TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM ------ TRƯƠNG THỊ NHUNG NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG MẬT ĐỘ VÀ PHÂN BÓN ĐẾN KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT CỦA GIỐNG LÚA NẾP CẠN ĐẶC SẢN ĐỔNG ĐẸO BỤT
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
- -
TRƯƠNG THỊ NHUNG
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG MẬT ĐỘ VÀ PHÂN BÓN ĐẾN KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT CỦA GIỐNG LÚA NẾP CẠN ĐẶC SẢN ĐỔNG ĐẸO BỤT
TẠI HÀ GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG
THÁI NGUYÊN - 2016
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
- -
TRƯƠNG THỊ NHUNG
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG MẬT ĐỘ VÀ PHÂN BÓN ĐẾN KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT CỦA GIỐNG LÚA NẾP CẠN ĐẶC SẢN ĐỔNG ĐẸO BỤT
TẠI HÀ GIANG
Ngành: Khoa học cây trồng
Mã số: 60 62 01 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Văn Điền
THÁI NGUYÊN - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Trương Thị Nhung
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực tập và thực hiện đề tài này, tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ của Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Phòng Đào tạo, các thầy giáo, cô giáo, bạn bè, đồng nghiệp, cơ quan và gia đình
Trước tiên tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới người hướng dẫn khoa học - PGS.TS.Trần Văn Điềnđã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cám ơn sự nhiệt tình của lãnh đạo, và cán bộ Trung tâm khoa học kỹ thuật giống cây trồng Đạo Đức trưc thuộc Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Hà Giang
Đồng thời tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới toàn thể các thầy giáo, cô giáo giảng dạy chuyên ngành khoa học cây trồng Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã giúp đỡ hoàn thiện bản luận văn này
Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất tới tất cả bạn
bè, đồng nghiệp, cơ quan, gia đình và người thân đã quan tâm động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin trân trọng cảm ơn./
Thái Nguyên, ngày … tháng … năm 2016
Tác giả luận văn
Trương Thị Nhung
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC HÌNH vii
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục tiêu của đề tài 3
3 Ý nghĩa của đề tài 3
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5
1.1 Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài 5
1.2 Giới thiệu chung về cây lúa cạn 5
1.2.1 Khái niệm về lúa cạn 5
1.2.2 Những đặc điểm sinh trưởng của lúa cạn 7
1.2.3 Phản ứng của cây lúa đối với các điều kiện hạn khác nhau 8
1.2.4 Đặc điểm hình thái, giải phẫu liên quan đến khả năng chịu hạn của cây lúa 12 1.3 Tình hình sản xuất và nghiên cứu lúa cạn trong nước và trên thế giới 15
1.3.1 Tình hình sản xuất và nghiên cứu lúa cạn trên thế giới 15
1.3.2 Tình hình sản xuất và nghiên cứu lúa cạn ở Việt Nam 18
Chương 2 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
2.1 Vâ ̣t liê ̣u nghiên cứu 28
2.2 Nội dung nghiên cứu 28
2.3 Địa điểm và thời gian tiến hành 28
2.4 Phương pháp nghiên cứu 28
2.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 28
2.4.2 Điều kiện thí nghiệm 28
2.4.3.Chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 30
Trang 62.5 Phương pháp xử lý số liệu 33
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 34
3.1 Ảnh hưởng của mật độ và phân bón đến thời gian sinh trưởng của giống lúa Đổng Đẹo Bụt 34
3.2 Ảnh hưởng của mật độ cấy và các mức phân bón đến một số chỉ tiêu sinh trưởng phát triển của giống lúa Đổng Đẹo Bụt tại Hà Giang 35
3.2.1 Ảnh hưởng của mật độ và phân bón đến đến chiều cao cây và khả năng đẻ nhánh của của giống lúa Đổng Đẹo Bụt vụ mùa 2015 35
3.2.3 Ảnh hưởng của mật độ và phân bón tới khả năng chống chịu sâu bệnh của giống lúa Đổng Đẹo Bụt tại tỉnh Hà Giang 47
3.2.4 Ảnh hưởng của mật độ và phân bón đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của giống lúa Đổng Đẹo Bụt tại Hà Giang 50
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 58
1 Kết luận 58
2 Đề nghị 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO 59
Trang 7a, b, c, d,e,f Là những chữ cái biểu thị kết quả phân nhóm trong
so sánh ducan
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Tình hình sản xuất lúa cạn trên thế giới 15Bảng 1.2: Số liệu thống kê diện tích trồng lúa cạn 27tại tỉnh Hà Giang 5 năm gần đây 27Bảng 3.1: Kết quả theo dõi thời gian sinh trưởng của giống lúa Đổng Đẹo Bụt tại Hà Giang 34Bảng 3.2: Ảnh hưởng của mật độ và phân bón đến đến chiều cao cây và khả năng đẻ nhánh của của giống lúa Đổng Đẹo Bụt vụ mùa 2015 36Bảng 3.3 Ảnh hưởng của mật độ và phân bón đến số bông/khóm và số 42hạt chắc/bông của giống Đổng Đẹo Bụt vụ mùa 2015 42Bảng 3.4: Ảnh hưởng của mật độ và phân bón tới khả năng chống chịu sâu bệnh của giống lúa Đổng Đẹo Bụt vụ mùa 2015 48Bảng 3.5: Ảnh hưởng của mật độ và phân bón đến P.1000 hạt, yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của giống lúa Đổng Đẹo Bụt tại Hà Giang 50Bảng 3.6 Hiệu quả kinh tế của giống lúa Đổng Đẹo Bụt vụ mùa 2015 56
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1: Sơ đồ của 3 thành phần dưới điều kiện môi trường hạn (tiềm năng năng suất, hình thức trốn hạn và tình trạng chịu hạn) và mối quan hệ giữa năng suất và các hình thức hạn khác nhau ở lúa 9 Hình 3.1 Ảnh hưởng của mật độ và phân bón đến chiều cao cây của giống Đổng Đẹo Bụt vụ mùa 2015 37 Hình 3.2 Ảnh hưởng của mật độ và phân bón đến tỷ lệ nhánh hữu hiệu của giống Đổng Đẹo Bụt vụ mùa 2015 40 Hình 3.3 Ảnh hưởng của mật độ và phân bón đến số bông/khóm của giống lúa Đổng Đẹo Bụt vụ mùa 2015 43 Hình 3.4 Ảnh hưởng của mật độ và phân bón đến số hạt chắc/bông của giống lúa Đổng Đẹo Bụt vụ mùa 2015 45 Hình 3.5 Ảnh hưởng của mật độ và phân bón đến năng suất lí thuyết của giống lúa Đổng Đẹo Bụt vụ mùa 2015 52 Hình 3.6 Ảnh hưởng của mật độ và phân bón đến NSTTcủa giống lúa Đổng Đẹo Bụt vụ mùa 2015 54
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Cây lúa (Oryza sativa L) là cây trồng có từ lâu đời và gắn liền với quá
trình phát triển của loài người Từ buổi đầu của nền văn minh, cây lúa là cây trồng được gắn liền với quá trình phát triển của loài người và đã trở thành cây lương thực chính của Châu Á nói chung, người Việt Nam ta nói riêng và có vai trò quan trọng trong nét văn hoá ẩm thực của dân tộc ta
Khi xã hội càng phát triển, nhu cầu ăn ngon của người dân ngày càng tăng vì vậy lúa chất lượng đã trở thành nhu cầu không thể thiếu trong bữa ăn hằng ngày của người dân trong và ngoài nước
