Để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN với nội dung đã có sự phát triển mới, rộng lớn hơn, toàn diện hơn, việc bồi dưỡng kiến thức QPAN đòi hỏi một hệ thống toàn di
Trang 1LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 62 14 01 14
HÀ NỘI – 2016
Trang 2LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Trang 3iii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nghiên cứu trong luận án là trung thực và chưa được ai công bố trong bất
kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Tác giả luận án
Nguyễn Đức Đăng
Trang 4Đặc biệt, tôi xin bày tỏ sự kính trọng và lời cảm ơn sâu sắc tới PGS.TS
Lê Kim Long và TS Nguyễn Văn Bạo, người Thầy, người hướng dẫn khoa học đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu
Tôi xin gửi lời cám ơn tới các Thầy, Cô, anh chị đồng nghiệp, các bạn
bè đã giúp đỡ tôi trong quá trình triển khai khảo sát số liệu cho nghiên cứu luận án
Tôi xin tri ân sự khích lệ và giúp đỡ của gia đình, người thân đã dành cho tôi trong suốt quá trình công tác, học tập và nghiên cứu khoa học
Hà Nội, ngày… tháng 3 năm 2016
Tác giả luận án
Nguyễn Đức Đăng
Trang 5v
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Nội dung viết tắt
CSGDĐH : Cơ sở giáo dục đại học
GDQPAN : Giáo dục quốc phòng và an ninh
GD&ĐT : Giáo dục và Đào tạo
LLVT : Lực lượng vũ trang
QPTD : Quốc phòng toàn dân
QPAN : Quốc phòng và an ninh
TBHL : Thiết bị huấn luyện
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
VKTB : Vũ khí trang bị
TQM : Quản lí chất lượng tổng thể (Total Quality
Management)
Trang 6vi
MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Danh mục các chữ viết tắt iii
Mục lục iv
Danh mục các bảng vii
Danh mục hình vẽ, sơ đồ ix
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC QUỐC PHÕNG VÀ AN NINH CHO SINH VIÊN Ở CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC THEO TIẾP CẬN QUẢN LÍ CHẤT LƯỢNG TỔNG THỂ 7
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 7
1.1.1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài 7
1.1.2 Các công trình nghiên cứu ở trong nước 9
1.2 Những khái niệm cơ bản của đề tài 10
1.2.1 Quản lí 10
1.2.2 Quản lí hoạt động giáo dục quốc phòng và an ninh 11
1.2.3 Chất lượng và quản lí chất lượng 12
1.3 Giáo dục quốc phòng và an ninh 19
1.3.1 Hoạt động giáo dục quốc phòng và an ninh cho sinh viên 19
1.3.2 Vị trí, vai trò hoạt động giáo dục quốc phòng và an ninh cho sinh viên 21
1.3.3 Tính đặc thù của hoạt động giáo dục quốc phòng và an ninh 22
1.3.4 Trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh ở các cơ sở giáo dục đại học 23
1.3.5 Nội dung cơ bản của hoạt động giáo dục quốc phòng và an ninh cho sinh viên ở các trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh 26
1.4 Quản lí hoạt động giáo dục quốc phòng và an ninh ở các trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh theo tiếp cận TQM 30
1.4.1 Tính khả thi 30
1.4.2 Mục tiêu quản lí 32
1.4.3 Tiếp cận TQM trong quản lí hoạt động giáo dục quốc phòng và an ninh cho sinh viên 32 1.4.4 Phương thức quản lí 38
Trang 7vii
1.5 Những yếu tố tác động đến quản lí hoạt động giáo dục quốc phòng và an ninh
cho sinh viên 40
1.5.1 Cơ chế, chính sách quản lí hoạt động giáo dục quốc phòng và an ninh 40
1.5.2 Công tác tổ chức và chỉ đạo 40
1.5.3 Năng lực và tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ quản lí và giảng viên giảng dạy giáo dục quốc phòng và an ninh 41
1.5.4 Các mặt bảo đảm 41
Tiểu kết chương 1 42
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC QUỐC PHÕNG VÀ AN NINH CHO SINH VIÊN Ở CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC 43
2.1 Tổ chức khảo sát thực trạng 43
2.2 Khái quát về các trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh ở các cơ sở giáo dục đại học 45
2.3 Thực trạng hoạt động giáo dục quốc phòng và an ninh cho sinh viên ở các trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh 48
2.3.1 Công tác phân luồng liên kết đào tạo 48
2.3.2 Công tác tổ chức đào tạo 50
2.3.3 Công tác giáo dục và rèn luyện sinh viên 52
2.4 Thực trạng quản lí hoạt động giáo dục quốc phòng và an ninh cho sinh viên ở các trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh theo tiếp cận TQM 53
2.4.1 Nhận thức của cán bộ, giảng viên các trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh về quản lí chất lượng 54
2.4.2 Quản lí đầu vào giáo dục quốc phòng và an ninh 59
2.4.3 Quản lí quá trình giáo dục quốc phòng và an ninh 75
2.4.4 Quản lí đầu ra giáo dục quốc phòng và an ninh 84
2.5 Những yếu tố tác động đến quản lí hoạt động giáo dục quốc phòng và an ninh cho sinh viên theo tiếp cận TQM 90
2.5.1 Môi trường và cơ chế thực hiện 90
2.5.2 Ý thức và động lực thực hiện 91
2.5.3 Điều kiện và nguồn lực thực hiện 93
2.5.4 Môi trường văn hóa chất lượng 94
Tiểu kết chương 2 96
Trang 8viii
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC QUỐC PHÕNG VÀ
AN NINH CHO SINH VIÊN Ở CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC THEO TIẾP
CẬN QUẢN LÍ CHẤT LƯỢNG TỔNG THỂ 98
3.1 Định hướng hoạt động giáo dục quốc phòng và an ninh và các nguyên tắc đề xuất giải pháp 98
3.1.1 Định hướng hoạt động giáo dục quốc phòng và an ninh trong bối cảnh mới 98
3.1.2 Các nguyên tắc đề xuất biện pháp 100
3.2 Mô hình quản lí hoạt động giáo dục quốc phòng và an ninh cho sinh viên ở các cơ sở giáo dục đại học theo TQM 101
3.3 Các nhóm giải pháp quản lí hoạt động giáo dục quốc phòng và an ninh cho sinh viên ở các cơ sở giáo dục đại học theo tiếp cận TQM 103
3.3.1 Nhóm giải pháp chung 103
3.3.2 Nhóm giải pháp quản lí chất lượng đầu vào 115
3.3.3 Nhóm giải pháp quản lí chất lượng quá trình 128
3.3.4 Nhóm giải pháp quản lí chất lượng đầu ra 137
3.4 Khảo nghiệm tính cấp thiết và khả thi của các nhóm giải pháp 142
3.5 Nghiên cứu trường hợp điểm hình 150
Tiểu kết chương 3 155
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 156
DANH MỤC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU 160
TÀI LIỆU THAM KHẢO 161
PHỤ LỤC 168
Trang 9ix
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Ý kiến của cán bộ, giảng viên GDQPAN về ĐBCL 54 Bảng 2.2 Kết quả đánh giá của giảng viên về tầm quan trọng của sự “thúc đẩy” các trung tâm GDQPAN phải thực hiện ĐBCL 55 Bảng 2.3 Đánh giá của giảng viên và cán bộ quản lí về nhân lực thực hiện ĐBCL tại các trung tâm GDQPAN 55 Bảng 2.4 Kết quả đánh giá của sinh viên về mức độ quan tâm đến ĐBCL 56 Bảng 2.5 Đánh giá của giảng viên, cán bộ quản lí và sinh viên về thực hiện mục tiêu chất lượng GDQPAN 57 Bảng 2.6 Đánh giá của giảng viên, cán bộ về mức độ ĐBCL GDQPAN 58 Bảng 2.7 Kết quả đánh giá của sinh viên, giảng viên và cán bộ quản lí về công tác quản lí mục tiêu đào tạo của trung tâm GDQPAN 59 Bảng 2.8 Kết quả đánh giá của giảng viên, cán bộ quản lí và sinh viên về công tác quản lí chương trình, nội dung của trung tâm GDQPAN 63 Bảng 2.9 Kết quả đánh giá của giảng viên, cán bộ quản lí về công tác quản lí chất lượng giảng viên của trung tâm GDQPAN 68 Bảng 2.10 Kết quả đánh giá của giảng viên, cán bộ quản lí và sinh viên về công tác quản lí sinh viên của trung tâm GDQPAN 70 Bảng 2.11 Kết quả đánh giá của sinh viên và giảng viên, cán bộ quản lí về quản lí các điều kiện ĐBCL đầu vào của trung tâm GDQPAN 73 Bảng 2.12 Đánh giá của giảng viên, cán bộ và sinh viên về công tác quản lí chất lượng giảng dạy của giảng viên tại các trung tâm GDQPAN 76 Bảng 2.13 Đánh giá của giảng viên, cán bộ và sinh viên về công tác quản lí quá trình học tập và rèn luyện của sinh viên tại các trung tâm GDQPAN 79 Bảng 2.14 Kết quả đánh giá của giảng viên, cán bộ quản lí và sinh viên về công tác quản lí các hoạt động hỗ trợ, phục vụ của trung tâm GDQPAN 80 Bảng 2.15 Kết quả đánh giá của giảng viên, cán bộ quản lí và sinh viên về việc trang bị kiến thức cho sinh viên 85 Bảng 2.16 Kết quả đánh giá của giảng viên, cán bộ quản lí và sinh viên về việc trang bị kĩ năng quân sự cơ bản cho sinh viên 86 Bảng 2.17 Đánh giá mức độ chuyển biến nhận thức và hành động của sinh viên sau khi hoàn thành chương trình GDQPAN tại các trung tâm 87
