Tác giả đã hệ thống hóa một cách cụ thể những vấn đề lý luận cơ bản về dịch vụ phi tín dụng của ngân hàng thương mại như: Khái niệm, đặc điểm, phân loại dịch vụ phi tín dụng, vai trò củ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
NGUYỄN TÀI THIÊN
NÂNG CAO THU NHẬP TỪ HOẠT ĐỘNG PHI TÍN DỤNG
TẠI NHTMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
Hà Nội – 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
NGUYỄN TÀI THIÊN
NÂNG CAO THU NHẬP TỪ HOẠT ĐỘNG PHI TÍN DỤNG
TẠI NHTMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của riêng tôi Các số liệu trong luận án là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng
Tác giả luận văn
NGUYỄN TÀI THIÊN
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và thực hiện luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của nhiều tổ chức và cá nhân Tôi xin chân thành cảm ơn các tổ chức và cá nhân đó Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Đào Minh Phúc đã hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này Tôi xin chân thành cảm ơn TS Lê Trung Thành, TS Trần Thị Vân Anh; TS Nguyễn Anh Tuấn trường Đại học Kinh tế ĐHQG Hà Nội; các chi nhánh của ngân hàng ngân hàng Công Thương đã giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận án
Xin cảm ơn gia đình đã chia sẽ cùng tôi những khó khăn, động viên và tạo điều kiện cho tôi học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận án này
Tác giả luận văn
NGUYỄN TÀI THIÊN
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
Trang 6DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Trang 7DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 3.1 Hệ thống tổ chức NHTMCP Công Thương Việt Nam
Trang 8MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT i
DANH MỤC BẢNG i
DANH MỤC BIỂU ĐỒ ii
DANH MỤC SƠ ĐỒ iii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THU NHẬP TỪ HOẠT ĐỘNG PHI TÍN DỤNG 4
1.1.Tổng quan tình hình nghiên cứu 4
1.1.1.Các công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa hoạt động phi tín dụng và rủi ro đối với ngân hàng .4
1.1.2.Các công trình nghiên cứu về nâng cao thu nhập từ hoạt động phi tín dụng 5
1.2.Hoạt động phi tín dụng của ngân hàng thương mại 6
1.2.1.Khái niệm 6
1.2.2.Các đặc trưng của hoạt động phi tín dụng: 6
1.2.3Các hoạt động phi tín dụng của ngân hàng .7
1.2.4.Sự cần thiết của việc tăng thu nhập từ hoạt động phi tín dụng của ngân hàng thương mại .13
1.2.5.Các tiêu chí đánh giá sự gia tăng thu nhập từ hoạt động phi tín dụng của ngân hàng .16
1.2.6.Các nhân tố ảnh hưởng tới thu nhập từ hoạt động phi tín dụng của ngân hàng. .17
1.3 Kinh nghiệm tăng thu nhập từ hoạt động phi tín dụng ở một số ngân hàng thương mại và bài học kinh nghiệm .24
1.3.1 Kinh nghiệm 24
1.3.2 Bài học kinh nghiệm 29
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1: 31
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP VÀ THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 32
2.1 Phương pháp nghiên cứu 32
Trang 92.1.1.Phương pháp phân tích, tổng hợp dữ liệu 33
2.1.2.Phương pháp phân tích thống kê 34
2.1.3.Phương pháp so sánh 35
2.1.4.Phương pháp dự báo khoa học bằng ngoại suy 37
2.1.5 Phương pháp liệt kê 38
2.2.Thiết kế nghiên cứu 38
2.2.1.Nguồn thu thập số liệu 38
2.2.2.Cách thức thu thập số liệu 39
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2: 40
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG THU NHẬP TỪ HOẠT ĐỘNG PHI TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM 41
3.1 Khái quát về Ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam 41
3.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 41
3.1.2 Cơ cấu tổ chức 44
3.1.3 Kết quả kinh doanh của ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam giai đoạn 2012 – 2016 44
3.2 Thực trạng thu nhập từ hoạt động phi tín dụng tại ngân hàng Công Thương Việt Nam giai đoạn 2012 – 2016 .48
3.2.1 Thu nhập từ hoạt động dịch vụ 50
3.2.2 Thu nhập từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm 56
3.2.3 Thu nhập từ hoạt động đầu tư và kinh doanh chứng khoán 56
3.2.4 Thu nhập từ hoạt động kinh doanh ngoại hối 57
3.3 Đánh giá thu nhập từ hoạt động phi tín dụng của NHTMCP Công Thương Việt Nam giai đoạn 2012 – 2016 .58
3.3.1 Hạn chế .58
3.3.2 Nguyên nhân: 61
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3: 64 CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP NÂNG CAO THU NHẬP TỪ HOẠT ĐỘNG PHI
Trang 10TÍN DỤNG TẠI NHTM CP CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM 65
4.1 Định hướng phát triển của NHTMCP Công thương Việt Nam 65
4.1.1 Định hướng chung 65
4.1.2 Định hướng mục tiêu nâng cao thu nhập từ hoạt động phi tín dụng của NHTMCP Công thương Việt Nam 66
4.1.3 Những khó khăn thách thức 67
4.2.Giải pháp nâng cao thu nhập từ hoạt động phi tín dụng của NHTMCP Công thương Việt Nam 68
4.2.1.Giải pháp về nguồn nhân lực 68
4.2.2 Giải pháp về sản phẩm dịch vụ 69
4.2.3 Giải pháp về công nghệ 71
4.2.4 Giải pháp về quản trị, điều hành 72
4.2.5 Giải pháp về mạng lưới phân phối 73
4.2.6 Giải pháp về marketing 77
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4: 79
KẾT LUẬN 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
Trang 11PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Các sản phẩm phi tín dụng mà ngân hàng cung ứng cho cá nhân và doanh nghiệp
đã và đang chứng minh được tính tiện ích trong quá trình phát triển mạnh mẽ nền kinh tế thị trường Các sản phẩm này cũng là nguồn thu an toàn và ổn định cho các ngân hàng thương mại, mặc dù vậy tỷ trọng thu nhập từ các sản phẩm của các ngân hàng thương mại Việt Nam còn khá thấp so với hệ thống các ngân hàng thương mại của các nước khác Để có thể tồn tại và phát triển trong giai đoạn cạnh tranh gay gắt hiện nay, các ngân hàng thương mại phải tìm ra giải pháp nhằm nâng tỷ lệ phí trên tổng doanh thu, đem đến sự phát triển bền vững cho chính các ngân hàng thương mại Việt Nam
Những năm gần đây, môi trường kinh tế thế giới có nhiều biến động, nó tác động chung đến toàn thể các quốc gia trên thế giới, kinh tế thế giới ngày càng trở nên
“phẳng” hơn nhờ những hiệp định, những hợp tác song phương, đa phương.Ở Việt Nam, mặc dù chúng ta vẫn giữ được tốc độ tăng trưởng (GDP năm 2015 tăng 6.68%), nhưng vẫn tiềm ẩn nhiều bất ổn Việt Nam đang hội nhập ngày càng sâu với kinh tế thế giới bằng những “cái bắt tay” trong năm 2015, những rào cản ngày càng được tháo bỏ, sân chơi được mở rộng, đặt ra yêu cầu đổi mới cho nền kinh tế Việt Nam và hệ thống ngân hàng nói riêng Tái cấu trúc hệ thống tài chính với trọng tâm là tái cấu trúc ngân hàng thương mại giai đoạn 2011 – 2015 đã và đang được tiến hành với hàng loạt vụ mua bán và sáp nhập những ngân hàng yếu kém Bên cạnh đó, các ngân hàng trong nước còn phải vấp phải sự cạnh tranh của những ngân hàng nước ngoài có nhiều lợi thế cũng là thách thức không nhỏ cho những ngân hàng thương mại ở Việt Nam
Kể từ năm 2011 đến nay, sau giai đoạn tăng trưởng nóng về tín dụng tại các ngân hàng ở đủ các cấp độ quy mô, điều này mang lại cho hệ thống ngân hàng Việt Nam những tăng trưởng mạnh mẽ về số lượng và giải quyết được cơn khát vốn cho nền kinh tế Tuy nhiên, sau khi tăng trưởng về chiều rộng, thị phần bắt đầu bão hòa đi
Trang 12kèm với nợ xấu tăng cao, chất lượng tín dụng thấp, các ngân hàng thương mại bắt đầu quan tâm hơn đến tăng trưởng về chiều sâu và quan tâm nhiều hơn đến những phi tín dụng Các sản phẩm phi tín dụng mà các ngân hàng cung ứng cho cá nhân
và doanh nghiệp đã và đang chứng minh được sự tiện ích trong quá trình phát triển mạnh mẽ nền kinh tế thị trường Các sản phẩm này cũng là nguồn thu an toàn và ổn định cho các ngân hàng thương mại (ngân hàng thương mại), mặc dù vậy tỷ trọng thu nhập từ các sản phẩm của các ngân hàng thương mại Việt Nam còn khá thấp so với hệ thống các ngân hàng thương mại của các nước khác Để có thể tồn tại và phát triển trong giai đoạn cạnh tranh gay gắt hiện nay, các ngân hàng thương mại phải tìm ra giải pháp nhằm nâng tỷ lệ phí trên tổng doanh thu, đem đến sự phát triển bền vững cho chính các ngân hàng thương mại Việt Nam
Chính vì vậy, cuộc đua cạnh tranh về chất lượng cũng như làm hài lòng khách hàng giữa các ngân hàng thương mại đang được đẩy lên cao trào
Theo số liệu từ Ngân hàng Nhà nước, tính đến tháng 11/2016, tại Việt Nam có 31 Ngân hàng thương mại cổ phần; 61Ngân hàng 100% vốn nước ngoài và chi nhánh, văn phòng đại diện ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam; 3 ngân hàng liên doanh