Lúa là loại cây lương thực chính và cung cấp lương thực cho hơn một nửa dân số thế giới Người ta ước tính đến năm 2030 sản lượng lúa của thế giới phải tăng thêm 60% so với sản lượng năm 1995 Về mặt lý thuyết, lúa có khả năng cho sản lượng cao hơn nếu điều kiện canh tác như hệ thống tưới tiêu, chất lượng đất, biện pháp thâm canh và giống được cải thiện Trong tất cả các yếu
tố đó, cải tạo giống đóng vai trò rất quan trọng
Nước ta có địa hình phức tạp 3/4 lãnh thổ là đồi núi, địa hình chia cắt và diễn biến khí hậu phức tạp, lượng mưa phân bố không đều giữa các vùng và các miền, nên có thể xảy ra hạn hán tại từng vùng, từng mùa trong năm Và cũng do gần đây hiện tượng biến đổi khí hậu toàn cầu, thời tiết thay đổi thất thường, khó dự báo Trên thế giới, hàng năm hạn có thể làm giảm tới 70% năng suất cây trồng nói chung Ở Việt Nam, hàng năm trung bình mất khoảng
30 vạn tấn lương thực do thiên tai, trong đó hạn được xem là nhân tố chính làm giảm năng suất lúa
Bên cạnh lúa nước, lúa cạn cũng chiếm một vị trí quan trọng đối với nông dân, đặc biệt là khu vực miền núi có địa hình đồi dốc tập trung chủ yếu
ở vùng Tây Bắc, Đông Bắc Bộ và Tây Nguyên, mưa nhiều nhưng lượng mưa phân bố không đều dẫn đến hạn cục bộ xảy ra thường xuyên
Trang 11Thực tế sản xuất cho thấy năng suất và chất lượng của một số giống lúa phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: giống, kỹ thuật trồng trọt, thời tiết Trong đó
kỹ thuật trồng trọt như mật độ và phân bón, chế độ nước có ảnh hưởng quyết định đến năng suất lúa
Hà Giang là một tỉnh miền núi phía bắc Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện là 249,36 km2 Trong đó, có tới 54.3% diện tích là đất nông nghiệp do đó việc khai thác sử dụng đất 2 vụ trong vụ xuân và vụ mùa hiện nay ở Hà Giang đang được thúc đẩy theo hướng chuyển dịch cơ cấu sản xuất, nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế góp phần không nhỏ trong công cuộc xoá đói giảm nghèo của huyện, giải quyết vấn đề lương thực nhất là gạo có chất lượng cao cho người dân đô thị, tận dụng nguồn lao động nông nhàn sẵn có, ngoài ra khai thác đất 2 vụ gieo trồng bằng các giống lúa chất lượng cũng góp phần làm thay đổi tập quán, phương thức sản xuất tự cung, tự cấp, chuyển sang sản xuất hàng hoá của một bộ phận nông dân nông thôn, đó là những mặt tích cực mà việc chuyển dịch cơ cấu sản xuất nhất là chuyển dịch cơ cấu giống lúa trong nông nghiệp đem lại cho nông dân
Giống lúa nếp Đổng Đẹo Bụt là giống lúa nương, có chất lượng gạo khá ngon và năng suất tương đối ổn định, vì vậy người dân địa phương vẫn duy trì trồng hàng năm.Đây cũng là giống lúa của đồng bào dân tộc vùng xa xôi nơi canh tác còn phụ thuộc chủ yếu vào điều kiện tự nhiên.Đây là giống lúa có khả chống chịu tốt, thích ứng cao với điều kiện bất lợi như nắng nóng, khô hạn và rét Ngày nay do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, những hiện tượng thời tiết khắc nghiệt như nắng nóng, khô hạn, rét ngày càng xảy ra nhiều và kéo dài Việc nghiên cứu khai thác phát triển những giống lúa cạn tốt của địa phương không chỉ có ý nghĩa quan trọng nhằm đáp ứng nhu cầu lương thực tại chỗ của của bà vùng xa xôi, mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo ra cơ cấu giống cây trồng thích ứng tốt với khí hậu ngày càng khắc nghiệt
Trang 12Mục tiêu phấn đấu trong thời gian tới là góp phần nâng cao thu nhập cho nông dân, tiết kiệm được số công lao động và chi phí phục vụ cho sản xuất; Nhân rộng mô hình gieo trồng lúa nếp Đổng Đẹo Bụt ra toàn huyện Vị Xuyên và một số huyện trong tỉnh Hà Giang
Muốn làm được điều đó, trước hết cần phải có những nghiên cứu thử nghiệm ban đầu trên một số địa bàn trong huyện để làm mô hình khuyến cáo
mở rộng
Xuất phát từ tình hình trên chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ và phân bón đến khả năng sinh trưởng phát triển và năng suất của giống lúa nếp cạn đặc sản Đổng Đẹo Bụt tại Tỉnh Hà Giang”
2 Mục tiêu của đề tài
a Mục tiêu tổng thể
Xác định được mật độ và lượng phân bón hợp lí nhằm nâng cao năng suất, chất lượng lúa cho vùng sản xuất giống lúa nếp cạn đặc sản Đổng đẹo bụt tại Hà Giang
b Mục tiêu cụ thể
- Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng khác nhau và các mức phân bón khác nhau đến khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống lúa nếp cạn đặc sản Đổng Đẹo Bụt
- Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng và các mức phân bón khác nhau đến năng suất, chất lượng giống lúa nếp cạn đặc sản Đổng Đẹo Bụt
- Xác định mật độ trồng và mức phân bón thích hợp cho giống lúa thí nghiệm
- Xác định công thức có năng suất, chất lượng và đạt hiệu quả kinh tế cao để nhân ra diện rộng
3 Ý nghĩa của đề tài
* Ý nghĩa khoa học
Trang 13Xác định được ảnh hưởng của mật độ và phân bón thời gian sinh trưởng, phát triển, năng suất của các giống lúa thí nghiệm góp phần hoàn thiện qui trình
kỹ thuật canh tác giống lúa nếp cạnđặc sản Đổng Đẹo Bụt
Là cơ sở cho việc đề xuất hướng chuyển dịch cơ cấu giống cây trồng theo hướng hàng hoá
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài
Đối với cây lúa từ lâu đã có câu ca dao “Nhất nước, nhì phân” điều đó nói lên nhu cầu nước của cây lúa rất lớn.Tuy nhiên trong lúc khan hiếm nước như hiện nay thì việc trồng lúa gặp rất nhiều khó khăn Người nông dân có thể
bị thất thu, hoặc mất trắng toàn bộ trong vụ đó
Với địa hình đồi núi chiếm ¾ diện tích, cả nước, lúa cạn đã tồn tại từ lâu đời cung cấp một lượng lớn lương thực cho đồng bào vùng cao Đây là nguồn gen quí trong lai tạo và chọn giống lúa do lúa cạn có những đặc tính nông học đặc biệt, khác với những cây trồng khác,giúp lúa cạn được phân bố rộng hơn Qua nhiều nghiên cứu về lúa cạn cho thấy, lúa cạn được hình thành từ lúa tiên, phát triển theo hướng chín sớm, có khả năng chống chịu tốt với hạn, nhất là hạn cuối vụ mùa, chống chịu sâu bệnh và chịu đất nghèo dinh dưỡng, thích nghi cao với điều kiện sinh thái khó khăn
Vai trò của lúa cạn ngày càng được quan tâm, việc nghiên cứu và đưa vào sản xuất những giống lúa cạn có khả năng thích ứng nhịp nhàng trong từng điều kiện cụ thể, phù hợp với điều kiện canh tác của từng địa phương là việc làm cần thiết và mang lại hiệu quả cao
1.2 Giới thiệu chung về cây lúa cạn
1.2.1 Khái niệm về lúa cạn
Nghiên cứu của Đinh Dĩnh (1961) [2], cho rằng nguồn gốc lúa cạn là do
từ lúa nước, trong quá trình sống của mình đã chuyển từ dưới nước lên cạn do yêu cầu của con người Tuy lúa là cây trồng thích ứng rộng nhưng ở mỗi vùng sinh thái khác nhau thì năng suất cũng khác biệt do khả năng cung cấp nước,
Trang 15dinh dưỡng,… khác nhau Lúa cạn sống ở những nơi khó khăn, không có nguồn nước tưới, hoàn toàn dựa vào nước trời trên những chân đất nương bãi, ruộng bậc thang hoặc những mặt bằng với độ dốc khác nhau từ 0-400.
