1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Báo Cáo Về Thể Chế Quản Lý Viên Chức Và Đội Ngũ Viên Chức Trong Các Đơn Vị Sự Nghiệp Công Lập Từ Năm 1998 Đến Nay

35 373 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 444 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc nâng lương được thực hiện thâm niên và nânglương trước thời hạn cho những người có thành tích trong công tác.

Trang 1

BÁO CÁO VỀ THỂ CHẾ QUẢN LÝ VIÊN CHỨC VÀ ĐỘI NGŨ VIÊN CHỨC TRONG CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP

CÔNG LẬP TỪ NĂM 1998 ĐẾN NAY

Hà Nội, tháng 3 năm 2010

Trang 2

Từ thời kỳ đầu dựng nước, đấu tranh giành độc lập và thống nhất đất nước cho đếnnay, dù trong điều kiện thực hiện cơ chế kế hoạch hóa tập trung bao cấp hay trong quátrình chuyển sang cơ chế thị trường định hướng XHCN hiện nay, thể chế quản lý đội ngũcán bộ, công chức và viên chức đều được Nhà nước ban hành Do đặc điểm và điều kiệncủa nước ta, các quy định về quản lý công chức, viên chức đã được áp dụng chung trongmột thời gian dài, chưa tính đến tính chất, đặc điểm đặc thù lao động của cán bộ, củacông chức và của viên chức Năm 1998, khi Nhà nước ban hành Pháp lệnh cán bộ, côngchức, những người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và tổ chứcchính trị - xã hội cũng là đối tượng điều chỉnh và thực hiện theo các quy định của Pháplệnh Mọi nội dung cơ bản liên quan đến tiêu chuẩn chức danh, ngạch bậc, tuyển dụng,điều động, bổ nhiệm, bố trí, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng, thăng tiến, chế độ tiền lương,đãi ngộ, thôi việc, nghỉ hưu và cơ chế quản lý đối với đội ngũ cán bộ, công chức làm việctrong các đơn vị sự nghiệp của nhà nước đều được quy định và thực hiện giống như đốivới đội ngũ cán bộ, công chức trong các cơ quan của Đảng, của Nhà nước và tổ chứcchính trị- xã hội Năm 2003, Pháp lệnh cán bộ, công chức được sửa đổi, bổ sung đã bướcđầu phân định cán bộ, công chức làm việc trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước và tổchức chính trị - xã hội với cán bộ, công chức làm việc trong các đơn vị sự nghiệp (sau đótại Nghị định số 116/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 của Chính phủ đã gọi chung nhữngcán bộ, công chức này là viên chức) Đây là căn cứ và điều kiện để từ năm 2003 đến nay,Nhà nước từng bước tiến hành đổi mới cơ chế quản lý viên chức theo hướng giao quyềntự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các đơn vị sự nghiệp, phù hợp với các yêu cầu của cơ chếthị trường XHCN

Để phục vụ cho việc xây dựng Dự án Luật viên chức, cần thiết phải tập trung đánhgiá lại thể chế quản lý đội ngũ viên chức; về phương thức tổ chức và các nội dung quảnlý viên chức; đội ngũ viên chức; chế độ tiền lương, đãi ngộ đối với viên chức trong sự đốichiếu với tính chất, đặc điểm hoạt động lao động của đội ngũ viên chức; gắn với yêu cầucủa cơ chế thị trường, của xu hướng cải cách và xã hội hóa các hoạt động sự nghiệp; gắnvới quá trình giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các đơn vị sự nghiệp và đề caotrách nhiệm của người đứng đầu các đơn vị sự nghiệp Mốc thời gian xem xét được tínhtừ năm 1998, là thời điểm Nhà nước ban hành Pháp lệnh cán bộ, công chức đến nay

Trang 3

PHẦN I THỂ CHẾ QUẢN LÝ VIÊN CHỨC VÀ ĐỘI NGŨ VIÊN CHỨC HIỆN NAY

I THỰC TRẠNG THỂ CHẾ QUẢN LÝ VIÊN CHỨC VÀ BỘ MÁY QUẢN LÝ VIÊN CHỨC HIỆN NAY

1 Hệ thống các văn bản pháp luật về quản lý viên chức

Năm 1998, Nhà nước ban hành Pháp lệnh cán bộ, công chức, theo đó những ngườilàm việc trong các đơn vị sự nghiệp cũng nằm trong nội hàm “cán bộ, công chức” và chịusự điều chỉnh của Pháp lệnh cũng như các văn bản hướng dẫn thực hiện Theo quy địnhcủa Pháp lệnh cán bộ, công chức, hệ thống thể chế quản lý viên chức (khi đó vẫn gọichung trong cụm từ “cán bộ, công chức”) đều hoàn toàn được quy định giống như đối vớiđội ngũ cán bộ, công chức nói chung Các quy định về quyền và nghĩa vụ, phương thứctuyển dụng, bố trí, bổ nhiệm, biệt phái, điều động, đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá, miễnnhiệm, từ chức, chính sách tiền lương và quản lý đều được áp dụng chung cho cả cán bộ,công chức trong khu vực hành chính cũng như trong khu vực sự nghiệp

Căn cứ Pháp lệnh cán bộ, công chức, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ đã banhành một hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết và hướng dẫn thựchiện việc quản lý cán bộ, công chức trong các đơn vị sự nghiệp như chế độ: tuyển dụng,sử dụng và quản lý; thực hiện chế độ thôi việc và bồi thường chi phí đào tạo; thực hiệnxử lý kỷ luật và bồi thường thiệt hại vật chất do cán bộ, công chức gây ra; quy định việckéo dài thời gian công tác của cán bộ, công chức đến độ tuổi nghỉ hưu; quy định quy chếbổ nhiệm, bổ nhiệm lại, luân chuyển, từ chức, miễn nhiệm cán bộ, công chức lãnh đạo;thực hiện phân cấp quản lý và các chính sách về tiền lương, đãi ngộ đối với cán bộ, côngchức Nhờ đó, đã từng bước thực hiện đổi mới cơ chế quản lý đội ngũ cán bộ, công chức,đưa công tác quản lý đội ngũ cán bộ, công chức trong các đơn vị sự nghiệp đi dần vào nềnếp, đáp ứng yêu cầu cải cách khu vực dịch vụ công Ví dụ như Nghị định số95/1998/NĐ-CP ngày 7/11/1998 của Chính phủ về tuyển dụng, sử dụng và quản lý cánbộ, công chức; Nghị định số 96/1998/NĐ-CP ngày 7/11/1998 của Chính phủ về chế độthôi việc đối với cán bộ, công chức; Nghị định số 97/1998/N Đ-CP ngày 7/11/1998 củaChính phủ về xử lý kỷ luật và trách nhiệm vật chất đối với cán bộ, công chức (Hệ thốngvăn bản QPPL thời kỳ này có phụ lục kèm theo báo cáo này)

