1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Ảnh hưởng đô thị hóa đến đất nông nghiệp và đời sống người dân trên địa bàn thành phố cẩm phả, tỉnh quảng ninh giai đoạn 2011 – 2015

102 384 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 1,55 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠN Trong quá trình thực hiện viết Luận văn, mặc dù còn gặp rất nhiều khó khăn về thời gian, thông tin, tư liệu, song được sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy giáo, các cô trong Tr

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu này là của riêng cá nhân tôi Các số liệu, kết quả được sử dụng minh họa trong luận văn này là trung thực, có nguồn gốc

rõ ràng Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả

Nguyễn Thị Hạnh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện viết Luận văn, mặc dù còn gặp rất nhiều khó khăn

về thời gian, thông tin, tư liệu, song được sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy giáo, các cô trong Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên cũng như các đồng chí trong các sở ban ngành của UBND thành phố Cẩm Phả tỉnh Quảng Ninh mà học viên đã

hoàn thành Luận văn: "Ảnh hưởng đô thị hóa đến đất nông nghiệp và đời sống

người dân trên địa bàn thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2011 –

2015" theo đúng thời gian và yêu cầu Với tình cảm trân trọng nhất, học viên xin

cảm ơn tới Ban Giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, các thầy cô giáo phòng Đào tạo và các phòng Khoa của nhà trường, đặc biệt Học viên xin cám

ơn GS TS Nguyễn Thế Đặng đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ học viên hoàn thành Luận văn đúng thời gian quy định Cùng các đồng nghiệp công tác tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất, Phòng Tài Nguyên và Môi trường thành phố Cẩm Phả tỉnh Quảng Ninh, Trung tâm phát triển quỹ đất thành phố Cẩm Phả tỉnh Quảng Ninh

đã nhiệt tình thu thập, cung cấp tài liệu, số liệu giúp tôi hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

Trong quá trình làm đề tài, bản thân học viên đã cố gắng tìm hiểu tài liệu, học hỏi kinh nghiệm để tổng hợp, đánh giá Tuy nhiên do sự hiểu biết còn hạn chế, kinh nghiệm thực tế chưa nhiều vì vậy không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự góp ý của thầy cô giáo và đọc giả

Trân trọng cảm ơn!

Tác giả Luận Văn

Nguyễn Thị Hạnh

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

DANH MỤC CÁC HÌNH viii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

2.1 Mục tiêu tổng quát 3

2.2 Mục tiêu cụ thể 3

3 Ý nghĩa của đề tài 3

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về đô thị 4

1.1.1 Đô thi ̣ và và chức năng của đô thi ̣ 4

1.1.2 Khái niệm về đô thị hóa 6

1.1.3 Xu hướng phát triển đô thị hóa 8

1.1.4 Tính tất yếu của đô thị hóa 8

1.2 Căn cứ pháp lý 8

1.3 Thực tiễn đô thị hóa trên Thế giới và ở Việt Nam 10

1.3.1 Tình hình đô thị hóa trên thế giới 10

1.3.2 Tình hình đô thị hóa ở Việt Nam 12

1.4 Ảnh hưởng đô thị hóa đến sử dụng đất và cuộc sống người dân 15

1.4.1 Ảnh hưởng đô thị hóa đến sử dụng đất 15

1.4.2 Ảnh hưởng đô thị hóa đến đời sống người dân 16

1.5 Một số kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của quá trình phát triển đô thị trên Thế giới và Việt Nam 18

1.5.1 Tình hình nghiên cứu trên Thế giới 18

Trang 6

1.5.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 19

1.6 Kinh nghiệm một số địa phưng trong giải quyết vấn đề đô thị hóa cho lao động nông nghiệp nông thôn 21

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 24

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 24

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 24

2.2 Nội dung nghiên cứu 24

2.2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và tình hình đô thi ̣ hóa của thành phố Cẩm Phả 24

2.2.2 Ảnh hưởng của đô thị hóa đến đất nông nghiệp 24

2.2.3 Tác động của quá trình đô thị hóa đến đời sống và việc làm của người dân trên địa bàn thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh 24

2.2.4 Định hướng và một số giải pháp nâng cao đời sống người dân, tăng cường vai trò quản lý Nhà nước trong quá trình đô thị hóa tại thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh 25

2.3 Phương pháp nghiên cứu 25

2.3.1 Phương pháp thu thập tài liệu thông tin 25

2.3.2 Phương pháp xử lý số liệu 26

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 27

3.1 Điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội và đô thi ̣ hóa thành phố Cẩm Phả 27

3.1.1 Điều kiện tự nhiên 27

3.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội 30

3.1.3 Quá trình đô thị hóa thành phố Cẩm phả 33

3.2 Ảnh hưở ng của phát triển đô thị đến tình hình sử du ̣ng đất của thành phố Cẩm Phả giai đoa ̣n 2011-2015 41

3.2.1 Tác động của đô thị hoá đến biến động đất đai nói chung 41

3.2.2 Tác động của quá trình đô thị hóa tới biến đô ̣ng của nhóm đất nông nghiệp 45 3.3 Tác động của quá trình đô thị hóa tới đời sống người dân do ảnh hưởng của việc thu hẹp đất sản xuất nông nghiệp 53

Trang 7

3.3.1 Tình hình đền bù cho các hộ dân khi thu hồi đất giải phóng mặt bằng phục vụ

quá trình đô thị hóa từ năm 2011-2015 53

3.3.2 Cơ hội việc làm và thu nhập của người dân sau khi bị thu hồi đất nông nghiệp 55

3.3.3 Kết quả khảo sát nghiên cứu ảnh hưởng đời sống người dân từ quá trình đô thị hóa thu hẹp đất sản xuất trong nông nghiệp 58

3.4 Đánh giá chung về quá trình đô thị hoá đến sử dụng đất nông nghiệp và cuô ̣c sống người dân giai doạn 2011-2015 68

3.4.1 Mặt tích cực của đô thị hoá đến sử dụng đất nông nghiệp và cuộc sống người dân giai doạn 2010-2015 68

3.4.2 Mặt tiêu cực của đô thị hoá đến sử dụng đất nông nghiệp và cuộc sống người dân giai doạn 2010-2015 và nguyên nhân 69

3.5 Một số giải pháp sử dụng đất nông nghiệp trong quá trình đô thị hoá 74

3.5.1 Phát huy vai trò của các chủ thể kinh tế và các tổ chức xã hội địa phương để tạo việc làm cho người lao động nông nghiệp 74

3.5.2 Giải pháp kỹ thuật 75

3.5.3 Tăng cường tuyên truyền cho người dân về mục đích của việc thu hồi đất, hướng dẫn người dân tích cực chủ động trong tìm kiếm việc làm sử dụng đồng vốn đền bù hiệu quả 77

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 79

1 Kết luâ ̣n 79

2 Kiến nghi ̣ 80

TÀI LIỆU THAM KHẢO 81 PHỤ LỤC

Trang 8

TN&MT : Tài nguyên và Môi trường

VPĐKQSDĐ : Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất UBND : Ủy ban nhân dân

XKLĐ : Xuất khẩu lao động

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Dân số và dân số đô thị ở nhóm các nước phát triển và đang phát triển

giai đoạn 1950-2050 10

Bảng 1.2 Tỷ lệ dân số đô thị ở nhóm các nước phát triển và đang phát triển giai đoạn 1950-2050 11

Bảng 1.3 Tỷ lệ đô thị ở các châu lục/vùng giai đoạn 1950-2050 12

Bảng 3.1 Diện tích dân số các đơn vị hành chính thành phố Cẩm Phả 29

Bảng 3.2 Tốc độ tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2011 - 2015 thành phố Cẩm Phả 31

Bảng 3.3 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ 2013 - 2015 32

Bảng 3.4 Tình hình biến động đất đai thành phố Cẩm Phả giai đoạn 2011-2015 42

Bảng 3.5 Quy mô cơ cấu đất nông nghiệp trong tổng diện tích đất tự nhiên giai đoạn 2011-2015 45

Bảng 3.6 Biến động từng loại đất trong nhóm đất đất nông nghiệp thành phố Cẩm Phả giai đoạn 2011– 2015 47

Bảng 3.7 Tình hình chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp dưới tác động của quá trình đô thị hóa trên địa bàn thành phố Cẩm Phả từ 2011-2015 48

Bảng 3.8 Sản lượng một số sản phẩm nông nghiệp từ năm 2011-2015 thành phố Cẩm Phả 52

Bảng 3.9 Tổng hợp kết quả thu hồi đất nông nghiệp thành phố Cẩm Phả giai đoạn 2011-2015 54

Bảng 3.10 Tổng hợp kết quả hỗ trợ việc làm, đào tạo nghề cho người dân bị thu hồi đất nông nghiệp thành phố Cẩm Phả giai đoạn 2011-2015 55

Bảng 3.11 Tình hình hỗ trợ XKLĐ cho các hộ dân bị thu hồi đất sản xuất nông nghiệp phục vụ dự án phát triển đô thị thành phố Cẩm Phả từ 2011-2015 56

Bảng 3.12 Thông tin cơ bản của chủ hộ điều tra 59

Bảng 3.13 Kết quả khảo sát đánh giá nguyên nhân tính hiệu quả của chương trình đào tạo nghề cho người dân bị thu hồi đất 63

Bảng 3.14 Kết quả khảo sát tình hình chuyển đổi nghề nghiệp của hộ trước và sau thu hồi đất 64

Bảng 3.15 Kết quả khảo sát tình hình thu nhập của hộ điều tra trước và sau thu hồi đất 65

Bảng 3.16 Kết quả khảo sát thể hiện đánh giá người dân về ảnh hưởng các dự án đô thị trên đất thu hồi tới môi trường sống của họ tại địa phương 67

Bảng 3.17 Kết quả khảo sát thể hiện sự đánh giá của người dân về mức độ phát triển của địa phương dưới tác động của các dự án đô thị trên đất nông nghiệp bị thu hồi 67

Trang 10

Hình 3.5 Tình hình chuyển dịch cơ cấu đất nông nghiệp từ 2011-2015 46

Hình 3.6 Tỉ lệ các loại đất đã chuyển mục đích sử dụng từ đất nông nghiệp thành

phố Cẩm Phả từ 2011-2015 49

Hình 3.7 Mức lương trung bình của người lao động được đào tạo nghề và hỗ trợ

việc làm hàng năm 57Hình 3.8 Kết quả khảo sát đánh giá tình hình chi trả tiền đền bù cho người dân bị

thu hồi đất sản xuất nông nghiệp 60Hình 3.9 Kết quả khảo sát đánh giá mức giá đất đền bù cho người dân bị thu hồi

đất sản xuất nông nghiệp 61Hình 3.10 Tình hình hỗ trợ đào tạo và nhu cầu tham gia đào tạo nghề của người

dân bị thu hồi đất sản xuất nông nghiệp 62

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các công trình kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh và quốc phòng… của mọi quốc gia Trong quá trình phát triển, đất đai được sử dụng làm nền tảng cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và phục vụ cho sự phát triển xã hội Ở các nước đang phát triển đất đai đã trở thành nguồn vốn, nguồn thu hút đầu tư, chính bởi vậy việc huy động và thu hồi đất phục vụ cho các mục đích xây dựng các khu, cụm công nghiệp, khu dân

cư đô thị tập trung… là việc không thể thiếu để bố trí cho các định hướng phát triển

và nâng cao hiệu quả sử dụng đất cho các mục tiêu phát triển đất nước

Hiện nay, ở Việt Nam đã có trên 200 các khu công nghiệp lớn, gần 300 các cụm công nghiệp và hàng nghìn các khu đô thị [3], nơi đây tập trung một lượng lớn các lực lượng lao động trực tiếp và đóng góp vào ngân sách hàng tỉ USD cho sự phát triển chung của đất nước Bên cạnh những thành tựu đã đạt được về đổi mới kinh tế đất nước, việc thu hồi và sử dụng đất ở một số nơi còn nhiều bất cập và cần hoàn thiện về chính sách, pháp luật cũng như những vấn đề phát sinh cần được giải quyết kịp thời để có thể khai thác sử dụng có hiệu quả, bền vững đối với nguồn tài nguyên đất đai của đất nước và phục vụ tốt cho các mục đích phát triển công nghiệp, dịch vụ, phát triển đô thị và khu dân cư trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Cùng với những thay đổi lớn lao trong công cuộc phát triển đất nước do những hoạt động thu hồi sử dụng đất cho các mục đích phát triển thì những vấn đề nảy sinh đối với đời sống của những người dân trong các khu vực dự

