ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM PHẠM RẠNG ĐÔNG NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM VÀ KHẢ NĂNG SẢN XUẤT CỦA LỢN ĐEN ĐỊA PHƯƠNG NUÔI TẠI HUYỆN LẠC SƠN TỈNH HÒA BÌNH Chuyên ngành: Chăn nuô
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
PHẠM RẠNG ĐÔNG
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM VÀ KHẢ NĂNG SẢN XUẤT CỦA LỢN ĐEN ĐỊA PHƯƠNG NUÔI TẠI
HUYỆN LẠC SƠN TỈNH HÒA BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SỸ CHĂN NUÔI
Thái nguyên - 2016
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
PHẠM RẠNG ĐÔNG
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM VÀ KHẢ NĂNG SẢN XUẤT CỦA LỢN ĐEN ĐỊA PHƯƠNG NUÔI TẠI
HUYỆN LẠC SƠN TỈNH HÒA BÌNH
Chuyên ngành: Chăn nuôi
Mã số: 60 62 01 05
LUẬN VĂN THẠC SỸ CHĂN NUÔI
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Huê Viên
Thái nguyên - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng những số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin đảm bảo rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được ghi rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, ngày 18 tháng 10 năm 2016
Tác giả luận văn
Phạm Rạng Đông
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của nhiều cá nhân và tập thể Nhân dịp này, cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn sâu
sắc nhất tới PGS.TS Trần Huê Viên, người hướng dẫn khoa học, về sự
quan tâm, hướng dẫn tận tình, trong quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Nhân dịp hoàn thành bản luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới Ban Giám Hiệu, Phòng quản lý đào tạo Sau đại học, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi - Thú y Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên nơi tôi được đào tạo để trưởng thành cũng như tạo điều kiện thuận lợi tốt nhất cho tôi hoàn thành nhiệm vụ của mình Tôi xin cảm ơn các đơn vị sau đây đã giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài này
- Lời cảm ơn chân thành tôi xin được gửi tới lãnh đạo và toàn thể cán bộ Chi cục chăn nuôi và thú y tỉnh Hòa Bình, Trạm chăn nuôi và thú y huyện Lạc Sơn nơi tôi công tác đã tạo mọi điều kiện về thời gian cho tôi trong quá trình học tập, cũng như trong giai đoạn thực hiện đề tài;
- Tôi xin gửi lời cảm ơn tới lãnh đạo Ủy ban nhân dân huyện Lạc Sơn, Phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Lạc Sơn, Uỷ ban nhân dân các xã Ngọc Lâu, Ngọc Sơn và xã Tự Do là các cơ quan quản lí nhà nước trên địa bàn tôi triển khai, thực hiện đề tài đã tạo điều kiện và giúp đỡ về nhân lực, vật lực tốt nhất để tôi hoàn thành bản luận văn này
Xin chân thành cảm ơn các bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi trong quá trình xây dựng đề cương và thực hiện bản luận văn này Nhân dịp này cho phép tôi được bày tỏ sự biết ơn sâu sắc tới gia đình đã tận tình giúp đỡ, động viên khích lệ để tôi vượt qua mọi khó khăn hoàn thành luận văn
Tác giả luận văn
Phạm Rạng Đông
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 3.1 Số lượng và cơ cấu đàn lợn nuôi tại 3 xã của huyện Lạc Sơn
năm 2016 (Nguồn Chi cục Thống kê Huyện Lạc Sơn ) 34
Bảng 3.2 Số lượng, cơ cấu đàn lợn Đen theo mục đích chăn nuôi tại 3 xã của Huyện Lạc Sơn năm 2016 (Nguồn Chi cục Thống kê Huyện Lạc Sơn) 36
Bảng 3.3 Phương thức chăn nuôi lợn Đen địa phương 37
Bảng 3.4 Các loại thức ăn dược sử dụng chăn nuô lợn Đen địa phương 39
Bảng 3.5 Đặc điểm ngoại hình lợn cái Đen địa phương trưởng thành 42
Bảng 3.6 Đặc điểm ngoại hình lợn đực Đen địa phương trưởng thành 43
Bảng 3.7 Một số chỉ tiêu sinh lý sinh dục lợn nái Đen địa phương 47
Bảng 3.8 Năng suất sinh sản của lợn nái Đen địa phương (n = 30) 51
Bảng 3.9 Khối lượng lợn Đen địa phương qua các tháng tuổi (kg) 56
Bảng 3.10 Sinh trưởng tuyệt đối của lợn Đen địa phương (g/con/ngày) 58
Bảng 3.11 Sinh trưởng tương đối của lợn Đen địa phương qua các tháng tuổi (%) 60
Bảng 3.12 Kết quả mổ khảo sát thân thịt lợn Đen địa phương (n = 6) 62
Bảng 3.13 Thành phần hóa học của thịt lợn Đen địa phương (%) 64
Bảng 3.14 Hàm lượng một số axit amin của thịt lợn Đen địa phương (%) 65
Bảng 3.15 Hiệu quả kinh tế nuôi lợn thịt Đen địa phương 66
Trang 7DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CSKL : Chỉ số khố i lươ ̣ng
ĐVT : Đơn vị tính
GRH : Gonandotropine releasing hoormone
ISO : International Organization for Standardization
(Tổ chức Quốc tế về Tiêu chuẩn hoá) PTNT : Phát triển nông thôn
TB : Trung bình
TCVN : Tiêu chuẩn Việt Nam
TTTĂ : Tiêu tốn thức ăn
TT : Thị trấn
NN&PTNT : Nông nghiệp và phát triển nông thôn
PTNT : Phát triển nông thôn
Trang 8MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC BẢNG iii
DANH MỤC CÁC HÌNH iv
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT v
MỤC LỤC vi
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích của đề tài 3
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Cơ sở lý luận của đề tài 4
1.1.1 Các điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội hình thành giống lợn 4
1.1.2 Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu các đặc điểm ngoại hình và khả năng sản xuất của lợn 5
1.1.3 Cơ sở khoa học về sự sinh trưởng và khả năng cho thịt của lợn 7
1.1.4 Cơ sở khoa học của nghiên cứu các đặc điểm sinh lý sinh dục và khả năng sinh sản của lợn 11
1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 18
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 18
1.2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 24
Chương 2 : ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
2.1 Đối tượng nghiên cứu 28
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 28
Trang 92.2.1 Địa điểm nghiên cứu 28
2.2.2 Thời gian nghiên cứu 28
2.3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 28
2.3.1 Nội dung nghiên cứu 28
2.3.2 Phương pháp nghiên cứu 28
2.4 Phương pháp xử lý số liệu 33
Chương 3 : KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 34
3.1 Điều tra đánh giá tình hình chăn nuôi lợn Đen địa phương về số lượng, cơ cấu, phương thức chăn nuôi 34
3.1.1 Tình hình chăn nuôi lợn và lợn Đen địa phương tại huyện Lạc Sơn tỉnh Hòa Bình 34
3.1.2 Số lượng và cơ cấu đàn lợn Đen địa phương 35
3.1.3 Phương thức chăn nuôi lợn 37
3.1.4 Các loại thức ăn sử dụng trong chăn nuôi lợn Đen địa phương 39
3.1.5 Vệ sinh, phòng bệnh trong chăn nuôi lợn 40
3.2 Đặc điểm ngoại hình lợn Đen địa phương 41
3.3 Đặc điểm sinh lý sinh dục và khả năng sinh sản của lợn Đen
địa phương 46
3.3.1 Đặc diểm sinh lý sinh dục 46
3.3.2 Kết quả sinh sản của lợn nái Đen địa phương nuôi tại Huyện Lạc Sơn Tỉnh Hòa Bình 50
3.4 Khả năng sinh trưởng của lợn Đen địa phương nuôi tại Huyện Lạc Sơn Tỉnh Hòa Bình 55
3.4.1 Kết quả sinh trưởng tích lũy của lợn 56
3.4.2 Sinh trưởng tuyệt đối của lợn Đen địa phương 58
3.4.3 Kết quả sinh trưởng tương đối 60
3.5 Kết quả nghiên cứu khả năng cho thịt và chất lượng thịt của
lợn Đenđịa phương 61
Trang 103.5.1 Kết quả khảo sát thân thịt lợn Đen địa phương 61
3.5.2 Kết quả phân tích thành phần hóa học và tỷ lệ một số axit amin của thịt lợn Đen địa phương 63
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 68
1 Kết luận 68
2 Tồn tại 69
3 Đề nghị 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nước ta là một nước nông nghiệp có hệ sinh thái và văn hóa đa dạng Hầu như cộng đồng dân cư nào ở Việt Nam cũng có các sản phẩm giống vật nuôi riêng của mình, trong đó có các giống lợn Tuy nhiên, điểm chung nhất của các giống lợn của nền văn minh lúa nước Việt Nam là có tính địa phương cao, ít được chọn lọc nên năng suất thấp, không đáp ứng được nhu cầu thịt lợn ngày càng tăng lên trên thị trường Để khắc phục hạn chế này, chúng ta đã triển khai nhiều giải pháp kỹ thuật và chính sách khuyến khích phát triển chăn nuôi lợn Một trong các giải pháp được ưu tiên hàng đầu là