Cũng theo Nguyễn Thị Lẫm (2003) [12], thì lúa cạn được chia thành hai loại: Lúa cạn cổ truyền: được nông dân Tây Bắc, Việt Bắc,… canh tác lâu đời trên nương rẫy theo dạng định canh hoặc du canh Năng suất lúa canh tác theo hình thức này không ổn định, giảm theo độ phì đất
Theo Garrity D.P (1984) [35], lúa cạn được coi là lúa trồng trong mùa mưa trên đất cao, đất thoát nước tự nhiên, trên những chân ruộng được đắp
bờ hoặc không có bờ và không có lượng nước dự trữ thường xuyên trên bề mặt Lúa cạn được hình thành từ lúa nước, nhờ quá trình thích ứng với những vùng trồng lúa thường gặp hạn mà suất hiện các biến dị chịu hạn ngày càng cao.Vì vậy giống lúa cạn có khả năng sinh trưởng bình thường khi ở ruộng nước
Theo Huke R.E (1982) [39], dùng thuật ngữ “Lúa khô” (dryland rice) thay cho lúa cạn (upland rice) và định nghĩa: “Lúa cạn được trồng trong những thửa ruộng được chuẩn bị đất và gieo hạt dưới điều kiện khô, cây lúa sống phụ thuộc hoàn toàn vào nước trời”
Theo định nghĩa tại Hội thảo nghiên cứu lúa cạn ở Bonake (1982), Bờ Biển Ngà : “Lúa cạn được trồng trên đất thoát nước, không có sự tích trữ nước trên bề mặt, không được cung cấp nước và không đắp bờ, chỉ được tưới nhờ mưa tự nhiên”
Theo Nguyễn Gia Quốc (1994) [17], chia lúa cạn thành 2 dạng:
- Lúa cạn thực sự hay còn gọi là lúa nương (rẫy), là loại trồng trên các triền dốc của đồi núi, không có bờ ngăn nước, luôn không có nước ở chân, cây lúa sống nhờ nước trời
Trang 16- Lúa cạn không hoàn toàn hay lúa nước trời là loại lúa trồng ở triền thấp không có hệ thống tưới tiêu chủ động, cây sống hoàn toàn bằng lượng nước mưa tại chỗ, có thể có nước dự trữ trên bề mặt ruộng và cung cấp nước cho cây lúa vào một thời điểm nào đó
Lúa không chủ động nước hoặc sống nhờ nước trời: loại này được phân bố trên nương bằng, chân đồi, soi bãi có độ dốc nhỏ hơn 50, có đắp bờ hoặc không đắp
bờ, hoặc trên ruộng bậc thang đã được gia cố, nhưng cũng dễ bị mất nước sau khi mưa một thời gian ngắn Những giống lúa cạn gieo trên chân ruộng này là những giống lúa cạn mới lai tạo, có khả năng chịu hạn trong những giai đoạn nhất định, hiệu suất sử dụng nước cao Những giống lúa cạn khác với lúa nước
ở khả năng lấy nước một cách tích cực trong điều kiện thiếu nước nhờ những đặc điểm quý như bộ rễ phát triển mạnh, rễ to mập, ăn sâu, phần vỏ rễ dầy,… Những giống lúa cạn là những giống khi bị hạn ở một số giai đoạn sinh trưởng nhất định không làm ảnh hưởng nhiều đến năng suất và khi gặp khô hạn trong quá trình sinh sống thì mức độ giảm năng suất ít hơn nhiều so với những giống lúa nước cũng ở điều kiện đó.Còn khi gặp đìều kiện có nước, được thâm canh
đầy đủ thì năng suất khá hơn
1.2.2 Những đặc điểm sinh trưởng của lúa cạn
Về đặc điển hình thái: Lúa cạn hầu hết được trồng trong những khu vực
có điều kiện khó khăn về nước, nơi mà các giống lúa cải tiến năng suất cao thường khó phát triển, vì vậy hiện nay hầu hết các giống lúa cạn vẫn là giống địa phương được người dân tự lưu giữ qua nhiều năm Hầu hết các đặc điểm hình thái của lúa cạn là sự thích nghi với điều kiện sinh trưởng trong môi trường thiếu nước và có nhiều cỏ dại Trong đó, khả năng phát triển mạnh của bộ rễ cũng như thân cây to và dày sẽ thuận lợi cho khả năng huy động nước trong điều kiện hạn Thân cao và lá dài phù hợp cho việc phát triển và cạnh tranh với
cỏ dại Trong hơn 1000 giống lúa lai lưu trữ tại IRRI đã được nghiên cứu cho
Trang 17thấy, phần lớn các giống lúa cạn đều có đặc điểm trung là cao cây, chiều cao
có thể từ 100 cm - 180 cm, khả năng đẻ nhánh ít, trung bình chỉ 3 - 5 nhánh/khóm Thân cây lúa cạn lớn hơn lúa nước, lá dài và nhỏ, đặc biệt lúa cạn
có hệ rễ ăn sâu hơn lúa nước, lúa cạn thường có kích thước hạt lớn, nhiều giống
có râu hạt rất dài (IRRI, 1975) Các nghiên cứu về đặc điểm các giống lúa cạn
Philippines, Nhật Bản, Brazil, Peru cũng có kết quả tương tự Chang et al (1972)
[27]
Ở Việt Nam, nghiên cứu của tác giả Nguyễn Đức Thạnh (2000) [35] cho thấy, lúa cạn vùng Cao Bằng, Bắc Kạn hầu hết là lúa địa phương, có thời gian sinh trưởng từ 120 - 150 ngày, khả năng đẻ nhánh ít, tỷ lệ nhánh hữu hiệu từ 28,58 - 62,1%, chiều cao cây từ 109,5 - 145,5 cm, và hầu hết các giống đều có khả năng chịu hạn tốt
Về sinh trưởng, do sinh trưởng trong điều kiện đất cạn, nên lúa cạn sinh trưởng chậm, diện tích lá ít hơn so với lúa nước, tỷ lệ nhánh hữu hiệu thấp, thời gian trỗ chậm hơn và kéo dài hơn lúa nước Do đó lúa cạn tạo ra ít chất khô hơn
và năng suất hạt thấp hơn Về thời gian sinh trưởng, hầu hết các giống lúa cạn
có thời gian sinh trưởng từ trung bình đến dài ngày
1.2.3 Phản ứng của cây lúa đối với các điều kiện hạn khác nhau
Lúa là cây trồng rất mẫn cảm với hạn do hệ thống rễ nhỏ, khí khổng rất nhạy cảm và lá nhanh bị già hóa khi gặp hạn Hirasawa (1999) [41] Lúa cũng như các cây trồng khác có thể kháng hạn theo 3 cơ chế khác nhau là: Trốn hạn, tránh hạn và chịu hạn Trốn hạn là hình thức phát triển nhanh chóng trong thời gian có lượng nước dồi dào và kết quả là cây hoàn thành chu kỳ sống hoặc hoàn thành sinh trưởng giai đoạn cần nước trước khi bị Tránh hạn là khả năng phát triển rễ mạnh, có khả năng hút nước từ các lớp đất sâu hoặc giảm thoát nước
mà không ảnh hưởng đến sản lượng Cơ chế điều chỉnh thẩm thấu mà theo đó làm tăng sức trương của tế bào trong điều kiện thiếu nước được coi là cơ chế
Trang 18chịu hạn Khả năng chịu hạn hình thành khi hạn xuất hiện được gọi là cơ chế thích nghi Khi hạn xảy ra ở đầu vụ hoặc cuối vụ và có thể dự đoán được thì việc lựa chọn cơ chế trốn hạn với các giống ngắn ngày là một lợi thế Khi hạn xảy ra bất thường và không thể dự đoán được thì cơ chế chống hạn và chịu hạn
là quan trọng
Có rất nhiều nghiên cứu khác nhau về quá trình, cơ chế và các tình trạng
quyết định năng suất lúa trong điều kiện nước tưới hạn chế Fischer et al., (2003)
[33] đã tóm tắt lại ở 3 thành phần lớn ảnh hưởng đến năng suất lúa khi gặp hạn là: (1) Mức độ nghiêm trọng của hạn và khả năng dự đoán hạn của môi trường mục tiêu, (2) Tiềm năng năng suất, (3) Hình thức tránh hạn và chịu hạn Mối quan hệ giữa 3 thành phần này với các điều kiện hạn khác nhau được trình bày trong hình 1.1
Tính nghiêm trọng của hạn
Hình 1.1: Sơ đồ của 3 thành phần dưới điều kiện môi trường hạn (tiềm năng năng suất, hình thức trốn hạn và tình trạng chịu hạn) và mối quan hệ
giữa năng suất và các hình thức hạn khác nhau ở lúa
Theo sơ đồ hình 1.1, khi cây lúa không gặp hạn, tiềm năng năng suất quyết định năng suất hạt Từ bên trái sang bên phải của sơ đồ, hạn có xu hướng nghiêm trọng hơn, khi đó trốn hạn hoặc chịu hạn trở thành quan trọng Nếu
Không dự đoán được
Có thể dự đoán được Tiềm năng năng suất Năng suất
Tính trạng chịu hạn
Trốn hạn
Trang 19theo chiều đứng từ dưới lên, hạn có thể dự đoán được thì kiểu hình chín sớm hoặc thời gian gieo trồng là lựa chọn tốt (trốn hạn), nhưng hạn không dự đoán được thì tính trạng chịu hạn là lựa chọn duy nhất Khi hạn ở mức trung bình, năng suất giảm 50% thì tiềm năng năng suất là một cơ chế quan trọng Hạn ở mức nghiêm trọng hơn, yêu cầu cơ chế chống chịu hạn, nếu hạn nghiêm trọng nhưng có thể dự đoán được và ở giai đoạn sinh trưởng cuối thì cơ chế trốn hạn
là hiệu quả với các giống chín sớm Hạn xảy ra ở giữa vụ và không theo quy luật thì yêu cầu cơ chế chống chịu hạn
Khi nghiên cứu về tác hại của hạn với cây lúa, Fischer et al (2003) [33]
đã phân ra các thời điểm hạn ảnh hưởng đến từng giai đoạn phát triển khác nhau của cây lúa cũng như phản ứng của cây lúa với hạn như sau:
- Hạn đầu vụ:
Trong giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng, số lượng nước sử dụng tương ứng với lượng thoát hơi nước và sản phẩm chất khô tạo ra Diện tích lá phát triển nhanh hơn do tăng cả số nhánh và số lá Thoát hơi nước và sử dụng nước nhanh hơn, khi lúa khép tán, thoát hơi nước xác định chủ yếu bằng độ dẫn nước thông qua khí khổng, khi khí khổng đóng độ thoát hơi nước thông qua lớp cutin của lá Khi khí khổng mở cả hai quá trình quang tổng hợp và thoát hơi nước đều ở mức cao Tại một số giai đoạn sinh trưởng, khi độ ẩm đất bắt đầu giảm thì phản ứng hiệu quả nhất của cây là đóng khí khổng để giảm thoát hơi nước, điều này làm giảm sinh trưởng của cây Sự sinh trưởng của lá và kéo dài thân rất nhạy cảm với tình trạng nước, các quá trình này sẽ bị ảnh hưởng nếu hạn xảy ra ở đầu thời kỳ sinh trưởng Hầu hết các cây trồng, quá trình trao đổi không
bị ảnh hưởng đến khi đất có độ ẩm khoảng 30%, nhưng ở lúa giảm sinh trưởng bắt đầu khi độ ẩm đất 70%, điều này chỉ ra rằng lúa rất mẫn cảm với hạn Một biệu hiện khi đất giảm độ ẩm là lá lúa cuộn lại để giảm bức xạ mặt trời lên mặt
lá và giảm thoát hơi nước, cuốn lá là hình thức biểu hiện đơn giản của sự héo
Trang 20Nếu hạn xảy ra khi lúa bắt đầu đẻ nhánh, khả năng chịu hạn dựa trên diện tích
lá còn xanh và khả năng của chúng sau khi hạn, điều này được chứng minh bằng khả năng khác nhau của các giống lúa tại giai đoạn đầu sinh trưởng của cây Nhìn chung sự khô hạn giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng có thể giảm nhẹ hơn về năng suất so với khô hạn vào lúc cuối vụ bởi vì sự phục hồi ở giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng tốt hơn
- Hạn giữa vụ không liên tục:
Đó là sự khô hạn gián đoạn, là sự kiện khô hạn diễn ra đan xen giữa những trận mưa Mặc dù thời gian hạn diễn ra ngắn nhưng những thời kỳ không mưa có thể được lặp lại Hầu hết các nghiên cứu đều cho thấy khả năng kết hạt rất mẫn cảm với tình trạng nước Khi hạn không liên tục xảy ra xung quanh thời điểm trỗ, số hạt/bông và cuối cùng là năng suất hạt bị ảnh hưởng rõ rệt Thời gian trỗ thường bị trì hoãn 2 – 3 tuần dưới điều kiện hạn, trong một số trường hợp không hình thành hạt Sự trỗ thoát liên quan đến sức trương và trì
hoãn trỗ tương quan nghịch với tiềm năng nước của cây Pantuwan et al (2002b)
[45].
