1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

lý luận đảng cầm quyền quan điểm của đảng ta về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội

41 341 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 41
Dung lượng 208,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU Hiện nay, CNXH trên thế giới đang lâm vào thoái trào nhưng điều đó không làm thay đổi tính chất của thời đại. Cho dù có những biến động và đổi thay hết sức phức tạp nhưng CNXH đã mở ra con đường phát triển mới và có sự hấp dẫn lớn. Các nước XHCN còn lại đang nỗ lực tìm kiếm các con đường cải cách, đổi mới để tiến lên CNXH và giành được những thắng lợi quan trọng. Công cuộc xây dựng CNXH mang đặc sắc Trung Quốc đã chứng minh điều đó “Người Trung Quốc nhìn nhận CNXH theo cách riêng của mình”(1). Xu hướng tiến lên CNXH ở Vênêzuêla và một số nước Nam Mỹ cũng khẳng định sức hấp dẫn của CNXH. Trong khi Trung Quốc xây dựng thành công CNXH thì hệ thống XHCN ở Liên Xô và Đông Âu lại sụp đổ. Ở Việt Nam, tiến lên CNXH là quá trình chưa có tiền lệ, điểm xuất phát về kinh tế thấp, bước đi chưa phù hợp. Vì vậy, Đảng ta đã không ngừng tìm tòi khám phá để ngày càng xác định rõ hơn con đường đi lên CNXH. Gần bảy thập kỷ qua, đặc biệt từ sau khi Liên Xô sụp đổ, thực tiễn xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc khẳng định: “Con đường đi lên CNXH ở nước ta ngày càng được xác định rõ hơn”(2). Mục đích của Đảng và nhân dân ta là xây dựng thành công CNXH ở Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng và văn minh”. Tuy nhiên để đạt được mục đích đó là quá trình phấn đấu lâu dài, phức tạp, làm đi làm lại, tổng kết rút kinh nghiệm và từng bước bổ sung, hoàn chỉnh. Đi theo con đường đổi mới đất nước xây dựng CNXH, Đảng và nhân dân ta đã giành được những thắng lợi to lớn, quan trọng, cho phép ta khẳng định con đường tiến lên CNXH của dân tộc ta là đúng đắn, phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế thời đại. Hội nghị Trung ương 6 (31989) khẳng định: “Đổi mới không phải là thay đổi mục tiêu XHCN mà làm cho mục tiêu ấy được thực hiện có hiệu quả bằng những quan niệm đúng đắn về CNXH, những hình thức, bước đi thích hợp”(3). Trong quá trình xây dựng CNXH, Đảng ta ngày càng rõ hơn quan niệm về CNXH và con đường đi lên CNXH rõ hơn. Thực tế đã khẳng định đường lối đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo là đúng đắn. Đồng thời chứng tỏ năng lực lãnh đạo và cầm quyền của Đảng, sự trưởng thành về tư duy lý luận của Đảng về CNXH và con đường đi lên CNXH ở nước ta. Lúc này, chúng ta có điều kiện nhìn lại lịch sử, tổng kết thực tiễn Việt Nam và thế giới, để tìm ra con đường xây dựng CNXH đúng đắn. Vì vậy, việc nghiên cứu một cách cơ bản và hệ thống về nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam góp phần tổng kết những vấn đề lý luận và thực tiễn, rút ra những bài học có ý nghĩa phương pháp luận về xây dựng CNXH ở Việt Nam trong điều kiện hiện nay và trong nhiều thập kỷ tới là việc có ý nghĩa lý luận và thực tiễn rất quan trọng. Do đó, tác giả chọn đề tài: “Quan điểm của Đảng ta về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội”

Trang 1

MỞ ĐẦU

Hiện nay, CNXH trên thế giới đang lâm vào thoái trào nhưng điều đókhông làm thay đổi tính chất của thời đại Cho dù có những biến động và đổithay hết sức phức tạp nhưng CNXH đã mở ra con đường phát triển mới và có

sự hấp dẫn lớn Các nước XHCN còn lại đang nỗ lực tìm kiếm các con đườngcải cách, đổi mới để tiến lên CNXH và giành được những thắng lợi quantrọng Công cuộc xây dựng CNXH mang đặc sắc Trung Quốc đã chứng minh

điều đó “Người Trung Quốc nhìn nhận CNXH theo cách riêng của mình” (1)

Xu hướng tiến lên CNXH ở Vênêzuêla và một số nước Nam Mỹ cũng khẳngđịnh sức hấp dẫn của CNXH

Trong khi Trung Quốc xây dựng thành công CNXH thì hệ thống XHCN

ở Liên Xô và Đông Âu lại sụp đổ Ở Việt Nam, tiến lên CNXH là quá trìnhchưa có tiền lệ, điểm xuất phát về kinh tế thấp, bước đi chưa phù hợp Vì vậy,Đảng ta đã không ngừng tìm tòi khám phá để ngày càng xác định rõ hơn conđường đi lên CNXH Gần bảy thập kỷ qua, đặc biệt từ sau khi Liên Xô sụp

đổ, thực tiễn xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc khẳng định: “Con đường đi

lên CNXH ở nước ta ngày càng được xác định rõ hơn” (2) Mục đích của Đảng

và nhân dân ta là xây dựng thành công CNXH ở Việt Nam “dân giàu, nước

mạnh, xã hội dân chủ, công bằng và văn minh” Tuy nhiên để đạt được mục

đích đó là quá trình phấn đấu lâu dài, phức tạp, làm đi làm lại, tổng kết rútkinh nghiệm và từng bước bổ sung, hoàn chỉnh

Đi theo con đường đổi mới đất nước xây dựng CNXH, Đảng vànhân dân ta đã giành được những thắng lợi to lớn, quan trọng, cho phép

ta khẳng định con đường tiến lên CNXH của dân tộc ta là đúng đắn, phù

hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế thời đại Hội nghị Trung ương 6

(3/1989) khẳng định: “Đổi mới không phải là thay đổi mục tiêu XHCN

mà làm cho mục tiêu ấy được thực hiện có hiệu quả bằng những quan

Trang 2

niệm đúng đắn về CNXH, những hình thức, bước đi thích hợp” (3) Trongquá trình xây dựng CNXH, Đảng ta ngày càng rõ hơn quan niệm vềCNXH và con đường đi lên CNXH rõ hơn.