giải pháp công tác giống
Con giống vật nuôi là sản phẩm vật thể có đặc trưng riêng Sự tồn tại hoặc mất đi của con giống gắn liền với những điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội hình thành nên chúng Trong những năm qua do chạy theo số lượng, chúng ta đã vô tình quên lãng và làm mất đi một số nguồn gen giống vật nuôi bản địa Đây là một tổn thất không thể bù đắp vì việc phát hiện, bảo tồn giống nói chung, giống lợn nói riêng không chỉ có ý nghĩa là bảo tồn bản sắc văn hóa mà còn có ý nghĩa là sự bảo tồn nguồn gen để khai thác cho các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội và lai tạo giống
Hòa Bình là một tỉnh miền núi phía tây bắc Việt Nam, trung tâm là thành phố Hòa Bình cách thủ đô Hà Nội 73 km, là nơi giao lưu kinh tế, văn hoá giữa vùng Đồng Bằng Bắc Bộ với vùng miền núi Tây Bắc với diện tích đất tự nhiên 466.252 ha; trong đó đất lâm nghiệp 329.317 ha, chiếm 70,6 %; đất nông nghiệp 66.758 ha, chiếm 14,3 %, các loại đất khác chiếm 15,1 %, có các vùng sinh thái đa dạng để phát triển cây trồng, vật nuôi (Địa chí Hòa Bình, 12/2014) Hoà Bình có 6 dân tộc sinh sống như dân tộc Mường, Kinh, Thái,
Trang 12Tày, Dao, H’Mông… trong đó, dân tộc Mường chiếm 63,3 % (Niên giám thống kê năm 2014) Dân số điều tra chính thức ngày 01/04/2014 có 786.964 người trong đó, số dân trong độ tuổi lao động khoảng 523.400 người, bằng 64
% dân số toàn tỉnh Hoà Bình có đường thuỷ là sông Đà tạo những điều kiện thuận lợi cho giao lưu hàng hoá, trong đó có các hàng nông lâm sản giữa các tỉnh đồng bằng sông Hồng và miền Tây Bắc Trong phát triển kinh tế, đặc biệt
là ngành Nông nghiệp những năm gần đây đã đạt được nhiều chuyển biến tích cực, giá trị sản xuất ngành Nông nghiệp tăng trưởng khá và ổn định đạt 12,0
%/năm Thu nhập chính của các nông hộ trong tỉnh là từ nông - lâm nghiệp kết hợp với chăn nuôi, GDP từ nông nghiệp toàn tỉnh chiếm 51 % Thu nhập bình quân đầu người đạt 3,6 triệu đồng một năm (Thống kê tỉnh Hoà Bình, 12/2014), bình quân lương thực đạt 275 kg/người/năm Hiện Hoà Bình vẫn là một tỉnh nghèo, với nhiều xã thuộc diện đặc biệt khó khăn thuộc chương trình 135 như xã
Tự Do huyện Lạc Sơn, số hộ nghèo 130 hộ/384 hộ chiếm 34,4 % tổng số hộ trong
xã (Thống kê xã Tự Do, 2014)
Chăn nuôi lợn trong tỉnh cung cấp khoảng 11,4 nghìn tấn lợn thịt hơi mỗi năm, chiếm 71 % sản lượng thịt hơi các loại Song tổng đàn lợn của Hoà Bình năm 2014 có 433.227 con, trung bình chỉ 2,6 lợn/hộ/năm (Niên giám thống kê, 2014) Lượng thịt lợn cho tiêu thụ trong tỉnh còn thấp và thường xuyên phải nhập từ các tỉnh khác tới (Chi cục Thú y Hoà Bình, 2014)
Tuy vậy, cho đến nay vẫn chưa có các nghiên cứu nhằm đánh giá một cách cơ bản và toàn diện về lợn Đen địa phương Các nghiên cứu nhằm quản
lý và khai thác tiềm năng của lợn Đen địa phương vào việc phát triển đa dạng
hệ thống giống trong chăn nuôi, phù hợp với sinh thái và trình độ sản xuất của từng vùng cũng chưa được thực hiện Từ những lý do nêu trên, để có các số liệu khoa học phục vụ cho công tác bảo tồn, khai thác nguồn gen lợn Đen địa phương cũng như hoạch định các chính sách phát triển chăn nuôi địa phương,
Trang 13việc nghiên cứu cơ bản về con lợn Đen địa phương cần được đặt ra Xuất phát
từ tình hình thực tế trên, việc tiến hành đề tài “Nghiên cứu đặc điểm và khả năng sản xuất của lợn Đen địa phương nuôi tại huyện Lạc Sơn tỉnh Hòa Bình” là cần thiết, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn cao
2 Mục đích của đề tài
- Xác định được một số đặc điểm ngoại hình của lợn Đen địa phương,
từ đó làm căn cứ bảo tồn, khai thác và phát triển giống lợn này
- Đánh giá được khả năng sinh trưởng và sinh sản để đề xuất các giải pháp kỹ thuật nâng cao năng suất cũng như hướng khai thác đạt hiệu quả kinh
tế cao khi chăn nuôi lợn Đen địa phương
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Ý nghĩa khoa học: Luận văn cung cấp các số liệu khoa học cơ bản về giống lợn Đen địa phương để xây dựng chiến lược bảo tồn, khai thác quỹ gen cũng như đề xuất các hướng nghiên cứu khoa học khác Kết quả đề tài cũng cung cấp cơ sở khoa học để xây dựng và triển khai đề án phát triển chăn nuôi lợn Đen địa phương theo chủ trương, định hướng của huyện Lạc Sơn tỉnh Hòa Bình
- Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả luận văn giúp xây dựng và đề xuất các kỹ thuật nâng cao năng suất chăn nuôi và khai thác sản phẩm lợn Đen địa phương đạt hiệu quả kinh tế cao theo hướng chăn nuôi truyền thống nhằm tạo đặc sản đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm tại Hòa Bình và các tỉnh miền núi phía bắc
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở lý luận của đề tài
1.1.1 Các điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội hình thành giống lợn
1.1.1.1 Nguồn gốc các giống lợn nhà
Giống lợn nhà hiện nay là do lợn rừng tiến hoá mà thành và bắt nguồn
từ hai nhóm lợn rừng hoang dại Đó là lợn rừng Châu Âu (Sus serofaferus) và lợn rừng Châu Á (Sus orientalis, Sus cristatus, Sus vittatus) được con người
thuần hoá trong thời gian dài mà thành Căn cứ vào hình dáng của tai, người
ta chia cả hai nhóm lợn nguyên thuỷ Châu Âu và Châu Á thành hai loại: Lợn tai dài và lợn tai ngắn
Giống lợn lai cổ đại là do giống lợn nguyên thuỷ Châu Âu và nguyên thuỷ Châu Á tạp giao mà thành Giống lợn này được nuôi chủ yếu tại các nước dọc theo Địa Trung Hải Trong đó lấy giống lợn lông xoăn La Mã và lợn
ở bán đảo Ban Căng lai với lợn Trung Quốc là giống thành thục sớm, phẩm chất thịt ngon, mềm, ở đời sau cho tự giao và hình thành giống lợn lai cổ đại Các giống lợn nhà nuôi hiện nay là do các giống lợn Cổ đại trước kia thông qua các phương pháp tạp giao cải lương khác nhau mà dần hình thành nên, (Trần Văn Phùng và cs, 2004) [37]
1.1.1.2 Ảnh hưởng của các điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tới việc hình thành giống lợn
Trong quá trình thuần hoá lợn rừng, do điều kiện tự nhiên của các vùng khác nhau, điều kiện lịch sử và trình độ phát triển sản xuất không giống nhau dẫn đến việc hình thành các giống lợn khác nhau
Để giải quyết nhu cầu về thịt, con người đã cải thiện các điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng và tạo nên giống lợn nguyên thuỷ Châu Á từ lợn rừng Châu Á có đặc điểm dễ béo, sớm thành thục Ở Châu Âu, cũng do điều kiện
tự nhiên đã hình thành nên các giống lợn nguyên thuỷ Châu Âu có đặc điểm như thành thục muộn, khả năng chịu đựng kham khổ cao
Trang 15Nguyễn Thiện và cs, (2005) [53] cho biết khi đã được thuần hoá, lợn hoang đã có nhiều thay đổi Điều trông thấy rõ rệt là thân hình bé, nên các loại lợn nhà nguyên thuỷ đều bé nhỏ Ở Châu Âu, mãi đến cuối thời kỳ Trung
Cổ, mới có các loại lợn to lớn, có những đặc điểm bên ngoài như tai rủ, qua quá trình thuần dưỡng về sau này do lai tạo có ý thức nên khối lượng lợn được cải thiện, đa dạng hơn về hình dáng và tăng về chiều dài, cao chân, mông phát triển
Vào những thập kỷ 20, nước ta đã nhập nhiều giống lợn cao sản
- Tại miền Nam từ những năm 1950 đã tuần tự nhập các giống Berkshire, Yorkshire, Large white, Landrace…
- Tại miền Bắc từ những năm 60 - 70 của thế kỷ trước nhập hàng loạt lợn Tân Kim, Tân Cương… từ Trung Quốc
1.1.2 Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu các đặc điểm ngoại hình và khả năng sản xuất của lợn
1.1.2.1 Đặc điểm di truyền các tính trạng
Cũng như các loài gia súc khác đặc điểm di truyền các tính trạng chất lượng và số lượng trên lợn cũng tuân theo các quy luật di truyền của Mendel, màu sắc lông da như trắng, đen, vàng là những tính trạng chất lượng… còn tính trạng số lượng được thể hiện qua các chỉ tiêu như: Số con trên lứa, khả năng tăng trọng, phẩm chất thịt xẻ,… Đó là những tính trạng do nhiều đôi gen quy định và chịu sự tác động của ngoại cảnh với nhiều mức độ khác nhau, (Nguyễn Thiện và cs, 1998) [51]