Có thể thấy rằng, thị trường ngân hàng Việt Nam đang chứng kiến sự cạnh tranh mạnh mẽ hơn bao giờ hết Để có thể tồn tại được khi mà cần phải hạn chế tín dụng, các sản phẩm trong lĩnh vực ngân hàng hầu như giống nhau thì yếu tố: Chất lượng
là quân bài để mang lại thành công cho các ngân hàng thương mại trong nước
Nhận thức được những khó khăn trên, Vietinbank trong những năm gần đây đã
có những thay đổi tích cực để đáp ứng với xu thế của thị trường.Để thu hút và giữ chân lượng khách hàng cá nhân tới giao dịch tại đây, ngân hàng đã đưa ra các đề xuất để nâng cao chất lượng, đồng thời cũng triển khai cung ứng những sản phẩm mới nhất của hệ thống Vietinbank trên toàn quốc
Nhưng sau một thời gian triển khai cho thấy, sự phát triển của mảng dịch vụ và các hoạt động phi tín dụng tuy tăng trưởng, nhưng rất chậm,bộc lộ rất nhiều hạn chế khi bị cạnh tranh của các tổ chức tín dụng khác trên địa bàn Nguồn thu từ mảng còn thấp so với tổng thu của chi
Trang 13Đứng trước tình hình này, Vietinbank cần đưa ra các giải pháp nâng cao chất lượng , thu hút và giữ chân khách hàng hướng tới xây dựng thương hiệu số 1 trong hoạt động bán lẻ và kỳ vọng nâng thu nhập từ chiếm 27% tổng thu nhập vào năm 2017
2 Mục tiêu nghiên nghiên cứu:
- Tìm hiểu đánh giá về thu nhập từ phi tín dụng tại Vietinbank
- Đề xuất các giải pháp thích hợp để đó tăng thu nhập từ hoạt động phi tín dụng của NHTMCP Công thương Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
+ Đối tượng nghiên cứu:
- Nguồn thu từ hoạt động phi tín dụng trong tổng thu nhập tại ngân hàng Công Thương Việt Nam Theo đó, luận văn sẽ trình bày tổng quan về vấn đề thu nhập từ hoạt động phi tín dụng, các nhân tố ảnh hưởng, đánh giá thực trạng và đề xuất một
số giải pháp gia tăngnguồn thu này tại ngân hàng Công Thương Việt Nam
+ Phạm vi: Nguồn thu từ hoạt động phi tín dụng tại ngân hàng Công Thương Việt Nam trong giai đoạn 2012- 2015
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu của luận văn: nghiên cứu định tính kết hợp với định lượng để đạt được mục tiêu nghiên cứu đã đặt ra Ngoài ra, trong luận văn còn sử dụng một số phương pháp khác như: thống kê – phân tích, so sánh
Phương pháp thống kê và phân tích dữ liệu thống kê: Đây là phương pháp được
sử dụng phổ biến trong hầu hết các sách, tạp chí, luận văn, công trình nghiên cứu khoa học Là một hệ thống các phương pháp bao gồm thu thập, tổng hợp, trình bày
số liệu, tính toán các đặc trưng của đối tượng nghiên cứu nhằm phục vụ cho quá trình phân tích, dự đoán và đề ra các quyết định
Phương pháp so sánh: Phương pháp so sánh được sử dụng để xác định xu hướng, mức độ biến động của các chỉ tiêu phân tích
Nguồn dữ liệu sử dụng trong luận văn chủ yếu là dữ liệu thứ cấp.Các số liệu được thu thập thông qua các báo cáo đã được công bố qua các năm của công ty ra bên ngoài như: Báo cáo tài chính năm/ bán niên, báo cáo tỷ lệ an toàn tài chính năm/ bán niên, báo cáo thường niên
Trang 14CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THU
NHẬP TỪ HOẠT ĐỘNG PHI TÍN DỤNG
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Các công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa hoạt động phi tín dụng và rủi ro đối với ngân hàng
- Chien-Chiang, Shih-Jui Yang, Chi-Hung Chang: Non-interest income, profitability, and risk in banking industry: A cross-country analysis: Nhóm tác giả
đã nghiên cứu các tác động của thu nhập từ các hoạt động phi tín dụng interest) đến lợi nhuận và rủi ro từ các ngân hàng thương mại tại 22 quốc gia tại châu Á Kết quả rút ra từ khảo sát cho 967 ngân hàng thương mại cổ phần ở châu Á, nhóm tác giả đã kết luận: Các hoạt động phi tín dụng của các ngân hàng châu Á làm giảm rủi ro, nhưng lại không làm tăng lợi nhuận Các hoạt động phi tín dụng làm tăng nguy cơ rủi ro đối với các ngân hàng ở những nước có thu nhập cao, trong khi tại những nước có thu nhập trung bình, thấp thì lợi nhuận tăng lên còn rủi ro được giảm thiểu Kết luận cuối cùng mà nhóm tác giả đưa ra cho thấy thu nhập phi tín dụng bị tác động bởi lĩnh vực hoạt động chuyên sâu của ngân hàng và mức thu nhập
(non-của quốc gia mà ngân hàng hoạt động
Nhóm tác giả này chưa đưa ra những giải pháp, kiến nghị cho các hoạt động phi tín dụng ngân hàng tại những quốc gia có trình độ thu nhập trung bình thấp nhưng Việt Nam
- Li Li, Yu Zhang: Are there diversification benefits of increasing non-interest income in the Chinese banking industry? Bài viết này đề cập đến sự đa dạng hóa
các hoạt động kinh doanh ngân hàng truyền thống tác động đến thu nhập từ phi tín dụng của hệ thống ngân hàng Trung Quốc dựa trên dữ liệu ngành ngân hàng trong giai đoạn 1986 – 2008 (30 năm sau ngày mở cửa) Ở cấp độ tổng hợp, đã có những lợi ích của việc đa dạng hóa các hoạt động kinh doanh phi truyền thống làm gia tăng thu nhập từ hoạt động phi tín dụng Tuy nhiên, nguồn thu nhập này có mức độ biến
Trang 15động cao hơn so với thu nhập tín dụng đơn thuần và lợi ích cận biên của đa dạng hóa tiềm năng giảm với sự gia tăng của thu nhập phi tín dụng, các hệ số tương quan của tốc độ tăng trưởng thu nhập lãi thuần và thu nhập ngoài lãi chủ yếu là không đạt Qua phân tích mô hình, nhóm tác giả chỉ ra tác động của thu nhập phi tín dụng trên doanh thu và rủi ro ngành ngân hàng Trung Quốc là không đáng kể Nhìn chung, nghiên cứu của nhóm tác giả chỉ ra kết quả cho thấy thu nhập phi tín dụng làm đa dạng hóa doanh thu cho ngân hàng, nhưng sự phụ thuộc vào nguồn thu này
có thể làm trầm trọng thêm rủi ro/lợi nhuận phi thương mại cho các ngân hàng của
Trung Quốc
1.1.2 Các công trình nghiên cứu về nâng cao thu nhập từ hoạt động phi tín dụng
- Ngô Mỹ Chương: Giải pháp gia tăng nguồn thu phí từ phi tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần Đông Á Bài viết đã làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản
về phi tín dụng, nhân tố ảnh hưởng đến nguồn thu từ phi tín dụng Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng phi tín dụng tại DongA Bank giai đoạn 2011 – 2013 dựa trên các số liệu thực tế Từ đó tìm ra những mặt đã đạt được, những mặt còn hạn ché, tồn tại, các nguyên nhân chủ quan, khách quan tác động đến nguồn thu từ phi tín dụng… Căn cứ vào chiến lược phát triển của DongA Bank, đồng thời dựa trên
cơ sở phân tích khoa học để đưa ra các giải pháp tăng thu nhập từ phi tín dụng tại DongA Bank
Những giải pháp mà tác giả đưa ra cho ngân hàng DongA Bank bị hạn chế về quy mô và năng lực tài chính của DongA Bank, chủ yếu khai thác thị trường ngách
và cạnh tranh về giá, chưa đưa ra được những chiến lược mang tính dài hạn và phụ thuộc nhiều vào sự liên kết với các ngân hàng có quy mô lớn hơn
Phan Thị Linh: Phát triển phi tín dụng tại các ngân hàng nhà nước Việt Nam Tác
giả đã hệ thống hóa một cách cụ thể những vấn đề lý luận cơ bản về dịch vụ phi tín dụng của ngân hàng thương mại như: Khái niệm, đặc điểm, phân loại dịch vụ phi tín dụng, vai trò của dịch vụ phi tín dụng, cácchỉ tiêu đánh giá phát triển dịch vụ phi tín dụng như: Chỉ tiêu định tính và chỉ tiêu định lượng, các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển dịch vụ phi tín dụng, kinh nghiệm của các ngân hàng nước ngoài trong việc phát
Trang 16triển dịch vụ phi tín dụng của ngân hàng thương mại từ đó đưa ra bài học cho các ngân hàng thương mại ViệtNam Từ những cơ sở lý thuyết về phát triển dịch vụ phi tín dụng của ngân hàng thương mại, Tác giả đã phân tích những cơ hội và thách thức trong phát triển dịch vụ phi tín dụng của các ngân hàng thương mại nhà nước Việt Nam Từ đó nghiên cứu một cách cụ thể về thực trạng phát triển dịch vụ phi tín dụng của các ngân hàng thương mạinhà nước Việt Nam trong giai đoạn 2009 -2013, đánh giá sự phát triển dịch vụ phi tín dụng thông qua các chỉ tiêu cụ thể và các nhân tố tác động đến phát triển dịch vụ phi tín dụng, chỉ ra những kết quả đạt được, hạn chế và nguyênnhân Từ những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế đó, tác giả đã đưa ra một số giải pháp chung về sự phát triển dịch vụ phi tín dụng và giải pháp cụ thể cho từng loại hình dịch vụ phi tín dụng của các ngân hàng thương mại, các kiến nghị đối với Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước, Hiệp hội ngânhàng
Tác giả chưa đề cập về các nguồn thu phi tín dụng khác, đặc biệt là hoạt động kinh doanh của ngân hàng, đây là nguồn thu có thể khai thác rất tốt để gia tăng thu nhập phi tín dụng cho ngân hàng giúp cân đối nguồn thu cho NHTM
1.2 Hoạt động phi tín dụng của ngân hàng thương mại