án bị trưng dụng thu hồi đất cũng đang nảy sinh những vấn đề mang tính xã hội cần phải giải quyết như: vấn đề liên quan đến đời sống, việc làm của những người nông dân trước đây sống dựa hoàn tồn vào đất sản xuất nông nghiệp, vấn đề đảm bảo cho phát triển và sự di chuyển tự do của lao động nông thôn lên thành phố tìm kiếm việc làm do không còn đất sản xuất Những vấn đề nảy sinh về môi trường do hậu quả của quá trình phát triển các khu công nghiệp, mở mang đô thị và các khu dân cư

Trang 12

mới, điều này đã và đang đặt ra nhiều thách thức cho công tác quản lý cũng như hoạch định chiến lược phát triển Những vấn đề lớn thường nảy sinh cần phải giải quyết ở những nơi quá trình đô thị hóa nhanh Đất nước ta đang bước vào giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước theo đường lối phát triển kinh tế -

xã hội của Đảng ta, sự hình thành các đô thị mới và mở rộng các đô thị hiện có là một xu thế tất yếu Đem lại nhiều sự thay đổi, mang một màu sắc mới, phát triển hơn, giàu đẹp hơn cho đất nước nói chung cũng như thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh nói riêng Nhưng bên cạnh đó cũng còn không ít những vấn đề còn tồn tại, đặc biệt là vấn đề đô thị hóa đã làm giảm diện tích đất dành cho sản xuất nông nghiệp ở khu vực nông thôn bị thu hẹp dần, chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ nông nghiệp sang công nghiệp, dịch vụ, thương mại vv tăng lên nhanh chóng Dẫn đến quan hệ sử dụng đất đô thị có những phát sinh phức tạp như tình trạng tự ý chuyển đổi mục đích sử dụng đất trái phép Đặc biệt, do biến động của quan hệ sử dụng đất trong quá trình đô thị hóa, tình hình chính trị xã hội cũng có những biểu hiện xấu như: khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn; tình trạng khiếu kiện ngày càng gia tăng, nhất là khiếu kiện trong lĩnh vực đất đai chiếm tỷ lệ lớn

Cẩm Phả là một thành phố thuộc “tuyến phía Đông” của tỉnh Quảng Ninh với những đặc thù về điều kiện tự nhiên, lịch sử, dân cư cũng như hoạt động kinh tế Cẩm Phả là trung tâm khai thác, chế biến và tiêu thụ than của cả nước; trung tâm công nghiệp về điện, cơ khí, vật liệu xây dựng; có vị trí đặc biệt quan trọng về quốc phòng - an ninh, là tuyến phòng thủ phía Đông Bắc của Tổ quốc; nằm trong vùng động lực phát triển miền Bắc: Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, là đầu mối giao thông quan trọng của Quảng Ninh với các tỉnh phía Bắc (Quốc lộ 18A; Tỉnh lộ 326, 329; giao thông đường thuỷ đi qua rất thuận tiện cho việc giao thông đối nội, đối ngoại, vận tải khách, giao lưu hàng hoá…) Tuy nhiên, song song với sự phát triển công nghiệp, dịch vụ, thương mại nhờ quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ thì tình hình sử dụng đất đai trên địa bàn thành phố đã có sự biến động đáng kể, đặc biệt là việc thu hẹp quỹ đất sản xuất nông nghiệp nhường chỗ cho các dự án phát triển đô thị đang ảnh hưởng trực tiếp đến diện tích đất nông nghiệp và đời sống một bộ phận người nông dân tại địa phương

Trang 13

Nhận thức được tầm quan trọng về sự ảnh hưởng của đô thị hóa đối với cuộc sống của người dân, được sự đồng ý của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm Khoa Quản lý Tài nguyên, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và với sự hướng

dẫn trực tiếp của GS.TS Nguyễn Thế Đặng, chúng tôi nghiên cứu đề tài “Ảnh hưởng

đô thị hóa đến đất nông nghiệp và đời sống người dân trên địa bàn thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2011 – 2015” nhằm bổ xung kiến thức lý luận, thực

tiễn cho bản thân sau khi tốt nghiệp khóa học cao học quản lý đất đai

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu tổng quát

Nghiên cứu được tác động và mức độ ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến đất nông nghiệp và đời sống người dân, đề xuất giải pháp góp phần thúc đẩy quá trình đô thị hóa bền vững và công tác quản lý đất đai tại địa phương

- Đề xuất một số giải pháp nâng cao đời sống kinh tế của hộ nông dân, tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước về đất đai trong quá trình đô thị hóa tại thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh

3 Ý nghĩa của đề tài

- Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học: Sử dụng kiến thức đã học áp dụng vào thực tế nâng cao tính thực tiễn, chiều sâu của kiến thức ngành học cho bản thân Đồng thời là cơ hội cho bản thân tiếp cận với vấn đề đô thị hóa

- Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất: Tìm ra những mặt hạn chế và tích cực của quá trình đô thị hóa làm đất nông nghiệp và đời sống của người dân để từ đó đề xuất

ra những giải pháp thích hợp, phù hợp với điều kiện thực tiễn của địa phương góp phần đẩy nhanh quá trình này trong thời gian tới

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về đô thị

1.1.1 Đô thi ̣ và và chức năng của đô thi ̣

1.1.1.1 Kha ́ i niê ̣m đô thi ̣

Các nước châu Á và trên thế giới nói chung đã hình thành đô thị từ rất sớm, cách đây khoảng mấy ngàn năm Tuy nhiên, đến nay khái niệm về đô thị chỉ có tính tương đối do tính khác nhau về trình độ phát triển kinh tế - xã hội, hệ thống dân cư Mỗi nước có quy định riêng tùy theo yêu cầu và khả năng quản lý của mình Song phần nhiều vẫn thống nhất lấy hai tiêu chuẩn cơ bản sau:

- Quy mô và mật độ dân số: Thông thường mật độ dân số tối thiểu cần thiết để được gọi là một đô thị phải là 400 người/km2 hay 1000 người trên một dặm vuông Anh Các quốc gia châu Âu định nghĩa đô thị dựa trên cơ bản việc sử dụng đất thuộc đô thị, không cho phép có một khoảng trống tiêu biểu nào lớn hơn 200 mét Dùng không ảnh chụp từ vệ tinh thay vì dùng thống kê từng khu phố để quyết định ranh giới của đô thị [31]

- Cơ cấu lao động: Tại các quốc gia kém phát triển, ngoài việc sử dụng đất và mật độ dân số nhất định nào đó, một điều kiện nữa là phần đông dân số, thường là 75% trở lên, không có hành nghề nông nghiệp hay đánh cá

Có thể đưa ra một số ví dụ cụ thể như sau:

+ Tại Úc, các đô thị thường được ám chỉ là các "trung tâm thành thị" và được định nghĩa như là những khu dân cư chen chúc có từ 1000 người trở lên và mật độ dân cư phải tối thiểu là 200 người trên một cây số vuông

+ Tại Canada, một đô thị là một vùng có trên 400 người/km2 và tổng số dân phải trên 1.000 người Nếu có hai đô thị hoặc nhiều hơn trong phạm vi 2 km của nhau, các đô thị này được nhập thành một đô thị duy nhất Các ranh giới của một đô thị không bị ảnh hưởng bởi ranh giới của các khu tự quản (thành phố) hoặc thậm chí

là ranh giới tỉnh bang

+ Tại Trung Quốc, một đô thị là một khu thành thị, thành phố và thị trấn có mật độ dân số hơn 1.500 người trên một cây số vuông Đối với các khu thành thị có

Trang 15

mật độ dân số ít hơn 1.500 người trên một cây số vuông thì chỉ dân số sống trong các đường phố, nơi có dân cư đông đúc, các làng lân cận nhau được tính là dân số thành thị

+ Tại Pháp, một đô thị là một khu vực bao gồm một vùng phát triển do xây cất (gọi là một "đơn vị thành thị" (unité urbaine) - gần giống như cách định nghĩa của

đô thị Bắc Mỹ và các vùng vành đai ngoại ô (couronne périurbaine) Mặc dù cách dịch chính thức thuật từ aire urbaine của INSEE là "urban area" trong tiếng Anh, đa

số người Bắc Mỹ sẽ nhận thấy rằng nó tương tự với định nghĩa về vùng đô thị của mình [1]

Ở Việt Nam, theo nghị định 42/2009/NĐ-CP ngày 07 tháng 5 năm 2005 của Chính phủ, qui định đô thị nước ta là các điểm dân cư có các tiêu chí sau:

Thứ nhất: Chức năng đô thị là trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên

ngành, cấp quốc gia, cấp vùng liên tỉnh, cấp tỉnh, cấp huyện hoặc là một trung tâm của vùng trong tỉnh; có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước hoặc một vùng lãnh thổ nhất định

Thứ hai: Quy mô dân số toàn đô thị tối thiểu phải đạt 4 nghìn người trở lên Thứ ba: Mật độ dân số phù hợp với quy mô, tính chất và đặc điểm của từng

loại đô thị và được tính trong phạm vi nội thành, nội thị và khu phố xây dựng tập trung của thị trấn

Thứ tư: Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp được tính trong phạm vi ranh giới nội

thành, nội thị, khu vực xây dựng tập trung phải đạt tối thiểu 65% so với tổng số lao động

Thứ năm: Hệ thống công trình hạ tầng đô thị gồm hệ thống công trình hạ tầng

xã hội và hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật:

- Đối với khu vực nội thành, nội thị phải được đầu tư xây dựng đồng bộ và có mức độ hoàn chỉnh theo từng loại đô thị;

- Đối với khu vực ngoại thành, ngoại thị phải được đầu tư xây dựng đồng bộ mạng hạ tầng và bảo đảm yêu cầu bảo vệ môi trường và phát triển đô thị bền vững

Thứ sáu: Kiến trúc, cảnh quan đô thị: việc xây dựng phát triển đô thị phải theo

quy chế quản lý kiến trúc đô thị được duyệt, có các khu đô thị kiểu mẫu, các tuyến phố văn minh đô thị, có các không gian công cộng phục vụ đời sống tinh thần của

Trang 16

dân cư đô thị; có tổ hợp kiến trúc hoặc công trình kiến trúc tiêu biểu và phù hợp với môi trường, cảnh quan thiên nhiên

Trên cơ sở đó Nghị định số 42/2009/NĐ - CP cũng phân chia đô thị làm 6 loại: loại đặc biệt, loại I, loại II, loại III, đô thị loại IV và loại V

1.1.1.2 Chức năng của đô thị

Đô thị có thể có các chức năng khác nhau tùy theo mỗi giai đoạn phát triển Bao gồm các chức năng chủ yếu sau:

* Chức năng quản lý: tác động của quản lý nhằm hướng nguồn lực vào mục tiêu kinh tế, xã hội, sinh thái và kiến trúc, bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc, vừa nâng cao khả năng đáp ứng nhu cầu công cộng, vừa quan tâm đến nhu cầu chính đáng của cá nhân Do đó, Nhà nước phải có pháp luật và quy chế quản lý về đô thị