Giá trị kiểu hình của 1 tính trạng được ký hiệu là P (Phenotype)
Giá trị kiểu gen được ký hiệu là G (Genotype) và sai lệch môi trường được ký hiệu bằng E (Environment)
Quan hệ này được biểu thị bằng công thức: P = G + E
Giá trị kiểu gen (G) của giá trị số lượng do nhiều gen có hiệu ứng nhỏ
(Minorgene) cấu tạo thành Đó là các gen có hiệu ứng riêng biệt của từng gen
thì rất nhỏ, nhưng tập hợp nhiều gen nhỏ sẽ ảnh hưởng rất rõ rệt tới tính trạng
nghiên cứu, hiện tượng này gọi là hiện tượng đa gen (Polygen) Các
minorgene này tác động lên tính trạng theo 3 phương thức: Cộng gộp, trội và
át gen Vì vậy giá trị kiểu gen hoạt động thể hiện qua công thức:
Trang 16G = A + D + I Trong đó: G : Giá trị kiểu gen
A : Giá trị cộng gộp
D : Giá trị sai lệch trội
I : Giá trị sai lệch tương tác
A là thành phần quan trọng nhất của kiểu gen vì nó ổn định, có thể xác định được và di truyền cho đời sau Hai thành phần D và I cũng có vai trò quan trọng vì đó là giá trị giống đặc biệt và chỉ xác định được thông qua con đường thực nghiệm
Theo J.F Lasley, (1974) [27] cho biết những tính trạng có hệ số di truyền (h2) từ 0,12 - 0,30 là những tính trạng có hệ số di truyền thấp
Những tính trạng có hệ số di truyền bằng 0,4 - 0,5 là những tính trạng
có hệ số di truyền trung bình
Những tính trạng có hệ số di truyền bằng 0,5 trở lên là những tính trạng
có hệ số di truyền cao và cho hệ quả chọn lọc cao
Những tính trạng cho hệ số di truyền thấp sẽ cho ưu thế lai cao
1.1.2.2 Đặc điểm về cấu tạo hệ tiêu hoá và sinh lý tiêu hoá
Theo Hoàng Toàn Thắng và cs, (2006) [44] cho biết dạ dày lợn là dạ dày trung gian giữa dạ dày đơn và dạ dày kép, bao gồm 5 phần như: dạ dày đơn vùng thực quản (nhỏ), vùng manh nang, vùng thượng vị, vùng thân vị và vùng hạ vị Vùng thực quản không có tuyến, vùng manh nang và thượng vị có tuyến tiết ra dịch nhầy không có pepsin và HCl
Theo Nguyễn Thiện và cs, (1998) [51], ruột non của lợn dài gấp 14 lần chiều dài cơ thể gồm 3 phần: phần tá tràng, khổng tràng và hồi tràng Ruột già dài khoảng 4 - 5 m gồm 3 đoạn: manh tràng, kết tràng và trực tràng
Đặc điểm của hoạt động thần kinh và thể dịch mà lợn có khả năng tiêu hoá thức ăn cao Để sản xuất ra 1kg khối lượng cơ thể, lợn chỉ sử dụng hết 4 - 6 kg thức ăn, trong khi đó bò phải ăn hết 8 - 12 kg và dê cừu phải ăn hết 6 - 10 kg
Trang 17Dựa vào các đặc điểm sinh học của hệ tiêu hoá nói trên chúng ta có thể nghiên cứu phối hợp khẩu phần ăn cho phù hợp với hệ tiêu hoá của lợn, để nâng cao năng suất trong chăn nuôi lợn
1.1.2.3 Đặc điểm sinh sản của lợn
Sinh sản là hoạt động sinh lý cơ bản của động vật để duy trì nòi giống, là truyền đạt thông tin di truyền từ thế hệ này sang thế hệ kia thông qua các tế bào sinh dục là tinh trùng và trứng Sự kết hợp giữa tinh trùng và trứng tạo thành hợp tử và phát triển thành phôi, thai và sinh ra một thế hệ mới
Quá trình hoạt động sinh sản của gia súc là do hệ thống thần kinh thể dịch của cơ thể điều khiển, chịu ảnh hưởng của các yếu tố di truyền và ngoại cảnh (thời tiết, khí hậu, thức ăn, dinh dưỡng ) Lợn cái nuội 3 - 4 tháng đã động dục và có hiện tượng rụng trứng, đối với con cái ngoại 5 - 6 tháng tuổi
đã động dục Lợn là loài gia súc đa thai như: Lợn Móng Cái đẻ 11 - 14 con/ lứa, lợn Ỉ đẻ 10 - 12 con/ lứa Thời gian chửa đẻ của lợn ngắn từ 113 - 114 ngày (Nguyễn Thiện và cs, 1998) [51]
1.1.2.4 Tập tính sinh sản của lợn
Trong tự nhiên lợn rừng sống theo bầy đàn, giao phối tự nhiên Vào mùa sinh sản của lợn thường xảy ra các cuộc chiến tranh giành giật lợn cái giữa các con đực
Lợn nhà thích nghi nhanh với những tập luyện do con người như hiệu lệnh, đúng giờ ăn, nơi thải phân, nước tiểu và nằm ngủ đúng chỗ quy định
Lợn còn có những đặc thù riêng biệt như: Khi con bú lợn mẹ nằm nghiêng, lợn con sinh ra có thể đứng ngay và có thể tìm vú mẹ để bú, lợn mẹ có thể vừa đẻ vừa cho con bú, đó là những tập tính sinh hoạt và đặc thù riêng của lợn
Hiểu biết những tập tính đó sẽ có tác dụng rất tốt đối với việc xây dựng quy trình kỹ thuật chăn nuôi, huấn luyện lợn theo phản xạ có điều kiện, làm cho khả năng thích nghi của lợn trong điều kiện chăn nuôi tập trung trở nên phong phú hơn
1.1.3 Cơ sở khoa học về sự sinh trưởng và khả năng cho thịt của lợn
1.1.3.1 Sự sinh trưởng, phát dục của lợn
Theo Trần Đình Miên và cộng sự (1975) [35] sinh trưởng là một quá trình tích luỹ các chất hữu cơ do đồng hoá và dị hoá, là sự tăng về chiều dài, bề
Trang 18ngang, thể tích, khối lượng của các bộ phận và toàn cơ thể con vật trên cơ sở tính chất di truyền từ đời trước Sinh trưởng mang tính chất giai đoạn, biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau Khi nói đến sự sinh trưởng có nghĩa là nói đến
sự phát dục vì hai quá trình này đồng thời diễn ra trong cơ thể sinh vật, nếu như sinh trưởng là sự tích luỹ về lượng thì phát dục là sự tích luỹ về chất
* Các giai đoạn sinh trưởng và phát dục của lợn
Quá trình sinh trưởng phát dục của gia súc nói chung cũng như ở lợn nói riêng đều tuân theo các quy luật:
- Quy luật sinh trưởng và phát dục không đồng đều Quy luật này thể hiện ở chỗ cường độ sinh trưởng và tốc độ tăng trọng thay đổi theo tuổi
- Quy luật sinh trưởng và phát dục theo giai đoạn, quy luật này được chia ra làm 2 giai đoạn đó là giai đoạn trong thai và giai đoạn ngoài thai
Giai đoạn trong thai gồm: Thời kỳ phôi thai từ 1 - 22 ngày, thời kỳ tiền phôi thai từ 23 - 38 ngày, thời kỳ thai nhi từ 39 - 114 ngày
Trong thực tế sản xuất người ta chia ra lợn chửa thành 02 kỳ, chửa kỳ I
là bắt đầu từ khi thụ thai đến 1 tháng trước khi đẻ Lợn chửa kỳ II rất quan trọng, ảnh hưởng rất lớn đến khối lượng sơ sinh và tỷ lệ nuôi sống, 3/4 khối lượng sơ sinh được sinh trưởng ở giai đoạn chửa kỳ II Theo Trương Lăng, (1995) [31] bào thai lợn tháng thứ 2 phát triển tăng 33,5 lần so với tháng thứ nhất, tháng thứ 3 phát triển tăng 8,7 lần và 3 tuần tháng thứ 4 chỉ tăng 2,2 lần Nếu lợn chửa kỳ II mà nuôi dưỡng kém, sau khi sinh dù nuôi dưỡng tốt vẫn chậm lớn, ảnh hưởng đến khối lượng cai sữa và thời gian nuôi cho đến khối lượng xuất chuồng
Giai đoạn ngoài cơ thể mẹ gồm: Thời kỳ bú sữa, thời kỳ thành thục, thời kỳ trưởng thành, thời kỳ già cỗi
Thời kỳ bú sữa của lợn ở Việt Nam thông thường là 60 ngày Hiện nay một số cơ sở chăn nuôi đã tiến hành cai sữa sớm ở 21, 28, 35 hay 45 ngày tuổi, thức ăn của lợn con chủ yếu ở thời kỳ này là bú sữa mẹ Tuy nhiên, muốn lợn con sinh trưởng nhanh hơn, khối lượng khi cai sữa cao hơn ta phải
bổ sung thêm thức ăn Sau khi tách mẹ những ngày đầu thức ăn phải đảm bảo sao cho lợn con tăng trọng đều mỗi ngày như khi bú mẹ Có như vậy, lợn con đưa vào nuôi thịt hay hậu bị không bị chậm lớn Đây là điều kiện để cai sữa sớm cho lợn con có kết quả (Nguyễn Thiện và cs, (1998) [51]
Trang 19* Các chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh trưởng
Trong phạm vi ứng dụng có thể đề cập đến các chỉ tiêu sau đây:
- Sinh trưởng tích luỹ: Là khối lượng cơ thể, kích thước các chiều đo tăng lên sau một thời gian sinh trưởng
- Sinh trưởng tuyệt đối: Là khối lượng, kích thước của cơ thể gia súc tăng lên trong một đơn vị thời gian đối với lợn, thường bằng ngày Sinh trưởng tuyệt đối cho biết mỗi con lợn, mỗi ngày tăng được bao nhiều gam Giá trị sinh trưởng tuyệt đối càng cao thì hiệu quả kinh tế càng lớn
- Sinh trưởng tương đối: Là tỷ lệ % của khối lượng cơ thể hay kích thước các chiều đo tăng lên của lần khảo sát sau so với lần khảo sát trước
1.1.3.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến sinh trưởng phát dục và khả năng sản xuất thịt của lợn
Các nhân tố ảnh hưởng đến sinh trưởng phát dục và khả năng sản xuất thịt của lợn gồm hai nhóm: Các yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài
* Các yếu tố bên trong