Sau thời gian thực hiện từ năm 1998 đến 2003, thực hiện chủ trương của Đảng vềtiếp tục xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân,thực hiện xã hội hóa các hoạt động sự nghiệp, đẩy mạnh phân cấp quản lý cán bộ, côngchức, tiếp tục thực hiện cải cách hành chính nhà nước, năm 2003 Nhà nước đã sửa đổi,

Trang 4

bổ sung một số điều của Pháp lệnh cán bộ, công chức Trong đó có một nội dung rất quantrọng, đó là việc phân định cán bộ, công chức làm việc trong các cơ quan hành chính củaĐảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội với cán bộ, công chức làm việc trong các đơnvị sự nghiệp Điều này đã tạo cơ sở pháp lý cho việc đổi mới một bước cơ chế quản lý

cán bộ, công chức trong các đơn vị sự nghiệp Từ năm 2003, Chính phủ đã quy định cán

bộ, công chức trong các đơn vị sự nghiệp được gọi chung là viên chức Cùng với việc

sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 2003, hệ thống cácNghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Pháp lệnh cán bộ, công chức cũngđược nghiên cứu để trình Chính phủ ban hành thay thế cho các Nghị định ban hành từnăm 1998 Ví dụ như Nghị định số 116/2003/NĐ-CP của Chính phủ ngày 10/10/2003 vềtuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập; Nghị địnhsố 121/2006/NĐ-CP ngày 23/10/2006 sửa đổi một số điều của Nghị định 116/2003/NĐ-CP; Nghị định số 132/2007/NĐ-CP của Chính phủ ngày 24/9/2007 về chính sách tinhgiản biên chế; Nghị định số 43/2006/NĐ-CP của Chính phủ quy định quyền tự chủ, tựchịu trách nhiệm về tổ chức bộ máy, biên chế, tài chính đối với đơn vị sự nghiệp cônglập Năm 2004, Nhà nước tiếp tục cải cách chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức,viên chức và lực lượng vũ trang (Có phụ lục về hệ thống các văn bản quy định chi tiết vàhướng dẫn thực hiện Pháp lệnh cán bộ, công chức kèm theo báo cáo này)

Như vậy, trong thời gian từ năm 1998 đến nay, Pháp lệnh cán bộ, công chức đãthực sự là cơ sở pháp lý quan trọng để bước đầu đổi mới cơ chế quản lý đội ngũ viênchức trong các đơn vị sự nghiệp, đáp ứng yêu cầu cải cách khu vực dịch vụ công, xâydựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân, bảo đảm công bằng và ổn định xãhội trong sự phát triển kinh tế vững chắc Cùng với Pháp lệnh cán bộ, công chức, các vănbản quy phạm pháp luật do Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thực hiện đã tạonên hệ thống thể chế quản lý đội ngũ viên chức trong các đơn vị sự nghiệp Nhờ đó đãbước đầu đổi mới phương thức quản lý viên chức, từng bước nâng cao chất lượng, hiệuquả phục vụ nhân dân và cộng đồng dân cư

Từ đây có thể khẳng định một số ưu điểm và tác dụng của Pháp lệnh cán bộ,

công chức và các văn bản quy phạm pháp luật quy định về quản lý viên chức trong thờigian từ năm 1998 đến nay như sau:

Một là, Pháp lệnh cán bộ, công chức và hệ thống các văn bản QPPL về quản lýviên chức từ năm 1998 đến nay được Nhà nước ban hành phục vụ cho việc quản lý độingũ viên chức trong các đơn vị sự nghiệp đã bước đầu đáp ứng được yêu cầu khách quancủa thực tiễn quản lý, phù hợp với quá trình chuyển từ cơ chế kế hoạch hóa tập trungquan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường định hướng XHCN Các quy định về đối tượngvà phạm vi điều chỉnh; nghĩa vụ và quyền lợi của viên chức so với trước đó đã được quyđịnh cụ thể, rõ ràng (mặc dù còn phải sửa đổi cho phù hợp) Nhờ đó đã tạo cơ sở và căn

Trang 5

cứ để quản lý, xây dựng và phát triển đội ngũ viên chức Với đặc điểm của thể chế chínhtrị ở nước ta, trong lộ trình cải cách nền hành chính nhà nước, tương ứng với việc phânđịnh cán bộ, công chức khu vực hành chính, sự nghiệp với những người làm việc trongkhu vực sản xuất kinh doanh của Nhà nước, có thể thấy Pháp lệnh cán bộ, công chức (kểcả qua các lần sửa đổi năm 2000 và 2003) đã đặt nền móng ban đầu cho việc từng bướcxây dựng cơ chế quản lý đội ngũ viên chức trong các đơn vị sự nghiệp; phân biệt với cơchế quản lý đội ngũ cán bộ, công chức

