Trước những đòi hỏi cấp bách về nguồn tài liệu phục vụ nghiêncứu khoa học về Triết học trong xu thế hội nhập khu vực, việc nghiên cứunhu cầu tin và thực trạng nguồn lực thông tin ở Viện
Trang 1ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI
-HỒ THỊ CẦN
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN LỰC THÔNG
TIN TẠI THƯ VIỆN TRIẾT HỌC TRONG GIAI ĐOẠN ĐỔI MỚI ĐẤT NƯỚC
Chuyên ngành: KHOA HỌC THƯ VIỆN LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC THƯ VIỆN
HÀ NỘI - 2007
Trang 22
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 4
MỞ ĐẦU 5
CHƯƠNG 1 11
THƯ VIỆN VIỆN TRIẾT HỌC TRONG GIAI ĐOẠN 11
ĐỔI MỚI ĐẤT NUỚC 11
1.1 KHÁI QUÁT VỀ VIỆN TRIẾT HỌC VÀ THƯ VIỆN CỦA VIỆN 11
1.1.1 Khái quát về Viện Triết học 11
1.1.2 Phòng Thư viện Viện Triết học với nhiệm vụ chiến lược của Viện 18
1.2 ĐẶC ĐIỂM NGƯỜI DÙNG TIN Ở THƯ VIỆN VIỆN TRIẾT HỌC 22
1.2.1 Trình độ học vấn 24
1.2.2 Lĩnh vực hoạt động 24
1.2.3 Trình độ ngoại ngữ 25
1.2.4 Đối tượng nghề nghiệp của người dùng tin (%) 29
1.3 ĐẶC ĐIỂM NHU CẦU TIN TRONG NGHIÊN CỨU VÀ GIẢNG DẠY TRIẾT HỌC 31
1.4 VAI TRÒ NGUỒN LỰC THÔNG TIN CỦA VIỆN TRIẾT HỌC 37
CHƯƠNG 2 43
THỰC TRẠNG NGUỒN LỰC THÔNG TIN VÀ KHẢ NĂNG ĐÁP ỨNG NHU CẦU TIN TẠI THƯ VIỆN VIỆN TRIẾT HỌC 43
2.1 CÁC LOẠI HÌNH TÀI LIỆU TẠI THƯ VIỆN VIỆN TRIẾT HỌC 43
2.1.1 Nguồn tài liệu truyền thống 43
2.1.2 Nguồn tài liệu điện tử 46
2.1.3 Nguồn lực thông tin dưới các dạng khác 48
2.2 NỘI DUNG VỐN TÀI LIỆU TẠI THƯ VIỆN VIỆN TRIẾT HỌC 48
2.3 NGÔN NGỮ VỐN TÀI LIỆU CỦA THƯ VIỆN 50
2.4 CÔNG TÁC BỔ SUNG VỐN TÀI LIỆU CỦA THƯ VIỆN 52
2.4.1 Về kinh phí bổ sung 53
2.4.2 Nguồn bổ sung vốn tài liệu của Thư Viện 54
2.5 CÔNG TÁC TỔ CHỨC QUẢN LÝ VÀ KHAI THÁC THÔNG TIN CỦA THƯ VIỆN 57
2.5.1 Tổ chức quản lý vốn tài liệu truyền thống 57
2.5.2 Tổ chức quản lý vốn tài liệu điện tử 60
2.5.3 Tổ chức khai thác thông tin 63
2.6 ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG ĐÁP ỨNG NHU CẦU TIN CỦA THƯ VIỆN VIỆN TRIẾT HỌC 66
2.6.1 Mức độ đầy đủ của nguồn lực thông tin 67
2.6.2 Về hệ thống tra cứu 71
2.6.3 Về hình thức phục vụ 72
2.6.4 Đánh giá chung 74
CHƯƠNG 3 78
KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN LỰC THÔNG TIN TẠI THƯ VIỆN VIỆN TRIẾT HỌC 78
3.1 XÂY DỰNG CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NGUỒN TIN PHÙ HỢP VỚI NHU CẦU TIN TẠI THƯ VIỆN VIỆN TRIẾT HỌC 78
3.1.1 Tạo lập nguồn lực thông tin phù hợp 78
3
Trang 43.1.2 Điều chỉnh diện bổ sung vốn tài liệu của Thư viện 80
3.2 PHÁT TRIỂN NGUỒN LỰC THÔNG TIN VỀ LƯỢNG VÀ CHẤT 85
3.2.1 Tăng cường chia sẻ nguồn lực thông tin 85
3.2.2 Tạo lập nguồn thông tin điện tử 87
3.3 NÂNG CAO HIỆU QUẢ TỔ CHỨC PHỤC VỤ KHAI THÁC NGUỒN LỰC THÔNG TIN 88
3.3.1 Chú trọng công tác tổ chức và khai thác nguồn lực thông tin 89
3.3.2 Tăng cường đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng thông tin 92
3.4 CÁC GIẢI PHÁP VỀ NHÂN LỰC THÔNG TIN 93
3.4.1 Nâng cao trình độ cán bộ thư viện 93
3.4.2 Đào tạo, hướng dẫn người dùng tin 96
KẾT LUẬN 98
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
4
Trang 6MỞ ĐẦU
I TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Vào những năm cuối của thế kỷ XX, nền kinh tế tri thức đã xuấthiện trên thế giới và đang ngày càng phát triển, đó là một nền kinh tếđược xây dựng trên nền tảng tri thức, sản xuất và truyền tải thông tin, trithức ngày càng có vai trò đặc biệt quan trọng Trong nền kinh tế tri thức,tài nguyên quan trọng nhất không phải là tài nguyên vật thể mà là thôngtin/tri thức Thông tin/tri thức trong đó có thông tin/tri thức Khoa học Xãhội và Nhân văn trở thành nhân tố quan trọng quyết định sự phát triển củamỗi quốc gia, dân tộc Đặc biệt trong thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh côngnghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, Khoa học xã hội và nhân văn ngàycàng được khẳng định, có vị trí, vai trò quan trọng đối với đời sống chínhtrị, xã hội, đối với công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổquốc, phát triển kinh tế - xã hội Những thành tựu của các cơ quan nghiêncứu khoa học xã hội và nhân văn đã và đang góp phần quan trọng vàoviệc xây dựng nền tảng tư tưởng, xác lập cơ sở khoa học cho việc hoạchđịnh đường lối, chiến lược, sách lược của Đảng và Nhà nước cũng nhưkhẳng định nguồn gốc, truyền thống lịch sử và bản sắc văn hóa dân tộcViệt Nam Chính vì vậy, ngay từ Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hànhTrung ương Đảng khóa VIII Đảng ta đã khẳng định: phải đẩy mạnh cáchoạt động thông tin, phổ cập kiến thức khoa học công nghệ, đẩy mạnhtuyên truyền, phổ cập tri thức khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ ChíMinh, khoa học xã hội và nhân văn nói chung
Viện Triết học là cơ quan nghiên cứu khoa học đầu ngành về cáclĩnh vực Triết học, có chức năng nghiên cứu những vấn đề Triết học trongnước và thế giới, nhất là những vấn đề mới nảy sinh từ thực tiễn Việt
Trang 7Nam Từ góc độ triết học góp phần vào việc cung cấp căn cứ khoa họccho việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhànước là cơ sở xây dựng thế giới quan khoa học, phương pháp luận chungcho cán bộ và nhân dân ta Vì vậy, nhiệm vụ cung cấp thông tin đầy đủ,chính xác, kịp thời là công việc quan trọng và cấp thiết của thư viện ViệnTriết học trong giai đoạn hiện nay.