Theo Trần Văn Phùng và cs, (2004) [37] cho biết: Yếu tố di truyền là một trong những yếu tố có ý nghĩa quan trọng nhất ảnh hưởng đến sinh trưởng phát dục của lợn Quá trình sinh trưởng phát dục của lợn tuân theo các quy luật sinh học, nhưng chịu ảnh hưởng của các giống lợn khác nhau Sự khác nhau này không những chỉ khác nhau về cấu trúc tổng thể của cơ thể mà còn khác nhau ở sự hình thành nên các tế bào, các bộ phận của cơ thể và đã hình thành nên các giống lợn có hướng sản xuất khác nhau như: giống lợn hướng nạc, hướng mỡ
Theo quan điểm di truyền học thì hầu hết các tính trạng về sản xuất của gia súc gia cầm như: Sinh trưởng, cho lông, cho thịt, trứng, sản lượng sữa, sinh sản… đều là tính trạng số lượng Tính trạng số lượng là những tính trạng
ở đó sự sai khác giữa các cá thể là sự sai khác nhau về mức độ hơn là sự sai khác nhau về chủng loại Darwin đã chỉ rõ sự sai khác này chính là nguyên liệu cho chọn lọc tự nhiên và chọn lọc nhân tạo Tính trạng số lượng còn gọi
là tính trạng đo lường (Metriccharacter), sự nghiên cứu chúng phụ thuộc
Trang 20vào sự đo lường như: Khối lượng cơ thể, tốc độ tăng trọng, sản lượng trứng, kích thước các chiều đo… (Trần Đình Miên và cs, 1975) [35]
Ngoài ra quá trình trao đổi chất trong cơ thể cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát dục của lợn Quá trình trao đổi chất xảy ra dưới sự điều khiển của các hormon Hormon thuỳ trước tuyến yên STH là loại hormon rất cần thiết cho sinh trưởng của cơ thể Theo Hoàng Toàn Thắng và cs, (2006) [44]: STH có tác dụng sinh lý chủ yếu kích thích sự sinh trưởng của cơ thể bằng cách làm tăng sự tổng hợp protein và kích thích sụn liên hợp phát triển, tăng tạo xương (nhất là các xương dài) Nguyễn Thiện và cs, (2005) [53] cho rằng: Giống cũng là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát dục, năng suất và phẩm chất thịt Thông thường, các giống lợn nội cho năng suất thấp hơn so với những giống ngoại nhập nội: Lợn Ỉ, Móng Cái nuôi 10 tháng tuổi trung bình đạt khoảng 60 kg Trong khi đó, lợn ngoại (Landrace, Yorkshire…) nuôi tại Việt Nam có thể đạt 90 - 100 kg lúc 6 tháng tuổi
* Các yếu tố bên ngoài
Các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến quá trình trưởng và phát triển cơ thể lợn bao gồm dinh dưỡng, nhiệt độ môi trường, ánh sáng và các yếu tố khác
- Dinh dưỡng là yếu tố quan trọng nhất trong các yếu tố ngoại cảnh chi phối đến sinh trưởng và sức cho thịt của lợn Trần Văn Phùng và cs, (2004) [37] cho rằng: Các yếu tố di truyền không thể phát huy tối đa nếu không có một môi trường dinh dưỡng và thức ăn hoàn chỉnh Một số thí nghiệm đã chứng minh rằng, khi chúng ta cung cấp cho lợn các mức dinh dưỡng khác nhau có thể làm thay đổi tỷ lệ các phần trong cơ thể, ví như chúng ta cho lợn
ăn khẩu phần có nhiều protein thì tỷ lệ nạc sẽ cao hơn và ngược lại nếu chúng
ta cho ăn khẩu phần có nhiều bột đường hoặc nhiều chất béo thì tỷ lệ mỡ trong thịt sẽ tăng lên
Tác giả Nguyễn Thiện và cs, (2005) [53] cho biết ở điều kiện nhiệt độ
và ẩm độ cao lợn phải tăng cường quá trình toả nhiệt thông qua quá trình hô hấp (vì lợn rất ít có tuyến mồ hôi) để duy trì thăng bằng thân nhiệt Ngoài ra,
Trang 21khi nhiệt độ cao sẽ cho khả năng thu nhận thức ăn của lợn hàng ngày giảm
Do đó, tăng khối lượng bị ảnh hưởng và khả năng chuyển hóa thức ăn kém dẫn đến sự sinh trưởng, phát dục của lợn bị giảm
1.1.4 Cơ sở khoa học của nghiên cứu các đặc điểm sinh lý sinh dục và khả năng sinh sản của lợn
1.1.4.1 Đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn
* Tuổi động dục lần đầu
Là thời gian từ sơ sinh cho đến khi lợn cái hậu bị có biểu hiện động dục lần đầu tiên Tuỳ theo giống, tuổi động dục lần đầu tiên có khác nhau Lợn nội tuổi động dục lần đầu sớm hơn lợn ngoại, ở lợn nái lai tuổi động lần đầu muộn hơn so với lợn nái nội thuần (Hoàng Toàn Thắng và cs, 2006) [45] Lợn
Ỉ 120 - 135 ngày, Lợn Móng Cái 130 - 140 ngày, lợn Đại Bạch nhập vào Việt Nam từ 203 - 208 ngày, lợn Landrace từ 208 - 209 ngày Ở lợn nội có tuổi động dục sớm, mà khả năng tăng khối lượng thấp, khối lượng khi động dục lần đầu đạt từ 20 - 25 kg Vì vậy, không nên phối giống ở thời kỳ này, vì cơ thể lợn chưa phát triển đầy đủ, trứng chưa chín một cách hoàn chỉnh Để đạt được hiệu quả sinh sản tốt và duy trì con nái bền lâu, cần bỏ qua 1 - 2 chu kỳ động dục rồi mới phối giống (Phạm Hữu Doanh, Lưu Kỷ, 1996 [9]; Nguyễn Thiện và cs, 1998) [51]
Tuổi động dục lần đầu còn phụ thuộc vào mùa vụ và chịu ảnh hưởng của ngoại cảnh, thời gian chiếu sáng, nhiệt độ môi trường cũng như chế độ dinh dưỡng, mức độ sinh trưởng trước và sau cai sữa (Nguyễn Tấn Anh, Nguyễn Duy Hoan, 1998) [2]
Hiện tượng lợn cái không động dục có thể do nhiều nguyên nhân như: Phát hiện động dục không đúng, stress do thời tiết nóng, động dục thầm lặng,
ốm đau, sinh dưỡng thiếu protein hoặc năng lượng (Dwane R.Zimmerman và
cs, 1996) [13]
Trang 22* Tuổi phối giống lần đầu
Theo Kiều Minh Lực và Jirawit Rachatanam, (2006) [34] Lợn nái có
số lứa đẻ thấp nhất là 1 lứa và cao nhất 11 lứa Tuổi phối giống đậu thai lần đầu được tính từ tuổi dẻ lứa thứ 1 trừ cho thời gian mang thai trung bình
115 ngày, năng suất sinh sản đạt cao nhất khi lợn nái được phối giống và mang thai lần đầu vào lúc 38 tuần tuổi và mức độ lớn hơn trung bình đàn là 5,76 % Nếu lợn mang thai lần đầu ở độ tuổi trước 34 tuần tuổi thì năng suất thấp hơn trung bình là 8,27 % và nếu mang thai muộn sau 44 tuần tuổi thì năng suất thấp hơn trung bình là 1,25 % Đặc biệt nếu phối giống đậu thai lần đầu lúc 30 tuần tuổi thì mức độ thiệt hại trong suốt đời sống sản xuất của một lợn nái là 17,02 %
* Tuổi đẻ lứa đầu
Sau khi phối giống, lợn có chửa 114 ngày (112 - 116 ngày), cộng thêm
số ngày mang thai này lợn sẽ có tuổi đẻ lứa đầu Lợn nái nội (Ỉ, Móng Cái) trong sản xuất, tuổi đẻ lứa đầu thường 11- 12 tháng Lợn nái lai và lợn nái ngoại nên cho đẻ lứa đầu lúc 12 - 13 tháng tuổi (Phạm Hữu Doanh, Lưu Kỷ, 1996) [9] Theo Trần Quang Hân, (2004) [22], lợn nái Trắng Phú Khánh có tuổi
đẻ lứa đầu tương đối muộn (436,05 ngày), nhưng năng suất sinh sản đạt khá cao với số con còn sống, số con cai sữa/lứa tương ứng là 9,11 và 8,00 con; khối lượng trung bình một lợn con sơ sinh, 21 và 60 ngày tuổi tương ứng là 1,05; 4,29
và 10,55 kg, số lứa đẻ /nái/năm là 1,78 lứa
* Chu kỳ động dục của lợn nái và động dục trở lại sau đẻ
Chu kỳ động dục của lợn nái thường kéo dài 18 - 21 ngày, nếu chưa phối giống hoặc phối giống chưa có chửa thì chu kỳ sau sẽ được nhắc lại
Lợn nái nuôi con sau khi đẻ 3 - 4 ngày hoặc sau 30 ngày nuôi con thường có hiện tượng động dục trở lại, nhưng không phối vì bộ máy sinh dục chưa phục hồi và trứng rụng chưa đều
Trang 23Sau cai sữa 3 - 5 ngày (lúc lợn con 45 - 50 ngày tuổi) lợn nái động dục trở lại Cho phối lúc này lợn sẽ thụ thai, trứng rụng nhiều đạt số lượng con cao, Đối với lợn sau cai sữa từ 3 - 7 ngày thường động dục trở lại, Hội Chăn nuôi Việt Nam, (2006) [24] Trong chăn nuôi công nghiệp có thể gây động dục đồng loạt bằng cách cai sữa đồng thời ở một nhóm lợn mẹ, John R Diehl
và cs, (1996) [28]
Nếu lợn được phối giống ngay lần động dục sau cai sữa, chúng thường
dễ thụ thai, trứng rụng nhiều và dễ có số con đông Cần có biện pháp để tránh
sự hao mòn của cơ thể mẹ sau khi đẻ Mức độ hao mòn không cho phép vượt quá 20 %, không ép phối nếu lợn nái sau khi cai sữa con mà cơ thể hao mòn, gầy sút nhiều Cần bỏ qua một chu kỳ động dục để lợn nái lại sức và nuôi được lâu bền hơn (Phạm Hữu Doanh, Lưu Kỷ, 1996) [9]
* Đặc điểm động dục của lợn nái
Là sự phát triển mạnh của cơ quan sinh dục lợn cái đặc biệt là buồng trứng và tử cung xảy ra ở độ tuổi 6 - 9 tháng với lợn ngoại, 4 - 5 tháng với lợn nội Ở lợn lai khi 15 tuần tuổi mới xuất hiện các nang trứng đầu tiên, khi ở giai đoạn hậu bị trung bình rụng từ 8 - 14 trứng và số lượng đạt cao nhất ở giai đoạn lợn cái cơ bản là 12 - 20 trứng Số lượng trứng rụng còn phụ thuộc vào giống tuổi và cá thể Toàn bộ thời gian động dục của lợn nái có thể chia làm 3 giai đoạn:
- Giai đoạn trước chịu đực (bắt đầu):
- Giai đoạn chịu đực (phối giống):
- Giai đoạn sau chịu đực (kết thúc):
Để lợn nái đạt tỷ lệ thụ tinh cao, số con đẻ ra nhiều, cần phối giống đúng thời điểm vì thời gian trứng rụng và có hiệu quả thụ thai rất ngắn Trong khi đó tinh trùng chỉ kéo dài và sống trong tử cung khoảng 45 - 48 giờ Theo các kết quả nghiên cứu, quá trình rụng trứng bắt đầu lúc 30 - 40 giờ sau khi xuất hiện phản xạ mê ì Như vậy, phải cho lợn cái phối giống 10 - 12 giờ trước lúc rụng trứng, tức là 20 - 30 giờ sau khi bắt đầu chịu đực (Nguyễn Thiện, Nguyễn Tấn Anh, 1993) [47]
Trang 24Thời gian động dục của lợn nái nội kéo dài 3 - 4 ngày, lợn nái lai, nái ngoại 4 - 5 ngày Do vậy thời điểm phối giống tốt nhất là giai đoạn giữa chịu đực: Nái lai và nái ngoại cho phối vào cuối ngày thứ 3 và sáng ngày thứ 4, lợn nái nội cho phối vào cuối ngày thứ 2 và sáng ngày thứ 3, nếu tính từ lúc bắt đầu động dục Trong sản xuất, thụ tinh nhân tạo khi lợn có triệu chứng chịu đực buổi sớm thì buổi chiều cho phối, nếu có triệu chứng vào buổi chiều thì sớm hôm sau phối, (Phạm Hữu Doanh và cs, 1996) [9]
1.1.4.2 Khả năng sinh sản của lợn
Kết quả hoạt động sinh sản của lợn nái là tổng hợp của các chỉ tiêu về sinh lý sinh dục và khả năng sinh sản gồm: tuôi động dục đầu, phối giống đầu, chu kỳ động dục, thời gian mang thai, khả năng đẻ con, nuôi con, số lứa
đẻ trong năm, số con sơ sinh, số con cai sữa, khối lượng sơ sinh, khối lượng cai sữa, thời gian cai sữa
* Quá trình mang thai và đẻ
Thụ thai là sự kết hợp giữa tinh trùng và trứng tạo thành hợp tử, hay nói
cụ thể hơn là quá trình đồng hoá giữa trứng (n NST) và tinh trùng (n NST) để tạo thành hợp tử (2n NST) có bản chất hoàn toàn mới và có khả năng phân chia nguyên nhiễm liên tiếp tạo thành phôi Đó là kết quả của sự tái tổ hợp các gen
từ 2 nguồn gen khác nhau (Hoàng Toàn Thắng và Cao Văn, 2006) [44] Quá trình thụ thai xảy ra ở 1/3 phía trên của ống dẫn trứng, sau đó hợp tử sẽ di chuyển về sừng tử cung và bám vào nội mạc sừng tử cung, phát triển thành phôi, giữa phôi và tử cung sẽ tạo lên sự liên hệ trao đổi các vật chất dinh dưỡng hình thành nhau thai Sự phát triển của phôi thai gồm 2 giai đoạn chính:
- Giai đoạn phôi: Bắt đầu từ lúc thụ tinh, kết thúc vào phía trên 1/3 ống dẫn trứng là thời kỳ của thời kỳ đầu có chửa là giai đoạn hình thành ba lá phôi để từ đó hình thành các cơ quan bộ phận của cơ thể
- Giai đoạn thai: Kéo dài từ cuối thời kỳ phôi đến khi đẻ và là thời kỳ sinh trưởng và phát triển của bào thai để hình thành con non (Hoàng Toàn Thắng và Cao Văn, 2006) [44]
Trang 25* Số con sơ sinh/lứa
Số con sơ sinh/lứa phụ thuộc vào tính di truyền của giống Trong điều kiện bình thường mỗi giống có khả năng sinh sản khác nhau Theo Vũ Kính Trực (1994) [58]: Lợn Móng Cái xương to có số con trên lứa khá cao 12,8 con
sơ sinh, 1 tháng tuổi 8,8 con, 2 tháng tuổi 7,6 con
Phạm Hữu Doanh, Lưu Kỷ (1996) [9] đưa ra: Lứa đẻ tốt nhất là lứa thứ 2 đến lứa thứ 6 - 7 Tuổi sinh sản ổ định từ năm tuổi thứ 2 đến năm tuổi thứ 4, sang tuổi thứ 5 lợn có thể đẻ tốt, nhưng con đẻ ra bị còi cọc, chậm lớn, lợn nái già thường hay đẻ khó, thai chết lưu và cắn con, như vậy ta cần thay thế nái hàng năm
Số con sơ sinh/lứa phụ thuộc vào ưu thế lai của lợn mẹ và sự thích hợp của con đực phối nó Theo Lawrence Evans và cs, (1996) [30]: Giống
và ưu thế lai của con mẹ có ảnh hưởng tới số lượng con đẻ ra Vì thế sự lựa chọn cái hậu bị từ con mẹ vào dòng bố mắn đẻ sẽ làm tăng số con sơ sinh/ lứa Cũng theo các tác giả trên, đực giống quá tuổi cũng sẽ làm giảm số con
sơ sinh/ lứa Phối giống không đúng thời điểm thích hợp, phối quá sớm hoặc quá muộn cũng làm số con/lứa ít
* Khối lượng sơ sinh/ổ
Là chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật quan trọng, nói lên trình độ kỹ thuật chăn nuôi, đặc điểm của giống và khả năng nuôi thai của lợn nái Khối lượng sơ sinh/ổ là khối lượng được cân sau khi lợn con đẻ ra cắt rốn, lau khô và chưa cho bú sữa đầu Khối lượng sơ sinh/ổ là khối lượng của tất cả lơn con sinh ra còn sống và được phát dục hoàn toàn, khối lượng sơ sinh/ổ cao thì tốt, lợn sẽ tăng trọng nhanh ở các giai đoạn phát triển sau (Nguyễn Thiện
và cs, 1998) [51]
Các giống lợn khác nhau cho khối lượng sơ sinh khác nhau Các giống lợn nội (Móng Cái): 0,5 - 0,7 kg/con, lợn Ỉ 0,45 kg/con Lợn ngoại Yorshise nuôi tại Việt Nam 1,24 kg/con, lợn Duroc 1,2 - 1,5 kg/con (Trần Văn Phùng
và cs, (2004) [37]
Ngoài ra khối lượng sơ sinh có liên quan và tỷ lệ thuận với khối lượng của lợn nái Vì thế trong giai đoạn lợn nái chửa và nhất là thời gian 20 ngày
Trang 26trước khi đẻ cần chăm sóc nuôi dưỡng cho lợn nái tốt, thức ăn đầy đủ các chất dinh dưỡng như: Protein, vitamin, khoáng để cho thai phát triển tốt Khi khối lượng con sơ sinh cao thì lợn có khả năng sinh trưởng, phát triển nhanh, khối lượng con cai sữa sẽ cao và khối lượng xuất chuồng lớn
* Khối lượng cai sữa/ổ
Khối lượng cai sữa/ổ của các giống lợn khác nhau cho khối lượng không giống nhau Lợn móng cái có khối lượng cai sữa/ổ lúc 2 tháng tuổi là
58, 20 - 60,88 kg; lợn F1 (Đại Bạch x Móng Cái) có khối lượng 60 ngày/ổ là 61,80 kg (Nguyễn Thiện và cs, 1998) [51]
Khối lượng cai sữa của lợn con cao hay thấp, sức khoẻ tốt hay xấu, sinh trưởng phát dục nhanh hay chậm, đều có ảnh hưởng trực tiếp đến phẩm chất đàn giống và khả năng nuôi thịt của lợn sau này Nuôi dưỡng tốt lợn con còn
là cơ sở thuận lợi cho công tác chọn giống, chọn phối, là cơ sở tốt để con vật
có thể di truyền khả năng sinh sản cho đời sau
* Khả năng tiết sữa
Sữa là sản phẩm tiết ra từ tuyến vú, là thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, dễ tiêu hóa, hấp thu, rất cần thiết cho gia súc non đang bú sữa và là loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao đối với con người (Hoàng Toàng Thắng và
cs, 2006) [44]
Khả năng tiết sữa của lợn mẹ là một chỉ tiêu nói lên đặc điểm của giống Giống khác nhau thì khả năng tiết sữa khác nhau, sự tiết sữa của lợn nái là một quá trình phản xạ do những kích thích vào bầu vú gây nên, thần kinh giữ vai trò chủ đạo trong quá trình tiết sữa Khi lợn con thúc bú, những kích thích này truyền lên vỏ não, từ vỏ não lại truyền xuống vùng Hypothalamus từ đó các luồng xung động tác động vào tuyến yên tiết ra kích tố oxytoxin tác động đến bầu vú kích thích tuyến bào làm cho lợn nái tiết sữa
Theo Trương Lăng (1996) [32], vú trước lượng sữa tiết nhiều hơn, trong thời kỳ tiết sữa, lợn con bú vú sau được 32 - 39 kg thì vú trước cho 36 - 45 kg sữa vì oxytoxin theo máu đến tuyến vú phía trước nhiều hơn
Trang 27Trong khi đó, Trịnh Văn Thịnh (1978) [47] cho rằng thức ăn đầu tiên của lợn con là sữa đầu Sữa đầu có màu hơi vàng và đặc tiết ra 2 -3 ngày đầu sau khi đẻ Trong sữa đầu thành phần hóa học đều đậm đặc hơn sữa thường, lượng protein gấp 3 lần sữa thường (17 -18 % so với 5 - 6 %)
Với Phan Đình Thắm, (1996) [43] thì nhất thiết phải cho lợn con bú sữa đầu vì trong sữa đầu có hàm lượng albumin và globulin cao hơn sữa thường đây là chất chủ yếu giúp cho lợn con có sức đề kháng Nên cần chú ý cho lợn con sơ sinh bú sữa trong 3 ngày đầu, bảo đảm được toàn bộ số con trong ổ được bú hết lượng sữa đầu của me
Theo Nguyễn Thiện và cs, (1996) [51] cho biết ở lợn không có bể sữa,
do đó không thể đo lượng sữa bằng cách vắt sữa, mà chỉ có thể đo lượng sữa của lợn mẹ qua khối lượng của đàn
* Số con cai sữa/lứa
Số lợn con cai sữa trên lứa là số lợn con được nuôi sống cho đến khi cai sữa mẹ Thời gian cai sữa dài hay ngắn phụ thuộc vào tập quán chăn nuôi, kỹ thuật chăn nuôi và trình độ chế biến thức ăn cho lợn con Ở các nước tiên tiến người ta cho lợn con tách mẹ ở 21, 28 hoặc 35 ngày tuổi Mục đích của việc tách con sớm là để cho số lứa đẻ của một nái trên năm tăng lên đồng thời hạn chế được một số bệnh hay lây lan từ mẹ sang con
