1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Mối quan hệ giữa hoạt động đảm bảo chất lượng và sự hình thành văn hóa chất lượng trong trường đại học

79 366 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 47,76 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số cuốn sách chuyên khảo về quyền con người trong hiến pháp đã được xuất bản như: Nguyễn Đăng Dung, Tỉnh nhân bản của Hiến pháp và bản tính của các cơ quan nhà nước, nhà xuất bản Tư

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

ĐỎ DANH TRÍ

CÁC GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM TH ựC HIỆN CHẾ ĐỊNH QUYÈN CON NGƯỜI, QUYÈN CÔNG DÂN

TRONG HIẾN PHÁP VIỆT NAM NĂM 2013

Chuyên ngành : Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật

Mã số : 60 38 01 01

LUẬN VĂN THẠC s ĩ LUẬT HỌC

Cản bộ hưởng dẫn khoa học: GS TS Phạm Hồng Thái

Hà N ộ i-2 0 1 4

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bổ trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chỉnh xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi cỏ thể bảo vệ Luận văn.

Tôi xin chân thành cảm ơn Ị

Hà Nội.

NGƯỜI CAM ĐOAN

Đỗ Danh Trí

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN 2

MỤC L Ụ C 3

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: 6

C ơ SỞ LÝ LUẬN VÈ QUYÈN CON NGƯỜI, QUYÊN CÔNG DÂN TRONG HIẾN PH ÁP 6

1.1 Khái niệm quyền con người, quyền công dân 6

1.1.1 Khái niệm quyền con ngư ờ i 6

1.1.2 Khái niệm quyền công d ân 7

1.2 Mối quan hệ giữa quyền con người, quyền công dân và hiến pháp 7

1.3 Khái quát về quyền con người, quyền công dân trong các Hiến pháp Việt Nam trước năm 2013 10

1.3.1 Hiến pháp 1946 10

1.3.2 Hiến pháp 1959 12

1.3.3 Hiến pháp 1980 16

1.3.4 Hiến pháp 1992 21

CHƯƠNG 2: CHẾ ĐỊNH QUYÈN CON NGƯỜI, QUYỀN CÔNG DÂN TRONG HIÉN PHÁP VIỆT NAM NĂM 2013 2.1 Sự cần thiết, mục đích sửa đổi Hiến pháp 1992 và định hướng sửa đổi, bổ sung chế định quyền con người, quyền công d â n 27

2.1.1 Sự cần thiết, mục đích sửa đổi Hiến pháp 1992 27

2.1.2 Định hướng sửa đổi, bổ sung chế định quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp 1992 29

Trang 4

2.2 Những điểm mới trong chế định quyền con người, quyền công dân trong

Hiến pháp Việt năm 2013 32

2.3 Những thuận lợi và khó khăn, thách thức trong việc thực thi chế định quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp 2013 40

2.3.1 Thuận lợi: 40

2.3.2 Khó khăn và thách thức 41

CHƯƠNG 3 MỘT SÓ ĐÈ XUẤT NHẰM NÂNG CAO KHẢ NĂNG THựC THI CHẾ ĐỊNH QUYỀN CON NGƯỜI, QUYÈN CÔNG DÂN TRONG HIẾN PHÁP VIỆT NAM NĂM 2013 • 3.1 Giải pháp đẩy nhanh việc rà soát, điều chỉnh, hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến quyền con người, quyền công d ân 45

3.2 Nâng cao vai trò, trách nhiệm của các cơ quan trong hệ thống chính trị Việt Nam trong việc đảm bảo thực thi quyền con người: 50

3.2.1 Vai trò, trách nhiệm của Quốc h ộ i: 50

3.2.2 Vai trò trách nhiệm của Chính p h ủ : 52

3.2.3 Vai trò trách nhiệm của các cơ quan Tư pháp: 53

3.3 Giải pháp phát huy vai trò của các tổ chức xã hội dân sự (XHDS) 57

3.4 Giải pháp xây dựng chế độ trách nhiệm của cán bộ, công chức nhà nước và hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát bảo đảm nhân dân tham gia thực sự công việc nhà nước 61

3.5 Giải pháp xóa đói, giảm nghèo, thực hiện công bằng xã hội, giảm sự phân hóa giàu nghèo, nền tảng cho phát triển bền vững 63

KẾT L U Ậ N 64

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 65

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết của việc nghiên cứu đề tài

Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội khóa XIII Kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 28 tháng 11 năm 2013 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2014, với vị trí pháp lý cao nhất, Hiến pháp năm 2013 có sử mệnh tạo nền tảng pháp lý vững chắc và động lực mạnh mẽ cho sự vận hành toàn bộ đời sống xã hội và sinh hoạt quốc gia trên nền tảng dân chủ, pháp quyền Hiến pháp năm 2013 của Việt Nam phản ảnh nhu cầu bức thiết của sự phát triển mọi mặt của đất nước trên con đường phát triển và hội nhập, bảo đảm sự phù hợp với các giá trị căn bản của thời đại

Sửa đổi Hiến pháp nhằm mục đích tiếp tục phát huy dân chủ XHCN, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, huy động các lực lượng xã hội phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước; tiếp tục khẳng định và làm rõ hom vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội; tiếp tục phát huy nhân tố con người, thể chế hóa sâu sắc hom quan điểm về việc công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người; xây dựng và hoàn thiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; phát triển văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ; bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN; xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam; tích cực, chủ động hội nhập quốc tế Đồng thời, sửa đổi Hiến pháp còn có mục đích bảo đảm để Hiến pháp có sức sống lâu bền, bảo đảm hiệu lực, tính ổn định cao của Hiến pháp trong Nhà nước pháp quyền XHCN

Hiến pháp 2013 gồm 11 chương, 120 điều (so với Hiến pháp 1992 giảm 01 chương, 27 điều, chỉ giữ nguyên 7 điều, bổ sung 12 điều mới và sửa

Trang 6

đổi 101 điều) Mức độ sửa đổi như vậy là rất lớn, trong đó chế định về quyền con người, quyền công dân chứa đựng nhiều điểm mới nhất.

Trong bối cảnh nước ta đang triển khai Nghị quyết của Quốc hội về thi hành hiến pháp, thì việc nghiên cứu và đề xuất các giải pháp thực hiện có hiệu quả những chế định cụ thể trong Hiến pháp 2013 là hết sức cần thiết

Xuất phát từ những lý do nêu trên, tác giả đã chọn đề tài: “Các giải pháp bảo đảm thực hiện chế định quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp Việt Nam năm 2013 ” để làm luận văn thạc sỹ chuyên ngành lý

luận và lịch sử nhà nước và pháp luật

2 Tinh hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Trong thời gian qua, vấn đề quyền con người được nghiên cứu nhiều ở

cả bình diện quốc tế và quốc gia Nhiều tổ chức quốc tế, đặc biệt là Liên hợp quốc coi quyền con người là nội dung quan trọng trong các hoạt động của mình Quyền con người đã được nhiều tổ chức và cá nhân nghiên cứu như:

UNDP, Human Development Report 2000: Human Rights and Human Development, New York, 2000; United Nations, Frequently asked questions on a human rights - based approach to development cooperation; Johannes Morsink, The Universal Declaration o f Human rights: Origins, Drafting, and Intent, Philadelphia: University o f

Pennsylvania Press, 1999; trong đó, một số cuốn sách đã được dịch sang

tiếng Việt như: Jacques Mourgon, Quyền con người, Trung tâm nghiên cứu quyền con người, Hà Nội, 1995; Wolfgang Benedek (Chủ biên), Tim hiểu

về quyền con người, nhà xuất bản Tư pháp, 2008; .

Năm 2005, Bộ ngoại giao Việt Nam chủ trì, công bố tập tài liệu: “Thành tựu bảo vệ và phát triển quyền con người ở Việt N a m Trung tâm nghiên cứu

quyền con người (nay là Viện nghiên cứu quyền con người trực thuộc Học

viện Chính trị - hành chính quốc gia Hồ Chí Minh), Việt Nam với vấn đề

Trang 7

quyền con người', và đề tài độc lập cấp nhà nước, Quyền con người trong thời

kỳ đổi mới - thành tựu - vấn đề và phương hướng giải quyết; đề tài: “ Việt Nam với vấn đề quyền con người' - một công trình nghiên cứu do Bộ Tư

pháp chủ trì cùng với sự tham gia của nhiều cơ quan

Một số cuốn sách chuyên khảo về quyền con người trong hiến pháp đã

được xuất bản như: Nguyễn Đăng Dung, Tỉnh nhân bản của Hiến pháp và bản tính của các cơ quan nhà nước, nhà xuất bản Tư pháp, 2004; Nguyễn Văn Động, Các quyền hiến định về xã hội của công dân Việt Nam, nhà xuất

bản Tư pháp, 2 0 0 6 ,

Trước và sau khi Quốc hội thông qua Hiến pháp năm 2013 đã có nhiều hội thảo, nhiều đề tài, bài viết của các tác giả có liên quan đến Hiến pháp nói chung và chế định quyền con người, quyền công dân nói riêng, cụ thể có thể liệt kê:

Hội thảo “Hiến pháp 2013, những điểm mới và các vấn đề đặt ra cho thực tiễn thi hành” do Đại học Luật Hà Nội tổ chức ngày 25/02/2014;

Hội thảo “Định hướng thể chế hóa bằng pháp luật nhằm bảo đảm thực hiện quyền con người trong Hiến pháp 2013” do Viện Khoa học Pháp lý - Bộ

Tư pháp tổ chức ngày 28/3/2014;

Hội thảo “Hiến pháp 2013 và vấn đề đổi mới tố tụng hình sự ở Việt Nam” do Viện Chính sách công & pháp luật thuộc Liên hiệp các Hội khoa học & kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Học viện Chính trị khu vực IV và ủ y ban nhân dân tỉnh An Giang tổ chức ngày 30/5/2014;

Những công trình, bài viết nêu trên đã cung cấp một lượng tri thức, thông tin lớn về Hiến pháp về quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp Việt Nam Nhiều tri thức, thông tin trong các công trình đã nêu được

kế thừa, trích dẫn trong luận văn này

Trang 8

Mặc dù vậy, các công trình nêu trên đều chưa tập trung phân tích toàn diện chế định con người, quyền cơ bản của công dân trong Hiến pháp 2013 Chính vì vậy, việc thực hiện luận văn này vẫn là cần thiết, đặc biệt trong bối cảnh nước ta đang triển khai thi hành Hiến pháp 2013 vào thực tế cuộc sống.