Để đáp ứng những yêu cầu, nhiệm vụ của Viện Triết học trongtừng thời kỳ, đặc biệt là trong xu thế hội nhập và liên kết khu vực hiệnnay, trong những năm qua, Viện Triết học đã đầu tư ngày càng tốt hơnđến hoạt động thông tin - thư viện, nhằm phục vụ công tác nghiên cứu,đào tạo, phổ biến tri thức triết học cho các đối tượng Với hệ thống tàiliệu về các chuyên ngành triết học, lịch sử triết học, luận án, luận văn, các
đề tài, kết quả nghiên cứu trong những năm qua, v.v đã phần nào đáp
ứng được nhu cầu của giới nghiên cứu, giảng dạy, học tập và nhữngngười yêu thích Triết học Tuy vậy, vẫn còn một số bất cập trong việccung cấp thông tin Như: chưa đáp ứng được kịp thời những thông tinmới về sự phát triển của các trường phái triết học hiện đại trên thế giới;nguồn tài liệu hiện có của thư viện chưa được cập nhật thường xuyên; cáctài liệu cổ, quý hiếm chưa được khai thác triệt để, v.v Nguyên nhân củatình trạng này chính là do cơ sở vật chất kỹ thuật và nguồn nhân lực củathư viện chưa đáp ứng được công tác thông tin trong thời đại công nghiệphóa, hiện đại hóa đất nước Thêm vào đó, công tác tin học hóa thông tin -thư viện chưa được thực hiện một cách đồng bộ và còn nhiều bất cập lànguyên nhân khiến nguồn tài liệu hiện có chưa được sử dụng một cáchhiệu quả
Trước những đòi hỏi cấp bách về nguồn tài liệu phục vụ nghiêncứu khoa học về Triết học trong xu thế hội nhập khu vực, việc nghiên cứunhu cầu tin và thực trạng nguồn lực thông tin ở Viện Triết học, từ đó đưa
Trang 8ra những giải pháp thích hợp để nâng cao chất lượng nguồn lực thông tinnhằm đáp ứng nhu cầu tin đa dạng của những người quan tâm về Triếthọc là vấn đề quan trọng và cấp thiết Chính vì vậy, tôi chọn đề tài:
“Nâng cao chất lượng nguồn lực thông tin tại Thư viện Viện Triết học trong giai đoạn đổi mới đất nước” làm đề tài cho luận văn tốt
nghiệp cao học chuyên ngành khoa học Thư viện của mình
II TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Đề tài về nguồn lực thông tin đã có nhiều bài viết đăng trong cáctạp chí của ngành và các luận văn, khóa luận tốt nghiệp của nhiều tác giả
nghiên cứu tại nhiều cơ quan công tác khác nhau Như: “Tăng cường nguồn lực thông tin tại Viện Thông tin Khoa học xã hội trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước” luận văn thạc sĩ của Phạm Bích Thuỷ, 2001;
“Tăng cường nguồn lực thông tin tại Thư viện Trường Đại học Bách khoa Hà Nội” Luận văn thạc sĩ của Hà Thị Huệ, 2005; “Xây dựng và phát triển nguồn lực thông tin tại Viện Xã hội học” luận văn thạc sĩ của
Vũ Hồng Quyên, 2006 Nhưng nguồn lực thông tin và nhu cầu tin củamỗi cơ quan thông tin - thư viện có những nét đặc thù riêng, quyết địnhchức năng và nhiệm vụ riêng của các cơ quan đó Cho tới nay, việcnghiên cứu về nguồn lực thông tin và nhu cầu tin của Viện Triết học chưa
hề có công trình nào nghiên cứu về vấn đề này Chính vì vậy, đề tài
“Nâng cao chất lượng nguồn lực thông tin tại Thư viện Viện Triết học trong giai đoạn đổi mới đất nước” là đề tài đầu tiên, hoàn toàn mới.
III ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là nguồn lực thông tin và khả năngđáp ứng nhu cầu thông tin của Thư viện Viện nghiên cứu Triết học
Trang 93.2 Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: Đề tài được giới hạn trong việc nghiên cứu nguồnlực thông tin, nhu cầu tin của người dùng tin và khả năng đáp ứng củaThư viện Viện Triết học
Về thời gian: Đề tài giới hạn trong giai đoạn hiện nay
IV MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
4.1 Mục đích nghiên cứu
Từ việc nghiên cứu những vấn đề có tính bản chất, tới việc khảosát thực trạng nguồn lực thông tin và khả năng đáp ứng nhu cầu thông tincủa người dùng tin tại Thư viện Viện Triết học, từ đó có cơ sở lý luận vàthực tiễn để đề xuất những giải pháp nâng cao chất lượng nguồn lựcthông tin đáp ứng kịp thời, đầy đủ nhu cầu tin của người dùng tin về lĩnhvực Triết học trước yêu cầu nghiên cứu các vấn đề về khoa học Xã hội và
Nhân văn trong giai đoạn đổi mới của đất nước.
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài tập trung vào một số những vấn đề
Trang 10V PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trên cơ sở sử dụng phương pháp nhận thức khoa học chung củachủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, đề tài được sửdụng các phương pháp cụ thể sau:
- Phương pháp thu thập, phân tích, tổng hợp, so sánh;
- Phương pháp điều tra xã hội học bằng bảng hỏi;
- Phương pháp trao đổi, phỏng vấn trực tiếp các nhà quản lý vàngười dùng tin;
- Phương pháp thống kê
VI ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
- Luận văn đã nghiên cứu một cách toàn diện chức năng, nhiệm vụ,đội ngũ cán bộ, cơ cấu tổ chức, cơ sở vật chất và đặc điểm người dùng tincủa Thư viện Viện triết học trong giai đoạn đổi mới đất nước
- Nêu bật được thực trạng nguồn lực thông tin của Thư viện việnTriết học: Cơ cấu, công tác bổ sung, công tác tổ chức và quản lý vốn tàiliệu của Viện
- Đề xuất một số giải pháp mang tính khả thi nhằm nâng cao chấtlượng nguồn lực thông tin tại Thư viện Viện Triết học
- Luận văn có thể vận dụng cho công tác tổ chức, quản lý thư việnnói chung và tổ chức, quản lý thư viện của Viện Triết học nói riêng
VII CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụlục, luận văn có cấu trúc 3 chương:
Trang 11Chương 1 Thư viện Viện Triết học trong giai đoạn đổi mới đất
nước
Chương 2 Thực trạng nguồn lực thông tin và khả năng đáp ứngnhu cầu tin tại Thư viện Viện Triết học
Chương 3 Kiến nghị và giải pháp nâng cao chất lượng nguồn lực
thông tin tại Thư viện Viện Triết học
Trang 12CHƯƠNG 1 THƯ VIỆN VIỆN TRIẾT HỌC TRONG GIAI ĐOẠN
ĐỔI MỚI ĐẤT NUỚC
1.1 KHÁI QUÁT VỀ VIỆN TRIẾT HỌC VÀ THƯ VIỆN CỦA VIỆN
1.1.1 Khái quát về Viện Triết học
Viện Triết học là viện nghiên cứu khoa học cơ bản cấp quốc giathuộc Viện Khoa học Xã hội Việt Nam Viện được thành lập năm 1962trên cơ sở tổ chức tiền thân là Tổ Triết học do Giáo sư Vũ Khiêu phụtrách
Viện Triết học được thành lập với chức năng: Nghiên cứu những
vấn đề Triết học trong nước và thế giới, những vấn đề mới nảy sinh từthực tiễn của sự nghiệp cách mạng Việt Nam Từ góc độ triết học gópphần vào việc cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối,chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước vào việc xây dựng thế giớiquan khoa học và phương pháp luận chung cho cán bộ và nhân dân
Viện Triết học có các nhiệm vụ chính sau đây:
Xác định và thực hiện các kế hoạch nghiên cứu dài hạn và ngắnhạn thuộc lĩnh vực triết học
Tham gia giảng dạy, truyền bá tri thức triết học Mác - Lênin,những tư tưởng triết học tiến bộ khác, chống lại các trào lưu triết họcphản động, phản khoa học
Trang 13Tham gia đào tạo, bồi dưỡng cán bộ triết học có trình độ trên đạihọc.