- Hạn cuối vụ:
Khi hạn cuối vụ xảy ra tất cả nước hữu hiệu ở vùng rễ được sử dụng cho thoát hơi nước, lá lúa đang ở giai đoạn già hóa, bị héo liên tục và tàn sớm Năng suất lúa phụ thuộc và việc tránh ảnh hưởng của hạn xung quanh thời điểm mẫn cảm là thời gian trỗ Ngoài ra năng suất còn phụ thuộc vào khả năng sử dụng nước ở các tầng đất khác nhau của cây lúa Khi hạn cuối vụ xảy ra, khả năng hút nước của bộ rễ và hiệu quả sử dụng nước quyết định sản phẩm chất khô tạo
ra (năng suất hạt), cũng như các cây trồng khác, khả năng hút nước phụ thuộc
và chiều dài rễ và mật độ rễ Những giống chịu hạn tốt có khả năng duy trì hút nước hoặc giữ nước nhiều hơn trong thời kỳ chắc hạt và cũng duy trì bộ lá xanh dài hơn, khô lá xảy ra ít hơn, các lá mát hơn do thoát hơi nước và năng suất cao
Trang 21hơn Các giống chịu hạn kém lá bị khô héo nhanh, tàn sớm, không có khả năng quang hợp tạo chất khô, hạt lép nhiều và năng suất thấp
1.2.4 Đặc điểm hình thái, giải phẫu liên quan đến khả năng chịu hạn của cây lúa
Đặc điểm quan trọng nhất liên quan đến tính chịu hạn của cây lúa và được nhiều nhà khoa học nghiên cứu nhất đó là đặc điểm của bộ rễ lúa So sánh
hệ thống rễ lúa với các cây trồng khác cho thấy, rễ lúa rất kém thích nghi với điều kiện hạn Lúa và kê có thể lấy được nước như nhau ở tầng đất 60cm trên
bề mặt, nhưng ở tầng đất sâu hơn thì khả năng lấy nước của rễ lúa kém hơn kê rất nhiều Người ta đã chứng minh rằng một hệ rễ ăn sâu hơn cho phép lúa cạn hút được nhiều nước và kết quả là cho năng suất cao hơn trong điều kiện hạn
Độ sâu của rễ có mối tương quan thuận vừa phải với năng suất dưới điều kiện hạn ở lúa vùng đất thấp Sự tương quan này chưa được báo cáo đối với lúa cạn, nhưng được dự kiến là cao hơn Những giống lúa có tỷ lệ khối lượng rễ trên khối lượng thân lá cao tỏ ra có khả năng chịu hạn tốt hơn lúa cạn Hiện nay các nhà khoa học đã xác định được QTL liên quan đến phát triển chiều sâu của bộ
rễ, đường kính rễ, khối lượng rễ khô, từ đó thiết kế những Marker phân tử tương ứng phục vụ chọn lọc
Khả năng đâm xuyên của rễ cũng được đề xuất là một phương pháp đánh giá khả năng phát triển của rễ xuống các tầng đất sâu và cứng, điều này giúp lúa khai thác được nước tốt hơn Nhiều tác giả đã kết luận rằng, khả năng thâm nhập qua các lớp đất cứng của rễ lúa cạn tốt hơn rễ lúa nước Các nhà nghiên cứu đã phân tích được QTLs liên quan đến tỷ lệ rễ thâm nhập của rễ lúa cạn qua các vật cứng Khả năng thâm nhập của rễ lúa cạn qua các vật cứng có liên quan đến đường kính rễ, chiều dài rễ và khối lượng rễ khô Giống có nhiều rễ thâm nhập qua vật cứng thì có khả năng chịu hạn tốt và cho năng suất cao hơn Khi phân tích về mặt di truyền, tác giả cũng tìm thấy QTLs liên quan đến tỷ lệ
Trang 22rễ thâm nhập qua vật rắn nằm ở nhiễm sắc thể số 1, đường kính rễ, chiều dài rễ
và khối lượng khô của rễ nằm trên nhiễm sắc thể số 3 Nghiên cứu đặc điểm rễ của các giống lúa kháng hạn cho thấy, chúng có lớp vỏ rễ dày hơn, mô khí nhiều hơn, mạch dẫn lớn hơn, nhu mô liên kết chặt chẽ và khoảng không bào ít hơn
so với các giống mẫn cảm
Về các đặc điểm thân lá, Chang et al (1972) [27] cho biết, ở hầu hết các giống lúa cạn địa phương thường có thân to và dày, bị già cỗi nhanh chóng khi lúa chín nên chúng dễ đổ ngã vào giai đoạn chín Chiều cao của các giống lúa cạn dao động từ 80cm đến 175cm Các giống lúa cạn ở Philippines nhìn chung cao trên 150 cm khi trồng trong điều kiện ruộng cạn Chiều cao của các giống lúa cạn chỉ có tác dụng lấn át cỏ dại, không có tài liệu nào nghiên cứu mối liên
hệ về chiều cao cây và khả năng chịu hạn của lúa cạn Các giống lúa cạn thường
đẻ nhánh ít hơn sơ với lúa nước, khả năng đẻ nhánh biến động của các giống lúa cạn làm hạn chế năng suất của chúng ngay trong điều kiện canh tác phù hợp
Khả năng cuốn lá khi bị hạn là một đặc điểm giúp cây lúa giảm bớt sự thoát hơi nước khi gặp hạn Cuốn lá xảy ra khi mất sức trương tế bào và lá héo, quan sát rất rõ triệu chứng này khi cây thiếu hụt nước Nhìn chung những giống không biểu hiện cuốn lá cho biết tình trạng nước trong cây của giống đó tốt hơn, có thể do độ sâu của rễ tốt cho phép nó tiếp tục hút nước hiệu quả để duy trì sức trương của tế bào Cuốn lá có thể phản ánh nhiều cơ chế khác, nó không tương quan chung với năng suất dưới điều kiện hạn, nhưng có thể sử dụng để
đánh giá so với đối chứng để biết khi nào cây thiếu hụt nước Fischer et al.,(2003) [33]
Tỷ lệ đậu hạt cũng là một đặc điểm quan trọng được nghiên cứu Khi hạn xảy ra gần thời điểm ra hoa (giai đoạn sinh trưởng mẫn cảm nhất) sẽ ảnh hưởng đến yếu tố hình thành năng suất, chủ yếu là tỷ lệ đậu hạt Tương quan di truyền
Trang 23giữa năng suất dưới điều kiện hạn và tính trạng này là rất cao Hệ số di truyền
tỷ lệ đậu hạt là nhỏ hơn hệ số di truyền năng suất hạt Tính trạng kết hạt khi gặp hạn tại thời điểm ra hoa là khá đặc thù Và tính trạng này cho thấy rõ thông tin
về phản ứng của kiều gen với điều kiện bất thuận hơn là tính trạng năng suất,
vì năng suất là do tổ hợp của nhiều tính trạng và ảnh hưởng của cả quá trình
sinh trưởng phát triển chứ không chỉ là hạn tại thời điểm ra hoa Fischer et al.,(
2003) [33]
Lá lúa có thể mất sức trương hoặc chết mô (biểu hiện lá khô) do quá mất nước hoặc do nóng khi nhiệt độ lá tăng mất cân bằng với thoát hơi nước làm mát lá Sự mất nước ở những lá tầng thấp nhiều hơn những lá tầng cao, những
lá thấp có xu hướng tàn lá trước những lá trên cao Sự tàn lá có thể xảy ra không đồng nhất trong toàn bộ lá trừ trường hợp bất thuận gay gắt Biểu hiện điển hình là bắt đầu khô từ đầu lá nơi có sự thiếu hụt nước lớn hơn phần lá gần thân lúa Độ khô lá có tương quan chặt với năng suất dưới điều kiện bất thuận vì vậy cũng được các nhà khoa học lựa chọn là một chỉ tiêu đánh giá khả năng chịu
hạn Fischer et al.,(2003) [33]
Các nghiên cứu và cho rằng sức đề kháng thoát nước qua cutin của lá lúa thấp, lúa dễ mất nước ngay cả khi khí khổng được đóng lại Nhiều thí nghiệm
đã chứng minh rằng các giống lúa với một lớp biểu bì dày giữ sức trương của
lá trong thời gian dài hơn khi bị hạn, tuy nhiên ảnh hưởng đến sản lượng chưa được điều tra kỹ lưỡng Một lớp sáp dày cũng có thể phản chiếu ánh sáng mặt trời ra khỏi lá, do đó ngăn cản tăng nhiệt độ ở lá mà không đòi hỏi thoát nước
Có một sự khác biệt lớn về cấu trúc và độ dày lớp biểu bì giữa các giống lúa và đặc điểm này có hệ số di truyền cao (h = 0,77)
Trang 241.3 Tình hình sản xuất và nghiên cứu lúa cạn trong nước và trên thế giới