3 Mục đích nghiên cứu

Mục đích của luận văn là làm rõ những nội dung và giá trị tiến bộ, hạn chế, thách thức của chế định quyền và nghĩa vụ của con người, công dân trong Hiến pháp 2013, từ đó đề ra các giải pháp đảm bảo thực thi chế định nàv trên thực tế

4 Phạm vỉ nghiên cứu

Luận văn chỉ tập trung phân tích chế định quyền con người, quyền công dân của các bản Hiến pháp Việt Nam, đặc biệt đi sâu Hiến pháp 2013 mà không mở rộng sang các chế định khác của các bản hiến pháp này

§ Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài

Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác-Lênin; đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam về nhà nước, pháp luật và quan điểm của Liên hợp quốc về nhân quyền

Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng trong luận văn này bao gồm: phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, và so sánh

6 Điểm mới của đề tài

Như đã đề cập, ở Việt Nam từ trước đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp nhưng chưa

có công trình nào phân tích một cách toàn diện những giá trị tiến bộ của chế định quyền và nghĩa vụ của công dân trong bản Hiến pháp 2013, và đưa ra nhũng giải pháp đảm bảo thực thi chế định này trên thực tế

Trang 9

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc triển khai thi hành Hiến pháp 2013 cũng như có thể sử dụng như là tài liệu tham khảo trong hoạt động giảng dạy, nghiên cứu về luật hiến pháp và luật nhân quyền ở Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội và các cơ sở đào tạo khác ở Việt Nam

8 Kết cấu của đề tài

Luận văn gồm phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Danh mục bảng, biểu và 3 chương như sau:

Chương 1 Cơ sở lý luận về quyền con người, quyền công dân trong hiến pháp

Chương 2 Chế định quyền con người, quyền công dân trong hiến pháp Việt Nam năm 2013

Chương 3 Một số đề xuất nhằm nâng cao khả năng thực thi chế định quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp Việt Nam năm 2013

Trang 10

CHƯƠNG 1:

C ơ SỞ LÝ LUẬN VÈ QUYÈN CON NGƯỜI, QUYÈN CỒNG DÂN

TRONG HIẾN PHÁP

1.1 Khái niệm quyền con nguòi, quyền công dân

1.1.1 Khái niệm quyền con người

Quyền con người là một khái niệm đa diện, cho đến nay chúng ta phải thừa nhận rằng thật khó có thể tìm thấy một định nghĩa triết học kinh điển nào

về quyền con người

Ngoài việc không có một định nghĩa tiêu chuẩn thống nhất, cách hiểu

về quyền con người cũng cho thấy có sự khác biệt Thứ nhất, hiện đang còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về nguồn gốc, bản chất của quyền con người Thứ hai, quyền con người được xem xét dưới nhiều lĩnh vực khác nhau như triết học, đạo đức, chính trị, pháp luật, tôn giáo mà mỗi lĩnh vực lại tiếp cận khái niệm này ở một góc độ riêng, tuy nhiên không lĩnh vực nào bao hàm được tất cả các thuộc tính của quyền con người

Theo Đại Từ điển Tiếng Việt, “nhân quyền” chính là “quyền con người” Như vậy, xét về mặt ngôn ngữ học, quyền con người và nhân quyền

là hai từ đồng nghĩa, Cả hai thuật ngữ này đều bắt nguồn từ thuật ngữ chung bằng tiếng Anh được sử dụng trong môi trường quốc tế, đó là “human rights”

Từ “human rights” trong tiếng Anh có thể được dịch là quyền con người (thuần Việt) hoặc nhân quyền (Hán - Việt) Như vậy trong đề tài này chúng ta

có thể thống nhất sử dụng một cách linh hoạt 2 thuật ngữ này

Theo tài liệu của Liên hợp quốc: “United Nations: Human Rights: Question and Answer” hiện có khoảng 50 định nghĩa về quyền con người đã

được công bố trên thế giới Nhân quyền được định nghĩa một cách khái quát

Trang 11

là những quyền bẩm sinh, vốn có của con người mà nếu không được hưởng thì chúng ta sẽ không thể sống như một con người.

Tuy nhiên, định nghĩa của Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc thường được trích dẫn bởi các nhà nghiên cứu, theo đó: “Quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu (universal legal guarantees) có tác dụng bảo vệ các

cá nhân và các nhóm chống lại những hành động (action) hoặc sự bỏ mặc (omission) làm tổn hại đến nhân phẩm, tự do cơ bản (fundamental freedoms) của con người.”

1.1.2 Khái niệm quyền công dân

Một cách khái quát nhất, quyền công dân (citizen’s rights) là những

quyền con người được các nhà nước thừa nhận và áp dụng cho công dân của mình Với ý nghĩa là một khái niệm gắn liền với nhà nước, thể hiện mối quan

hệ giữa công dân với nhà nước, được xác định thông qua chế độ quốc tịch, quyền công dân là tập hợp những quyền tự nhiên được pháp luật của một nước ghi nhận và bảo đảm, nhưng chủ yếu dành cho những người có quốc tịch của nước đó [1]

Quyền công dân là khái niệm gắn liền với Nhà nước, thể hiện mối quan

hệ giữa công dân với Nhà nước, được xác định bởi chế định quốc tịch Quyền công dân là tập hợp những quyền con người được pháp luật của một nưởc ghi nhận và chỉ những người mang quốc tịch của một nước thì mới được hưởng các quyền công dân mà pháp luật nước đó quy định

1.2 Mối quan hệ giữa quyền con nguòi, quyền công dân và hiến phápQuyền con người, quyền công dân và hiến pháp là những khái niệmkhông đồng nhất, song có mối liên hệ rất chặt chẽ, tác động, bổ sung lẫn nhau Thực tế cho thấy sự gắn bó giữa hiến pháp, quyền con người và quyền công dân ngày càng trở lên mật thiết, khăng khít, không thể tách rời, kể cả khi những nỗ lực này gắn liền với những chủ thể tương đối khác nhau

Trang 12

Hiến pháp là phương tiện chính thức hóa các giá trị xã hội của quyền con người; các quyền đó được hiến pháp hóa và mang tính bắt buộc, được xã hội thừa nhận, bảo vệ Quyền con người, quyền công dân khi đã được quy định trong hiến pháp thì nó sẽ trở thành quyền pháp định, là ý chí chung của toàn

xã hội, được xã hội thừa nhận phục tùng, được quyền lực Nhà nước tôn trọng bảo vệ Khi quyền con người được quy định trong Hiến pháp và hiến pháp thì

nó có giá trị bắt buộc đối với toàn xã hội, ngay cả với cơ quan cao nhất của các tổ chức và nhà nước có liên quan

- Hiến pháp là công cụ sắc bén của nhà nước trong việc thực hiện bảo vệ quyền con người Tính sắc bén của hiến pháp trong việc thực hiện bảo vệ quyền con người được thể hiện ở các quy định về quyền con người trong hiến pháp được đảm bảo bằng bộ máy, cách thức tác động quyền lực của Nhà nước, khi cần thiết thì Nhà nước sử dụng các biện pháp cưỡng chế trên cơ sở tiến hành các biện pháp giáo dục, thuyết phục bảo đảm cho nội dung quyền con người, quyền công dân được thực hiện và bảo vệ Bên cạnh đó, nhờ hệ thống cơ quan bảo vệ hiến pháp mà mọi hành vi vi phạm quyền con người, quyền công dân đều có khả năng bị phát hiện nhanh chóng và xử lý kịp thời

- Hiến pháp là tiền đề, nền tảng tạo cơ sở pháp lý để công dân đấu tranh bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của họ Ở đây hiến pháp được xem xét không chỉ với tư cách là công cụ, phương tiện của Nhà nước mà còn là công

cụ, vũ khí của mọi người trong xã hội để thực hiện, bảo vệ quyền con người Bởi vì hiến pháp là đại lượng mang giá trị phổ biến, là chuẩn mực của sự công bằng, do đó có thể đo được hành vi của mọi người, kể cả các cơ quan tổ chức, công chức Nhà nước Nó là cơ sở, là căn cứ để công dân đánh giá, kiểm tra, đối chiếu các hành vi từ phía Nhà nước và các thành viên trong xã hội, đấu tranh bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình Quyền con người, quyền công dân có thể bị xâm phạm từ phía các cơ quan, tổ chức, công chức

Trang 13

Nhà nước trong khi thi hành công vụ, cũng như từ phía các thành viên khác trong xã hội, bởi vì trong quan hệ với Nhà nước, công dân vừa là người chủ Nhà nước, vừa là đối tượng bị quản lý cho nên quyền và lợi ích hợp pháp của

họ có nguy cơ xâm hại cao Trong hoạt động của bộ máy Nhà nước thì hoạt động của hệ thống cơ quan hành chinh Nhà nước và các cơ quan bảo vệ hiến pháp có nguy cơ làm phương hại đến các quyền con người, quyền công dân rất cao Bởi vì, các quyết định quản lý của cơ quan hành chính Nhà nước, các phán quyết của cơ quan bảo vệ hiến pháp đều trực tiếp tác động đến các quyền và lợi ích của công dân