Trang 10x
Bảng 2.18 Quan niệm của cán bộ, giảng viên GDQPAN về TQM 92 Bảng 3.1 Đánh giá của cán bộ, giảng viên về tính cấp thiết và khả thi các nhóm giải pháp quản lí hoạt động GDQPAN ở các CSGDĐH theo tiếp cận TQM 143 Bảng 3.2 Đánh giá của sinnh viên về tính cấp thiết và khả thi của các nhóm giải pháp quản
lí hoạt động GDQPAN ở các CSGDĐH theo tiếp cận TQM 144
Trang 11xi
DANH MỤC HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ
Hình 1.1 Các cấp độ quản lí chất lượng (Salis) 15
Hình 1.2 Cơ cấu tổ chức của trung tâm GDQPAN tại các CSGDĐH 25
Hình 1.3 Kiểm soát quá trình giáo dục quốc phòng và an ninh 36
Hình 1.4 Bốn giai đoạn vòng tuần hoàn PDCA 38
Hình 1.5 Tám bước vòng tuần hoàn PDCA 38
Biểu đồ 2.1 Tỉ lệ cán bộ, giảng viên tại các trung tâm GDQPAN 65
Biểu đồ 2.2 Tỉ lệ sinh viên được học tập tại các trung tâm GDQPAN 68
Hình 3.1 Mô hình quản lí hoạt động GDQPAN ở các trung tâm GDQPAN theo tiếp cận TQM 101
Hình 3.2 Mô hình văn hóa chất lượng của trung tâm GDQPAN 110
Hình 3.3 Mục tiêu GDQPAN cho sinh viên 116
Biểu đồ 3.1 Tính cấp thiết và khả thi của nhóm giải pháp chung 145
Biểu đồ 3.2 Tính cấp thiết và khả thi của nhóm giải pháp quản lí chất lượng đầu vào 146
Biểu đồ 3.3 Tính cấp thiết và khả thi của nhóm giải pháp quản lí chất lượng quá trình 147 Biểu đồ 3.4 Tính cấp thiết và khả thi của nhóm giải pháp quản lí chất lượng đầu ra 148
Biểu đồ 3.5 Sự khác biệt trong đánh giá của giảng viên và sinh viên về mức độ cấp thiết và khả thi của các nhóm giải pháp 149
Trang 12“diễn biến hoà bình” nhằm xoá bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, đưa cách mạng nước ta đi chệch hướng xã hội chủ nghĩa Các hành động xâm hại chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nước ta vẫn tiếp diễn dưới nhiều hình thức, với âm mưu, thủ đoạn hết sức tinh vi
Tư duy mới của Đảng ta về xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân trong giai đoạn hiện nay được thể hiện rõ ở việc tăng cường bồi dưỡng kiến thức QPAN, làm cho mọi người hiểu rõ những thách thức lớn tác động trực tiếp đến nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện mới Để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN với nội dung đã có sự phát triển mới, rộng lớn hơn, toàn diện hơn, việc bồi dưỡng kiến thức QPAN đòi hỏi một
hệ thống toàn diện hơn, kiến thức QPAN phải trở thành kiến thức thường trực trong mỗi tổ chức, mỗi con người hoạt động trên tất cả các lĩnh vực của đời sống
xã hội, trong đó cần chú trọng đến công tác giáo dục quốc phòng và an ninh cho học sinh, sinh viên trong nhà trường Ngày 10/7/2007, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 116/NĐ-CP về “Công tác quốc phòng an ninh” Nghị định chỉ rõ:
“Giáo dục quốc phòng-an ninh là bộ phận của nền giáo dục quốc dân, một nội dung cơ bản trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân; là môn học chính khoá trong chương trình giáo dục và đào tạo trung học phổ thông đến đại học và các trường chính trị, hành chính, đoàn thể…” [12, tr 27]
Sinh viên của các CSGDĐH là lực lượng hùng hậu, tiêu biểu cho thế hệ trẻ Việt Nam, để lực lượng này đảm đương được trọng trách chủ nhân tương
Trang 132
lai của đất nước, cùng với việc trang bị cho sinh viên những kiến thức về khoa học và công nghệ phải thường xuyên quan tâm giáo dục, bồi dưỡng tri thức về khoa học quân sự để sẵn sàng thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc, đặc biệt trong bối cảnh hiện nay Để công tác GDQPAN nói chung và GDQPAN cho sinh viên ở các CSGDĐH nói riêng được thực hiện chặt chẽ, thống nhất, sát với yêu cầu nhiệm vụ xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân trong tình hình mới, ngày 10/4/2012, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 412/QĐ-TTg về việc “Phê duyệt quy hoạch hệ thống trung tâm GDQPAN sinh viên ở các cơ sở giáo dục đại học giai đoạn 2011-2015” để trực tiếp thực hiện nhiệm vụ GDQPAN cho sinh viên ở các CSGDĐH Sự ra đời của các trung tâm GDQPAN đã kịp thời khắc phục được những bất cập của mô hình bộ môn, khoa giáo dục quốc phòng ở các CSGDĐH Mô hình quản lí, giáo dục và rèn luyện tập trung đã làm cho công tác GDQPAN được thực hiện nền nếp, chính quy hơn, đưa sinh viên vào sát môi trường quân đội, kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục với rèn luyện, từ đó chất lượng công tác GDQPAN được nâng lên Bên cạnh những mặt
đã làm được, hoạt động GDQPAN vẫn còn tồn tại nhiều mặt hạn chế như kết quả GDQPAN vẫn chưa đáp ứng được mục tiêu, yêu cầu đề ra, chất lượng giáo dục và rèn luyện chưa thực sự đáp ứng được sự mong đợi, sự hài lòng của người học Đặc biệt các CSGDĐH chưa thấy rõ được hiệu quả, sự chuyển biến tích cực trong nhận thức và hành động của sinh viên sau khi kết thúc chương trình học tập GDQPAN, chất lượng đào tạo giáo viên GDQPAN còn nhiều hạn chế Một trong những nguyên nhân dẫn đến những hạn chế trên là công tác quản lí hoạt động GDQPAN ở các trung tâm GDQPAN chậm đổi mới, thiếu đồng bộ, còn nặng về quản lí hành chính, chưa đặt mục tiêu chất lượng lên hàng đầu, chưa theo kịp với thực tiễn, nhu cầu phát triển của xã hội và yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Qua nghiên cứu cho thấy, công tác quản lí hoạt động GDQPAN cho sinh viên ở các trung tâm GDQPAN hiện nay chủ yếu dựa trên cơ sở thực hiện các chức năng quản
lí Với tiếp cận này có ưu điểm là giúp các trung tâm GDQPAN dễ dàng xây dựng được kế hoạch để thực hiện mục tiêu đã định sẵn, có thể hình dung ra sản phẩm đạt được trên cơ sở các nguồn lực hiện có Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển xã hội nói chung và đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp phát triển giáo dục nói riêng, cách tiếp cận chức năng khó thích ứng được với đòi hỏi thực tiễn đặt ra
Trang 142 Mục đích nghiên cứu
Xây dựng luận cứ khoa học về quản lí hoạt động GDQPAN theo tiếp cận TQM Trên cơ sở đánh giá đúng thực trạng quản lí hoạt động GDQPAN cho sinh viên hiện nay, tác giả đề xuất mô hình quản lí và các giải pháp quản lí hoạt động GDQPAN cho sinh viên ở các CSGDĐH theo tiếp cận TQM nhằm góp phần nâng cao chất lượng công tác giáo dục đào tạo ở các CSGDĐH trong bối cảnh hiện nay
3 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động GDQPAN cho sinh viên ở các CSGDĐH
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Quản lí hoạt động GDQPAN cho sinh viên ở các các CSGDĐH theo tiếp cận TQM
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 154
- Khái quát những vấn đề lí luận về quản lí, hoạt động GDQPAN cho sinh viên, TQM và quản lí hoạt động GDQPAN cho sinh viên ở các CSGDĐH theo tiếp cận TQM
- Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lí hoạt động GDQPAN cho sinh viên
- Về nội dung: các luận cứ khoa học về quản lí hoạt động GDQPAN cho sinh viên ở các trung tâm GDQPAN theo tiếp cận TQM như một triết lí; khảo sát, đánh giá thực trạng quản lí và đề xuất các giải pháp quản lí hoạt động GDQPAN cho sinh viên ở các trung tâm GDQPAN theo tiếp cận TQM
6 Câu hỏi nghiên cứu
- Phải chăng, một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến chất lượng GDQPAN cho sinh viên hiện nay còn nhiều hạn chế là do công tác quản lí của các trung tâm GDQPAN còn nhiều bất cập, chưa theo kịp đòi hỏi thực tiễn?
- GDQPAN cho sinh viên hiện nay đã đáp ứng được nhu cầu của sinh viên, các CSGDĐH và xã hội hay chưa?
- Tiếp cận TQM trong quản lí hoạt động GDQPAN cho sinh viên ở các CSGDĐH có phải là tiếp cận phù hợp nhất không?
- Những nhóm giải pháp nào có thể vận dụng trong quản lí hoạt động GDQPAN cho sinh viên ở các trung tâm GDQPAN theo tiếp cận TQM?