Thực tế đã khẳng định đường lối đổi mới do Đảng khởi xướng vàlãnh đạo là đúng đắn Đồng thời chứng tỏ năng lực lãnh đạo và cầmquyền của Đảng, sự trưởng thành về tư duy lý luận của Đảng về CNXH

và con đường đi lên CNXH ở nước ta Lúc này, chúng ta có điều kiệnnhìn lại lịch sử, tổng kết thực tiễn Việt Nam và thế giới, để tìm ra conđường xây dựng CNXH đúng đắn

Vì vậy, việc nghiên cứu một cách cơ bản và hệ thống về nhận thức củaĐảng Cộng sản Việt Nam về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Namgóp phần tổng kết những vấn đề lý luận và thực tiễn, rút ra những bài học có ýnghĩa phương pháp luận về xây dựng CNXH ở Việt Nam trong điều kiện hiệnnay và trong nhiều thập kỷ tới là việc có ý nghĩa lý luận và thực tiễn rất quan

trọng Do đó, tác giả chọn đề tài: “Quan điểm của Đảng ta về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội”

Trang 3

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1 QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN VÀ

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CNXH 1.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội

Hệ thống quan niệm về CNXH với tính cách là một kiểu xã hội được xâydựng trên cơ sở chế độ công hữu về tư liệu sản xuất là một học thuyết đượcC.Mác và Ph.Ăngghen khởi xướng, sau đó được V.I.Lênin bổ sung và pháttriển Trải qua gần tám thập kỷ xây dựng và phát triển, CNXH hiện thực đã cómột thời gian tồn tại là một hệ thống thế giới và đã đóng vai trò là chỗ dựacủa các lực lượng cách mạng thế giới, là thành trì của hòa bình và là nhân tốquan trọng thay đổi bộ mặt của xã hội loài người ở thế kỷ XX

Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội là hòn đá tảng của khoa học xãhội, là nền tảng lý luận của CNXHKH Trong đó, C.Mác đã chứng minhrằng hình thái kinh tế - xã hội TBCN tất yếu sẽ được thay thế bằng mộthình thái cao hơn- hình thái kinh tế - xã hội CSCN mà giai đoạn đầu của

nó là CNXH CNXH là một xã hội ra đời trên nền tảng vật chất của xã hộiTBCN Ở quá trình đó vừa có sự phủ định, vừa có sự kế thừa và xây dựngmới toàn diện Xu hướng phát triển của CNTB tất yếu khách quan dẫn đến

sự ra đời của xã hội XHCN

Các nhà sáng lập CNXHKH trong khi khẳng định tính tất yếu diệt vongcủa CNTB đã phác thảo nên một mô hình xã hội mới - xã hội CSCN Các ôngkhẳng định rằng, loài người dù trải qua những bước quanh co như thế nào thìnhất định cũng đi tới CNCS mà giai đoạn đầu là CNXH Trong quan niệm củaC.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin thì CNXH hoàn toàn không phải là một hìnhthái kinh tế - xã hội độc lập như những hình thái kinh tế - xã hội mà loàingười đã trải qua trước đó CNXH là một giai đoạn, một trình độ phát triển

Trang 4

của hình thái kinh tế - xã hội CSCN Các ông chỉ ra rằng: “Đó không phải là

một xã hội CSCN đã phát triển trên những cơ sở của chính nó, mà trái lại là một xã hội CSCN vừa thoát thai từ xã hội TBCN, do đó là một xã hội về mọi phương diện kinh tế, đạo đức, tinh thần còn mang những dấu vết của tinh thần và những dấu vết của xã hội cũ mà nó lọt lòng ra”(4) Người nhấn mạnh

rằng xã hội ấy càng “không phải là một cái gì đó nhất thành bất biến mà

cũng như mọi chế độ xã hội khác, nó cần được xem xét như một xã hội được thay đổi và cải tạo thường xuyên” CNXH với tư cách là một thực thể, một

giai đoạn, một nấc thang của xã hội mới trực tiếp phát sinh từ CNTB, là một

xã hội phát triển cao hơn và tốt đẹp hơn CNTB

C.Mác và Ph.Ăngghen đã không ngừng bổ sung và hoàn thiện thêmnhững quan niệm của mình về CNXH Các ông vạch ra những quy luật củaquá trình chuyển biến cách mạng, đã chỉ rõ giai cấp vô sản phải tiến hành lật

đổ xã hội TBCN CNTB tất yếu sẽ diệt vong CNCS sẽ trải qua hai giai đoạn

chủ yếu: giai đoạn thấp- “một xã hội vừa thoát thai từ xã hội TBCN, do đó là

một xã hội về mọi phương diện kinh tế, đạo đức, tinh thần- còn mang những dấu vết của xã hội cũ mà nó đã lọt lòng ra”;(5) và giai đoạn cao- “xã hội

CSCN phát triển trên cơ sở của chính nó” (6) Sau này, Ph.Ănnghen gọi giaiđoạn thấp ấy của CSCN theo cách hiểu cảu C.Mác là CNXH

C.Mác đã dự báo về một xã hội XHCN có thể ra đời từ một xã hội kémphát triển, tiền TBCN C.Mác thấy ở các nước kém phát triển có thể tiến lênCNXH bỏ qua giai đoạn TBCN Do đó một quốc gia còn ở trình độ tiền tưbản vẫn có thể tiến lên CNXH không phải kinh qua chế độ TBCN Như vậy,

có thể khẳng định rằng thời đại ngày nay, mọi quốc gia, mọi dân tộc đều cóthể tiến lên CNXH theo những phương thức, con đường, bước đi không nhấtthiết phải luôn luôn giống nhau; nhưng phải phù hợp với quy luật khách quan

và điều kiện cụ thể từng nước

Trong tác phẩm “Phê phán cương lĩnh Gôta”, C.Mác đã chỉ ra rằng:

“Giữa xã hội TBCN và xã hội CSCN là một thời kỳ cải biến cách mạng từ xã

Trang 5

hội nọ sang xã hội kia Thích ứng với thời kỳ ấy là một thời kỳ quá độ chính trị, và nhà nước của thời kỳ ấy không thể là cái gì khác hơn là nền chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản” (7) Thời kỳ quá độ ở đây chưa phải làmột xã hội CSCN hoàn chỉnh, mà trong đó nó còn chứa nhiều thiếu sót do tàn

dư của xã hội cũ rơi rớt lại: “Nhưng đó là những thiếu sót không thể tránh

khỏi trong giai đoạn đầu của xã hội CSCN, lúc nó vừa lọt lòng từ xã hội TBCN ra, sau những cơn đau đẻ kéo dài” (8) Như vậy, muốn đi lên CNXH tấtyếu phải qua thời kỳ quá độ

Khi nói về CNXH, CSCN, C.Mác không xác định trước những hình thức

cụ thể của nó, mà ông chỉ nói đến những luận điểm tất yếu của sự ra đờiCNXH, về những phương hướng phát triển chủ yếu và những đặc trưng tiêubiểu của xã hội CSCN Bởi lẽ trong thời C.Mác, cách mạng XHCN chưagiành được thắng lợi

V.I.Lênin đã kế thừa và phát triển các quan niệm của C.Mác vàPh.Ănnghen về CNXH, đặc biệt là về con đường xây dựng CNXH trongnhững điều kiện lịch sử cụ thể của nước Nga