Ở Việt Nam số lượng lợn con cai sữa của đàn nái ngoại nuôi tại các cơ
sở giống lợn đạt khoảng 20 con/nái/năm Lúc cai sữa lợn con đạt 6,5 kg/con, như vậy khối lượng lợn giống đạt: 20 con x 6,5 kg = 130 kg/nái (Võ Trọng
Thành, 2007) [41]
Theo các số liệu công bố của Vũ Kính Trực (1994) [58]: Trước năm
1980, mặc dù lợn Móng Cái có số con đẻ rất cao 11 - 12 con/ ổ, nhưng do kỹ thuật chăn nuôi lợn con bú sữa thấp nên số lợn con cai sữa chỉ đạt 7 - 7,5 con/ lứa Ngày nay số con cai sữa/lứa không ngừng tăng lên, tỷ lệ nuôi sống đến cai sữa có thể đạt 85 - 95 %
Trang 28Nguyễn Thiện và cs, (1996) [49] cho biết: Thời gian cai sữa lợn ở nước
ta thường là 60 ngày, số lợn con cai sữa trên lứa là một chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật rất quan trọng quyết định năng suất của nghề chăn nuôi lợn Nó phụ thuộc vào khả năng tiết sữa của lợn mẹ, kỹ thuật chăn nuôi lợn con theo mẹ, cũng như khả năng hạn chế các yếu tố bệnh tật cho lợn con
Trong một ổ lợn, số lượng con sinh ra nhiều nhưng phải đảm bảo cho
sự phát triển bình thường của lợn con, người ta chỉ để lại một số con nhất định
để nuôi vì tỷ lệ nuôi sống càng cao thì càng tốt
1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
1.2.1.1 Tình hình nghiên cứu chung
Kể từ những năm 1960 tới nay tình hình nghiên cứu về chăn nuôi lợn trong nước đã trải qua những bước thăng trầm nhưng cũng đã thu được nhiều thành tựu đáng kể đặc biệt là công tác giống
* Về giống lợn nội: Đã tiến hành điều tra cơ bản ở từng khu vực và cả nước Kết quả của những cuộc điều tra đã góp phần vẽ nên bức tranh về hiện trạng chăn nuôi lợn trong nước để các nhà chiến lược về chăn nuôi lợn, hoạch định kế hoạch, biện pháp cải tạo và nâng cao năng suất đàn lợn nội Trên cơ
sở các điều tra cơ bản Bộ Nông nghiệp đã ban hành Tiêu chuẩn bình tuyển, giám định giống lợn nội để đưa vào áp dụng trong sản xuất
Trước năm 1964, Bộ Nông Nghiệp đã tổ chức điều tra cơ bản các giống lợn miền Bắc, đã xếp 3 giống lợn Ỉ, Móng Cái và Mường Khương là 3 giống chủ lực
để làm nái nền lai kinh tế với lợn ngoại Cũng trong năm này nhiều trại lợn giống cấp Nhà nước và các cấp địa phương tỉnh, huyện nhất là vùng đồng bằng Bắc
Bộ và Bắc Trung Bộ, đã hình thành để nuôi giữ giống gốc và cung cấp lợn con giống cho nhu cầu chăn nuôi của nhân dân trong bối cảnh nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp
Bên cạnh việc xây dựng các trại nuôi giữ các giống lợn nội chủ lực,
ở nhiều tỉnh miền Bắc đã hình thành các trại giống lưu giữ và nhân thuần các giống địa phương khác Ngay từ năm 1964, Ty Nông nghiệp Lào Cai
đã cho thành lập trại giống lợn Bát Xát để nhân giống lợn Mường Khương
Trang 29và tới năm 1997, Sở NN&PT Nông thôn tỉnh đã điều tra nghiên cứu lại và quy hoạch vùng giống lợn này, phân bố chủ yếu ở 3 xã: Cao Sơn, Tả thàng, La pán Tẩn
Trước sức ép của nhu cầu đời sống, chúng ta đã có nhiều chủ trương phát triển chăn nuôi lợn theo quan điểm chạy theo số lượng mà chưa chú ý đúng mức tới việc khai thác và bảo vệ quỹ gen các giống lợn nội Hiện nay theo báo cáo của chương trình lưu giữ quỹ gen vật nuôi Việt Nam (Allat gia súc, gia cầm Việt Nam, 1994) [1], có 5 giống lợn nội của ta đã bị tiệt chủng là dòng Ỉ mỡ Nam Định, giống lợn Lang Việt Hùng xã Sơn Vi huyện Lâm Thao -Phú Thọ Giống lợn Lang Hồng Hà Bắc, giống lợn trắng Phú Khánh, giống lợn Cỏ Nghệ An
Theo Lê Viết Ly, (1999) [33] cho biết: hiện nay đề án bảo tồn nguồn gen vật nuôi Việt Nam đã và đang triển khai tốt chương trình lưu giữ quỹ gen một số giống có nguy cơ biến mất là lợn Mẹo ở Nghệ An, lợn Sóc ở Buôn Mê Thuột và triển khai nhiều biện pháp đồng bộ để bảo vệ, giữ gìn khai thác nguồn gen đã phát hiện được cũng như đề xuất đưa vào danh mục giống lợn quý của quốc gia, cấm xuất khẩu ra nước ngoài
Nhiều kết quả nghiên cứu về giống lợn Việt Nam đã được triển khai và đăng tải thông tin trên các tạp chí
1.2.1.2 Kết quả nghiên cứu một số giống lợn nội phổ biến ở Việt Nam
Giống lợn nội của nước ta rất phong phú, rất dễ nuôi nên chúng vẫn được lưu giữ trong các hộ gia đình, nhất là các vùng nông thôn và miền núi, nơi điều kiện chăn nuôi chưa tốt để cung cấp thực phẩm tại chỗ và cung cấp nguồn thực phẩm đặc sản cho các khu vực khác (Lê Viết Ly, 1999) [33]
Điểm hạn chế cơ bản nhất của các giống lợn nội là: tăng khối lượng hàng ngày thấp, tiêu tốn thức ăn cao và dày mỡ lưng cao dẫn đến tỷ lệ thịt nạc rất thấp Hầu hết, các giống lợn nội đều thích ứng với điều kiện khí hậu nóng
ẩm nhiệt đới Việt Nam Các đặc điểm đặc trưng quan trọng đóng góp vào khả năng thích nghi tốt: chống chịu stress nhiệt, chịu đựng tốt khi thay đổi chế độ
ăn, khả năng chống chịu bệnh tật tốt
Trang 30Ngoài ra, các giống lợn nội tốt còn được sử dụng trong lai giống với các giống nhập ngoại để khai thác thịt và đặc biệt khai thác khả năng sinh sản tốt nhờ
ưu thế lai cao cho các vùng có điều kiện chăn nuôi trung bình nhằm sản xuất một khối lượng lớn thịt lợn cung cấp cho thị trường vùng nông thôn, đồng thời nuôi giữ và khai thác nguồn gen để tạo giống mới trong tương lai lâu dài
* Giống lợn Móng Cái
Giống lợn Móng Cái là giống lợn nội phổ biến nhất của Việt Nam, có nguồn gốc từ Hà Cối và Móng Cái, Quảng Ninh Hiện nay, lợn được phân bố rộng khắp cả nước, phổ biến ở các tỉnh miền Bắc, miền Trung và một số nơi ở
Tây Nguyên (Duc N.V, 1997) [14]
Lợn Móng Cái sinh trưởng chậm: 2 tháng tuổi nặng 6 kg và 10 tháng tuổi chỉ đạt 80-85 kg, song phát dục sớm: lợn cái lúc 5 tháng tuổi và lợn đực
có biểu hiện nhảy giống lúc 2 tháng tuổi nhưng có khả năng phối chửa lúc 3-4 tháng tuổi (Nguyễn Văn Thiện và cs, 1999) [52]
Lợn Móng Cái có tốc độ tăng khối lượng chậm, trung bình là 330 g/ ngày (200-400g/ ngày); Tỷ lệ móc hàm thấp: 73-75 %; Tỷ lệ nạc/ thịt xẻ rất thấp, trung bình là 33-35 %; Tỷ lệ mỡ/ thịt xẻ trung bình là 35-38 %; Tiêu tốn
thức ăn cao: từ 4,0 kg đến 4,5 kg thức ăn/ kg tăng khối lượng (Duc N.V và cs, 1997) [62] Rõ ràng, nuôi lợn Móng Cái khai thác thịt là không hiệu quả nên
chúng không được nuôi nhiều Nhờ áp dụng chọn lọc, Bộ môn Di truyền – Giống vật nuôi, Viện Chăn Nuôi kết hợp Công ty Chăn nuôi Hải Phòng đã
chọn được 2 nhóm lợn Móng Cái tốt (Duc N.V và cs, 1997) [61], Nguyễn
Văn Đức và cs, (2004) [17], Giang Hồng Tuyến, (2008) [57]
- Nhóm lợn Móng Cái MC15 có khả năng sản xuất tốt: Tăng khối lượng đạt tới 400g/ ngày và tỷ lệ nạc đạt tới 38 %
- Nhóm lợn Móng Cái cao sản MC3000 có khả năng sinh sản tốt: số con
sơ sinh sống/ ổ đạt tới 12,75 con
Lợn rất dễ nuôi, có khả năng thích ứng được với hầu hết các môi trường sinh thái của Việt Nam, kể cả nơi điều kiện chăn nuôi chưa phát triển
và môi trường sinh thái chưa tốt; ăn được hầu hết các loại thức ăn, kể cả loại thức ăn chất lượng thấp và tận dụng tốt nguồn thức ăn dư thừa Sức kháng bệnh rất cao, hầu như không mắc bệnh kể cả trong điều kiện vệ sinh kém
Trang 31* Giống lợn Lang Hồng
Hình thành tại tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang (vĩ độ 20,38-21,37; kinh độ 105,52-107,02, nhiệt độ trung bình năm 23,50C) Ngoài ra, được nuôi khá phổ biến ở các tỉnh vùng đồng bằng và thung lũng hạ lưu các sông: Cầu, Thương, Lục Nam
Giống lợn Lang Hồng có ngoại hình tương tự giống Móng Cái: đầu to vừa phải, mõm bé và dài, tai to, úp về phía trước, cổ ngắn; lưng dài và võng; bụng to và thõng, sệ nên hai hàng vú thường quét trên mặt đất; mông rộng và thẳng, gốc đuôi to và cao; chân vừa phải; lông ngắn và thưa; da hồng Thường
có 12 vú ( Nguyễn Văn Đức, 2012) [19] Màu đen, giữa trán có điểm trắng hình tam giác, giữa tai và cổ có một dải trắng cắt ngang, kéo dài đến bụng và