* Chức năng kinh tế: đây là chức năng chủ yếu của đô thị Sự phát triển kinh tế thị trường đã đưa đến xu hướng tập trung sản xuất có lợi hơn là phân tán Chính yêu cầu kinh tế ấy đã tập trung các loại hình xí nghiệp thành khu công nghiệp và CSHT tương ứng, tạo ra thị trường ngày càng mở rộng và đa dạng hóa Tập trung sản xuất kéo theo tập trung dân cư, trước hết là thợ thuyền và gia đình của họ tạo ra bộ phận chủ yếu của dân cư đô thị

* Chức năng xã hội: chức năng này ngày càng có phạm vi lớn dần cùng với tăng quy mô dân cư đô thị Những nhu cầu về nhà ở, y tế, đi lại, là những vấn đề gắn liền với yêu cầu kinh tế, với cơ chế thị trường Chức năng xã hội ngày càng nặng nề không chỉ vì tăng dân số đô thị, mà còn vì chính những nhu cầu về nhà ở, y

tế, đi lại, thay đổi

* Chức năng văn hóa: ở tất cả các đô thị đều có nhu cầu giải trí và giáo dục cao Do đó ở đô thị cần có hệ thống trường học, du lịch, viện bảo tàng, các trung tâm nghiên cứu khoa học ngày càng có vai trò lớn hơn

1.1.2 Khái niệm về đô thị hóa

Có rất nhiều quan điểm của các nhà khoa học thuộc nhiều bộ môn đã nghiên cứu quá trình đô thị hóa và đưa ra không ít định nghĩa cùng với những định giá về quy mô, tầm quan trọng và dự báo tương lai của quá trình này

“Đô thị hóa là thay đổi trật tự sắp xếp một vùng nông thôn theo các điều kiện của thành phố Đây là một trong những biện pháp biến nông thôn thành những nơi

Trang 17

làm việc hấp dẫn, có điều kiện áp dụng những tiến bộ của khoa học kỹ thuật, đáp ứng những nhu cầu về nông sản phẩm cho xã hội góp phần làm tăng GDP nhưng điều này còn phụ thuộc vào điều kiện kinh tế của mỗi nước, mỗi vùng” [35]

“Đô thị hóa (Urbanization) là quá trình tập trung dân số vào các đô thị và sự hình thành nhanh chóng các điểm dân cư đô thị do yêu cầu công nghiệp hóa Trong quá trình này có sự biến đổi về cơ cấu sản xuất, cơ cấu nghề nghiệp, cơ cấu tổ chức sinh hoạt xã hội, cơ cấu không gian và hình thái xây dựng từ dạng nông thôn sang thành thị”[17]

“Đô thị hóa là sự mở rộng của đô thị, tính theo tỉ lệ phần trăm giữa số dân đô thị hay diện tích đô thị trên tổng số dân hay diện tích của một vùng hay khu vực Nó cũng có thể tính theo tỉ lệ gia tăng của hai yếu tố đó theo thời gian Nếu tính theo cách đầu thì nó còn được gọi là mức độ đô thị hóa; còn theo cách thứ hai, nó có tên

là tốc độ đô thị hóa Đô thị hóa là quá trình phát triển rộng rãi lối sống thị thành thể hiện qua các mặt dân số, mật độ dân số, chất lượng cuộc sống, [1]

Sự tăng trưởng của đô thị được tính trên cơ sở sự gia tăng của đô thị so với kích thước (về dân số và diện tích) ban đầu của đô thị Do đó, sự tăng trưởng của đô thị khác tốc độ đô thị hóa (vốn là chỉ số chỉ sự gia tăng theo các giai đoạn thời gian xác định như 1 năm hay 5 năm);

Đô thị hóa là quá trình tập trung dân số vào các đô thị, là sự hình thành nhanh chóng các điểm dân cư đô thị trên cơ sở phát triển sản xuất và đời sống Quá trình

đô thị hóa là quá trình công nghiệp hóa (CNH) đất nước Có thể nói đô thị hóa là người bạn đồng hành của CNH

- Nhìn một cách tổng thể có thể thấy, quá trình đô thị hóa là quá trình biến đổi sâu sắc về:

+ Cơ cấu sản xuất, (sản xuất hàng hóa…,thành phần kinh tế hoạt động đa dạng hơn…)

+ Cơ cấu nghề nghiệp, (tăng tỉ lệ lao động phi NN…)

+ Cơ cấu tổ chức hoạt động xã hội, (phố, phường, quận)

+ Cơ cấu tổ chức không gian kiến trúc và hình thái xây dựng từ dạng nông thôn sang thành thị

Trang 18

1.1.3 Xu hướng phát triển đô thị hóa

Có 2 xu hướng đô thị hóa [1]

Đô thị hóa phân tán: Là hình thái mạng lưới điểm dân cư có tầng bậc phát triển cân đối công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ công cộng, đảm bảo cân bằng sinh thái, tạo điều kiện làm việc, sinh hoạt và nghỉ ngơi tốt cho dân cư đô thị và nông thôn

Đô thị hóa tập trung: Là toàn bộ công nghiệp dịch vụ công cộng tập trung vào các thành phố lớn và xung quanh, hình thành các đô thị khổng lồ, tạo ra sự dối lập giữa thành thị và nông thôn, đồng thời gây ra sự mất cân bằng sinh thái

Nhiều nước đang phát triển trên thế giới chọn xu hướng ĐTH phân tán, điều này phù hợp với thực tế và có điều kiện thực hiện Vì ĐTH thực chất là công nghiệp hóa đầu tư theo chiều sâu, tận dụng các cơ sở công nghiệp sẵn có ở thành phố, đồng thời đưa công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp vào các thị trấn, các điểm dân cư có mầm mống đô thị, tạo việc làm thu hút lao động dư thừa ở nông thôn mà không phải di dân vào đô thị, đôi khi với việc phát triển dịch vụ công cộng, cải thiện nâng cao chất lượng cuộc sống cho mọi người dân

1.1.4 Tính tất yếu của đô thị hóa

Bất cứ một quốc gia nào, dù là phát triển hay đang phát triển, khi chuyển biến

từ nền kinh tế nông nghiệp lên nền kinh tế công nghiệp bằng con đường CNH thì đều gắn liền với ĐTH

Trong lịch sử cận đại, ĐTH trước hết là hệ quả trực tiếp của quá trình CNH tư bản chủ nghĩa và sau này là kết quả của quá trình cơ cấu lại các nền kinh tế theo hướng HĐH: tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng của các ngành nông nghiệp trong cơ cấu và khối lượng GDP Nhìn chung, từ góc độ kinh tế, ĐTH là một xu hướng tất yếu của sự phát triển

Như vậy, ĐTH là một quy luật khách quan, phù hợp với đặc điểm, tình hình chung của mỗi quốc gia và là một quá trình mang tính lịch sủ, toàn cầu và không thể đảo ngược của sự phát triển xã hội ĐTH là hệ quả của sức mạnh công nghiệp và trở thành mục tiêu của nền văn minh thế giới

1.2 Căn cứ pháp lý

Các văn bản trung ương

- Căn cứ vào Luật Đất đai 2003 & Luật đất đai 2013;

- Căn cứ vào thông tư liên tịch số 02/2002 – TTLT – BXD – BTCCBCB ngày 08/03/2002 của bộ xây dựng - ban tổ chức cán bộ chính phủ (nay là bộ nội vụ)

Trang 19

hướng dẫn về việc phân loại đô thị và cấp quản lý đô thị;

- Căn cứ vào Nghị định số 197/ 2004/NĐ – CP về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất;

- Thông tư số 10/2008/TT - BXD ngày 22/04/2008 của Bộ xây dựng hướng dẫn về đánh giá, công nhận khu đô thị mới kiểu mẫu;

- Căn cứ vào Nghị định số: 42/2009/NĐ - CP ngày 07/5/2009 của Chính phủ

về việc phân loại đô thị;

- Thông tư số 14/2009/TT - BTNMT ngày 01/10/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và trình tự, thủ tục thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất;

- Căn cứ vào Nghị định số 37/2010/NĐ - CP ngày 07/04/2010 của Chính phủ

về lập, thẩm định, phê duyệt và quản lý quy hoạch đô thị;

- Nghị định số 42/2012/NĐ-CP ngày 11/5/2012 của Chính phủ về quản lý, sử dụng đất trồng lúa;

- Quyết định số 124/QĐ-TTg ngày 02/02/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển sản xuất ngành nông nghiệp đến năm

- Căn cứ Nghị định 47/2014/NĐ-CP quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định

cư khi nhà nước thu hồi đất;

Các văn bản của tỉnh Quảng Ninh

- Nghị quyết số 06-NQ/TU ngày 11/9/2007 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Ninh về xây dựng và phát triển thành phố Cẩm Phả đến năm 2015;

- Quyết định 1748/2010/QĐ-UBND của ủy bản nhân dân tỉnh Quảng Ninh về sửa đổi bổ sung khoản 2 điều 14 Quyết định kèm theo Quyết định số 499/2009/QĐ-

UB ngày 11/2/2010 của ủy ban nhân dân tỉnh qui định vê bồi thường, hỗ trợ và tái định cư

- Quyết định 518/QĐ-UBND ngày 12/3/2014 của UBND tỉnh về việc phê duyệt quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011-2015) thành phố Cẩm Phả;

Trang 20

- Văn bản số 3648/UBND-QH2 ngày 03/7/2014 của UBND tỉnh về trình tự, thủ tục lập, thẩm định và phê duyệt các quy hoạch trên địa bàn tỉnh;

- Quyết định số 1588/QĐ-UBND ngày 28/7/2014 của UBND tỉnh Quảng Ninh

về việc phê duyệt Quy hoạch xây dựng vùng tỉnh Quảng Ninh đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 và ngoài 2050

1.3 Thực tiễn đô thị hóa trên Thế giới và ở Việt Nam

1.3.1 Tình hình đô thị hóa trên thế giới

Từ giữa năm 2009, dân số sống ở khu vực đô thị trên thế giới đạt 3,42 tỷ, lớn hơn dân số sống ở nông thôn (3,41 tỷ) Có sự chênh lệch lớn về mức độ đô thị hoá giữa các nhóm quốc gia trong quá trình phát triển Trong khi tỷ trọng đô thị ở các nước phát triển đã gần 53% năm 1950, các nước ở chậm phát triển cần một thập kỷ nữa mới có một nửa dân số sống tại các khu đô thị Vào năm 2050, dân số đô thị của thế giới sẽ tăng lên 84%, từ 3,4 tỷ năm 2009 lên 6,3 tỷ, gần bằng quy mô dân số của toàn thế giới năm 2004 Về cơ bản, tất cả sự tăng trưởng dân số đô thị của thế giới sẽ tập trung vào các vùng đô thị của các nước đang phát triển, nơi dân số được

dự báo tăng từ 2,5 tỷ năm 2009 lên 5,19 tỷ vào năm 2050 Cũng trong thời gian này, dân số nông thôn của các nước kém phát triển dự báo sẽ giảm từ 3,4 tỷ xuống 2,9

tỷ Trong các nước phát triển hơn, dân số đô thị dự báo sẽ tăng từ 0,9 tỷ năm 2009 lên 1,1 tỷ vào năm 2050 (UN, 2010) [19]

Bảng 1.1 Dân số và dân số đô thị ở nhóm các nước phát triển và

đang phát triển giai đoạn 1950-2050

(Nguồn: UN, 2010)

