên cứu

Phạm vi của bài nghiên cứu gồm 30 chứng khoán thuộc nhóm ngành xây dựng được niêm yết trên Sàn giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (Hose) Thời gian mẫu là tháng 1 năm 2013 đến tháng 12 năm 2015 (2013-2015)

B ảng 3.3:Tên công ty và mã cổ phiếu nhóm ngành xây dựng niêm yết trên sàn

CTCP Kết cấu Kim loại và Lắp máy Dầu khí

Ngày đăng: 21/02/2017, 16:51

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3.1Mô hình nghiên cứu của khóa luận. - Các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lợi của các công ty xây dựng niêm yết trên sàn chứng khoán TP  HCM
Hình 3.1 Mô hình nghiên cứu của khóa luận (Trang 27)
Bảng 3.1: Phân chia danh mục - Các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lợi của các công ty xây dựng niêm yết trên sàn chứng khoán TP  HCM
Bảng 3.1 Phân chia danh mục (Trang 31)
Bảng 4.1: Phân tích mô tả dữ liệu - Các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lợi của các công ty xây dựng niêm yết trên sàn chứng khoán TP  HCM
Bảng 4.1 Phân tích mô tả dữ liệu (Trang 35)
Bảng 4.2: Tính chất của hệ số tương quan - Các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lợi của các công ty xây dựng niêm yết trên sàn chứng khoán TP  HCM
Bảng 4.2 Tính chất của hệ số tương quan (Trang 36)
Bảng kết quả Coefficents cho thấy giá trị t Statistic tuyệt đối của biến Beta có giá trị - Các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lợi của các công ty xây dựng niêm yết trên sàn chứng khoán TP  HCM
Bảng k ết quả Coefficents cho thấy giá trị t Statistic tuyệt đối của biến Beta có giá trị (Trang 40)
Bảng 4.3Kết quả hồi quy tổng hợp mô hình CAPM, Fama-French và Carhart. - Các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lợi của các công ty xây dựng niêm yết trên sàn chứng khoán TP  HCM
Bảng 4.3 Kết quả hồi quy tổng hợp mô hình CAPM, Fama-French và Carhart (Trang 49)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w