7 Giả thuyết khoa học và luận điểm bảo vệ
7.1 Giả thuyết khoa học
- Nếu công tác quản lí hoạt động GDQPAN ở các CSGDĐH không đổi mới thì không thể nâng cao được chất lượng GDQPAN cho sinh viên
Trang 165
- Nếu các trung tâm GDQPAN vận dụng tốt mô hình quản lí hoạt động GDQPAN mà tác giả đề xuất sẽ nâng cao được chất lượng, hiệu quả công tác quản lí GDQPAN cho sinh viên
- Nếu các trung tâm GDQPAN thực hiện được các nhóm giải pháp quản lí theo tiếp cận TQM thì sẽ nâng cao được chất lượng GDQPAN cho sinh viên
7.2 Luận điểm bảo vệ
- GDQPAN cho sinh viên ở các CSGDĐH hiện nay còn nhiều bất cập là
do công tác quản lí còn cứng nhắc, mệnh lệnh, chậm đổi mới, thiếu đồng bộ, chưa theo kịp với thực tiễn và nhu cầu phát triển của xã hội
- GDQPAN cho sinh viên hiện nay chưa thực sự đáp ứng tốt nhu cầu, sự mong đợi của sinh viên, các CSGDĐH và xã hội
- Xây dựng được ý thức và động lực thực hiện TQM, và văn hóa chất lượng và huy động mọi thành viên cùng tham gia quản lí sẽ trực tiếp nâng cao được chất lượng GDQPAN cho sinh viên
- Để nâng cao chất lượng GDQPAN cho sinh, các trung tâm GDQPAN phải quản lí tốt chất lượng đầu vào, quá trình và chất lượng đầu ra
8 Phương pháp nghiên cứu
8.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
- Thu thập, tổng hợp và phân tích các nguồn tư liệu, số liệu có liên quan đến
đề tài gồm Luật giáo dục, Luật giáo dục Đại học; Luật giáo dục quốc phòng và an ninh; Các Nghị quyết của Đảng, các văn bản pháp qui của Nhà nước, Bộ Giáo dục
và Đào tạo, Bộ Quốc phòng quy định về công tác GDQPAN ở các CSGDĐH để xây dựng khung pháp lí cho luận án
- Nghiên cứu các sách chuyên khảo, tài liệu, công trình nghiên cứu của các nhà khoa học về giáo dục, quốc phòng và an ninh trong nước và nước ngoài, lí luận quản lí, quản lí chất lượng tổng thể; quản lí hoạt động GDQPAN theo tiếp cận quản
lí chất lượng tổng thể; hệ thống ĐBCL … để xây dựng khung lí luận cho luận án
8.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Nghiên cứu cơ chế, tổ chức bộ máy quản lí, hệ thống quản lí chất lượng GDQPAN nhằm đánh giá đúng thực trạng việc quản lí hoạt động GDQPAN ở các trung tâm GDQPAN
Trang 176
- Phỏng vấn và khảo sát bằng phiếu hỏi với chuyên gia, cán bộ quản lí các trung tâm GDQPAN và các CSGDĐH, giảng viên, cán bộ quản lí và sinh viên
8.3 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn hỗ trợ
Sử dụng phương pháp thống kê toán học bằng phần mềm thống kê SPSS
để xử lí số liệu khảo sát thực trạng và kết quả nghiên cứu; phân tích, qui nạp
9 Đóng góp mới của luận án
- Về lí luận, cung cấp những luận cứ khoa học, đề xuất được mô hình quản lí hoạt động GDQPAN ở các CSGDĐH theo tiếp cận TQM
- Về thực tiễn, đề xuất những giải pháp quản hoạt động GDQPAN ở các CSGDĐH theo tiếp cận quản lí chất lượng tổng thể
Những luận cứ khoa học và thực tiễn được trình bày trong nghiên cứu này
có thể được sử dụng làm tài liệu nghiên cứu, quản lí và dạy học GDQPAN; kết luận và khuyến nghị có thể được tham khảo và triển khai áp dụng tại các CSGDĐH trên phạm vi cả nước
10 Cấu trúc luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo
và phụ lục, luận án được trình bày trong 3 chương, 13 tiết
Chương 1: Cơ sở lí luận về quản lí hoạt động giáo dục quốc phòng và an ninh cho sinh viên ở các cơ sở giáo dục đại học theo tiếp cận quản lí chất lượng tổng thể
Chương 2: Thực trạng quản lí hoạt động giáo dục quốc phòng và an ninh cho sinh viên ở các cơ sở giáo dục đại học
Chương 3: Giải pháp quản lí hoạt động giáo dục quốc phòng và an ninh cho sinh viên ở các cơ sở giáo dục đại học theo tiếp cận quản lí chất lượng tổng thể
Trang 187
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC QUỐC PHÕNG
VÀ AN NINH CHO SINH VIÊN Ở CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC
THEO TIẾP CẬN QUẢN LÍ CHẤT LƯỢNG TỔNG THỂ
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài
Các nghiên cứu về lí luận GDQP cho sinh viên: Giáo dục đại học mỗi nước đều có những điểm khác biệt, nhất là GDQPAN cho sinh viên các CSGDĐH Trung Quốc là một trong những quốc gia có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam và rất chú trọng công tác HLQS cho sinh viên Tác giả Trương Kiện Minh-Cao Diễm Tịnh đã chỉ rõ những vấn đề tồn tại chủ yếu trong HLQS như cơ sở bảo đảm thiếu vững chắc; cơ cấu tổ chức chưa được kiện toàn; cán bộ HLQS yếu kém; cơ chế quản lí không phù hợp; mâu thuẫn giữa thời gian và nội dung HLQS; dạy học môn
lí luận quân sự yếu; phương pháp HLQS lạc hậu; công tác đảm bảo hậu cần không đáp ứng được yêu cầu; thiếu biện pháp tư tưởng và tâm lí cho sinh viên Trên cơ sở phân tích toàn diện những vấn đề còn tồn tại, tác giả đã chỉ ra phương hướng giải quyết gồm xây dựng hệ thống đảm bảo hiệu quả; đổi mới mô hình HLQS; tăng cường quản lí dạy học; tích cực triển khai việc tác động tư tưởng, tâm lí tới sinh viên; xây dựng cơ chế hiệu quả lâu dài, đảm bảo công tác HLQS [69]
Tổng kết thực tiễn công tác quản lí GDQPAN cho sinh viên ở các CSGDĐH nước ngoài cho thấy, GDQPAN đều được quản lí chặt chẽ thông qua
hệ thống văn bản pháp luật và GDQPAN cho sinh viên đều được tổ chức thực hiện tại các trung tâm GDQP Tại Malaixia, với hệ thống hơn 40 trung tâm GDQP, hàng năm, sinh viên được tổ chức học tập tập trung tại các trung tâm GDQP với thời gian 3 tháng do giảng viên các CSGDĐH và sĩ quan quân đội đảm nhiệm Ở Singapo, thanh niên từ 18 đến 25 tuổi được tập trung tại các trung tâm GDQP để học GDQP với thời gian 3 tháng Ở Hàn Quốc, Nam giới trong độ tuổi từ 18 đến
25 tuổi bắt buộc phải thực hiện nghĩa vụ quân sự tại các đơn vị quân đội, tại đây, sinh viên được trang bị kiến thức phần thực hành về quân sự, thời gian huấn luyện
là 3 tháng Hệ thống GDQP ở Cộng hòa Pháp có một số trường trực thuộc Chính phủ, một số trường trực thuộc Bộ Giáo dục, số khác trực thuộc Bộ Quốc phòng Nội dung giáo dục rộng, bao quát nhiều lĩnh vực, từ chiến lược quốc phòng, chính
Trang 198
sách quốc phòng, đến kinh tế quân sự phát triển công nghiệp quốc phòng Từ năm
1958, Mỹ đã đưa GDQP vào trong các loại hình giáo dục trong đó giáo dục chủ nghĩa yêu nước là nội dung cốt lõi của GDQP cho sinh viên ở các CSGDĐH
Các nghiên cứu về TQM: các nghiên cứu về chất lượng và quản lí chất lượng luôn là vấn đề được nhiều học giả quan tâm Deming đưa ra ý tưởng về ĐBCL và chất lượng tổng thể vào những năm 30 Tư duy về quản lí chất lượng hiện đại đã có những bước phát triển từ các quan điểm, mô hình kiểm soát chất lượng, ĐBCL đến quan điểm và mô hình TQM Trong quá trình phát triển lí luận quản lí chất lượng, Deming, Juran, Crosby đã có những đóng góp to lớn Tuy nhiên, chưa ai trong số họ đã đi sâu và quan tâm thỏa đáng đối với vấn đề áp dụng trong giáo dục Song những cống hiến to lớn của họ không chỉ đặt nền móng cho phong trào chất lượng nói chung mà có nhiều điều có thể vận dụng vào trong lĩnh vực giáo dục
Các nghiên cứu về TQM áp dụng trong lĩnh vực giáo dục: cùng với xu thế tự chủ, đặc biệt là tự chủ tài chính trong giáo dục, các nghiên cứu về TQM của học giả Trung Quốc đã tiến một bước mới trong nghiên cứu ứng dụng ở từng mảng, từng lĩnh vực quản lí giáo dục Một trong những công trình nghiên cứu về TQM điển hình là tác phẩm “Mô hình quản lí chất lượng giáo dục đại học trên cơ sở quản lí chất lượng tổng thể” của Vương Chương Báo, ông đã đề cập một cách sâu rộng về các vấn đề như ý tưởng quản lí, mô hình quản lí, phương pháp quản lí để nâng cao chất lượng giáo dục đại học trên cơ sở TQM Ông đã căn cứ vào đặc điểm và quy luật tự thân của quá trình giáo dục đại học và đưa ra mô hình “7 tổng thể” của quản
lí chất lượng giáo dục đại học trên cơ sở TQM một cách sáng tạo Cụ thể là quan điểm chất lượng giáo dục toàn diện; tiêu chuẩn chất lượng giáo dục toàn diện; quản
lí chất lượng giáo dục mọi thành viên; quản lí chất lượng giáo dục suốt quá trình; quản lí chất lượng giáo dục mọi yếu tố; giám sát chất lượng giáo dục mọi phương diện và phương pháp quản lí giáo dục toàn diện
Phan Trạch Hằng (2013) chỉ rõ, quá trình sản xuất của doanh nghiệp và quá trình đào tạo nhân lực của các cơ sở giáo dục đại học có sự khác biệt về bản chất Đồng thời ông chỉ rõ, TQM ứng dụng trong quản lí chất lượng giáo dục đại học chưa có hiệu quả là do thiếu hệ thống lí luận ứng dụng trong giáo dục đại học, thiếu môi trường, cơ chế thực hiện TQM [65]
Trang 209
Khổng Hiểu Đông cho rằng, hệ thống ĐBCL dạy học là bộ phận quan trọng của hệ thống ĐBCL giáo dục trong các trường đại học Hệ thống ĐBCL dạy học dưới sự quản lí chất lượng tổng thể là cơ chế cải tiến và nâng cao chất lượng dạy học liên tục dưới tác động của lí luận TQM [63]
1.1.2 Các công trình nghiên cứu ở trong nước