1.2.1 Khái niệm
Đối tượng của các hoạt động phi tín dụng không phải là các mối quan hệ cấp tín dụng như cho vay, chiết khấu, bảo lãnh, bao thanh toán và cho thuê tài chính Khi thực hiện các hoạt động này, ngân hàng không đóng vai trò là một trung gian tài chính
Từ những phân tích như trên, khái niệm về hoạt động phi tín dụng có thể hiểu như sau:
“Hoạt động phi tín dụng là hoạt động của ngân hàng thương mại nhằm tìm kiếm lợi nhuận mà không phải là hoạt động cấp tín dụng”
1.2.2 Các đặc trưng của hoạt động phi tín dụng:
Thứ nhất: Ngoài việc phải đầu tư nguồn vốn ban đầu xây dựng cơ sở hạ tầng,
công nghệ ngân hàng và đầu tư nguồn nhân lực “Khi thực hiện các giao dịch về phi tín dụng, các ngân hàng không phải sử dụng hoặc chỉ sử dụng ít nguồn vốn của mình để thực hiện Do dó đây chính là một trong những lợi thế mà ngân hàng có thể khai thác để phát triển các loại hình phi tín dụng.” (Phạm Thị Linh, 2015,
Trang 17trang 26)
Thứ hai: Các hoạt động phi tín dụng của ngân hàng có khả năng mang lại lợi
nhuận cao cho ngân hàng thương mại bởi chi phí giao dịch mà ngân hàng bỏ ra thường thấp, chỉ chủ yếu tận dụng cơ sở hạ tầng công nghệ đã được đầu tư trước
đó Đây được coi là một lĩnh vực kinh doanh hiệu quả, thu hút các ngân hàng thương mại hiện đại trên thế giới
Thứ ba: Hoạt động phi tín dụng của ngân hàng thường được xếp vào những lĩnh
vực kinh doanh tương đối an toàn, rủi ro thấp “Vì thế mở rộng hoạt động phi tín dụng sẽ giúp cho ngân hàng thương mại hạn chế được những rủi ro như rủi ro lãi suất, đặc biệt là rủi ro tín dụng.” (Phạm Thị Linh, 2015, trang 26)
Thứ tư: Các hoạt động phi tín dụng của ngân hàng có tính hỗ trợ cao và liên kết
chặt chẽ với nhau Các hoạt động luôn đòi hỏi đi kèm với nhau, sự tồn tại và phát triển của này gắn liền với các khác Do đó, hoạt động phi tín dụng của ngân hàng đòi hỏi sự phát triển đồng bộ
Thứ năm: hoạt động phi tín dụng hết sức đa dạng, phong phú và phát triển không
ngừng mang lại nguồn thu tiềm năng, an toàn
1.2.3 Các hoạt động phi tín dụng của ngân hàng
1.2.3.1 Cung cấp dịch vụ thanh toán
Đây là hoạt động cơ bản, thể hiện đặc trưng của hoạt động ngân hàng nhất so với các tổ chức tín dụng còn lại Ngày nay, dịch thanh toán được cung cấp cho khách hàng thông qua công nghệ xử lý hiện đại, cơ sở hạ tầng kỹ thuật và mạng lưới của ngân hàng cũng như trung tâm thanh toán bù trừ Với những tiến bộ này, khách hàng ngày càng có cơ hội tiếp cận những thanh toán an toàn, chính xác và tiện lợi
ở phạm vi trong và ngoài nước
Thanh toán trong nước
Thanh toán chuyển tiền là một loại hình dịch vụ ngân hàng, trong đó ngân hàng thực hiện chuyển tiền từ ngân hàng này đi một ngân hàng khác theo yêu cầu của
cá nhân, tổ chức hoặc ngân hàng thực hiện nghiệp vụ trích một khoản tiền từ tài khoản của khách hàng theo lệnh của chủ tài khoản để ghi có cho người thụ
Trang 18hưởng Khi hoàn thành dịch vụ thanh toán cho khách hàng, ngân hàng thu được một khoản phí nhất định Để thực hiện yêu cầu thanh toán của khách hàng, ngân hàng sử dụng các phương thức thanh toán và công cụ thanh toán không dùng tiền mặt
- Về phương thức thanh toán, gồm có:
+ Thanh toán trong nội bộ ngân hàng
+ Thanh toán giữa các chi nhánh trong cùng hệ thống
+ Thanh toán liên ngân hàng và kho bạc trong phạm vi khu vực và quốc gia
- Về công cụ thanh toán không dùng tiền mặt, gồm có:
+ Séc
+ Uỷ nhiệm chi
+ Uỷ nhiệm thu
+ Thẻ thanh toán
Thanh toán quốc tế (thanh toán xuất nhập khẩu)
Thanh toán quốc tế (TTQT) là việc chi trả các nghĩa vụ và yêu cầu về tiền tệ phát sinh từ các quan hệ kinh tế, tài chính, tín dụng giữa các tổ chức kinh tế quốc tế, giữa các hãng, giữa các cá nhân của các nước khác nhau để kết thúc một chu trình hoạt động trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại, bằng các hình thức chuyển tiền hay bù trừ trên các tài khoản tại các ngân hàng.Khác với thanh toán nội địa trong phạm vi một nước, TTQT thường gắn với việcchuyển đổi giữa đồng tiền của nước này với đồng tiền của nước khác
- Những phương thức thanh toán chuyển tiền quốc tế chủ yếu là:
+ Thanh toán chuyển tiền bằng điện
+ Thanh toán nhờ thu
+ Thanh toán thư tín dụng
+ Thanh toán ghi sổ
+ Thanh toán qua tài khoản treo ở nước ngoài
- Các công cụ thanh toán quốc tế chủ yếu là:
+ Hối phiếu
Trang 19+ Lệnh phiếu
+ Séc
1.2.3.2 Môi giới chứng khoán
Với hệ thống công nghệ hiện đại, tính bảo mật cao và chuyên nghiệp, hiện tại khách hàng có thể sử dụng một cách an toàn và hiệu quả các dịch vụ chứng khoán của ngân hàng như:
Mở tài khoản giao dịch
Giao dịch chứng khoán niêm yết
Dịch vụ hỗ trợ giao dịch chứng khoán
Dịch vụ hỗ trợ tài chính
Lưu ký chứng khoán
Dịch vụ quản lý sổ cổ đông
Dịch vụ Đại lý đăng ký chứng khoán và thanh toán
Dịch vụ hỗ trợ giao dịch, hỗ trợ vốn, dịch vụ IPO tạo điều kiện tối đa và gia tăng giá trị đầu tư cho khách hàng Hệ thống công nghệ thông tin hiện đại với kênh truyền dẫn, kết nối tốc độ cao và đảm bảo tính bảo mật, hỗ trợ khách hàng giao dịch một cách nhanh chóng, thuận lợi với các dịch vụ:
Đặt lệnh qua telephone, fax, internet
Kiểm tra số dư tài khoản và quản lý danh mục trực tuyến
Thông báo kết quả khớp lệnh qua Email, SMS
Ứng trước tiền bán chứng khoán, đăng ký mua chứng khoán phát hành thêm
1.2.3.3 Dịch vụ thẻ
- Thẻ ATM, Cash card
+ Thẻ ATM được phát hành trên cơ sở tài khoản tiền gửi tại ngân hàng, được sử dụng để rút tiền mặt tại các máy ATM
+ Thẻ Cash card là thẻ nhựa có một số tiền nhất định trên thẻ, được trừ trực tiếp trên thẻ khi mua hàng hoá, dịch vụ
- Thẻ séc: Thường chỉ cấp cho khách hàng có tài khoản vãng lai từ 18 tuổi trở lên
dùng để rút tiền mặt tại các ngân hàng và đảm bảo cho việc thanh toán hàng hoá và
Trang 20dịch vụ Thẻ séc nội địa chỉ dùng rút tiền ở trong nước Khi sử dụng thẻ séc này ở một ngân hàng khác thì khách hàng phải trả thêm một khoản phí với điều kiện các ngân hàng phải liên thông với nhau
- Thẻ thanh toán (Debit Card): Thẻ thanh toán hay còn gọi là “thẻ ghi nợ” là một
loại thẻ do ngân hàng phát hành Thẻ dùng để thanh toán hàng hoá dịch vụ Người
sử dụngthẻ phải có tài khoản tiền gửi hoặc tài khoản vãng lai, phải có số dư tại ngân hàng phát hành thẻ Khách hàng có thể sử dụng thẻ để thanh toán, chi trả tiền mua hàng hoá, dịch vụở bất kỳ điểm mua bán hàng hoá nào có đặt máy đọc thẻ của ngân hàng, không cần phải đến trực tiếp ngân hàng Khi sử dụng thẻ để chi trả, lập tức tài khoản của người chủ thẻ sẽ bị ghi nợ và tài khoản của người bán hàng hoá, dịch vụ
sẽ được ghi có thông qua mạng máy tính điện tử tự động Thẻ ghi nợ với các thương hiệu như VISA, Master Card, ACB, Success (VBARD), Connect 24 (VCB), Thẻ đa năng (Ngân hàng Đông Á)…
- Thẻ tín dụng (Credit Card): Thẻ tín dụng được xem như là thẻ ngân hàng
(Bankcard) vì chúng thường được phát hành bởi các ngân hàng Ngân hàng sẽ qui định một hạn mức tín dụng nhất định cho từng chủ thẻ và chủ thẻ được sử dụng trong hạn mức đó, đến thời hạn quy định phải hoàn trả cho ngân hàng Cơ sở sử dụng thẻ tín dụng là phát hành trên tài khoản tiền vay ngân hàng Thẻ tín dụng với các thương hiệu như VISA, MasterCard…
- Máy rút tiền tự động ATM (Automatic Tellers Machine): ở các ngân hàng, các điểm bán hàng, những nơi đông dân cư các ngân hàng thường đặt các máy rút tiền
tự động, những máy này được nối mạng trực tiếp với trung tâm thanh toán Khách hàng có thể dùng thẻ rút tiền (thẻ từ hoặc thẻ thông minh) do ngân hàng phát hành
để rút tiền ở các máy ATM, mà không nhất thiết phải trực tiếp đến ngân hàng Khi
có nhu cầu rút tiền mặt, khách hàng đưa thẻ vào máy ATM và bấm số PIN trên bàn phím, thông qua thông tin lưu trữ trên dải từ tính hoặc con chíp điện tử, máy tính có thể "tra cứu" tài khoản của khách hàng và đưa ra số tiền mặt mà khách hàng cần rút với giới hạn cho phép, máy còn thông báo cho người cầm thẻ biết số dư trong tài khoản của khách hàng hoặc thực hiện một lệnh thanh toán chuyển khoản với điều kiện phải biết chi tiết về ngân hàng của người được thanh toán Máy ATM đã trải
Trang 21qua nhiều thế hệ, từ chỗ là chỉ thực hiện chức năng rút tiền tự động, ngày nay các máy ATM thế hệ mới hoạt động như một ngân hàng nhỏ với đầy đủ các chức năng như rút tiền, gửi tiền, thanh toán Do đó, việc đặt các máy ATM thế hệ mới ngoài trụ sở chính ngân hàng thực chất là việc mở rộng mạng lưới hoạt động
1.2.3.4 Dịch vụ quản lý tài sản
quản lý tài sản mà ngân hàng cung ứng cho khách hàng bao gồm quản lý tiền mặt, cất giữ tài sản và tín thác quản lý tiền mặt là việc ngân hàng quản lý thu chi tiền mặt và tiến hành đầu tư phần thặng dư tiền mặt tạm thời nhằm mang lại hiệu quả tối