Trong mối quan hệ với các cơ quan này, công dân là người bị quản lý và chịu sự phán quyết nên họ luôn luôn ở vị thế bất lợi Trong điều kiện đó, người công dân không có vũ khí, phương tiện nào khác hữu hiệu hơn là sử dụng hiến pháp để đấu tranh tự bảo vệ lấy các quyền và lợi ích của mình Chỉ

có hiến pháp, bằng các qui phạm hiến pháp quy định chặt chẽ về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm, nghĩa vụ của các cơ quan, tổ chức, các quyền và nghĩa vụ của công dân, mới tạo nên cơ sở pháp lý vững chắc để mọi người đấu tranh chống lại các hành vi xâm hại, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình

- Vai trò của hiến pháp trong việc thực hiện và bảo vệ quyền con người còn thể hiện trong mối quan hệ giữa hiến pháp và các điều kiện bảo đảm khác (chính trị, kinh tế, văn hóa .) các điều kiện trên đều phải thông qua hiến pháp, thể hiện dưới hình thức hiến pháp mới trở thành giá trị xã hội ổn định, được hiện thực hóa trên qui mô toàn xã hội Chỉ có như vậy thì các điều kiện

đó mới phát huy được vai trò của mình trong việc thực hiện và bảo vệ quyền con người

Trang 14

1.3 Khái q u át về quyền con ngiròi, quyền công dân trong các Hiển pháp Viêt Nam truó'c năm 2013

1.3.1 Hiến pháp 1946

Ngay ở phần Lời mở đầu, Hiến pháp 1946 đã khẳng định “cuộc Cách mạng thảng Tám đã giành lại chủ quyền cho đất nước, tự do cho nhân dân và lập ra nền dân chủ cộng hoà ” Như vậy, có thể thấy rằng, Hiến pháp 1946,

ngay ở phần mở đầu, đã khẳng định về bản chất chế độ: đó là một chế độ do nhân dân làm chủ, mà một chế độ do nhân dân làm chủ, không thể nào hơn là một chế độ tôn trọng các giá trị quyền con người Trong ba nguyên tắc cơ bản, vốn được xác định để xây dựng Hiến pháp 1946, nguyên tắc bảo đảm các quyền tự do dân chủ, một dạng quyền con người mở rộng được thực hiện triệt

để đã biến Hiến pháp 1946 thực sự là một bản Hiến pháp pháp quyền và mang

tính thời đại Ba nguyên tắc đó là: (1) Đoàn kết toàn dân, không phân biệt giống nòi, gái trai, giai cấp, tôn giảo; (2) Đảm bảo các quyền tự do dân chủ

và (3) Thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sảng suốt của nhân dân.

Tinh thần cơ bản nhất của bản Hiến pháp 1946 là “toàn bộ quyền lực thuộc về nhân dân ” Do đó, tinh thần nhà nước “của dân, do dân và vì dân ”

thể hiện đậm nét trong Hiến pháp 1946 Mặc dù là bản hiến pháp đầu tiên của một nhà nước dân chủ cộng hòa mới được hình thành nhưng Hiến pháp 1946

đã cụ thể hoá các quyền con người mà Tuyên ngôn độc lập đã long trọng xác nhận Nội dung Hiến pháp 1946 được xuyên suốt bởi quan điểm như đã được

ghi ở Điều 1 : "Nước VN là một nước dân chủ cộng hoà Tất cả quyển bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, trai gái, giàu nghèo, giai cấp, tôn giảo" Như vậy đặc điểm dễ nhận thấy ở

đây là ngay từ khi ra đời, nhà nước cách mạng Việt Nam đã là một nhà nước của dân, do dân và vì dân Đó là nhà nước mà toàn bộ hoạt động của nó chỉ hướng tới mục đích duy nhất là xác lập, bảo vệ và không ngừng mở rộng

Trang 15

quyền làm người cho công dân Việt Nam.

Như đã trình bày ở trên, Hiến pháp 1946 dành hẳn Chương II (cụ thể là các chế định tại Mục B và Mục C) để đề cập đến quyền lợi của công dân, trong đó các các quyền bình đẳng về mọi phương diện chính trị, kinh tế, văn hóa [Điều 6]; các quyền bình đẳng của công dân trước pháp luật [Điều 7]; các quyền bình đẳng về quyền lợi [Điều 8]; bình đẳng nam - nữ (bình đẳng giới) [Điều 9]; các quyền tự do cơ bản của con người như tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tổ chức và hội họp, tự do tín ngưỡng, tự do cư trú đi lại và ra nước ngoài [Điều 10] Ngoài các chế định về các quyền bình đẳng và tự do của công dân, Hiến pháp 1946 cũng thể hiện rõ nét quyền dân sự của con người trong các chế định về tự do thân thể, quyền bất khả xâm phạm về thư tín và về nhà ở [Điều 11] Điều đặc biệt hơn nữa là ngay sau khi nhà nước thực hiện một số hoạt động tịch thu, quốc hữu hóa một số tài sản để phục vụ hoạt động kinh tế, Hiến pháp 1946 đã ngay lập tức tái khẳng định các quyền tư hữu về tài sản của công dân [Điều 12] và khẳng định quyền lợi của giới tri thức được đảm bảo [Điều 13]

Đối với các đối tượng có điều kiện sổng và sinh hoạt khó khăn, đối tượng là trẻ em, Hiến pháp 1946 cũng thể hiện quan điểm nhân sinh rõ rệt khi

có quy định cụ thể về việc giúp đỡ người già cả và bệnh tật, săn sóc và giáo dưỡng trẻ em [Điều 14] Không chỉ có vậy, Hiến pháp 1946 còn quan tâm đến

cả lĩnh vực giáo dục bằng việc đảm bảo giáo dục sơ học (cấp tiểu học), giúp

đỡ các học trò nghèo và mở thêm trường lớp đảm bảo việc học tập của công dân [Điều 15] Tư tưởng về quyền con người trong Hiến pháp 1946 thậm chí còn vượt xa hơn cả các chế định đon thuần áp dụng lên các công dân trong nước để vươn tới các giá trị đạo đức toàn cầu Cụ thể, Điều 16 Hiến pháp được dành để quy định về việc đảm bảo cư trú trên lãnh thổ Việt Nam cho những người Ngoại quốc đấu tranh cho dân chủ và tự do

Trang 16

Ngoài các giá trị cơ bản về quyền con người đã được long trọng khẳng định, được tạo điều kiện và được đảm bảo được thực hiện, Hiến pháp 1946 cũng có hàng loạt các quy định khá tiến bộ ở thời điểm bấy giờ về quyền bầu

cử, quyền ứng cử của công dân [Điều 18]; quyền bãi miễn đại biểu nhân dân

mà mình bầu ra [Điều 20] và quyền phúc quyết về Hiến pháp và các vấn đề liên quan đến vận mệnh quốc gia [Điều 22] Như vậy, ngoài các chế định đảm bảo quyền con người, Hiến pháp 1946 đã đi xa thêm một bước nước nữa, đó

là coi công dân là ông chủ của nhà nước, tôn trọng triệt để các quyền lợi của nhân dân, đưa nhân dân vào đời sống chính trị của đất nước và quyết định các vấn đề hệ trọng của Nhà nước

Như vậy, chỉ với hơn mười điều khoản [nằm rải rác từ Điều 6 đến Điều

22 các Mục B và c của Chương II], Hiến Pháp 1946 đã mô tả sinh động một thể chế dân chủ sơ khai của một nhà nước khao khát tự do sau hàng thế kỷ tăm tối của chiến tranh xâm lược Các giá trị về quyền con người, vì thế, được phát huy cao độ và trở thành kim chỉ nam cho toàn bộ định hướng xây dựng nền pháp chế còn non trẻ của Việt Nam sau độc lập Cùng với thời gian, Hiến pháp 1946 được ghi nhận như một văn bản pháp quy cao nhất của Việt Nam chính thức ghi nhận quyền con người như một phạm trù hiến định trong việc

tổ chức, thực hiện và đảm bảo các hoạt động của công dân Chủ tịch Hồ Chí

Minh đã từng nói: “Hiến pháp năm 1946 là Hiến pháp đầu tiên trong lịch sử nước nhà , dân tộc Việt Nam đã có đủ mọi quyền tự do , phụ nữ Việt Nam

đã được ngang hàng với đàn ông để được hưởng chung mọi quyền cả nhản của công dân ”

1.3.2 Hiến pháp 1959

Ngay ở Điều 3, Hiến pháp 1959 đã khẳng định “các dân tộc sổng trên đất nước Việt Nam đều bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ Nhà nước có nhiệm vụ giữ gìn vả phát triển sự đoàn kết giữa các dân tộc Mọi hành vi

Trang 17

khinh miệt, áp bức, chia rẽ dân tộc đều bị nghiêm cấm ” Ở Điều 4, Hiến pháp

1959 ghi nhận “tất cả quyền lực trong nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đểu thuộc về nhân dân Nhân dân sử dụng quyền lực của mình thong qua Quốc hội và Hội đồng nhản dân các cấp do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân ” Như vậy, ngay ở những quy định đầu tiên, có thể nhận ra

ngay rằng Hiến pháp 1959 đã thể hiện quan điểm hết sức rõ rệt về các giá trị quyền con người và ghi nhận quyền lực của nhân dân trong quản lý nhà nước

và xã hội

So với Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959 không chỉ thể hiện có sự gia tăng về lượng [có tới 21 Điều nói về quyền con người so với 18 Điều trong Hiến pháp 1946] mà còn có sự gia tăng về chất (làm rõ các chế định về quyền con người một cách cụ thể), v ẫn theo mạch kế thừa và phát huy tinh thần của Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959 cũng dành hẳn một chương, cụ thể là Chương III, để quy định về quyền lợi và nghĩa vụ cơ bản của công dân Một điều đáng tiếc, như các học giả đã nhận định, là Hiến pháp 1959 đề cập đến