Hai là, qua một số lần sửa đổi, Pháp lệnh cán bộ, công chức và các văn bản hướngdẫn thực hiện đã từng bước có sự đổi mới cơ chế quản lý đội ngũ viên chức Thực hiệnnguyên tắc khách quan, công bằng, dân chủ, ưu tiên và bảo đảm chất lượng trong tuyểndụng, sử dụng và quản lý viên chức Từng bước đổi mới cơ chế quản lý viên chức phùhợp với xu hướng cải cách khu vực dịch vụ công Cơ chế tuyển dụng viên chức đãchuyển từ chế độ tuyển dụng suốt đời sang chế độ tuyển dụng theo hợp đồng làm việc;việc quyết định lựa chọn hình thức tuyển dụng thông qua thi tuyển hay xét tuyển dongười đứng đầu đơn vị sự nghiệp quyết định; cơ cấu viên chức trong các đơn vị sựnghiệp đã từng bước được cải thiện thông qua việc tổ chức các kỳ thi nâng ngạch viênchức; việc bổ nhiệm viên chức quản lý, lãnh đạo đã thực hiện bổ nhiệm có thời hạn - khihết thời hạn thì xem xét bổ nhiệm lại hoặc không bổ nhiệm lại; công tác đánh giá viênchức hàng năm được tiến hành theo quy trình, thủ tục và có tiêu chí cụ thể đã đi dần vàonề nếp đã tạo cơ sở cho việc quản lý và nâng cao chất lượng đội ngũ viên chức Vớiviệc thực hiện chế độ hợp đồng làm việc, người đứng đầu đơn vị sự nghiệp và viên chứcđã có tương đối đầy đủ quyền chủ động trong việc quyết định ký kết và chấm dứt hợpđồng làm việc trong những điều kiện nhất định Điều này thích ứng với tính linh hoạt vàđào thải của cơ chế thị trường Góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ viên chức và hoạtđộng phục vụ người dân của đội ngũ viên chức trong các đơn vị sự nghiệp

Ba là, hệ thống các văn bản QPPL về quản lý viên chức đã được ban hành phù hợpvới luật pháp Việt Nam, theo đúng nguyên tắc, định hướng cơ bản về tổ chức và hoạtđộng của Nhà nước CHXHCN Việt Nam Dưới góc độ pháp luật, các văn bản QPPL nàyđều đã bảo đảm được tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của văn bản trong hệthống các văn bản QPPL về quản lý viên chức Các văn bản QPPL của các Bộ, ngành vàđịa phương ban hành nhằm cụ thể hóa hơn nữa các quy định của Nhà nước trong quản lýviên chức đã đáp ứng được những tính đặc thù trong từng lĩnh vực sự nghiệp như y tế,giáo dục đào tạo, nghiên cứu khoa học, văn hóa nghệ thuật, thể dục thể thao, lao động, ansinh xã hội Về cơ bản, hệ thống các văn bản QPPL đã tạo điều kiện để các cơ quan vàđơn vị sự nghiệp thực hiện việc xây dựng và quản lý đội ngũ viên chức

Bốn là, hệ thống các văn bản QPPL về quản lý viên chức đã bước đầu đáp ứngđược yêu cầu đòi hỏi của thực tiễn khách quan phát sinh trong quá trình thực hiện quản lý

Trang 6

nhà nước đối với đội ngũ viên chức Bước đầu, các quy định về quản lý viên chức trêncác mặt: biên chế, tiêu chuẩn chức danh, tuyển dụng, sử dụng, đánh giá, bổ nhiệm, miễnnhiệm, luân chuyển, từ chức, đã tương đối đáp ứng được quá trình đổi mới cơ chế tựchủ, tự chịu trách nhiệm về tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính của các đơn vị sựnghiệp theo quy định của Nghị định số 43/2006/N Đ-CP của Chính phủ Từ đó, góp phầnthúc đẩy xã hội hóa các hoạt động sự nghiệp, thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệmcủa đơn vị sự nghiệp, góp phần nâng cao chất lượng phục vụ người dân

Bên cạnh những ưu điểm và tác dụng nêu trên, hệ thống các văn bản QPPL về

quản lý viên chức cũng còn tồn tại những hạn chế, cần được khắc phục Đó là:

Một là, Pháp lệnh cán bộ, công chức và các văn bản QPPL hướng dẫn thực hiệnquản lý đội ngũ viên chức có nhiều nội dung quy định chưa phù hợp với đặc điểm, tính chấtlao động của đội ngũ viên chức Nhiều quy định về quyền và nghĩa vụ chỉ phù hợp với độingũ cán bộ, công chức (làm việc nhân danh quyền lực chính trị, quyền lực công) nhưng lạiáp dụng đối với cả đội ngũ viên chức (làm việc dựa trên nghiệp vụ, chuyên môn và kỹthuật) Các quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý đội ngũ cán bộ, công chức và viênchức đều được áp dụng chung, chưa có sự phân biệt phù hợp với đặc điểm và tính chấtcông tác của cán bộ, của công chức và của viên chức Ví dụ như việc sử dụng ngạch và tổchức thi nâng ngạch đối với công chức thì là phù hợp nhưng đối với viên chức khi áp dụnglại mang tính khiên cưỡng, không phù hợp với tính chất và đặc điểm hoạt động nghềnghiệp của viên chức

Hai là, phạm vi xác định của các quy phạm pháp luật về quản lý viên chức chưaphù hợp với hoạt động lao động mang tính nghề nghiệp, còn mang nhiều dấu ấn của cơchế kế hoạch hóa tập trung trước đây Cụm từ “cán bộ, công chức” được dùng để chỉchung những người được bầu cử, được tuyển dụng làm việc trong các cơ quan của Đảng,của Nhà nước và tổ chức chính trị- xã hội và những người làm việc trong các đơn vị sựnghiệp công lập Khái niệm cán bộ, công chức và viên chức chưa được xác định rõ ràng,cụ thể Vị trí pháp lý của viên chức chưa được quy định phù hợp với hoạt động nghềnghiệp trong khu vực sự nghiệp Một số các chế định về viên chức và quản lý viên chứcchưa có căn cứ khoa học và gắn với thực tiễn như quy định những việc viên chức khôngđược làm; các hành vi đạo đức phải tuân thủ trong khi thực hiện hoạt động nghề nghiệpđều quy định chung như nhau cho các lĩnh vực sự nghiệp

Ba là, các văn bản QPPL phục vụ cho quản lý viên chức chưa hoàn toàn thích ứngvới cơ chế thị trường và hệ thống pháp luật hiện hành Minh chứng cho vấn đề này là sựmâu thuẫn giữa các quy định về giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các đơn vị sựnghiệp với cơ chế về tiền lương, chính sách đãi ngộ viên chức; mâu thuẫn giữa chế độtuyển chọn, sử dụng và đãi ngộ viên chức với quá trình phát triển năng động của nền kinh