4 chân Khả năng chịu đựng tốt với hầu hết các môi trường khác nhau và chống bệnh tật tốt Sống và phát triển được ở mọi môi trường: Nhiệt độ trung bình 23,5ºC, biến động trong phạm vi từ 8°C đến 30°C và chịu ăn nguồn thức
ăn kém chất lượng Khối lượng trưởng thành 80-100 kg
1.2.1.3 Kết quả nghiên cứu một số giống lợn bản địa
* Giống lợn Táp Ná
Giống lợn Táp Ná là giống lợn nội được hình thành và phát triển từ lâu đời trong điều kiện khí hậu ở Thông Nông, Cao Bằng Nguồn gốc từ một giống lợn địa phương, do điều kiện địa lý đồi núi cao hiểm trở, việc thông thương có nhiều hạn chế, người chăn nuôi ở vùng núi này chỉ giao dịch mua bán tại chợ Táp Ná, vì vậy, giống lợn này được nhân dân đặt tên là “Táp Ná”
Giống lợn Táp Ná có nhiều nét giống lợn Móng Cái, nhưng có những nét khác biệt: Lông và da đen, ngoại trừ 6 điểm trắng: giữa trán, 4 cẳng chân, chóp đuôi đầu to vừa phải, tai hơi rủ cúp xuống, mặt thẳng, mặt không nhăn nheo như lợn Ỉ Bụng to nhưng không sệ và võng xuống như lợn Móng Cái Chân to, cao và chắc khoẻ như lợn Mẹo Lưng tương đối thẳng Lợn cái thư-ờng có 8-12 vú, nhưng thường là 10 vú (Đặng Đình Trung, 2007) [57]
Khả năng sinh sản của lợn này tương đương với một số giống lợn nội khác ở nước ta như Cỏ, Mẹo, Ỉ hay Mường Khương: Tuổi đẻ đầu là 13,6
Trang 32tháng, thấp hơn lợn Mẹo, nhưng cao hơn Móng Cái Số con sơ sinh sống:
4-12 con, nhưng trên 80 % số ổ chỉ đạt 6-9 con/ ổ Số con cai sữa chỉ đạt 6,83 con (3-10 con) So với lợn nái Móng Cái, lợn Táp Ná có số con sơ sinh thấp hơn, nhưng khối lượng lại cao hơn (Nguyễn Văn Đức, 2002)[15], (Nguyễn Văn Đức và cs, 2004) [16]
Tốc độ sinh trưởng đạt mức trung bình trong số các giống lợn nội Việt Nam Khối lượng trưởng thành 100 kg, nuôi tốt đạt 120 kg Tăng khối lượng trung bình: 313 gr/ngày, tương đương Móng Cái, Cỏ, Mẹo, nhưng thấp hơn Mường Khương Nuôi vỗ béo 3-10 tháng có thể đạt đến 400gr/ngày Do tầm vóc nhỏ và khối lượng thấp nên chúng thường được nuôi kéo dài đến 10 tháng tuổi mới giết thịt Khả năng chống chịu bệnh tật rất tốt: tỷ lệ mắc bệnh chết là 3-4 %
Nuôi khai thác nguồn thực phẩm ở vùng kinh tế thấp
Về hướng sử dụng: Nuôi khai thác thịt làm nguồn thực phẩm chính ở vùng núi và làm nguồn thịt lợn đặc sản
* Giống lợn Cỏ
Nguồn gốc được xác định ở miền trung, được phân bổ chạy dọc theo dãy Trường Sơn
Trang 33Tầm vóc nhỏ, khối lượng trưởng thành 35-45 kg Màu lông đại đa số là lang trắng đen Hình dạng: mõm dài, xương nhỏ, chân yếu và đi bàn, bụng xệ,
da mỏng, lông thưa Lợn đực thường nhỏ hơn lợn cái Chống chịu tốt với bệnh tật, môi trường khắc nghiệt và kém dinh dưỡng
Khối lượng trung bình lúc 2 tháng là 3,8 kg và 12 tháng tuổi là 50,0
kg Khối lượng trưởng thành lợn đực 60 kg và lợn cái 52-62 kg Tiêu tốn thức ăn rất cao (7,0-8,0 kg/ kg tăng khối lượng) Tỷ lệ % thịt nạc 45 %
+ Sinh sản: số con đẻ ra/ổ lứa 1 và 2: 6,53 con; lứa 3 - 4: 7,87 con Số
con còn sống để nuôi lứa 1 - 2: 6,23 con; lứa 3 - 4: 7,45 con Số con sống lúc 60 ngày lứa 1 - 2: 5,7 con; lứa 3 - 4: 7,94 con Khối lượng cả ổ 60 ngày lứa 1 - 2: 38,19 kg; lứa 3 - 4: 50,97 kg
+ Sinh trưởng: khối lượng lợn nuôi thịt lúc 4, 6, 8 tháng tuổi lần lượt là: 25,17 kg; 53,32 kg; 72,14 kg
Trang 34+ Tỷ lệ thịt giết mổ lúc 8 tháng tuổi: khối lượng giết thịt: 73,50 kg; tỷ lệ móc hàm: 78,85%; tỷ lệ nạc/thịt xẻ: 42,58%; tỷ lệ mỡ/thịt xẻ: 35,67%; tỷ lệ xương/thịt xẻ: 12,58%
Lợn Mẹo nuôi tại huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La được đồng bào H’Mông thuần hoá từ lâu đời, lợn chủ yếu được nuôi chăn thả tự do, chịu kham khổ cao, dễ nuôi Theo Trần Thanh Vân và cộng sự (2005) [59], lợn đạt được những chỉ số sinh sản, sinh trưởng sau:
+ Sinh sản: lợn có khoảng cách lứa đẻ: 234,53 ngày; thời gian mang thai: 114,26 ngày; thời gian chờ phối: 7,8 ngày; thời gian cai sữa: 108 ngày; khối lượng sơ sinh: 0,47 kg/con; Số con sơ sinh: 8,72 con/ổ; số con cai sữa: 7,93 con/ổ; khối lượng cai sữa 6,43 kg/con
+ Tỷ lệ thịt: tỷ lệ móc hàm, tỷ lệ thịt xẻ ở khối lượng 53,5 đến 90 kg lần lượt là: 83,6% và 72,3%
Theo Phan Đăng Thắng và Vũ Đình Tôn (2009) [55], lợn Bản nuôi tại Hòa Bình lông đen, dài, cứng, da có màu đen tuyền, một số có đốm trắng ở 4 chân, một số lang trắng đen Tai lợn nhỏ tinh nhanh, chân nhỏ, dáng đi nhanh nhẹn, dũi đất và trèo đồi khoẻ Lợn đạt được các chỉ tiêu sinh sản sau:
Tuổi đẻ lứa đầu: 388,96 ngày; số con sơ sinh/ổ: 7,33 con; số con sơ sinh sống/ổ: 6,67 con; tỷ lệ sơ sinh sống: 92,98%; khối lượng sơ sinh/con: 0,43 kg; khối lượng sơ sinh/ổ: 3,03 kg; thời gian cai sữa: 86,33 ngày; số con cai sữa/ổ: 5,8 con; khối lượng cai sữa/con: 5,05 kg; khối lượng cai sữa/ổ 31,02 kg; tỷ lệ sống đến cai sữa/ổ: 87,24%; khoảng cách giữa 2 lứa đẻ: 241,04 ngày, thời gian phối giống lại sau cai sữa: 40,46 ngày
1.2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Chăn nuôi lợn là một trong những ngành quan trọng trong sản xuất nông nghiệp Ở các nước tiên tiến tỷ trọng ngành chăn nuôi chiếm 50% tỷ trọng ngành nông nghiệp Sản phẩm thịt lợn là nguồn cung cấp thịt lớn nhất hiện nay trên thế giới So với các loại thịt khác, thịt lợn vẫn chiếm vị trí hàng đầu ở hầu hết các nước trên thế giới (trừ một số nước do ảnh hưởng đạo giáo hoặc điều kiện phát triển chăn nuôi khác phát triển hơn) Nhu cầu tiêu thụ thịt
Trang 35lợn ngày càng cao không chỉ về số lượng mà cả chất lượng Nước có mức tiêu thụ thịt lợn bình quân trên đầu người trong năm thấp nhất là Ấn Độ (do ảnh hưởng tôn giáo) chỉ có 0,5 kg/người, trong khi đó nước có mức tiêu thụ thịt lợn cao nhất đạt 66,2 kg/người/năm là Đan Mạch và 50,9 kg/người/năm là Ba Lan Bình quân ở 26 nước tiêu thụ thịt nhiều trên thế giới, thịt lợn vẫn chiếm
tỷ lệ cao nhất 24,3 kg/người/năm Mức tiêu thụ thịt bò 19,12 kg/người/năm và thịt gà 12 kg/người/năm Rõ ràng, nhu cầu thịt lợn vẫn là nhu cầu lớn nhất hiện nay trên thế giới
Trong các năm qua ngành chăn nuôi lợn ở các nước trên thế giới tăng lên đáng kể Số đầu lợn của năm 1995 là 900.480 nghìn con Trong đó số đầu lợn không đồng đều giữa các Châu lục, Châu Á có số đầu lợn cao nhất: 506.975 nghìn con, Châu Âu 167.615 nghìn con, Bắc và Trung Mỹ 69.197 nghìn con Nam Mỹ (Mỹ la tinh) 55.889 nghìn con, Châu Phi 21541 nghìn con và ít nhất là Châu Đại Dương 4.815 nghìn con (trích theo Nguyễn Thiện và cs, 1998) [51]
Do điều kiện kinh tế, kỹ thuật của từng vùng có khác nhau, nên sự phân
bố và phát triển các giống lợn cũng khác nhau Những nước công nghiệp phát triển, hầu hết lợn của họ là các giống cao sản (Yorkshire, Landrace, Duroc, Hampshire, Berkshire, Pietrain…), các nước đang phát triển phổ biến là các giống lợn địa phương có năng suất thấp, nhất là các nước vùng Châu Á và Châu Phi, (trích theo Lê Thanh Hải và cs, 1997) [20]
Chăn nuôi lợn bản địa tại Thái Lan, đặc biệt là lợn Rừng rất thành công, nhiều người nông dân Thái Lan đã trở thành tỷ phú từ nuôi lợn Rừng và các giống vật nuôi bản địa khác
Thời gian qua Thái Lan và Malaysia là hai nước xuất khẩu một số lượng vật nuôi nói chung và lợn Rừng giống vào nước ta thu nguồn lợi rất lớn
Một số tổ chức ở nước Anh đã thành công trong việc chăn nuôi các giống lợn bản địa theo hướng hàng hóa Một dự án giữa tổ chức trường đại học Newcatstle University đã tìm ra những giống lợn thích hợp cho việc sản xuất thịt lợn hàng hóa, xây dựng khẩu phần ăn, phương thức chăn nuôi động vật bản địa cho từng vùng
Trang 36Các nước có nền chăn nuôi lợn phát triển như Mỹ, Canada đã sử dụng các tổ hợp lai kinh tế phức tạp từ các giống lợn cao sản như L, Y, D,
H Hiện nay Mỹ đã sử dụng “Hình tháp di truyền truyền thống” và mô hình
“Hình tháp di truyền cải tiến” để xây dựng hệ thống giống lợn Đối với mô hình hình tháp truyền thống ở đàn lợn cụ kỵ (GGP) thường là lợn nái Y cho phối với lợn đực Y để sản xuất ra lợn Y thuần chủng ở đàn ông bà Lợn nái Y
ở đàn ông bà (GP) được phối với lợn đực L để sản xuất ra lợn bố mẹ (P) là F1(LY) Để sản xuất ra lợn thương phẩm người ta thường dùng nái F1 phối với lợn đực cuối cùng như H, D hoặc đực lai để sản xuất ra lợn lai thương phẩm ba hoặc bốn máu
Một số nước Châu Âu như Liên Xô (cũ), Hungari, Đức kết quả lai kinh tế đã làm tăng số lợn con sơ sinh trung bình/ổ là 12-16% Tỷ lệ nuôi sống đến cai sữa cao hơn từ 10-15% so với lợn thuần Khả năng nuôi thịt tốt hơn, giảm được thời gian vỗ béo từ 25-30 ngày, đạt khối lượng giết mổ 100
kg Nhiều kết quả nghiên cứu của Winters và CTV (1978) đã chứng minh, lợn lai khác giống vượt lợn thuần chủng về số lượng lợn con nuôi sống và vỗ béo đến khi xuất chuồng, tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng thấp hơn Tác giả nhận xét lợn lai từ 2 giống có số con trung bình/ổ lúc sơ sinh cao hơn 11,6%, giảm thời gian nuôi thịt là 17 ngày và tiết kiệm được 28 kg thức ăn cho một đời lợn nuôi thịt đạt khối lượng 100 kg/con so với lợn nuôi thuần Lợn lai từ 3 giống có số con trung bình một ổ khi sơ sinh cao hơn 7,2 % so với lợn lai 2 giống và cao hơn 19,6 % so với lợn thuần Từ đó tác giả đi đến kết luận: nhóm lợn lai có xu hướng đẻ nhiều con hơn, giảm được thời gian nuôi thịt, tiêu tốn thức ăn thấp hơn so với nhóm lợn thuần
Hà Lan, chăn nuôi là một trong những ngành quan trọng Thịt lợn chiếm 60% tổng sản lượng thịt các loại được sản xuất trong năm Trong chăn nuôi lợn thì trên 90% lợn vỗ béo là lợn lai Tổ hợp lai hai máu (LY) chiếm tới 69%, các tổ hợp lai nhiều giống tham gia ngày càng tăng Nhiều địa phương của Hà Lan đã sử dụng lợn lai hai máu để nuôi thịt, một số địa phương khác thì ưa chuộng lợn lai 3- 4 máu, trong đó giống thứ 3, 4 thường được chọn là lợn đực D Canada Lợn lai có ưu thế đẻ nhiều con, trung bình một ổ lợn con lúc sơ sinh là 9,9 con và đạt 18,2 con cai sữa/năm
Trang 37Tại Áo, với 4,8 triệu lợn thịt giết mổ hàng năm thì gần như tất cả được sản xuất từ lai hai, ba giống Nái lai được sử dụng phổ biến là F1(Edelschwein x LW) và F1(Edelschwein x L) được phối với lợn đực giống
P hoặc D để sản xuất con lai ba giống nuôi thịt
Tương tự như các nước ở Châu Âu, trước năm 1960 Thái Lan chỉ quan tâm đến dòng thuần, phải sau năm 1960 mới quan tâm lai kinh tế 2 giống Sau năm 1970 các nhà khoa học Thái Lan tiến hành lai kinh tế 3 giống và sau
1980 đã tiến tới lai 4 giống Các giống lợn được sử dụng chủ yếu để lai kinh
tế ở Thái Lan là Y, L, D, H Hiện nay ở Thái Lan lợn thương phẩm chủ yếu là lợn lai từ 3- 4 giống có tỷ lệ thịt nạc từ 50-55 %
Bảo tồn sự đa dạng sinh học đã và đang được nhiều quốc gia trên thế giới xếp vào một trong những hành động quan trọng bậc nhất nhằm ngăn chặn
sự suy thoái, mất mát nguồn gen động, thực vật, vi sinh vật nói chung và nguồn gen vật nuôi nói riêng Từ những năm 1980 các tổ chức quốc tế đặc biệt là FAO đã đưa ra nhiều chương trình dự án nhằm bảo tồn các giống/ dòng vật nuôi bản địa vốn đang bị suy giảm với tốc độ chóng mặt (1 giống/tuần), những giống bị mất đi đa phần ở những quốc gia nghèo hoặc vùng dân tộc thiểu số và thậm chí ngay cả ở những đất nước phát triển
Trang 38Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
Lợn Đen địa phương được nuôi tại các nông hộ của 03 xã Ngọc Lâu, Ngọc Sơn và xã Tự Do của huyện Lạc Sơn Tỉnh Hòa Bình
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.2.1 Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được triển khai trên địa bàn 03 xã (Xã Ngọc Lâu, Xã Ngọc
Sơn và xã Tự Do) thuộc huyện Lạc Sơn tỉnh Hòa Bình
2.2.2 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 12/2015 đến tháng 9 năm 2016
2.3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Nội dung nghiên cứu
Điều tra đánh giá tình hình chăn nuôi lợn Đen địa phương về số lượng, cơ cấu, phương thức chăn nuôi tại 03 xã thuộc huyện Lạc Sơn tỉnh Hòa Bình
Nghiên cứu một số đặc điểm ngoại hình của lợn Đen địa phương
Đánh giá khả năng sinh sản của lợn Đen địa phương
Đánh giá khả năng sinh trưởng của lợn Đen địa phương
Đánh giá khả năng cho thịt của lợn Đen địa phương
2.3.2 Phương pháp nghiên cứu
2.3.2.1 Điều tra điều kiện tự nhiên, xã hội, tình hình chăn nuôi lợn Đen địa phương tại huyện Lạc Sơn tỉnh Hòa Bình
* Về số liệu thứ cấp: Thu thập từ các báo cáo thống kê về điều kiện tự
nhiên, kinh tế, xã hội, các chủ trương chính sách phát triển kinh tế xã hội của huyện Lạc Sơn
* Về số liệu sơ cấp: Điều tra trực tiếp các điểm điều tra thông qua mẫu
điều tra, phỏng vấn kết hợp trực tiếp theo dõi tại các hộ chăn nuôi lợn Đen địa phương ở địa phương
Trang 39* Địa điểm điều tra: Tiến hành 03 xã có chăn nuôi nhiều lợn Đen địa
phương, mỗi xã điều tra từ 50 - 60 hộ, số phiếu điều tra 180 phiếu
* Thu thập số liệu: Bộ số liệu được thu thập theo phương pháp đánh giá
nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA) bằng các bảng câu hỏi chuẩn
bị trước theo từng nội dung điều tra và các phiếu điều tra mở để người dân có thể tự điền vào theo các vấn đề cần gợi ý của nội dung điều tra
* Xử lý số liệu: Tổng hợp, phân tích, đánh giá kết quả điều tra để xây
dựng kế hoạch triển khai bằng phương pháp SWAT
(Tỷ lệ đàn lợn Đen địa phương so với cơ cấu đàn lợn của huyện; quy
mô chăn nuôi lợn/ hộ; chăn nuôi lợn Đen địa phương / hộ; phương thức chăn nuôi; thức ăn sử dụng để chăn nuôi lợn; công tác thú y, vệ sinh phòng dịch)
2.3.2.2 Đánh giá một số đặc điểm ngoại hình của lợn Đen địa phương
Trực tiếp quan sát, ghi chép, thống kê, phân tích, nhận định và đánh giá cùng đồng nghiệp(hình dáng, thể vóc, màu sắc lông, da, đầu, tai, số vú ) chụp ảnh minh họa
2.3.2.3 Đánh giá khả năng sinh sản của lợn Đen địa phương
Điều tra phỏng vấn kết hợp trực tiếp theo dõi các hộ chăn nuôi lợn nái Đen địa phương sinh sản
* Phương pháp theo dõi một số chỉ tiêu sinh lý sinh sản:
- Tuổi (tháng) và khối lượng lợn cái (kg/con) khi động dục lần đầu, phối giống lần đầu, tuổi đẻ lứa đầu (theo dõi tuổi, cân khối lượng tại các thời điểm)
- Chu kỳ động dục (ngày): theo dõi ghi chép lại khoảng thời gian giữa 2 lần động dục kế tiếp nhau
- Thời gian động dục trở lại sau cai sữa (ngày): Là khoảng thời gian tính từ khi tách con đến khi lợn mẹ động dục trở lại
* Phương pháp theo dõi một số chỉ tiêu đánh giá sức sinh sản
- Số con sơ sinh/ổ (con): là số con do một lợn nái đẻ ra trong một lứa
đẻ (tính cả con sống và con chết)
Trang 40- Số con sơ sinh sống/ổ (con): là tổng số con đẻ ra còn sống trong vòng
24 giờ kể từ khi lợn nái đẻ xong con cuối cùng của lứa đẻ đó
- Khối lượng sơ sinh/ổ (kg): là tổng khối lượng lợn con khi sơ sinh
- Số con cai sữa/ ổ(con): là tổng số lợn con còn sống đến lúc tách mẹ
- Khối lượng lợn con cai sữa (kg/con)
- Khối lượng lợn cai sữa/ổ (kg) là tổng khối lượng của lợn con ở tại thời điểm cai sữa
- Khoảng cách lứa đẻ (ngày): là khoảng thời gian tính từ lứa đẻ trước đến lứa đẻ sau
- Tỷ lệ nuôi sống đến cai sữa (%)
- Tuổi cai sữa lợn con (ngày)
2.3.2.4 Đánh giá khả năng sinh trưởng, cho thịt và chất lượng thịt lợn Đen địa phương
* Đánh giá khả năng sinh trưởng:
Theo dõi sinh trưởng từ cai sữa (đủ 2 tháng tuổi) đến 8 tháng tuổi với
số lượng 65 con (35 đực thiến + 30 cái) tại 10 hộ của 2 xã Ngọc Lâu, Ngọc Sơn (mỗi hộ nuôi 3 lợn đực và 2 lợn cái) và xã Tự Do (5 hộ mỗi hộ nuôi 1 lợn đực và 2 lợn cái) chọn các hộ có điều kiện gần tương tự nhau
* Các chỉ tiêu theo dõi:
- Sinh trưởng tích lũy: Định kỳ cân khối lượng lợn mỗi tháng một lần
kể từ khi đưa lợn con vào nuôi thịt ở thời điểm kết thúc 2 tháng tuổi Cố định thời gian cân vào buổi sáng, trước khi cho lợn ăn Tính khối lượng trung bình theo công thức:
Tổng khối lượng lợn khảo sát (kg)
X ( k g / c o n ) =
Tổng số lợn khảo sát (con)
- Sinh trưởng tuyệt đối (g/con/ngày)
Sinh trưởng tuyệt đối là sự tăng lên về khối lượng, kích thước và thể tích cơ thể trong khoảng thời gian giữa 2 lần khảo sát ( TCVN 2 - 39 - 77), và được tính theo công thức:
A = P2 – P1
t