“quyền công dân” thay vì quy định “quyền con người” Thực tế thì quyền công dân là một phạm trù nhỏ hẹp nếu đem so chiếu với phạm trù quyền con người, một phạm trù rộng lớn bao hàm cả quyền công dân Bên cạnh đó, nếu

như Hiến pháp 1946 khẳng định “quyền tư hữu tài sản của công dân Việt Nam được bảo đảm ” thì Hiển pháp 1959 đã hạn chế quy định này của công dân bàng cách quy định “Nhà nước chiếu theo pháp luật bảo hộ quyền thừa

kế tài sản tư hữu của công dân ” [Điều 19] Theo đó, quyền tư hữu về tài sản

của công dân không còn là quyền đương nhiên được Nhà nước bảo đảm mà phải “chiếu theo pháp luật” để được bảo hộ

Mặc dù vậy, vấn đề cốt lõi là việc ghi nhận các quyền cơ bản của con người thì Hiến pháp 1959 đã làm khá tốt ngoài việc tiếp nối và phát huy các giá trị của Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959 còn nâng cao và củng cố các

Trang 18

quyền lợi cơ bản của công dân, đồng thời bổ sung thêm một số quyền con người khá phổ biến theo các tiêu chí toàn cầu Trước hết, Hiến pháp 1959 quy định mọi người đều bình đẳng trước pháp luật [Điều 22] và công dân có quyền bầu cử, ứng cử mà không có bất kỳ phân biệt nào [Điều 23] Đây thực

tế là các quy định đã được cụ thể hóa trong hiến pháp cũ Tuy nhiên, ở các điều tiếp theo, Hiến pháp 1959 cụ thể hóa quyền con người một cách chi tiết hơn so với bản hiến pháp cũ, chỉ quy định một cách khái quát Cụ thể, tại Điều 24, Hiến pháp 1959 khẳng định phụ nữ Việt Nam được bình đẳng với nam giới Đây là quy định kế thừa của Hiến pháp 1946 nhưng được sửa đổi,

bổ sunp một cách khá chi tiết: “Phụ nữ nước VNDCCH cỏ quyền bình đảng với nam giới về các mặt sinh hoạt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và gia đình Cùng việc làm như nhau, phụ nữ được hưởng lương ngang với nam giới Nhà nước bảo đảm cho phụ nữ công nhân và phụ nữ viên chức được nghỉ trước và sau khi đẻ mà vẫn hưởng nguyên lương Nhà nước bảo hộ quyền lợi của người mẹ và của trẻ em, bảo đảm phát triển các nhà đờ đẻ, nhà giữ trẻ và vườn trẻ Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình ” Như vậy, có thể

thấy, trong cùng một chế định về quyền bình đẳng giới, Hiến pháp 1959 đã làm tốt hom Hiến pháp 1946 khi chi tiết hóa các quyền lợi của phụ nữ trong hầu hết các lĩnh vực văn hóa, xã hội, kinh tế và chính trị, đồng thời quy đình chế độ bảo hộ bà mẹ trẻ em, hôn nhân và gia đình Nếu xét đến hoàn cảnh lịch

sử của Việt Nam lúc bấy giờ, khi miền Bắc đang gồng mình cho cơn bão cải cách điền địa, đang vật lộn để khôi phục và phát triển kinh tế, miền Nam còn đang đối mặt với cuộc chiến ác liệt thì việc quan tâm đến quyền lợi của phụ

nữ trên tất cả các phương diện đời sống xã hội là một điểm nhấn tích cực rất đáng trân trọng

Đối với các quyền cơ bản khác của con người mà Hiến pháp 1946 ghi nhận như tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức và hội họp, tự do tín

Trang 19

ngưỡng, tự do đi lại, Hiến pháp 1959 không chỉ tiếp thu và kế thừa triệt để các quy định này mà còn ghi nhận các quyền đó, cũng theo hướng rất cụ thể và

chi tiết Điều 25 Hiến pháp 1959 quy định “công dân nước VNDCCH có các quyền tự do ngôn luận, báo chí, hội họp, lập hội và biểu tình Nhà nước bảo đảm những điều kiện vật chất cần thiết để công dân được hưởng các quyền

đó ” Điều đặc biệt là Hiến pháp 1959 ghi nhận thêm quyền lập hội và quyền

biểu tình, các quyền căn bản nhất của con người ở một quốc gia dân chủ Đây thực sự là điểm nổi bất rất đáng ghi nhận của Hiến pháp 1959 Song song với

đó, quyền tự do tín ngưỡng của công dân được tách làm một chế định riêng tại

Điều 26 cụ thể “công dân VNDCCH có các quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giảo nào ” Bên cạnh đó, Hiến pháp 1959 còn quy

định về quyền bất khả xâm phạm về thân thể được [Điều 27], quyền đảm bảo nhà ở, giữ bí mật về thư tín, tự do cư trú và đi lại [Điều 28]; quyền được giúp

đỡ về mặt vật chất khi già yếu, bệnh tật hoặc mất sức lao động [Điều 32]

Ngoài việc kế thừa và phát huy các giá trị tư tưởng về quyền con người trong Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959 cũng có thêm một số chế định về quyền con người ở một số lĩnh vực Ví dụ, tại Điều 29, Hiến pháp 1959 quy định công dân có quyền khiếu nại, tố cáo và được bồi thường nếu quyền lợi bị

vi phạm Một trong các quyền quan trọng nhất của con người, bên cạnh các quyền lợi cơ bản, chính là “tố quyền” - tức là quyền tố cáo các hành vi vi phạm, các hành vi có thể xảy ra hoặc đã xảy ra làm ảnh hưởng đến quyền lợi của của người bị vi phạm Đây có thể nói là điểm tiến bộ của Hiến pháp 1959

so với Hiến pháp 1946

Ở các điều 31, 32 và 33, Hiến pháp 1959 quy định hàng loạt các chế

định về quyền được làm việc, quyền được học tập và quyền được nghỉ ngơi của công dân Đây là các điểm mới so với bản hiến pháp cũ Không chỉ có

vậy, quyền con người còn được mở rộng ra các lĩnh vực nghiên cứu khoa học,

Trang 20

sáng tác văn học, nghệ thuật và tiến hành các hoạt động văn hóa [Điều 34] Một điểm nữa rất đáng chú ý của Hiến pháp 1959 là ngoài việc giữ nguyên quy định của hiến pháp cũ về việc đảm bảo quyền trú ngụ của những người nước ngoài đấu tranh cho tự do, chính nghĩa, cho hòa bình và sự nghiệp khoa học mà bị bức hại (Điều 38), thì bản hiến pháp lần này còn có thêm quy định

về “bảo hộ quyền lợi chính đáng của Việt kiều” [Điều 37] Quy định này

phần nào làm yên lòng những người có quan điểm cho rằng hạn chế đáng tiếc của Hiến pháp 1959 là chỉ hướng tới quy định “quyền công dân”, tức là quyền

áp dụng đối với công dân Việt Nam chứ không có ý nghĩa áp dụng với người nước ngoài sinh sổng và làm việc tại Việt Nam, ví dụ như Việt kiều

Nói tóm lại, ở góc độ tổng quát, có hai đặc điểm nổi bật của Hiến pháp

1959 về quyền con người Thứ nhất, Hiến pháp 1959 đã tiếp thu trọn vẹn những giá trị cốt lõi về quyền con người trong Hiến pháp 1946 để phản ánh một cách chi tiết trong các quy định của mình, phát triển thêm một bước không chỉ về lượng mà còn về chất Thứ hai, Hiến pháp 1959 bổ sung thêm một số quyền lợi quan trọng khác trong đời sống kinh tế xã hội của con người

ở nhiều khía cạnh khác nhau Các đặc điểm này cho thấy Hiến pháp 1959 đã

có sự sửa đổi khá mạnh mẽ để thích hợp với tình hình mới của đất nước tuy vẫn cần thiết phải chỉnh sửa trong tương lai

1.3.3 Hiến pháp 1980

Tiếp thu truyền thống của các bản hiến pháp trước trong việc trân trọng

và phát huy các giá trị quyền con người, Hiến pháp 1980 vẫn tiếp tục thể hiện sâu sắc các giá trị nhân văn và ngày càng hoàn thiện các thể chế về quyền con

người Đặc biệt, Hiến pháp 1980 lần đầu tiên hướng tới việc “xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa, xóa bỏ chế độ người bóc lột người, xóa bỏ nghèo nàn và lạc hậu ” Đây là một trong những trọng tâm xuyên suốt trong Hiến

Trang 21

pháp 1980 thể hiện rõ ràng quan điểm và chính sách của Nhà nước đối với vấn đề quyền con người.