đa cho khách hàng Ngoài ra, khách hàng có thể sử dụng cất giữ tài sản tại ngân hàng Hiện nay đa số các ngân hàng có hệ thống két cho khách hàng thuê để bảo quản tài sản và giấy tờ có giá của mình quản lý tài sản của ngân hàng hiện đang bị các loại hình tổ chức phi ngân hàng như công ty quản lý quỹ, công ty chứng khoán…cạnh tranh gay gắt Nhằm thu hút khách hàng, các tổ chức này cũng đưa ra
đa dạng các loại hình quản lý tài sản
1.2.3.5.Kinh doanh ngoại vàng và ngoại tệ
Kinh doanh ngoại tệ là một một mặt đáp ứng nhu cầu ngoại tệ của khách hàng
và tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng, mặt khác giúp các ngân hàng điều hòa cung cầu ngoại tệ trên thị trường, ổn định tỷ giá, thực hiện chính sách quản lý ngoại hối của Ngân hàng Nhà nước từ đó tác động đến hoạt động xuất nhập khẩu cũng như hoạt động khác của nền kinh tế Có nhiều hình thức kinh doanh ngoại tệ khác nhau trên thị trường ngoại hối bao gồm: Giao dịch mua bán giao ngay; Giao dịch có kỳ hạn; Giao dịch hoán đổi; Giao dịch hợp đồng tương lai; Giao dịch hợp đồng quyền chọn
1.2.3.6 Tư vấn và cung cấp thông tin
Trong thời đại hiện nay khi nền kinh tế đã phát triển, hệ thống thông tin đã rộng khắp, các mạng lưới tin học đã đi sâu vào từng lĩnh vực ngành nghề thì việc đáp ứng các hiểu biết của con người trở nên cần thiết hơn Cũng như nhiều trung tâm tư vấn khác, tư vấn của ngân hàng là một lĩnh vực nhằm phân tích dự báo các thông tin
về tình hình kinh tế xã hội – pháp luật - thị trường giá cả…liên quan đến vấn đề đầu
tư giúp khách hàng đưa ra quyết định một cách đúng đắn, an toàn và có hiệu quả Các ngân hàng thương mại lớn trên thế giới thường xây dựng một trung tâm tư vấn
Trang 22khách hàng về (i) các của ngân hàng; (ii) về thông tin kinh tế, các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh và (iii) tư vấn về đào tạo về các kiến thức kinh tế, tài chính, ngân hàng… - Đối với hoạt động tư vấn đầu tư:ngân hàng có thể hướng dẫn khách hàng xây dựng dự án, lựa chọn sản xuất sản phẩm gì, cung cấp các thông tin
về thị trường sản phẩm đó, các phương án kỹ thuật ra sao, nhập các thiết bị công nghệ, tính toán nguồn tài trợ cho dự án với lãi suất tiền vay có lợi nhất và tính toán hiệu quả kinh tế, tính khả thi của dự án; Tư vấn cả về quản lý kinh doanh cho khách hàng như hướng dẫn về hệ thống hoạch định tài chính và kiểm soát; trong việc tham gia thị trường vốn, ngân hàng có thể tư vấn cho khách hàng với số lượng vốn nhất định và thời gian cần thiết để tham gia thị trường vốn ngắn ngày được hưởng lãi suất cao - Đối với hoạt động cung cấp thông tin: ngân hàng cung cấp các thông tin cho khách hàng của mình về thị trường tài chính - tiền tệ, thị trường sản phẩm đầu vào, đầu ra Những thông tin mà ngân hàng thu thập, chọn lọc được khi cung cấp sẽ tạo điều kiện mở rộng các cơ hội về kinh doanh cho khách hàng ngân hàng đã trở thành địa chỉ tin cậy để khách hàng gửi gắm tài chính, giờ đây lại trở thành địa chỉ
để khách hàng khai thác, sử dụng thông tin để ra quyết định trong kinh doanh
1.2.3.7.Dịch vụ ngân hàng điện tử
Là được ngân hàng cung cấp mà giao dịch giữa ngân hàng và khách hàng dựa trên quá trình xử lý và chuyển giao dữ liệu số hóa Trên thế giới, E- Banking đã được các ngân hàng cung cấp, cho phép khách hàng thực hiện các giao dịch ngân hàng một cách trực tuyến thông qua các phương tiện như máy vi tính, điện thoại di động hay thiết bị trợ giúp cá nhân(PDA)…Căn cứ vào các hình thức thực hiện giao dịch, ngân hàng điện tử bao gồm những sau:
- Internet banking: Là cung cấp tự động các thông tin về ngân hàng thông qua
đường truyền internet Với máy tính cá nhân kết nối mạng internet, khách hàng có thể truy cập vào website của ngân hàng bất cứ lúc nào, bất cứ nơi nào để được cung cấp thông tin và thực hiện giao dịch
- Home banking: Là cho phép khách hàng ở tại nhà, tại công ty nhưng có thể
thực hiện hầu hết các giao dịch chuyển khoản, thanh toán qua tài khoản tạingân hàng thông qua mạng internet và phần mềm chuyên dùng mà ngân hàng đã cài đặt
Trang 23cho khách hàng
- Phone banking: Là hệ thống trả lời 24/24 của ngân hàng thương mại Khách
hàng có thể sử dụng điện thoại để nghe những thông tin về ngân hàng và thông tin
về tài khoản cá nhân Khi khách hàng ấn những phím cần thiết trên điện thoại theo
mã hóa do ngân hàng qui định, hệ thống sẽ tự động trả lời theo yêu cầu của khách hàng Phone banking chỉ cung cấp thông tin đã được lập trình sẵn trong hệ thống thông tin tự động của ngân hàng
- Mobile banking: Là ngân hàng qua điện thoại di động Khách hàng chỉ cần
dùng điện thoại di động nhắn tin theo mẫu do ngân hàng qui định gửi đến số ngân hàng sẽ được ngân hàng đáp ứng những yêu cầu Chẳng hạn như: Thông tin về tài khoản cá nhân, thanh toán hóa đơn, chuyển khoản từ tài khoản này sang tài khoản khác, đặt các lệnh giao dịch chứng khoán, giao dịch vàng
- Call center: Là ngân hàng qua điện thoại, khách hàng có thể gọi đến ngân hàng
bất cứ lúc nào để nhân viên ngân hàng tư vấn và thực hiện cung ứng các ngân hàng, bao gồm: Cung cấp thông tin về các ngân hàng, thực hiện các khoản thanh toán chuyển tiền, tiếp nhận giải đáp các khiếu nại thắc mắc từ phía khách hàng Ưu điểm của loại hình này là cho phép khách hàng thuận tiện và chủ động hơn trong giao dịch với ngân hàng, không phải đến ngân hàng để giao dịch và có thể nắm bắt được kịp thời thông tin về tài khoản của mình và những thông tin khác
1.2.3.8 Kinh doanh bảo hiểm:
Ngân hàng cung cấp dịch vụ bảo hiểm cho tất cả các khách hàng thông qua các công ty con hoặc thông qua các nhà môi giới bảo hiểm của họ Một số dịch vụ bảo hiểm đang được sử dụng: bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm tín dụng, bảo hiểm trách nhiệm công cộng, bảo hiểm y tế…
1.2.4 Sự cần thiết của việc tăng thu nhập từ hoạt động phi tín dụng của ngân hàng thương mại
Thu nhập từ hoạt động phi tín dụng là tất cả các khoản lợi nhuận đến từ hoạt động phi tín dụng như thu phí từ các sản phẩm dịch vụ, lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh, đầu tư của ngân hàng
Các khoản thu này được thể hiện trên báo cáo kết quả kinh doanh của ngân hàng
Trang 24ở các mục
- Lãi/(lỗ) thuần từ hoạt động
- Lãi/(lỗ) thuần từ hoạt động kinh doanh ngoại hối
- Lãi/(lỗ) thuần từ mua bán chứng khoán kinh doanh
- Lãi/(lỗ) thuần từ hoạt động mua bán chứng khoán đầu tư
a) Đối với ngân hàng
Một là: Hoạt động phi tín dụng của ngân hàng phát triển, ngân hàng sẽ thu hút
được nhiều khách hàng, mở rộng thị phần, nâng cao vị thế của mình
Bởi khách hàng là mục tiêu của bất kỳ của ngân hàng nào Phát triển tốt các hoạt động phi tín dụng, ngân hàng sẽ thu hút thêm khác hàng mới cùng với việc khai thác thêm doanh thu từ khách hàng cũ, định vị hình ảnh của ngân hàng trong thói quen thiêu dùng của khách hàng Khách hàng cá nhân chiếm số đông trong danh sách khách hàng của một ngân hàng, những khách hàng này sẽ làm cầu nối để ngân hàng xâm nhập thị trường, tăng cường sự hiện diện thương hiệu
Phát triển hoạt động phi tín dụng giúp ngân hàng khai thác các lợi thế về kinh nghiệm, các mối quan hệ sẵn có để làm tiền đề thu hút khách hàng doanh nghiệp Những khách hàng cá nhân là nhưng người đóng vai trò quyết định đối với hoạt động của các doanh nghiệp
Để phát triển hoạt động phi tín dụng của mình, đòi hỏi ngân hàng phải cải tiến và đầu tư nâng cao chất lượng về cả số lượng lẫn chất lượng, ngày càng thỏa mãn khách hàng ở mức cao nhất, từ đó giúp nâng cao vị thế của mình
Hai là: Phát triển hoạt động phi tín dụng của ngân hàng giúp cho ngân hàng tăng
doanh thu và lợi nhuận Phát triển hoạt động phi tín dụng góp phần đẩy mạnh nguồn thu, giúp các ngân hàng gia tăng lợi nhuận ổn định Những nguồn thu này đóng góp một tỷ trọng không nhỏ trong tổng doanh thu và lợi nhuận của ngân hàng
Với lợi thế về cơ sở vật chất, ngân hàng có thể phục vụ một số lượng lớn khách hàng, không chỉ tăng doanh thu cho chính hoạt động đó mà còn hỗ trợ cho các hoạt động khác của khách hàng Từ đó gián tiếp tạo ra lợi nhuận cho các hoạt động khác
Ba là: Phát triển hoạt động phi tín dụng tạo điều kiện cho ngân hàng phân tán rủi
ro: Với đặc điểm của cơ cấu nguồn vốn chủ yếu là vốn huy động, hoạt động kinh