Tiến hành trao đổi và hợp tác khoa học với các nước trên thế giớitrong lĩnh vực triết học
Xây dựng hệ thống thông tin, tư liệu, thư viện và cơ sở vật chất kỹthuật cần thiết cho công tác nghiên cứu khoa học trước mắt cũng như lâudài của Viện
Cơ cấu tổ chức của Viện Triết học: Có 11 phòng nghiên cứu và 4phòng chức năng phục vụ nghiên cứu dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Việntrưởng:
Mười một phòng nghiên cứu khoa học của Viện bao gồm:
1 Phòng Tư tưởng triết học Việt Nam
2 Phòng Triết học phương Đông
3 Phòng Triết học phương Tây
Bốn phòng chức năng phục vụ nghiên cứu:
1 Phòng quản lý khoa học và đào tạo
Trang 142 Phòng Hành chính tổng hợp
3 Phòng Thư viện
4 Phòng Tạp chí Triết học
Trang 15SƠ ĐỒ BỘ MÁY TỔ CHỨC CỦA
VIỆN TRIẾT HỌC
Đường lãnh đạoĐường phối hợpĐường tư vấn
PHÒNG TƯ THƯỞNG TRIẾT VIỆT NAMPHÒNG TRIẾT HỌC PHƯƠNG ĐÔNGPHÒNG TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂYPHÒNG MỸ HỌCPHÒNG TRIẾT HỌC TRONG KHCN&MPHÒNG ĐẠO ĐỨC HỌCPHÒNG LÔGÍC HỌCPHÒNG TRIẾT HỌC VĂN HÓAPHÒNG TRIẾT HỌC CHÍNH TRỊPHÒNG TRIẾT HỌC XÃ HỘIPHÒNG TRIẾT HỌC MAC-LÊNINT PHÒNG QUẢN LÝ KHOA HỌC & ĐÀO TẠPHÒNG HÀNH CHÍNH TỔNG HỢPPHÒNG THƯ VIỆNPHÒNG TẠP CHÍO
Trang 16Đội ngũ cán bộ nghiên cứu và phục vụ nghiên cứu của Viện
Đội ngũ cán bộ nghiên cứu và phục vụ nghiên cứu của Viện hiệnnay gồm 49 cán bộ trong biên chế Viện Triết học cũng là một trongnhững địa chỉ nghiên cứu tập trung nhiều nhà khoa học triết học có trình
độ cao, với 18 tiến sĩ (trong đó có 1 tiến sĩ khoa học, 8 phó giáo sư), 17thạc sĩ, 15 cử nhân chuyên ngành Triết học, và các chuyên ngành khác
Sau khi ra đời, Viện đã được trưởng thành trong thực tiễn thực hiệncông cuộc đổi mới toàn diện đất nước Sự chuyển đổi nền kinh tế kếhoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủnghĩa dẫn đến những biến đổi xã hội nhanh chóng và mạnh mẽ của thời
kỳ đổi mới là hiện thực sống động nhất cho các nhà nghiên cứu khoa học
triết học trong giai đoạn mới.
Thế mạnh của triết học là vận dụng các quy luật, các phạm trù của
nó vào việc nghiên cứu các quá trình và hiện tượng xã hội, thông qua cácbằng chứng thực nghiệm của các khoa học khác để rút ra các kết luận và
đề xuất các kiến nghị Nhờ lợi thế này, triết học đã triển khai nhiều đề tàinghiên cứu nhằm nhận diện và phân tích các biến đổi xã hội, biến đổi tưduy, chỉ ra các vấn đề cấp thiết đang được đặt ra trong xã hội hiện naydưới góc độ triết học, qua đó cung cấp thông tin, xây dựng luận cứ khoahọc góp phần vào việc hoạch định các chính sách phát triển kinh tế xã hộicủa đất nước Trong 45 năm qua, Viện Triết học đã luôn bám sát nhữngyêu cầu của Đảng, Nhà nước và xã hội để triển khai những hướng nghiêncứu gắn liền với thực tế đời sống và đã có những đóng góp nhất định theohướng này
Phương hướng phát triển nghiên cứu của Viện trong những năm tới.
Trang 17Đất nước đã bước vào thế kỷ XXI trên con đường công nghiệp hóa,hiện đại hóa theo đường lối của Đảng đã vạch ra Toàn Đảng, toàn quân
và toàn dân đang phấn đấu đạt mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh Để góp phần vào việc thực hiện mục tiêu
đó, Viện Triết học, bằng những nỗ lực và những khả năng của mình,trong những năm tới, sẽ tập trung thực hiện một số công việc chủ yếudưới đây:
- Tập trung nghiên cứu những vấn đề bức bách do thực tiễn cuộcsống đặt ra, cung cấp những luận cứ khoa học, góp phần giúp Đảng vàNhà nước hoạch định, hoàn thiện đường lối xây dựng đất nước trong thời
kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội
- Tiến hành các nghiên cứu cơ bản về những vấn đề Triết học thuộccác chuyên ngành khác nhau, đặc biệt là những vấn đề liên quan đến sựtiến bộ và phát triển xã hội, những vấn đề do cách mạng khoa học, côngnghệ hiện đại và toàn cầu hóa đặt ra
- Tiếp tục những công việc đã được tiến hành lâu nay là nhận thứclại Triết học Mác - xít nói riêng và chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung,nhằm góp phần phát triển, bảo vệ những giá trị chân chính của nó
- Nghiên cứu và khai thác có hệ thống hơn những di sản tư tưởng
Triết học dân tộc, triển khai xây dựng bộ sách Lịch sử tư tưởng Triết học Việt Nam.