Cũng giống như các bản hiến pháp trước đây, Hiến pháp 1980 vẫn dành hẳn một chương (Chương V) để nói về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Tuy nhiên, khác với các bản hiến pháp trước, quy định về quyền con nằm rải rác tại nhiều chương khác nhau trong Hiến pháp 1980 Chưa bao giờ, tư

tưởng “quyền ỉực thuộc về nhân dãn ” được hình thành rõ rệt đến vậy trong

một bản hiến pháp Ngay tại Điều 2, Hiến pháp 1980 đã khẳng định đanh thép

“Sử mệnh lịch sử của Nhà nước là thực hiện quyền làm chủ của nhản dân lao động ” Như vậy, phạm vi quyền con người không còn bị bó hẹp trong các chế

định về dân quyền, dân sinh cơ bản như tự do đi lại, cư trú, học tập mà còn

mở rộng ra cả các quyền lợi mang tính bản chất của chế độ: đó là quyền làm

chủ tập thể của nhân dân Điều 4 Hiến pháp 1980 quy định “Ở nước Cộng hoà

xã hội chủ nghĩa Việt Nam, người chủ tập thẻ là nhân dân lao động bao gồm giai cấp công nhân, giai cấp nông dân tập thể, tầng lớp trí thức xã hội chủ nghĩa và những người lao động khác, mà nòng cốt là liên minh công nông, do giai cấp công nhân lãnh đạo Nhà nước bảo đảm không ngừng hoàn chỉnh và củng cổ chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa của nhản dân lao động về các mặt chỉnh trị, kinh tế, văn hoả, xã hội; làm chủ trong phạm vi cả nước, từng địa phương, từng cơ sở; làm chủ xã hội, làm chủ thiên nhiên, làm chủ bản thân ” Điều 6 của Hiến pháp 1980 cũng một lần nữa khẳng định lại “ở nước CHXHCN Việt Nam, tất cả quyền lực thuộc về nhân dán ”

Ỏ góc độ sổ lượng, các quy định về quyền con người trong Hiến pháp

1980 có sự gia tăng so với Hiến pháp 1959 [29 so với 21 điều của Hiến pháp 1959], điều này thể hiện sự nhận thức sâu sắc của đất nước và tầm quan trọng cũng như vị thế của các chế định quyền con người trong một đạo luật gốc Ở góc độ chất lượng, Hiến pháp 1980 không đơn thuần là bản sao của Hiến pháp

Trang 22

1959 với các chỉnh sửa hợp lý các chê định vê quyên con người mà sự tiêp nối và phát triển có chọn lọc của các bản hiến pháp trước Chính vì vậy, các quy định về quyền con người trong Hiến pháp 1980 có sự kế thừa và phát triển các quy định trước trong điều kiện, hoàn cảnh mới của đất nước Mặc dù vậy, hạn chế về kỹ thuật lập pháp của Hiến pháp 1980, vẫn lặp lại vết xe của Hiến pháp 1959, là đề cập đến thuật ngữ “quyền công dân” thay vì đề cập đến thuật ngữ “quyền con người.” Như đã trình bày ở trên, khái niệm quyền con người là một khái niệm rộng lớn hơn nhiều so với khái niệm quyền công dân vốn chỉ áp dụng cho công dân mang quốc tịch của một quốc gia So với khái niệm quvền con người, khái niệm quyền công dân mang tính xác định hom, gắn liền với mỗi quốc gia, được pháp luật của mỗi quốc gia quy định và bảo

vệ Và do gắn với đặc thù của mỗi quốc gia mà nội dung, sổ lượng, chất lượng của quyền công dân ở mỗi quốc gia thường không giống nhau Tuy nhiên, không có sự đối lập giữa quyền con người và quyền công dân trong quy định của các nước

Ở Hiến pháp 1980, quyền công dân lại được nâng tầm hơn nữa, được

cụ thể hóa hơn nữa để rõ ràng hơn so với Hiến pháp 1959 Ví dụ, đối với chế định về bình đẳng giới, các hiển pháp trước đây đều quy định phụ nữ có được quyền bình đẳng đối với nam giới, không có sự phân biệt đối xử nào Tuy

nhiên, nếu như Hiến pháp 1946 chỉ quy định ngắn gọn “đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện” [Điều 9 Hiến pháp 1946], thì Hiến pháp

1959 đã nâng quyền bình đẳng giới thêm một nấc mới khi ghi nhận thêm một

số quyền lợi có liên quan của phụ nữ ở nhiều góc độ chính trị, văn hóa, xã hội, hôn nhân và gia đình [Điều 24 Hiến pháp 1959] Đen lượt mình, Hiến pháp 1980 đã phát triển chế định này đến mức độ hoàn thiện, thể hiện sự đảm bảo quyền bình đẳng của phụ nữ ở một mức độ cao hơn hẳn so với các bản

hiến pháp khác Cụ thể, “Phụ nữ và nam giới có quyền ngang nhau về mọi

Trang 23

mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và gia đình Nhà nước và xã hội chăm

lo nâng cao trình độ chính trị, văn hoá, khoa học, kỹ thuật và nghề nghiệp của phụ nữ, không ngừng phát huy vai trò của phụ nữ trong xã hội Nhà nước

có chính sách lao động phù hợp với điều kiện của phụ nữ Phụ nữ và nam giới việc làm như nhau thì tiền lương ngang nhau Phụ nữ có quyền nghỉ trước và sau khi sinh đẻ mà vẫn hưởng nguyên lương nếu là công nhân, viên chức, hoặc hưởng phụ cấp sinh đẻ nếu là xã viên hợp tác xã Nhà nước và xã hội chăm lo phát triển các nhà hộ sinh, nhà trẻ, lớp mẫu giáo, nhà ăn công cộng

và những cơ sở phúc lợi xã hội khác, tạo điều kiện thuận lợi cho phụ nữ sản xuất, cônv tác, học tập và nghỉ ngơ i” [Điều 63 Hiến pháp 1980] Không chỉ

có vậy, quyền của phụ nừ còn được thể hiện rải rác tại một số điều của Hiến pháp 1980, theo đó mọi công dân bao gồm cả nam lẫn nữ đều bình đẳng trước pháp luật [Điều 55] và mọi công dân không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng tôn giáo đều có quyền bầu cử và ứng cử vào các cơ quan quyền lực của Nhà nước [Điều 57]

Như vậy, Ngoài việc tiếp thu và ghi nhận các chế định về quyền con người trong các bản hiến pháp trước như quyền bình đẳng của công dân trước pháp luật [Điều 55], quyền bầu cử, ứng của [Điều 57], quyền lao động [Điều 58], quyền nghỉ ngơi [Điều 59], quyền học tập [Điều 60], Hiến pháp 1980 còn

bổ sung một số chế định về quyền con người và cụ thể hóa các quyền đó một cách chi tiết Cụ thể, Điều 56 ghi nhận một chế định mới về quyền công dân,

đó là “công dân có quyển tham gia quản lý của Nhà nước và xã hội ” Việc

Hiến pháp 1980 ghi nhận quyền của công dân trong tham gia quản lý Nhà nước và xã hội là một nỗ lực rất đáng trân trọng Thực tế, quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã hội có nội hàm khá rộng, được thực hiện thông qua việc ứng cử, bầu cử của công dân, qua việc tham gia góp ý kiến về quản lý, điều hành và qua cả hoạt động khiếu nại, khiếu kiện các vấn đề có liên quan

Trang 24

đến quyền lợi của công dân để từ đó thay đổi cung cách điều hành và quản lý của Nhà nước Phù hợp với nhận thức này, Điều 73 của Hiến pháp 1980 quy

định "Công dân có quyền khiếu nại và tố cáo với bất cứ cơ quan nào của Nhà nước về những việc làm trải pháp luật của cơ quan Nhà nước, to chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc của bất cứ cá nhân nào thuộc các cơ quan, tổ chức và đom vị đó Các điều khiếu nại và tố cáo phải được xem xét và giải quyết nhanh chóng Mọi hành động xâm phạm quyền lợi chính đảng của công dân phải được kịp thời sửa chữa và xử lý nghiêm minh Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường Nghiêm cẩm việc trả thù người khiển nại, tố cáo ”

Quv định về quyền tham gia quản lý điều hành của công dân trong Hiến pháp 1980 còn thể hiện quan điểm nhất quán của Nhà nước là trân trọng

sự đóng góp của công dân trong việc phát triển xã hội, phát triển đất nước, thể

hiện ro hơn bản chất Nhà nước “của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân ”

Cũng lần đầu tiên trong Hiến pháp, quyền được bảo vệ sức khỏe cho công dân được nhắc đến như là một trong các ưu việt của Chủ nghĩa xã hội, tại đó, các chế độ khám chữa bệnh cho nhân dân được Nhà nước thực hiện

trên cơ sở không tính phí Điều 61 của Hiến pháp 1980 quy định “cô«g dân có quyền được bảo vệ sức khỏe Nhà nước thực hiện chế độ khảm và chữa bệnh không phải trả tiền ” Một chế định tương tự cũng có thể thấy trong Điều 74,

là “những người và những gia đình có công với cách mạng được khen thưởng

và chăm sóc Người già và người tàn tật không non nương tựa được Nhà nước

và xã hội giúp đỡ Trẻ mồ côi được Nhà nước và xã hội nuôi dạy ”

Một điểm dễ nhận thấy nữa trong quy định về quyền con người trong Hiến pháp 1980 là các nhà làm luật đã bắt đầu chú ý đến thế hệ trẻ, mầm non tương lai của đất nước Đi ra từ khói lửa và tàn phá của chiến tranh, Việt Nam

rất cần sức mạnh của thế hệ trẻ để xây dựng là đất nước “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn ” như mong ước sinh thời của Hồ Chủ tịch Chính vì vậy, một trong

Trang 25

những điểm nhấn trong quá trình soạn thảo Hiến pháp 1980 là việc bổ sung và

cụ thể hóa các chế định về gia đình, chăm sóc và giáo dục thiếu niên, nhi đồng, chăm lo đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của người dân, đảm bảo công dân được hưởng đầy đủ các quyền lợi cần thiết và phổ biến nhất của con người

