ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC NGUYỄN MẠNH ĐÀN QUẢN LÝ CÔNG TÁC SINH VIÊN NGOẠI TRÚ TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN MẠNH ĐÀN
QUẢN LÝ CÔNG TÁC SINH VIÊN NGOẠI TRÚ
TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Trang 2
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN MẠNH ĐÀN
QUẢN LÝ CÔNG TÁC SINH VIÊN NGOẠI TRÚ
TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60 14 01 14
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Trọng Hậu
HÀ NỘI - 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Sau hai năm học tập và nghiên cứu, tác giả đã hoàn thành Luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục với Đề tài “Quản lý công tác sinh viên ngoại trú tại Trường Đại học Hải Phòng trong bối cảnh hiện nay”
Bằng tấm lòng và sự biết ơn sâu sắc, tác giả xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, các phòng, khoa thuộc Trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội; cảm ơn sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình và trách nhiệm của các Giáo sư, Phó Giáo sư, Tiến sĩ đã tham gia giảng dạy lớp Cao học Quản lý giáo dục khóa QH-2013-S-03
Đặc biệt, tác giả xin trân trọng cảm ơn và bày tỏ lòng kính trọng đối với Tiến sĩ Nguyễn Trọng Hậu, người thầy đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tác giả sớm hoàn thành đề tài nghiên cứu
Trân trọng cảm ơn Đảng ủy, Ban Giám hiệu, lãnh đạo và chuyên viên Phòng Chính trị - Công tác HSSV, các phòng ban chức năng, các khoa đào tạo và sinh viên Trường Đại học Hải Phòng đã giúp đỡ tác giả trong thời gian học tập, nghiên cứu và khảo sát số liệu của đề tài./
Hà Nội, tháng 10 năm 2015
Trang 5
MỤC LỤC Trang
PHẦN MỞ ĐẦU……….……… … … 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC SINH VIÊN NGOẠI TRÚ Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC 5 1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề……….………… … 5
1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài……… … 6
1.2.1 Quản lý, chức năng của quản lý………… ……….….…… 6
1.2.2 Quản lý giáo dục, quản lý nhà trường 10
1.2.3 Sinh viên, sinh viên ngoại trú 12
1.2.4 Quản lý công tác sinh viên ngoại trú ở trường đại học 14
1.3 Công tác sinh viên ở trường đại học 15
1.3.1 Vị trí, vai trò của công tác sinh viên trong trường đại học 15
1.3.2 Công tác sinh viên ở trường đại học 16
1.3.3 Nội dung công tác sinh viên ngoại trú ở trường đại học 17
1.4 Phòng công tác sinh viên ở trường đại học 17
1.4.1 Vị trí, vai trò của Phòng Công tác sinh viên trong trường đại học 17
1.4.2 Chức năng, nhiệm vụ của Phòng Công tác sinh viên 18
1.4.3 Yêu cầu quản lý công tác sinh viên trong bối cảnh hiện nay 21
1.5 Quản lý công tác sinh viên ngoại trú ở trường đại học 23
1.5.1 Xây dựng kế hoạch quản lý công tác sinh viên ngoại trú 23
1.5.2 Tổ chức thực hiện kế hoạch quản lý công tác sinh viên ngoại trú 24
1.5.3 Chỉ đạo thực hiện kế hoạch quản lý công tác sinh viên ngoại trú 24
1.5.4 Kiểm tra, đánh giá công tác sinh viên ngoại trú 25
1.6 Những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý công tác sinh viên ngoại trú ở trường đại học 26
1.6.1 Yếu tố chủ quan 26
1.6.2 Yếu tố khách quan 28
* Tiểu kết chương 1 29
Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÔNG TÁC SINH VIÊN NGOẠI TRÚ TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG 30 2.1 Khái quát về Trường Đại học Hải Phòng 30
2.2 Cơ cấu tổ chức của Trường Đại học Hải Phòng 32
Trang 62.3 Số lượng, chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên, chuyên viên 33
2.4 Quy mô đào tạo của Trường Đại học Hải Phòng 34
2.4.1 Số lượng các ngành đào tạo 34
2.4.2 Số lượng sinh viên 36
2.4.3 Chất lượng đào tạo 38
2.5 Thực trạng thực hiện công tác sinh viên tại Trường Đại học Hải Phòng 41 2.5.1 Những điều kiện thuận lợi và khó khăn 41
2.5.2 Khảo sát thực trạng thực hiện công tác sinh viên 42
2.6 Thực trạng quản lý công tác sinh viên ngoại trú tại Trường Đại học Hải Phòng 45
2.6.1 Thực trạng xây dựng kế hoạch quản lý công tác SV ngoại trú 46
2.6.2 Thực trạng tổ chức thực hiện kế hoạch quản lý công tác SV ngoại trú 48 2.6.3 Thực trạng chỉ đạo thực hiện kế hoạch quản lý công tác sinh viên ngoại trú 50
2.6.4 Thực trạng kiểm tra, đánh giá công tác sinh viên ngoại trú 53
2.7 Đánh giá chung về quản lý công tác sinh viên ngoại trú tại Trường Đại học Hải Phòng 58
2.7.1 Điểm mạnh 58
2.7.2 Điểm yếu 58
2.7.3 Thời cơ 59
2.7.4 Thách thức 60
* Tiểu kết chương 2 61
Chương 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC SINH VIÊN NGOẠI TRÚ TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY 62
3.1 Định hướng phát triển của Trường ĐH Hải Phòng trong bối cảnh hiện nay 62
3.2 Nguyên tắc xác định các biện pháp 63
3.2.1 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa 63
3.2.2 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả 63
3.2.3 Nguyên tắc đảm bảo tính toàn diện 64
3.3 Các biện pháp quản lý công tác sinh viên ngoại trú tại Trường Đại học Hải Phòng trong bối cảnh hiện nay 64
Trang 73.3.1 Xây dựng kế hoạch quản lý công tác sinh viên ngoại trú 64
3.3.2 Tổ chức các hoạt động nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của quản lý công tác SV ngoại trú cho lực lượng trong và ngoài trường 67
3.3.3 Hoàn thiện hệ thống tổ chức quản lý công tác SV ngoại trú 70
3.3.4 Xây dựng cơ chế phối hợp giữa nhà trường với gia đình và xã hội trong quản lý công tác sinh viên ngoại trú 72
3.3.5 Đổi mới công tác đánh giá chất lượng rèn luyện của sinh viên gắn với thi đua, khen thưởng sinh viên 76
3.3.6 Hoàn thiện các quy định về quản lý công tác sinh viên ngoại trú 79
3.3.7 Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý công tác SV ngoại trú 82 3.4 Mối quan hệ giữa các biện pháp quản lý công tác sinh viên ngoại trú tại Trường Đại học Hải Phòng 84
3.5 Khảo sát sự cần thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lý công tác sinh viên ngoại trú tại Trường Đại học Hải Phòng 85
* Tiểu kết chương 3 89
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
PHỤ LỤC 98
Phụ lục số 1 98
Phụ lục số 2 98
Phụ lục số 3 101
Phụ lục số 4 103
Phụ lục số 5 105
Phụ lục số 6 107
Trang 8
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Giáo dục và đào tạo có vị trí, vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc Đối với đất nước ta, Đảng và Nhà nước luôn coi giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã khẳng định “Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế” và “Giáo dục và đào tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng xây dựng đất nước,
xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam” Theo Tư tưởng Hồ Chí Minh
muốn xây dựng và hoàn thiện con người chính là giáo dục và tự giáo dục
Đây là phương pháp tốt nhất để “Đào tạo các em nên những người công dân hữu ích cho nước Việt Nam và làm phát triển hoàn toàn những năng lực sẵn
có của các em” Người nhấn mạnh: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa" và “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người” Hiện nay toàn ngành giáo dục đang triển khai thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế
Sinh viên là nhân vật trung tâm trong nhà trường Chính vì vậy quản lý công tác sinh viên là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của các trường đại học, nhằm bảo đảm thực hiện mục tiêu giáo dục là đào tạo con người phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của
Trang 9trú thường sống xa người thân không có sự kèm cặp của gia đình nên thường
dễ sa ngã vào các tệ nạn xã hội Cùng với đó là một vấn đề đang được dư luận quan tâm là tình trạng “sống chung”, “sống thử” trong sinh viên Lối sống này một mặt gây tác động trực tiếp tới chính bản thân sinh viên, làm giảm sút kết quả học tập và không ít trường hợp đã phải gánh những hậu quả nặng nề do lối sống buông thả của mình gây ra Mặt khác hiện nay, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội đang ra sức chống phá Đảng và Nhà nước ta, chúng thường lợi dụng, lôi kéo sinh viên tham gia các hoạt động vi phạm pháp luật, gây ảnh hưởng tới an ninh chính trị