Trang 25doanh của ngân hàng tiềm ẩn nhiều rủi ro, đặc biệt khi xảy ra các biến động bất lợi của nền kinh tế, các ngân hàng là những chủ thể rất “nhạy cảm” với những biến động này Hoạt động phi tín dụng tạo nguồn thu ổn định cho ngân hàng, là một bộ phận có xu hướng tăng trưởng nhanh và không bị giới hạn bởi những quy định về những hạn mức tăng trưởng tín dụng (nếu có) từ phía Ngân hàng nhà nước
b) Đối với khách hàng
Một là: Tiết kiệm chi phí Việc phát triển của hoạt đông luôn đi liền với yếu tố
công nghệ, giao dịch của ngân hàng có tính tự động ngày càng cao, hoạt động của ngân hàng theo những chuẩn mực, do đó có thể cắt giảm được chi phí nhân sự cho những hoạt động, cho phép giảm chi phí của cả phía ngân hàng và khách hàng
Hai là: Tiết kiệm thời gian Nhờ việc ứng dụng những tiến bộ về công nghệ
thông tin và viễn thông, các nghiệp vụ của ngân hàng được thực hiện một cách nhanh chóng, chính xác đã giúp khách hàng tiết kiệm rất ít thời gian di chuyển, thời gian chờ, thời gian giao dịch
Ba là: Có được sự an tâm Những hoạt động môi giới, bảo hiểm của ngân hàng
nhận được sự hậu thuẫn rất vững chắc từ phía ngân hàng cả về nhân sự lẫn tài chính, thông tin,… giúp khách hàng có thêm những sự lựa chọn tin cậy, tư vấn đầy
đủ cho những quyết định tài chính của mình
c) Đối với nền kinh tế
Một là: Tạo điều kiện cho ngân hàng hội nhập kinh tế quốc tế liên kết các tài
chính Xu thế chung của các ngân hàng hiện nay là hình thức “đa chức năng” với mạng lưới chi nhánh rộng khắp trên toàn cầu, đa dạng các hình thức đa quốc gia Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều loại hình khác nhau, để có thể hòa nhập với hệ thống ngân hàng quốc tế thì mỗi ngân hàng phải tự phát triển của mình Các ngân hàng nhỏ không đủ năng lực cung cấp nhiều thì có thể liên kết, kết hợp hỗ trợ cho nhau, tối ưu hóa các cung ứng cho khách hàng
Hai là: Đẩy nhanh quá trình lưu chuyển tiền tệ, tiết kiệm chi phí cho xã hội Khi
cá nhân mở tài khoản và sử dụng các thanh toán của ngân hàng nhiều hơn giúp tăng cường lưu thông tiền tệ trong nền kinh tế, tăng tốc độ quay vòng của đồng tiền, khơi thông các luồng vốn, đấy nhanh quá trình lưu thông tiền tệ
Trang 26Ba là: Hoạt động phi tín dụng thúc đẩy nền kinh tế theo hướng nền kinh tế tri thức
Để phát triển các phi tín dụng như thẻ, ngân hàng điện tử, các ngân hàng phải trang bị các thiết bị hiện đại như máy rút tiền tự động, thẻ, máy đọc thẻ, hệ thống máy tính, đường truyền đi cùng với đó là đội ngũ nhân lực giàu kiến thức và kỹ năng Không những thế, những tiện ích này đòi hỏi khách hàng phải có am hiểu nhất định mới có thể
sử dụng chúng Đây là một đặc trưng của một nền kinh tế tri thức
Bốn là: Hoạt động tạo điều kiện cho các ngành khác phát triển: Do đặc điểm của
ngân hàng liên quan một cách sâu rộng đến nhiều ngành, lĩnh vực sản xuất và đời sống Do đó sự phát triển của những hoạt động này cũng thúc đẩy sự phát triển của các ngành khác Đơn cử như thanh toán quốc tế góp phần đáng kể trong việc thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu Đi kèm với đó là sự phát triển của các ngành vận tải, bưu chính viễn thông, du lịch
Năm là: Tăng cường hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt, hạn chế lưu
thông tiền mặt
Với mạng lưới rộng khắp cùng với tốc độ xử lý thông tin nhanh chóng của mình, các ngân hàng thương mại thông qua những hoạt động phi tín dụng của mình như hoạt động thanh toán, hoạt động quản lý ngân quỹ, quản lý tài sản giúp tăng cường hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế Tiền mặt, giấy tờ có giá giờ đây chỉ còn là những dữ liệu điện tử trong hệ thống ngân hàng thương mại
có thể được kiểm soát chặt chẽ và lưu thông hết sức an toàn
1.2.5 Các tiêu chí đánh giá sự gia tăng thu nhập từ hoạt động phi tín dụng của ngân hàng
a) Mức tăng trưởng tuyệt đốithu nhập từ hoạt động phi tín dụng
Thu nhập ngoài lãi (phi tín dụng) của ngân hàng được cấu thành từ những thu nhập sau:
- Thu nhập từ hoạt động
- Thu nhập từ hoạt động kinh doanh ngoại hối
- Thu nhập từ hoạt động mua bán chứng khoán kinh doanh
- Thu nhập từ hoạt động mua bán chứng khoán đầu tư
Trang 27b) Tỷ trọng thu nhập phi tín dụng trên tổng thu nhập của ngân hàng
Chỉ tiêu được biểu diễn qua công thức sau:
Tỷ trọng thu nhập phi tín dụng = 𝑇ℎ𝑢 𝑛ℎậ𝑝 𝑡ừ ℎ𝑜ạ𝑡 độ𝑛𝑔 𝑝ℎ𝑖 𝑡í𝑛 𝑑ụ𝑛𝑔
𝑇ổ𝑛𝑔 𝑡ℎ𝑢 𝑛ℎậ𝑝
c) Tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên
- Thu nhập ngoài lãi cận biên %
(NNIM_Net non - interest margin) = 𝑑𝑜𝑎𝑛 ℎ 𝑡ℎ𝑢 𝑛𝑔𝑜 à𝑖 𝑙ã𝑖−𝑐ℎ𝑖 𝑝ℎí 𝑛𝑔𝑜 à𝑖 𝑙ã𝑖
1.2.6 Các nhân tố ảnh hưởng tới thu nhập từ hoạt động phi tín dụng của ngân hàng
1.2.6.1 Các nhân tố thuộc về ngân hàng
a) Quy mô cung ứng dịch vụ phi tín dụng
Sự phát triển thể hiện ở các chỉ số về phát triển mạng lưới (phát triển theo chiều rộng) và thu nhập từ những hoạt động của các mạng lưới (phát triển theo chiều sâu)
Các ngân hàng thương mại trên thế giới xây dựng mạng lưới kênh phân phối với
sự kết hợp của các kênh phân phối điện tử và thông thường đã đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp dịch vụ tới khách hàng và trong việc phát triển hoạt động dịch vụ phi tín dụng Tạo lập các kênh phân phối đa dạng nhằm tối đa hóa việc cung cấp dịch vụ, thông tin đến khách hàng đáp ứng các nhu cầu ngày càng
đa dạng của các từng lớp dân cư Mạng lưới phân phối bao gồm các chi nhánh trong và ngoài nước, các công ty trực thuộc, các đại lý, các phòng giao dịch, và các
hệ thống giao dịch tự động ATM, POS, SMS banking, Internet banking… đang tạo
ra một ảnh hưởng rất lớn trong việc thu hút khách hàng vì nó đem lại các tiện ích cho khách hàng, giảm thiểu công sức đi lại và thời gian giao dịch, thông tin được cập nhật nhanh nhất mọi lúc, mọi nơi
Trang 28b) Nguồn nhân lực
Yếu tố con người luôn được đánh giá cao, thậm chí là quan trọng nhất của mọi sự thành công Các ngân hàngmuốn đưa ra được những dịch vụ tốt, có chất lượng cao cũng như thu hút được khách hàng thì cần phải có trong tay một đội ngũ cán bộ có năng lực Năng lực được thể hiện ở chất lượng và số lượng: Chất lượng nguồn nhân lực được thể hiện ở chuyên môn nghiệp vụ thì cần phải nắm vững, có kiến thức chuyên môn, am hiểu các mặt nghiệp vụ Đồng thời, các cán bộ ngân hàng cũng cần phải là người năng động nhanh nhẹn, có tác phong của con người trong thời đại mới.Bởi đây là lĩnh vực có tính nhạy cảm cao nên công tác chăm sóc, phục vụ khách hàng lại càng trở nên quan trọng Do vậy, với bộ phận giao dịch trực tiếp với khách hàng, bên cạnh những yếu tố trên người cán bộ ngân hàng cần có thái độ niềm nở, chu đáo, tận tình phục vụ khách hàng Đó chính là động lực để lôi kéo khách hàng đến sử dụng các dịch vụ ngân hàng ngày càng đông.Điều này đòi hỏi các ngân hàng phải có
kế hoạch đào tạo cán bộ, chuẩn bị được lực lượng cán bộ có chuyên môn trước khi triển khai nhiệm vụ mới Số lượng nhân lực trong ngân hàng cũng là một nhân tố ảnh
cả chất lượng và số lượng mang một ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của hệ thống ngân hàng thương mại
c) Chất lượng dịch vụ phi tín dụng
Chất lượng dịch vụ không chỉ được đánh giá thông qua chất lượng phục vụ của nhân viên ngân hàng mà còn được đánh giá thông qua độ an toàn, chính xác và cập nhật trong xử lý nghiệp vụ, thủ tục đơn giản, thuận tiện trong giao dịch và tốc độ xử lý giao dịch nhanh…Có thể nói chất lượng dịch vụ là yếu tố vô hình nhưng có ý nghĩa sống còn trong kinh doanh dịch vụ của ngân hàng thương mại hiện nay Các ngân hàng thương mại đặt mục tiêu chăm sóc khách hàng bằng các dịch vụ hỗ trợ khách hàng trong quá trình sử dụng dịch vụ của mình Đồng thời đây cũng là một kênh bán hàng và tác nghiệp các dịch vụ ngân hàng hiện đại
d) Năng lực về tài chính của ngân hàng
Năng lực tài chính đóng vai trò quan trọng trong hoạt động của một ngân hàng, chỉ khi năng lực tài chính đủ mạnh thì ngân hàng mới có đủ vốn để trang bị các tài sản
Trang 29cần thiết cho việc kinh doanh của họ trong đó có hệ thống công nghệ thông tin hiện đại Bên cạnh đó, vốn còn được dùng vào các hoạt động thiết thực khác như đi nghiên cứu thị trường, nghiên cứu dịch vụ mới, thực hiện các chiến dịch quảng cáo, khuyến mãi…Quan trọng hơn, một ngân hàng có qui mô vốn lớn sẽ dễ dàng tạo được sự tin cậy nơi khách hàng và các đối tác trong và ngoài nước Nếu vốn nhỏ sẽ không đủ lực để đa dạng các và nâng cao chiến lược tăng vốn dài hạn, theo những lộ trình thích hợp, phù hợp với nhu cầu phát triển và khả năng kiểm soát của mỗi ngân hàng trong từng thờikỳ
e) Trình độ công nghệ của ngân hàng