Nói một cách tổng quát, các giá trị phổ biến nhất về quyền con người trong Hiến pháp 1980 vẫn cho thấy có sự tiếp thu và phát huy tinh thần của các bản Hiến pháp trước, số lượng các chế định về quyền con người của Hiến pháp 1980 cũng có sự gia tăng (lên 29 điều so với 21 điều trong Hiến pháp 1959) Hiến pháp 1980 cũng thể hiện sâu sắc quan điểm xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa, hướng tới một xã hội công bằng và văn minh, xóa bỏ chế độ người bóc lột người và thể hiện đầy đủ các giá trị thiết yếu của một nhà nước đang trên đường định hướng tiến lên chủ nghĩa xã hội ngoài ra, sứ

mệnh của Hiến pháp 1980 còn là sự thể hiện sâu sắc tinh thần “làm chủ của nhân dân ”, sợi chỉ đỏ xuyên suốt qua tất cả các bản hiến pháp và việc đưa ra

các cơ chế cần thiết mà Nhà nước dựa vào đó đảm bảo quyền công dân được thực hiện một cách đầy đủ và trọn vẹn

1.3.4 Hiến pháp 1992

Hiến pháp 1992 bao gồm lời nói đầu và 147 điều (nhiều nhất trong các bản hiến pháp), chia làm 12 chương, riêng các chế về quyền con người vẫn được cơ cấu thành một chương (Chương V) như các bản hiến pháp trước đó

v ề mặt tổng thể, Hiến pháp 1992 vẫn tập trung khẳng định quyền làm chủ của nhân dân lao động, tôn trọng triệt để các giá trị quyền con người và tạo cơ chế cho việc tham gia của công dân trong quản lý nhà nước và xã hội Điều 2 của

Hiến pháp 1992 khẳng định “Nhà nước CHXHCN Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức ” Như vậy, lần đầu tiên,

Trang 26

thuật ngữ “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhản dân và vì nhân dân ” được đưa vào hiến pháp như một nguyên tắc hiến định

đã thể hiện rõ rệt bản chất của Nhà nước, đó là một nhà nước tôn trọng và phát huy các giá trị quyền con người, xác định ngay quyền làm chủ và quyền định đoạt của nhân dân trong hiến pháp Các quyền đó được đảm bảo thực

hiện cũng bằng một cơ chế hiến định theo Điều 3 Hiến pháp 1992: “Nhà nước bảo đảm và không ngừng phát huy quyền làm chủ về mọi mặt của nhân dân, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; nghiêm trị mọi hành động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và của nhản dân ” và Điều 11: “Công dãn thực hiện quyền làm chủ của mình ở

cơ sở bằng cách tham gia công việc của Nhà nước và xã hội, có trách nhiệm bảo vệ của công, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, giữ gìn an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội, tổ chức đời sổng công cộng ”

Hiến pháp 1980 có 29 điều [từ Điều 53 đến Điều 81] và Hiến pháp

1992 có 34 điều [từ Điều 49 đến Điều 82] quy định về “quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dã n ” So với Hiến pháp 1980, Hiến pháp 1992 có sự phát triển

đáng kể các quy định về quyền con người, quyền công dân Đặc biệt nhất, lần đầu tiên thuật ngữ “quyền con người” được chính thức nhắc đến trong Hiến pháp 1992 đã phần nào đáp ứng được nhu cầu thực tiễn, xóa bỏ được hạn chế của các bản hiến pháp trước đây khi chỉ quy định về “quyền công dân”, một khái niệm hẹp hom rất nhiều so với “quyền con người” và được bao trùm trong khái niệm “quyền con người” Thể hiện quan điểm này, Điều 50 của

Hiến pháp 1992 quy định “Ở nước CHXHCN Việt Nam, các quyền con người

về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dãn và được quy định trong Hiến pháp và luật ” Như vậy, với

việc đề cập tới khái niệm “quyền con người”, phạm vi áp dụng của Hiến pháp

Trang 27

1992 trở nên rộng hơn nhiêu so với các hiên pháp trước đây Cụ thê, với các quy định về quyền con người như đã thấy ở trên thì người không có quốc tịch hay Việt kiều cũng được Nhà nước ta tôn trọng và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của họ.

Với Hiến pháp 1992, cũng lần đầu tiên, quyền tự do kinh doanh của

công dân được xác lập một cách cụ thể [Điều 57 quy định “Công dân có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật”] Nếu như trong thời

bao cấp, quyền về kinh tế của công dân hoà chung với tập thể, cộng đồng, thì trong thời kỳ đổi mới, họ được khuyến khích làm giàu hợp pháp trên cơ sở quyền tự do kinh doanh và kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm Đây là một trong những chìa khoá quan trọng để mở cánh cửa tự

do trong các hoạt động kinh tế của công dân, xây dựng một xã hội giàu mạnh

theo đúng mục tiêu mà Nhà nước đề ra “Có thể nói, lần đầu tiên trong lịch

sử lập hiến của Nhà nước ta, một nội dung quan trọng thể hiện quan điểm mới của Đảng và Nhà nước ta về quản lý kinh tế đã được ghi nhận trong Hiến pháp, đó là trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm thì tổ chức, cả nhân thuộc bất kỳ thành phần kinh tế nào cũng đều được sản xuất, kinh doanh Quy định này không chỉ là cơ sở pháp lý tạo ra nhiều việc làm cho người lao động mà còn tạo cho công dân yên tâm bỏ vốn vào đầu tư sản xuất, kinh doanh

Hơn thế nữa, Điều 58 Hiến pháp 1992 còn quy định: "Công dân cỏ quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt,

tư liệu sản xuất, vốn và tài sản khác trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kỉnh tế khác Có thể nhận thấy rằng, những điểm sửa đổi, bổ sung của Hiến pháp 1992 về chế độ kinh tế nói chung và về các quyền con người, quyền công dân về kinh tế nói riêng là những điểm cơ bản nhất Nó tác động sâu sắc đến toàn bộ đời sống xã hội và đến mỗi cá nhân; nó tạo tiền đề cho

Trang 28

quyền con người được tiếp tục mở rộng và phát triển, tiếp cận với các tiêu chuẩn chung về nhân quyền của thế giới.

Cùng với quyền tự do kinh doanh, công dân còn có quyền sở hữu "về tư liệu sản xuất, vốn và tài sản trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh

tế khác" [Điều 58] Những quy định này hơn bao giờ hết tạo điều kiện thuận

lợi để công dân Việt Nam xây dựng một cuộc sống ấm no, hạnh phúc, góp phần làm đất nước giàu có và thịnh vượng, ngoài các quy định tiêu biểu vừa nêu, quy định về quyền "được thông tin" là một quyền mới được xác lập trong Hiến pháp 1992 Quyền này được hiểu là quyền tiếp nhận thông tin và truyền tin theo quy định của pháp luật

Công cuộc đổi mới tạo ra nhiều cơ hội, môi trường bình đẳng cho mọi người có điều kiện học tập, trong đó có một nhóm người rất cần được quan tâm và hom thế nữa, điều quan tâm đó phải trở thành hiến định Vì vậy, Hiến

pháp 1992 khẳng định: “Nhà nước và xã hội tạo điều kiện cho trẻ em khuyết tật, trẻ em cỏ hoàn cảnh đặc biệt khó khăn khác được học văn hoả và học nghề phù h ợ p ” [Điều 59] Quy định này một mặt nâng cao, mở rộng quyền

của những trẻ em khuyết tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, mặt khác nêu lên nghĩa vụ, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức có liên quan để bảo đảm cho quyền này được thực thi trong thực tiễn

Ngoài việc thiết lập các quyền mới, Hiến pháp còn sửa đổi một số quy định về quyền của công dân không phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước và không thể thực hiện được trong thực tiễn Nếu Hiến pháp 1980 quy định học không phải trả học phí và khám bệnh, chữa bệnh không phải trả

tiền thì Hiến pháp 1992 sửa đổi lại thành: "bậc tiểu học là bắt buộc, không

p h ả i trả học phí" /Điều 59] và "công dân có quyền được hưởng chế độ bảo vệ sức khoẻ Nhà nước quy định chế độ viện phí, chế độ miễn, giảm viện p h í”

Trang 29

[Điều 61] Các quy định này trở nên thiết thực hơn và có khả năng thực thi tốt hơn nhiều so với các quy định cũ tại Hiến pháp 1980.

Một ví dụ khác, Hiến pháp 1980 quy định "Công dân có quyền cỏ nhà ở" [Điều 62]; Quyền này trên thực tế cũng rất không khả khi, cho nên Hiến pháp 1992 sửa lại thành: "Công dân có quyền xây dựng nhà ở theo quy hoạch

và pháp lu ậ t” [Điều 62] Ngoài ra, Hiến pháp 1992 còn khôi phục lại một số

quyền đã quy định trong Hiến pháp 1946 nhưng về sau do hoàn cảnh chính trị

- lịch sử mà chúng ta đã hạn chế Đó là "Quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước theo quy định của pháp luật" [Điều 68] Một số quyền trước

đây chỉ quy định trong bộ luật hoặc luật nay đã đưa vào quy định cả trong Hiến pháp để đề cao hơn nữa tính hiệu lực của pháp luật, chẳng hạn như Điều

72, Hiến pháp 1992 quy định: "Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật".