C.Mác và Ph.Ăngnghen, chưa phân biệt được một cách rõ ràng thời kỳquá độ từ CNTB lên CNXH là thuộc về giai đoạn đầu của xã hội CSCN hayhoàn toàn độc lập với giai đoạn đó, thì V.I.Lênin quan niệm, thời kỳ quá độ làmột giai đoạn nằm ngoài giai đoạn đầu, giai đoạn thấp của xã hội CSCN

Người đã nêu lên một luận điểm quan trọng: “Tất cả các dân tộc đều sẽ đi

đến CNXH Đó là điều không tránh khỏi nhưng tất cả các dân tộc đều sẽ tiến tới CNXH không phải một cách hoàn toàn giống nhau; mỗi dân tộc sẽ đưa đặc điểm của mình vào vào hình thức này hay hình thức khác của chế độ dân chủ, vào loại hình này hay loại hình khác của chuyên chính vô sản, vào nhịp

độ này hay nhịp độ khác của việc cải tạo XHCN đối với các mặt khác nhau của đời sống xã hội” (9)

C.Mác và Ph.Ăngghen là những người đã khẳng định rằng cuộc cáchmạng XHCN chỉ có thể thắng lợi trên phạm vi toàn thế giới ở đồng thời tất cả

Trang 6

các nước tư bản Ngay từ những năm đầu của thế kỷ XX, V.I.Lênin đã phát

triển luận điểm đó trong thời đại đế quốc chủ nghĩa: “CNXH không thể đồng

thời thắng lợi trong tất cả các nước Trước hết nó thắng lợi trong một nước, hoặc trong một số nước, trong khi các nước khác, trong một thời gian nào đó, vẫn còn là những nước tư sản hay tiền tư sản”(10) Lênin nhận định: “Chúng

ta thấy rằng CNXH có thể thắng lợi trước hết là trong một số ít nước TBCN hoặc thậm chí chỉ trong một nước TBCN”(11) Chính phát hiện này là cơ sở lýluận để Lênin và những người Bônsêvích tiến hành cuộc cách mạng XHCNtháng Mười vĩ đại và bắt tay vào sự nghiệp xây dựng CNXH ở một nướcriêng lẻ, trong vòng vây của chủ nghĩa đế quốc

Đầu thế kỷ XX, khi CNTB chuyển sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc,giai cấp tư sản trở nên phản cách mạng thì giai cấp vô sản đã được giác ngộ,

đã có lý luận cách mạng và đủ mọi khả năng trở thành người độc quyền lãnhđạo cách mạng Lênin chỉ ra rằng, giai cấp vô sản chỉ có thể là người đấutranh thắng lợi cho dân chủ với điều kiện giai cấp nông dân hưởng ứng cuộcđấu tranh cách mạng của nó Lênin đã nghiên cứu vấn đề liên minh giữa giaicấp công nhân và nông dân, trong đó, giai cấp công nhân giữ vai trò lãnh, coi

đó là một điều kiện nhất thiết phải có để cách mạng dân chủ tư sản thắng lợi.Đồng thời, Lênin cũng chỉ rõ: sau khi thực hiện nhiệm vụ cải tạo dân chủ, mộtnhiệm vụ mới được đặt ra trước giai cấp vô sản là đấu tranh cho CNXH:

“Giai cấp vô sản phải tiến hành cách mạng dân chủ tới cùng, bằng cách kéo đông đảo quần chúng nông dân theo mình, để bằng sức mạnh đè bẹp sự phản kháng của chế độ độ chuyên chế và làm tê liệt tính không kiên định của giai cấp tư sản Giai cấp vô sản phải làm cách mạng XHCN bằng cách kéo đông đảo những phần tử nửa vô sản trong nhân dân theo mình, để bằng sức mạnh

mà đập tan sự phản kháng của giai cấp tư sản và làm tê liệt tính không kiên định của nông dân và của giai cấp tiểu tư sản”(12)

Để đáp ứng yêu cầu của phong trào cách mạng của giai cấp công nhântrong điều kiện lịch sử mới, Lênin đã phát triển tư tưởng cách mạng không

Trang 7

ngừng của C.Mác, Ph.Ăngghen thành lý luận về sự chuyển biến từ cách mạngdân chủ tư sản sang cách mạng XHCN Giai cấp công nhân sau khi làm cuộccách mạng dân chủ tư sản thắng lợi triệt để phải tiến hành ngay cuộc cáchmạng XHCN, hai cuộc cách mạng này tuy khác nhau về nhiệm vụ, tính chấtnhưng đều nằm trong một quá trình cách mạng giai cấp công nhân lãnh đạo.

Cách mạng dân chủ tư sản là “màn giáo đầu” của cách mạng XHCN, còn

cách mạng XHCN là xu thế phát triển tất yếu của cách mạng dân chủ tư sản

do giai cấp công nhân lãnh đạo

Như vậy, Lênin cho rằng, thắng lợi hoàn toàn của cách mạng dân chủ tưsản sẽ dọn đường cho cuộc đấu tranh thực sự cho CNXH, sẽ đem lại cho giaicấp vô sản khả năng triển khai cuộc đấu tranh ấy nhanh chóng hơn, rộng hơn,sâu hơn và kiên quyết hơn

Theo Lênin, sau khi giành được thắng lợi và xây dựng nền sản xuấtXHCN trong nước mình, giai cấp vô sản nước đó phải nước đó phải có nhiệm

vụ giúp đỡ giai cấp vô sản các nước khác làm cách mạng XHCN Lênin đã đề

ra cho những người cộng sản Nga nhiệm vụ giúp đỡ các nước, các dân tộc lạc

hậu, chậm phát triển khác đi lên CNXH: “Với sự giúp đỡ của giai cấp vô sản

các nước tiên tiến, các nước lạc hậu có thể tiến lên chế độ Xô Viết và qua những giai đoạn phát triển nhất định, tiến tới CNCS, không phải trải qua nhiều giai đoạn phát triển TBCN”.

Sau thắng lợi của cách mạng tháng Mười Nga năm 1917, Lênin khẳngđịnh: nước Nga có thể tiến thẳng lên CNXH Ông đề ra cho giai cấp côngnhân và nhân dân lao động hai nhiệm vụ chính là: Xây dựng cơ sở vật chất kỹthuật của CNXH và cải tạo XHCN nền kinh tế Nga CNXH chỉ có thể cóđược trên cơ sở nền đại công nghiệp cơ khí Chỉ khi nào chính quyền Nhànước vô sản tổ chức được toàn bộ nền công nghiệp dựa trên cơ sở nền đại sảnxuất tập thể và kỹ thuật hiện đại nhất thì khi ấy mới có thể coi là CNXH bắtđầu được hiện thực hóa và có khả năng chiến thắng được CNTB

Trang 8

Về cải tạo XHCN, Lênin yêu cầu phải cải tạo thành phần kinh tế tư bản

tư nhân và cải tạo nền kinh tế hàng hóa nhỏ Phát triển CNTB Nhà nước làcon đường chắc chắn nhất để đưa nước Nga vào quỹ đạo CNXH Nhiệm vụcải tạo nền sản xuất nhỏ được Lênin coi là nhiệm vụ khó khăn, lâu dài, giankhổ nhất đối với sự nghiệp xây dựng CNXH Mục đích của việc cải tạo nềnsản xuất hàng hóa nhỏ chính là đưa nông dân vào con đường làm ăn tập thể

với quy mô lớn Đó là những biện pháp chủ yếu được Lênin đưa ra trong

“Chính sách cộng sản thời chiến”.