Các nghiên cứu về GDQPAN: GDQPAN là chủ trương xuyên suốt, có ý nghĩa chiến lược của Đảng và Nhà nước ta Đặc biệt những năm gần đây, công tác GDQPAN đã được đề cập nhiều trong các văn kiện, chỉ thị, nghị quyết của Đảng; các văn bản pháp luật của Quốc hội, quy định, của Nhà nước, nghị định của Chính phủ Cùng với đó, đã có nhiều công trình nghiên cứu về GDQPAN, tiêu biểu như Nguyễn Bá Dương (2009), “Tư duy lí luận của Đảng ta về đổi mới giáo dục quốc phòng trong tình hình hiện nay”, tác giả đã làm rõ tính tất yếu khách quan và thước đo giá trị đổi mới GDQP, đồng thời nêu ra quan điểm và giải pháp hiện thực hóa tư duy lí luận của Đảng ta về đổi mới GDQP trong tình hình mới; Trần Hồng Hải (2011), “Công tác giáo dục quốc phòng-an ninh cho học sinh, sinh viên trong tình hình mới”; Phạm Xuân Hảo (2006), “Đổi mới, nâng cao giáo dục quốc phòng toàn dân trong thời kì mới”; Nguyễn Minh Hiển (2008), “Giáo dục quốc phòng-an ninh cho học sinh, sinh viên -Một nội dung quan trọng của giáo dục, đào tạo trong thời kì mới”; Đức Giang, Quốc Ân (2010),
“Giáo dục quốc phòng một số nước”; Dương Phương Hưng (2008), “Giáo dục quốc phòng cho sinh viên, học sinh ở Trung tâm giáo dục quốc phòng Thái Nguyên”; … Các nghiên cứu trên tuy tiếp cận ở các giác độ khác nhau song đều khẳng định vị trí, vai trò của công tác GDQPAN trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, qua đó đã làm rõ nội dung, cách thức tiến hành công tác GDQPAN, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay
Các nghiên cứu về TQM trong giáo dục đại học: trong hoạt động giáo dục, cùng với quá trình phát triển mang tính bùng nổ về mạng lưới và quy mô giáo dục đại học, đặc biệt trong những năm gần đây, vấn đề chất lượng và quản lí chất lượng giáo dục đại học luôn là vấn đề nóng, được sự quan tâm của toàn xã hội và của nhiều học giả, nhà nghiên cứu về giáo dục đại học Các nghiên cứu về TQM
đã bước đầu được triển khai áp dụng, tiêu biểu như công trình nghiên cứu Nguyễn Đức Chính và các cộng sự về kiểm định chất lượng và quản lí chất
Trang 2110
lượng giáo dục, kết quả nghiên cứu chỉ rõ sự phù hợp của TQM với các điều kiện đặc thù của giáo dục Việt Nam Trần Kiểm cho rằng, với tiếp cận TQM, nguyên tắc bảo đảm chức năng của từng người, từng bộ phận là nguyên tắc cần thiết để có được sự hợp tác và cam kết trách nhiệm [48] Vận dụng tiếp cận TQM để đưa ra các giải pháp quản lí hoạt động của nhà trường cũng được lựa chọn là đề tài nghiên cứu của nhiều nghiên cứu sinh
Qua nghiên cứu cho thấy, đã có nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về GDQPAN và TQM Tuy tiếp cận ở các giác độ khác nhau, song các nghiên cứu đều khẳng định rõ vị trí, vai trò của công tác GDQPAN trong xây dựng tiềm lực, thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân và chiến lược bảo
vệ Tổ quốc trong tình hình mới, qua đó các tác giả đã làm rõ được một số vấn đề
cơ bản về lí luận và thực tiễn của hoạt động GDQPAN, đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng GDQPAN cho các đối tượng Cùng với đó, các nghiên cứu
về TQM đều khẳng định quản lí chất lượng tổng thể không chỉ áp dụng trong sản xuất, kinh doanh mà còn áp dụng hiệu quả trong lĩnh vực giáo dục TQM trong giáo dục là triết lí về sự cải tiến liên tục, có khả năng cung cấp cho mọi cơ sở giáo dục một hệ thống công cụ thiết thực nhằm đáp ứng và thỏa mãn vượt mức các nhu cầu, mong muốn và hi vọng của khách hàng tương lai Đến nay, chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập và đi sâu nghiên cứu về quản lí hoạt động GDQPAN ở các CSGDĐH theo tiếp cận quản lí chất lượng tổng thể Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu trên là cơ sở quan trọng, góp phần cung cấp thêm những tư liệu cần thiết để bổ sung và hoàn thiện nghiên cứu của tác giả
1.2 Những khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1 Quản lí
Trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, con người muốn tồn tại và phát triển đều phải dựa vào sự nỗ lực của cá nhân, của tổ chức, từ một nhóm nhỏ đến phạm vi rộng lớn ở đều phải thừa nhận và chịu một sự quản lí nào đó Nhờ
có quản lí mà các nỗ lực của cá nhân và tổ chức có thể đạt được mục tiêu đề ra
Tác giả Trần Kiểm cho rằng: "Quản lí là những tác động có định hướng,
có kế hoạch của chủ thể quản lí đến đối tượng bị quản lí trong tổ chức để vận hành tổ chức, nhằm đạt mục đích nhất định" [47, tr 722]
Trang 2211
H.Koontz khẳng định: “Quản lí là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực hoạt động cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm (tổ chức) Mục tiêu của quản lí là hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất”[45]
Theo những định nghĩa kinh điển nhất, hoạt động quản lí là các tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lí (người quản lí) đến khách thể quản lí (người bị quản lí) trong một tổ chức, nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục tiêu của tổ chức Hiện nay, hoạt động quản lí được định nghĩa rõ hơn: “Quản
lí là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động
(chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra” [9, tr.9]
Theo tiếp cận khác nhau mà có nhiều quan niệm khác nhau về quản lí Song, điểm chung của các quan niệm này là đều khẳng định chủ thể, đối tượng quản lí, nội dung, phương thức và mục đích của quá trình quản lí Từ các quan niệm của các học giả trên, có thể khái quát “Quản lí là hoạt động có ý thức của con người nhằm định hướng, tổ chức, sử dụng các nguồn lực và phối hợp hành động của một nhóm người hay một cộng đồng người để đạt được các mục tiêu đề
ra một cách hiệu quả nhất” Đây là nền tảng tư tưởng để định hướng hoạt động cho các nhà quản lí, đảm bảo đem lại hiệu cao nhất trong công tác quản lí
1.2.2 Quản lí hoạt động giáo dục quốc phòng và an ninh
GDQPAN cho sinh viên tại các CSGDĐH là hoạt động có tính đặc thù, theo đó, quản lí hoạt động GDQPAN cũng phải có cơ chế quản lí mang tính đặc thù Bộ GD&ĐT là cơ quan quản lí nhà nước về công tác giáo dục và đào tạo,
Bộ giao Vụ GDQP chỉ đạo, quản lí hoạt động GDQPAN đối với tất cả các CSGDĐH Tuy nhiên, khác với các môn học khác, GDQPAN cho sinh viên ở các CSGDĐH đồng thời chịu sự chỉ đạo, quản lí về chuyên môn trực tiếp của Bộ quốc phòng Để đảm bảo sự thống nhất trong chỉ đạo và quản lí hoạt động GDQPAN từ trung ương xuống cơ sở, ngày 16.10.2007, Thủ tướng Chính phủ
đã kí Quyết định số 1404/QĐ-TTg về việc thành lập Hội đồng GDQPAN trung ương, theo đó, tổ chức bộ máy quản lí hoạt động GDQPAN được thành lập từ trung ương xuống cơ sở bao gồm Hội đồng GDQPAN trung ương, Hội đồng GDQPAN quân khu, Hội đồng GDQPAN cấp tỉnh và ban chỉ huy quân sự cấp
Trang 23Từ cơ sở pháp lí và thực tiễn quản lí hoạt động GDQPAN những năm qua
có thể quan niệm “Quản lí hoạt động GDQPAN là những tác động có ý thức, có
mục đích và có hệ thống, kế hoạch của chủ thể quản lí đến tất cả các khâu của
hệ thống(từ trung ương đến cơ sở) nhằm thực hiện có chất lượng, có hiệu quả mục tiêu GDQPAN, đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục và nhiệm vụ QPAN trong tình hình mới”
1.2.3 Chất lượng và quản lí chất lượng
1.2.3.1 Chất lượng
Khái niệm về chất lượng hiện nay còn tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau
Thuật ngữ “Chất lượng” phản ánh thuộc tính đặc trưng, giá trị, bản chất của sự vật và tạo nên sự khác biệt (về chất) giữa sự vật này và sự vật khác
Theo Đại từ điển Tiếng Việt : “chất lượng: 1 cái làm nên phẩm chất, giá
trị của con người, sự vật; 2 cái tạo nên bản chất sự vật, làm cho sự vật này khác với sự vật kia” [17, tr 331]
Khái niệm về chất lượng được dùng cho cả ý nghĩa chất lượng tuyệt đối
và chất lượng tương đối Chất lượng tuyệt đối với ý nghĩa chất lượng hàng đầu, chất lượng cao Chất lượng tuyệt đối dùng để chỉ một số thuộc tính mà người ta gán cho đồ vật, sản phẩm, dịch vụ Theo quan điểm này, thì một đồ vật, một sản phẩm hay một dịch vụ, được xem là có chất lượng khi nó đáp ứng được những thỏa mãn của người tiêu thụ và những yêu cầu của người sản xuất đặt ra
Trang 2413
Theo tiêu chuẩn chất lượng Việt Nam: “Chất lượng là tập hợp các đặc tính của một thực tế (đối tượng) tạo cho thực tế (đối tượng) đó khả năng thỏa mãn những nhu cầu đã nêu ra hoặc nhu cầu tiềm ẩn” (TCVN -ISO 8402)
Theo Tổ chức Tiêu chuẩn hoá Quốc tế, Điều 3.1.1 của tiêu chuẩn ISO 9000:2005 nêu rõ chất lượng là: "Mức độ đáp ứng các yêu cầu của một tập hợp
có đặc tính vốn có"
Trong mỗi lĩnh vực khác nhau, với mục đích khác nhau nên có nhiều quan
điểm về chất lượng khác nhau Tác giả cho rằng “Chất lượng là sự phù hợp với
mục tiêu” là một định nghĩa phù hợp nhất đối với giáo dục đại học nói chung và
GDQPAN nói riêng
1.2.3.2 Chất lượng giáo dục đại học
Cũng như khái niệm chất lượng, khái niệm chất lượng giáo dục đại học còn có nhiều quan điểm khác nhau Theo Nguyễn Đức Chính, hiện nay trên thế giới có sáu quan điểm về chất lượng giáo dục đại học như sau:
(1) Chất lượng được đánh giá “đầu vào”: Theo quan điểm này, một trường
ĐH có chất lượng cao nếu tuyển được nhiều sinh viên giỏi, có đội ngũ cán bộ giảng dạy có uy tín, có cơ sở vật chất tốt và trang thiết bị hiện đại
(2) Chất lượng được đánh giá “đầu ra”: Trường đại học có chất lượng cao nếu đào tạo được nhiều sinh viên tốt nghiệp giỏi, thực hiện được nhiều công trình khoa học có giá trị, nhiều khóa học thu hút người học
(3) Chất lượng được đánh giá bằng “giá trị gia tăng”: Trường đại học có chất lượng cao nếu tạo được sự khác biệt lớn trong sự phát triển về trí tuệ và cá nhân sinh viên sau quá trình đào tạo tại trường
(4) Chất lượng được đánh giá bằng “giá trị học thuật”: Trường đại học có chất lượng cao nếu có được đội ngũ cán bộ giảng dạy, các nhà khoa học có uy tín lớn
(5) Chất lượng được đánh giá bằng “văn hoá tổ chức riêng”: Trường ĐH
có chất lượng cao nếu có được một truyền thống tốt đẹp về hoạt động không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo
(6) Chất lượng được đánh giá bằng “kiểm toán”: Trường đại học có chất lượng cao nếu kết quả kiểm toán chất lượng cho thấy nhà trường có thu thập đủ thông tin cần thiết và những người ra các quyết định về có đủ thông tin cần thiết,
Trang 2514
sự hợp lý và hiệu quả của quá trình thực hiện các quyết định về chất lượng
Trên cơ sở phân tích sáu quan điểm nêu trên, tác giả Nguyễn Đức Chính nêu rõ “chất lượng là một khái niệm tương đối, động, đa chiều” và “chất lượng là
sự phù hợp với mục đích - hay đạt được các mục đích đề ra trước đó” [10]
Harvey và Green đề cập đến năm khía cạnh chất lượng giáo dục đại học
và đã được nhiều tác giả khác thảo luận, công nhận và phát triển: Chất lượng là
sự vượt trội (hay sự xuất sắc); Chất lượng là sự hoàn hảo (kết quả hoàn thiện, không có sai sót); Chất lượng là sự phù hợp với mục tiêu (đáp ứng nhu cầu khách hàng); Chất lượng là sự đáng giá về đồng tiền (trên khía cạnh đáng giá để đầu tư); Chất lượng là sự chuyển đổi (sự chuyển đổi từ trạng thái này sang trạng thái khác) [32, tr 131]
Kết luận của hội thảo “ĐBCL trong giáo dục đại học Việt Nam” do Văn phòng khu vực Châu Á Thái Bình Dương, UNESCO và Viện nghiên cứu phát triển giáo dục phối hợp với tổ chức từ 04-06/4/2000 tại Đà Lạt đã kết luận xung quanh khái niệm chất lượng, tồn tại 2 cách tiếp cận đó là tiếp cận theo mục tiêu giáo dục, coi chất lượng là mức độ trùng khớp với mục tiêu và tiếp cận theo nhu cầu xã hội, coi chất lượng là mức độ đáp ứng nhu cầu xã hội
Với tiếp cận khác nhau, chất lượng giáo dục đại học được đề cập dưới các giác độ khác nhau Tác giả cho rằng “Chất lượng giáo dục đại học được hiểu theo nghĩa của một quá trình giáo dục, có thể đảm bảo cho sinh viên đạt được mục tiêu của chương trình, đáp ứng được nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho sự phát triển của đất nước”
1.2.3.3 Quản lí chất lượng
Ý tưởng về bảo đảm chất lượng và chất lượng tổng thể bắt đầu hình thành vào những năm 30 của thế kỉ XX do Deming khởi xướng Tư duy về quản lí chất lượng hiện đại đã có những bước phát triển từ các quan điểm mô hình kiểm soát chất lượng, ĐBCL đến mô hình TQM Đến nay, có nhiều định nghĩa về chất lượng Theo tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hóa: “Quản lí chất lượng là tập hợp các hoạt động có chức năng quản lí chung nhằm xác định chính sách chất lượng, mục đích chất lượng và thực hiện chúng bằng những phương tiện như lập kế hoạch, điều chỉnh chất lượng, ĐBCL, cải tiến chất lượng trong khuôn khổ một
hệ thống chất lượng”
Trang 2615
A.V.Feigenbaun cho rằng, quản lí chất lượng sản phẩm là một hoạt động
thống nhất, có hiệu quả của các bộ phận khác nhau trong một tổ chức, một đơn
vị kinh tế chịu trách nhiệm triển khai các tham số chất lượng, duy trì mức chất
lượng đã đạt được và nâng cao nó để đảm bảo sản xuất và tiêu dùng sản phẩm
một cách kinh tế nhất thỏa mãn yêu cầu của người tiêu dùng
Theo A.G.Robertson nhà quản lí người Anh: Quản lí chất lượng sản phẩm
là ứng dụng các biện pháp, thủ tục, kiến thức kinh tế, kỹ thuật đảm bảo cho sản
phẩm đang hoặc sẽ được sản xuất phù hợp với thiết kế, các yêu cầu trong hợp
đồng kinh tế bằng con đường hiệu quả nhất, kinh tế nhất
Juran cho rằng trong quản lí chất lượng, điều có ý nghĩa đặc biệt quan trọng
là phải đáp ứng những yêu cầu đặc thù của khách hàng và nó phải được đáp ứng
thường xuyên (hay nói cách khác là mô hình quản lí hướng vào khách hàng)
Theo quan điểm của tác giả, khái niệm quản lí chất lượng phù hợp hơn cả là
“Quản lí chất lượng là quá trình thiết kế các tiêu chuẩn và duy trì các cơ chế ĐBCL
để sản phẩm hay dịch vụ đạt được các tiêu chuẩn xác định”
1.2.3.4 Cấp độ quản lí chất lượng
Theo Sallis (1993), có 3 cấp độ của quản lí chất lượng đó là: Kiểm soát
chất lượng; Bảo đảm chất lượng và Quản lí chất lượng tổng thể, có thể khái quát
cấp độ quản lí chất lượng theo sơ đồ sau:
Hình 1.1 Các cấp độ quản lí chất lượng (Salis)
loại bỏ
TQM: QA và cải tiến liên tục, văn hóa chất lượng
KIỂM SOÁT CHẤT LƢỢNG
Quality Control
BẢO ĐẢM CHẤT LƢỢNG
Quality assurance:
QA
QUẢN LÍ CHẤT LƢỢNG TỔNG THỂ
Total Quality Management
TQM
Trang 2716
a) Kiểm soát chất lượng
Kiểm soát chất lượng (Quality Control) là thuật ngữ lâu đời nhất về mặt lịch
sử, bao gồm việc kiểm tra và loại bỏ phế phẩm ở công đoạn cuối của quá trình tạo
ra sản phẩm nếu không thoả mãn các tiêu chuẩn đã đề ra cho sản phẩm Nó là công đoạn xảy ra sau cùng khi sản phẩm đó được làm xong, có liên quan tới việc loại bỏ hoặc từ chối những sản phẩm có lỗi Việc làm này thường kéo theo lãng phí tương đối lớn vì phải loại bỏ hay làm lại các sản phẩm không đạt yêu cầu Trong GD&ĐT, với quan niệm chất lượng sản phẩm gắn với quá trình GD&ĐT nên kiểm soát chất lượng khó phù hợp và ít được chấp nhận trong môi trường GD&ĐT Điều này là do trong giáo dục, khó có thể định nghĩa thế nào là chất lượng, vì vậy khái niê ̣m “loa ̣i
bỏ” thường không sử du ̣ng đối với sản phẩm GD&ĐT
b) Bảo đảm chất lượng
ĐBCL (Quality Assurance) là quá trình xảy ra trước và trong khi thực hiện nhằm phòng chống những sai phạm có thể xảy ra ngay từ bước đầu tiên đến bước cuối cùng, theo những tiêu chuẩn nghiêm ngặt, đảm bảo không có sai phạm trong bất kì khâu nào
Theo tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 5814: “Bảo đảm chất lượng là toàn bộ hoạt động có kế hoạch và hệ thống được tiến hành trong hệ chất lượng và được chứng minh là đủ mức cần thiết để tạo sự tin tưởng thỏa đáng rằng thực thể (đối tượng) sẽ thoả mãn đầy đủ các yêu cầu chất lượng” Bảo đảm chất lượng là quá trình quản lí chất lượng trong đó coi trọng phòng ngừa trước và trong quá trình tạo
ra sản phẩm Ở đây, các chuẩn mực và quy trình thực hiện chất lượng được xây
dựng và thực hiện chủ yếu bởi cơ sở giáo dục, nơi trực tiếp tạo ra sản phẩm giáo dục; cơ quan bên ngoài đóng vai trò hỗ trợ, giám sát và tổ chức kiểm định, vai trò của cấp trên hoặc bên ngoài chỉ có tính chất định hướng và hỗ trợ Với các cơ sở giáo dục có quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm cao, mức độ quản lí chất lượng này
sẽ phát huy tác dụng Mức độ ĐBCL phù hợp với xu hướng phi tập trung hoá, tăng cường phân cấp quản lí giáo dục, đề cao tính tự chủ và tự chịu trách nhiệm của các
cơ sở đào tạo nói chung và trong chất lượng đào tạo nói riêng Việc chuyển sang mức độ ĐBCL là một bước tiến lớn về quản lí chất lượng đào tạo cả ở cấp vi mô (nhà trường) và cấp vĩ mô (quản lí nhà nước)
Trang 2817
c) Quản lí chất lượng tổng thể
Khái niệm “Quản lí chất lượng tổng thể” được A.V Feigenbaum đưa ra từ đầu những năm 50 của thế kỉ XX, ông cho rằng "TQM là một hệ thống hữu hiệu nhằm thống nhất những nỗ lực của nhiều cá nhân, tổ nhóm trong một tổ chức để triển khai chất lượng, duy trì chất lượng và cải tiến chất lượng, áp dụng khoa học-kỹ thuật vào sản xuất và cung ứng dịch vụ một cách tốt nhất, nhằm thỏa mãn hòan toàn các yêu cầu của khách hàng" Cuối thập niên 50 của thế kỉ XX, chuyên gia Juran đưa ra khái niệm “Quản lí chất lượng tổng thể” là sản xuất và cung cấp dịch vụ trong điều kiện kinh tế và xem xét đầy đủ đến việc đáp ứng yêu cầu của khách hàng, đưa các hoạt động nghiên cứu chất lượng, duy trì chất lượng, nâng cao chất lượng trở thành một hệ thống thống nhất hiệu quả
Theo tổ chức tiêu chuẩn quốc tế ISO, quản lí chất lượng tổng thể là con đường lấy chất lượng làm trung tâm, lấy sự tham gia của tất cả các thành viên làm nền tảng với mục đích là làm hài lòng khách hàng, làm lợi cho các thành viên trong tổ chức và xã hội để đạt được sự thành công lâu dài
Các khái niệm trên đều nhất quán cho rằng TQM là một phương thức quản
lí mà tổ chức lấy chất lượng làm trung tâm, lấy sự tham gia của các thành viên làm