Trường Đại học Hải Phòng là cơ sở giáo dục đại học lớn của thành phố Hải Phòng Cũng như các trường đại học khác trên cả nước, trong bối cảnh hiện nay, Nhà trường đang gặp khó khăn, hạn chế trong quản lý công tác sinh viên ngoại trú Trên cương vị là lãnh đạo đơn vị trực tiếp tham mưu giúp Hiệu trưởng Nhà trường về công tác HSSV, tôi mong muốn tìm ra các biện pháp hiệu quả để quản lý công tác sinh viên ngoại trú, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của Nhà trường
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài: “Quản lý công
tác sinh viên ngoại trú tại Trường Đại học Hải Phòng trong bối cảnh hiện nay”
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, nhằm đề xuất các biện pháp quản lý công tác sinh viên ngoại trú tại Trường Đại học Hải Phòng góp phần nâng cao chất lượng quản lý công tác sinh viên trong bối cảnh hiện nay
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu: Công tác sinh viên ở trường đại học
3.2 Đối tượng nghiên cứu: Quản lý công tác sinh viên ngoại trú tại Trường
Đại học Hải Phòng
Trang 104 Giả thuyết khoa học
Công tác sinh viên của Trường Đại học Hải Phòng trong thời gian qua
đã đạt được những kết quả nhất định, tuy nhiên vẫn còn những khó khăn, hạn chế trong quản lý công tác sinh viên ngoại trú Nếu áp dụng các biện pháp quản lý công tác sinh viên ngoại trú như trong đề tài xác định một cách đồng
bộ, hệ thống và khoa học sẽ góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả quản lý công tác sinh viên ngoại trú và góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của Trường Đại học Hải Phòng trong bối cảnh hiện nay
5 Câu hỏi nghiên cứu
Quản lý công tác sinh viên ngoại trú như thế nào để nâng cao chất lượng công tác sinh viên nói chung và công tác sinh viên ngoại trú nói riêng, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của Trường Đại học Hải Phòng trong bối cảnh hiện nay
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý công tác sinh viên ngoại trú ở trường đại học
- Khảo sát thực trạng quản lý công tác sinh viên ngoại trú tại Trường Đại học Hải Phòng
- Đề xuất các biện pháp quản lý công tác sinh viên ngoại trú tại Trường Đại học Hải Phòng trong bối cảnh hiện nay
7 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu quản lý công tác sinh viên ngoại trú tại Trường Đại học Hải Phòng với đối tượng là sinh viên chính quy đang ở trọ tại phường Ngọc Sơn thuộc Quận Kiến An và Phường Đồng Quốc Bình thuộc
Quận Ngô Quyền của thành phố Hải Phòng
8 Phương pháp nghiên cứu
8.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận
Gồm tổng hợp, phân tích, hệ thống hoá, khái quát hoá các văn bản và
Trang 11viên ngoại trú làm cơ sở khảo sát thực trạng và đề xuất biện pháp quản lý công tác sinh viên ngoại trú tại Trường Đại học Hải Phòng trong bối cảnh hiện nay
8.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
- Phương pháp phỏng vấn
- Phương pháp chuyên gia
8.3 Phương pháp nghiên cứu bổ trợ:
- Phương pháp thống kê toán học
9 Những đóng góp của đề tài
- Về mặt lý luận: Đề tài đánh giá những kết quả đạt được và những hạn
chế trong quản lý công tác sinh viên ngoại trú tại Trường Đại học Hải Phòng,
từ đó có cơ sở khoa học để xây dựng một số biện pháp quản lý công tác sinh viên ngoại trú trong bối cảnh hiện nay
- Về mặt thực tiễn: Đề tài này nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý công tác
sinh viên ngoại trú trong bối cảnh hiện nay tại Trường Đại học Hải Phòng, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác sinh viên của Nhà trường
10 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được chia làm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý công tác sinh viên ngoại trú ở trường đại học
Chương 2: Thực trạng quản lý công tác sinh viên ngoại trú tại Trường Đại học Hải Phòng
Chương 3: Biện pháp quản lý công tác sinh viên ngoại trú tại Trường Đại học Hải Phòng trong bối cảnh hiện nay
Trang 12Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC SINH VIÊN
NGOẠI TRÚ Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
Công tác học sinh, sinh viên nói chung và công tác quản lý sinh viên ngoại trú nói riêng là nhiệm vụ quan trọng của mỗi cơ sở giáo dục và đào tạo
Để nâng cao chất lượng công tác HSSV, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành nhiều văn bản về công tác HSSV, trong đó có các văn bản liên quan đến công tác HSSV ngoại trú, như: Quyết định số 43/2002/QĐ-BGDĐT, ngày 22/10/2002 về việc ban hành Quy chế công tác HSSV ngoại trú trong các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp; Thông tư số 27/2009/TT-BGDĐT, ngày 19/10/2009 về Quy chế ngoại trú của HSSV các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp hệ chính quy Các văn bản của Bộ Giáo dục và Đào tạo là cơ sở pháp lý để nhà trường phối hợp với chính quyền địa phương trong việc quản lý và hỗ trợ cho HSSV ngoại trú có môi trường sinh hoạt lành mạnh, học tập và rèn luyện tốt, đồng thời tạo điều kiện cho HSSV tham gia và phát huy được năng lực của mình trong việc xây dựng đời sống văn hóa, nền nếp, kỷ cương, phòng chống tội phạm, tệ nạn xã hội ở nơi
cư trú
Trong thời gian qua đã có rất nhiều tác giả nghiên cứu về vấn đề quản
lý sinh viên ngoại trú, như: “Biện pháp quản lý sinh viên ngoại trú của Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội” của tác giả Trần Thị Thuý Ngân - Luận văn Thạc sĩ Quản lý giáo dục Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội - 2008; “Những biện pháp quản lý sinh viên ngoại trú của trường Đại học Hồng Đức trên địa bàn thành phố Thanh Hóa” của tác giả Hà Ngọc Hòa - Luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục Khoa Sư phạm- 2005,
“Một số biện pháp quản lý sinh viên ngoại trú của Trường Cao đẳng Kỹ thuật
Y tế I - Bộ Y tế” của tác giả Nguyễn Văn Khởi - Luận văn thạc sỹ - Đại học
Trang 13Sư phạm Hà Nội - 2005, “Một số biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý sinh viên ngoại trú của Đại học Quốc gia Hà Nội” của tác giả Nguyễn Quốc Tú - Luận văn thạc sĩ Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, 2005… Nghiên cứu của các tác giả đã được triển khai áp dụng hiệu quả vào thực tiễn và phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của từng trường Tuy nhiên các đề tài chủ yếu nghiên cứu vấn đề cụ thể về quản lý sinh viên ngoại trú, chưa có đề tài nghiên cứu về quản lý công tác sinh viên ngoại trú Thời điểm các tác giả nghiên cứu cách đây cũng khá xa (nghiên cứu gần đây nhất đã 5 năm), trong khi đó hiện nay kinh tế - xã hội đất nước ta đã có sự thay đổi nhanh chóng, giáo dục và đào tạo đang có sự chuyển biến mạnh mẽ Thành phố Hải Phòng có nhiều trường đại học, cao đẳng nhưng chưa có tác giả nào nghiên cứu về đề tài quản lý
công tác sinh viên ngoại trú Vì vậy, vấn đề “Quản lý công tác sinh viên ngoại
trú tại Trường Đại học Hải Phòng trong bối cảnh hiện nay” cần được nghiên
cứu
1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1 Quản lý, chức năng của quản lý
* Khái niệm quản lý
Trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, con người muốn tồn tại
và phát triển đều phải dựa vào sự nỗ lực của một tổ chức, từ một nhóm nhỏ đến phạm vi rộng lớn hơn ở tầm quốc gia, quốc tế và đều phải thừa nhận và chịu sự quản lý nào đó C.Mác đã viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào đó tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều dẫn đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [16, tr.480]
Trang 14Ngày nay, thuật ngữ quản lý đã trở nên phổ biến nhưng chưa có một định nghĩa thống nhất Có người cho quản lý là hoạt động nhằm bảo đảm sự hoàn thành công việc thông qua sự nỗ lực của người khác
Cũng có người cho quản lý là hoạt động thiết yếu nhằm đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân và nhằm đạt được mục đích của nhóm
Các tác giả lại quan niệm một cách đơn giản hơn, coi quản lý là sự có trách nhiệm về một cái gì đó
Từ những ý chung của các định nghĩa và xét quản lý với tư cách là một hành động, có thể định nghĩa: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đã đề ra” [43, tr.11]
Nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam, xuất phát từ các góc độ khác nhau cũng đã đưa ra những khái niệm quản lý:
Các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng “Quản
lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra” [17, tr.9]
Theo tác giả Đỗ Hoàng Toàn, quản lý được hiểu như sau: “Quản lý là
sự tác động có tổ chức của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra trong điều kiện biến động của môi trường” [38, tr.7]
Một xu hướng nghiên cứu phương pháp luận quản lý ở Việt Nam trong cuốn “Khoa học tổ chức và quản lý” của nhiều tác giả: Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Văn Bình, Nguyễn Quốc Chí cho rằng: “Hoạt động quản lý nhằm làm cho hệ thống vận động theo mục tiêu đặt ra, tiến đến trạng thái có chất lượng mới” [9, tr.176]
Thuật ngữ “quản lý” thường được hiểu theo những cách khác nhau tuỳ theo góc độ khoa học khác nhau cũng như cách tiếp cận của người nghiên cứu Quản lý là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học xã hội và khoa học tự nhiên Mỗi lĩnh vực khoa học có định nghĩa về quản lý dưới góc
Trang 15độ riêng của mình và nó phát triển ngày càng sâu rộng trong mọi hoạt động của đời sống xã hội
Quản lý vừa là khoa học vừa là nghệ thuật Là khoa học vì nó là những tri thức được hệ thống hoá và là đối tượng nghiên cứu khách quan đặc biệt Quản lý là khoa học nghiên cứu, lý giải các mối quan hệ, đặc biệt là mối quan
hệ giữa chủ thể và khách thể quản lý Là nghệ thuật bởi nó là hoạt động đặc biệt đòi hỏi sự khéo léo, tinh tế và linh hoạt trong việc sử dụng những kinh nghiệm đã quan sát được, những tri thức đã được đúc kết nhằm tác động một cách có hiệu quả nhất tới khách thể quản lý
Như vậy, quản lý là một khái niệm rộng bao gồm nhiều lĩnh vực, mỗi một lĩnh vực có một hệ thống lý luận riêng: các nhà kinh tế thiên về quản lý nền sản xuất xã hội, các nhà luật học thiên về quản lý nhà nước, các nhà điều khiển học thiên về quan điểm hệ thống Cho nên khi đưa ra các định nghĩa về quản lý, các tác giả thường gắn với các loại hình quản lý cụ thể hoặc phụ thuộc nhiều vào lĩnh vực hoạt động hay nghiên cứu của mình Nhưng bất cứ một tổ chức, một lĩnh vực nào, từ sự hoạt động của nền kinh tế quốc dân, của một doanh nghiệp, một đơn vị hành chính sự nghiệp, đến một tập thể nhỏ như tổ chuyên môn, tổ sản xuất, bao giờ cũng có hai phân hệ: Người quản lý và đối tượng được quản lý Đó là một loại hoạt động xã hội bắt nguồn từ tính chất cộng đồng dựa trên sự phân công và hợp tác để làm một công việc nhằm đạt một mục tiêu chung Vì vậy, những nhà quản lý phải luôn luôn mềm dẻo, linh hoạt để vận dụng những nguyên tắc quản lý khác nhau trong từng lĩnh vực và tình huống cụ thể cho phù hợp nhằm đạt được hiệu quả quản lý cao nhất
* Các chức năng quản lý
Quản lý là một quá trình mà chủ thể quản lý tác động đến khách thể quản lý bằng kế hoạch hóa, tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra dựa trên những nguồn lực và những điều kiện có thể nhằm đạt được mục đích của tổ chức Các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc đã xác đi ̣nh chức năng quản lý bao gồm 4 chức năng: Kế hoạch hóa, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra
Trang 16- Chức năng kế hoạch hóa: kế hoạch hóa có nghĩa là xác định mục tiêu,
mục đích đối với thành tựu tương lai của tổ chức và các con đường, biện pháp, cách thức để đạt được mục tiêu, mục đích đó Nội dung chủ yếu của chức năng kế hoạch là: (a) xác định, hình thành mục tiêu (phương hướng) đối với tổ chức, (b) xác định và đảm bảo (có tính chắc chắn, có tính cam kết) về các nguồn lực của tổ chức để đạt được các mục tiêu này, (c) quyết định xem những hành động nào là cần thiết để đạt được các mục tiêu đó
- Chức năng tổ chức: Khi người quản lý đã lập xong kế hoạch, họ cần
phải chuyển hoá những ý tưởng khá trừu tượng ấy thành những hành động thực tiễn Tổ chức là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức Người quản lý phải điều phối tốt các nguồn nhân lực của tổ chức
- Chức năng lãnh đạo (chỉ đạo): Sau khi kế hoạch được thành lập, cơ
cấu bộ máy được hình thành, nhân sự được tuyển dụng thì phải có ai đó đứng
ra lãnh đạo, dẫn dắt tổ chức Lãnh đạo bao hàm việc liên kết, liên hệ với người khác và động viên họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất định để đạt được mục tiêu của tổ chức
- Chức năng kiểm tra: Kiểm tra là một hoạt động quản lý, thông qua đó
một cá nhân, một nhóm hoặc một tổ chức theo dõi, giám sát các thành quả hoạt động và tiến hành những hoạt động sửa chữa, uốn nắn nếu cần thiết Quá trình tự điều chỉnh, diễn ra có tính chu kỳ như sau:
+ Người quản lý đặt ra những chuẩn mực thành đạt của hoạt động + Người quản lý đối chiếu, đo lường kết quả, sự thành đạt so với chuẩn mực đã đặt ra
+ Người quản lý tiến hành điều chỉnh những sự sai lệch
+ Người quản lý hiệu chỉnh, sửa lại chuẩn mực nếu cần
Các chức năng trên luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau được thể
Trang 17Sơ đồ: 1.1: Các chức năng trong quá trình quản lý
Ngoài bốn chức năng quản lý trên, nguồn thông tin quản lý là yếu tố cực kỳ quan trọng trong quản lý Vì thông tin là nền tảng, là huyết mạch của quản lý, không có thông tin thì không có quản lý hoặc quản lý mắc sai phạm, nhờ có thông tin mà sự trao đổi qua lại giữa các chức năng được cập nhật thường xuyên, từ đó có biện pháp xử lý kịp thời và hiệu quả
1.2.2 Quản lý giáo dục, quản lý nhà trường
* Quản lý giáo dục
Quản lý giáo dục là một bộ phận quan trọng trong quản lý xã hội Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế
hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội” [6, tr.10]
Theo tác giả Nguyễn Trọng Hậu: “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có ý thức, hợp quy luật của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống giáo dục quốc dân nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ sở giáo dục, đảm bảo sự tiếp tục phát triển và mở rộng
hệ thống cả về mặt số lượng cũng như chất lượng” [31, tr.65]
Kế hoạch hóa
Lãnh đạo (chỉ đạo)
Trang 18Tác giả Trần Kiểm cho rằng quản lý giáo dục được phân chia thành hai cấp: vĩ mô và vi mô Đối với cấp vĩ mô: “Quản lý giáo dục được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tất cả mắt xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục là nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành giáo dục” Đối với cấp vi mô: “Quản lý giáo dục được hiểu là hệ thống những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường” [32, tr 36-38]
Cũng như quản lý nói chung, quản lý giáo dục là hệ thống các tác động
có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý giáo dục lên đối tượng nhằm đạt mục tiêu giáo dục đề ra Nhưng quản lý giáo dục không đơn thuần là những tác động theo một hướng Quản lý giáo dục là quản lý hoạt động dạy
và hoạt động học, do đó những tác động của nó lên hệ thống phải là những tác động kép Tác động lên hoạt động dạy, đồng thời chuyển hoá hoạt động dạy thành hoạt động học để đạt tới mục tiêu giáo dục Chính trong quá trình thực hiện sự chuyển hoá đó, nó sẽ phải điều hành, phối hợp tác động của các lực lượng khác, nhằm tạo ra một sức mạnh tổng hợp tác động đến hoạt động giáo dục và đào tạo
* Quản lý nhà trường
Nhà trường là tổ chức giáo dục mang tính nhà nước - xã hội, là thành phần chủ chốt của hệ thống giáo dục Nhà trường là đối tượng quản lý cơ bản của các cơ quan quản lý giáo dục các cấp, đồng thời cũng là hệ thống độc lập
tự quản trong xã hội
Trang 19Theo tác giả Đặng Quốc Bảo, khi nghiên cứu về quản lý nhà trường, quan niệm: “Quản lý nhà trường là quản lý một thiết chế vừa có tính sư phạm, vừa có tính kinh tế; trong đó nhà trường trung học phải xác định sứ mệnh là đào tạo học sinh trở thành người lớn có trách nhiệm tự lập với ba giấy thông hành đi vào đời, đó là: giấy thông hành học vấn, giấy thông hành kỹ thuật nghề nghiệp và giấy thông hành kinh doanh” [7, tr.19]
Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường ở Việt Nam là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục với thế hệ trẻ và từng học sinh” [26, tr.34]