Sau thời kỳ chống thù trong giặc ngoài, 3/1921 “Chính sách kinh tế

mới” (NEP) ra đời Trong đó, Lênin khẳng định cần thay thế chế độ trưng thu

lương thực thừa bằng chế độ thuế lương thực đối với nông dân trong nôngnghiệp Cần cho phép mọi người trong đó có nông dân, được tự do buôn bán,trao đổi hàng hóa; phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần; sử dụng tưbản nhà nước vì lợi ích trước mắt và lâu dài của CNXH; chú trọng sử dụngchuyên gia tư sản, phải học tập CNTB

Sau một thời gian thực hiện, chính sách kinh tế mới đã góp phần thay đổi

bộ mặt nước Nga Kinh tế của nước Nga phục hồi nhanh chóng và đã có bướcphát triển Công nghiệp, nông nghiệp đi vào ổn định và tăng trưởng, đời sốngnhân dân ổn định Đây là lần đầu tiên Lênin xác định nội dung kinh tế củathời kỳ quá độ lên CNXH và đây cũng là điều kiện để Đảng cộng sản Liên Xôđẩy mạnh công cuộc quá độ lên CNXH

Lênin khẳng định một cách chắc chắn rằng ở một nước mà những ngườitiểu nông chiếm tuyệt đại đa số trong dân cư thì chỉ có thể thực hiện cuộccách mạng XHCN bằng một loạt biện pháp quá độ đặc biệt, chứ không thểtiến thẳng trực tiếp lên CNXH được Lênin còn cho rằng sự phát triển củaCNTB là không tránh khỏi Nó là sản phẩm tự nhiên, tất yếu của nền sản xuấthàng hóa nhỏ, của sự tự do trao đổi Nhà nước vô sản không nên và không thểngăn cấm nó, mà phải lợi dụng nó bằng cách hướng nó vào con đường tư bảnNhà nước, coi đó làm khâu trung gian giữa nền sản xuất và CNXH Những

Trang 9

nước càng kém phát triển càng trải qua nhiều bước quá độ, đặc biệt phải quaCNTB Nhà nước để đi tới CNXH.

Dựa trên quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin, có thể nêu lên sáu

đặc trưng cơ bản của CNXH: một là, cơ sở vật chất kỹ thuật của CNXH là nền đại công nghiệp cơ khí; hai là, CNXH xóa bỏ chế độ tư hữu TBCN;

ba là, CNXH tạo ra cách tổ chức lao động và kỷ luật lao động mới, bốn

là, CNXH thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động; năm là, Nhà

nước trong CNXH là nhà nước kiểu mới thế hiện sâu sắc bản chất của giaicấp công nhân, đại biểu cho lợi ích, quyền lực và ý chí của nhân dân lao

động; sáu là, CNXH giải phóng con người khỏi áp bức, bóc lột, thực hiện

sự bình đẳng xã hội, tạo điều kiện cho con người phát triển toàn diện.Những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin về CNXH vàcon đường đi lên CNXH có ý nghĩa phương pháp luận to lớn, là nền tảng

tư tưởng và kim chỉ nam đối với quá trình hoạch định con đường tiến lênCNXH ở Việt Nam

1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Hồ Chí Minh kế thừa, vận dụng sáng tạo và phát triển lý luận Mác Lênin về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam ở các nội dung chủyếu sau:

-Thứ nhất, Người khẳng định các dân tộc sớm hay muộn đều đi lên

CNXH Các giai đoạn phát triển của lịch sử loài người là: “Xã hội từ chỗ ăn

lông ở lỗ tiến đến xã hội nô lệ, tiến đến chế độ phong kiến, tiến đến xã hội tư bản rồi tiến đến XHCN”.

Người khẳng định CNXH ra đời là một quá trình hợp quy luật CNTB

sớm hay muộn sẽ bị CNXH phủ định Người khẳng định: “Chỉ có CNXH,

CNCS mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”(13) Từ đó, Người khái quát: “Không có lực

Trang 10

lượng gì ngăn trở được mặt trời mọc Không có gì ngăn trở được lịch sử loài người tiến lên Cũng không có lực lượng gì ngăn trở được CNXH phát triển”(14).

CNXH theo quan niệm của Hồ Chí Minh là ước mơ, lý tưởng, là mụctiêu, con đường, là một phong trào hiện thực của quần chúng nhân dân để xóa

bỏ mọi áp bức bóc lột CNXH là một chế độ xã hội cần xây dựng, CNXH làkết quả tất yếu của cách mạng Việt Nam Điều đó được bắt nguồn từ khi HồChí Minh bắt gặp Luận cương của Lênin Từ đấy, Người tin theo Lênin, đitheo con đường của Cách mạng tháng Mười và theo chủ nghĩa Mác - Lênin,đặt cách mạng Việt Nam vào quỹ đạo của cách mạng vô sản, vì nó phù hợpvới quy luật vận động và phát triển của lịch sử, khát vọng độc lập tự do, hạnhphúc của dân tộc Việt Nam Kể từ lúc đặt cách mạng giải phóng dân tộc vàoquỹ đạo cách mạng vô sản, Hồ Chí Minh đã thấy ở đó con đường cách mạngViệt Nam- gắn chặt độc lập dân tộc với CNXH Người đã giải quyết đúng đắnmối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp, quốc gia và quốc tế, độc lập dân tộc vàCNXH Người quan niệm rằng chỉ có CNXH mới giải phóng triệt để cho giaicấp và dân tộc, mới bảo đảm trọn vẹn và triệt để cho độc lập dân tộc, cho tự

do bình đẳng, bác ái, đoàn kết, ấm no hạnh phúc cho mọi người…

Thứ hai, bản chất của CNXH là phải làm cho mọi người bằng sức lao

động của mình và có cuộc sống ngày càng tốt hơn, trở nên giàu có, mọi nhàgiàu có thì nước mới cường, dân mới mạnh Phải làm cho người nghèo thì đủ

ăn, người đủ ăn thì khá giàu, người khá giàu thì giàu thêm, người nào cũngbiết chữ, người nào cũng biết đoàn kết, yêu nước

Hồ Chí Minh đã có một hệ thống quan niệm rất phong phú về CNXH

Để mọi người Việt Nam có thể hiểu được, Người chỉ nêu ngắn gọn: “Nói một

cách tóm tắt mộc mạc, CNXH trước hết là làm cho nhân dân thoát nạn bần cùng làm cho mọi người có công ăn, việc làm, được ấm no và sống một đời hạnh phúc”(15); “CNXH là nhằm nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của

nhân dân và nhân dân tự xây dựng lấy”(16); “CNXH là làm sao dân giàu,

Trang 11

nước mạnh”; CNXH nghĩa là tất cả mọi người các dân tộc ngày càng ấm no, con cháu chúng ta ngày càng sung sướng”(17)… Có thể nói, quan điểm này làđịnh hướng cho mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.