cơ sở, mục đích là đạt được thành công lâu dài thông qua việc làm hài lòng khách hàng và làm lợi cho tất cả các thành viên trong tổ chức cũng như cho xã hội Trong TQM, khái niệm chất lượng có liên quan đến việc thực hiện toàn bộ mục tiêu quản lí, nó có tính toàn diện, kiểm soát tất cả các khâu, các giai đoạn chất lượng sản phẩm, là quản lí chất lượng cả quá trình, là quản lí chất lượng sự tham gia của tất cả các thành viên và là quản lí chất lượng sự tham gia của toàn xã hội
Trong những năm gần đây, sự ra đời của nhiều kĩ thuật quản lí mới đã góp phần nâng cao hoạt động quản lí chất lượng, đã là cơ sở cho lí thuyết TQM TQM được nảy sinh từ các nước phương Tây với tên tuổi của Deming, Juran, Crosby TQM được định nghĩa là một phương pháp quản lí của một tổ chức, định hướng vào chất lượng, dựa trên sự tham gia của mọi thành viên và nhằm đem lại sự thành công dài hạn thông qua sự thỏa mãn khách hàng và lợi ích của mọi thành viên của
tổ chức và của xã hội TQM đồng nghĩa với ĐBCL, nhưng được mở rộng và phát triển sâu, rộng hơn, TQM tạo ra văn hóa chất lượng, mà ở đó, mục tiêu của từng nhân viên và tổ chức là làm hài lòng khách hàng của họ Trong quan niệm về
Trang 2918
chất lượng, khách hàng là thượng đẳng, điều này có nghĩa là công việc của mỗi thành viên trong tổ chức là phải hướng đến phục vụ khách hàng ở mức độ tốt nhất có thể, đó là cung ứng cho khách hàng những thứ họ cần, đúng lúc họ cần
và theo cách thức họ cần, thỏa mãn và vượt cả những mong đợi của họ
Đặc điểm nổi bật của TQM so với các phương pháp quản lí chất lượng trước đây là TQM cung cấp một hệ thống toàn diện cho công tác quản lí, cải tiến mọi khía cạnh có liên quan đến chất lượng và huy động sự tham gia của mọi bộ phận, mọi cá nhân để đạt được mục tiêu chất lượng đã đặt ra Các đặc điểm chung của TQM trong quá trình triển khai thực tế hiện nay có thể khái quát gồm: Chất lượng là số một, là hàng đầu; chất lượng được định hướng bởi khách hàng; vai trò lãnh đạo trong tổ chức; cải tiến chất lượng liên tục; tính nhất thể, hệ thống; đảm bảo thông tin và xem thống kê như một công cụ quan trọng; sự tham gia của mọi cấp, mọi bộ phận, nhân viên (nguồn TCVN-net)
Phương pháp cơ bản TQM có thể khái quát thành một quá trình gồm 4 giai đoạn, bốn giai đoạn quản lí là lí luận của một quá trình Tiến sĩ Deming của Mỹ đã vận dụng vào quản lí chất lượng, tổng kết ra vòng tròn 4 giai đoạn Giai đoạn thứ nhất gọi là giai đoạn lập kế hoạch, còn gọi là giai đoạn P (Plan) Nội dung chủ yếu của giai đoạn này là thông qua điều tra thăm dò thị trường, chỉ thị, kế hoạch của nhà nước để tìm ra yêu cầu của khách hàng về chất lượng sản phẩm, xây dựng chính sách chất lượng, mục tiêu chất lượng và kế hoạch chất lượng Giai đoạn thứ hai là giai đoạn thực hiện, còn gọi là giai đoạn D (Do) Giai đoạn này thực hiện những nội dung mà giai đoạn P đã quy định, như căn cứ vào tiêu chuẩn chất lượng tiến hành thiết kế, sản xuất thử, thử nghiệm sản phẩm, trong đó bao gồm cả việc đào tạo nhân viên trước giai đoạn thực hiện Giai đoạn thứ ba là kiểm tra, còn gọi là giai đoạn C (Check) Giai đoạn này chủ yếu là trong quá trình thực hiện hoặc sau khi thực hiện, kiểm tra tình hình thực hiện xem có phù hợp với kế hoạch và như kết quả dự báo không Giai đoạn cuối cùng là giai đoạn xử lí, còn gọi là giai đoạn A (Act), chủ yếu là căn cứ vào kết quả kiểm tra để áp dụng biện pháp tương thích
TQM không áp đặt tiêu chuẩn chất lượng từ bên ngoài, mà là tạo ra văn hóa chất lượng trong tổ chức, ở đó có sự tham gia tự nguyện của mọi thành viên vào các quá trình cải tiến chất lượng liên tu ̣c , hướng tới mục tiêu làm hài lòng khách hàng của họ ở mức tốt nhất có thể
Trang 3019
1.3 Giáo dục quốc phòng và an ninh
1.3.1 Hoạt động giáo dục quốc phòng và an ninh cho sinh viên
Trong chiến lược phát triển, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm, chăm lo đến công tác giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực có đủ đức, tài phục
vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; coi đây là nhiệm vụ chiến lược, thường xuyên, trọng yếu của toàn Đảng, toàn dân Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XII của Đảng nêu rõ “Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; đẩy mạnh phát triển, ứng dụng khoa hoc-công nghệ; phát huy vai trò quốc sách hành đầu của giáo dục-đào tạo và khoa học-công nghệ đối với sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước” [21, tr 15] Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng trong suốt 30 năm qua, giáo dục, đào tạo nước ta đã đổi mới toàn diện và đạt được những thành tựu to lớn, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đổi mới, phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng và an ninh bảo vệ Tổ quốc Bước vào giai đoạn mới, là thời kì Việt Nam thực hiện đầy đủ các cam kết trong Cộng đồng ASEAN và WTO, tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, hội nhập quốc tế với tầm mức sâu rộng hơn nhiều so với giai đoạn trước, công tác giáo dục vào đào tạo có nhiều thời cơ thuận lợi mới Trước hết là có điều kiện tiếp cận với những nguồn tri thức và thông tin phong phú, phục vụ cho nâng cao chất lượng giảng dạy, nghiên cứu và học tập; tiếp thu kinh nghiệm quản lý, phát triển giáo dục đại học của các nước tiên tiến, từ đó vận dụng phù hợp với điều kiện của nước ta để phát triển hệ thống giáo dục theo hướng “chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá”; đồng thời tăng cường các điều kiện ĐBCL, tiếp nhận các chuẩn quốc tế, sớm đưa vào giáo dục - đào tạo đại học nước ta lên trình độ tiên tiến Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi, thời cơ đó, công tác giáo dục, đào tạo của nước ta cũng đứng trước nhiều thách thức to lớn
Đó là do trình độ của nền kinh tế, khoa học - công nghệ của nước ta còn thấp, khó cạnh tranh với sự thu hút và thâm nhập của giáo dục nước ngoài, nhất là giáo dục đại học Quan trọng hơn là trong quá trình hội nhập, chúng ta vừa tiếp thu những tinh hoa, trí tuệ của nhân loại, vừa phải giữ vững độc lập tự chủ, định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm được các mục tiêu của nền giáo dục XHCN Cùng với đó, nhiệm vụ QPAN bảo vệ Tổ quốc XHCN đang đặt ra những nhiệm
vụ mới nặng nề hơn mà Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XII của Đảng nêu rõ:
Trang 3120
“Mục tiêu trọng yếu của quốc phòng, an ninh là phát huy mạnh mẽ sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị để bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN; bảo vệ công cuộc đổi mới, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc; bảo vệ nền văn hóa dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định
chính trị, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội” [21, tr 54]
Sinh viên, một bộ phận ưu tú của thế hệ trẻ Việt Nam, được Đảng, Nhà nước quan tâm đào tạo thành nguồn nhân lực “vừa hồng, vừa chuyên” để phục
vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN trước mắt cũng như lâu dài Trước những thuận lơi, thời cơ cũng như những khó khăn, thách thức trên, việc giáo dục sao cho sinh viên bên cạnh việc tiếp thu những kiến thức khoa học, công nghệ tiên tiến, tinh hoa văn hóa của nhân loại nhưng không rời xa lý tưởng cộng sản, không suy thoái về đạo đức, lối sống là một nhiệm vụ nặng nề, quan trọng của Đảng, Nhà nước ta mà trực tiếp là ngành giáo dục Chính vì vậy, GDQPAN cho sinh viên là một yêu cầu không thể thiếu trong mục tiêu đào tạo của các CSGDĐH góp phần hình thành và phát triển toàn diện nhân cách con người mới XHCN cho sinh viên Đảng ta nêu rõ: “Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của các cấp, các ngành, của mỗi cán bộ, đảng viên và từng người dân đối với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc” [21, tr 55]
Nghị định về Giáo dục quốc an ninh nêu rõ “Giáo dục quốc
phòng-an ninh là bộ phận của nền giáo dục quốc dân, một nội dung cơ bản trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân; là môn học chính khoá trong chương trình giáo dục, đào tạo trung học phổ thông đến đại học và các trường chính trị, hành chính, đoàn thể” [12, tr.2] Để công tác QPAN đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, ngày 19.6.2013, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật số 30/2013/QH13 về “Giáo dục quốc phòng và an ninh”, trong đó Điều 4 nêu rõ: “Mục tiêu giáo dục quốc phòng và an ninh là giáo dục cho công dân về kiến thức quốc phòng và an ninh để phát huy tinh thần yêu nước, truyền thống dựng nước và giữ nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, nâng cao
Trang 3221
ý thức, trách nhiệm, tự giác thực hiện nhiệm vụ quốc phòng và an ninh, bảo vệ
Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa” [49, tr 1]
Từ những nội dung cơ bản trên và thực tiễn hoạt động GDQPAN cho sinh
viên những năm qua có thể quan niệm: “Hoạt động GDQPAN cho sinh viên là