- Nghiên cứu các nền Triết học lớn trên thế giới nhằm làm phongphú thêm kho tàng tri thức Triết học của chúng ta, góp phần phát triểnnguồn nhân lực cho thế kỷ XXI
- Mở rộng sự hợp tác quốc tế, quảng bá các giá trị Văn hóa, Triếthọc của dân tộc ra thế giới
Trang 18Muốn làm được những việc trên đây thì đồng thời phải tiến hànhđào tạo một đội ngũ cán bộ khoa học trẻ có đầy đủ năng lực, kiến thức tốt
và phẩm chất đạo đức để sẵn sàng tiếp tục sự nghiệp nghiên cứu của cácthế hệ cha anh đã đi trước
Để góp phần làm rõ hơn cơ sở khoa học của sự nghiệp đổi mới và
con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, trong hướng thứ nhất việc
nghiên cứu tập trung vào các vấn đề cơ bản như: Nghiên cứu cơ sở lýluận và thực tiễn của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội; mô hình pháttriển kinh tế - xã hội ở nước ta; vấn đề động lực của sự phát triển kinh tế -
xã hội; vấn đề dân chủ hóa đời sống xã hội; nghiên cứu và nhận thức lại
di sản của các nhà kinh điển về chủ nghĩa xã hội và hàng loạt các vấn đềkhác trong các lĩnh vực cụ thể khác nhau của đời sống xã hội, của sự
nghiệp đổi mới Ở hướng thứ hai, nhằm kế thừa và vận dụng có hiệu quả
di sản tư tưởng triết học, văn hóa của cha ông, Viện đã tập trung nghiêncứu những vấn đề cơ bản như: Lịch sử tư tưởng, trước hết là tư tưởngTriết học Việt Nam; lịch sử Phật giáo Việt Nam; các vấn đề của Nho giáo
và ảnh hưởng của nó tại Việt Nam; đặc biệt là vấn đề nghiên cứu tư tưởng
Hồ Chí Minh Bên cạnh đó, khác với thời kỳ trước đây, trong thời kỳ nàynghiên cứu cơ bản được chú trọng và đầu tư thích đáng cả về nhân lực vàvật lực
Phương hướng nội dung nghiên cứu của Viện Triết học trongnhững năm tới là cơ sở chính, quan trọng để Phòng Thư viện định hướngxây dựng nội dung, chính sách phát triển nguồn lực thông tin của mìnhphục vụ đắc lực cho công tác nghiên cứu, đào tạo của Viện nói riêng vàcác nhà khoa học nghiên cứu về Triết học nói chung
Trang 191.1.2 Phòng Thư viện Viện Triết học với nhiệm vụ chiến lược của Viện
1.1.2.1 Chức năng, nhiệm vụ của Thư viện
Thư viện là bộ phận có vai trò quan trọng, không thể thiếu trongviệc phục vụ hoạt động nghiên cứu và đào tạo triết học Do nhận thức
được ý nghĩa của hoạt động này nên lãnh đạo Viện qua các thời kỳ đã rất
quan tâm phát triển Thư viện Triết học ngay từ khi thành lập
Xuất phát từ chức năng và nhiệm vụ chung của Viện Triết học,chức năng nhiệm vụ của Thư viện Viện Triết học được xác định là:
- Lưu trữ và phổ biến các ấn phẩm nghiên cứu liên quan đến Triếthọc
- Tiến hành xây dựng, tổ chức hoạt động thông tin - thư viện phục
vụ cán bộ nghiên cứu nói chung nhằm đáp ứng nhu cầu tìm tin của bạnđọc một cách đầy đủ, kịp thời và chính xác Thư viện sử dụng nhữngphương tiện thông tin hiện đại đồng thời kết hợp việc sử dụng các phươngtiện tìm tin truyền thống như hệ thống mục lục, cùng với việc xây dựngcác cơ sở dữ liệu giúp cho những cán bộ nghiên cứu tìm được tài liệunhanh nhất trong thời gian ngắn nhất
- Tổng hợp, sắp xếp, in các ấn phẩm thông tin sách và tạp chí theochủ đề, giúp các nhà nghiên cứu rút ngắn thời gian sưu tầm tài liệu, tậptrung thời gian nghiên cứu, đem lại hiệu quả cao
- Tổng quan tài liệu theo chủ đề nghiên cứu của các phòng và Việnđặt hàng Hàng năm Thư viện sưu tầm các bài báo theo chuyên đề có liênquan đến ngành Triết học góp phần hỗ trợ người dùng tin sử dụng có hiệuquả cao
Trang 20- Tổ chức trưng bày, triển lãm tài liệu mới hay tài liệu theo chuyên
đề, giới thiệu đến độc giả những tài liệu cụ thể giúp họ tìm được nguồntài liệu phong phú, đi sâu nghiên cứu, khai thác thông tin
- Phục vụ đọc, phổ biến thông tin, khai thác nội dung tài liệu đểcung cấp cho người dùng tin Thư viện tổ chức phòng đọc, phòng mượn,giúp đọc giả khai thác, tra cứu tài liệu theo yêu cầu một cách tốt nhất
Căn cứ vào vai trò, chức năng, nhiệm vụ được giao, công tác bổsung, trao đổi của Thư viện được đầu tư thỏa đáng; có chính sách pháttriển cụ thể, phù hợp với yêu cầu của Viện Triết học
1.1.2.2 Đội ngũ cán bộ trong Thư viện
Phòng Thư viện có 4 cán bộ, trong đó có 1 cán bộ có trình độ thạc
sĩ Triết học; 2 thạc sĩ Văn hóa và 1 học viên cao học thư viện Hầu hếtcán bộ sử dụng tương đối tốt một ngoại ngữ (tiếng Anh, tiếng Nga, tiếngTrung) Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, Phòng luôn chú trọng đến việcnâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho các cán bộ trẻ, như thườngxuyên được cử đi học các lớp bồi dưỡng về nghiệp vụ do Viện Thông tinKhoa học xã hội, Trung tâm Thông tin Tư liệu Khoa học và Công nghệQuốc gia tổ chức
Do được đào tạo cơ bản, đội ngũ cán bộ trong phòng đã đảm nhiệmtoàn bộ các khâu trong hoạt động thông tin - thư viện, từ việc bổ sung,thu thập tài liệu đến xử lý thông tin, phục vụ người dùng tin Các côngviệc trong phòng đều được phân công cụ thể, phù hợp với khả năng củatừng cán bộ:
- Giám đốc phụ trách chung và theo dõi tình hình tin học hóa, thựchiện công tác bổ sung, trao đổi tài liệu
Trang 21- Phó giám đốc phụ trách công tác theo dõi, xử lý nội dung và kỹthuật sách và tạp chí nhập vào kho.
- Một cán bộ phụ trách phòng đọc, quản lý kho sách và công tácphục vụ người dùng tin
- Một cán bộ phụ trách phòng đọc, quản lý kho tư liệu và công tácphục vụ người dùng tin
Ngoài ra các thành viên trong Thư viện đều tham gia công tác tinhọc hóa thư viện do Viện Khoa học xã hội Việt Nam giao nhiệm vụ hàngnăm
1.1.2.3 Cơ sở và vật chất
Thư viện Viện Triết học đã được đầu tư cơ sở vật chất và các trangthiết bị đáp ứng được nhu cầu của người dùng tin hiện nay Thư việnđược bố trí 8 phòng, trong đó 4 phòng dùng làm kho, 1 phòng đọc, 2phòng thủ thư phục vụ bạn đọc, 1 phòng bổ sung và xử lý nghiệp vụ Cácphòng làm việc, phòng đọc, phòng kho được trang bị hệ thống chiếu sáng,máy hút ẩm, máy hút bụi, điều hòa, quạt thông gió Các phương tiện đểlàm việc gồm có 4 máy tính đều nối mạng Internet, trong đó có 1 máychủ chuyên dùng lưu trữ các CSDL đã được tích hợp nối mạng LAN vàInternet để các máy tính trong Viện có thể tra cứu tài liệu, 3 máy in Laser,các hệ thống phần mềm chuyên dụng phục vụ cho việc phổ biến thông tin
và người dùng tin
Trang 22SƠ ĐỒ PHÒNG THƯ VIỆN TRIẾT HỌC Đường lãnh đạo
Đường phối hợp
GIÁM ĐỐC
PHÓ GIÁM ĐỐC
Kho tư liệu tạp chí, báoThủ thư Phòng đọc Thủ thưKho sách tiếng Việt
Tiếng Việt + từ điển
Trang 231.2 ĐẶC ĐIỂM NGƯỜI DÙNG TIN Ở THƯ VIỆN VIỆN TRIẾT HỌC
Để xây dựng và phát triển nâng cao chất lượng nguồn lực thông tincủa Thư viện, đề tài đã tiến hành nghiên cứu để xác định lại một cách cụthể: người dùng tin là ai, họ có những đặc điểm và nội dung nhu cầu tin
của họ như thế nào.
Việc tìm hiểu đặc điểm nhu cầu tin của người dùng tin tại ViệnTriết học đã được tiến hành bằng cách sử dụng bảng câu hỏi Là một Thưviện chuyên ngành, số lượng bạn đọc không lớn như thư viện các trường
đại học hoặc các thư viện tổng hợp khác Mẫu nghiên cứu trả lời bảng
hỏi được chọn ngẫu nhiên trên tất cả các đối tượng người dùng tin thườngđến Thư viện trong vòng 4 tháng (từ 10/1/2007 đến 10/4/2007)
Tổng số bảng hỏi phát ra là 150 và số thu lại là 10, đạt 93,3% Trên
cơ sở số bảng hỏi thu về, tác giả đã tiến hành thống kê, phân tích và kết
hợp với các báo cáo công tác phục vụ bạn đọc thường niên của đơn vị để
đưa ra những đánh giá khách quan và tương đối chính xác về nhu cầu tincủa người dùng tin Trong phần này luận văn đi sâu phân tích, xác địnhmột số yếu tố sau:
- Xác định đối tượng người dùng tin tại Viện Triết học
- Trình độ chuyên môn, ngoại ngữ của người dùng tin
- Nội dung và loại hình tài liệu người dùng tin quan tâm
Các kết quả phân tích, so sánh này là cơ sở để đưa ra các giải phápxây dựng và phát triển nguồn lực thông tin nhằm đáp ứng kịp thời, đầy đủnhu cầu tin của các nhà nghiên cứu Triết học
Trang 24Dưới đây là một số nhận xét về đặc điểm người dùng tin trên cơ sởphân tích kết quả phiếu điều tra:
Bảng 1: Người dùng tin chia theo nghề nghiệp đối tượng
Sinh viên các trường Đại học 17 12,1
Cán bộ giảng dạy tại các trường ĐH 14 10,0
Bảng trên cho thấy số lượng bạn đọc là cán bộ nghiên cứu của Việnchiếm phần lớn: 42 người (chiếm 30,0%) Đối tượng bạn đọc là nghiêncứu sinh 26 người (chiếm 18,6%), học viên cao học là 28 người (chiếm20,0%) Số liệu này là tương ứng với cơ cấu tổ chức và cán bộ của ViệnTriết học hiện nay Phòng Thư viện là một Thư viện chuyên ngành cónhiệm vụ đầu tiên là phục vụ cán bộ nghiên cứu trong Viện và các nghiêncứu sinh và học viên mà Viện đang đào tạo
Đối tượng sinh viên chiếm 12,1% tổng số bạn đọc và cũng là đốitượng được Viện khuyến khích sử dụng những thông tin của Thư việnnhằm hỗ trợ việc phổ biến, truyền bá kiến thức Triết học
Thành phần bạn đọc thuộc các đơn vị khác như giảng viên cáctrường đại học, cán bộ nghiên cứu thuộc các viện nghiên cứu khác trongViện Khoa học Xã hội và Nhân văn cũng như cán bộ các cơ quan khác
Trang 25chiếm tỷ lệ ít hơn Điều này cho thấy tính chất chuyên ngành hẹp của đơn
vị được nghiên cứu
1.2.1 Trình độ học vấn
Người dùng tin tại Viện Triết học là những người có trình độ họcvấn cao Trong số 140 người được hỏi, có 36 người có học vị là tiến sĩ(trong số này có 13 người là giáo sư và Phó giáo sư, 1 người phó giáo sư,tiến sĩ khoa học) chiếm 25,7%; 45 người học vị là thạc sĩ, chiếm 32,1%;
41 người là cử nhân, chiếm 29,3%, 18 người là sinh viên chiếm 12,9%
1.2.2 Lĩnh vực hoạt động
Trong số 140 người được hỏi thì có 101 người làm công tác nghiêncứu, chiếm 84,3%; những người vừa nghiên cứu vừa giảng dạy là 14người; số người vừa tham gia giảng dạy, đồng thời cũng là cán bộ nghiêncứu và quản lý là 8 người, 17 người vừa học tập vừa tham gia nghiên cứu
Hầu hết các nhóm bạn đọc đều tham gia vào ít nhất 2 hoạt động.Trong số đó, nhóm cán bộ nghiên cứu của Viện Triết học thực hiện cả 4hoạt động, gồm: học tập, nghiên cứu, giảng dạy và quản lý Có nhữngngười đồng thời thực hiện 3 hoạt động, gồm: người nghiên cứu, giảng dạy
và nhà quản lý Điều này cho thấy yêu cầu dùng tin của họ là khá đadạng, vì vậy việc đáp ứng nhu cầu dùng tin của họ cũng cần phải cónhững phương thức cụ thể, sát hợp
Ngay trong số sinh viên các trường đại học đến khai thác thông tin
ở Thư viện, với 100% tham gia hoạt động học tập, có đến 2/3 trong số họcòn tham gia hoạt động nghiên cứu Và có lẽ đó cũng là nguyên nhân hayđộng cơ dẫn họ đến thư viện của Viện Triết học
Trang 26Theo mức độ tham gia nghiên cứu khoa học, có 11,4% số bạn đọcđang tham gia đề tài cấp Nhà nước; 35,7% tham gia đề tài cấp Bộ; 3,6%tham gia thực hiện các đề tài, dự án với nước ngoài Số còn lại đều lànhững người thực hiện đề tài cấp Viện Ở đây tỷ lệ tham gia đề tài cấpNhà nước và quốc tế chủ yếu là trình độ tiến sĩ, còn hầu hết mọi trình độđều tham gia đề tài cấp Viện.
1.2.3 Trình độ ngoại ngữ
Nhìn chung qua số liệu của phiếu điều tra thì khả năng sử dụngngoại ngữ của bạn đọc tại Viện Triết học khá cao, hầu hết bạn đọc đều sửdụng được tiếng Anh (80 người - 57,1%), tiếp theo là tiếng Nga (23người - 16,4%), tiếng Pháp (6 người - 4,3%), tiếng Trung (16 người -11,4%)
Tuy nhiên, trên thực tế quan sát và qua sổ mượn của bạn đọc thìviệc sử dụng ngoại ngữ để đọc tài liệu chuyên ngành chỉ rơi vào một số ítngười (khoảng hơn 20 người) là thường xuyên đọc tài liệu tiếng Anh Lý
do là các cán bộ nghiên cứu thường tham gia và làm chủ nhiều đề tàinghiên cứu, nên thời gian dành cho việc tìm và đọc tài liệu bị hạn chế.Mặt khác, giữa thông tin “biết” một ngoại ngữ nào đó (thậm chí có bằngcấp, chứng chỉ) với việc có thể sử dụng thực sự ngoại ngữ để đọc sáchhoặc giao tiếp vẫn còn khoảng cách
Còn các nghiên cứu viên trẻ và sinh viên thì trình độ ngoại ngữ cònnhiều hạn chế, chưa thể sử dụng tài liệu chuyên ngành, do vậy chủ yếu họchỉ sử dụng tiếng Anh trong việc tra cứu tin trên Internet
Số người có thể sử dụng tiếng Nga là 16,4%, đa số là những cán bộđược đào tạo ở Nga về từ trước những năm 1990 Trong số cán bộ nghiêncứu Viện Triết học, có gần 1/3 đọc được tiếng Nga Họ cũng là nhữngngười thuộc nhóm tuổi cao trên 50 tuổi, chiếm 25,7% số tiến sỹ của Viện
Trang 27Điều này có lý do lịch sử là từ đầu những năm 1990 trở về trước, nơi gọicán bộ Việt Nam đi đào tạo về Triết học chỉ hạn chế là Liên Xô cũ và cácnước Đông Âu với tiếng Nga là ngoại ngữ chính Tuy nhiên, gần 2 thậpniên qua, nguồn sách nhập từ Nga về rất ít, các thông tin lại ít được cậpnhật hoặc không tương thích với các nguồn tin từ các ngữ Latinh (Anh,Pháp), nên số lượng bạn đọc tài liệu tiếng Nga hầu như không đáng kể.
Bảng 2 : Sử dụng ngoại ngữ trong việc khai thác tin (%)
Tiếng Trung
Tiếng Pháp
Sinh viên các trường đại học 7,5 0 31,3 0
Trang 28Nhìn chung nhu cầu đọc tài liệu của người dùng tin tại Thư việnTriết học khá cao Họ dành nhiều thời gian cho việc đọc và nghiên cứu.Kết quả điều tra cho thấy hàng ngày phần lớn người dùng tin sử dụng từ 1
- 2 giờ để đọc tài liệu tại thư viện (64 người, chiếm 45,7%), 2 - 4 giờ đểđọc ở nhà (48,6%) Có xu hướng, tuy không thật tuyệt đối, nhưng thôngthường là: người dùng tin trẻ thường đọc ở thư viện từ 1 - 2 giờ/ngày,trong khi các cán bộ trung niên đọc phổ biến dùng 2 - 4 giờ để đọc ở nhà.Nam giới đọc ở thư viện và ở nhà đều nhiều hơn nữ giới Bạn đọc có họcvấn càng cao thì cũng dành thời gian đọc nhiều hơn
Bảng 3 : Mức độ đến các thư viện liên quan (%)
Tên thư viện Thường xuyên thoảng Thỉnh Tổng số
Thư viện Viện Thông tin Khoa học Xã hội 6,4 60,7 67,7
Các Thư viện thuộc Viện Khoa học Xã
Trung tâm Thông tin Khoa học & Công
Thư viện Học viện Chính trị Quốc gia Hồ
Trung tâm Thông tin - thư viện Đại học
Thư viện các trường đại học và học viện
Trang 29Ngoài việc dành thời gian để tìm và đọc tài liệu tại Thư viện ViệnTriết học, người dùng tin còn dành thời gian để đọc tài liệu ở một số thưviện khác Các thư viện mà bạn đọc thường đến để đọc tài liệu là Thưviện Quốc gia (92,8%), Thư viện Viện Thông tin Khoa học xã hội (67,l
%), Thư viện Hà Nội, Thư viện Quân đội, Trung tâm Thông tin - thư việnĐại học Quốc gia Hà Nội Ngoài ra, để có được những công trình nghiêncứu toàn diện, có giá trị, ngoài những thông tin về Triết học, bạn đọc còncần phải tham khảo so sánh, đối chiếu với nhiều lĩnh vực khác nhau, vìvậy, bạn đọc còn thường đồng thời đến các thư viện thuộc Viện Khoa học
Xã hội Việt Nam như: Thư viện Viện Nhà nước Pháp luật, Thư viện Viện
Xã hội học, Thư viện Viện nghiên cứu Tôn giáo
Lý do được người dùng tin đưa ra là nguồn tài liệu tại các thư viện
đó rất phong phú và chuyên sâu đối với những đề tài họ cần nghiên cứu.Qua đây cho thấy Thư viện Viện Triết học cần có các biện pháp để phốihợp chia sẻ nguồn lực thông tin với các thư viện này, giúp bạn đọc có thểkhai thác được nhiều thông tin cần thiết cho việc nghiên cứu của mình thì
sẽ tiết kiệm thời gian, công sức cho người dùng tin và thư viện cũng nângcao chất lượng phục vụ hơn Hoặc cần có những chính sách, quy định, kếhoạch bổ sung mượn liên thư viện, nhằm hỗ trợ bạn đọc truy cập và tìmtài liệu giữa các thư viện, nối mạng các thư viện, hoặc hỗ trợ trao đổithông tin phục vụ bạn đọc ở các thư viện thành viên trong cùng mạnglưới
Nguồn khai thác thông tin quan trọng mà người dùng tin tại ViệnTriết học thường sử dụng là khai thác qua mạng Internet Đây là nguồnthông tin khá phổ biến, vì khả năng truy cập dễ dàng Mặc dù ở Thư viện
đã kết nối Internet nhưng chưa phục vụ rộng rãi Tuy nhiên, đa số ngườidùng tin sử dụng Internet tại phòng làm việc hoặc tại gia đình Các điều
Trang 30kiện trên khiến cho hầu hết người dùng tin đều có khả năng truy cập vàkhai thác thông tin qua Internet.
Qua số liệu cho thấy số người truy cập thường xuyên chiếm tỷ lệ
lớn (62,9%) Trong đó dễ thấy xu hướng là trình độ học vấn và khoa họccàng cao thì tỷ lệ truy cập Internet thường xuyên cũng càng cao Namgiới truy cập thường xuyên hơn nữ (tuy khác biệt không lớn) Tuổi táccũng không phải là yếu tố hạn chế tần suất/mức độ truy cập Internet
Về mục đích truy cập, hầu hết người dùng tin truy cập để đọc tàiliệu chuyên ngành (84,9%), sau đó là để đọc báo, tạp chí điện tử (89,3%),gửi thư điện tử (36,7%) và giải trí (33,8%)
Đáng chú ý là hầu như không có sự khác biệt về độ tuổi, giới tính,trình độ học vấn trong mục đích truy cập Internet để đọc báo và tạp chíđiện tử (xem dòng đầu tiên của bảng trên) Điều này cho thấy tính phổcập hiện nay của Internet với tư cách là kênh thông tin tổng hợp và rất dễtiếp cận
Tỷ lệ sử dụng với mục đích giải trí thấp ở nhóm có tuổi và có học
vị Rõ ràng mục đích này là không phù hợp với họ Nữ giới và sinh viênthì ít dùng Internet để trao đổi thư điện tử hơn
1.2.4 Đối tượng nghề nghiệp của người dùng tin (%)
Phân tích thành phần và lĩnh vực hoạt động cụ thể của người dùngtin có thể chia ra 2 nhóm người dùng tin chính sau:
- Nhóm cán bộ nghiên cứu và giảng dạy
- Nhóm nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên
Trang 31Nhóm 1: Nhóm cán bộ nghiên cứu và giảng dạy
Đây là nhóm người dùng tin chiếm phần lớn trong tổng số ngườidùng tin của Thư viện Viện Triết học Nhóm này bao gồm các cán bộnghiên cứu của Viện và cả các cán bộ ngoài cơ quan, gồm 69 người,chiếm 49,3% Công việc nghiên cứu cũng như các đề tài, dự án đòi hỏicác nhà nghiên cứu phải chủ động tìm tòi những thông tin cần thiết Dùnhóm này nghiên cứu nhiều lĩnh vực khác nhau trong Triết học nhưngđều có mối quan tâm đến các vấn đề như: Triết học Mác - Lênin, Lịch sửtriết học, Triết học Văn hóa, Ngôn ngữ học, Tư tưởng Hồ Chí Minh, Đạođức học, Toàn cầu hóa, Xã hội học
Thông tin dành cho đối tượng người dùng tin này rất đa dạngnhưng đòi hỏi ngày càng chuyên sâu để phù hợp với vấn đề mà họ nghiêncứu Họ luôn yêu cầu được cung cấp những thông tin mới, cập nhật, đầy
đủ và chính xác
Về các loại hình tài liệu mà nhóm người dùng tin này thường sửdụng, ngoài sách, báo, tạp chí, họ rất quan tâm đến các thông tin trênInternet, các tài liệu điền dã và đặc biệt là các số liệu điều tra và thống kêmang tính chất liên ngành của Quốc gia Các tài liệu điện tử như CD -ROM, băng từ thường ít có người sử dụng Các dạng tài liệu cấp 2 nhưThư mục chuyên đề, Thư mục Thông báo sách mới, tài liệu tổng thuật,lược thuật cũng được nhóm người dùng tin này sử dụng vì giúp họ nắmbắt được hệ thống các vấn đề nghiên cứu trong, ngoài nước và lựa chọn,khai thác thông tin nhanh chóng và thuận tiện
Nhóm 2: Nhóm nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên
Nhóm nghiên cứu sinh và học viên cao học là những người tốtnghiệp đại học chuyên ngành triết học hoặc các ngành tương đương đang
Trang 32công tác tại Viện Triết học và các trường đại học hoặc cán bộ nghiên cứu
các viện nghiên cứu gồm 54 người, chiếm 32,1% Họ đồng thời cũng
đang là nghiên cứu sinh và học viên cao học của Cơ sở Đào tạo Sau đại
học Viện Triết học Vì thế, họ thường tìm kiếm những tài liệu thông tin
về một vấn đề cụ thể nào đó phù hợp với Chương trình học hoặc đề tài
mà họ nghiên cứu, như sách, tạp chí chuyên ngành, các luận án, luận
văn Nhu cầu tin rất đa dạng nhưng với nhóm người dùng tin này hầu
hết là cán bộ vừa đi học vừa đi làm, rất hạn chế về thời gian nên đòi hỏi
thư viện phải đáp ứng nhu cầu bằng các hình thức đặc thù
Nhóm sinh viên chiếm 12,1% tổng số người dùng tin của Thư viện
Nhóm này thường đến thư viện khi làm luận văn tốt nghiệp, tiểu luận
hoặc khi có bài tập thực hành Đối tượng người dùng tin này thường sử
dụng các luận văn thạc sĩ, các báo cáo nghiên cứu ở quy mô nhỏ và các
tài liệu tham khảo về những vấn đề Triết học phương Đông, Triết học
phương Tây, Toàn cầu hóa, Triết học Văn hóa, Tôn giáo, Chính trị
1.3 ĐẶC ĐIỂM NHU CẦU TIN TRONG NGHIÊN CỨU VÀ GIẢNG DẠY TRIẾT HỌC
Bảng 4: Lĩnh vực quan tâm theo đối tượng nghiên cứu (%) Đối tượng
Nội dung TT
Sinh viên
Giảng viên
Cán bộ NC
Học viên CH
Nghiên cứu sinh Khác
Tỷ lệ (%)
Lịch sử triết học 13.3 13.3 27.6 18.4 23.5 4.1 70.0
Triết học phương Đông 3.2 9.7 27.4 30.6 21.0 8.1 44.3
Triết học phương Tây 3.7 11.1 27.8 35.2 18.5 3.7 38.6
Triết học Xã hội 0 7.7 35.9 35.9 17.9 2.6 27.9
Trang 33Triết học Tôn giáo 8.5 12.8 36.2 17.0 23.4 2.1 33.6
Triết học Văn hóa 6.1 12 1 37.9 22.7 19.7 1.5 47.1
Trang 34Phân tích chỉ số bảng trên cho thấy nhu cầu tin của bạn đọc rất đadạng về nội dung và được trải khá đồng đều trên tất cả các nội dung ấy.Một số chuyên ngành nổi trội có nhiều đối tượng quan tâm gồm: Lịch sửtriết học (70%), Triết học Mác - Lênin (73,6%), Tư tưởng Hồ Chí Minh(47,1%), Triết học phương Đông (44,3%), Toàn cầu hóa (43,6%), Chủnghĩa duy vật lịch sử (63,6%), Lý do là các chuyên ngành này tronghơn 40 năm qua có nhiều nghiên cứu, tập trung nhiều cố gắng của Viện,tài liệu tham khảo và các sản phẩm khoa học nhiều (báo cáo nghiên cứu,hội thảo khoa học, tài liệu dịch ).
Thực tế này trong một chừng mực nhất định phụ thuộc và phản ánhđịnh hướng nghiên cứu và thực tiễn hoạt động của Viện Triết học trongnhững năm vừa qua: tập trung vào nghiên cứu cơ bản ở một số lĩnh vực
có thế mạnh như Triết học trong khoa học tự nhiên (chú trọng vấn đề môitrường), Triết học Văn hóa, Triết học Tôn giáo, Toàn cầu hóa, )
So sánh giữa nguồn tài liệu hiện có và nhu cầu khai thác của ngườidùng tin thì có sự khác nhau rất rõ theo các lĩnh vực kiến thức chuyênngành Có thể tạm xếp thành 3 nhóm tương quan như sau:
1 Nhóm đối tượng là sinh viên quan tâm khai thác chủ đề về Lịch
sử triết học (13,3%), Triết học Mác - Lênin (14,6%), Lôgíc học (16,7%),Văn hóa (14,8%), Tư tưởng Hồ Chí Minh (13,6%), Ngôn ngữ (28,0%),
2 Nhóm cán bộ nghiên cứu và giảng viên các trường đại học, họcviện nhu cầu khai thác thông tin về các chuyên ngành sâu và đều hơn, đặcbiệt là cán bộ nghiên cứu những vấn đề mới: Triết học Xã hội (35,9%),Triết học Chính trị (35,1%), Triết học Tôn giáo (36,2%), Triết học Văn
hóa (37,9%), Toàn cầu hóa (42,3%), Chính trị học (42,3%),
Trang 353 Nhóm đối tượng là học viên cao học và nghiên cứu sinh, họ cũngquan tâm các lĩnh vực nội dung tương đối đều và sâu theo hướng đề tài họđăng ký hoặc theo chuyên môn họ đang nghiên cứu nơi công tác.