Trang 7

tế thị trường; mâu thuẫn giữa chế độ đánh giá viên chức với yêu cầu nâng cao chất lượngđội ngũ viên chức và cải cách khu vực sự nghiệp dịch vụ công

Bốn là, hệ thống các văn bản quy định về tiêu chuẩn chức danh viên chức đã đượcban hành từ năm 1993 nhưng cho đến nay, với nhiều thay đổi trong thực tiễn và yêu cầuquản lý, hệ thống tiêu chuẩn này chưa được sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện kịp thời, phùhợp với yêu cầu mới Điều này đã dẫn đến những bất cập và hạn chế trong xây dựng vàquản lý đội ngũ viên chức, cản trở quá trình nâng cao chất lượng dịch vụ phục vụ ngườidân và cộng đồng dân cư

Năm là, Nhà nước đã có nhiều văn bản quy định việc đổi mới cơ chế quản lý hoạtđộng các đơn vị sự nghiệp, giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các đơn vị sự nghiệpvà khuyến khích việc xã hội hóa các hoạt động sự nghiệp để nâng cao chất lượng phục vụngười dân và cộng đồng dân cư Nhưng các quy định về cơ chế tuyển dụng, sử dụng vàquản lý viên chức vẫn chưa kịp thời đổi mới để tương thích với các quy định trên Điều đóphản ánh sự thiếu thống nhất, thiếu đồng bộ trong quản lý nhà nước đối với hoạt động sựnghiệp, và là một nguyên nhân cản trở sự phát triển của đội ngũ viên chức và hạn chế việcnâng cao chất lượng phục vụ người dân và cộng đồng dân cư

Sáu là, việc thực hiện các quy định về phân công, phân cấp trong tuyển dụng, sửdụng và quản lý viên chức ở từng Bộ, ngành và từng địa phương chưa có sự thống nhấtvề quy trình, thủ tục Ví dụ như việc phân cấp tuyển dụng viên chức ở từng địa phươngkhác nhau còn có điểm khác nhau; các quy định về tiếp nhận, thuyên chuyển viên chứccòn có nhiều vướng mắc, các cơ quan khi thực hiện còn lúng túng, nhất là từ khi thựchiện ký hợp đồng làm việc đối với viên chức; người trúng tuyển vào viên chức được kýhợp đồng ngay hay là trước khi ký hợp đồng phải có Quyết định tuyển dụng của cơ quancó thẩm quyền

2 Về các nội dung quản lý viên chức

Từ năm 1998 đến năm 2003, việc quản lý viên chức được thực hiện theo hệ thốngchức nghiệp, gắn với chỉ tiêu biên chế, tiêu chuẩn chức danh ngạch viên chức và thựchiện chế độ tuyển dụng suốt đời Sự thăng tiến của viên chức được thực hiện thông quabổ nhiệm vào các vị trí lãnh đạo, quản lý hoặc thông qua kỳ thi nâng ngạch Viên chứclàm việc và thực hiện các hoạt động nghề nghiệp của mình thông qua và gắn với từngngạch chức danh được giao đảm nhiệm

Từ năm 2003 đến nay, theo quy định của Pháp lệnh cán bộ, công chức (sửa đổi, bổsung) các đơn vị sự nghiệp công lập đã bắt đầu đổi mới việc quản lý viên chức thông quaviệc thực hiện hợp đồng làm việc trong tuyển dụng và quản lý viên chức, thay cho chế độlàm việc suốt đời, tuy nhiên vẫn dựa trên chỉ tiêu biên chế và chức danh ngạch viên chức

Trang 8

Với cơ chế quản lý viên chức như vậy, các nội dung quản lý viên chức đã đượcquy định gồm: quản lý biên chế, phân cấp quản lý viên chức, hệ thống tiêu chuẩn chứcdanh ngạch viên chức; tổ chức tuyển dụng và nâng ngạch viên chức; sử dụng, bố trí, điềuđộng, bổ nhiệm, miễn nhiệm, biệt phái viên chức; đánh giá, khen thưởng, thăng thưởng,xử lý vi phạm; đào tạo, bồi dưỡng viên chức;…

Căn cứ vào cơ chế quản lý và các quy định liên quan đến nội dung quản lý viênchức nêu trên, có thể thấy việc tổ chức các hoạt động lao động của viên chức có thể kháiquát như sau: Hoạt động lao động, làm việc của viên chức được tổ chức như đối với cánbộ, công chức, mặc dù đây thuần túy là các hoạt động mang tính nghề nghiệp Viên chứctrong quá trình thực hiện các hoạt động nghề nghiệp của mình phải tuân thủ các quy địnhcủa pháp luật, chấp hành các nghĩa vụ và được hưởng các quyền lợi do pháp luật quyđịnh Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ và khối lượng công việc phục vụ nhân dân phảithực hiện, các đơn vị sự nghiệp được phê duyệt một số lượng biên chế nhất định để tuyểndụng viên chức Trải qua các giai đoạn từ năm 1998 đến nay, việc quản lý biên chế viênchức đã được phân cấp mạnh mẽ, gắn với mức độ tự chủ về tài chính của các đơn vị sựnghiệp Việc tuyển dụng viên chức được thực hiện theo thi tuyển hoặc xét tuyển và lựcchọn cách thức tuyển dụng nào là do người đứng đầu đơn vị sự nghiệp quyết định và chịutrách nhiệm về quyết định đó Những người trúng tuyển vào viên chức phải qua thời gianthử việc và thông qua hợp đồng làm việc (có thời hạn hoặc không xác định thời hạn).Thẩm quyền tuyển dụng viên chức được phân cấp cho người đứng đầu các đơn vị sựnghiệp thực hiện Trong quá trình làm việc, nếu viên chức có đủ điều kiện, tiêu chuẩn đểthăng tiến về nghề nghiệp và cơ quan có nhu cầu thì được xem xét cử tham gia các kỳ thinâng ngạch viên chức Viên chức nếu có công trạng, thành tích thì được xét nâng bậclương trước thời hạn Việc bố trí, sử dụng, điều động viên chức cho đến nay vẫn còn chịuảnh hưởng của cơ quan có thẩm quyền quản lý cán bộ, công chức mà chưa hoàn toànthuộc quyền chủ động của đơn vị sự nghiệp Viên chức đủ điều kiện và tiêu chuẩn thìđược bổ nhiệm vào các chức danh lãnh đạo, quản lý theo thời hạn (5 năm), hết thời hạnquy định thì được xem xét bổ nhiệm lại hoặc không bổ nhiệm lại Trong một số trườnghợp viên chức lãnh đạo, quản lý có thể xin từ chức nếu thấy không thể đảm đương đượcnhiệm vụ Viên chức nếu có thành tích, công trạng thì được khen thưởng theo quy địnhvề pháp luật thi đua, khen thưởng, nếu vi phạm kỷ luật thì bị xem xét xử lý kỷ luật nhưđối với công chức Việc đánh giá viên chức được thực hiện theo các tiêu chí và nội dungquy định gắn với phẩm chất, năng lực, đạo đức và mức độ hoàn thành nhiệm vụ Chế độtiền lương và đãi ngộ trả cho viên chức được thực hiện theo thang bảng lương, căn cứ vàonguồn tài chính của đơn vị sự nghiệp Việc nâng lương được thực hiện thâm niên và nânglương trước thời hạn cho những người có thành tích trong công tác Các chế độ bảo hiểmxã hội, bảo hiểm y tế được thực hiện mang tính bắt buộc đối với viên chức, góp phần ổn