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: “Quản lý nhà trường là quản lý quá trình dạy và quá trình học, tức là đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác để dần dần tiến tới mục đích giáo dục” [35, tr.34]
Hoạt động đặc trưng của trường học là hoạt động dạy và hoạt động học
Đó là hoạt động có tính tổ chức, có nội dung có phương pháp, có mục đích, có
sự lãnh đạo của nhà giáo dục Đồng thời có sự hoạt động tích cực, tự giác của người học trong tất cả các loại hình học tập Nhà trường là tổ chức bao gồm nhiều thành phần cấu thành, mỗi thành phần thực hiện nhiệm vụ nhất định trên cơ sở được phân công trách nhiệm phối hợp, thống nhất thực hiện tiến tới hoàn thành mục tiêu của nhà trường đề ra Kết quả đào tạo chính là thành quả giáo dục của tất cả cán bộ, giáo viên, công nhân viên trong nhà trường và có
sự phối hợp giáo dục của lực lượng ngoài trường
1.2.3 Sinh viên, sinh viên ngoại trú
* Sinh viên
Thuật ngữ này có nguồn gốc từ tiếng Latinh “Student” có nghĩa là người làm việc, học tập nhiệt tình, người đi tìm kiếm, khai thác tri thức Nó được dùng cùng nghĩa tương đương với từ “Student” trong tiếng Anh,
“Etudiant” trong tiếng Pháp
Trang 20Theo ngôn ngữ Hán Việt, từ “sinh viên” được diễn nghĩa ra là người bước vào cuộc sống, cuộc đời Còn theo Từ điển tiếng Việt, khái niệm “sinh viên” được dùng để chỉ người học ở bậc đại học [42, tr.860]
Theo cách phổ biến hiện nay trong xã hội thì khái niệm “sinh viên” được Nhà nước thể chế hoá, pháp lý hoá thuật ngữ này bằng luật định Trong Luật iáo dục 2005 đã thống nhất cách gọi đối với sinh viên như sau: Sinh viên
là người đang học tập tại các trường cao đẳng, trường đại học [34, tr.73]
Trong giới hạn của đề tài này chỉ nghiên cứu với đối tượng là sinh viên hệ chính quy thì có thể thu hẹp nội hàm của khái niệm này như sau:
- Đó là những người đã tốt nghiệp trung học phổ thông
- Họ đã vượt qua kỳ thi tuyển sinh đại học, cao đẳng và đỗ vào trường
- Họ thuộc nhóm thanh niên nam, nữ từ 17 đến 25 tuổi
- Họ chưa có nghề nghiệp, việc làm xác định do đó còn lệ thuộc gia đình về kinh tế
- Họ là nhóm xã hội đặc biệt gồm những thanh niên xuất thân từ các tầng lớp xã hội khác nhau đang trong quá trình học tập, chuẩn bị nghề nghiệp chuyên môn để bước vào một nhóm xã hội mới là tầng lớp tri thức trẻ
* Sinh viên ngoại trú
Theo Quy chế ngoại trú của học sinh, sinh viên các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp hệ chính quy ban hành kèm theo Thông tư số
27/2009/TT-BGDĐT, ngày 19/10/2009 của Bộ Giáo dục và Đào tạo thì học
sinh, sinh viên ngoại trú là học sinh, sinh viên không ở trong khu nội trú của nhà trường
Như vậy, sinh viên ngoại trú gồm ba đối tượng sau:
- Sinh viên sống với cha, mẹ và gia đình ở nhà riêng
- Sinh viên sống với người thân hoặc gia đình người thân ở nhà riêng
- Sinh viên sống tại các nhà trọ không phải Ký túc xá của trường
Như vậy, đặc điểm không ở trong khu nội trú do nhà trường quản lý là
Trang 21Trong giới hạn của đề tài này chỉ nghiên cứu sinh viên ngoại trú sống tại các nhà trọ không phải Ký túc xá của trường
1.2.4 Quản lý công tác sinh viên ngoại trú ở trường đại học
Quản lý SV ngoại trú ở trường đại học là nội dung, cách thức, cách giải quyết vấn đề SV ngoại trú của nhà trường cùng những lực lượng ngoài nhà trường nhằm giúp SV ngoại trú thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong quá trình học tập và rèn luyện tại trường cũng như ở nơi cư trú
Trong quản lý sinh viên ngoại trú, chủ thể quản lý là nhà trường, chính quyền địa phương; đối tượng quản lý là sinh viên ngoại trú
Để đạt các mục tiêu quản lý, chủ thể quản lý phải tổ chức, phối hợp, khích lệ, động viên, dẫn dắt, định hướng hoạt động của đối tượng quản lý vào mục tiêu đã được xác định trước thông qua việc sử dụng hệ thống các công cụ quản lý Cụ thể ở đây là các biện pháp của chủ thể quản lý để quản lý sinh viên ngoại trú theo yêu cầu của công tác sinh viên ngoại trú
Giữa chủ thể quản lý, đối tượng quản lý và công cụ quản lý có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và cùng hướng đến mục tiêu cần đạt của quản lý Mối quan hệ này được biểu diễn bằng sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.2 Quan hệ chủ thể quản lý - đối tượng
quản lý - mục tiêu quản lý
Đối tượng quản lý
Trang 22Như vậy, quản lý công tác SV ngoại trú là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra SV ngoại trú để thực hiện các mục tiêu theo yêu cầu của công tác SV ngoại trú
Quản lý công tác SV là một trong những nhiệm vụ quan trọng của công tác quản lý giáo dục Để thực hiện tốt nhiệm vụ này, đòi hỏi các cơ quan tham gia hoạt động giáo dục, cụ thể là cán bộ quản lý giáo dục phải không ngừng học tập, rèn luyện, nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn, năng lực quản lý và trách nhiệm cá nhân
1.3 Công tác sinh viên ở trường đại học
1.3.1 Vị trí, vai trò của công tác sinh viên trong trường đại học
Theo Điều 2 của Quy chế học sinh, sinh viên các trường đại học, cao
đẳng và trung cấp chuyên nghiệp hệ chính quy (Ban hành kèm theo Quyết
định số 42/2007/QĐ-BGDĐT ngày 13 tháng 8 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ GD& ĐT), quy định: “Công tác HSSV là một trong những công tác trọng tâm
của Hiệu trưởng nhà trường, nhằm bảo đảm thực hiện mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực
của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”
Trong số những người được giáo dục - đào tạo để có thể đủ sức làm chủ nền khoa học, công nghệ hiện đại của nước nhà sau này thì SV là người tiêu biểu, là những người đang được đầu tư, đang được đào tạo ở giai đoạn cuối cùng trong nhà trường một cách có hệ thống Đó là nguồn lực con người lao động có chất lượng và trình độ cao, có chuyên môn sâu, là lực lượng ưu tú
về học vấn trong thanh niên, được Đảng, Nhà nước, các tổ chức đoàn thể, gia đình và toàn thể xã hội quan tâm chăm sóc và đặt nhiều tin tưởng, hy vọng
Trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo nói chung và trong các trường đại học nói riêng thì công tác sinh viên góp phần hỗ trợ tích cực cho giảng dạy
Trang 23Công tác SV bao gồm từ các khâu hành chính, giáo vụ, đến giáo dục ngoài giờ, giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức, công tác y tế, thể thao và tổ chức phong trào SV (kết hợp với Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên ) sẽ hỗ trợ và tạo điều kiện về vật chất và tinh thần trong quá trình học tập để SV rèn luyện trở thành nguồn nhân lực có chất lượng cao Công tác sinh viên có ý nghĩa quyết định trong việc đổi mới và phát triển bền vững yếu tố con người về chất lượng nhận thức tri thức và hành động Công tác sinh viên giúp cho sinh viên có cách nhìn đúng đắn về cuộc sống, xã hội, về quyền lợi và nhiệm vụ của mình từ đó chủ động, tích cực học tập, sáng tạo và phấn đấu trau dồi kiến thức khoa học để trở thành một công dân tốt, người lao động có phẩm chất, có năng lực sau khi học tập ra trường Công tác sinh viên đảm bảo cho sinh viên được hưởng đầy đủ mọi quyền lợi về chế độ, chính sách của Nhà nước, giúp cho sinh viên có đời sống vật chất tinh thần tốt hơn, phong phú hơn từ đó sinh viên yên tâm học tập
Như vậy, công tác sinh viên góp phần hỗ trợ tích cực cho công tác giáo dục và đào tạo trong các trường đại học, cao đẳng
1.3.2 Công tác sinh viên ở trường đại học
Theo Chương III của Quy chế học sinh, sinh viên các trường đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp hệ chính quy, thì nội dung công tác sinh viên ở trường đại học gồm: Công tác tổ chức hành chính; Công tác tổ chức, quản lý hoạt động học tập và rèn luyện của HSSV; Công tác y tế, thể thao; Thực hiện các chế độ, chính sách đối với HSSV; Thực hiện công tác an ninh chính trị, trật tự, an toàn, phòng chống tội phạm và các tệ nạn xã hội; Thực hiện công tác quản lý HSSV nội trú, ngoại trú
Như vậy, công tác sinh viên là những công việc có liên quan đến sinh viên nhằm giúp sinh viên học tập tốt, rèn luyện tốt, hình thành phẩm chất và năng lực công dân Công tác SV là quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ học tập của sinh viên theo đúng chương trình, kế hoạch đã định và thực hiện đúng các quy chế, quy định hiện hành, tổ chức giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo
Trang 24đức, lối sống cho sinh viên, tổ chức quản lý đời sống vật chất và tinh thần của
sinh viên
1.3.3 Nội dung công tác sinh viên ngoại trú ở trường đại học
Theo Chương 3 Quy chế ngoại trú của học sinh, sinh viên các trường
đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp hệ chính quy (Ban hành theo
Thông tư số 27/2009/TT-BGDĐT ngày 19 tháng 10 năm 2009 của Bộ trưởng
Bộ GD và ĐT), quy định nội dung công tác SV ngoại trú như sau:
Điều 7: Công tác quản lý học sinh, sinh viên ngoại trú
- Phổ biến các quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, nhà trường về công tác ngoại trú của học sinh, sinh viên; hướng dẫn và tư vấn thủ tục đăng
Điều 8: Công tác phối hợp
- Lập kế hoạch phối hợp với chính quyền địa phương nắm bắt tình hình
về nhà trọ để tư vấn, giới thiệu chỗ ở cho học sinh, sinh viên có nhu cầu
- Chủ động phối hợp với chính quyền địa phương, cơ quan công an, các ngành có liên quan tổ chức hội nghị giao ban hàng năm giữa nhà trường và chính quyền địa phương về tình hình học sinh, sinh viên ngoại trú, kịp thời giải quyết các vụ việc liên quan đến học sinh, sinh viên ngoại trú
- Phối hợp với Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội sinh viên Việt Nam, Hội Liên hiệp thanh niên Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội khác có liên quan để tư vấn, hỗ trợ, giúp đỡ, tổ chức thực hiện công tác ngoại trú của học sinh, sinh viên
1.4 Phòng công tác sinh viên ở trường đại học
1.4.1 Vị trí, vai trò của Phòng Công tác sinh viên trong trường đại học
Trang 25Theo Điều 13 của Quy chế HSSV các trường đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp hệ chính quy, quy định hệ thống tổ chức, quản lý công tác HSSV gồm: Hiệu trưởng, đơn vị phụ trách công tác HSSV, giáo viên chủ nhiệm và lớp HSSV
Căn cứ vào Quy chế HSSV thì Hiệu trưởng là người chịu trách nhiệm cao nhất về công tác HSSV Tham mưu, giúp hiệu trưởng về công tác HSSV
là đơn vị phụ trách công tác HSSV, đó là Phòng Công tác sinh viên Có nhiều trường đại học theo quy mô và nhiệm vụ đào tạo nên đơn vị phụ trách công tác HSSV được đặt tên là Phòng Công tác HSSV hoặc ghép thêm với công tác chính trị và đặt tên là Phòng Chính trị - Công tác Sinh viên hoặc Phòng Chính trị và Công tác HSSV…
Như vậy, theo Quy chế HSSV thì Phòng Công tác sinh viên là đơn vị được thành lập để phụ trách công tác SV Trong trường đại học, SV là nhân vật trung tâm và hầu hết các hoạt động đều hướng tới SV, chính vì vậy Phòng Công tác sinh viên có vị trí, vai trò quan trọng như các phòng ban khác trong trường đại học
1.4.2 Chức năng, nhiệm vụ của Phòng Công tác sinh viên
* Chức năng:
Theo Điều 15 của Quy chế học sinh, sinh viên các trường đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp hệ chính quy, quy định đơn vị phụ trách công tác HSSV như sau: “Căn cứ Điều lệ nhà trường của từng trình độ đào tạo, Hiệu trưởng quy định chức năng, nhiệm vụ của đơn vị phụ trách công tác HSSV, làm đầu mối giúp Hiệu trưởng thực hiện nội dung công tác HSSV theo quy định tại Chương III của Quy chế này”
Như vậy chức năng của Phòng Công tác sinh viên là đầu mối tham mưu giúp thực hiện nội dung công tác HSSV theo quy định của Quy chế HSSV
* Nhiệm vụ:
Theo Điều 15, Chương IV của Quy chế học sinh, sinh viên các trường
đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp hệ chính quy, Phòng Công tác
Trang 26sinh viên thực hiện các nhiệm vụ trong Chương III của Quy chế này, cụ thể
như sau:
(1) Công tác tổ chức hành chính:
- Tổ chức tiếp nhận thí sinh trúng tuyển vào học theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo và nhà trường, sắp xếp bố trí vào các lớp HSSV; chỉ định Ban cán sự lớp HSSV lâm thời (lớp trưởng, lớp phó) trong thời gian đầu khoá học; làm thẻ cho HSSV
- Tổ chức tiếp nhận HSSV vào ở nội trú
- Thống kê, tổng hợp dữ liệu, quản lý hồ sơ của HSSV
- Tổ chức phát bằng tốt nghiệp cho HSSV
- Giải quyết các công việc hành chính có liên quan cho HSSV
(2) Công tác tổ chức, quản lý hoạt động học tập và rèn luyện của HSSV:
- Theo dõi, đánh giá ý thức học tập, rèn luyện của HSSV; phân loại, xếp loại HSSV cuối mỗi học kỳ hoặc năm học, khoá học; tổ chức thi đua, khen thưởng cho tập thể và cá nhân HSSV đạt thành tích cao trong học tập và rèn luyện; xử lý kỷ luật đối với HSSV vi phạm quy chế, nội quy
- Tổ chức “Tuần sinh hoạt công dân - HSSV” vào đầu khoá, đầu năm
và cuối khóa học
- Tổ chức cho HSSV tham gia các hoạt động nghiên cứu khoa học, thi HSSV giỏi, Olympic các môn học, thi sáng tạo tài năng trẻ và các hoạt động khuyến khích học tập khác
- Tổ chức triển khai công tác giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống cho HSSV; tổ chức cho HSSV tham gia các hoạt động văn hoá, văn nghệ và các hoạt động ngoài giờ lên lớp khác; tổ chức đối thoại định kỳ giữa Hiệu trưởng nhà trường với HSSV
- Theo dõi công tác phát triển Đảng trong HSSV; tạo điều kiện thuận lợi cho HSSV tham gia tổ chức Đảng, các đoàn thể trong trường; phối hợp với Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Hội Sinh viên và các tổ chức chính trị – xã hội
Trang 27khác có liên quan trong các hoạt động phong trào của HSSV, tạo điều kiện cho HSSV có môi trường rèn luyện, phấn đấu
- Tổ chức tư vấn học tập, nghề nghiệp, việc làm cho HSSV
(3) Công tác y tế, thể thao:
- Tổ chức thực hiện công tác y tế trường học; tổ chức khám sức khoẻ cho HSSV khi vào nhập học; chăm sóc, phòng chống dịch, bệnh và khám sức khoẻ định kỳ cho HSSV trong thời gian học tập theo quy định; xử lý những trường hợp không đủ tiêu chuẩn sức khoẻ để học tập
- Tạo điều kiện cơ sở vật chất cho HSSV luyện tập thể dục, thể thao; tổ chức cho HSSV tham gia các hoạt động thể dục, thể thao
- Tổ chức nhà ăn tập thể cho HSSV bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm
(4) Thực hiện các chế độ, chính sách đối với HSSV:
- Tổ chức thực hiện các chế độ chính sách của Nhà nước quy định đối với HSSV về học bổng, học phí, trợ cấp xã hội, bảo hiểm, tín dụng đào tạo và các chế độ khác có liên quan đến HSSV
- Tạo điều kiện giúp đỡ HSSV tàn tật, khuyết tật, HSSV diện chính sách, HSSV có hoàn cảnh khó khăn
(5) Thực hiện công tác an ninh chính trị, trật tự, an toàn, phòng chống tội phạm và các tệ nạn xã hội:
- Phối hợp với các ngành, các cấp chính quyền địa phương trên địa bàn nơi trường đóng, khu vực có HSSV ngoại trú xây dựng kế hoạch đảm bảo an ninh chính trị, trật tự và an toàn cho HSSV; giải quyết kịp thời các vụ việc liên quan đến HSSV
- Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về an toàn giao thông, phòng chống tội phạm, ma tuý, mại dâm, HIV/AIDS và các hoạt động khác
có liên quan đến HSSV; hướng dẫn HSSV chấp hành pháp luật và nội quy, quy chế
- Tư vấn pháp lý, tâm lý, xã hội cho HSSV
Trang 28(6) Thực hiện công tác quản lý HSSV nội trú, ngoại trú:
- Tổ chức triển khai thực hiện công tác quản lý HSSV nội trú, ngoại trú theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo
1.4.3 Yêu cầu quản lý công tác sinh viên trong bối cảnh hiện nay
Nước ta đang bước vào giai đoạn hội nhập quốc tế sâu rộng và toàn diện hơn bao giờ hết Toàn cầu hóa kinh tế tiếp tục phát triển về quy mô, mức độ
và hình thức biểu hiện với những tác động tích cực và tiêu cực, cơ hội và thách thức đan xen rất phức tạp Nếu không có sự phát triển nhanh chóng về kinh tế - xã hội thì nước ta có nguy cơ tụt hậu về mọi mặt so với các nước trong khu vực và trên thế giới Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã đề ra
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020 với mục tiêu “Phấn đấu đến
năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; chính trị - xã hội ổn định, dân chủ, kỷ cương, đồng thuận; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt; độc lập, chủ quyền, thống nhất
và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế tiếp tục được nâng lên; tạo tiền đề vững chắc để phát triển cao hơn trong giai đoạn sau”