tổng thể những nội dung, hình thức, biện pháp giáo dục, rèn luyện, truyền thụ kiến thức quốc phòng và an ninh, kỹ năng quân sự nhằm nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm của sinh viên đối với nhiệm vụ QPAN bảo vệ Tổ quốc Việt Nam
xã hội chủ nghĩa”
Hoạt động GDQPAN cho sinh viên có những đặc điểm cơ bản sau:
Được tiến hành tập trung tại các trung tâm GDQPAN hoặc các CSGDĐH Khi tiến hành tại các trung tâm, GDQPAN có tính độc lập cao, sinh viên được quản lí chặt chẽ tại trung tâm trong cả quá trình GDQPAN, trong thời gian đó, sinh viên không tham gia các hoạt động khác tại các CSGDĐH Hết thời gian học tập, sinh viên được bàn giao về các CSGDĐH để tiếp tục học tập các nội dung tiếp theo trong chương trình đào tạo
GDQPAN cho sinh viên bao gồm cả quá trình giáo dục, rèn luyện và quá trình dạy học, được tiến hành đồng bộ, xen kẽ trong suốt quá trình GDQPAN
Quá trình giáo dục, rèn luyện và dạy học được gắn sát với thực tế môi trường quân đội, đặc biệt khi GDQPAN được tổ chức tại các trung tâm Việc chấp hành điều lệnh, điều lệ và các chế độ quy định giống như quân nhân trong Quân đội
1.3.2 Vị trí, vai trò hoạt động giáo dục quốc phòng và an ninh cho sinh viên
GDQPAN cho sinh viên là một bộ phận quan trọng của công tác GDQP toàn dân Học tập nâng cao trình độ kiến thức quốc phòng và an ninh là quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm của mỗi sinh viên Trong giai đoạn hiện nay, trước những biến động khó lường của tình hình thế giới, khu vực và trong nước, GDQPAN cho thế hệ trẻ, chủ nhân tương lai của đất nước lại càng được Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm Đại ta khẳng định: “Tăng cường quốc phòng, an ninh là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước và toàn dân” [20, tr 45] Theo đó, Luật, các nghị định, thông tư giáo dục quốc phòng và an ninh được ban hành Những chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước không chỉ khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của hoạt động GDQPAN mà còn xây dựng cơ sở pháp lí quan trọng
để hoạt động GDQPAN ngày càng đạt chất lượng, hiệu quả hơn
Trang 3322
Trong những năm gần đây, giáo dục đại học có sự phát triển mạnh mẽ, các CSGDĐH đã chủ động tiếp cận với các nền giáo dục tiên tiến, từ đó có những điều chỉnh thích ứng theo hướng phát huy tính tíc cực, chủ động của người Bên cạnh những mặt tích cực đó đã xuất hiện tư tưởng chỉ chú ý đến chuyên môn … , một số quan điểm tuyệt đối hóa kinh tế, mơ hồ về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Điều này đặt ra cho công tác GDQPAN phải hướng tới nâng cao nhận thức cho sinh viên về vai trò trách nhiệm của công dân đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc,
có nhận thức đúng đắn về mối qan hệ giữa GDQPAN với các môn học khác trong quan điểm giáo dục toàn diện, giải quyết tốt giữa đa dạng hóa các loại hình giáo dục với giữ vững định hướng XHCN Thông qua GDQPAN, giúp cho mỗi sinh viên xây dựng, củng cố lập trường tư tưởng, ý thức chính trị, bồi dưỡng lí tưởng sống cao đẹp, phẩm chất đạo đức trong sáng, lối sống lành mạnh, lòng yêu nước và các kĩ năng quân sự cần thiết Qua đó, thấy rõ được trách nhiệm của mình đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN; cảnh giác với
âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù, nhận biết và đấu tranh có hiệu quả với sự lôi kéo của các thế lực thù địch Khơi dậy tinh thần tự hào, tự tôn dân tộc trong mỗi sinh viên, nhắc nhở họ không ngừng nỗ lực học tập, trau dồi kiến thức, tiếp thu khoa học - công nghệ tiên tiến, biết khđẩy mình vào tổ chức, tôn trọng tập thể, có ý thức
tổ chức kỷ luật và có ý chí phấn đấu vượt qua mọi khó khăn để vươn lên trong học tập, trong cuộc sống và trong sự nghiệp
1.3.3 Tính đặc thù của hoạt động giáo dục quốc phòng và an ninh
GDQPAN cho sinh viên là một môn học mang tính đặc thù so với các môn học khác trong các CSGDĐH, thể hiện ở những vấn đề cơ bản sau:
Thứ nhất, sự phối hợp: hoạt động GDQPAN có liên quan và chịu sự chỉ
đạo, quản lí của nhiều cấp, nhiều bộ, ngành, cơ quan và các tổ chức, các lực lượng khác nhau Khác với các môn học khác, GDQPAN luôn có sự tham gia của nhiều
tổ chức, các lực lượng như Hội đồng GDQP Trung ương, Bộ GD&ĐT, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, các cơ quan hữu quan… Như vậy, chất lượng, hiệu quả GDQPAN phụ thuộc rất lớn vào trách nhiệm, sự phối hợp trực tiếp và gián tiếp của các tổ chức, lực lượng tham gia vào giáo dục đào tạo, phải có sự đồng thuận cao cả về nhận thức và trách nhiệm trong tất cả các khâu, các bước từ xác định mục tiêu, chủ trương đến phương thức tổ chức thực hiện GDQPAN cho sinh viên
Trang 3423
Thứ hai, tổ chức bộ máy và nhân lực: GDQPAN có tính đặc thù cả về tổ
chức, nhân lực, quản lí và phát triển đội ngũ giảng viên đến chương trình, nội dung, phương pháp tổ chức thực hiện Lực lượng trực tiếp giảng dạy GDQPAN cho sinh viên chủ yếu là những sĩ quan quân đội được biệt phái để trực tiếp quản lí, giảng dạy và rèn luyện sinh viên, họ là cán bộ, đảng viên của các CSGDĐH, đồng thời vẫn chịu sự quản lí và bảo đảm chế độ tiêu chuẩn của đơn vị quân đội cử biệt phái
Thứ ba, chương trình, nội dung: chương trình, nội dung của GDQPAN nằm
trong khối kiến thức chung, song chỉ có GDQPAN phải giữ đúng chương trình, nội dung theo quyết định của Bộ GD&ĐT, các môn học khác, các CSGDĐH được lựa chọn nội dung, thời gian cho phù hợp với chuyên ngành đào tạo của mình
Thứ tư, cơ sở vật chất và thiết bị dạy học: GDQPAN có những đòi hỏi riêng
về cơ sở vật chất, vũ khí, trang bị và các phương tiện, thiết bị dạy học khác Bên canh đó, công tác bảo đảm khác cũng phải đáp ứng được để sinh viên có điều kiện rèn luyện, sinh hoạt trong môi trường sát với thực tiễn hoạt động quân sự
Thứ năm,phương thức tổ chức thực hiện: GDQPAN cho sinh viên có thể
được thực hiện tại các trung tâm GDQPAN theo phương thức học tập tập chung hoặc được thực hiện tại các CSGDĐH Khác với hoạt động GDQPAN được tổ chức tại các CSGDĐH, GDQPAN ở các trung tâm được tiến hành một các độc lập, các trung tâm GDQPAN tổ chức tiếp nhận sinh viên và triển khai thực hiện chương trình, nội dung GDQPAN tại cơ sở của mình, quản lí, rèn luyện sinh viên theo điều lệnh, điều lệ, chế độ quy định, đưa sinh viên vào sát với môi trường hoạt động thực tiễn của Quân đội Đây là những khác biệt cơ bản có tính đặc thù của hoạt động GDQPAN với các hoạt động khác của CSGDĐH, vì vậy đòi hỏi công tác quản lí hoạt động GDQPAN phải thể hiện được hoạt động quản
lí có tính đặc thù trong sự thống nhất quản lí của các CSGDĐH
1.3.4 Trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh ở các cơ sở giáo dục đại học
1.3.4.1 Chức năng, nhiệm vụ
Là đơn vị sự nghiệp công lập, trực thuộc CSGDĐH, có tư cách pháp nhân,
có tài khoản và con dấu riêng; là cơ sở thực hiện môn học GDQPAN cho sinh viên và bồi dưỡng kiến thức QPAN cho các đối tượng theo quy định của pháp luật Trung tâm GDQPAN có nhiệm vụ chính là phối hợp với trường cao đẳng nghề, CSGDĐH, cơ quan, tổ chức liên quan xây dựng kế hoạch liên kết, kế
Trang 351.3.4.2 Cơ cấu tổ chức
Căn cứ vào quy mô, số lượng sinh viên và mức độ thực hiện các điều kiện đảm bảo để xác định cơ cấu tổ chức của các trung tâm GDQPAN thuộc các CSGDĐH Cơ cấu tổ chức của trung tâm GDQPAN gồm ban giám đốc, các hội đồng tư vấn; các phòng chức năng, khoa đào tạo và các tổ chức đảng, đoàn thể
a) Ban giám đốc trung tâm
Trung tâm thuộc Đại học quốc gia gồm giám đốc và các phó giám đốc, trong
đó phó giám đốc thường trực trung tâm là cán bộ quân đội biệt phái; giám đốc trung tâm do phó giám đốc đại học quốc gia kiêm nhiệm, các phó giám đốc trung tâm do giám đốc Đại học quốc gia quyết định
Trung tâm thuộc đại học vùng, trường đại học, cao đẳng gồm giám đốc và các phó giám đốc Giám đốc trung tâm do phó giám đốc đại học vùng hoặc hiệu trưởng trường đại học, cao đẳng kiêm nhiệm
b) Hội đồng tư vấn, các phòng chức năng và khoa đào tạo
Gồm hội đồng khoa học và đào tạo; các hội đồng tư vấn khác; các phòng chức năng, các khoa đào tạo, các bộ môn trực thuôc khoa đào tạo; các đại đội quản lí sinh viên
c) Tổ chức đơn vị, cán bộ quản lí sinh viên, đối tượng BDKTQPAN: Đại đội quản lí sinh viên: sinh viên học tập GDQPAN tại các trung tâm được tổ chức thành các đại đội Mỗi đại đội không quá 120 người, tổ chức thành các trung đội và tiểu đội Trung đội không quá 40 người, tiểu đội không quá 15 người Các đại đội trưởng là cán bộ, giảng viên trong biên chế của trung tâm kiêm nhiệm, các vị trí kiêm nhiệm khác gồm phó đại đội trưởng, trung đội trưởng, tiểu đội trưởng do giám đốc trung tâm quyết định
d) Các tổ chức đảng, đoàn thể
Trang 3625
Hội đồng Thi đua Khen thưởng
Ban Giám đốc Trung tâm
Hội đồng Khoa học và Đào tạo
Khoa Chính trị