Trang 21

Bảng 1.1 cho thấy, tỷ lệ tăng dân số đô thị trên thế giới đang chậm lại Từ năm

1950 đến năm 2009, dân số đô thị trên thế giới trong giai đoạn này tăng trung bình 2,6%/năm, với số dân tăng gấp gần 5 lần từ 0,7 tỷ lên đến 3,4 tỷ Trong giai đoạn 2009-2025, dự báo dân số đô thị trên thế giới tăng trung bình 1,8%/năm, nếu mức tăng này tiếp tục được duy trì, dân số đô thị sẽ tăng gấp đôi trong 39 năm nữa Trong giai đoạn 2025-2050, tỷ lệ tăng dân số đô thị ước tính giảm xuống 1,3%/năm.(UN, 2010) [19]

Dân số đô thị tăng kết hợp với giảm tăng dân số nông thôn dẫn đến đô thị hoá liên tục, điều này thúc đẩy sự tăng tỷ lệ dân số sống ở các khu vực thành thị Trên toàn cầu, mức độ đô thị hoá ước tính tăng từ 50% năm 2009 lên đến 69% năm 2050 Các khu vực phát triển hơn có mức độ đô thị hoá tăng từ 75% lên 86% trong cùng thời kỳ Ở các vùng đang phát triển, tỷ lệ đô thị có thể sẽ tăng từ 45% năm 2009 lên đến 66% năm 2050

Bảng 1.2 Tỷ lệ dân số đô thị ở nhóm các nước phát triển và

đang phát triển giai đoạn 1950-2050

Tuy nhiên, cần lưu ý rằng không phải tất cả các nước đang phát triển đều có tỷ

lệ đô thị thấp Trong các vùng đang phát triển, Mỹ La Tinh và vùng Caribe đã có mức đô thị hoá cao (79%) Ngược lại, đa số dân số châu Phi và châu Á sống ở nông thôn (60% và 58%) tương ứng với 40% và 42% dân số sống ở đô thị Trong các thập kỷ tới, mức đô thị hoá sẽ tăng ở tất cả các khu vực chủ yếu của các nước đang phát triển Châu Phi và châu Á có mức độ đô thị hoá nhanh hơn Tuy nhiên, vào giữa thế kỷ, châu Phi và châu Á sẽ vẫn có mức độ đô thị hoá thấp hơn các vùng phát triển, Mỹ La Tinh và vùng Caribe

Trang 22

Bảng 1.3 Tỷ lệ đô thị ở các châu lục/vùng giai đoạn 1950-2050

Tiến trình phát triển đô thị đã góp phần to lớn vào sự nghiệp CNH-HĐH Song

sự bùng nổ đô thị quá tải đã tạo ra hàng loạt vấn đề gay cấn đối với cuộc sống con người, tạo ra sự thiếu cân bằng trong phân bố dân cư và vùng lao động theo vùng lãnh thổ, khả năng cung ứng lương thực, thực phẩm ven đô tiêu hao nhiên liệu, năng lượng, Nếu trong năm 1990, bình quân diện tích đất canh tác trên đầu người ở mức 0,27 ha thì con số này dự báo sẽ tụt xuống 0,17 ha vào năm 2025 Chiến lược chung của vấn đề đô thị hiện nay là:

- Hạn chế việc di cư từ nông thôn ra thành thị trong đó nhu cầu nhất thiết phải nâng cao mức sống nông thôn

- Khi tập trung quá tải cùng với việc hạn chế nhập cư vào các tụ điểm lớn thì đồng thời phải tạo nên sự cân bằng hài hòa dân số đô thị, khuyến khích các đô thị vừa và nhỏ, tăng cường đầu tư hệ thống dịch vụ, xây dựng CSHT, có cơ sở xã hội thỏa đáng

1.3.2 Tình hình đô thị hóa ở Việt Nam

1.3.2.1 Toàn cảnh đô thị Việt Nam

Trong hơn 20 năm tiến hành công cuộc đổi mới, quá trình đô thị hóa diễn ra hết sức nhanh chóng nhất là trong 10 năm trở lại đây, đặc biệt ở các thành phố lớn như: Hà Nội, Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh

Từ năm 1990 các đô thị ở Việt Nam bắt đầu phát triển, lúc đó cả nước mới có khoảng 500 đô thị (tỷ lệ đô thị hóa vào khoảng 17-18%), đến năm 2000 con số này

Trang 23

lên 649 và năm 2003 là 656 đô thị Tính đến nay cả nước có khoảng 700 đô thị, trong đó có 5 thành phố trực thuộc trung ương, 44 thành phố trực thuộc tỉnh, 45 thị

xã và trên 500 thị trấn [5]

Đô thị hoá gắn với công nghiệp hoá, hiện đại hoá đã trực tiếp góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng giảm dần tỷ trọng giá trị nông, lâm, thuỷ sản trong tổng thu nhập quốc dân trong nước (GDP) và tăng dần tỷ trọng các ngành công nghiệp, xây dựng, dịch vụ trong GDP Đối với nông nghiệp, cơ cấu nội ngành chuyển dịch theo hướng phát triển các cây trồng, vật nuôi có năngsuất, chất lượng, hiệu quả cao hơn Trong trồng trọt, tỷ trọng hoa màu, cây công nghiệp, cây ăn quả ngày càng tăng

Sự hình thành trên địa bàn nông thôn những khu công nghiệp, khu chế xuất các trung tâm dịch vụ, các khu đô thị mới đã nâng giá trị sử dụng của đất đai, tạo những ngành nghề và việc làm mới, nâng cao giá trị lao động, tạo môi trường ứng dụng rộng rãi khoa học, công nghệ … Đô thị hoá kích thích và tạo cơ hội để con người năng động, sáng tạo hơn trong tìm kiếm và lựa chọn các phương thức, hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh, vươn lên làm giàu chính đáng Kinh tế phát triển, đời sống của người lao động được cải thiện - đó là xu hướng chủ đạo và là mặt tích cực của đô thị hoá

Nhìn từ bình diện văn hoá, làn sóng đô thị hoá cùng với sự phát triển hạ tầng văn hoá xã hội, mở rộng mạng lưới thông tin đại chúng, tăng cường quan hệ làm ăn, buôn bán giữa các vùng miền đã làm cho diện mạo nông thôn và đời sống tinh thần của cư dân nông thôn ngày càng phong phú, đa dạng hơn Ở nông thôn đã xuất hiện những yếu tố văn hoá đô thị mới mẻ, hiện đại, sự truyền bá các sản phẩm văn hoá, các loại hình văn học, nghệ thuật có giá trị; sự du nhập lối sống, phong cách giao tiếp, ứng xử văn minh, tiến bộ ) làm cho văn hoá làng quê có những sắc thái mới Mức sống văn hoá, trình độ hưởng thụ và tham gia sáng tạo văn hoá của nông dân các vùng đô thị hoá, nhìn trên tổng thể, được nâng lên

1.4.2.2 Những vấn đề nảy sinh từ thực tiễn đô thị hóa

- Vấn đề qui hoạch, quản lý, sử dụng đất đai nông nghiệp: Để thu hút các nguồn vốn, công nghệ phục vụ yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá đất

Trang 24

nước, những năm qua, Nhà nước và chính quyền các địa phương đã thực hiện chính sách cởi mở, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư trong việc tìm kiếm, chọn lựa địa điểm sản xuất, kinh doanh Bình quân hàng năm, tính từ 2001 đến 2007, gần

10 vạn ha và từ 2008-2015 có thêm gần 16 vạn ha đất nông nghiệp được thu hồi đã phục vụ xây dựng các khu công nghiệp, dịch vụ, đường giao thông, khu dân cư; khoảng 50% diện tích đất nông nghiệp thu hồi nằm trong vùng kinh tế trọng điểm, trong đó, 80% thuộc loại đất màu mỡ cho 2 vụ lúa/năm Sự dễ dãi và cả sự yếu kém trong qui hoạch, kế hoạch quản lý, sử dụng đã cùng với tư tưởng chạy theo lợi ích kinh tế trước mắt đã đưa tới tình trạng sử dụng đất tuỳ tiện, lãng phí Hầu hết các khu công nghiệp, dịch vụ, dân cư… đều bám dọc các quốc lộ huyết mạch, các vùng nông thôn trù phú Hệ quả là, hàng chục vạn ha “đất cấu tượng” đất “bờ xôi, ruộng mật” - bao đời nay là tư liệu sản xuất quan trọng và quí giá nhất của người nông dân; nền tảng bảo đảm an ninh lương thực quốc gia - đã bị sử dụng phí phạm, tác động mạnh đến công ăn việc làm, thu nhập và đời sống của hàng chục vạn hộ gia đình nông thôn với hàng triệu lao động nông nghiệp

- Sự ùn đọng lao động ở nông thôn ảnh hưởng đến thu nhập của người dân mất đất sản xuất: Ở Việt Nam, những năm qua, nhất là từ năm 2001 đến nay, quá trình dịch chuyển cơ cấu lao động diễn ra khá nhanh và rõ nét hơn trước Nhìn trên phạm

vi cả nước, tổng lao động làm việc trong các ngành nông, lâm, ngư nghiệp và thuỷ sản chiếm 54,7% (năm 2006), 52,8% (năm 2007), 44% (năm 2015) tổng lao động

xã hội; hàng năm có hàng chục vạn lao động nông nghiệp chuyển sang làm các ngành nghề phi nông nghiệp Điều tra gần đây của Tổng cục Thống kê cho thấy, trong số lao động di cư, có tới 2/3 là lao động trẻ (15-19 tuổi); hơn 50% là di cư để tìm việc làm, 47% là để cải thiện điều kiện sống Một điều tra khác của Viện Khoa học lao động và xã hội cũng cho thấy, trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, tỷ lệ lao động ngoại tỉnh chiếm tới 70% Tính đến tháng 12/2015

cả nước có hơn 340 khu công nghiệp, khu chế xuất phân bổ ở 63 tỉnh, thành trên cả nước với khoảng trên 1,4 triệu người lao động đang làm việc, trong đó có trên 800.000 người lao động di cư từ các tỉnh khác hoặc huyện khác đến [4]

Trang 25

- Suy thoái về văn hoá, xã hội: môi trường nông thôn Việt Nam là chiếc nôi sản sinh, nuôi dưỡng, bảo vệ văn hoá dân tộc ngàn năm Những năm qua, một số yếu tố tiến bộ của văn hoá đô thị đã lan toả về nông thôn, tạo nên những sắc thái mới trong đời sống, sinh hoạt tinh thần của người nông dân và cộng đồng làng xã Nhiều loại hình, giá trị văn hoá ở nông thôn cũng được giới thiệu rộng rãi, thuận lợi hơn ở các đô thị Đó là mặt thuận Mặt chưa thuận là, do thiếu chuẩn bị, thiếu định hướng, chọn lọc và do cả những bất cập trong công tác qui hoạch, quản lý văn hoá, không ít những yếu tố phi văn hoá, phản văn hoá, từ đô thị và từ các phương tiện truyền thông, đặc biệt từ internet, đã thâm nhập vào đời sống nông thôn, đưa tới những vấn nạn xã hội đáng suy nghĩ Việc sử dụng không hợp lý, lãng phí quĩ đất canh tác; tình trạng san lấp, lấn chiếm ao hồ, sông, suối, các công trình thuỷ lợi; nạn đốt phá rừng, khai thác khoáng sản tuỳ tiện cùng với sự yếu kém trong xử lí nước thải, rác thải, bụi, khói, tiếng ồn đang làm cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, phá vỡ

hệ sinh thái, gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp, cảnh quan nông thôn, đời sống và sức khoẻ của nông dân, giảm thiểu khả năng đề kháng, thậm chí làm trầm trọng thêm những tai biến của tự nhiên Những nghịch lý, mâu thuẫn, thách thức nêu trên và những hệ luỵ của chúng là có thật, đang từng ngày diễn ra trong quá trình đô thị hoá, từng giờ tác động đến nông nghiệp, nông thôn, nông dân Song đó là những khó khăn khó tránh trên con đường đi lên, là hai mặt biện chứng của quá trình phát triển.[3]

1.4 Ảnh hưởng đô thị hóa đến sử dụng đất và cuộc sống người dân

1.4.1 Ảnh hưởng đô thị hóa đến sử dụng đất

Tốc độ đô thị hóa của Việt Nam tăng mạnh, từ đó cho thấy nhu cầu về nhà ở của người dân đô thị là vô cùng lớn, kéo theo đó là giá đất tăng lên nhanh và có sự chênh lệch lớn giữa giá đất nông nghiệp và đất ở Theo ông Nguyễn Đăng Quý cho rằng giá đất ở đô thị Việt Nam hiện nay quá cao so với khu vực và thế giới và thậm chí còn cao hơn cả một số nước có giá bất động sản cao vào loại nhất, nhì thế giới như Nhật Bản - mà nguyên nhân chính lại là do quá trình đô thị hoá quá nhanh [17]

Đô thị hoá làm tăng tình trạng chuyển nhượng đất nông nghiệp, Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp công bố kết quả điều tra khảo sát về tình trạng

Trang 26

chuyển đổi mục đích sử dụng và chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở nông thôn Kết quả cho thấy, việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở nước ta bị coi là bất hợp pháp, nhưng vẫn có tới gần 3,8% số người được phỏng vấn đã trả lời là đã từng bán đất trong giai đoạn từ 1980 - 1988 Các giai đoạn tiếp theo, việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở nước ta cứ tăng dần theo tỷ lệ: 4,67% (giai đoạn 1998 - 2003)

và từ năm 2003-2015 đã lên tới 7,28% Vùng có số hộ chuyển nhượng đất cao nhất

là Đông Nam Bộ (hơn 49,5%), Tây Nguyên (43,2%), đồng bằng sông Cửu Long (34,6%) và tiếp đến là vùng đồng bằng sông Hồng Nguyên nhân chính để người dân vùng nông thôn chuyển nhượng quyền sử dụng đất là do tác động của quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá nhanh nên họ bị thu hồi đất; đồng thời họ cũng rất cần tiền đầu tư cho sản xuất (làm trang trại, mua sắm máy móc ), chuyển sang làm việc khác, để trả nợ, xây dựng nhà cửa, mua sắm đồ dùng gia đình

Quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ làm cho nhu cầu sử dụng đất tăng lên, thúc đẩy giá đất tăng cao cũng sẽ là một nguyên nhân làm nảy sinh các vụ việc khiếu kiện, tố cáo, tranh chấp về đất đai ngày một phức tạp hơn như: khiếu nại về bồi thường, hỗ trợ tái định cư; về việc cấp, thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; quyết định xử phạt vi phạm hành chính về vi phạm chế độ quản lý, sử dụng đất đai; việc giải quyết các tranh chấp về đất đai của các cơ quan nhà nước; tranh chấp các tài sản trên mặt đất;

1.4.2 Ảnh hưởng đô thị hóa đến đời sống người dân

Trong quá trình đô thị hoá, cùng với việc tăng dân số đô thị là sự chuyển đổi

cơ cấu kinh tế Trên góc độ dân số và lao động, đô thị hoá là quá trình chuyển đổi

cơ cấu dân só từ lao động nông nghiệp sang lao động công nghiệp và dịch vụ Những người nông dân trước đây gắn bó với ruộng vườn, sau khi trở thành dân cư

đô thị, họ bị mất phần lớn ruộng đất canh tác Với số tiền được Nhà nước đền bù, họ dùng để tạo nghề mới, xây dựng nơi cư trú mới,… và đã làm cho cuộc sống của họ thay đổi dần với một nguồn thu nhập mới Khi chuyển đổi sang các ngành nghề công nghiệp và dịch vụ, nhìn chung thu nhập của người dân được tăng lên nhanh chóng Tuy nhiên, vì chịu sự tác động của nhiều yếu tố đã làm cho tốc độ tăng của

Trang 27

mỗi cá nhân, mỗi nhóm xã hội, mỗi nghề nghiệp rất khác nhau Sự phân hoá giàu nghèo ngày càng tăng rõ rệt [30]

Theo thông tin từ Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đưa ra tại hội nghị lần thứ 11 của Ban chấp hành Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam (khóa IX), diễn ra ngày 25/7/2008 về khoảng cách thu nhập giữa nhóm tiền lương cao với mức trung bình tại Hà Nội là 42 lần (75,2 triệu đồng/tháng so với mức bình quân 1,8 triệu đồng/tháng), tại Tp.HCM là 109 lần (240 triệu đồng/tháng so với 2,2 triệu đồng/tháng) [2]

- Sở dĩ có sự chênh lệch lớn về thu nhập như vậy là do:

+ Thứ nhất, việc trả lương đã không còn bị bó buộc bởi các quy định, định mức như trước đây Rõ ràng trong khối doanh nghiệp ngoài Nhà nước, hiện nay việc chi trả cho một bộ phận người lao động có trình độ cao, hay các vị trí quản lý chủ chốt, có kinh nghiệm, quan hệ rộng … không căn cứ trên hệ thống thang, bảng lương mà được tính bằng hiệu quả công việc đem lại cho doanh nghiệp

+ Thứ hai, thỏa thuận mức lương đã theo quy luật cung cầu về lao động Các

vị trí lao động giản đơn, lao động phổ thông hiện có lượng cung lớn, ngoài nguồn

bổ sung hàng năm vẫn tăng của lực lượng lao động, một bộ phần chuyển dịch của lao động nông nghiệp mất đất sang các lĩnh vực công nghiệp … Thêm vào đó, việc sắp xếp lại lao động để tạo hiệu quả trong điều hành doanh nghiệp trong thời gian qua cũng trả lại thị trường lao động một lượng nhân lực lớn, làm gia tăng nguồn cung mà đặc biệt là lao động giản đơn Trong khi đó, các vị trí điều hành cần kinh nghiệm và chuyên môn sâu thì nguồn cung ngày càng thiếu hụt

+ Thứ ba, mức lương chịu tác động bởi biến động nhân lực của từng ngành Quá trình đô thị hoá cùng với sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế, nền kinh tế chuyển sang hoạt động theo cơ chế thị trường, sự cạnh tranh về lao động và việc làm xảy ra khiến cho thu nhập người lao động đi về hai hướng Một là nhóm cần việc làm phải chịu mức lương thấp Một nhóm khác do cạnh tranh thu hút từ chủ sử dụng lao động, hay nói cách khác, doanh nghiệp cần họ, đã đẩy mức lương tăng cao Dẫn đến

có một thực tế là thu nhập của nhóm cao tăng rất nhanh, trong khi nhóm thu nhập trung bình và thấp thì ít tăng và tăng chậm

Trang 28

Quá trình đô thị hóa không những ảnh hưởng lớn đến quá trình phát triển kinh

tế xã hội của đất nước mà còn làm thay đổi cuộc sống của một bộ phận lớn dân cư nông thôn về lao động, việc làm, thu nhập Quá trình đô thị hóa gắn liền với quá trình chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất, khi đó một lượng lớn đất nông nghiệp sẽ được

sử dụng vào việc xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị Vậy bố trí diện tích đất như thế nào là hợp lý? diện tích đất nông nghiệp còn lại đã đủ đảm bảo an toàn lương thực hay chưa? phát triển đô thị theo hướng nào là tốt nhất để không làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sinh thái

1.5 Một số kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của quá trình phát triển đô thị trên Thế giới và Việt Nam

1.5.1 Tình hình nghiên cứu trên Thế giới

Theo các nhà khoa học của Mỹ và Thổ Nhĩ Kỳ khi nghiên cứu về Đô thị hóa

và nền kinh tế không chính thức thì một phần nhân tố tăng trưởng trong thời kỳ đầu của đô thị hóa do một số yếu tố kéo và đẩy Tuy nhiên, nó có xu hướng giảm trong giai đoạn sau [1] Họ cũng cho thấy rằng các yếu tố như mức thuế, mở cửa thương mại và chất lượng thể chế có xu hướng ảnh hưởng đến kích thước của nền kinh tế không chính thức Các nhà khoa học đã sử dụng ba biến số khác nhau để đánh giá mức độ phi chính thức Cách tiếp cận này xây dựng dựa trên các tác phẩm của Frey andmWeck-Hannemann (1983, 1984) và chủ yếu dựa vào việc sử dụng một mô hình phương trình cấu trúc cụ thể [1]

Các bằng chứng thực nghiệm cho thấy một mối quan hệ ngược giữa đô thị hóa

và nhân tố không chính thức Theo giải thích của các nhà khoa học, kết quả này là

do một số yếu tố mà cả hai yếu tố đẩy và kéo quay sang khu vực phi chính thức ở giai đoạn đầu của công nghiệp hóa Trong giai đoạn phát triển sau này, tác động của các yếu tố kéo và đẩy được giảm như là một kết quả tự nhiên của người dân nông thôn nhận được giàu có Ngoài ra, tích lũy vốn lớn hơn dẫn đến hàm lượng vốn lớn

và làm giảm thị phần của các hoạt động chính thức Những kết quả này cũng phù hợp với giả thuyết Kuznetsian, dự đoán một mối quan hệ ngược giữa phát triển đô thị và bất bình đẳng Sự phát triển của khu vực phi chính thức phần nào giải thích sự bất bình đẳng gia tăng trong quá trình phát triển Tuy nhiên, nghiên cứu cũng cho

Trang 29

thấy rằng các biến số khác như thương mại, gánh nặng thuế, cơ cấu thể chế và các biến tương tự có thể nhấn mạnh hoặc giảm thiểu xu hướng ngược điển hình [1] Theo một số nhà khoa học Mỹ và Anh khi nghiên cứu về quan hệ giữa đô thị hóa và môi trường tự nhiên thì: Theo Matthew Thomas Clement, Đại học Oregon, Eugene, Mỹ nghiên cứu về mối quan hệ giữa đô thị hóa và môi trường tự nhiên Khi nhìn vào đô thị hóa từ góc độ môi trường - xã hội học, các nhà nghiên cứu đã cho rằng đô thị hóa và phát triển đô thị đóng góp vào suy thoái môi trường, đô thị hóa làm giảm thế giới tự nhiên hơn là đô thị hóa tốt cho môi trường [1]

Theo Catton, Đại học Illinois, thì cường độ của tương tác xã hội gia tăng cạnh tranh về tài nguyên Ở các nước giàu có, mật độ dân số cao mức độ cạnh tranh trầm trọng hơn do đô thị hóa, Catton đã nhận xét, "áp lực dân số đã tăng cường khía cạnh cạnh tranh của sự tương tác của con người" Bằng cách này, đô thị hóa gây áp lực lớn đối với môi trường tự nhiên; ngày càng có nhiều nguồn tài nguyên được khai thác, đưa xã hội loài người tới một vị trí ngày càng bấp bênh đối với phát triển bền vững [1]

Theo Engels khi tìm hiểu về mối quan hệ giữa sự tha hóa, đô thị hóa và môi trường tự nhiên, Engels tiết lộ lợi nhuận tích lũy ở các khu vực đô thị có liên quan đến những thiếu thốn vật chất của lao động và môi trường Ngành công nghiệp tư bản chủ nghĩa không chỉ công nhân xa lạ với quá trình sản xuất mà công nghiệp phát thải ô nhiễm vào không khí và nước [1]

1.5.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

Theo Đặng Hùng Võ tại báo cáo Hội thảo của WB chính sách đất đai tại Việt Nam năm 2010 Tác giả phân tích những hạn chế của cơ chế hai giá trong việc thu hồi đất đai nông nghiệp thời gian qua đó là còn mang tính chất hành chính bao cấp

và vi phạm lợi ích của người sử dụng đất Điều này gây những tổn thất lớn cho ngân sách và tình trạng tham nhũng, lãng phí về đất đai Mặt khác, người dân được bồi thường không thỏa đáng và nảy sinh khiếu kiện, tranh chấp đất đai ngày càng phức tạp, gây bất ổn xã hội Từ đây, nêu những kiến nghị hoàn thiện Luật Đất đai nhằm khẳng định quyền quản lý, định đoạt thống nhất của nhà nước; đồng thời thừa nhận quyền sử dụng đất của nông dân như một thứ hàng hóa đặc biệt; áp dụng cơ chế thị

Trang 30

trường khi thu hồi đất và cơ chế tự thỏa thuận nhà đầu tư với người sử dụng đất; chuyển việc xử lý tranh chấp khiếu kiện về đất đai sang cho cơ quan tài phán; đồng thời phát triển các định chế thị trường nhà đất giúp cho công tác định giá, bồi thường khi thu hồi đất [45]

Theo Nguyễn Văn Nam, Kỷ yếu Hội thảo đề tài Hậu giải phóng mặt bằng năm

2009 [18] Tác giả phân tích các bức xúc về giải quyết lao động việc làm cho người nông dân ven đô thị mất đất nông nghiêp Chỉ ra rằng, công nghiệp hóa và đô thị hóa chỉ thành công khi chuyển đổi được người nông dân thành một công dân đô thị, giúp cho họ tránh được các “cú sốc” để hội nhập vào đời sống đô thị và văn minh thị trường-công nghiệp Một trong những khả năng này là tạo cho họ quỹ đất dịch

vụ và giúp cho người dân có tổ chức kinh tế độc lập của mình Ví dụ, như các Hợp tác xã mua bán hay kinh doanh ngành nghề dịch vụ nhằm đáp ứng cho chính ngay các nhu cầu dân sinh thiết yế của vùng đô thị hóa Đây cũng chính là giải pháp cải thiện chất lượng sống và chất lượng đô thị hóa

Trong bài “Tác động xã hội vùng của các KCN ở các nước Đông Nam Á và Việt Nam”, Kỷ yếu Hội thảo quốc tế, Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Hà Nội, 2009 Kỷ yếu là một tập hợp bao gồm các tham luận của nhiều nhà nghiên cứu Nhật Bản, Việt Nam và các nước Đông Nam Á, một số địa phương vùng đồng bằng sông Hồng Nội dung nghiên cứu, khảo sát về tình hình phát triển KCN - KCX tại vùng Đồng bằng Sông Hồng và một số nước Đông Nam Á Các báo cáo cho thấy ngoài tác động tích cực thì quá trình phát triển KCN - KCX cũng gây ra các hiệu ứng tiêu cực cho vùng như: ô nhiễm môi trường nông thôn, phá vỡ kết cấu văn hóa - xã hội truyền thống, thu hẹp đất canh tác và nông dân thiếu việc làm Đặc biệt, đời sống người lao động trong các KCN - KCX cũng đang đặt ra nhiều vấn đề bức xúc, nhất là về nhà ở và tổ chức cuộc sống vật chất - tinh thần cho họ Các nhà nghiên cứu đưa ra mô hình khả thi được nhiều nước Đông Nam Á áp dụng là: mô hình KCN - KCX gắn với tổ chức các khu nhà ở - đô thị vệ tinh cho công nhân và người lao động trong bán kính không quá xa để

họ có thể đi về thuận tiện, hay còn gọi “mô hình sáng đi - tối về” [17]

Theo Nguyễn Thị Hải Vân trong Kỷ yếu Hội thảo Hậu giải phóng mặt bằng - Viện Khoa học xã hội Việt Nam 2012 [44] Tác giả đã chỉ ra rằng, Hà Nội trung

Trang 31

tâm kinh tế và đô thị lớn của cả nước, nơi đang diễn ra quá trình ĐTH với tốc độ cao, đồng thời có biểu hiện rõ nhất các tác động cả tích cực và tiêu cứ của ĐTH tới lao động việc làm nông thôn Cùng với nguy cơ mất đất nông nghiệp, không đảm bảo việc làm và sinh kế bền vững, thì tình trạng đói nghèo và thu nhập thấp có xu hướng tăng lên, đang đe dọa một bộ phận dân cư nông thôn ngoại thành Trong khi công tác đào tạo nghề và giải quyết việc làm lại chức đi vào thực chất và chưa mang lại hiệu quả như mong muốn Các cơ chế, chính sách phối hợp giữa ĐTH và giải quyết lao động việc làm chưa được chú ý đúng mức Từ đây, tác giả đưa ra những giải pháp cơ bản điều chỉnh các tác động của quá trình đô thị hóa tới lao động việc làm ở nông thôn theo hướng tích cực, chủ động

1.6 Kinh nghiệm một số địa phưng trong giải quyết vấn đề đô thị hóa cho lao động nông nghiệp nông thôn

Đô thị hóa mạnh mẽ tại các đô thị lớn đang tạo hiệu ứng thúc đẩy đô thị hóa nhanh lan toả diện rộng trên phạm vi các tỉnh, các vùng và cả nước Nhiều đô thị mới, khu đô thị mới được hình thành phát triển; nhiều đô thị cũ được cải tạo, nâng cấp hạ tầng cơ sở: đường xá, điện nước, cơ sở giáo dục, y tế, vệ sinh môi trường…Các đô thị Việt Nam đang nỗ lực phát triển, nâng tầm cao với kiến trúc hiện đại, tuy nhiên đô thị hóa cũng đang đặt ra nhiều vấn đề trong đó có vấn đề giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp bị thu hồi đất

Các đô thị lớn như ở Hà Nội, TP.HCM, Đà Nẵng, Hải Phòng đã có nền tảng phát triển kinh tế vững chắc, số lượng các cơ sở sản xuất công nghiệp và dịch vụ thương mại cũng tăng mạnh hơn Tại đây, để giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp bị thu hồi đất sản xuất chính quyền các địa phương đang thực hiện chuyển dịch mạnh mẽ sang các lĩnh vực giáo dục, dịch vụ tài chính – ngân hàng, bất động sản, viễn thông và truyền thông…

Một số địa phương có điều kiện tự nhiên đặc biệt như Hạ Long, Nha Trang, Đà Lạt, Sa Pa, Phú Quốc… hay các đô thị có di sản văn hóa - lịch sử tầm cỡ quốc gia

và quốc tế như Huế, Hội An, Hạ Long, Côn Đảo,…thì chính quyền địa phương coi

du lịch đã trở thành động lực phát triển chính, là giải pháp để chuyển đổi việc làm cho lao động địa phương bị thu hồi đất khi phương

Trang 32

Với các khu đô thị, các khu kinh tế cấp quốc gia như: Khu kinh tế Vân Đồn (Quản Ninh), Đình Vũ – Cát Hải (Hải Phòng), Nghi Sơn (Thanh Hóa), Nghệ An (Bắc TP Vinh), Vũng Áng (Hà Tĩnh), Hòn La (Quảng Bình), Chân Mây – Lăng Cô (Thừa Thiên - Huế), Chu Lai (Quảng Nam), Dung Quất (Quảng Ngãi), Nhơn Hội (Bình Định), Văn Phong (Khánh Hòa), Nam Phú Yên (Phú Yên), đảo Phú Quốc (Kiên Giang), là các khu kinh tế tổng hợp đa ngành có quy mô sản xuất lớn, có hạ tầng quan trọng là cảng biển có diện tích đất đai rất lớn là nền tảng để hình thành và phát triển các đô thị mới [4] Để giải quyết việc làm cho lao động địa phương bị thu hồi đất, chính quyền địa phương đều có những cơ chế chính sách ràng buộc với chủ đầu tư khi thực hiện cấp phép đầu tư, trong đó phần lớn các địa phương yêu cầu danh nghiệp chủ đầu tư phải thực hiện cam kết sau khi các dự án hoàn thành phải sử dụng ít nhất 30% lao động địa phương

Bên cạnh kết quả đạt được thì đánh giá chung phát triển đô thị hóa Việt Nam trong giai đoạn vừa qua có nhiều chuyển biến nhưng vẫn còn những tồn tại bất cập:

Về đất đô thị, tổng diện tích cả nước 331.698 km2, diện tích đất đô thị không

có biến động so với năm 2013, đến nay, tổng diện tích đất tự nhiên toàn đô thị đạt 34,017 km2 chiếm khoảng 10,26% diện tích đất tự nhiên của cả nước, nội thành nội thị 14.760 km2 chiếm khoảng 4,42% diện tích đất tự nhiên của cả nước Nhiều khu vực nội thành nội thị vẫn còn 50-60%[4] diện tích đất nông nghiệp hoặc để trống chưa sử dụng phát triển đô thị Hiện tượng chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất đặc biệt vùng ven đô đang rất cần quản

lý chặt chẽ

Phát triển đô thị và đô thị hóa trên phạm vi toàn quốc hiện chưa thể hiện rõ bản sắc địa phương và đặc điểm khí hậu vùng, miền, tạo sự cách biệt giữa đô thị và nông thôn Bộ mặt kiến trúc cảnh quan đô thị còn lộn xộn, thiếu thẩm mỹ làm đảo lộn đời sống văn hóa tình thần nông thôn ở nhiều địa phương có dự án đô thị hóa Đối với công tác quy hoạch, bất cập hiện nay là chưa xác định rõ mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất với quy hoạch ngành kinh tế và giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất

Trang 33

Chính quyền chưa có giải pháp điều hòa các lợi ích nhà nước - chủ đầu tư và người dân, khiến nhiều địa phương lực lượng lao động bị thu hồi đất phục vụ các dự

án đô thị lâm vào tình trạng thất nghiệp

Đô thị hóa ở Việt Nam hôm nay chưa tạo được nhiểu ngành nghề mới cho lao động nông nghiệp Những nghề người nông dân đang làm tại đô thị như: “xe ôm, cửu vạn, phụ hồ, giúp việc [4]… không có tác dụng đến nâng cao tay nghề cho lực lượng sản xuất hay đẩy mạnh tiến trình tăng năng suất, chất lượng lao động xã hội Một số “nghề” còn cho thấy mặt trái, mầm mống xuất hiện của “hình sự hoá” cộng đồng Di dân gây áp lực về hạ tầng cho nhiều đô thị, trong khi nông thôn không có người làm ruộng, xuất hiện tình trạng nhà không có người ở, ruộng vườn bỏ không, nông thôn chỉ có người già và trẻ nhỏ Nếu định hướng phát triển công nghiệp, quy trình dậy nghề còn chưa rõ ràng, thì ước mơ thoát làm nông dân sẽ khó thực hiện được.Tuy đã có một hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật đã và đang được nghiên cứu hoàn thiện và đưa vào áp dụng thực tế tuy nhiên tại hiện trường nhiều chỉ tiêu sử dụng lỗi thời

Đi đôi với tăng trưởng và phát triển là những thách thức của sự phát triển nóng, thiếu ổn định, bền vững của các đô thị và nông thôn Chúng ta đang ép dân số

ở khu vực nông thôn từ 70% xuống còn 50% [4] trong những năm 2020-2030 theo

lộ trình đô thị hóa Để thực thi tốt lộ trình chuyển đổi này người nông dân cần được đào tạo để chuyển đổi nghề thì đô thị hóa mới thực sự có giá trị trong giai đoạn hiện nay

Trang 34

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Quá trình đô thị hóa thành phố Cẩm Phả đến đất nông nghiệp đến đồi sống và việc làm của người dân

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi không gian: Nghiên cứu trên địa bàn thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh

- Phạm vi thời gian: Quá trình đô thị hóa thành phố Cẩm Phả giai đoạn 2011-2015

2.2 Nội dung nghiên cứu

2.2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội va ̀ tình hình đô thi ̣ hóa của thành phố Cẩm Pha ̉

- Đặc điểm về điều kiện tự nhiên của thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh

- Đánh giá tiềm năng, cơ hội và hạn chế của điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội đến sự phát triển kinh tế - xã hội và đô thị hóa của thành phố Cẩm Phả

2.2.2 Ảnh hưởng của đô thị hóa đến đất nông nghiệp

- Đánh giá ảnh hưởng của đô thị hóa đến tình hình chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn thành phố Cẩm Phả giai đoạn 2011-2015

- Đánh giá ảnh hưởng của đô thị hóa đến tình hình sử dụng đất nông nghiệp

2.2.3 Tác động của quá trình đô thị hóa đến đời sống và việc làm của người dân trên địa bàn thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh

- Chuyển đổi hoạt động kinh tế của các hộ nông dân mất đất nông nghiệp do quá trình đô thị hóa

- Thực trạng đời sống kinh tế các hộ mất đất nông nghiệp do đô thị hóa

- Ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa tới nghề nghiệp của các hộ

- Ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa tới đời sống của người dân

- Đánh giá sự ảnh hưởng của đô thị hóa tới đời sống kinh tế - xã hội của các hộ thông qua các câu hỏi định tính

Trang 35

2.2.4 Định hướng và một số giải pháp nâng cao đời sống người dân, tăng cường vai trò quản lý Nhà nước trong quá trình đô thị hóa tại thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh

- Định hướng phát triển đô thị hóa trên địa bàn thành phố Cẩm Phả trong thời gian tới

- Những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao đời sống kinh tế người dân trong khu vực đô thị hóa

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Phương pháp thu thập tài liệu thông tin

2.3.2.1 Tài liệu thứ cấp

- Tài liệu, số liệu đã được công bố về tình hình kinh tế, xã hội nông thôn, kinh

tế của các ngành sản xuất, đời sống của các nông hộ nông nghiệp nằm trong khu vực bị thu hồi đất… các số liệu này thu thập từ phòng Tài nguyên và Môi trường, phòng Thống kê, Ban Quản lý dự án, Trung Tâm phát triển Quỹ đất thành phố, phòng Kinh tế thành phố, và các ban, ngành có liên quan Trên cơ sở đó tiến hành tổng hợp các thông tin cần thiết phục vụ cho công tác nghiên cứu

- Các sách, báo, tạp chí, các văn kiện nghị quyết, các chương trình nghiên cứu

đã được xuất bản, các tài liệu trên internet v.v

2.3.2.2 Tài liệu sơ cấp

Số liệu sơ cấp là những số liệu phục vụ cho nội dung nghiên cứu đề tài Những

số liệu này được thu thập từ việc điều tra các hộ có sản xuất nông nghiệp

- Cơ sở chọn mẫu điều tra: Dựa trên quy mô dân số, tỉ lệ đất thu hồi các đơn

vị, tác giả tiến hành chọn mẫu 120 hộ thuộc diện đã bị mất đất nông nghiệp trên địa bàn 6/16 xã, phường thuộc thành phố Cẩm Phả để điều tra theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên Khu vực điều tra lấy ý kiến người dân là những khu vực đang quy hoạch các dự án phát triển đô thị của thành phố Cẩm Phả bao gồm các phường Mông Dương, Cẩm Bình, Cẩm Đông, Quang Hanh và các xã Cẩm Hải, Cộng Hòa

- Phương pháp phát phiếu điều tra: Tác giả, tiến hành điều tra các hộ sản xuất nông nghiệp bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp 1 thành viên hiểu biết về nông nghiệp của gia đình, ngoài ra có sự đóng góp ý kiến của các thành viên khác trong gia

Trang 36

đình Điều này đảm bảo lượng thông tin có tính đại diện và chính xác Câu hỏi được soạn thảo bao gồm các câu hỏi đóng và câu hỏi mở

- Nội dung cụ thể nghiên cứu ảnh hưởng đời sống người dân từ quá trình đô thị hóa thu hẹp đất sản xuất trong nông nghiệp được tác giả test qua một cuộc điều tra bằng phiếu thăm dò theo mẫu [Phụ lục số 1]:

2.3.2 Phương pháp xử lý số liệu

2.3.2.1 Phương pháp tổng hợp

Là phương pháp thống nhất liệt kê toàn bộ các yếu tố, các nhận xét mà khi ta

sử dụng các phương pháp có được thành một kết luận hoàn thiện, đầy đủ Chỉ ra mối liên hệ giữa chúng, khái quát hóa các vấn đề trong nhận thức tổng hợp

Sử dụng phần mềm EXCEL: các tài liệu thu thập được, tác giả đưa vào máy tính, dùng chính phần mềm EXCEL để tổng hợp, tính toán các chỉ tiêu cần thiết như

số tuyệt đối, số tương đối và số trung bình

2.3.2.2 Phương pháp thống kê so sánh

Là phương pháp sử dụng phổ biến trong phân tích để xác định mức độ, xu thế biến động của các chỉ tiêu phân tích Phương pháp này cho ta thấy những điểm giống và khác nhau giữa các thời điểm nghiên cứu đã và đang tồn tại trong những giai đoạn lịch sử phát triển nhất định, đồng thời giúp cho ta phân tích được các động thái phát triển của chúng

Trang 37

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1 Điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội va ̀ đô thi ̣ hóa thành phố Cẩm Phả

3.1.1 Điều kiện tự nhiên

Cẩm Phả có toạ độ địa lý từ 20o58'10 - 21o12' vĩ độ bắc, 107o10' - 107o23'50 kinh độ đông; là một thành phố thuộc “tuyến phía Đông” của tỉnh Quảng Ninh Phía Bắc giáp huyện Ba Chẽ và huyện Tiên Yên, phía Nam là vịnh Bái Tử Long giáp thành phố Hạ Long và huyện Vân Đồn, phía Đông giáp huyện Vân Đồn, phía Tây giáp huyện Hoành Bồ và thành phố Hạ Long Thành phố cách Hà Nội 180 km, cách thành phố Hải Phòng 100 km, cách thành phố Hạ Long 30 km và cách thành phố Móng Cái 140 km Quá trình phát triển về mọi mặt của Thành phố luôn gắn bó hữu

cơ với sự phát triển của các vùng miền (liền kề khu kinh tế Vân Đồn, với các thành phố Hạ Long, Móng Cái, Uông Bí) và đặc biệt là sự phát triển của ngành công nghiệp khai thác mỏ và công nghiệp nhiệt điện (từ năm 2013)

Các đơn vị hành chính, Ngày 21-2, trước thềm diễn ra Hội nghị xúc tiến đầu

tư Quảng Ninh 2012, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Nghị quyết số

04/NQ-CP “Về việc thành lập TP Cẩm Phả thuộc tỉnh Quảng Ninh” trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên, dân số và các đơn vị hành chính trực thuộc của thị xã Cẩm Phả Đây

là sự ghi nhận những nỗ lực, cố gắng của cấp uỷ, chính quyền nhân dân và lực lượng vũ trang Cẩm Phả trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội

Thành phố Cẩm Phả ngày nay là một đơn vị hành chính gộp chung của thị xã Cẩm Phả mỏ và thị xã Cẩm Phả bến trước kia (còn gọi là Cửa Ông) cùng các phố than Mông Dương, Cọc Sáu xưa Vì lí do đó các đơn vị hành chính nằm dọc và kéo dài theo một dải với độ dài hơn 70km với các khu dân cư được ghép nối thành một dải tạo nên một hình dáng đô thị đặc biệt

Trang 38

Qua ng Ha nh

Cộng Hoà

Cẩm HảiMông Dương

Dương Huy

Cửa Ông

Cẩm Thịnh

Cẩm Phuú

Ca m Son

Cẩm ĐôngCẩm Thạch

Cẩm ThuỵCẩm TrungCẩm ThanhCẩm Bình

Trang 39

Bảng 3.1 Diện tích dân số các đơn vị hành chính thành phố Cẩm Phả

và vùng biển chiếm 13,3%

Có 4 dạng chính: đồi núi cao, đồi thấp, đồng bằng và bãi sú vẹt ven biển: Địa hình núi cao có độ dốc >25%, khu vực phía Bắc là các đỉnh núi cao gồm nhiều mỏ than nối tiếp nhau, có 2 nếp đứt gãy địa hình dọc theo Quốc lộ 18A và 18B, cao độ

từ +120 đến +200m Địa hình đồi thấp: khu vực Mông Dương có độ dốc dưới 20%, cao độ từ +20 đến +40m Địa hình đồng bằng bao gồm khu vực trung tâm đô thị thành phố, khu Cửa Ông, Cọc 6 có độ dốc từ 2 đến 10%, cao độ từ +3 đến +20m Bãi sú vẹt ven biển có cao độ trung bình từ 0,4 đến 0,6m, thường xuyên chịu ảnh hưởng của nước biển

Trang 40

Cẩm Phả sở hữu nguồn tài nguyên phong phú (trữ lượng than lớn nhất cả nước, có đá vôi, đất sét, nước khoáng, antimon ) để phát triển các ngành công nghiệp khai thác, chế biến than, sản xuất xi măng, nhiệt điện, sản xuất vật liệu xây dựng, phát triển trồng rừng gắn với công nghiệp chế biến gỗ Với đường bờ biển dài khoảng 73 km, Thành phố có điều kiện thuận lợi để phát triển cảng biển, nuôi trồng

và chế biến thủy hải sản Bên cạnh đó, Thành phố còn có vịnh Bái Tử Long xinh đẹp liền kề với vịnh Hạ Long (một di sản thiên nhiên thế giới), nguồn nước khoáng quý hiếm (Quang Hanh, Cẩm Thạch), khu di tích lịch sử - văn hoá đền Cửa Ông được xếp hạng cấp Quốc gia, khu Vũng Đục thuận lợi cho phát triển du lịch biển đảo, du lịch tâm linh, du lịch nghỉ dưỡng và chữa bệnh chăm sóc sức khỏe Cẩm Phả có một số di tích và thắng cảnh rất nổi tiếng như đền Cửa Ông, đảo Rều (đảo Khỉ), Hòn Hai, di tích Vũng Đục, động Quang Hanh

Theo Quy hoạch phát triển than vùng Cẩm Phả đến năm 2020, Thành phố có trữ lượng than ước tính khoảng 2,2 tỉ tấn, trong đó sản lượng khai thác đến năm

2020 đạt khoảng 0,9 tỉ tấn Than sẽ tiếp tục giữ vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của Thành phố Tuy nhiên, đây là nguồn tài nguyên hữu hạn nên cần đa dạng hóa các lĩnh vực phát triển khác để giảm dần sự lệ thuộc vào than nhằm đảm bảo phát triển kinh tế bền vững trong tương lai

Nguồn tài nguyên đá vôi phân bố tập trung chủ yếu trên địa bàn phường Quang Hanh Đây là nguồn nguyên liệu chính cho sản xuất xi măng và vật liệu xây dựng Sản lượng khai thác đá vôi hàng năm đạt xấp xỉ 732.000 tấn Nhà máy Xi măng Cẩm Phả là nhà máy xi măng lớn nhất Việt Nam với công suất khoảng 2,3 triệu tấn xi măng/năm Ngoài ra, Thành phố còn sở hữu trữ lượng đất sét lớn chủ yếu tập trung ở phường Quang Hanh và xã Cộng Hòa