Để thực hiện được mục tiêu đó, yếu tố con người có vai trò quyết định Trong đó sinh viên Việt Nam là những trí thức tương lai của đất nước, họ là những người đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội và bảo
vệ Tổ quốc
Liên quan đến công tác sinh viên, chính sách của Nhà nước về học bổng, học phí, tín dụng, chăm sóc sức khỏe sinh viên; công tác y tế, thể thao là những chính sách tích cực có tác động đến sinh viên Ngoài ra Đảng và Nhà nước luôn quan tâm giáo dục lý tưởng cho sinh viên thông qua các hoạt động tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật và thông qua các hoạt động giáo dục, các cuộc vận động, phong trào thi đua yêu nước để tạo môi trường lành mạnh để sinh viên rèn luyện, trưởng thành, góp phần hình thành lý tưởng cách
Trang 29mạng, đạo đức cao đẹp, lối sống, tuân thủ pháp luật, từng bước hoàn thiện nhân cách
Đứng trước yêu cầu đổi mới toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế,
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Chương trình Công tác học sinh, sinh viên các trường đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp giai đoạn 2012-
2016 Mục tiêu cụ thể của Chương trình gồm:
- HSSV được giáo dục, định hướng tốt về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; được hỗ trợ, tạo điều kiện để rèn luyện, phát huy năng lực sáng tạo,
kỹ năng thực hành, tác phong công nghiệp, ý thức trách nhiệm xã hội Khắc phục tình trạng sa sút về đạo đức, lối sống; thiếu kỹ năng sống, kỹ năng nghề nghiệp trong một bộ phận HSSV hiện nay
- Hoàn thiện cơ chế quản lý công tác HSSV đáp ứng yêu cầu đào tạo theo hệ thống tín chỉ
- Giữ vững sự ổn định về an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trong các nhà trường Nâng cao nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật, kiềm chế, đẩy lùi tội phạm, tệ nạn xã hội trong HSSV
- HSSV được tư vấn, chăm sóc tốt về sức khỏe thể chất và tinh thần; được tạo điều kiện luyện tập thể dục thể thao Xây dựng và phát triển phong trào văn nghệ, luyện tập thể dục thể thao thường xuyên trong HSSV
- Phát triển đội ngũ cán bộ làm công tác HSSV đáp ứng được yêu cầu đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục Việt Nam nói chung và lĩnh vực công tác HSSV nói riêng
Chính vì vậy, yêu cầu quản lý công tác SV trong bối cảnh hiện nay của các trường đại học là phải thực hiện tốt các nhiệm vụ sau:
- Tăng cường giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống cho HSSV Triển khai có hiệu quả, sáng tạo việc học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức, tác phong Hồ Chí Minh theo Chỉ thị số 03-CT/TW ngày 14/5/2011 của Bộ Chính trị gắn với đặc thù của ngành Giáo dục
Trang 30- Tiếp tục đổi mới nội dung, phương pháp công tác SV phù hợp với đào tạo theo hệ thống tín chỉ và yêu cầu đổi mới giáo dục - đào tạo
- Đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trong trường học, phòng chống tội phạm, tệ nạn xã hội trong SV
1.5 Quản lý công tác sinh viên ngoại trú ở trường đại học
Theo Điều 3 Quy chế ngoại trú của học sinh, sinh viên các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp hệ chính quy, thì mục đích của quản
lý công tác SV ngoại trú nhằm: “Tạo cơ sở pháp lý để nhà trường phối hợp với chính quyền địa phương trong việc quản lý và hỗ trợ cho học sinh, sinh viên ngoại trú có môi trường ăn, ở, sinh hoạt lành mạnh, học tập và rèn luyện tốt, đồng thời tạo điều kiện cho học sinh, sinh viên tham gia và phát huy được năng lực của mình trong việc xây dựng đời sống văn hóa, nền nếp, kỷ cương, phòng chống tội phạm, tệ nạn xã hội ở nơi cư trú”
Để đạt được mục đích trên thì các trường đại học phải quản lý công tác sinh viên ngoại trú bằng các nhiệm vụ: Xây dựng kế hoạch quản lý công tác sinh viên ngoại trú; tổ chức thực hiện kế hoạch quản lý công tác sinh viên ngoại trú; chỉ đạo thực hiện kế hoạch quản lý công tác sinh viên ngoại trú và kiểm tra, đánh giá công tác sinh viên ngoại trú
1.5.1 Xây dựng kế hoạch quản lý công tác sinh viên ngoại trú
Theo Điều 9 Quy chế ngoại trú của học sinh, sinh viên các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp hệ chính quy thì trách nhiệm của Hiệu trưởng nhà trường là phê duyệt kế hoạch hoạt động công tác quản lý học sinh, sinh viên ngoại trú hàng năm của trường
Trang 31Như vậy, Hiệu trưởng là người chịu trách nhiệm về phê duyệt và thực hiện kế hoạch quản lý công tác SV ngoại trú ở trường đại học Xây dựng kế hoạch quản lý công tác sinh viên ngoại trú phải bám sát quan điểm, chủ trương của Đảng và pháp luật Nhà nước về giáo dục - đào tạo và đáp ứng các mục tiêu, yêu cầu của công tác SV ngoại trú theo Quy định của Bộ GD&ĐT Kế hoạch quản lý công tác SV ngoại trú xây dựng theo năm học hoặc từng giai đoạn
và có kế hoạch phát triển đội ngũ cán bộ, chuyên viên làm công tác quản lý sinh viên ngoại trú đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác SV; có sự phân công, giao nhiệm vụ quản lý SV đối với các phòng, ban, các khoa và tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Hội Sinh viên nhà trường
Xây dựng kế hoạch quản lý công tác SV ngoại trú để đảm bảo cơ sở hợp
lý cho việc bố trí, huy động, phân bổ các nguồn lực trong và ngoài trường cùng tham gia công tác quản lý SV ngoại trú
1.5.2 Tổ chức thực hiện kế hoạch quản lý công tác sinh viên ngoại trú
Để tổ chức thực hiện kế hoạch quản lý công tác sinh viên ngoại trú, Nhà trường phải ban hành quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn đối với bộ máy làm công tác quản lý sinh viên ngoại trú cùng các quy định về quyền lợi, trách nhiệm đối với SV ngoại trú Có sự phối hợp chặt chẽ giữa các phòng ban chức năng, các khoa chuyên môn, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Hội Sinh viên của trường cùng tham gia quản lý sinh viên ngoại trú Xây dựng quy chế phối hợp giữa nhà trường với chính quyền địa phương trong việc quản lý sinh viên ngoại trú Thường xuyên nắm bắt thực trạng sinh viên ngoại trú để có sự điều chỉnh, bổ sung vào kế hoạch công tác cho phù hợp yêu cầu thực tiễn
1.5.3 Chỉ đạo thực hiện kế hoạch quản lý công tác sinh viên ngoại trú
Công tác sinh viên ngoại trú là nhiệm vụ trọng tâm của trường đại học
và đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Hiệu trưởng nhà trường Hiệu trưởng là người chịu trách nhiệm cao nhất về quản lý công tác sinh viên ngoại trú Đơn
vị phụ trách công tác SV là đầu mối thực hiện quản lý sinh viên ngoại trú Các
Trang 32đơn vị phòng ban, các khoa chuyên môn căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ được Hiệu trưởng giao có trách nhiệm phối hợp thực hiện việc quản lý sinh viên ngoại trú
Công tác chỉ đạo thực hiện kế hoạch quản lý công tác sinh viên ngoại trú của Hiệu trưởng có ý nghĩa rất quan trọng và mang tính chất quyết định sự thành công hay thất bại của công tác sinh viên ngoại trú
1.5.4 Kiểm tra, đánh giá công tác sinh viên ngoại trú
Kiểm tra là một chức năng liên quan đến mọi cấp quản lý để đánh giá đúng kết quả hoạt động của hệ thống, đo lường các sai lệch nảy sinh trong quá trình hoạt động so với các mục tiêu và kế hoạch đã định, có kế hoạch tiếp tục hướng dẫn việc sử dụng các nguồn lực để hoàn thành các mục tiêu và kiểm tra, xác định xem hoạt động có phù hợp với mục tiêu và kế hoạch hay không Kiểm tra công tác SV ngoại trú nhằm cung cấp cho nhà trường và địa phương các thông tin cần thiết để đánh giá đúng tình hình của SV ngoại trú và kết quả hoạt động của bộ máy quản lý SV ngoại trú, đồng thời dự kiến các bước tiếp theo của quản lý công tác SV ngoại trú
Đánh giá nhằm cung cấp cho cơ quan quản lý các thông tin đúng, cần thiết cho tình hình của đối tượng quản lý và kết quả hoạt động của cả hệ thống, đồng thời dự kiến quyết định bước phát triển mới Việc đánh giá công tác SV ngoại trú cần có quan điểm toàn diện, nghĩa là phải xem xét trên tất cả các mặt của quản lý công tác sinh viên ngoại trú (xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện kế hoạch, chỉ đạo thực hiện kế hoạch) Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện công tác SV ngoại trú phải có sự phối hợp của nhiều lực lượng trong và ngoài nhà trường