Bộ môn Đường lối quân sự của Đảng
Bộ môn Công tác Quốc phòng-
an ninh
Bộ môn Quân sự chung, Chiến thuật và
Kĩ thuật bắn súng tiểu liên AK
Hình 1.2 Cơ cấu tổ chức của trung tâm GDQPAN tại các CSGDĐH
Trang 3726
1.3.5 Nội dung cơ bản của hoạt động giáo dục quốc phòng và an ninh cho sinh viên ở các trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh
1.3.5.1 Phân luồng liên kết đào tạo
Để công tác GDQPAN cho sinh viên của các CSGDĐH được triển khai thực hiện trong môi trường sát với hoạt động thực tiễn của quân đội, ngày 30/01/2015, Thủ tướng Chính phủ kí Quyết định số 161/QĐ-TTg về phê duyệt quy hoạch hệ thống trung tâm GDQPAN, trong đó Điều 1 nêu rõ điều kiện để các CSGDĐH được thành lập trung tâm GDQPAN “Phù hợp với hệ thống nhà trường quân đội, trường cao đẳng nghề, cơ sở giáo dục đại học; Đối với các tỉnh biên giới, miền núi, vùng sâu, vùng xa: Hằng năm, có từ 2.000 sinh viên trở lên, khu vực khác có từ 5.000 sinh viên trở lên vào học; Có đất đai, cơ sở hạ tầng, giảng đường và cơ sở vật chất bảo đảm cho nhiệm vụ học tập, rèn luyện, sinh hoạt tập trung theo môi trường quân sự; có thao trường, bãi tập, trường bắn hoặc có điều kiện liên kết thực hiện môn học giáo dục quốc phòng và an ninh theo quy định; Đội ngũ giảng viên cơ hữu đủ về số lượng, đạt trình độ chuẩn theo quy định của pháp luật và đội ngũ cán bộ quản lý để thực hiện nhiệm vụ” Theo Quyết định này, đến năm 2020, cả nước có 42 trung tâm thuộc nhà trường quân đội và 20 trung tâm thuộc các CSGDĐH, đảm bảo có trên 90% sinh viên các CSGDĐH được học tập tập trung tại các trung tâm
Trên cơ sở quy hoạch hệ thống trung tâm GDQPAN, ngày 14/10/2008,
Bộ trưởng Bộ GD&ĐT kí Quyết định số 57/2008/QĐ-BGDĐT về việc ban hành quy định về liên kết GDQPAN của các CSGDĐH Tại Điều 4 Quyết định này nêu rõ “Mục đích của hoạt động liên kết giáo dục quốc phòng và an ninh nhằm huy động năng lực của các trường có điều kiện tổ chức dạy học và đánh giá kết quả học tập GDQP-AN cho sinh viên; hỗ trợ các trường không đủ điều kiện tổ chức thực hiện chương trình GDQPAN theo quy định của Bộ GD&ĐT; bảo đảm chất lượng, hiệu quả giáo dục toàn diện cả kiến thức GDQPAN và phẩm chất đạo đức, lối sống, ý thức tổ chức kỷ luật của sinh viên”
Trang 3827
Để đảm bảo sự phối hợp tốt giữa trung tâm GDQPAN và đơn vị liên kết đào tạo, Điều 10 quy định rõ “Hai bên liên kết có trách nhiệm thực hiện các cam kết trong hợp đồng giáo dục và các thỏa thuận khác; phối hợp, theo dõi, giám sát lẫn nhau trong việc thực hiện các quy định về tổ chức dạy học và đánh giá kết quả học tập, rèn luyện; đảm bảo quyền lợi cho người dạy, người học và việc thực hiện hợp đồng liên kết giáo dục” Để đảm bảo tính thực thi về liên kết GDQPAN, Điều 13 nêu rõ “Trong quá trình liên kết GDQPAN nếu các bên tham gia liên kết vi phạm những quy định tại văn bản này, tuỳ theo mức độ vi phạm sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật hiện hành; Khi một hoặc cả hai bên liên kết không đáp ứng nhu cầu hoặc không đủ khả năng để tiếp tục thực hiện hợp đồng liên kết giáo dục, đơn vị chủ quản phải báo cáo Bộ GD&ĐT để kịp thời xử lí” Đây là cơ sở pháp lí quan trọng để triển khai công tác GDQPAN cho sinh viên được thực hiện chính quy, nền nếp
1.3.5.2 Hoạt động dạy học
Đảng và Nhà nước ta xác định “giáo dục và đào tạo cùng với khoa học & công nghệ là quốc sách hàng đầu” Mục tiêu của giáo dục Việt Nam là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mĩ và nghề nghiệp, trung thành với lí tưởng độc lập dân tộc và CNXH; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng nhu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng trong
30 năm qua, giáo dục đại học đã đổi mới toàn diện và đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa phát triển cả về quy mô và chất lượng, đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ đổi mới, phát triển kinh tế - xã hội, củng cố QPAN, bảo vệ vững chắc
Tổ quốc Việt Nam XHCN Bước vào giai đoạn mới, công tác giáo dục - đào tạo
có nhiều thời cơ thuận lợi mới Tuy nhiên, bên cạnh đó, công tác giáo dục - đào tạo của nước ta cũng đứng trước nhiều thách thức to lớn Đó là do trình độ của nền kinh tế, khoa học-công nghệ của nước ta còn thấp, khó cạnh tranh với sự thu hút
và thâm nhập của giáo dục nước ngoài, nhất là giáo dục đại học Quá trình hội nhập, chúng ta vừa tiếp thu những tinh hoa, trí tuệ của nhân loại, vừa phải giữ vững độc lập tự chủ, định hướng XHCN, bảo đảm được các mục tiêu của nền giáo
Trang 39an toàn xã hội; chủ động ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch và sẵn sàng ứng phó với các mối đe doạ an ninh phi truyền thống mang tính toàn cầu, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống” [20, tr.233]
Sinh viên là một bộ phận ưu tú của thế hệ trẻ Việt Nam, được Đảng, Nhà nước quan tâm đào tạo thành nguồn nhân lực “vừa hồng, vừa chuyên” để phục
vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN trước mắt cũng như lâu dài Tuy nhiên, sinh viên cũng là một trong những đối tượng mà các thế lực thù địch tập trung hướng tới nhằm làm chuyển hóa ý thức hệ, mơ hồ về giai cấp
Vì vậy, GDQPAN cho sinh viên sẽ góp phần phòng ngừa, ngăn chặn những ảnh hưởng tiêu cực và phát triển phẩm chất tốt đẹp của con người mới, đáp ứng yêu cầu của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Trước những thuận lợi, thời cơ cũng như những khó khăn, thách thức trên, bên cạnh việc giáo dục cho sinh viên tiếp thu những kiến thức khoa học, công nghệ tiên tiến của nhân loại, phải giúp sinh viên nhận thức đúng, không rời xa lý tưởng cộng sản, không bị suy thoái, hư hỏng là một nhiệm vụ nặng nề, phức tạp và hết sức quan trọng của Đảng, Nhà nước ta mà trực tiếp là ngành giáo dục Vì vậy, GDQPAN cho sinh viên là một yêu cầu không thể thiếu trong mục tiêu đào tạo của các CSGDĐH Đại hội XI của Đảng xác định “Tăng cường tuyên truyền, giáo dục tinh thần yêu nước, ý thức dân tộc, trách nhiệm và nghĩa vụ bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia và kiến thức quốc phòng, an ninh, làm cho mọi người hiểu rõ những thách thức lớn tác động trực tiếp đến nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện mới” [20, tr.234] Đây là nhiệm vụ có tính chiến lược, thường xuyên, lâu dài, là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân và của cả hệ thống chính trị
Trang 4029
Mục đích GDQPAN cho sinh viên nhằm nâng cao ý thức tự giác, tinh thần trách nhiệm của họ đối với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, trang bị những kiến thức về quân sự, quốc phòng và rèn luyện một số kĩ năng và phẩm chất cần thiết cho hoạt động quân sự, để họ có thái độ đúng đắn, có khả năng đóng góp vào nhiệm vụ xây dựng nền quốc phòng toàn dân của Việt Nam hiện nay GDQPAN cho sinh viên, trước hết nhằm góp phần củng cố vững chắc trận địa tư tưởng; nâng cao ý thức trách nhiệm trong học tập, rèn luyện; xây dựng tinh thần tập thể, nếp sống kỷ luật, văn hoá, lành mạnh, tinh thần đoàn kết, tương thân, tương ái trong tập thể GDQPAN còn hỗ trợ, bổ sung kiến thức tạo điều kiện hoàn thành các môn học khác và ý thức trong tham gia giữ gìn an ninh trật tự, an toàn xã hội trong nhà trường cũng như trên địa bàn Trên cơ sở kết quả GDQPAN đã lĩnh hội, sau này, khi đã ra trường, dù ở bất cứ đâu, ở cương vị gì, công việc như thế nào, sinh viên vẫn ý thức đầy đủ trách nhiệm của công dân trước nhiệm vụ xây dựng nền QPTD bảo vệ Tổ quốc
Nội dung GDQPAN cho sinh viên gồm ba khối kiến thức lớn, đó là những vấn đề chủ yếu về đường lối quân sự, quốc phòng của Đảng, những tri thức, tư duy quân sự, quốc phòng cần thiết và một số kĩ năng hoạt động quân sự cơ bản Sinh viên các CSGDĐH học chương trình GDQPAN gồm 3 học phần ứng với 09 tín chỉ
Hình thức tổ chức GDQPAN cho sinh viên: bao gồm cả lên lớp lí thuyết và thực hành, các nội dung lí thuyết được tổ chức với hình thức học tập trung trên giảng đường như các môn học khác, các nội dung thực hành thường tổ chức huấn luyện trên thao trường, bãi tập, phòng tập điện tử Cùng với những hình thức cơ bản trên, GDQPAN cho sinh viên còn được tổ chức bằng các hình thức khác như: thảo luận, toạ đàm, diễn đàn, hội thao quốc phòng, tự nghiên cứu, nghiên cứu thực
tế, thi tìm hiểu lịch sử, truyền thống, tham quan các di tích lịch sử, giao lưu với cán bộ, chiến sĩ các đơn vị quân đội
1.3.5.3 Hoạt động giáo dục và rèn luyện sinh viên
GDQPAN không chỉ trang bị kiến thức, kĩ năng về QPAN mà còn phải kết hợp chặt chẽ giữa dạy học với giáo dục và rèn luyện sinh viên, đưa các hoạt động của sinh viên sát với môi trường quân đội, từ đó tạo sự chuyển biến căn bản trong nhận thức và hành động của sinh viên đói với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc và ý thức chấp hành kỉ luật, các nội quy của trung tâm và các CSGDĐH Để thực hiện được