3.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội

Dân cư, Cẩm Phả có 195.800 người năm 2010, đến năm 2015 dân số của tỉnh tăng lên là gần 223.700 người với mật độ dân cư: 517 người/km² Hầu hết là người Kinh (95,2%), còn lại đáng kể là người Sán Dìu (3,9%) Người Sán Dìu là những cư dân định cư đầu tiên ở Cẩm Phả, vào thế kỉ 19 khi Pháp tiền hành khai thác than ở đây một lượng lớn thanh niên từ khắp nơi ở vùng đồng bằng bắc bộ được đưa đến sinh sống và làm việc trong những mỏ của người Pháp, họ cũng chính là giai cấp công nhân đầu tiên ở Việt Nam Vì thế hiện tại người Cẩm Phả phần lớn là công nhân ngành than, có gốc từ vùng đồng bằng Bắc Bộ Dân số Cẩm Phả có một tỷ lệ

Ngày đăng: 21/02/2017, 00:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
18. Nguyễn Văn Nam (2009), "Công nghiệp hóa và đô thị hóa và ảnh hưởng của nó tới đời sống người dân đô thị", Kỷ yếu Hội thảo đề tài Hậu giải phóng mặt bằng, Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghiệp hóa và đô thị hóa và ảnh hưởng của nó tới đời sống người dân đô thị
Tác giả: Nguyễn Văn Nam
Năm: 2009
21. Phòng tài nguyên môi trường thành phố Cẩm Phả (2015), Báo cáo kết quả thực hiện công tác giải quyết thủ tục hành chính lĩnh vực đất đai của thành phố năm 2015, Cẩm Phả Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả thực hiện công tác giải quyết thủ tục hành chính lĩnh vực đất đai của thành phố năm 2015
Tác giả: Phòng tài nguyên môi trường thành phố Cẩm Phả
Năm: 2015
30. Bùi Ngọc Thanh (2013), "Kết quả sau ba năm thực hiện các Chương trình Mục tiêu Quốc gia: Giảm nghèo bền vững, việc làm và dạy nghề", Tạp chí Lao động và Xã hội, (467) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả sau ba năm thực hiện các Chương trình Mục tiêu Quốc gia: Giảm nghèo bền vững, việc làm và dạy nghề
Tác giả: Bùi Ngọc Thanh
Năm: 2013
31. Hoàng Bá Thịnh (2010). “Đô thị hóa và quy mô dân số đô thị” Tổng cục Dân số và Kế hoạch hóa gia đình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đô thị hóa và quy mô dân số đô thị
Tác giả: Hoàng Bá Thịnh
Năm: 2010
35. Nguyễn Ngọc Tuấn (2003). “Những vấn đề kinh tế- xã hội và môi trường vùng ven các đô thị lớn trong qúa trình phát triển bền vững”. Nhà xuất bản khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề kinh tế- xã hội và môi trường vùng ven các đô thị lớn trong qúa trình phát triển bền vững
Tác giả: Nguyễn Ngọc Tuấn
Nhà XB: Nhà xuất bản khoa học xã hội
Năm: 2003
36. UBND thành phố Cẩm Phả (2015), Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội năm 2014 và phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2015, Cẩm Phả Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội năm 2014 và phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2015
Tác giả: UBND thành phố Cẩm Phả
Năm: 2015
1. Nguyễn Dũng Anh (2014), Việc làm cho nông dân bị thu hồi đất trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa ở Thành phố Đà Nẵng, Luận án tiến sĩ Kinh tế tại Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Khác
2. Bộ Lao động-TBXH, Báo Xây dựng (2008), Hội nghị lần thứ 11 của Ban chấp hành Liên đoàn Lao động Việt Nam khoá IX ngày 25/7/2008 Khác
4. Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (2015), Báo cáo tình hình thu hồi đất của hộ nông dân thực hiện CNH, HĐH, Hà Nội Khác
5. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2015), Báo cáo 25 năm xây dựng và phát triển các khu công nghiệp, khu chế xuất ở Việt Nam, Hà Nội Khác
6. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2009), Thông tư số 14/2009/TT-BTNMT ngày 01/10/2009 quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và trình tự, thủ tục thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất Khác
7. Chi cục thống kê tỉnh Quảng Ninh, Niên giám thống kê 2011, 2012, 2013, 2014, 2015 Khác
8. Chính phủ (2001), Nghị định số 72/2001/NĐ-CP ngày 05/10/2001 của Chính phủ V/v phân loại đô thị và cấp quản lý Khác
9. Chính phủ (2004), Nghị định 181/2004/NĐ-CP, Hướng dẫn thi hành luật đất đai 2003 Khác
10. Chính phủ (2004), Nghị định số 197/2004/NĐ-CP về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất Khác
11. Chính phủ (2009), Nghị định số 42/2009/NĐ-CP ngày 07/5/2009 của Chính phủ về việc phân loại đô thị Khác
12. Chính phủ (2010), Nghị định số 37/2010/NĐ-CP ngày 07/04/2010 về lập, thẩm định, phê duyệt và quản lý quy hoạch đô thị Khác
13. Chính phủ (2012), Nghị định số 42/2012/NĐ-CP ngày 11/5/2012 của Chính phủ về quản lý, sử dụng đất trồng lúa Khác
14. Chính phủ (2012), Nghị quyết số 04/NQ-CP/2012 ngày 21/2/2012 của Chính phủ, về việc thành lập thành phố Cẩm Phả tỉnh Quảng Ninh Khác
15. Chính phủ (2014), Nghị định 47/2014/NĐ-CP quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1 cho thấy, tỷ lệ tăng dân số đô thị trên thế giới đang chậm lại. Từ năm - Ảnh hưởng đô thị hóa đến đất nông nghiệp và đời sống người dân trên địa bàn thành phố cẩm phả, tỉnh quảng ninh giai đoạn 2011 – 2015
Bảng 1.1 cho thấy, tỷ lệ tăng dân số đô thị trên thế giới đang chậm lại. Từ năm (Trang 21)
Bảng 3.1. Diện tích dân số các đơn vị hành chính thành phố Cẩm Phả  S - Ảnh hưởng đô thị hóa đến đất nông nghiệp và đời sống người dân trên địa bàn thành phố cẩm phả, tỉnh quảng ninh giai đoạn 2011 – 2015
Bảng 3.1. Diện tích dân số các đơn vị hành chính thành phố Cẩm Phả S (Trang 39)
Bảng 3.2. Tốc độ tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2011 - 2015 thành phố Cẩm Phả - Ảnh hưởng đô thị hóa đến đất nông nghiệp và đời sống người dân trên địa bàn thành phố cẩm phả, tỉnh quảng ninh giai đoạn 2011 – 2015
Bảng 3.2. Tốc độ tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2011 - 2015 thành phố Cẩm Phả (Trang 41)
Bảng 3.3. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ 2013 - 2015 - Ảnh hưởng đô thị hóa đến đất nông nghiệp và đời sống người dân trên địa bàn thành phố cẩm phả, tỉnh quảng ninh giai đoạn 2011 – 2015
Bảng 3.3. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ 2013 - 2015 (Trang 42)
Bảng 3.4. Tình hình biến động đất đai thành phố Cẩm Phả giai đoạn 2011-2015 - Ảnh hưởng đô thị hóa đến đất nông nghiệp và đời sống người dân trên địa bàn thành phố cẩm phả, tỉnh quảng ninh giai đoạn 2011 – 2015
Bảng 3.4. Tình hình biến động đất đai thành phố Cẩm Phả giai đoạn 2011-2015 (Trang 52)
Bảng 3.6. Biến động từng loại  đất trong nhóm đất đất nông nghiệp thành phố - Ảnh hưởng đô thị hóa đến đất nông nghiệp và đời sống người dân trên địa bàn thành phố cẩm phả, tỉnh quảng ninh giai đoạn 2011 – 2015
Bảng 3.6. Biến động từng loại đất trong nhóm đất đất nông nghiệp thành phố (Trang 57)
Bảng 3.7. Tình hình chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp dưới tác động  của quá trình đô thị hóa trên địa bàn thành phố Cẩm Phả từ 2011-2015 - Ảnh hưởng đô thị hóa đến đất nông nghiệp và đời sống người dân trên địa bàn thành phố cẩm phả, tỉnh quảng ninh giai đoạn 2011 – 2015
Bảng 3.7. Tình hình chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp dưới tác động của quá trình đô thị hóa trên địa bàn thành phố Cẩm Phả từ 2011-2015 (Trang 58)
Hình 3.6. Tỉ lệ các loại đất đã chuyển mục đích sử dụng từ đất nông nghiệp - Ảnh hưởng đô thị hóa đến đất nông nghiệp và đời sống người dân trên địa bàn thành phố cẩm phả, tỉnh quảng ninh giai đoạn 2011 – 2015
Hình 3.6. Tỉ lệ các loại đất đã chuyển mục đích sử dụng từ đất nông nghiệp (Trang 59)
Bảng 3.8. Sản lượng một số sản phẩm nông nghiệp từ năm 2011-2015 thành phố Cẩm Phả - Ảnh hưởng đô thị hóa đến đất nông nghiệp và đời sống người dân trên địa bàn thành phố cẩm phả, tỉnh quảng ninh giai đoạn 2011 – 2015
Bảng 3.8. Sản lượng một số sản phẩm nông nghiệp từ năm 2011-2015 thành phố Cẩm Phả (Trang 62)
Bảng 3.9. Tổng hợp kết quả thu hồi đất nông nghiệp thành phố Cẩm Phả - Ảnh hưởng đô thị hóa đến đất nông nghiệp và đời sống người dân trên địa bàn thành phố cẩm phả, tỉnh quảng ninh giai đoạn 2011 – 2015
Bảng 3.9. Tổng hợp kết quả thu hồi đất nông nghiệp thành phố Cẩm Phả (Trang 64)
Hình 3.9. Kết quả khảo sát đánh giá mức giá đất đền bù cho người dân - Ảnh hưởng đô thị hóa đến đất nông nghiệp và đời sống người dân trên địa bàn thành phố cẩm phả, tỉnh quảng ninh giai đoạn 2011 – 2015
Hình 3.9. Kết quả khảo sát đánh giá mức giá đất đền bù cho người dân (Trang 71)
Hình 3.10. Tình hình hỗ trợ đào tạo và nhu cầu tham gia đào tạo nghề của - Ảnh hưởng đô thị hóa đến đất nông nghiệp và đời sống người dân trên địa bàn thành phố cẩm phả, tỉnh quảng ninh giai đoạn 2011 – 2015
Hình 3.10. Tình hình hỗ trợ đào tạo và nhu cầu tham gia đào tạo nghề của (Trang 72)
Bảng 3.14. Kết quả khảo sát tình hình chuyển đổi nghề nghiệp của hộ trước và - Ảnh hưởng đô thị hóa đến đất nông nghiệp và đời sống người dân trên địa bàn thành phố cẩm phả, tỉnh quảng ninh giai đoạn 2011 – 2015
Bảng 3.14. Kết quả khảo sát tình hình chuyển đổi nghề nghiệp của hộ trước và (Trang 74)
Bảng 3.15. Kết quả khảo sát tình hình thu nhập của hộ điều tra trước và sau - Ảnh hưởng đô thị hóa đến đất nông nghiệp và đời sống người dân trên địa bàn thành phố cẩm phả, tỉnh quảng ninh giai đoạn 2011 – 2015
Bảng 3.15. Kết quả khảo sát tình hình thu nhập của hộ điều tra trước và sau (Trang 75)
Bảng 3.16. Kết quả khảo sát thể hiện đánh giá người dân về ảnh hưởng các dự - Ảnh hưởng đô thị hóa đến đất nông nghiệp và đời sống người dân trên địa bàn thành phố cẩm phả, tỉnh quảng ninh giai đoạn 2011 – 2015
Bảng 3.16. Kết quả khảo sát thể hiện đánh giá người dân về ảnh hưởng các dự (Trang 77)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w