Kiểm tra, đánh giá quản lý công tác sinh viên ngoại trú ở trường đại học là quá trình xem xét, đánh giá thực trạng công tác sinh viên ngoại trú; khuyến khích phát huy những ưu điểm, phát hiện những hạn chế và kịp thời điều chỉnh công tác quản lý sinh viên ngoại trú theo mục đích, yêu cầu đề ra
Trang 331.6 Những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý công tác sinh viên ngoại trú ở trường đại học
Trong trường đại học, công tác sinh viên ngoại trú là một nội dung của công tác sinh viên Chính vì vậy các hoạt động của công tác SV ngoại trú có ảnh hưởng trực tiếp đến công tác sinh viên nói chung Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả chỉ ra những yếu tố chủ quan và yếu tố khách quan có ảnh hưởng quyết định đến quản lý công tác sinh viên ngoại trú ở trường đại học
1.6.1 Yếu tố chủ quan
- Vai trò của Hiệu trưởng: Hiệu trưởng là người đứng đầu và chịu trách
nhiệm cao nhất về quản lý công tác sinh viên ngoại trú ở trường đại học Hiệu trưởng xây dựng kế hoạch quản lý công tác sinh viên ngoại trú đảm bảo theo đúng các quy định của Quy chế ngoại trú HSSV và chỉ đạo thực hiện kế hoạch Phương pháp quản lý của Hiệu trưởng có quyết định đến quản lý công tác sinh viên ngoại trú Bên cạnh đó, Hiệu trưởng chủ động trong việc kiểm tra, đánh giá công tác quản lý sinh viên ngoại trú để có sự điều chỉnh phù hợp trong quá trình chỉ đạo
- Cán bộ được giao nhiệm vụ quản lý sinh viên ngoại trú: Đây là đội
ngũ cán bộ của phòng Công tác SV Hiện nay chưa có chuyên ngành nào đào tạo cán bộ làm công tác quản lý sinh viên ngoại trú Tuy nhiên làm công tác quản lý sinh viên ngoại trú thì mỗi cán bộ, giảng viên được giao nhiệm vụ cần phải nắm vững Quy chế công tác HSSV và Quy chế ngoại trú của HSSV Cán
bộ được giao nhiệm vụ quản lý sinh viên ngoại trú là người theo dõi, nắm bắt chính xác nhất những vấn đề liên quan đến công tác SV ngoại trú; là cầu nối giữa nhà trường với chính quyền địa phương trong việc phối hợp quản lý sinh viên ngoại trú; là người giám sát đảm bảo quyền lợi cũng như thực hiện trách nhiệm của sinh viên ngoại trú
- Vai trò của cố vấn học tập: Giảng viên cố vấn học tập là người theo
sát sinh viên trong quá trình học tập và rèn luyện tại trường Là người nắm
Trang 34danh sách sinh viên của lớp được giao làm CVHT (tóm tắt thông tin cá nhân,
về hoàn cảnh gia đình, sức khoẻ và điều kiện học tập của sinh viên) từ đó hướng dẫn sinh viên xây dựng kế hoạch học tập riêng phù hợp với yêu cầu của ngành đào tạo, phù hợp với năng lực, sở thích, điều kiện sinh hoạt, hoàn cảnh kinh tế của từng sinh viên Cố vấn học tập có trách nhiệm tư vấn cho SV thực hiện đúng quy định về công tác SV ngoại trú
- Chính quyền địa phương: Sinh viên ngoại trú ở trọ, đây là một bộ
phận cư dân của địa phương, được chính quyền địa phương đồng ý cho tạm trú trong một thời gian nhất định Chính quyền địa phương phải có những biện pháp tích cực và chung tay với các trường để làm tốt công tác quản lý SV ngoại trú Sinh viên có trách nhiệm đăng ký tạm trú, tạm vắng với công an khu vực Nhà trường phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương để nắm được chính xác địa chỉ của SV để có biện pháp quản lý SV ngoại trú
- Đặc điểm của sinh viên ngoại trú: SV ngoại trú sống và hoạt động tại
các tổ dân phố, các khu dân cư và chấp hành các quy định của địa phương nơi
SV tạm trú SV ngoại trú có thể ở trong phòng riêng hoặc phòng chung Trong mỗi phòng chung có thể là SV cùng lớp, cùng khoá, cùng khoa hoặc khác lớp, khác khoa, khác khoá học; có thể cùng hoặc khác chuyên ngành được đào tạo; cùng tuổi hoặc không cùng tuổi; SV có thể khác nhau về quê hương, về thành phần xuất thân, về trình độ nhận thức và quan niệm sống song họ có chung một mục đích là học tập và rèn luyện để trở thành những người có nghề nghiệp theo chuyên ngành được đào tạo
Như vậy, SV ngoại trú sống và hoạt động hoàn toàn thoát ly khỏi tầm kiểm soát trực tiếp của nhà trường và gia đình Do sống phân tán trong các nhà trọ nên đời sống SV ngoại trú ít mang tính tập thể Nhân cách của SV ngoại trú được hình thành và chịu tác động, ảnh hưởng của nhiều yếu tố trong môi trường sống ngoại trú
- Hình thức đào tạo: Hiện nay các trường đại học chủ yếu áp dụng hình
Trang 35học là trung tâm Chương trình học linh hoạt hơn, SV có thể chủ động trong việc sắp xếp thời gian, tự đăng ký lịch học và số môn cho học kỳ, SV chủ động tham gia vào môi trường cộng tác dạy - học Mỗi SV có một thời khóa biểu riêng và không theo một quy luật nào Tổ chức lớp học bị phá vỡ và SV chủ động trong cách học cũng như thời gian học Tự học là một thành phần hợp pháp trong cơ cấu giờ học của sinh viên, do vậy số giờ lên lớp của SV giảm (rút ngắn 1/3 so với học theo niên chế)
Học tín chỉ, thực chất là dành quyền chủ động cho SV tự sắp xếp thời gian để tự học và nghiên cứu Lên lớp, giảng viên chỉ có vai trò dẫn dắt và định hướng, còn lại SV phải tự tìm hiểu và nghiên cứu Đây cũng là vấn đề đặt ra đối với các trường đại học trong công tác quản lý SV nói chung và công tác quản lý SV ngoại trú nói riêng
1.6.2 Yếu tố khách quan
- Điều kiện kinh tế - xã hội: Sau gần 30 năm đổi mới, dưới sự lãnh đạo
của Đảng, kinh tế - xã hội nước ta có bước phát triển mạnh mẽ, an ninh chính trị được giữ vững, đời sống nhân dân từng bước được ổn định Cùng với các chính sách phát triển kinh tế - xã hội, Đảng và Nhà nước ta đã luôn quan tâm đến giáo dục và đào tạo, trong đó đầu tư phát triển mạng lưới các trường đại học, quan tâm phát triển đội ngũ nhà giáo, ban hành những chế độ, chính sách
ưu tiên đối với HSSV Đây là những cơ hội để SV có điều kiện học tập, rèn luyện tốt hơn
Kinh tế phát triển kéo theo những tệ nạn xã hội nảy sinh, như cờ bạc, mại dâm, ma túy Những tệ nạn này đang có nguy cơ xâm lấn trường học, làm ảnh hưởng đến môi trường giáo dục Bên cạnh đó, trong xã hội đang hình thành lối sống chạy theo đồng tiền, khiến mối quan hệ gắn bó giữa những người thân trong gia đình, giữa cá nhân với cá nhân, giữa cộng đồng với cá nhân ngày càng trở lên xa cách; các cá nhân có xu hướng sống biệt lập, coi trọng cái tôi Điều đó đã ảnh hưởng nghiêm trọng đối với sinh viên
Trang 36- Tình hình an ninh chính trị: Sinh viên là đối tượng mà các thế lực thù
địch thực hiện “diễn biến hoà bình”, nhằm mục tiêu chống phá cách mạng nước ta trong hiện tại và tương lai Với âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch, chúng lôi kéo, kích động sinh viên vào các hoạt động chống phá, nhằm tạo ra sự bất ổn về chính trị tư tưởng Nằm trong chiến lược đó, âm mưu của các thế lực thù địch đối với sinh viên là tác động chuyển hóa về tư tưởng đối với sinh viên, đưa sinh viên vào các hoạt động chống đối, biểu tình, tham gia các tổ chức phản động; sử dụng số này như lực lượng châm ngòi cho cuộc đấu tranh đòi “tự do, dân chủ”, tạo dựng lực lượng đối lập về chính trị, dần dần thiết lập chế độ đa nguyên, đa đảng đối lập nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam
Những yếu tố chủ quan và yếu tố khách quan trên được nhận định là có ảnh hưởng quan trọng đến quản lý công tác sinh viên ngoại trú ở trường đại học Những yếu tố này có ảnh hưởng tích cực và tiêu cực đối với quản lý công tác sinh viên ngoại trú Chính vì vậy, vấn đề đặt ra đối với các trường đại học, cao đẳng là phải phát huy tối đa những yếu tố tích cực, hạn chế thấp nhất những yếu tố tiêu cực để công tác sinh viên ngoại trú đạt được mục đích, yêu cầu đề ra
* Tiểu kết chương 1
Sau khi trình bày các khái niệm và thuật ngữ có liên quan đến đề tài với mục đích là làm rõ cơ sở lý luận khoa học về vấn đề nghiên cứu, chương 1 của luận văn đi vào tìm hiểu mục đích và nội dung của quản lý công tác sinh viên ngoại trú, những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý công tác sinh viên ngoại trú ở trường đại học
Những cơ sở lý luận về công tác sinh viên ngoại trú ở trường đại học là nền tảng và định hướng cho việc tìm hiểu thực trạng quản lý công tác sinh viên ngoại trú tại Trường Đại học Hải Phòng và đề xuất các biện pháp quản lý
Trang 37Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÔNG TÁC SINH VIÊN NGOẠI TRÚ
TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG 2.1 Khái quát về Trường Đại học Hải Phòng
Trường Đại học Hải Phòng ngày nay là sự hợp thành từ nhiều trường trong hệ thống các đơn vị đào tạo, bồi dưỡng ở Hải Phòng, mà đơn vị tiền thân đầu tiên là Trường Sư phạm trung cấp Hải Phòng được thành lập theo Nghị định số 359-NĐ, ngày 22 tháng 7 năm 1959 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục Trường Sư phạm trung cấp Hải Phòng có nhiệm vụ đào tạo giáo viên cấp 2 cho các tỉnh Hải Dương, Hải Phòng và Kiến An (nay là thành phố Hải Phòng), Hồng Quảng và Hải Ninh (nay là tỉnh Quảng Ninh) Sau khi thành lập, nhà trường đã tập trung làm tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên phổ thông, góp phần tích cực cho quá trình phát triển sự nghiệp giáo dục ở các địa phương trong những năm đầu của công cuộc xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc và kháng chiến chống Đế quốc Mỹ, giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước Hệ thống các đơn vị đào tạo, bồi dưỡng giáo viên ở Hải Phòng
đã hình thành từ các trường đào tạo và bồi dưỡng sư phạm theo các cấp học từ bậc sơ cấp, trung cấp, 10+1, 10+2, 10+3 tới cao đẳng Năm 2000, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định thành lập Trường Đại học Sư phạm Hải Phòng trên cơ
sở sáp nhập Trường Cao đẳng sư phạm Hải Phòng, Trường Đại học tại chức Hải Phòng, Trường Cán bộ quản lý giáo dục và Bồi dưỡng giáo viên Hải Phòng và Trung tâm Ngoại ngữ Hải Phòng Ngày 09 tháng 4 năm 2004, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định số 60/2004/QĐ-TTg đổi tên Trường Đại học Sư phạm Hải Phòng thành Trường Đại học Hải Phòng
Kể từ khi được nâng cấp lên đại học, Trường Đại học Hải Phòng đã có những bước đi đúng đắn, năng động, có bước phát triển nhanh về đội ngũ giảng viên, về quy mô đào tạo theo hướng đa ngành; tích cực đầu tư xây dựng
cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao
Trang 38công nghệ, nâng cao chất lượng đào tạo Quá trình phát triển, Trường Đại học Hải Phòng đã đào tạo và bồi dưỡng hàng vạn lượt giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục các bậc học phổ thông và mầm non; đào tạo và bồi dưỡng hàng ngàn lượt cán bộ quản lý kinh tế, khoa học kỹ thuật - công nghệ, cung cấp nhân lực cho thành phố Hải Phòng và các địa phương trong cả nước Năm 2009, Trường Đại học Hải Phòng đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo đánh giá đạt Tiêu chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục đại học Việt Nam Trường Đại học Hải Phòng
đã và đang trở thành trường đại học uy tín, có quy mô lớn, đang phát triển mạnh đào tạo đa ngành theo định hướng ứng dụng, hội nhập và bền vững, với chất lượng quốc gia và quốc tế, cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao phục
vụ phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Hải Phòng, các địa phương vùng Duyên hải Bắc Bộ và cả nước Trường Đại học Hải Phòng vinh dự được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng Ba
Trường Đại học Hải Phòng có 4 cơ sở đào tạo nằm ở hai quận Kiến An
và Quận Ngô Quyền (số 2 Nguyễn Bình, số 10 Trần Phú, số 246 Đà Nẵng và
số 171 Phan Đăng Lưu) với tổng diện tích là gần 32 ha Cơ sở chính đặt ở quận Kiến An rộng 27,1 ha Trong những năm qua, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học của Nhà trường được đầu tư xây dựng, mua sắm tương đối hiện đại, đảm bảo phục vụ các hoạt động dạy và học Hệ thống giảng đường, phòng học thực hành, thí nghiệm, thư viện, nhà thi đấu đa năng, sân vận động đáp ứng nhu cầu học tập, nghiên cứu và các hoạt động văn hóa, văn nghệ thể dục thể thao của cán bộ, giảng viên, sinh viên Ký túc xá SV được xây dựng hiện đại, đáp ứng một phần nhu cầu ở nội trú của SV
Hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên và sinh viên Nhà trường
đã có nhiều chuyển biến tích cực, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo và phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Giai đoạn 2010-2015, cán
bộ, giảng viên đã thực hiện 174 đề tài nghiên cứu khoa học các cấp, trong đó
có 12 đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ và thành phố Trên 10 bài báo khoa
Trang 39ISI Tạp chí Khoa học của Trường đã được Bộ Thông tin và Truyền thông cấp Giấy phép hoạt động báo chí in, được Bộ Khoa học và Công nghệ cấp Mã số chuẩn quốc tế: ISSN 1859-2868 Nhà trường đã tổ chức nhiều Hội thảo khoa học cấp quốc gia về Toán học, Ngoại ngữ, Kinh tế và Sư phạm
Nhà trường có quan hệ hợp tác với các trường đại học lớn trong khu vực và trên thế giới, đặc biệt là với các trường đại học, học viện của Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan Có hơn 200 SV nước ngoài hiện đang học tại Trường Thực hiện chủ trương ngoại giao nhân dân, hàng năm Nhà trường đã tiếp nhận và đào tạo tiếng Việt cho sinh viên Lào, sinh viên Campuchia, thực hiện Dự án đào tạo 45 giáo viên tiếng Nhật
Trường Đại học Hải Phòng xác định sứ mạng, tầm nhìn và giá trị cốt lõi trong Chiến lược phát triển đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 như sau:
- Sứ mạng: Trường Đại học Hải Phòng là cơ sở giáo dục đại học đa cấp,
đa ngành, đa lĩnh vực, có sứ mệnh đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao; là trung tâm giáo dục - đào tạo, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ và trung tâm văn hóa phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa thành phố Hải Phòng, vùng Duyên hải Bắc Bộ và cả nước
- Tầm nhìn: Đến năm 2030 trở thành một trường đại học hàng đầu Việt
Nam theo định hướng ứng dụng, tiệm cận trình độ tiên tiến trong khu vực
- Giá trị cốt lõi: Chất lượng - Hiệu quả - Phát triển bền vững - Đáp ứng
nhu cầu xã hội - Hội nhập Quốc tế
2.2 Cơ cấu tổ chức của Trường Đại học Hải Phòng
Cơ cấu tổ chức của Nhà trường năm học 2015-2016, gồm có:
- Ban Giám hiệu có 5 người:
+ Hiệu trưởng
+ Phó Hiệu trưởng phụ trách công tác Đào tạo
+ Phó Hiệu trưởng phụ trách công tác Cơ sở vật chất
+ Phó Hiệu trưởng phụ trách công tác Nghiên cứu khoa học
+ Phó Hiệu trưởng phụ trách công tác Học sinh, Sinh viên
Trang 40Các phòng, ban chức năng: Phòng Tổ chức Cán bộ, Phòng Chính trị
-Công tác HSSV, Phòng Quản lý Sau đại học, Phòng Kế hoạch - Tài chính, Phòng Hành chính - Quản trị, Phòng Quản lý thiết bị, Phòng Đào tạo, Phòng Quản lý khoa học, Phòng Đào tạo và Hợp tác quốc tế, Phòng Thanh tra Pháp chế, Phòng Khảo thí và Đảm bảo chất lượng, Phòng Bảo vệ, Trung tâm Đào tạo Thường xuyên, Trung tâm Đào tạo BDCB, Ban Quản lý Ký túc xá, Thư viện, Ban Quản lý Dự án Xây dựng
- Các đơn vị đào tạo: Khoa Khoa học Tự nhiên, Khoa Toán, Khoa Ngữ văn và Địa lý, Khoa Ngoại ngữ, Khoa Giáo dục Chính trị, Khoa Thể dục Thể thao, Khoa Tâm lý Giáo dục học, Khoa Giáo dục Tiểu học và Mầm non, Khoa Du lịch, Khoa Công nghệ Thông tin, Khoa Xây dựng, Khoa Điện - Cơ, Khoa Kế toán Tài chính, Khoa Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, Viện Sinh - Nông, Trung tâm Ngoại ngữ, Trung tâm Đào tạo Bồi dưỡng cán bộ, Trung tâm Giáo dục Quốc phòng, Trung tâm Thực hành Kỹ thuật
- Các trường thực hành: Trường Phổ thông Phan Đăng Lưu, Trường
Mầm non Thực hành, Trường Tiểu học Thực hành
- Tổ chức Đảng: Đảng bộ Trường Đại học Hải Phòng
- Các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội: Công đoàn, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Hội Sinh viên
2.3 Số lượng, chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên, chuyên viên
- Số lượng: Tổng số cán bộ quản lý, giảng viên, chuyên viên của trường
tính đến năm học 2014 - 2015 có 807 người, trong đó có 181 người giữ chức
vụ quản lý (từ tổ phó chuyên môn trở lên), 626 người giữ ngạch giảng viên, giáo viên và chuyên viên
- Chất lượng: Đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên, chuyên viên của
Trường Đại học Hải Phòng có phẩm chất chính trị vững vàng, chấp hành tốt chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật Nhà nước, không ngừng phấn đấu vươn lên trong học tập nâng cao trình độ chuyên môn, tin học, ngoại ngữ,