Hồ Chí Minh nhấn mạnh: CNXH là do quần chúng nhân dân tự xâydựng nên CNXH không phải là cái gì cao xa mà cụ thể là ý thức lao động tậpthể, ý thức kỷ luật, tinh thần thi đua yêu nước, tăng gia sản xuất cho hợp tác

xã, tăng thu nhập cho xã viên, tinh thần đoàn kết tương trợ, tinh thần dámnghĩ, dám làm, không sợ khó, ý thức cần kiệm CNXH là gì? là no ấm? gìnữa? là đoàn kết, vui khỏe CNXH là nhằm nâng cao đời sống vật chất và vănhóa của nhân dân và do nhân dân tự xây dựng lấy

Có thể khái quát bản chất CNXH ở Việt Nam theo tư tưởng Hồ ChíMinh là xã hội do nhân dân lao động làm chủ, mọi quyền lực thuộc về nhândân, là xã hội dân giàu, nước mạnh; một xã hội thể hiện sự quan tâm mật thiết

về lợi ích vật chất, lợi ích tinh thần của mỗi người; là nơi kết hợp hài hòa giữalợi ích cá nhân và lợi ích tập thể, cá nhân với xã hội; là nơi giải quyết thỏađáng giữa cống hiến và hưởng thụ , mà hạt nhân lãnh đạo của xã hội là Đảngcộng sản - Đảng của giai cấp công nhân theo chủ nghĩa Mác - Lênin

Thứ ba, Hồ Chí Minh nói về nội dung con đường đi lên CNXH ở Việt Nam.

Vận dụng lý luận về cách mạng không ngừng, về thời kỳ quá độ lênCNXH của Mác - Lênin, xuất phát từ đặc điểm tình hình thực tiễn Việt Nam -một nước vốn là thuộc địa, nửa phong kiến, nông nghiệp lạc hậu, sản xuất nhỏ

là chủ yếu, Hồ Chí Minh khẳng định con đường cách mạng Việt Nam là tiếnhành giải phóng dân tộc, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân,tiến lên CNXH (quá độ lên CNXH), chứ không thể làm ngay cuộc cách mạng

vô sản, thiết lập chuyên chính vô sản và bước ngay vào thời kỳ quá độ lênCNXH như ở các nước tư bản phát triển Người đưa ra luận điểm: Việt Namkhông thể đi thẳng đến CNXH như Liên Xô mà phải kinh qua chế độ dân chủmới, rồi tiến lên CNXH

Trang 12

Hồ Chí Minh đã lựa chọn con đường đi lên CNXH từ năm 1930 trong

“Chính cương vắn tắt”, xuất phát từ tình hình cách mạng nước ta và học

thuyết cách mạng không ngừng của Lênin, Hồ Chí Minh đã giúp toàn Đảng,toàn dân nhận thức đặc điểm của đất nước trong thời kỳ qua độ Trong 30

năm hoạt động của Đảng (1960) Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Miền Bắc

nhất định phải tiến lên CNXH, mà đặc điểm to nhất của ta trong thời kỳ quá

độ là từ nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên CNXH không phải kinh qua giai đoạn phát triển TBCN”(18) Đặc điểm to lớn này đã quy định mục tiêu, nộidung, phương pháp, lực lượng, tính chất và bước đi xây dựng CNXH trongthời kỳ quá độ ở nước ta

Theo Hồ Chí Minh, quá độ lên CNXH không phải kinh qua giai đoạnphát triển TBCN là một qua trình khó khăn, phức tạp và lâu dài Khó khăn vìđiểm xuất phát của ta thấp và lạc hậu về kinh tế, văn hóa, xã hội; còn ít kinhnghiệm tổ chức quản lý; ta đi lên CNXH từ hai bàn tay trắng, phải thay đổitriệt để những nếp sống, thói quen, ý nghĩ, thành kiến có gốc rễ sâu xa hàngngàn năm; phải thay đổi quan hệ sản xuất cũ, xóa bỏ người bóc lột người vàbiến một xã hội cũ thành một xã hội mới Tuy vậy, chúng ta nhất định sẽ vượt

qua vì có đủ điều kiện cho phép Người nhắc nhở: “Tiến thẳng lên CNXH” không có nghĩa là có ngay CNXH mà phải “quá độ thận trọng, quá độ dần

dần” Chúng ta phải tự khai phá một con đường mới để xây dựng CNXH phù

hợp với đặc điểm Việt Nam và không trái với chủ nghĩa Mác - Lênin

Tiến thẳng lên CNXH theo quan niệm của Hồ Chí Minh không có nghĩa

là “muốn là tức khắc có”, không thể một sớm một chiều vì “CNXH không thể

làm mau được mà phải làm dần dần”(19) Người chỉ rõ: “Tiến nhanh, tiến

mạnh không phải là phiêu lưu làm ẩu, phải thiết thực đi từng bước, phải tiến vững chắc… phải tính toán cẩn thận vì điều kiện cụ thể, những biện pháp cụ thể… chớ đem chủ quan của mình thay cho điều kiện thực tế” (20)

Trang 13

Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, muốn xây dựng CNXH trước hết cần cóđiều kiện quốc tế, điều kiện trong nước, điều kiện khách quan, điều kiện chủquan; những điều kiện về kinh tế, chính trị, xã hội, về con người, về cơ sở vật

chất kỹ thuật, về vốn…, nghĩa là có đủ ba điều kiện cơ bản: “Thiên thời, địa

lợi, nhân hòa” Những điều kiện này không phải có sẵn ngay khi nước ta

bước vào thời kỳ quá độ lên CNXH, mà nó có trong quá trình phát triển cáchmạng Việt Nam Hồ Chí Minh không bao giờ chờ đợi các điều kiện ấy ra đờiđầy đủ mới tiến lên xây dựng CNXH Người nắm bắt thời cơ, chấp nhận thời

cơ, chỉ cần có những điều kiện cơ bản là Hồ Chí Minh cùng Đảng ta thực hiệnngay chặng đường cách mạng XHCN

Người đã đưa ra hình thức cụ thể: Tiến dần từ chế độ dân chủ nhân dânlên CNXH bằng cách phát triển và cải tạo nền kinh tế quốc dân theo CNXH,biến nền kinh tế lạc hậu thành nền kinh tế XHCN với công nghiệp và nôngnghiệp hiện đại, khoa học và kỹ thuật tiên tiến Mặt khác, Người còn thấy vàchỉ rõ biểu hiện cơ bản của một nền kinh tế trong thời kỳ quá độ phải đa dạng,khuyến khích các ngành kinh tế và các thành phần kinh tế vì lợi ích trước mắt

và lâu dài Người lựa chọn cơ cấu nông nghiệp và công nghiệp hiện đại:

“Tiến lên CNXH phải đi bằng hai chân: công nghiệp và nông nghiệp”(21)

Người lý giải mối quan hệ biện chứng giữa hai ngành này: “Công nghiệp và

nông nghiệp như là hai chân của một nền kinh tế nước nhà Chân phải thật vững, thật khỏe thì kinh tế mới tiến bộ thuận lợi và nhanh chóng”(22)

Tư tưởng Hồ Chí Minh về CNXH và con đường đi lên CNXH đã đượcĐảng ta cụ thể hóa và phát triển từ Đại hội III đến nay, trở thành đường lốichính trị dẫn dắt toàn Đảng, toàn dân ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ

Tổ quốc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, vữngbước đi lên CNXH

Trang 14

CHƯƠNG 2 QUÁ TRÌNH NHẬN THỨC CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CNXH Ở NƯỚC TA

Con đường quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN ở Việt Nam là khái

niệm để chỉ con đường tất yếu đi lên CNXH ở Việt Nam, sau khi đã hoànthành về cơ bản cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân do giai cấp côngnhân lãnh đạo, với những đặc điểm, mục tiêu, nội dung, động lực, bước đi,phương thức và những điều kiện đảm bảo thắng lợi cho CNXH ở Việt Nam

Đại hội IX của Đảng chỉ rõ: “Con đường đi lên CNXH ở nước ta là sự

phát triển quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN, tức là bỏ qua việc xác lập

vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng TBCN, nhưngtiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đạt được dưới chế độ TBCN,đặc biệt về khoa học và công nghệ, để phát triển nhanh lực lượng sản xuất,xây dựng nền kinh tế hiện đại”

2.1 Quá trình nhận thức của Đảng ta về con đường đi lên CNXH ở Việt Nam trước đổi mới

2.1.1 Nhận thức về mối quan hệ giữa độc lập dân tộc và CNXH, về tính tất yếu lịch sử của CNXH ở Việt Nam.

Đây là vấn đề chung, là nhận thức tổng quát của Đảng ta về sự lựa chọn

con đường phát triển của cách mạng Việt Nam

Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh là người sáng lập ra Đảng Cộng sảnViệt Nam Từ những năm 20 của thế kỷ XX, khi giác ngộ chủ nghĩa Mác -Lênin và tiếp nhận ảnh hưởng của cách mạng tháng Mười Nga, của thời đại

đó, do cuộc cách mạng đó vạch ra Người đã kiên trì theo đuổi lý tưởng, mụctiêu của CNXH và CNCS, đã truyền bá những tư tưởng đó vào trong nước

Có thể nói, nhận thức của Đảng về mối quan hệ giữa cách mạng giảiphóng dân tộc, cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân với cách mạng XHCNtrong suốt ba phần tư thế kỷ nay là một nhận thức khoa học và thể hiện rõ lậptrường cách mạng triệt để, kiên định của giai cấp công nhân

Trang 15

Dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh, giải phóng dân tộc để giành lấy

độc lập tự do và dân chủ, xóa bỏ ách thống trị của đế quốc thực dân và phong

kiến là tiền đề chính trị tiên quyết để đi tới CNXH Giải phóng dân tộc và độc

lập dân tộc không phải trên lập trường và ý thức hệ phong kiến, tư sản mà trênlập trường và ý thức hệ của giai cấp công nhân

Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, đó là điểm nổi bật, xuyên suốt vàchủ đạo trong tư tưởng Hồ Chí Minh

Đảng Cộng sản mang bản chất của giai cấp công nhân là một chính đảngcách mạng chân chính, có hệ tư tưởng khoa học tiên tiến của thời đại là chủnghĩa Mác - Lênin Một giai cấp, một Đảng cách mạng như vậy lại gắn bóthân thiết với dân tộc và nhân dân, thống nhất hữu cơ giữa chủ nghĩa yêunước và chủ nghĩa quốc tế chân chính nên có sức mạnh từ cơ sở xã hội sâurộng trong lòng dân tộc và nhân dân

Xu thế phát triển khách quan của lịch sử trong thời đại cách mạng vô sản

đã cho phép các dân tộc dưới sự lãnh đạo của đội tiên phong của giai cấpcông nhân quá độ tới CNXH, không cần thiết phải trải qua chế độ TBCN

Đó là vấn đề lý luận đã được làm sáng tỏ trong di sản kinh điển chủnghĩa Mác - Lênin, kho tàng tư tưởng Hồ Chí Minh và trong lịch sử các vănkiện Đảng suốt từ ngày thành lập cho đến nay

Định hướng XHCN thuộc về bản chất và nội dung của đổi mới Dù xây

dựng kinh tế thị trường và Nhà nước pháp quyền, dù hội nhập quốc tế, dù hợp

tác song phương và đa phương và là bạn của tất cả các nước nhưng định

hướng XHCN vẫn là nguyên tắc, quan điểm không thay đổi của Đảng, của

cách mạng, của dân tộc ta

Tư tưởng lớn và ở tầm bao quát này là xuất phát điểm lý luận để bàn tới

quan niệm CNXH và xây dựng CNXH ở nước ta, tức là để trả lời câu hỏi:CNXH là gì? và xây dựng CNXH như thế nào? Trước đổi mới, nhận thức lý

luận của Đảng ta về vấn đề này là đúng đắn, nhất quán, không có những sự

tròng trành, dao động hay lạc hướng như đã từng xảy ra ở nhiều nơi Tuy

Trang 16

nhiên, bên cạnh tính đúng đắn phổ quát đó, quan niệm của chúng ta về vấn đềnày ở thời kỳ trước đổi mới cũng không tránh khỏi những hạn chế lịch sử Đólà:

- Có những cách hiểu đơn giản, siêu hình, biểu hiện ở chỗ đối lập mộtcách giáo điều giữa CNTB và CNXH Coi việc bỏ qua CNTB là một sự bỏqua toàn bộ, tất cả những gì thuộc về CNTB, không nhận thấy sự cần thiếtphải học hỏi những kinh nghiệm mà CNTB đã tích lũy được hàng bao thế kỷ,nhất là kinh nghiệm quản lý kinh tế, sản xuất, quản lý nhà nước, xã hội,những thành tựu xây dựng luật pháp, giáo dục ý thức pháp luật, kỷ luật, kỷcương xã hội Chậm nhận thức về vai trò của khoa học kỹ thuật, công nghệnhư những động lực mạnh mẽ của phát triển Lầm tưởng rằng bỏ qua CNTB

là con đường nhanh nhất, dễ dàng đi tới CNXH, trong khi thực tế đây là loạihình phát triển rất khó khăn, phức tạp

- Đồng nhất giản đơn giữa thời kỳ quá độ lên CNXH với CNXH, khôngthấy hết những sự vận động đầy khó khăn từ mầm mống phát sinh CNXH với

sự hình thành, phát triển, trưởng thành CNXH Đó là một thời kỳ lịch sử hếtsức lâu dài chứ không chỉ vài ba kế hoạch 5 năm như đã hình dung ban đầu

Do đó dù không là tự giác, chúng ta đã đem khả năng, xu hướng đồng nhấtvới hiện thực, lấy mong muốn chủ quan thay thế cho quy luật khách quantrong hoạch định chính sách, biện pháp

- Cái tất yếu chỉ là một nhưng sự vận động, sự bộc lộ của cái tất yếu và những hình thức, biện pháp thực hiện cái tất yếu ấy lại vô số nhiều, lại đa

dạng, với rất nhiều khác biệt lịch sử giữa các nước Do không nhận thức như

vậy nên đã đơn giản lược hóa con đường và mô hình xây dựng CNXH vào

một cái duy nhất, theo khuôn mẫu nước ngoài (Liên Xô), không chú ý đầy đủ

đến điều kiện, hoàn cảnh lịch sử nước mình, mặc dù Hồ Chí Minh đã cónhững chỉ dẫn sâu sắc từ rất sớm nhưng đã không chú ý để thực hiện và vậndụng đầy đủ

Trang 17

Những hạn chế, khuyết điểm này, dần dần qua thực tiễn, chúng ta đãnhận ra từng bước và sửa chữa Đổi mới và sự hình thành nhận thức lý luậnmới về CNXH là một nỗ lực mới để khắc phục những hạn chế, khuyết điểmnêu trên, trong mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội.

2.1.2 Nhận thức về mối quan hệ giữa cải tạo XHCN và xây dựng CNXH, về mục tiêu và con đường thực hiện mục tiêu của CNXH.

Cải tạo XHCN và xây dựng CNXH là hai phương diện hợp thành củatiến trình đi lên CNXH có quan hệ mật thiết với nhau không thể tách rời.Những nhiệm vụ của thời kỳ quá độ được quy định từ thực tiễn và yêu cầu ấy.Việc triển khai nhiệm vụ này ở nước ta đã diễn ra không cùng một thời điểm

ở mỗi miền Sau khi hòa bình được lập lại, sau một thời gian ngắn phục hồisản xuất và kinh tế (1954 - 1957 và 1958 - 1960) miền Bắc đã bước vào thời

kỳ quá độ, cải tạo và xây dựng CNXH theo đường lối Đại hội Đảng III(1960) Ở miền Nam, sau khi nước nhà thống nhất mới bắt đầu những nhiệm

vụ đó Cải tạo XHCN ở miền Nam cũng trùng hợp với thời điểm cả nước đilên CNXH theo đường lối của Đảng ở Đại hội IV (1976) và Đại hội V (1981).Thời gian thực hiện những nhiệm vụ cải tạo XHCN và xây dựng CNXH

như vậy là không ngắn nhưng lại không liên tục (bởi những gián đoạn do chiến tranh tàn phá) Không cùng thời điểm, tính chất và trình độ đối với mỗi

miền Hơn nữa, trong quá trình thực hiện, chúng ta lại mắc phải nhiều khuyếtđiểm, sai lầm trong chỉ đạo thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách nên

đã hạn chế một phần những kết quả thu được Có thể hình dung những yếukém và hạn chế nêu trên nổi bật ở những điểm dưới đây:

Một là, trong quan niệm về CNXH và xây dựng CNXH ở Việt Nam còn nhiều biểu hiện của nhận thức giáo điều, chủ quan, duy ý chí, vi phạm quy luật, làm sai quy luật.

Biểu hiện rõ nhất trong vấn đề này là không thấy hết tính phức tạp, khó

khăn của quá trình cải tạo XHCN, nhất là ở miền Nam sau năm 1975 Việc

cải tạo đó không được định hướng bởi mục đích phát triển sản xuất và lực

Trang 18

lượng sản xuất, đã tách rời lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất, dùngnhững biện pháp hành chính- mệnh lệnh của quản lý nhà nước để cải tạo, cảtrong công thương nghiệp tư bản tư nhân và trong nông nghiệp của nông dân

cá thể Do đó dẫn tới hậu quả là sản xuất đình trệ, lợi ích của người lao độngkhông được đảm bảo, tiêu cực xã hội phát sinh

Tư duy về CNXH trước đổi mới, mang đậm dấu ấn của tư duy kinh tế kếhoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp, bình quân, kinh tế hiện vật chứ khôngphải kinh tế hàng hóa Quan niệm thô sơ về công bằng là bình quân, chia đềudẫn tới sự suy giảm và triệt tiêu động lực phát triển

Yếu kém nổi bật của CNXH trước đổi mới là ở chỗ, đã áp dụng một mô hình CNXH thiếu hụt các nội động lực để phát triển mà hạt nhân là lợi ích.

Đã không quan tâm đúng mức tới lợi ích cá nhân của người lao động, lợi íchtập thể và xã hội bị tuyệt đối hóa một cách trừu tượng, lại do quản lý yếu kémnên cũng rơi vào biến dạng bởi quan liêu, lãng phí, tham ô, không tuôn thủquy luật giá trị và thị trường nên không phát triển được, dẫn tới trì trệ, lạchậu, chậm phát triển

Hai là, trong quan niệm về CNXH và xây dựng CNXH ở Việt Nam trước đổi mới chưa đặt đúng vị trí, vai trò của dân chủ với tư cách là một động lực quan trọng hàng đầu và mục tiêu của CNXH.

Dân chủ là một giá trị căn bản, là động lực và mục tiêu của CNXH màcác nhà kinh điển từ Mác đến Lênin và Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng Vấn

đề dân chủ trong thời kỳ quá độ ở Việt Nam lại càng có tầm quan trọng khôngthể thiếu

Dân chủ gắn liền với pháp luật, kỷ cương trong hoạt động của bộ máy,trong tổ chức, trong đạo đức, trong lối sống, trong quan hệ giữa người vàngười, giữa nhà nước và công dân Cái cốt lõi của dân chủ là giải quyết quyền

và lợi ích, quyền và nghĩa vụ, lợi ích và trách nhiệm, trước hết là lợi ích kinh

tế, vật chất của con người được pháp luật bảo vệ Trước đổi mới, tư duy lýluận dường như rất ít bàn tới vấn đề này

Trang 19

Trong khi đó, đường lối của Đại hội IV (1976) lại trình bày vấn đề làmchủ tập thể, chế độ làm chủ tập thể và cơ chế làn chủ tập thể ở một mức độhoàn hảo, lý tưởng, dù mục đích đặt ra là rất cao quý nhưng lại không tínhđến những điều kiện trên thực tế chế ước nó Do đó, lý luận làm chủ tập thể

đã rất khó thực hiện, rất khó đi vào cuộc sống

Ba là, trong quan niệm về CNXH và xây dựng CNXH ở Việt Nam trước thời kỳ đổi mới đã không đánh giá đầy đủ vai trò của khoa học - kỹ thuật- công nghệ, đặc biệt không thấy hết vai trò của lý luận, của khoa học

xã hội và nhân văn đối với việc tăng cường các tiềm lực tư tưởng, trí tuệ của

Đảng Đã chậm tiếp thu và ứng dụng các thành quả của cách mạng khoa học công nghệ nên CNXH trở nên lạc hậu, tụt hậu so với các nước TBCN pháttriển Đây không chỉ là hạn chế của CNXH ở Việt Nam mà là hạn chế chung,

-có tính phổ biến của hệ thống XHCN thế giới trong thế kỷ XX Hạn chế nàylàm mất đi hoặc lãng phí một nguồn lực lớn trong phát triển của CNXH

Bốn là, quan niệm về CNXH và xây dựng CNXH trước đổi mới bị hạn chế bởi quan niệm tĩnh, khép kín, phát triển trong trạng thái đơn tuyến, chỉ trong phạm vi hệ thống XHCN, thậm chí trong trạng thái ốc đảo, biệt lập với thế giới Hạn chế này dẫn tới tình trạng chậm phát triển, thua thiệt trong

phát triển do không tiếp cận và tận dụng những thành tựu của văn minh nhânloại trong thời đại ngày nay Giáo điều về lý luận, sơ cứng và trì trệ trong tổchức, trong quản lý và hoạt động đã làm cho CNXH vốn ở điểm xuất phátthấp lại càng rơi vào tình trạng chậm phát triển và thiếu triển vọng

Năm là, quan niệm về CNXH và xây dựng CNXH trước đổi mới chưa xác lập và thực hiện được hệ thống chính sách và giải pháp để phát huy nguồn lực con người, đặc biệt là nguồn lực trí tuệ, chưa có cơ chế tạo động

lực phát triển để thu hút nhân tài, lãng phí chất xám trong xã hội Chiến lượccon người, nói rộng ra và sâu hơn là chiến lược kinh tế - văn hóa - xã hội chưaliên kết thành những thể chế để xây dựngCNXH

Trang 20

Đổi mới đối diện với những hạn chế rất căn bản đó và tìm cách khắcphục, tạo lập một nhận thức mới làm tiền đề lý luận để đổi mới CNXH theohướng khoa học hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa.

2.2 Quá trình nhận thức của Đảng ta về con đường đi lên CNXH ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới

2.2.1 Về mục tiêu của cách mạng, lý tưởng và nền tảng tư tưởng của Đảng.

Chủ nghĩa Mác - Lênin và CNXH khoa học, cùng với tư tưởng Hồ ChíMinh được xác định là hệ tư tưởng của Đảng và của xã hội ta Cuộc đấu tranh

ý thức hệ diễn ra trong thế giới ngày nay, nhất là từ sau khi Liên Xô và Đông

Âu đổ vỡ về thể chế trở nên đặc biệt gay gắt và phức tạp

Ở Đại hội Đảng VI, một trong những tổng kết rất quan trọng mà Đảng ta

nêu ra và thường xuyên nhấn mạnh là “nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật,

đánh giá đúng sự thật” Cái sự thật nói ở đây có rất nhiều hàm nghĩa, đó là sự

thật của những khuyết điểm, sai lầm, là hiện thực xã hội và tình hình đất nướckhủng hoảng trầm trọng, thể chế suy yếu, lòng dân không yên, đến mức đổimới hay là chết? tồn tại hay không tồn tại?

Nghị quyết 01/TW của Bộ Chính trị về công tác tư tưởng và lý luận trong tình hình mới đã làm rõ thái độ, quan điểm và phương pháp của Đảng

đối với việc nhận thức và vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin trong thực tiễn vàđổi mới

Trong văn kiện mở đầu thời kỳ đổi mới ở Đại hội VI, Đảng ta đã nhấnmạnh: đổi mới trước hết phải đổi mới tư duy, nhất là đổi mới tư duy kinh tếxuất phát từ nhận thức đó

Đại hội VII của Đảng họp vào thời điểm khó khăn và sóng gió củaCNXH hiện thực, khi con thuyền cải tổ ở Liên Xô và Đông Âu đang chaođảo, còn ở trong nước, tình hình kinh tế - xã hội đang phải đương đầu với lạmphát và khủng hoảng Đó là năm 1991, ở Đại hội này về phương diện lý luận

có hai điểm đáng nói:

Ngày đăng: 20/02/2017, 17:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đảng cộng sản Việt Nam [1986]: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, NXB Sự Thật, Hà Nội, 1986 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Nhà XB: NXB Sự Thật
2. Đảng cộng sản Việt Nam [1987]: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, NXB Sự Thật, Hà Nội, 1987 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Nhà XB: NXB Sự Thật
3. Đảng cộng sản Việt Nam [1990]: Cơng lĩnh xây dựng đất nớc trong thời kỳ quá độ lên CNXH, tài liệu lu hành nội bộ, NXB Sự Thật, Hà Nội, 1990 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơng lĩnh xây dựng đất nớc trong thời kỳ quá độ lên CNXH
Nhà XB: NXB Sự Thật
4. Đảng cộng sản Việt Nam [1996]: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, NXB chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Nhà XB: NXB chính trị quốc gia
5. Đảng cộng sản Việt Nam [2006]: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, NXB chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Nhà XB: NXB chính trị quốc gia
6. Đảng cộng sản Việt Nam [2006]: Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn qua 20 năm đổi mới đất nớc (1986 - 2006), tài liệu lu hành nội bộ, NXB chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn qua 20 năm đổi mới đất nớc (1986 - 2006)
Nhà XB: NXB chính trị quốc gia
7. Đảng cộng sản Việt Nam [2006]: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, NXB chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Nhà XB: NXB chính trị quốc gia
8. Đảng cộng sản Việt Nam [2006]: Văn kiện Hội nghị lần thứ chín Ban chấp hành Trung ơng khóa X, NXB chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ chín Ban chấp hành Trung ơng khóa X
Nhà XB: NXB chính trị quốc gia
9. Đề cơng bài giảng: Con đờng đi lên CNXH ở Việt Nam, tài liệu lu hành nội bộ, của TS.Nguyễn Thọ Khang, khoa CNXHKH, Học viện Báo chí - Tuyên truyền Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con đờng đi lên CNXH ở Việt Nam
10. Đề cơng bài giảng: Tác phẩm Hồ Chí Minh và Văn kiện Đảng cộng sản Việt Nam về CNXHKH, tài liệu lu hành nội bộ, của TS.Nguyễn Thọ Khang, khoa CNXHKH, Học viện Báo chí - Tuyên truyền Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác phẩm Hồ Chí Minh và Văn kiện Đảng cộng sản Việt Nam về CNXHKH
12. Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 8,9,10, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 200 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w