Ở mức độ tương đối, sự phân nhóm này cũng khá tương ứng vớithế mạnh và hạn chế trong các hướng nghiên cứu của Viện và kéo theo đó
là sự quan tâm của người dùng tin, chủ yếu là cán bộ nghiên cứu
Các số liệu khảo sát trên có thể xem là những gợi ý tốt cho hoạtđộng của Thư viện trong thời gian tới, nên ưu tiên bổ sung nguồn lựcthông tin cho một số lĩnh vực chuyên ngành còn yếu cả về nguồn lực lẫnkhả năng khai thác của người dùng tin
Bảng 5 : Lĩnh vực quan tâm theo giới và nhóm tuổi (%)
(%) Nam Nữ < 30 31-45 46-55 > 55
Triết học 62.5 37.5 26.0 39.4 28.8 5.8 74.3
Lịch sử triết học 55.1 44.9 25.5 38.8 30.6 5.1 70
Triết học phương Đông 59.7 40.3 33.9 37.1 25.8 3.2 44.3
Triết học phương Tây 61.1 38.9 37.0 37 0 37.0 22.2 38.6
Trang 36Triết học Chính trị 70.3 29.7 32.4 35.1 27.0 5.4 26.4
Triết học Tôn giáo 63.8 36.2 29.8 31.9 31.9 6.4 33.6
Triết học Văn hóa 60.6 39.4 28.8 37.9 27.3 6.1 47.1
Trang 37họ đang nghiên cứu ngoài vấn đề chung cần nghiên cứu Lịch sử triết học(44,9%), Triết học phương Đông (40,3%) thì Mỹ học (50%), Đạo đức học
(51,7%), Tâm lý học (61,5%), Lịch sử, phụ nữ quan tâm nhiều hơn nam
giới
Một vài lĩnh vực nội dung thông tin có tỷ lệ bạn đọc quan tâm thấpnhư: Triết học phương Tây, Triết học ngoài mácxít, Triết học trong khoahọc tự nhiên, Mỹ học, Lôgíc học cho thấy những mảng nghiên cứu nàykhó, tài liệu thì có nhưng tiếp cận được là rất khó vì tài liệu mảng này chủyếu là tiếng nước ngoài
Nhìn chung, qua điều tra cho thấy sự quan tâm đối với tất cả các
lĩnh vực thể hiện nhiều nhất và trải đều nhất ở lứa tuổi 31 - 55 Đây là
những cán bộ đã có kiến thức khá sâu về mọi lĩnh vực triết học, tiếp theo
là lứa tuổi trên 30, đây là lực lượng trẻ đang tiếp nhận những tri thức mớicủa xã hội, nhất là trong xu thế hội nhập hiện nay
Ngoài việc tìm hiểu về nội dung tài liệu mà bạn đọc quan tâm,trong phiếu đều tra có đưa ra câu hỏi về loại hình tài liệu mà bạn đọc tạiThư viện Viện Triết học thường sử dụng
Trong số các loại hình tài liệu của Thư viện Viện Triết học hiện có,nhìn chung mức độ (tần suất sử dụng) của bạn đọc được phân bố theo cácnhóm khác nhau Sách, tạp chí tiếng Việt là 2 loại hình tài liệu có tỷ lệbạn đọc sử dụng cao nhất (84,3 - 93%), sách, tạp chí ngoại văn (71,4 -80,7%); nhóm thứ hai gồm thông tin chuyên đề, tài liệu dịch (55,7%); tàiliệu tra cứu (82,l%) Các loại tài liệu xám như luận án, luận văn, côngtrình nghiên cứu khoa học cũng thu hút khá đông bạn đọc quan tâm
Trang 381.4 VAI TRÒ NGUỒN LỰC THÔNG TIN CỦA VIỆN TRIẾT HỌC
Nguồn lực thông tin được hiểu như là tổ hợp các thông tin nhậnđược và tích lũy trong quá trình phát triển khoa học và hoạt động thựctiễn của con người để sử dụng nhiều lần trong sản xuất và quản lý xã hội.Nguồn lực thông tin phản ánh các quá trình và hiện tượng tự nhiên và xãhội được ghi nhận trong kết quả các công trình nghiên cứu khoa học vàtrong các dạng tài liệu khác của hoạt động nhận thức và thực tiễn [29, tr.7]
Nguồn lực thông tin là yếu tố cấu thành nên hoạt động thông tin,đồng thời cũng là yếu tố có tầm quan trọng đặc biệt trong việc thỏa mãnnhu cầu tin của người dùng tin, tạo nên chất lượng và hiệu quả của hoạtđộng thông tin
Từ quan niệm về nguồn lực thông tin nói chung gắn với đặc thùhoạt động của Viện Triết học chúng ta có thể khái quát về nguồn lực
thông tin của Viện Triết học như sau: Là tổ hợp các thông tin tiếp nhận
từ nhiều nguồn trong thực tiễn hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội và tích luỹ trong suốt quá trình trưởng thành và phát triển của Viện, góp phần quan trọng cho việc xây dựng thế giới quan, phương pháp luận khoa học cho con người Việt Nam trong sự nghiệp cách mạng và phục vụ trực tiếp cho quá trình nghiên cứu và giảng dạy triết học.
Nguồn lực thông tin của Viện Triết học là tổ hợp thông tin, songtập trung cho thông tin chuyên sâu của khoa học triết học
Nguồn lực thông tin của Viện được tiếp cận, và tiếp nhận một cách
đa chiều cùng vi quá trình hình thành, phát triển của Viện Nguồn lực này
Trang 39được tiếp nhận đáng kể trong thời đại cách mạng khoa học công nghệ,
cách mạng thông tin hiện nay.
Trong hoạt động thông tin - thư viện, nguồn lực thông tin có vai tròquan trọng, là cơ sở để tạo ra các sản phẩm và dịch vụ thông tin, hợp tác,chia sẻ nguồn lực thông tin giữa các cơ quan thông tin thư viện
Các nguồn lực thông tin được Thư viện tạo lập và khai thác triệt đểtrong quá trình chia sẻ nguồn lực thông tin là phương tiện hữu hiệu đểtiến hành các hoạt động thông tin - thư viện
Nguồn lực thông tin đóng vai trò quan trọng trong công tác quản lý
và nghiên cứu khoa học Ngày nay tri thức của nhân loại phát triển theocấp số nhân và ngày càng được ứng dụng vào thực tiễn với tốc độ nhanhhơn Mọi lĩnh vực hoạt động của con người, đặc biệt là trong lĩnh vựcquản lý và nghiên cứu khoa học sẽ không thực hiện được hoặc thực hiệnkhông có hiệu quả nếu thiếu thông tin và tri thức Chính vì vậy, việc tạolập nguồn lực thông tin đầy đủ và trang bị thông tin hiện đại sẽ giúp chocác nhà khoa học rất nhiều
Trong hoạt động thông tin và nghiên cứu khoa học tại Viện Triết
học, nguồn lực thông tin đầy đủ có vai trò và tầm quan trọng đặc biệt
Hoạt động thông tin tại Viện Triết học do Phòng Thư viện tiếnhành nhằm phục vụ công tác nghiên cứu khoa học của Viện, đồng thờiphục vụ các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước Với mục tiêu này Thưviện cần phải khai thác nhiều nguồn thông tin, nhiều kênh thông tin khácnhau phản ánh đối tượng nghiên cứu dưới nhiều góc độ, nhiều quan điểmkhác nhau Các nguồn thông tin đó sẽ bổ trợ, giúp nhà nghiên cứu có thểrút ra được các kết luận, nhận định khách quan phản ánh bản chất của vấn
đề Nếu thiếu thông tin cần thiết hoặc nguồn thông tin bị hạn chế thì các
Trang 40công trình nghiên cứu tại Viện sẽ không đủ cơ sở khoa học để đi tớinhững kết luận khách quan.
Nguồn lực thông tin của Viện Triết học được hình thành và pháttriển trong 45 năm (1962 - 2007) Số lượng tài liệu khi mới thành lậpViện chỉ có gần 400 bản sách, trang thiết bị của thư viện còn phải dùngchung với phòng hành chính nhưng so với ngày nay lên tới hơn 18.260bản (sách, tư liệu ), hàng trăm loại báo, tạp chí Điều này cho thấy ViệnTriết học rất chú trọng phát triển xây dựng vốn tài liệu của mình Từ đókhẳng định vai trò của nguồn lực thông tin là rất to lớn, nó phục vụ đắclực cho việc nghiên cứu của cán bộ trong và ngoài viện
Có thể chia toàn bộ tài liệu hiện có tại Thư viện Viện Triết họcthành các bộ phận chính như sau:
1 Bộ sách tra cứu, từ điển, bách khoa toàn thư liên quan đến khoa
học Xã hội và Triết học
2 Các sách nói về Triết học, phương pháp nghiên cứu Triết học vàcác sách Triết học chuyên biệt như: Triết học phương Đông, Triết họcphương Tây, Triết học trong khoa học Tự nhiên, Lôgíc học, Chủ nghĩaduy vật biện chứng, Chủ nghĩa duy vật lịch sử
3 Các loại tài liệu dịch, các loại tạp chí Triết học, Triết học chuyênngành và các ngành gần với Triết học
Ba nhóm tài liệu đầu tiên này được hình thành tại Thư viện ViệnTriết học sớm nhất, kể từ trước khi Viện được thành lập Từ năm 1962,khi Ban Triết học - tiền thân của Viện được thành lập, lãnh đạo của Banlúc đó đã chú ý ngay tới loại tài liệu này do nhu cầu cấp bách phải tiếnhành đào tạo và tự đào tạo đội ngũ các nhà triết học đầu tiên của ViệtNam theo phương thức tự lực, vừa học vừa làm Loại tài liệu này lúc đầu