1.3.1 Tình hình sản xuất và nghiên cứu lúa cạn trên thế giới
1.3.1.1 Tình hình sản xuất lúa cạn trên thế giới
Lúa cạn chiếm tỷ trọng không lớn so với diện tích lúa thế giới Năm 1974
là 22,7 triệu ha Hiện nay trên toàn thế giới có khoảng 150 triệu ha trồng lúa cung cấp trên 600 triệu tấn thóc mỗi năm, trong đó vùng trồng lúa được tưới thường xuyên vào khoảng 79 triệu ha (chiếm 52,7 %), diện tích trồng lúa bị hạn
là 54 triệu ha (chiếm 36%), diện tích đất dốc được tưới tràn là 11 triệu ha (chiếm 7,33%) và diện tích lúa cạn là 14 triệu ha (chiếm 9,33%)
Diện tích lúa cạn phân bố không đều, tập trung chủ yếu ở Châu Á, Châu
Mỹ La Tinh và Châu phi.Năng suất lúa cạn trên thế giới còn thấp, bình quân đạt 1 tấn/ha Những vùng thuận lợi ở Châu Mỹ Latinh có thể đạt 2,5 tấn/ha
Bảng 1.1 Tình hình sản xuất lúa cạn trên thế giới Châu lục trên thế giới Diện tích (1000 ha) Sản lượng (nghìn tấn)
(Nguồn: FAO STAT năm 2014)
Trong từng khu vực, diện tích gieo trồng lúa cạn ở các nước cũng khác nhau.Những nước trồng nhiều như Ấn Độ, Brazil, Indonesia, Bangladesh Về
tỷ lệ diện tích lúa cạn so với lúa nước ở từng quốc gia cũng khác nhau, có những nước trồng 100% diện tích lúa cạn như Liberia, Togo (96%), Venezuela (90%),…
Trang 25Ở Châu Á khoảng 50% đất trồng lúa là canh tác nhờ nước trời, mặc dù năng suất lúa ở những vùng có tưới đã tăng gấp 2 đến 3 lần so với 30 năm trước đây, nhưng ở vùng canh tác nhờ nước trời năng suất tăng lên ở mức rất nhỏ, bởi vì những vùng này sử dụng giống lúa cải tiến rất khó khăn do môi trường không đồng nhất và biến động Một phần bởi vì có rất ít giống chịu hạn
Năng suất lúa bị thiệt hại do hạn hán là khá cao ở phía Đông Bắc Thái Lan, phía đông Ấn Độ, Bangladesh và Indonesia, năng suất giảm ước tính từ 13% -35%
Tại Indonesia, sản lượng lúa cạn đã tăng lên từ khoảng 2tấn/ha vào năm
1995 lên khoảng 3 tấn/ha vào năm 2003 nhờ sử dụng giống cải tiến MR-6-0-0
B6144F-1.3.1.2 Tình hình nghiên cứu lúa cạn trên thế giới
* Nghiên cứu về chọn tạo giống lúa chịu hạn
Tác giả Gupta và O’ Toole (1986)[35], đã đưa ra các tiêu chuẩn của giống lúa chịu hạn:
+ Năng suất cao và ổn định
+ Có nhiều dạng hình phong phú
+ Chiều cao cây từ 110 – 130 cm
+ Tính thích nghi cao
+ Khả năng đẻ nhánh khá và chống đổ tốt
+ Chuyển từ dạng bông to sang dạng nhiều bông
+ Khi gặp điều kiện thuận lợi vẫn cho năng suất cao
+ Có bộ rễ khoẻ, dày và ăn sâu
+ Mọc khoẻ, có khả năng cạnh tranh với cỏ dại
+ Chín tập trung, tỷ lệ lép thấp
Trang 26+ Chịu hạn tốt, chịu đạm trung bình
+ Chống chịu tốt với bệnh đạo ôn, khô vằn và đốm nâu
+ Chống chịu rầy nâu và sâu đục thân
+ Chịu được loại đất nghèo dinh dưỡng, thiếu lân, thừa nhôm và chua Năng suất hạt dưới điều kiện hạn là tính trạng cơ bản để chọn lọc trong chương trình tạo giống cho môi trường hạn, nhưng đôi khi những tính trạng gián tiếp cũng rất hữu ích cho chọn lọc Tính trạng gián tiếp là những đặc điểm của cây trồng liên kết với năng suất dưới điều kiện bất thuận, chúng cung cấp những thông tin bổ sung cho nhà tạo giống sử dụng khi chọn lọc
Chiến lược chọn tạo giống chống chịu khô hạn ở Thái Lan được xác định như sau: (1) Xác định những tính trạng thành phần có liên quan đến khả năng chịu hạn, (2) tạo ra các bộ giống đa dạng thích nghi với điều kiện dễ xảy ra hạn hán, (3) phát triển các lĩnh vực kỹ thuật cho việc sàng lọc giống lúa chịu hạn hán, (4) phát triển việc lập bản đồ cho xác định các marker phân tử liên quan chặt chẽ đến các gen kiểm soát chịu hạn, (5) hỗ trợ chương trình lựa chọn một điểm đánh dấu
Theo nguồn tin từ IRRI cho biết họ đã lai tạo ra giống lúa mới thế hệ đầu tiên có tên là "Aerobic rice" (lúa hảo khí).Aerobic rice có thể sinh trưởng ở các vùng đất khô như các giống ngô, thay vì các cánh đồng ngập nước như truyền thống.Giống mới này là kết quả lai tạo từ giống lúa cao sản mới với giống lúa truyền thống có khả năng chịu hạn, năng suất thấp Một số dòng thuộc giống lúa mới này hiện đang được trồng thử nghiệm tại những khu vực thường bị hạn hán ở miền Nam châu Á Các nhà khoa học của IRRI đã tạo ra hơn 40.000 giống lúa mới Các nghiên cứu của IRRI cho thấy nhiều giống lúa mới không chỉ cho ra năng suất cao trong các điều kiện tốt mà còn có thể cho 2 -3 tấn/ha trong các điều kiện khô hạn.Trong khi đó, các giống phổ thông khác chỉ cho năng suất khoảng 1 tấn/ha.Các giống lúa truyền thống đòi hỏi rất nhiều nước trong suốt thời gian phát
Trang 27triển và sinh sản.Nếu quá khô hạn, cây lúa sẽ giảm sản xuất Gibberllin, một hooccmôn kích thích ra hoa và sẽ làm giảm năng suất của lúa Do đó, nhằm giúp cây lúa chống chịu được hạn hán, các nhà khoa học ở IRRI đã sử dụng phương pháp gọi là "cô lập biến dạng" (detection mutants) để loại bỏ các gen dẫn đến giảm năng suất cây lúa
Các nhà khoa học đã nghiên cứu và đưa ra một số tính trạng gián tiếp để giúp nhận biết kiểu gen chịu hạn như ngày ra hoa/chín (phụ thuộc vào khoảng thời gian hạn, nhưng có hệ số di truyền cao đến 0,9), tỷ lệ đậu hạt (tương quan chặt với năng suất khi hạn xảy ra tại thời gian ra hoa và có hệ số di truyền trung bình 0,6), độ tàn lá (không có tương quan hoặc tương quan không chặt với năng suất, hệ số di truyền trung bình, 0,7), nhiệt độ tán lá (không có tương quan hoặc tương quan chặt với năng suất nếu hạn tối đa xảy ra gần thời điểm ra hoa, hệ số
di truyền trung bình 0,7)
Trong những năm gần đây, với sự phát triển không ngừng của công nghệ sinh học cùng với sự ra đời của các chỉ thị phân tử đặc biệt là ở lúa, các nhà khoa học đã thiết lập được một số bản đồ phân tử cho các tính trạng số lượng như chịu hạn, chịu úng, chịu phèn Đối với đặc tính chống chịu hạn bằng sử dụng chỉ thị phân tử như SSR, AFLP, RFLP, SNP các QTL kháng hạn đã được định vị ở nhiều loại cây trồng khác nhau cũng như cây lúa
1.3.2 Tình hình sản xuất và nghiên cứu lúa cạn ở Việt Nam
1.3.2.1 Tình hình sản xuất lúa cạn ở Việt Nam
Mặc dù năng suất thấp nhưng cây lúa cạn vẫn được duy trì vì: cây lúa cạn vẫn còn quan trọng trong việc đóng góp lương thực tại chỗ cho các vùng sâu vùng xa Việc vận chuyển lương thực ở nơi khác đến rất khó khăn, nên ở những vùng này người nông dân chủ yếu tự cung tự cấp lương thực, thực phẩm.Bên cạnh đó cây lúa cạn có ưu thế trong việc sử dụng tốt nhất lượng nước trời
Trang 28Tuy nhiên việc trồng lúa cạn còn nhiều hạn chế do:
- Hoàn toàn phụ thuộc vào thiên nhiên: lượng mưa và tần suất mưa là các yếu tố quyết định cho năng suất của cây lúa do vậy nếu năm nào mưa thuận gió hoà thì sẽ có năng suất cao, năm nào bất lợi sẽ ảnh hưởng đến năng suất Các đợt hạn vào giai đoạn sinh trưởng sinh thực sẽ gây ảnh hưởng lớn, đặc biệt là vào giai đoạn làm đòng và trỗ
- Giống lúa dài ngày, lẫn tạp nhiều: Tuy có rất nhiều giống nhưng hầu hết là giống dài ngày, nên chỉ trồng 1vụ trong năm
- Trình độ thâm canh thấp: đa số đồng bào dân tộc không đầu tư khi canh tác lúa cạn, đặc biệt đầu tư phân bón, phòng trừ cỏ dại, kỹ thuật canh tác đơn giản
- Rất ít sử dụng thuốc bảo vệ thực vật đặc biệt là thuốc trừ cỏ
Do tình trạng xói mòn rửa trôi nên năng suất cây trồng trên đất dốc thường thấp, không ổn định và giảm nhanh theo thời gian Theo tính toán của Viện khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc từ năm 2003-2005 thì năng suất lúa nương giảm từ 10 đến 12 %/năm.Lúa nương đóng vai trò rất quan trọng trong việc ổn định lương thực cho đồng bào thiểu số miền núi, đặc biệt là ở các huyện vùng cao, vùng sâu, vùng xa của cả nước Toàn vùng trung
du miền núi phía Bắc có 983.401 ha đất trồng cây hàng năm thì đất nương rẫy chiếm 365.660 ha (37%), trong đó lúa nương chiếm khoảng 28,5% hay bằng 104.200 ha Đến nay, việc nghiên cứu chọn tạo và phát triển sản xuất lúa cạn đang là một khoảng trống và ít được quan tâm
1.3.2.2 Tình hình nghiên cứu lúa cạn ở Việt Nam
Lúa cạn ở Việt Nam được trồng tại 3 miền Bắc, Trung, Nam Theo số liệu thống kê năm 1987 diện tích gieo trồng lúa cạn của cả nước là 0,537 triệu
ha Đến năm 1994 diện tích giảm xuống còn 0,4-0,45 triệu ha, chiếm khoảng 7-8% diện tích trồng lúa trong cả nước, tập trung chủ yếu ở những vùng khó
Trang 29khăn nhất là về đường xá để vận chuyển hàng hóa và cung ứng lương thực thực phẩm Tổng sản lượng hàng năm vào khoảng 500,000 tấn theo N.H hong, NG, Quoc and V, T Xuan(1996) [38]
Theo Nguyễn Thị Lẫm và cs (2003) [35], ngoài diện tích trồng lúa cạn nêu trên, ở Việt Nam còn khoảng 1,5 triệu ha đất không chủ động nước Những diện tích này đòi hỏi cần có bộ giống phù hợp để có thể thâm canh đạt năng suất cao, đồng thời cần có các biện pháp kỹ thuật tiên tiến để xóa bỏ phương thức trồng lạc hậu “đốt rẫy làm nương”
Theo Nguyễn Thị Lẫm (1999) [13], lúa cạn ở Việt Nam gồm hai loại :
Lúa cạn cổ truyền: Được nông dân Tây Bắc, Việt Bắc, Tây Nguyên canh tác
lâu đời trên nương rẫy theo dạng nương định canh hoặc du canh Ở những nơi có
độ dốc lớn, lợi dụng độ phì tự nhiên của đất để canh tác lúa cạn một vài vụ
Lúa không chủ động nước hoặc sống nhờ nước trời: Loại này phân bố
trên những nương bằng, chân đồi, soi bãi có độ dốc nhỏ hơn 50, có đắp bờ hoặc không có bờ, hoặc trên ruộng bậc thang đã được gia cố bờ chắc chắn sẽ giúp lúa sống nhờ nước mưa, nhưng cũng dễ bị mất nước sau một thời gian ngắn
Ở Việt Nam lúa cạn chiếm tỷ lệ lớn ở các tỉnh miền núi: Lai Châu chiếm
tỷ lệ 52,83%, Sơn La 48,38%, Gia Lai 38,6%, Kon Tum 21,2%, Lào Cai 27,08%, Đắc Lắc 17,5% so với diện tích trồng lúa
* Sự phân bố các vùng trồng lúa cạn ở Việt Nam
Ở nước ta, lúa cạn được trồng ở các vùng sau:
+ Vùng Cao nguyên có độ cao so với mặt biển từ 400-1.000m: Cao nguyên đất đỏ bazan tốt, tầng canh tác dầy, mặt đất gợn sóng nhẹ hoặc tương đối bằng phẳng như cao nguyên Kontum - Pleiku, cao nguyên Đaklak, cao nguyên Lang Biang, Diện tích vùng này vào khoảng 128.000 ha
+ Vùng Đông Nam Bộ: Là vùng tiếp giáp giữa cao nguyên và đồng bằng
Trang 30có độ cao dưới 300m so với mặt biển, gồm vùng đất đỏ tương đối rộng từ Sông
Bé đến Đồng Nai và vùng đất xám phù xa cổ tạo nên, Diện tích lúa cạn là 23.000 ha
+ Vùng Duyên hải Trung bộ: Kéo dài từ Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế đến Ninh Thuận, Bình Thuận… Diện tích trồng lúa cạn là 77.000 ha
+ Ngoài ra còn một số tỉnh của Đồng bằng sông Cửu Long như: Sóc Trăng, Trà Vinh, Long An, An Giang… với diện tích nhỏ (khoảng 2.000 ha)
+ Vùng Trung du và miền núi phía Bắc gồm các tỉnh: Thái Nguyên, Bắc Kạn, Cao Bằng, Lạng Sơn, Yên Bái, Lào Cai, Sơn La, Lai Châu, Hà Giang, Tuyên Quang, Hòa Bình… diện tích 210.000 ha
Sản suất lúa cạn ở miền núi phía bắc chủ yếu dưới dạng nương rẫy, kỹ thuật thô sơ (chọc lỗ bỏ hạt) với hình thức du canh và định canh Đối với nương rẫy có độ dốc lớn, do tập quán từ lâu đời, độ phì tự nhiên để quảng canh, canh tác cạn, gieo trồng một vài vụ rồi bỏ hóa Khi độ phì tự nhiên đã hết thì bỏ hóa
và chuyển đi nơi khác, tiếp tục chặt phá rừng, phát rẫy làm nương trồng lúa, vì vậy năng suất thấp và giảm dần qua các năm Do nhu cầu lương thực của người dân mà diện tích rừng bị chặt phá ngày càng nhiều Mất rừng làm nghèo kiệt nguồn nước, khí hậu thay đổi, hạn hán, lũ lụt xảy ra nhiều, làm cho cuộc sống của người dân ngày càng trở nên khó khăn hơn… hình thức trồng lúa rẫy du canh, năng suất không những thấp mà còn gây tác hại lớn Việc đốt rừng làm nghèo đất nhanh chóng và hủy hoại môi trường sinh thái
Hiện nay, trên các nương rẫy trồng lúa định canh, đồng bào đã chú ý các biện pháp chống xói mòn, bảo vệ đất, bảo vệ cây trồng bằng các công thức luân canh cây lúa với các loại cây trồng khác
Ngoài lúa nương rẫy, còn có một số diện tích khá lớn đất trồng lúa không chủ động nước Diện tích này ở các tỉnh miền núi phía Bắc chiếm khoảng 200.000 ha
Trang 31Ở nước ta hình thức trồng lúa cạn tồn tại từ lâu đời đã cung cấp một lượng lương thực lớn cho nhân dân vùng cao, như vùng Tây Bắc (212,8 nghìn tấn lúa, chiếm 66,62% sản lượng - theo số liệu sản suất lương thực Tây Bắc năm 1989)
Việc nghiên cứu quy trình kỹ thuật để gieo trồng lúa cạn đạt năng suất cao và ổn định cho đến nay vẫn còn hạn chế, vì phần lớn người dân còn dùng giống địa phương như Mố, Lốc Nương ít có khả năng thâm canh, năng suất chỉ đại 5-15 tạ/ha Nếu chăm sóc tốt và trồng trên nương mới có thể đạt 23-
26 tạ/ha
Tuy với năng suất thấp và sản lượng không cao nhưng lúa cạn có một vị trí trọng yếu trong việc giải quyết nhu cầu lương thực tại chỗ cho các vùng xa xôi, hẻo lánh nơi mà phương tiện giao thông và việc giao lưu còn nhiều hạn chế
Theo kỹ sư Nguyễn Gia Quốc (1994) [17], tại cuộc điều tra năm 1992 tại huyện Phước Long (Sông Bé) cho thấy nông hộ sử dụng lương thực khác ngoài lúa lên đến 19,2%, đa số là dân tộc ít người, phải sử dụng bắp là chủ yếu và khoai lang, sắn để ăn thay cơm Do đó trong nhiều lý do để người dân trồng lúa cạn thì có đến 41,4% là để đảm bảo nhu cầu lương thực
Ngoài ra, cây lúa cạn còn có ưu thế trong việc sử dụng tốt nhất lượng nước trời, khả năng mất trắng ít khi xảy ra Nếu bị hạn kéo dài (khoảng hơn 1 tháng) cây ngô hoàn toàn bị thất thu nhưng lúa cạn vẫn có khả năng chịu hạn, đến khi có mưa lại tiếp tục sinh trưởng, phát triển tiếp