Đây là yếu tố có ảnh hưởng lớn đến khả năng cung ứng dịch vụ của các ngân hàng thương mại.Một ngân hàng có trụ sở làm việc khang trang, bề thế, cơ sở vật chất tiện nghi, đầy đủ sẽ tạo được tâm lý tốt và gây ấn tượng với mỗi khách hàng khi đến ngân hàng, từ đó sẽ thu hút được khách hàng ngày càng đông và là yếu tố quan trọng cho việc phát triển dịch vụ ngân hàng
Mặt khác, mở rộng các loại hình dịch vụ, đặc biệt là các loại hình dịch vụ ngân hàng hiện đại thì luôn có sự gắn kết chặt chẽ với yếu tố công nghệ Công nghệ cao giúp ngân hàng cung cấp cho khách hàng những dịch vụ tiện ích, đáp ứng được nhu cầu của khách hàng Bên cạnh những dịch vụ truyền thống, ngày nay khách hàng có nhu cầu ngày càng cao với những dịch vụ hiện đại, gắn liền với sự phát triển của khoa học công nghệ như thanh toán bằng thẻ, các dịch vụ ngân hàng điện tử như:Internet banking, phone banking…Tất cả những dịch vụ ngân hàng chỉ có thể cung cấp được khi áp dụng những công nghệ hiện đại như máy rút tiền tự động ATM, máy đọc thẻ POS, các chương trình hỗ trợ hiện đại hoá công nghệ ngân hàng Đây cũng là một trong những điều kiện cơ bản để các ngân hàng có thể phát triển đa dạng hơn các dịch
vụ củamình
Công nghệ hiện đại giúp nâng cao chất lượng dịch vụ Chất lượng dịch vụ gắn liền với các yếu tố mang lại đảm bảo về lợi ích cho khách hàng, sự tiện lợi cho khách hàng cũng như các tiện ích đem lại cho ngân hàng, kháchhàng
f) Hoạt động Marketing
Các yếu tố căn bản của marketing ngân hàng là nghiên cứu thị trường, xây dựng và
Trang 30thực hiện trên cơ sở chiến lược thị trường Ngày nay, khái niệm marketing trong lĩnh vực ngân hàng bao gồm: Làm sáng tỏ thị trường hiện tại và xu hướng của nó để cung ứng dịch vụ, lựa chọn những lĩnh vực có lợi hơn và xác định nhu cầu của khách hàng tại những lĩnh vực đó để cung ứng dịch vụ, xây dựng mục tiêu ngắn hạn-dài hạn để phát triển và đưa ra những dịch vụ mới Marketing không chỉ là tiến hành thực hiện dịch vụ mà còn là chiến lược và triết lý của mỗi ngân hàng, nó đòi hỏi sự chuẩn bị công phu, phân tích thấu đáo và tích cực của tất cả các phòng ban từ lãnh đạo đến nhânviên
Chiến lược marketing có vị trí quan trọng trong hoạt động ngân hàng Mục tiêu của marketing dịch vụ ngân hàng là phát triển và đưa ra các loại hình dịch vụ ngân hàng mới; ứng dụng công nghệ ngân hàng hiện đại để phục vụ khách hàng thông qua việc bán dịch vụ; nâng cao khả năng cạnh tranh và mở rộng nền tảng khách hàng bằng cách thu hút khách hàng mới-những người chưa sử dụng các dịch vụ ngân hàng; và cuối cùng là tăng thêm lợi nhuận cho ngân hàng
Nhiệm vụ của marketing dịch vụ ngân hàng là xác định được các thị trường dịch vụ tiềm năng, lựa chọn thị trường cụ thể và làm sáng tỏ nhu cầu khách hàng và quan trọng hơn cả là phải xây dựng được chương trình đồng bộ và kế hoạch hoạt động để đảm bảo thành công những mục tiêu chính của nó
Như vậy, marketing ngân hàng có thể xem như quá trình tìm kiếm thị trường (hiện
tại và tương lai) có lợi cho dịch vụ ngân hàng Quá trình này giúp ngân hàng xây
dựng mục tiêu rõ ràng, con đường hình thành, phương pháp để thực hiện kế hoạch và những phương án để thànhcông
g) Uy tín và thương hiệu của ngân hàng
Uy tín và thương hiệu là yếu tố vô cùng quan trọng trong việc thu hút và phát triển khách hàng của các ngân hàng thương mại Các ngân hàng có bề dày lịch sử phát triển, có uy tín trên thương trường thường được khách hàng tin tưởng sử dụng các dịch vụ phi tín dụng Trong thực tế có những ngân hàng mặc dù chất lượng phục vụ chưa hoàn toàn tốt nhưng vì có thương hiệu mạnh, có uy tín vẫn được khách hàng lựa chọn để sử dụng dịch vụ Uy tín của ngân hàng được thể hiện trên các mặt: Khả năng thanh toán, kỹ thuật xử lý nghiệp vụ, thời gian thanh toán, khả năng đáp ứng các
Trang 31phương tiện thanh toán, sự đa dạng của cácdịch vụ
h) Năng lực quản trị điều hành
Năng lực quản trị điều hành của ngân hàng thương mại được thể hiện qua định hướng và chiến lược phát triển, tư duy kinh doanh mới nhằm mục tiêu giảm thiểu chi phí hoạt động, sử dụng các nguồn lực sẵn có để đạt được kết quả tối ưu Hoạt động dịch vụ phi tín dụng chỉ có thể thành công nếu có định hướng và chiến lược phát triển đúng đắn, bao gồm chiến lược khách hàng, chiến lược marketing thâm nhập thị trường, phát triển mạng lưới kênh phân phối và đào tạo nhân sự, chiến lược Sự phát triển của hệ thống dịch vụ phải gắn liền với năng lực quản trị điều hành của mỗi ngân hàng để đảm bảo hoạt động dịch vụ phát triển ổn định, an toàn, bền vững và tự kiểm soát được Muốn vậy, các cán bộ quản trị, điều hành ngân hàng không chỉ biết tuân thủ các qui định của pháp luật mà phải có kiến thức chuyên môn về nghiệp vụ ngân hàng, phải biết phân tích đánh giá các rủi ro có thể có của mỗi loại hình dịch vụ, xu hướng phát triển của mỗi loại nghiệp vụ…để có các biện pháp dự phòng và bước đi thíchhợp
1.2.6.2 Các nhân tố thuộc về môi trường
a) Môi trường kinh tế xã hội
Bao gồm các yếu tố như: tiền tệ ổn định, nền kinh tế phát triển vững chắc có tác độngtích cực tới sự phát triển các dịch vụ ngân hàng, cụ thể như sau:
Tiền tệ ổn định: Đây là tiền đề, là điều kiện cơ bản cho việc mở rộng ứng dụng dịchvụ đối với bất kỳ quốc gia nào Người dân sẽ rút tiền mặt và tiêu dùng ồ ạt khi đồng tiền bịmất giá nhanh chóng và rõ ràng không ai muốn sử dụng các phương tiện thanh toán khôngdùng tiền mặt trong trường hợp này
Sự phát triển của nền kinh tế: Dịch vụ ngân hàng không thể phát triển trong điều kiện một nền kinh tế có năng lực sản xuất kinh doanh, khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp yếu kém, thu nhập dân cư còn thấp, các khoản chi tiêu nhỏ lẻ Vì thế
sự phát triển ổn định của nền kinh tế, mức thu nhập cao và ổn định của người dân là điều kiện cần thiếtcủa sự phát triển các dịch vụ ngân hàng
Môi trường xã hội bao gồm: dân số, thu nhập, trình độ dân trí tác động mạnh mẽ đến sự phát triển các dịch vụ ngân hàng, cụ thể như sau:
Trang 32Trình độ dân trí ở đây được hiểu như khả năng tiếp cận và sử dụng dịch vụ của công chúng cũng như sự nhận thức được những tiện ích của dịch vụ Nếu người dân ít hiểu biếtvề các dịch vụ ngân hàng, họ sẽ không thấy được lợi ích từ việc sử dụng các dịch vụ nàyvà do đó các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng cũng không có nhu cầu phát triển
Khả năng tiếp cận tiện lợi các dịch vụ ngân hàng của các doanh nghiệp và dân cư cũng là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến phát triển các dịch vụ ngân hàng Hiện nay, ở nước ta dân chúng vẫn chưa quen với sử dụng dịch vụ ngân hàng trong thương mại Việcsử dụng tiền mặt và thanh toán bằng tiền mặt vẫn còn khá phổ biến ở một số doanh nghiệp và trong dân cư Điều đó ảnh hưởng không thuận lợi đến phát triển dịch vụ của các NHTM
Việc nghiên cứu mức thu nhập của dân cư cũng như năng lực của khách hàng sẽ giúp ngân hàng có thể phân loại từng nhóm khách hàng để lựa chọn việc cung cấp những loại sản phẩm dịch vụ phù hợp với nhu cầu và khả năng của từng nhóm khách hàng
b) Môi trường pháp lý
Hoạt động ngân hàng nói chung và phi tín dụng nói riêng của các ngân hàng thương mại chịu ảnh hưởng rất lớn của sự biến động về chính trị trong và ngoài nước Môi trường chính trị ổn định thì ngân hàng có điều kiện để phát triển tốt các hoạt động của mình, thu được lợi nhuận cao và góp phần tăng trưởng kinh tế tốt Và ngược lại, môi trường chính trị bất ổn thì ngân hàng khó có thể hoạt động tốt và khó
có thể phát huy được vai trò của mình Một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, bảo đảm tính đồng bộ, nhất quán, ổn định và minh bạch sẽ là nhân tố thúc đẩy kinh tế nói chung và hoạt động ngân hàng nói riêng Đặc biệt là phi tín dụng Động cơ sử dụng ngân hàng của mỗi khách hàng là lợi ích mà mang lại cho họ Chính vì vậy để phát triển cần ban hành các văn bản, qui phạm pháp luật của Nhà nước, của ngành ngân hàng và của bản thân ngân hàng về việc cung ứng một cách rõ ràng, cụ thể, xác định rõ quyền lợi và trách nhiệm của ngân hàng, của khách hàng để khách hàng thấy rõ quyền lợi cũng như trách nhiệm của mỗi bên khi cân nhắc sử dụng ngân
Trang 33hàng Hệ thống khung pháp luật do Nhà nước thiết lập nhằm quy định các nguyên tắc hoạt động cơ bản của thị trường tài chính – ngân hàng Yêu cầu cơ bản đối với
hệ thống khung pháp luật là phải thống nhất, ổn định, rõ ràng, minh bạch, phải kết hợp, vận dụng các tiêu chuẩn chung đã được thừa nhận trên phạm vi toàn thế giới
Hệ thống cơ quan quản lý Nhà Nước: Trên cơ sở hệ thống pháp luật đã được ban hành, cần phải tổ chức một hệ thống các cơ quan quản lý Nhà nước để điều hành và quản lý thị trường tài chính theo hệ thống pháp luật này
Ở Việt Nam, ngoài Luật Các tổ chức tín dụng 2010 điều chỉnh chung còn có các văn bản dưới luật khác điều chỉnh hoạt động liên quan như đến kinh doanh ngoại tệ, vàng và chứng khoán của các ngân hàng thương mại
c) Đối thủ cạnh tranh
Đối thủ cạnh tranh là một nguồn thông tin có giá trị được các nhà quản trị ngânhàng sử dụng để hỗ trợ cho việc ra quyết định liên quan đến phát triển Những hành động của đối thủ cạnh tranh sẽ cho chúng ta biết họ nhận thức ra saovề xu hướng trên thị trường Theo dõi sát sao các chiến lược của các đối thủ cạnh tranh sẽ
là cơ sở pháp lý giúp cho ngân hàng thấu hiểu các hiện tại trênthị trường, cơ sở để phát kiến các mới có tính cạnh tranh cao Điều này cóthể dùng để cũng cố lại các giả định của chính ngân hàng về những thay đổi trên thị trường hoặc cảnh báo họ về việc đã bỏ qua một xu hướng quan trọng nào đó có thểgây ra nguy hại cho ngân hàng Một phần quan trọng của các ý tưởng về mới lại xuất phát từ đối thủ cạnh tranh dưới hình thức bắt chước Hiện nay hoạt động của các ngân hàng thương mại chịu tác động của các đối thủ cạnh tranh trực tiếp như:
Các ngân hàng nước ngoài: Trong xu thế hội nhập, các ngân hàng thương mại của các nước phảiđối diện với nhiều thách thức từ các ngân hàng nước ngoài đặc biệt đối với các ngân hàng nước ngoài có qui mô hoạt động lớn, tiềm lực tài chính lớn, có kinh nghiệm lâu năm trong việc cung cấp các , qui trình quản lý rủi ro hữu hiệu, chăm sóc khách hàng chu đáo Bên cạnh đó, các ngân hàng nước ngoài thường
có chiến lượcrõ ràng, sự chuẩn bị kỹ lưỡng cho việc xâm nhập vào một thị trường
và ngày càng được mở rộng hơn về phạm vi và qui mô hoạt động
Trang 34Các công ty bảo hiểm trong và ngoài nước: Các công ty bảo hiểm nhân thọ ngày càng lấn sân các ngân hàng thương mại với nhiều và tài chính đặc biệt là các tài chính cá nhân Kinh nghiệm của các nước phát triển cho thấy, dường như không có một sự ranh giới giữa ngân hàng và bảo hiểm Vì vậy, đòi hỏi các ngân hàng thương mại phải chủ động có sự liên kết và không ngừng phát triển các hiện đại để thu hút khách hàng
Doanh nghiệp phi tài chính: Ngoài khu vực tài chính, các doanh nghiệpphi tài chính hiện cũng đang xâm nhập khá mạnh vào thị trường này thông qua cácsản phẩm cho vay tiêu dùng như cho vay mua nhà chung cư, ô tô dưới dạng trả góphoặc cho thuê tài chính
1.3 Kinh nghiệm tăng thu nhập từ hoạt động phi tín dụng ở một số ngân hàng thương mại và bài học kinh nghiệm
1.3.1 Kinh nghiệm
1.3.1.1 Kinh nghiệm của ngân hàng Bangkok (Thái Lan)
Ngân hàng Bangkok có lợi thế được biết đến như là một trong các ngân hàng lớn nhất tại Thái Lan Theo số liệu thống kê, cứ 6 người Thái thì có 1 người mở tài khoản giao dịch tại Ngân hàng Bangkok Mặc dù ngân hàng này có mạng lưới chi nhánh hoạt động rộng nhưng Ngân hàng Bangkok vẫn tiếp tục phát triển các chi nhánh nhỏ để hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ, khách hàng cá nhân trên khắp đất nước Chi nhánh nhỏ của Ngân hàng Bangkok được mở tại siêu thị Lotus ở Ramintra, Bangkok và hơn 18 tháng sau đó, ngân hàng này đã mở mới thêm 36 chi nhánh tại các siêu thị lớn, gần các trường đại học và mở rộng giờ làm việc lên cả tuần để phục vụ các đối tượng khách hàng đến giao dịch Kết quả của việc mở rộng mạng lưới và gia tăng thời gian phục vụ, các chi nhánh nhỏ đã mang lại thành công với doanh thu tăng gấp 7 lần và tăng thêm 60% khách hàng so với ban đầu Với thành công phát triển mạng lưới, Ngân hàng Bangkok không dừng lại ở đó, họ tiếp tục khôi phục lại các chi nhánh ở các khu đô thị lớn nhằm phục vụ tốt hơn nhu cầu của khách hàng Ngoài ra, ngân hàng Bangkok cũng đã mở thêm 32 trung tâm kinh doanh mới Các trung tâm kinh doanh mới này và các chi nhánh phục vụ tiêu dùng
Trang 35là một phần trong chiến lược của ngân hàng nhằm tiếp cận khách hàng bằng các hấp dẫn cho mỗi mảng khách hàng chính (doanh nghiệp vừa và nhỏ ở các vùng trọng điểm, khách hàng cá nhân ở đô thị, các đối tượng học sinh, sinh viên) Ngân hàng Bangkok xây dựng trung tâm xử lý séc tiên tiến nhất ở Thái Lan, mở rộng các kinh doanh điện tử bằng cách đưa ra các tiền mặt trực tiếp cho các chi nhánh ở cấp tỉnh và đô thị chính Đồng thời với triển khai séc, ngân hàng Bangkok cũng đã triển khai trên quy mô lớn về việc phát hành thẻ ghi nợ trên thị trường, kết quả ngân hàng này chiếm 22% thị phần thẻ ghi nợ nội địa Để tiếp tục phát triển ngân hàng bán lẻ, khách hàng cũng được nâng cao khi Ngân hàng Bangkok cho ra đời trung tâm hoạt động ngân hàng hiện đại thực hiện qua điện thoại, các ngân hàng khác nhằm cung cấp đầy đủ cho khách hàng trong suốt 24/24 giờ
1.3.1.2 Kinh nghiệm của Ngân hàng Union- Philippine
Ngân hàng Union Philippine được bình chọn là ngân hàng bán lẻ tốt nhất trong các ngân hàng thương mại ở Philippine Thành công của Ngân hàng Union Philippine trong lĩnh vực bán lẻ được ghi nhận từ việc chuyển đổi đầy ấn tượng và thành công với hai sản phẩm truyền thống (nhận tiền gửi và cho vay) sang công ty tài chính đa sản phẩm và sử dụng công nghệ trong hoạt động kinh doanh ngân hàng bán lẻ Khi bắt đầu thực hiện mục tiêu này, Ngân hàng Union Philippine đã đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức, thiếu nguồn nhân lực để trở thành một ngân hàng có khả năng cạnh tranh được với ngân hàng lớn hơn Theo Edwin R Bautista, Phó giám đốc ngân hàng này nói rằng: “Theo phương diện nào đó, chúng ta bị lựa chọn trong việc
áp đặt chiến lược Công thức thông thường đối với tăng trưởng hoạt động ngân hàng bán lẻ ở ngân hàng Philippine là thông qua việc mở thêm chi nhánh Với những mục tiêu khó khăn của chúng ta, cách lựa chọn này rất tốn kém và có thể không đạt được trong phạm vi thời gian eo hẹp Do đó chúng ta lựa chọn cách sử dụng công nghệ” Ngân hàng Union Philippine là ngân hàng đa năng trong nhóm 5 ngân hàng đứng đầu
ở Philippine về thị phần và kết quả hoạt động Ban đầu ngân hàng này tập trung vào việc mở rộng thông qua sự tăng trưởng có hệ thống và chiến lược nhãn hiệu, tập trung vào việc thu hút và giữ khách hàng, xây dựng mạng lưới liên kết Khi có
Trang 36Internet, nhiều ngân hàng không quan tâm đến lĩnh vực này vì cho rằng mức độ truy cập Internet ở Philippine quá thấp nhưng Ngân hàng Union Philippine thì không Họ cho rằng đây là cơ hội bắt được “con cá to trong cái ao nhỏ và thị phần sẽ giữ tương ứng khi cái ao nhỏ này lớn lên” Trong số những thay đổi được kỳ vọng nhiều nhất trong hoạt động ngân hàng qua Internet của Ngân hàng Union Philippine là việc ngân hàng này trở thành ngân hàng đầu tiên ở Philippine cho phép người gửi tiền tiếp cận được số dư tiền gửi, thanh toán trực tuyến và sử dụng các sản phẩm ngân hàng khác thông qua Internet Một sản phẩm tiêu biểu mà Ngân hàng Union Philippine tung ra
đó là tài khoản điện tử EON và thẻ thanh toán tiền mặt EON EON cho phép chuyển tiền điện tử từ Ngân hàng Union Philippine đến bất cứ ngân hàng nào khác trong nước, nhờ đó loại bỏ hết sổ sách và sự bất tiện khi dò tìm các tài khoản chi cho séc thông qua séc điện tử - một hệ thống thanh toán séc điện tử đầu tiên ở Philippine Ngoài việc đi đầu khai thác ngân hàng trên Internet, ngân hàng Union Philipine còn khai thác ngân hàng điện tử khác như: Thanh toán và giao nộp hóa đơn điện tử, cho phép người mua và người bán đặt lệnh, gửi hóa đơn và thanh toán thông qua trang web của Ngân hàng Union Thành công khác của ngân hàng Union Philippine đó là thay đổi chiến lược Marketing cổ điển không theo chu kỳ, sang chiến lược Marketing theo các sản phẩm đưa ra thị trường, đầu tư vào việc xây dựng ngân hàng và gia tăng chất lượng phục vụ khách hàng
1.3.1.3 Ngân hàng nông nghiệp Agricultural Bank of China (Trung Quốc)
Ngân hàng nông nghiệp Trung Quốc (hay còn gọi là ABC) là ngân hàng thương mại đầu tiên của nước Trung Quốc, được thành lập vào năm 1951 ABC cũng là ngân hàng chuyên môn hóa đầu tiên của Trung Quốc sau khi cải tổ và bước vào thời kỳ mở cửa từ tháng 2 năm 1979 Từ khi thành lập đến nay, ABC đóng một vai trò quan trọng đối với khu vực kinh tế nông thôn Trung Quốc Vào tháng 1 năm
2009, ngân hàng này đã chuyển đổi thành ngân hàng cổ phần với tên gọi mới Agricultural Bank of China limited Năm 2008, theo đánh giá của Moody, ABC xếp hạng A1 về sự tăng trưởng và ổn định tín dụng
ABC đã có một bước tăng trưởng ổn định cả về hiệu quả hoạt động và chất
Trang 37lượng tài sản Năm 2008, thu nhập ròng của ABC đạt 51.453 triệu RMB với tổng tài sản 7.014.351 triệu RMB ABC luôn đặt ra yêu cầu an toàn về thanh khoản, cân bằng giữa rủi ro và lợi nhuận với phương châm phát triển bền vững, tỷ lệ bền vững vốn an toàn của ABC năm 2008 là 9,41 % và khoản nợ khó đòi là 4,32% ABC xây dựng một hệ thống mạng lưới công nghệ thông tin hiện đại rộng khắp Trung Quốc nhằm cung cấp các dịch vụ tài chính thuận tiện và hiệu quả cho hơn 350 triệu khách hàng Hiện tại, ABC có 24.064 chi nhánh và phòng giao dịch, 30.089 máy ATM và
có quan hệ với 1.171 ngân hàng trên thế giới ABC luôn cam kết mang lại dịch vụ tốt đến khu vực nông nghiệp và các dịch vụ tài chính tốt nhất cho khách hàng ở cả thành thị và nông thôn Với năng lực tài chính mạnh, mô hình kinh doanh đổi mới nhưng thận trọng, ABC cũng hướng tới việc cung cấp dịch vụ tài chính đa dạng với chất lượng cao nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng trong và ngoài nước và xứng đáng là ngân hàng toàn cầu với triển vọng phát triển bền vững trong tương lai
ABC luôn cố gắng tận dụng mọi ưu thế về đặc thù của ngân hàng để xâm nhập vào cả khu vực thành thị và nông thôn, đồng thời năm 2008, ABC đã thực hiện chiến dịch “ Đại Dương Xanh” với việc xây dựng một hệ thống Marketing trực tiếp tới từng bộ phận khách hàng ABC đã phối hợp tốt chức năng hoạt động của một ngân hàng thương mại và ngân hàng đầu tư Một bước tiến vững chắc trong hoạt động kinh doanh của ABC là cải tiến hoạt động kinh doanh truyền thống, đẩy mạnh hoạt động kinh doanh đầu tư, đổi mới dịch vụ và phát triển giá trị gia tăng cho các hoạt động kinh doanh trung gian với sự cạnh tranh lành mạnh và hiệu quả Tiền gửi của các doanh nghiệp năm 2008 đạt 2.163.870 triệu RMB tăng 53.032 triệu RMB (2,51%) so với cuối năm 2007, đồng thời dư nợ tín dụng của các doanh nghiệp đạt 2.616.460 triệu RMB Để thúc đẩy hoạt động kinh doanh hiệu quả, ABC cũng mở rộng quan hệ với các tổ chức, trong đó có 45 ngân hàng đối tác trong nước, quan hệ mật thiết với các công ty chứng khoán và cung cấp dịch vụ lưu ký cho bên thứ ba với 90 công ty chứng khoán với 7,56 triệu khách hàng trực tuyến, các công ty bảo hiểm, các công ty tài chính và cho thuê tài chính
Thu nhập từ các dịch vụ này tăng ổn định qua các năm Bên cạnh đó, hoạt động
Trang 38thanh toán và quản lý tiền mặt của ABC cũng được xây dựng nhằm tối đa hóa giá trị gia tăng và giảm thiểu rủi ro cho khách hàng ABC cung cấp đa dạng các dịch vụ thanh toán: dịch vụ qua quầy, dịch vụ khách hàng doanh nghiệp và kênh thanh toán điện tử như e- banking, telephone banking, ATM và POS Đi cùng với các dịch vụ truyền thống, ABC đẩy nhanh phương thức và công cụ thanh toán kỳ hạn điện tử Giá trị thanh toán của các doanh nghiệp qua ABC năm 2008 đạt 158,2 nghìn tỷ RMB Hơn thế nữa, ABC đã cố gắng đổi mới phương thức thanh toán quốc tế và tài chính thương mại bằng việc đưa ra các dịch vụ về ngoại hối, các phân khúc về khách hàng và đổi mới cấu trúc kinh doanh ngoại hối Năm 2008, thanh toán quốc
tế thông qua ngân hàng trong nước của ABC là374.545 triệu USD (tăng 15,04% so với năm 2007), mang lại thu nhập là 818 triệu RMB và dịch vụ tài chính thương mại đạt 20.218 triệu USD (tăng 14,07% so với năm 2007), mang lại thu nhập cho ABC là 104 triệu RMB
Chất lượng dịch vụ thanh toán và đa dạng hóadịch vụ luôn là mối quan tâm hàng đầu của ABC Năm 2008, ABC vẫn duy trì được vị trí số một trong số các ngân hàng trong nước về số lượng thẻ phát hành, đạt được 346 triệu thẻ (tăng 9%) với việc chi tiêu qua thẻ của khách hàng đạt 842.715 triệu RMB và tiếp tục dẫn đầu về thanh toán thẻ quốc tế theo yêu cầu của hệ thống EMV Bên cạnh việc thanh toán trực tiếp tại các chi nhánh, phòng giao dịch, ABC còn thiết lập một hệ thống thanh toán e-banking như online banking, telephone banking, mobile phone banking, self service banking và e-commerce dựa trên nền tảng thu thập và xử lý số liệu trung tâm Đến cuối năm 2008, số lượng khách hàng sử dụng e-banking của ngân hàng ABC vượt 30 triệu khách hàng, số lượng giao dịch điện tử đạt hơn 7.860 triệu với giá trị đạt 52,3 nghìn tỷ RMB (tăng 28% so với năm 2007)
Với mục tiêu phát triển thành ngân hàng hiện đại toàn cầu, hoạt động của ABC luôn đi liền với sự phát triển thị trường và sự biến động của nền kinh tế Năm 2008, ABC đã đạt danh hiệu nhà tạo lập thị trường xuất sắc trong năm, nhà tạo lập thị trường lớn nhất về khối lượng giao dịch và phần thưởng về các giao dịch phái sinh
từ trung tâm ngoại hối quốc gia Trung Quốc
Trang 39Những năm gần đây, kể từ thời điểm nhiều hệ thống ngân hàng Trung Quốc triển khai ngân hàng qua mạng Internet, còn gọi là E-Banking hàng triệu khách hàng Trung Quốc lập tức lựa chọn hình thức thanh toán này Không còn lo bị phạt tiền vì quá hạn trả hoá đơn, không phải tốn quá nhiều thời gian…Là những lợi ích của việc
sử dụng hình thức E-Banking Bên cạnh đó, những công việc thông thường tốn nhiều thời gian xưa nay như trả hoá đơn tiền điện, tiền nước…thì nay chỉ cần khoảng 15 đến 30 phút Khách hàng sử dụng E-Banking có thể nhập vào máy tính các dữ liệu về số tiền, số tài khoản và ngày thanh toán là tiền sẽ được rút thẳng từ tài khoản của mình trả cho công ty nhận thanh toán Thời gian là quí giá, các ngân hàng Trung Quốc có lẽ nhận thức rõ khía cạnh này để khai thác triệt để những lợi ích từ E-Banking
1.3.2 Bài học kinh nghiệm
Qua kinh nghiệm thành công của một số ngân hàng đầu tại khu vực Đông Nam
Á, Trung Quốc trong phát triển ngân hàng, chúng ta có thể rút ra được một số bài học kinh nghiệm cho ngân hàng hàng thương mại Việt Nam:
Một là: Để phát triển thành công ngân hàng trên thị trường, ngân hàng thương mại
cần phải nghiên cứu thị trường, xác định được khả năng thực lực và mục tiêu phát triển của mình để xây dựng chiến lược phát triển phù hợp Chiến lược phát triển tổng thể được xây dựng trên cơ sở mục tiêu của doanh nghiệp, chiến lược khách hàng, chiến lược phát triển sản phẩm và hệ thống mạng lưới, cơ sở hạ tầng kỹ thuật
Hai là: Hiện nhiều ngân hàng lớn, nhỏ trong nước lập chi nhánh khắp nơi kể cả
những khu vực ít có tiềm năng về huy động vốn để cạnh tranh lẫn nhau, chi phí hoạt động cao dẫn đến hoạt động không hiệu quả Vì vậy muốn phát triển được ngân hàng cần có hệ thống mạng lưới chi nhánh phù hợp theo chiến lược tổng thể Tuy nhiên việc phát triển mạng lưới phải căn cứ vào khả năng ứng dụng công nghệ, chiến lược phát triển khách hàng và khả năng khai thác hiệu quả thị trường Thực tế
có những ngân hàng thành công trong phát triển ngân hàng bán lẻ do phát triển mạng lưới rộng khắp hoặc khai thác ngân hàng thông qua mạng lưới của bên thứ ba nhưng cũng có những ngân hàng thành công nhờ ứng dụng công nghệ để gọn nhẹ
Trang 40mạng lưới hay giảm mạng lưới để tập trung cho các đối tượng khách hàng theo chiến lược đề ra
Ba là: Theo kinh nghiệm của các ngân hàng nước ngoài, yếu tố công nghệ có thể
giúp giảm tới 76% chi phí hoạt động của ngân hàng do vậy mà các ngân hàng cũng hết sức chú trọng việc đầu tư công nghệ Mặt khác ứng dụng công nghệ hiện đại trong các sản phẩm , đặc biệt ngân hàng điện tử mang lại nhiều tiện ích cho khách hàng và giảm chi phí cho ngân hàng Mấu chốt thành công trong phát triển ngân hàng là nền tảng khách hàng lớn, sự phong phú về sản phẩm và phát triển trên một không gian rộng lớn nên phải tận dụng công nghệ Những mang tính lợi thế quốc tế này hầu như vắng bóng ở các ngân hàng trong nước Trong khi các ngân hàng thương mại trong nước cạnh tranh khốc liệt để phát triển tín dụng, chạy đua lãi suất thì các ngân hàng nước ngoài lại đi sâu phát triển các lĩnh vực tài chính doanh nghiệp, kinh doanh vốn và thị trường ngoại hối, nghiệp vụ ngân hàng toàn cầu, thanh toán quốc tế và tài trợ chuỗi cung ứng, lưu ký chứng khoán Nếu ngân hàng chúng ta vẫn tiếp tục dựa trên các hoạt động ngân hàng truyền thống (huy động vốn
và cho vay) thì khó có thể thành công trong phát triển ngân hàng được Muốn phát triển được ngân hàng, đòi hỏi từng ngân hàng phải xây dựng chiến lược Marketing phù hợp nhằm gây dựng hình ảnh và thương hiệu mạnh trên thị trường Chiến lược Marketing có thể được thực hiện theo định kỳ hoặc theo từng sản phẩm Ngoài ra sự minh bạch trong các cấp thẩm quyền giúp cho hoạt động của các ngân hàng nước ngoài đơn giản và nhanh hơn Tất cả mọi người trong hệ thống đều biết với khoản vay này của doanh nghiệp sẽ phải thực hiện những bước gì, cần bao nhiêu thời gian
để trả lời cho khách hàng Điều này ở các ngân hàng trong nước nói chung và Vietinbank thực sự còn yếu kém