Người bị bắt, bị giam giữ, bị truy tố, xét xử trái pháp luật có quyền

được bồi thường thiệt hại về vật chất và phục hồi danh dự “Người làm trái pháp luật trong việc bắt, giam giữ, truy tố, xét xử gáy thiệt hại cho người khác phải bị xử lỷ nghiêm m inh” [Điều72] Quy định này phù hợp với các

chuẩn mực quốc tế được nêu trong Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền [Khoản 1, Điều 11] và Công ước quốc tế về Các quyền dân sự và chính trị, [khoản 5 Điều 9 và khoản 2 Điều 14] mà Việt Nam là thành viên Việc xét xử

ở Việt Nam chỉ do Toà án thực hiện, hình phạt cũng chỉ được thực hiện theo quyết định của Toà án Đồng thời, việc điều tra, truy tố, xét xử phải tuân thủ theo các quy định chung của pháp luật Các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền gây thiệt hại trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử buộc phải bồi thường cho người bị oan

Như vậy, việc xây dựng, sửa đổi, bổ sung Hiến pháp 1992 đã đánh dấu bước phát triển đáng kể của Việt Nam trong chặng đường đầu của công cuộc

Trang 30

đôi mới, đông thời tạo ra nhũng điêu kiện thuận lợi mới cho chúng ta tiên lên giành những thắng lợi trong sự nghiệp đổi mới.

Trang 31

CHƯƠNG 2:

CHẾ ĐỊNH QUYÊN CON NGƯỜI, QUYÈN CÔNG DÂN TRONG

HIÉN PHÁP VIỆT NAM NĂM 2013

2.1 Sự cần thiết, mục đích sửa đổi Hiến pháp 1992 và định hưóng sửa đổi, bổ sung chế định quyền con ngưòi, quyền công dân

2.1.1 Sự cần thiết, mục đích sửa đổi Hiến pháp 1992

Sau hơn 20 năm đi vào tổ chức thực hiện Hiến pháp 1992, bối cảnh quốc

tế và trong nước đang có những diễn biến to lớn, phức tạp và sâu sắc Vì vậy, việc nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 cho phù hợp với tình hình mới là rất cần thiết

Hiến pháp năm 1992 vốn chỉ phù hợp với thời kỳ đầu của quá trình mở cửa hội nhập với nền kinh tế thế giới và khu vực Nhiều hoạt động của nền kinh tế đã vượt ra khỏi những giới hạn của Hiến pháp quy định, điều này trực tiếp và gián tiếp gây ra những tiêu cực xã hội như tình trạng quan liêu, cửa quyền, tham nhũng, lãng phí, trong việc quản lý và sự dụng tài nguyên, tài sản của đất nước v.v Vì vậy việc thể chế hóa cách thức hạn chế, ngăn chặn vào văn bản pháp lý cao nhất để giải quyết có hiệu quả hơn trong thời gian sắp tới.Trong lĩnh vực chính trị, quá trình đổi mới ở nước ta đã lấy dân chủ làm mục tiêu và động lực cho sự phát triển về chính trị, kinh tế, xã hội Tuy nhiên, nhìn vào thực tế, vẫn còn nhiều hạn chế và bất cập trong việc thực hành dân chủ cả dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp, trong đó: Dân chủ đại diện, thể hiện ở tổ chức và hoạt động của các cơ quan dân cử, Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp chưa thực sự đạt được hiệu quả; Dân chủ trực tiếp thể hiện qua bầu cử và các cơ chế dân chủ cơ sở, sự kiểm tra, giám sát của nhân dân đối với bộ máy nhà nước còn nhiều hạn chế, mang nặng tính hình thức

Trong lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, Hiến pháp năm 1992 đã đặt ra

Trang 32

những cơ sở pháp lý cao nhât cho sự phát triên vê quan hệ sản xuât và lực lượng sản xuất trong thời kỳ quá độ, phát triển văn hóa, xã hội kết hợp đồng thời với việc đảm bảo quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong từng bước của quá trình phát triển Trên cơ sở đó, một hệ thống các văn bản pháp luật đã được ban hành và nhiều chính sách, giải pháp thực tế đã đạt được hiệu quả thực tế.

Bên cạnh đó, Hiến pháp chưa thể hiện rõ hiệu lực trực tiếp trong việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp và chính đáng của con người trong nhiều trường hợp đã ảnh hưởng đến tính nghiêm minh của hiến pháp và lòng tin của người dân vào chế độ, làm giảm hiệu quả của những nỗ lực tạo ra sự đồng thuận xã hội và lòng dân

Vào năm 2001, việc sửa đổi Hiến pháp tại Điều 2 đã tạo ra một động lực quan trọng cho sự phát triển tiếp theo của Hiến pháp nước ta

Tuy nhiên, quy định có tính nguyên tắc tại Điều 2 của Hiến pháp (sửa đổi năm 2001) đã không được tiếp tục cụ thể hóa ngay trong Hiến pháp nhằm hiện thực hóa cơ chế phân công quyền lực, phối hợp quyền lực và kiểm soát quyền lực theo chiều ngang giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp và theo chiều dọc giữa Trung ương và địa phương; những cơ chế và hình thức kiểm soát quyền lực trong bộ máy nhà nước vẫn chưa được quy định rõ

Việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 theo chủ trương của Đảng phải đạt được mục đích và yêu cầu chính sau đây:

Thứ nhất, thể chế hóa kịp thời đường lối, các chủ trương, chính sách lớn

của Đảng được xác định trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và các văn kiện khác của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng về đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, xây dựng nền

Trang 33

kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, về văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ, quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân, về bảo vệ Tổ quốc, về phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân Do đó, việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp phải bám sát vào các nội dung của Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011), các nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI và các văn kiện khác của Đảng.

Thứ hai, để ghi nhận những thành quả cách mạng và những thành tựu to

lớn, có ý nghĩa lịch sử sau 25 năm đổi mới đất nước của nhân dân ta, do Đảng

ta khởi xướng và lãnh đạo; phát huy tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, phấn đấu xây dựng nước ta trở thành nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Thứ ba, thể hiện lại một số nội dung và kỹ thuật trình bày, bảo đảm các

quy định của Hiến pháp đúng tầm là đạo luật cơ bản, có tính ổn định lâu dài Nói chung Hiến pháp chỉ quy định các vấn đề lớn, còn các vấn đề cụ thể nên

Mặt khác, sự lạc hậu của Hiến pháp trong việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp và chính đáng của con người có thể ảnh hưởng đến lòng tin của người dân vào chế độ, vào bộ máy Đảng và Nhà nước Việc chưa xác lập được hiệu lực trực tiếp của Hiến pháp bởi chưa có cơ chế thích hợp đã làm

Trang 34

hạn chế khả năng bảo vệ một cách có hiệu quả nhất và triệt để nhất quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tránh những xung đột không cần thiết giũa người dân với chính quyền và tăng cường sự đồng thuận xã hội.

Vì vậy định hướng sửa đổi bổ sung chế định quyền con người, quyền công dân trong hiến pháp 1992 phải “Khẳng định Nhà nước tôn trọng và bảo đảm quyền con người trong Hiến pháp, xác định rõ hơn phạm vi quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Sửa đổi, bổ sung các quy định về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân phải có tính khả thi và ở tầm hiến định để phát huy tối đa nhân tố con người, coi con người là chủ thể, là nguồn lực chủ yếu

và là mục tiêu của sự phát triển”, cụ thể:

2.1.2.1 Sửa đổi Hiến pháp để phát huy dân chủ, bảo đảm quyền lực thuộc về nhản dân.

Hiến pháp cần quy định rõ các phương thức dân chủ, tức là các phương thức để nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước là dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện, khác với trước đây là chỉ thông qua Quốc hội và NĐND, tức là chỉ thông qua hình thức dân chủ đại diện

Hiến pháp đặt nền tảng cho việc hoàn thiện chế định bầu cử - hình thức dân chủ cao nhất, để cử tri thực hiện đầy đủ hơn, thực chất hơn quyền bầu cử

và đề cao trách nhiệm của đại biểu dân cử, coi trọng mối liên hệ giữa đại biểu với cử tri, thực hiện quyền bãi nhiệm đại biểu của cử tri tạo cơ chế để cử tri giám sát đại biểu Theo đó, Hiến pháp đã thành lập Hội đồng bầu cử quốc gia, một thiết chế hiến định độc lập để phục vụ cho mục đích này, tạo bước đổi mới mạnh mẽ về bầu cử

Cần quy định cụ thể hơn các quyền tự do dân chủ của công dân như quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình; quyền biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu dân ý; xác định rõ hơn trách nhiệm của Nhà nước trong việc tạo điều kiện để công dân thực hiện

Trang 35

quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận và kiến nghị với cơ quan nhà nước về các vấn đề của cơ sở, địa phương và cả nước; công khai, minh bạch trong việc tiếp nhận phản hồi ý kiến, kiến nghị của công dân.