Việc thay thế cây lúa cạn bằng hệ thống cây trồng khác cho đến nay vẫn chưa làm được do một số vấn đề sau:
+ Lúa cạn được trồng nơi đất đã cạn kiệt Với chu kỳ sử dụng đất là 3-4 năm, thì 2 năm đầu thường dùng để trồng ngô, đậu Đến năm thứ 3 trồng ngô, đậu không có kết quả, thậm chí không được ăn, đồng bào mới chuyển sang trồng lúa cạn Điều này cũng cho thấy rất rõ qua cuộc điều tra về tình trạng sử dụng đất nương rẫy do Trung tâm nghiên cứu và phát triển nông lâm nghiệp
Trang 32khu vực miền núi phía Bắc - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên tiến hành năm 1994 tại các tỉnh Sơn La, Yên Bái, Lai Châu… hầu hết đồng bào dành đất nào xấu nhất để trồng lúa cạn, đất tốt hơn để trồng các loại cây cho sản phẩm hàng hóa như: ngô, đậu tương, lạc…
+ Đối với các vùng xa xôi hẻo lánh đường xá đi lại khó khăn, lưu thông phân phối còn nhiều hạn chế thì người dân quan tâm trước hết là làm sao để có lúa gạo đảm bảo cái ăn trong suốt cả năm Ngoài ra nếu có trồng ngô, đậu, lạc
để có sản phẩm hàng hóa thì đòi hỏi cần phải có sự đầu tư nhất định, nhưng hiện nay số người có thói quen đầu tư phân bón cho cây trồng còn rất ít, kể cả những vùng Nhà nước đã trợ giá vật tư phân bón hoặc cho không Một điều đáng trở ngại nữa đối với cây trồng hàng hóa là thị trường tiêu thụ tại chỗ thì không hết hoặc chưa quen với tập quán nên nhiều khi bị ế thừa, bị tư thương ép giá, giá rẻ hoặc chậm thời vụ thu hoạch dẫn đến hư hỏng không bảo quản được
Đó là một vài lý do mà tại sao cây lúa cạn vẫn còn tồn tại và rất quan trọng đối với đồng bào các dân tộc vùng cao Tuy nhiên canh tác lúa cạn hiện nay vẫn còn gặp nhiều khó khăn
* Những hạn chế trong việc trồng lúa cạn
- Hoàn toàn phụ thuộc vào thiên nhiên: Lượng mưa và tần suất mưa là các yếu tố quyết định cho năng suất lúa do vậy năm nào gió thuận mưa hòa thì
sẽ có năng suất cao, năm nào bất lợi thì sẽ bị ảnh hưởng Các đợt hạn vào giai đoạn sinh trưởng sinh thực sẽ gây ảnh hưởng lớn nhất đặc biệt là vào giai đoạn làm đòng và trỗ
- Giống lúa dài ngày, lẫn tạp nhiều: Hầu hết các giống lúa cạn hiện nay đều là giống dài ngày (4-5 tháng), do đó chỉ trồng được 1 vụ trong năm Độ thuần giống không cao, lẫn tạp nhiều Các giống lúa cạn của người kinh có đặc tính chịu hạn tốt, chịu bệnh kém, chịu phân khá, năng suất cao, còn các giống lúa của người dân tộc thì chịu hạn tốt, chịu bệnh tốt, chịu phân kém, năng suất
Trang 33thấp nhưng chất lượng gạo ngon
- Đầu tư kém: Đa số đồng bào dân tộc không bón phân cho lúa cạn, sau khi đất kiệt dinh dưỡng không còn khai thác được thì bỏ hóa, đi tìm nương rẫy khác để khai thác Tại Phước Long, qua điều tra sản suất năm 1991 cho thấy 95,7% số nông hộ không bón phân cho lúa cạn Người kinh có thể đầu tư phân bón nhưng mức độ không cao, chủ yếu thích dùng đạm
- Kỹ thuật canh tác thô sơ: Đồng bào dân tộc canh tác lúa cạn rất đơn giản, phát cây vụ trước đi rồi đốt, chọc lỗ bỏ hạt, làm cỏ 2-3 lần, lúa chín rồi thu hoạch
- Rất ít dùng thuốc bảo vệ thực vật và thuốc trừ cỏ: Hầu như đồng bào vùng cao không dùng thuốc trừ sâu, bệnh cũng như không sử dụng thuốc trừ cỏ
* Những kết quả nghiên cứu về chọn giống lúa cạn
Từ năm 1978 chương trình chọn tạo giống lúa mới chịu hạn do Vũ Tuyên Hoàng (1992) [7], chủ trì tại Viện nghiên cứu cây lương thực thực phẩm cùng phối hợp với một số cơ quan khoa học kỹ thuật khác đã chọn tạo được một số giống lúa tốt có thời gian sinh trưởng ngắn, tránh được hạn cuối vụ, chống chịu sâu bệnh khá, đạt năng suất cao trong điều kiện thâm canh đầy đủ như: CH2, CH3, CH133, CH135
Chương trình phát triển lúa cạn Viện khoa học kỹ thuật nông nghiệp Việt Nam đã nhập nội và chọn lọc được một số giống lúa cạn có triển vọng như: LC88-66, LC904, LC905, thời gian sinh trưởng trung bình, có thể đưa vào các vùng có lượng mưa không cao (<1.500mm) và thời gian mưa từ 4-5 tháng trong năm Chiều cao của LC88-66 và LC905 thấp dưới 1m, chiều cao của LC904 cao trên 1m, có khả năng lấn át cỏ dại Giống lúa LC88-67-1 thời gian sinh trưởng ngắn (110-120 ngày) có thể đưa vào hệ thống tăng vụ Giống lúa LC90-
11, LC90-12 và LC90-14 có thời gian sinh trưởng ngắn (97-100 ngày) có thể đưa vào hệ thống tăng vụ luân canh với cây trồng khác ở những vùng có khả năng đầu tư Chiều cao cây của nhóm này trung bình, trọng lượng nghìn hạt
Trang 34khá cao (29-32g) hạt dài, chống chịu bệnh tốt
Võ Tòng Xuân (1995) [23], cho biết ở Tây Nguyên những giống
LC89-27, LC90-5, LC88-66, TOOK lùn, IRAT 114 có thời gian sinh trưởng từ 4-5 tháng, LC90-12, LC88-67-1, LC90-14 và giống Habro địa phương có thời gian sinh trưởng 3 tháng, Trong đó các giống IRAT 114 năng suất đạt 30,4 tạ/ha, LC88-66 đạt 29,5 tạ/ha, LC88-67-1 đạt 28 tạ/ha
Qua 14 điểm so sánh và đánh giá các giống lúa chịu hạn CH ở các tỉnh Trung du và miền núi phía Bắc Vũ Tuyên Hoàng và Nguyễn Ngọc Ngân) [7]cho biết năng suất các giống CH cao hơn hẳn các giống địa phương, song hệ số biến động năng suất các giống nói trên là khá lớn, điều đó cho thấy các giống
CH khá nhạy cảm với môi trường, Ở vùng đất xám (Tây Ninh - Đông Nam Bộ)
có 5 giống CH1, CH2, NDR 97, AKASHI và IR 13240-108 đạt năng suất từ 40-45 tạ/ha thời gian sinh trưởng ngắn (80-100 ngày), đẻ khỏe phù hợp với việc
bố trí cây trồng ở trong khu vựctheo Vũ Tuyên Hoàng (1992) [7]
Theo Nguyễn Hữu Hồng (1996) [38] các giống lúa cạn mới nhập nội như: LC94-4, LC90-12, LC90-5, LC88-67-1, LC88-66, LC88-67, LC90-14, UPL RI-5, UPL RI-7, IR 3646-3-31, IR 3839-1, Kinadang Patong… đều cho năng suất cao hơn giống địa phương
Cũng theo Nguyễn Hữu Hồng (1996)[38], từ năm 1983, đến nay hàng trăm giống lúa mới được nhập nội đã được chọn lọc và thử nghiệm trên ruộng thí nghiệm cũng như nông trại tại Thái Nguyên, thì các giống UPL RI-5, UPL RI-7, IR 3839-1, IR 0068-18-2, IR 0110-29-1-1, Kinadang Patong là những giống có triển vọng, Giống IR 3636-3-31 nhập nội từ IRRI năm 1983 cho năng suất ổn định từ 30-35 tạ/ha trên đất chua tại Thái Nguyên
Các giống lúa cạn do Viện khoa học kỹ thuật tại Việt Nam và Viện Bảo
vệ thực vật nhập nội được thử nghiệm tại các tỉnh miền núi phía bắc như Thái
Trang 35Nguyên, Bắc Kạn, Cao Bằng, Sơn La, Lai Châu cũng cho kết quả khả quan, năng suất đạt 3-3,5 tấn/ha Với sự giúp đỡ của Viện nghiên cứu cây trồng nhiệt đới, Trương Công Tín và Nguyễn Gia Quốc đã thực hiện chương trình nghiên cứu lúa cạn tại Phước Long từ năm 1988 đã chọn ra được 2 nhóm giống có đặc tính tốt để canh tác trên diện rộng
- Nhóm có thời gian sinh trưởng ngắn (90-100 ngày) gồm: LC90-14, LC88-67-1, LC90-12 (Guarani)
- Nhóm có thời gian sinh trưởng trung bình (120 ngày) gồm: LC88-66, LC90-4 (IRAT177), LC90-5 (IRAT 126)
Tuy nhiên các giống này đòi hỏi mức đầu tư khá cao
1.3.2.3 Tình hình sản suất lúa cạn tại tỉnh Hà Giang
Hà Giang là tỉnh vùng núi phía Bắc của Tổ Quốc Với tổng diện tích đất tự nhiên là: 791,488,9 ha; diện tích đất lâm nghiệp 554,891 ha chiếm 70,1%, cùng với truyền thống sản suất lúa nước và các cây lương thực khác thì gieo trồng lúa cạn được nhân dân quan tâm phát triển Lúa nếp cạnĐổng Đẹo Bụtlà giống lúa nếp nương của địa phương, có chất lượng gạo ngon, chịu được han, trồng nhiều tại các triền đồi núi, gieo trồng xen canh cùng các loài cây lâm nghiệp trồng rừng khác Lúa nếp cạn chủ yếu được trồng nhiều ở các huyện Bắc Quang, Quang Bình, Vị Xuyên,Bắc Mê, Đồng Văn, Mèo Vạc.Chủ yếu là người dân tộc Tầy, Giao Với tập quán canh tác lúa cạn theo hướng quảng canh, trồng bằng cách chọc lỗ, Hoàn toàn phụ thuộc vào lượng mưa tự nhiên Trong những năm gần đây, được sự hỗ hướng dẫn của cán bộ
kĩ thuật Người dân đã bước đầu áp dụng kỹ thuật vào trồng lúa, năng suất lúa trung bình đạt 19,6 tạ/ha, sản lượng năm 2012 đạt 2.249,4 tấn,đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp lương thực cho đồng bào vùng cao nơi điều kiện sản suất lúa nước gặp nhiều khó khăn
Theo biểu thống kê, lúa cạn được gieo trồng tại 9/11 huyện thị của tỉnh,
Trang 36diện tích các năm có sự biến động không cao
Tính đa dạng của các chủng loại giống lúa cạn trên địa bàn tỉnh đã được một số công trình nghiên cứu đáng giá rất phong phú có trên 60 chủng giống (Nguyễn Đức Thạnh 2011 [21] Các giống lúa được người dân trồng xen lẫn vói các diện tích trồng cây lâm nghiệp, không có quy hoạch phân vùng, chưa xác định được các chủng giống chính cho năng suất chất lượng cao và chưa áp dạng các biện pháp canh tác phù hợp vì vậy chưa đem lại hiệu quả kinh tế cao trong sản suất
Bảng 1.2: Số liệu thống kê diện tích trồng lúa cạn
tại tỉnh Hà Giang 5 năm gần đây
Trang 37Chương 2 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Vâ ̣t liê ̣u nghiên cứu
Giống lúa nếp cạn Đổng Đẹo Bụt, đây là giống lúa nếp cạn được trồng nhiều ở tỉnh Hà Giang và các tỉnh miền núi phía bắc
2.2 Nội dung nghiên cứu
- Đánh giá ảnh hưởng của mật độ và phân bón đến khả năng sinh trưởng, phát triển của giống Đổng Đẹo Bụt
- Đánh giá ảnh hưởng của mật độ và phân bón đến khả năng chống chịu
sâu bệnh hại của giống Đổng Đẹo Bụt
- Đánh giá ảnh hưởng của mật độ và phân bón đến yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giống Đổng Đẹo Bụt
2.3 Địa điểm và thời gian tiến hành
- Địa điểm: Thí nghiệm được tiến hành tại địa điểm là Trung tâm giống cây trồng Đạo Đức, Huyện Vị Xuyên tỉnh Hà Giang
- Thời gian tiến hành trồng: Vụ mùa 2015
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.2 Điều kiện thí nghiệm
- Đặc điểm khu đất thí nghiệm: Đất trồng cây màu, đất bằng phẳng, không chủ động nước
- Thời vụ gieo trồng: 15/6/2015
- Nền: 3 tấn phân chuồng, 300 kg vôi bột
Trang 38- Lót: Toàn bộ phân hữu cơ vi sinh, vôi, lân trước khi trồng
- Thúc 1: Sau khi lúa mọc 15 - 20 ngày, 60% đạm Urê và 40% Kali
- Thúc 2: Sau khi lúa mọc 50 - 60 ngày, 40% đạm Urê, 60% Kali
Phương pháp bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm bố trítheo kiểu khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh Mỗi thí nghiệm gồm 12 công thức là tổ hợp của 3 mức mật
độ và 4 mức phân bón, với 3 lần nhắc lại, diện tích một ô thí nghiệm là 10m2
Trang 392.4.3.Chỉ tiêu và phương pháp theo dõi
Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi áp dụng theo quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về khảo nghiê ̣m giá trị canh tác và sử dụng giống lúa QCVN 01-55: 2011/BNN&PTNT của Bộ Nông nghiệp & PTNT
2.4.3.1 Một số đặc điểm nông sinh học
- Chiều cao cây: Đo từ mặt đất đến đỉnh bông cao nhất (không kể râu hạt)
Số cây mẫu: 10; thời điểm đo: Giai đoạn chín
- Số lá trên thân chính: theo dõi đô ̣ng thái ra lá, giai đoa ̣n 1-7 lá cứ 3 ngày theo dõi 1 lần, từ lá thứ 7 thì 6 ngày theo dõi 1 lần
- Một số đă ̣c điểm sinh ho ̣c: bản lá đòng; màu sắc lá; kiểu thân, đẻ nhánh; kiểu bông, xếp hạt; màu vỏ trấu, vỏ hạt; màu hạt gạo
- Thời gian sinh trưởng: Tính số ngày từ khi gieo đến khi khoảng 85 đến 90% số hạt trên bông chín
- Độ dài giai đoạn trỗ: Quan sát toàn bộ ô thí nghiệm giai đoạn trỗ Cây lúa trỗ khi bông thoát khỏi bẹ lá đòng từ 5cm trở lên
Điểm 1: Tập trung: Không quá 3 ngày
Điểm 5: Trung bình: 4-7 ngày
Điểm 9: Dài: Hơn 7 ngày
2.4.3.2 Chỉ tiêu cấu thành năng suất
- Số bông hữu hiệu: Tại thời điểm chín đếm số bông có ít nhất 10 hạt chắc của một cây Số cây mẫu: 5
- Số hạt/bông: Đếm tổng số hạt có trên bông Số cây mẫu: 5
- Tỷ lệ hạt lép: Tính tỷ lệ (%) hạt lép trên bông Số cây mẫu: 5
- Khối lượng 1.000 hạt (gam): Cân 8 mẫu 100 hạt ở độ ẩm 14%, đơn vị tính gam, lấy một chữ số sau dấu phẩy
- Năng suất hạt (tạ/ha): Cân khối lượng hạt trên mỗi ô khi thu và phơi đến độ ẩm hạt 14%, cân riêng từng lần nhắc lại, cộng trung bình 3 lần hắc lại, đơn vị tính kg/ô, lấy hai chữ số sau dấu phẩy
Trang 402.4.3.3 Đánh giá mức độ biểu hiện sâu bệnh hại
- Sâu đục thân(Chilo suppressalis Walker):quan sát số dảnh chết hoặc
bông bạc ở giai đoạn đẻ nhánh đến làm đòng và giai đoạn vào chắc đến chín
Lấy 10 khóm ngẫu nhiên/01 công thức để quan sát
Điểm 0: Không bị hại
Điểm 1: 1-10% số dảnh chết hoặc bông bạc
Điểm 3: 11-20% số dảnh chết hoặc bông bạc
Điểm 5: 21-30% số dảnh chết hoặc bông bạc
Điểm 7: 31-50% số dảnh chết hoặc bông bạc
Điểm 9: >51% số dảnh chết hoặc bông bạc
- Sâu cuốn lá(Cnaphalocrosis): quan sát lá, cây bị hại Tính tỷ lệ cây bị
sâu ăn phần xanh của lá hoặc lá bị cuốn thành ống
Lấy 10 khóm ngẫu nhiên/01 công thức để quan sát
Điểm 0: Không bị hại
Điểm 1: 1-10% cây bị hại
Điểm 3: 11-20% cây bị hại
Điểm 5: 21-35% cây bị hại
Điểm 7: 36-51% cây bị hại
Điểm 9: >51% cây bị hại
- Rầy nâu(Ninaparvata lugens): quan sát lá, cây bị hại gây héo và chết
từ giai đoạn đẻ nhánh đến thu hoạch
Lấy 10 khóm ngẫu nhiên/01 công thức để quan sát
Điểm 0: Không bị hại
Điểm 1: Hơi biến vàng trên một số cây
Điểm 3: Lá biến vàng bộ phận chưa bị “cháy rầy”
Điểm 5: Lá bị vàng rõ, cây lùn và héo, ít hơn một nửa số cây bị cháy rầy, cây còn lại lùn nặng
Điểm 7: Hơn một nửa số cây bị héo hoặc cháy rầy, số cây còn lại lùn nặng