Trang 9

định đời sống viên chức và gia đình họ Đội ngũ viên chức được quản lý chặt chẽ theo xuhướng phân cấp cho các đơn vị sự nghiệp

Với các nội dung mang tính khái quát về quản lý viên chức nêu trên, có thể khẳngđịnh là từ năm 1998 đến nay, với việc ban hành và quy định các nội dung quản lý viênchức trong Pháp lệnh cán bộ, công chức, đội ngũ viên chức trong các đơn vị sự nghiệp đãcó nhiều bước phát triển về số lượng, chất lượng và cơ cấu Việc tuyển dụng viên chức đãđược chuyển đổi từ phân phối theo kế hoạch sang thực hiện thông qua nhiều phương thứcnhư thi tuyển, xét tuyển, thuyên chuyển, tiếp nhận, điều động với nguyên tắc cạnh tranh,khách quan, chất lượng và có chính sách ưu tiên đối với người dân tộc, người có công vàbước đầu đã chú ý đãi ngộ đối với người có tài năng Chú trọng ưu tiên bổ sung nhân lựccho các vùng sâu, vùng xa, miền núi, biên giới, hải đảo Các đơn vị sự nghiệp đã thựchiện quyền tự chủ trong quản lý, việc tuyển dụng viên chức đã được phân cấp cho ngườiđứng đầu đơn vị sự nghiệp, xóa bỏ cách thức tuyển dụng suốt đời, thay vào đó là thựchiện ký hợp đồng làm việc Thực hiện thi nâng ngạch đối với viên chức đã góp phần cảithiện cơ cấu viên chức trong các đơn vị sự nghiệp Các vị trí lãnh đạo, quản lý trong cácđơn vị sự nghiệp đã thực hiện chế độ bổ nhiệm có thời hạn thay thế cho chế độ bổ nhiệmsuốt đời Việc quản lý viên chức (bao gồm cả đánh giá, khen thưởng, kỷ luật, thanh tra,kiểm tra ) và cơ chế trả lương, đãi ngộ đã được đưa vào nề nếp Qua đó đã góp phần vàoviệc xây dựng, quản lý và phát triển đội ngũ viên chức trong các đơn vị sự nghiệp

Hạn chế, tồn tại: Từ năm 1998 đến nay, mặc dù nhà nước đã quy định các nội

dung quản lý viên chức với các chế định cụ thể và qua thời gian thực hiện đã có hai lầnsửa đổi (2000 và 2003) nhằm phục vụ cho việc quản lý đội ngũ viên chức đáp ứng yêucầu của thời kỳ mới - chuyển từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trườngXHCN có sự quản lý của nhà nước nhưng phương thức và cơ chế quản lý viên chức vẫncòn một số vấn đề hạn chế và tồn tại như khái niệm về viên chức, cơ sở và căn cứ đểquản lý đội ngũ viên chức sử dụng như đối với công chức (ví dụ như các vấn đề về cơchế quản lý, ngạch, tiêu chuẩn chức danh, nội dung và cách thức đánh giá, thực hiện việcthăng tiến nghề nghiệp, phân cấp quản lý, nguyên tắc hoạt động nghề nghiệp, nguyên tắcquản lý viên chức ) chưa phù hợp với tính chất, đặc điểm lao động của viên chức Mộtsố nội dung quản lý viên chức trong điều kiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm vẫn chỉ đơnthuần là sự dịch chuyển từ cơ chế quản lý cũ sang cơ chế quản lý mới, không phù hợp vớiđiều kiện hiện nay Một số nội dung đã lỗi thời, trở thành vật cản, ảnh hưởng nhiều đếnsự phát triển nghề nghiệp và phát triển đội ngũ viên chức Các quy định về quản lý viênchức còn cơ chế “xin - cho” và giữ nguyên dấu ấn của cơ chế kế hoạch hóa tập trungtrước đây Cụ thể là:

- Chưa xác định và quy định rõ hoạt động nghề nghiệp của viên chức thực hiệntheo hệ thống chức nghiệp suốt đời hay hệ thống vị trí việc làm Năm 2003 mặc dù đã

Trang 10

chuyển sang tuyển dụng viên chức theo chế độ hợp đồng làm việc nhưng vẫn căn cứ vàochỉ tiêu biên chế, do đó phương thức quản lý viên chức chưa được đổi mới hoàn toàn phùhợp với xu thế cải cách khu vực dịch vụ công Trách nhiệm và địa vị pháp lý của viênchức với tư cách là người nhà nước chưa được xác định đầy đủ và rõ ràng

- Khái niệm về viên chức chưa thống nhất được cách hiểu và chưa thể hiện đượcnhững nét đặc thù của viên chức Việc sử dụng “ngạch viên chức” để làm cơ sở cho việctuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức giống như công chức đã hạn chế rất nhiều việcnâng cao chất lượng đội ngũ viên chức và không phù hợp với tính chất, đặc điểm laođộng của viên chức

- Hệ thống các quy định về tiêu chuẩn viên chức mới chú trọng vào lý lịch, nhânthân, văn bằng, chứng chỉ mà ít chú ý đến năng lực, kinh nghiệm Hệ thống tiêu chuẩnchức danh các ngạch viên chức được sử dụng để quản lý viên chức chưa phù hợp vớihoạt động nghề nghiệp của họ, chưa bảo đảm được sự liên thông về hoạt động nghềnghiệp giữa khu vực công và khu vực tư Hệ thống này chậm được đổi mới và hoàn thiệnsau một thời gian dài thực hiện (10 năm)

- Trong điều kiện thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm và xã hội hóa cáchoạt động sự nghiệp, việc quản lý viên chức theo chỉ tiêu biên chế như hiện nay chưa đápứng được yêu cầu đổi mới cơ chế quản lý, vẫn còn tình trạng “thừa vẫn thừa, thiếu vẫnthiếu”- thừa những người không làm việc được, thiếu những người có năng lực để thựchiện nhiệm vụ Quản lý theo chỉ tiêu biên chế nhưng lại ký hợp đồng làm việc, điều đó dẫnđến sự khập khiễng giữa các khâu quản lý viên chức Việc ký hợp đồng làm việc phải đisong song và bắt nguồn từ xây dựng vị trí việc làm, chứ không phải là từ biên chế- khikhông có nhu cầu về vị trí việc làm đó thì phải chấm dứt hợp đồng làm việc

- Quy định về thăng tiến nghề nghiệp của viên chức qua các kỳ thi nâng ngạchđược áp dụng giống như đối với công chức đã cho thấy là không phù hợp với đặc điểmvà tính chất hoạt động nghề nghiệp của viên chức, nhiều khi mang tính hình thức vàkhông đánh giá được hết thực chất năng lực của viên chức Các điều kiện về thâm niêngiữ ngạch, hệ số lương hưởng đang là những rào cản, hạn chế nguồn tuyển chọn viênchức có năng lực để giao giữ các chức trách, nhiệm vụ cao hơn trong các lĩnh vực sựnghiệp công tác

3 Tổ chức bộ máy quản lý viên chức và hoạt động nghề nghiệp của viên chức

Trong thời gian qua, do điều kiện cán bộ, công chức và viên chức chưa được phânđịnh rõ ràng, nên tổ chức bộ máy quản lý viên chức và hoạt động nghề nghiệp của viênchức về cơ bản đều giống như đối với cán bộ, công chức Từ năm 2003 đến nay, với việcsửa đổi Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 2003, thực hiện đẩy mạnh phân cấp quản lý

Trang 11

viên chức, giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các đơn vị sự nghiệp thì bộ máyquản lý viên chức đã được cải thiện nhiều

Ở Việt Nam hiện nay, hệ thống tổ chức bộ máy quản lý viên chức và hoạt độngnghề nghiệp của viên chức gồm có các cơ quan, đơn vị sau:

- Quản lý Nhà nước về viên chức: Bộ Nội vụ

- Quản lý cơ chế và chế độ tài chính cho hoạt động sự nghiệp: Bộ Tài chính

- Quản lý chế độ tiền lương của viên chức: Bộ Nội vụ

- Quản lý chế độ sau hoạt động nghề nghiệp của viên chức: Bảo hiểm xã hội ViệtNam

- Các cơ quan quản lý ngành dọc về tổ chức, viên chức gồm: Sở Nội vụ các tỉnh,thành phố trực thuộc Trung ương, đơn vị chuyên ngành Nội vụ ở cấp huyện; Vụ Tổ chứccán bộ ở các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; bộ phận tổ chức cán bộthuộc các đơn vị sự nghiệp

- Các Bộ, cơ quan ngang Bộ được giao quản lý nhà nước về hoạt động nghềnghiệp của viên chức như Bộ Giáo dục và đào tạo, Bộ Y tế, Bộ Văn hóa-Thể thao - Dulịch, Bộ Khoa học và công nghệ,

Bên cạnh nội dung quản lý nhà nước về viên chức do Bộ Nội vụ thực hiện, hoạtđộng nghề nghiệp do các Bộ chuyên ngành thực hiện, việc quản lý viên chức do các cơquan được giao thẩm quyền quản lý viên chức thực hiện Đó là các Bộ, cơ quan nhànước, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trungương và bản thân các đơn vị sự nghiệp Nội dung quản lý viên chức của các cơ quan nàylà căn cứ vào phân công, phân cấp, trực tiếp quản lý viên chức theo hướng dẫn nghiệp vụcủa Bộ Nội vụ Nhiệm vụ của các cơ quan này là thực hiện tuyển dụng, sử dụng và quảnlý viên chức; hướng dẫn thực hiện các tiêu chuẩn nghiệp vụ viên chức, xây dựng và banhành tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch viên chức thuộc ngành được giao quản lý nhà nướcvề hoạt động nghề nghiệp làm căn cứ để đánh giá năng lực, trình độ chuyên môn củaviên chức; trực tiếp quản lý các ngạch viên chức được phân công, phân cấp quản lý, riêngviên chức ngạch cao cấp kết hợp với Bộ Nội vụ quản lý, các ngạch viên chức còn lại đều

do cơ quan quản lý ngành trực tiếp quản lý; phối hợp với Bộ Nội vụ sửa đổi, bổ sung cácquy định liên quan đến quản lý viên chức phù hợp với những thay đổi, nhu cầu hoạt độngnghề nghiệp của viên chức; tổ chức thi tuyển, xét tuyển, bồi dưỡng, đào tạo viên chức cácngạch được giao quản lý

Việc quản lý viên chức trong từng đơn vị sự nghiệp cho đến thời điểm này đãđược phân cấp tương đối Ngoài một số nội dung như bổ nhiệm, nâng lương ngạch caocấp, bổ nhiệm chức vụ quản lý là người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu, khenthưởng, kỷ luật ở các hình thức cao thuộc thẩm quyền của cơ quan quản lý cấp trên, các

Trang 12

nội dung khác như tuyển dụng, quản lý hồ sơ viên chức, theo dõi, kiểm tra, đánh giá, bốtrí, điều động viên chức, quyết định khen thưởng, nâng lương, đào tạo, bồi dưỡng hoặckỷ luật viên chức theo thẩm quyền, đều đã được giao cho người đứng đầu đơn vị sựnghiệp ở các mức độ khác nhau theo từng ngành, lĩnh vực, địa phương Các nội dung nàyđều phải được thực hiện theo các quy định của pháp luật

Nhìn chung, bộ máy quản lý đội ngũ viên chức của nước ta từ sau khi Pháp lệnhcán bộ, công chức được ban hành (1998) đã có sự thay đổi cùng với sự phát triển của nềncông vụ và đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức Việc xây dựng và hoàn thiện hệ thốngthể chế quản lý đội ngũ viên chức, sự củng cố và hoàn thiện bộ máy quản lý viên chức đãgóp phần vào việc xây dựng đội ngũ viên chức và hệ thống các đơn vị sự nghiệp hoànthành tốt mục tiêu cung cấp các dịch vụ cơ bản, thiết yếu cho người dân trong thời gianvừa qua ở một mức độ nhất định, góp phần tạo nền móng vững chắc cho sự ổn định vàbảo đảm công bằng, bình đẳng trong quá trình đất nước tập trung phát triển kinh tế - vănhóa - xã hội Tổ chức và hoạt động của đội ngũ viên chức cũng như hệ thống các đơn vịsự nghiệp đã trở thành một hệ thống nền nếp, ổn định Hệ thống dịch vụ sự nghiệp côngnày từ Trung ương đến địa phương đã tạo nên được đội ngũ viên chức đông đảo, từngbước đáp ứng được yêu cầu của từng thời kỳ của đất nước, bảo đảm thực hiện được đúngcác quy định về quyền và nghĩa vụ của viên chức; tổ chức tốt các kỳ thi tuyển dụng, xéttuyển dụng, kỳ thi nâng ngạch viên chức để bổ sung nhân lực, ổn định và cải thiện cơ cấungạch viên chức trong đội ngũ viên chức; thực hiện tốt cơ chế bổ nhiệm có thời hạn, miễnnhiệm, từ chức trong đội ngũ viên chức lãnh đạo, quản lý Kịp thời thực hiện việc khenthưởng và xử lý các vi phạm trong hoạt động nghề nghiệp; thực hiện chính sách tiềnlương và các chế độ đãi ngộ đối với viên chức Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm đãđạt được, hệ thống tổ chức bộ máy quản lý viên chức vẫn còn một số hạn chế, tồn tại, ảnhhưởng đến việc nâng cao hiệu quả của hoạt động nghề nghiệp viên chức như: việc tổchức thi tuyển viên chức còn chưa được phân cấp cho các đơn vị sự nghiệp một cách triệtđể, vai trò hướng dẫn, kiểm tra, giám sát của các cơ quan được giao nhiệm vụ quản lýnhà nước chưa được đề cao và chú trọng đúng mức; công tác nâng ngạch viên chức vàđào tạo, bồi dưỡng viên chức còn bị phân tán, nhiều đầu mối, chưa tập trung thống nhấtquản lý nên chất lượng tuyển dụng, nâng ngạch, đào tạo, chưa đạt được sự đồng đều giữacác ngành, các bộ, các địa phương; giữa các đơn vị sự nghiệp của nhà nước với các đơnvị sự nghiệp của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội Đội ngũ công chức, viên chứclàm nhiệm vụ trong hệ thống các cơ quan hoặc đơn vị quản lý viên chức thường thay đổi,tính ổn định không cao nên tính chuyên nghiệp còn hạn chế, ảnh hưởng đến chất lượngquản lý viên chức Để tiến tới xây dựng một hệ thống dịch vụ sự nghiệp công phục vụnhân dân ngày một tốt hơn, thu hút được đội ngũ viên chức có tài năng, đáp ứng yêu cầumới của đất nước trong nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế thì hệ thống bộ

Trang 13

máy quản lý viên chức cần phải được chú trọng phát triển về chất lượng và nâng cao tínhchuyên nghiệp

II THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ VIÊN CHỨC TRONG CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP

Để phục vụ cho việc nghiên cứu, Ban soạn thảo Dự án Luật viên chức đã tổ chứcđiều tra về các đơn vị sự nghiệp công lập và thực trạng đội ngũ viên chức trong các đơnvị sự nghiệp công lập thuộc các cơ quan hành chính nhà nước từ trung ương đến địaphương

1 Về các đơn vị sự nghiệp công lập

Hiện nay, các đơn vị sự nghiệp công lập ở nước ta có nhiều loại hình, do các cơquan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị xã hội ở nhiều cấp khác nhau (cấp trungương, cấp tỉnh, cấp huyện ) thành lập và quản lý với quy mô, phạm vi và lĩnh vực hoạtđộng khác nhau Trong hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước có các đơn vị sựnghiệp công lập các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các đơn vị sựnghiệp thuộc UBND và các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, cấp huyện.Ngoài ra, còn có các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc các cơ quan Trung ương tổ chứctheo ngành dọc

Theo kết quả điều tra thống kê cho thấy hiện nay cả nước có tổng số 52.241 đơn vị

sự nghiệp công lập thuộc các cơ quan hành chính nhà nước từ trung ương đến địa phươngquản lý, trong đó các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan

thuộc Chính phủ là 1.286 đơn vị; các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc UBND và các cơ quan chuyên môn của UBND các địa phương là 50.955 đơn vị

Nếu chia theo lĩnh vực hoạt động thì số lượng đơn vị sự nghiệp trong lĩnh vực giáo

dục đào tạo chiếm đa số với 36.637 đơn vị, tiếp theo là các đơn vị sự nghiệp thuộc lĩnh vực y tế với số lượng 7.151 đơn vị Đứng thứ ba là ngành văn hóa nghệ thuật, thể dục thể thao với 1.885 đơn vị sự nghiệp trực thuộc

Tại các đơn vị sự nghiệp thuộc cấp Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính

phủ, số đơn vị sự nghiệp trong lĩnh vực giáo dục – đào tạo chiếm tỷ lệ đa số với 211/709 đơn vị, tiếp theo là các đơn vị nghiên cứu khoa học công nghệ, với 146/709 đơn vị (Xem

chi tiết tại bảng 1)

Trang 14

Bảng 1: TỔNG HỢP BÁO CÁO SỐ LƯỢNG CÁC

ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP CẢ NƯỚC

Y tế

Vănhoá

nghệ

thuật,TDTT

Nghiê

n cứu

KH CN

-Nôngnghiệ

p và

PTNT

Laođộn

g xã

hội

Lĩnhvực*khác

Tại các địa phương, các đơn vị sự nghiệp công chiếm tỷ lệ cao nhất là các đơn vị

sự nghiệp thuộc UBND cấp huyện gồm 25.437 đơn vị trên tổng số 50.955 đơn vị sự

nghiệp thuộc UBND các cấp, tiếp theo là các đơn vị sự nghiệp thuộc các cơ quan chuyên

môn của UBND cấp huyện gồm 13.214 đơn vị Đứng thứ ba là các đơn vị sự nghiệp

thuộc các cơ quan chuyên môn của UBND tỉnh, TP thuộc TW Tại địa phương, các đơn

Trang 15

vị sự nghiệp thuộc lĩnh vực giáo dục – đào tạo và y tế cũng chiếm đa số (Xem chi tiết tạibảng 2).

Bảng 2: TỔNG HỢP BÁO CÁO SỐ LƯỢNG CÁC ĐƠN VỊ

SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP Ở ĐỊA PHƯƠNG

đơn

vị

Số lượng các đơn vị theo lĩnh vực hoạt động

Giáodụcđàotạo

Y tế

Vănhoá

nghệ

thuật,TDTT

Nghiê

n cứu

KH CN

-Nôngnghiệ

p và

PTNT

Laođộn

g xã

hội

Lĩnhvựckhác

(1) (2) (3) (4) (5) (6) (7) (8) (9) (10)1

3 UBND cấp

huyện

25.437

21.057

1.69

7 827 5 351 116

1.384

10.764

7.07

3.65 0

2 Về số lượng, cơ cấu đội ngũ viên chức

Trang 16

Theo báo cáo tổng kết của các Bộ ngành, địa phương, trong thời gian qua biên chếviên chức liên tục tăng đáp ứng yêu cầu về nhân lực cho việc cung cấp hàng hóa dịch vụ

cơ bản cho nhân dân và cộng đồng Đến năm 2009, đội ngũ viên chức sự nghiệp công cả

nước đã có số lượng 1.657.468 người, trong đó viên chức thuộc các đơn vị sự nghiệp ở

TW có 111.994 người chiếm tỷ lệ 6,75% tổng số viên chức cả nước; viên chức thuộc các đơn vị sự nghiệp công lập ở địa phương là 1.545.474 người, chiếm tỷ lệ đa số với 93,2%.

Tuy nhiên, viên chức làm công tác khoa học công nghệ ở các địa phương rất thấp với2.921 viên chức trong tổng số viên chức ở địa phương là 1.545.474 người

Về giới tính: Kết quả điều tra cho thấy viên chức nữ chiếm tỷ lệ cao hơn với

64,2% (có 1.064.921 người) và tập trung chủ yếu ở lĩnh vực giáo dục – đào tạo với số lượng 862.413 viên chức nữ, chiếm tỷ lệ 67,5 %.

Về độ tuổi: Theo kết quả điều tra, đội ngũ viên chức ở độ tuổi từ 30 đến 50 tuổi

chiếm tỷ lệ cao nhất với 60,9% (1.009.977 người trên tổng số 1.657.468 người) Đây là

độ tuổi sung mãn, có thể phát huy khả năng cao nhất trong hoạt động nghề nghiệp củaviên chức và là điều kiện thuận lợi để nâng cao trình độ, chất lượng của đội ngũ viên

chức Tiếp theo là các viên chức ở độ tuổi dưới 30 với 499.862 người chiếm tỷ lệ 30,1%, còn lại là viên chức ở độ tuổi từ 50 đến 60 tuổi chiếm tỷ lệ 10% với 167.418 người Tuy

nhiên, số lượng viên chức khối trung ương ở độ tuổi trên 50 tuổi chiếm tỷ lệ cao hơn cácviên chức ở địa phương với 21.903 người, chiếm tỷ lệ 19,56% Đối với các viên chức ởđịa phương, tỷ lệ này là 9,4% (Xem bảng 3) Số lượng các viên chức trên 50 tuổi chiếmtỷ lệ cao trong nhóm viên chức khối cơ quan sự nghiệp TW biểu hiện sự già hóa đội ngũviên chức khối TW

Nhìn chung trong cả nước thì độ tuổi viên chức phù hợp với xu thế phát triểnchung của dân số không ảnh hưởng nhiều đến kết quả và chất lượng cung cấp dịch vụcông phục vụ người dân trong thời gian tới Nhóm viên chức trẻ có trình độ chiếm tỷ lệkhá cao là một chỉ số tốt hứa hẹn việc tăng chất lượng dịch vụ công nếu các cơ quan quảnlý tập trung việc đào tạo để nâng cao chất lượng đội ngũ viên chức

Trang 17

Tổng số Nữ giới Dân tộc

ít người Đảng viên

Độ tuổi

Dưới

30 tuổi

Từ 30đến

Y tế 241.386 150.851 18.914 68.651 64.527 149.009 26.727Giáo dục, đào tạo 1.202.337 821.948 109.316 364.779 379.316 737.495 105.579Khoa học công nghệ 2.921 1.157 168 605 816 1.650 432Văn hóa thông tin TDTT 34.751 13.451 3.281 11.952 7.938 21.737 5.118Khác 64.080 21.800 4.677 23.612 18.231 38.969 7.659

Ngày đăng: 21/02/2017, 15:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w