2.1.2.2 Sửa đoi Hiến pháp nhằm hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ quyền con người, kiểm soát có hiệu quả quyền lực nhà nước

Tại lần sửa đổi vào năm 2001, Hiến pháp nước ta đã bổ sung một nguyên

tắc rất quan trọng của cơ chế quyền lực nhà nước: “Quyền lực nhà nước là thong nhất, cỏ sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp ” [Điều 2] Từ yêu cầu

của nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN, Đại hội

lần thứ XI năm 2011 của Đảng đã bổ sung nội dung kiểm soát quyền lực vào

thành một yếu tổ mới của cơ chế quyền lực nhà nước ở nước ta

Tuy nhiên, việc hiến định tính chất, nhiệm vụ, chức năng, thẩm quyền của các cơ quan trong bộ máy nhà nước từ đó đến naychưa có những quy định

về các yếu tố của cơ chế phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước Tuy nhiên cần xác định rõ hơn việc phân công, phối hợp và kiểm soát

ba bộ phận của quyền lực nhà nước với những thiết chế thực hiện các quyền, theo đó: Quốc hội được xác định là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân,

cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất:,thực hiện quyền ỉập hiến, quyền lập pháp, và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, thực hiện quyền hành pháp\ Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử, thực hiện quyền tư pháp; Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tổ, kiểm sát hoạt động tư pháp\ Chính quyền địa phương là

chế định được thay cho các thiết chế Hội đồng nhân dân và ủ y ban nhân dân trong Hiến pháp hiện hành; hai thiết thế hiến định độc lập mới ra đời là Hội đồng bầu cử quốc gia và Kiểm toán nhà nước.Cùng với việc xác định TAND

Trang 36

là cơ quan xét xử, thực hiện quyền tư pháp, sứ mệnh của TAND được xác định là bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế

độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân

2.2 Những điểni mói trong chế định quyền con nguòi, quyền công dân trong Hiến pháp Việt năm 2013

Hiến pháp 2013 gồm 11 chương, 120 điều (so với Hiến pháp 1992 giảm 01 chương, 27 điều, chỉ giữ nguyên 7 điều, bổ sung 12 điều mới và sửa đổi 101 điều) Mức độ sửa đổi như vậy là rất lớn, trong đó chế định về quyền con người, quyền công dân chứa đựng nhiều điểm mới nhất

Thứ nhất, lần sửa đổi này đã đổi tên chương là “Quyền con người, quyền

và nghĩa vụ của công dân” và chuyển lên vị trí thứ 2 (so với vị trí thứ 5 trong Hiến pháp 1992) Thay đổi này đã khắc phục tình trạng tên gọi cũ “quyền và nghĩa vụ công dân” không bao quát hết nội dung của chương, và vị trí cũ của chương (thứ 5) trong Hiến pháp 1992 thể hiện sự quan tâm chưa đúng mức với vấn đề quyền con người, quyền công dân

Thứ hai, Hiến pháp 2013 không còn đồng nhất quyền con người và

quyền công dân (như Điều 50 Hiến pháp 1992), mà đã sử dụng tương đối hợp

lý hai thuật ngữ này cho các quyền/tự do hiến định Ví dụ, nếu như các quyền bình đẳng trước pháp luật; quyền tự do kinh doanh; quyền sở hữu tư nhân về tài sản và tư liệu sản xuất; quyền nghiên cứu khoa học và công nghệ, sáng tạo văn học, nghệ thuật và thụ hưởng lợi ích từ các hoạt động đó; quyền được bảo

vệ, chăm sóc sức khỏe; quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm trong Hiến pháp 1992 chỉ quy định cho công dân, nhưng trong Hiển

pháp 2013 quy định chủ thể quyền là tất cả mọi người Như vậy, với những

Trang 37

quyền này, không chỉ công dân Việt Nam mà tất cả những người nước Ngoàicó mặt hợp pháp trên lãnh thổ Việt Nam cũng được bảo vệ.

Thứ ba, trong khi Hiến pháp 1992 chỉ đề cập đến nghĩa vụ tôn trọng ở

Điều 50, Hiến pháp 2013 đã ghi nhận cả ba nghĩa vụ của nhà nước (tương ứng với các quy định về nghĩa vụ quốc gia theo luật nhân quyền quốc tế), đó là tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người (trong các Điều 3 và 14).Sự thay đổi này rất quan trọng, vì nó không chỉ bảo đảm sự hài hòa với luật nhân quyền quốc tế, mà còn tạo cơ sở hiến định ràng buộc các cơ quan nhà nước phải thực hiện đầy đủ và nghiêm túc những nghĩa vụ về quyền con người, quyền công dân trong thực tế, đặc biệt là hai nghĩa vụ bảo vệ và bảo đảm

Thứ tư, Hiến pháp 2013 ỉần đầu tiên quy định nguyên tắc về giới hạn

quyền (Khoản 2 Điều 16) Đây là nguyên tắc đã được nêu trong luật nhân quyền quốc tế và trong hiến pháp của một số quốc gia Việc hiến định nguyên tắc này có ý nghĩa quan trọng mà sẽ được phân tích riêng ở mục 2 dưới đây

Thứ năm, Hiến pháp 2013 ghi nhận một số quyền mới mà Hiến pháp

1992 và các hiến pháp trước đó của Việt Nam đều chưa đề cập, bao gồm: bao gồm: Quyền sống (Điều 21); Các quyền về văn hóa (Điều 41); Quyền xác định dân tộc, sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp (Điều 42); Quyền sống trong môi trường trong lành (Điều 43); Quyền của công dân không bị trục xuất, giao nộp cho nước khác (Điều 17 khoản 2); Quyền có nơi

ở hợp pháp (Điều 22); Quyền hưởng an sinh xã hội (Điều 34) Những quyền mới này đã mở rộng phạm vi bảo vệ của hiến pháp với các quyền con người, quyền công dân trên cả hai lĩnh vực dân sự, chính trị (Điều 21, 17, 42) và kinh

tế, xã hội, văn hóa (Điều 41, 42, 43,22,34) Chúng đáp ứng những nhu cầu mới về quyền con người nảy sinh trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (Điều 43,22,34) và hội nhập quốc tế (Điều 17, 41, 42,22) của nước ta

Trang 38

Thứ sáu, Hiến pháp 2013 đã củng cố hầu hết các quyền đã được ghi nhận

trong Hiến pháp 1992 (quy định rõ hơn hoặc tách thành điều riêng), bao gồm: Bình đẳng trước pháp luật (Điều 16); cấm tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình (Điều 20 khoản 1); Bảo vệ đời tư và nơi ở (Điều 21, 22); Tiếp cận thông tin (Điều 25); Tham gia quản lý nhà nước và xã hội (Điều 28); Bình đẳng giới (Điều 26); Bỏ phiếu trong trưng cầu ý dân (Điều 29); Tố tụng công bằng (Điều 31); Sở hữu tư nhân (Điều 32); Lao động, việc làm (Điều 35) Tuy không phải là những quyền mới, song nhiều sửa đổi, bổ sung này có ý nghĩa rất quan trọng, cụ thể như sau:

- Bình đẳnq trước pháp luật (Điều 16): Trong Hiến pháp 2013, chủ thể của quyền này đã được mở rộng từ “công dân” (trong Hiến pháp 1992) sang

‘tất cả mọi người”, đồng thời tính chất và phạm vi của sự bình đẳng được xác

định rõ ràng, đó là không bị phân biệt đổi xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội Với quy định sửa đổi này, quyền bình đẳng trước

pháp luật sẽ được bảo đảm ở mức độ rộng, chặt chẽ và phù hợp hơn với luật nhân quyền quốc tế

- Cấm tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình (Điều 20 khoản 1 ): Hiến pháp

2013 lần đầu tiên đề cập đến cấm “tra tấn”, đồng thời nhấn mạnh cấm bất kỳ hình thức bạo lực, đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của tất cả mọi người Quy định này cụ thể, rõ ràng và

rộng hon rất nhiều (cả về hành vi bị cấm và chủ thể được bảo vệ) so với quy định cũ ở Điều 71 Hiến pháp 1992 (chỉ cấm truy bức, nhục hình, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của công dân) Nó tạo cơ sở hiến định để nội luật hóa và thực thi hiệu quả Công ước của Liên hợp quốc về chống tra tấn và những sự đối xử, trừng phạt tàn ác, vô nhân đạo hay hạ nhục mà Việt Nam vừa ký kết cuối năm 2013

Trang 39

- Bảo vệ đời tư và nơi ở (Điêu 21, 22): Hiên pháp 2013 mở rộng chủ thê được bảo vệ quyền này từ công dân sang mọi người, đồng thời quy định trong hai điều riêng (Điều 21 bảo vệ quyền về nơi ở, Điều 22 bảo vệ quyền về đời

tư) Quyền về đời tư lần đầu tiên được quy định rõ, bao gồm đời sổng riêng

tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, danh dự, uy tín của cá nhản So với quy

định cũ ở Điều 73 Hiến pháp 1992 (chỉ nói đến quyền bí mật thư tín, điện

thoại, điện tín), Điều 22 Hiến pháp 2013 còn bảo vệ quyền bí mật về các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác Tất cả những điểm mới này cho thấy

phạm vi bảo vệ quyền về đời tư của Hiến pháp 2013 rộng hom đáng kể so với Hiến pháp 1992

- Tiếp cận thông tin (Điều 25): Sự điều chỉnh ở đây chỉ là đổi thuật ngữ

được (quyền được thông tin trong Hiến pháp 1992) sang tiếp cận (quyền tiếp cận thông tin trong Hiến pháp 2013) Tuy nhiên, chuyển đổi này có ý nghĩa

rất lớn, bởi quyền tiếp cận thông tin theo luật quốc tế không chỉ bao gồm

quyềnđược [tiếp nhận] thông tin như trong Hiến pháp 1992 mà còn bao gồm hai quyền khác đó là quyền được tìm kiếm/yêu cầu cung cấp thông tin, và quyền được chia sẻ, phổ biến thông tin Với sự chuyển đổi ngắn gọn đó,

quyền tiếp cận thông tin trong Hiến pháp 2013 đã tương thích với nội hàm của quyền này theo luật quốc tế Điều này có ý nghĩa rất lớn trong thực tế ở nước ta, bởi lẽ theo nhận thức chung của cộng đồng quốc tế, quyền tiếp cận thông tin không chỉ là điều kiện bảo đảm cho việc thực thi dân chủ (thông tin

là oxy của dân chủ) mà còn là một “vũ khí quan trọng nhất để phòng, chống tham nhũng”

- Tham gia quản lý nhà nước và xã hội (Điều 28): Điểm mới đó là Hiến pháp 2013 không chỉ tái khẳng định quyền này như trong Hiến pháp 1992, mà

còn nêu rõ: Nhà nước tạo điều kiện để công dân tham gia quản lý nhà nước

và xã hội; công khai, minh bạch trong việc tiếp nhận, phản hồi ỷ kiến, kiến

Ngày đăng: 21/02/2017, 16:21

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm