Ngân hàng Nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối sau đây gọi là tiền tệ và ngân hàng; thực hiện chức năng của Ngân hàng trung ương về
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
PHẠM VĂN TUYỀN
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC KIỂM TRA CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM CHI NHÁNH TỈNH LAI CHÂU ĐỐI VỚI CÁC TỔ CHỨC TÍNH DỤNG
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
Chuyên ngành: QUẢN LÝ KINH TẾ
THÁI NGUYÊN - 2016
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
PHẠM VĂN TUYỀN
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC KIỂM TRA CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM CHI NHÁNH TỈNH LAI CHÂU ĐỐI VỚI CÁC TỔ CHỨC TÍNH DỤNG
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60 34 04 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
Người hướng dẫn khoa học: TS NGÔ XUÂN HOÀNG
THÁI NGUYÊN - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn “Nâng
cao chất lượng công tác kiểm tra của NHNNVN Chi nhánh tỉnh Lai Châu đối với
các tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh” là trung thực, là kết quả nghiên cứu của
riêng tôi
Các tài liệu, số liệu sử dụng trong luận văn NHNNVN Chi nhánh tỉnh Lai
Châu, các NHTM Trên địa bàn tỉnh Lai Châu
Lai Châu, tháng 10 năm 2016
Tác giả luận văn
Phạm Văn Tuyền
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài: “Nâng cao chất lượng công tác kiểm tra của
NHNNVN Chi nhánh tỉnh Lai Châu đối với các tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh”
tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ, động viên của nhiều tập thể và cá nhân
Tôi xin được bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc nhất tới các tập thể và cá nhân đã tạo điều
kiện giúp đỡ tôi trong học tập và nghiên cứu
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và trân trọng cảm ơn TS Ngô Xuân
Hoàng - người đã chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ tôi rất tận tình trong suốt thời gian
thực hiện và hoàn thành luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn Trường Đại học Kinh tế và QTKD Thái Nguyên,
Khoa sau Đại học Trường Đại học Kinh tế và QTKD Thái Nguyên là cơ sở đào tạo
Thạc sỹ Cùng sự giúp đỡ tận tình của các Thầy, Cô Khoa sau Đại học đã tạo mọi
điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành
luận văn
Xin trân trọng cảm ơn Lãnh đạo các cơ quan ban ngành đoàn thể tỉnh, huyện,
cá nhân đã giúp đỡ tôi về nguồn tư liệu phục vụ cho việc thực hiện đề tài
Tôi xin trân trọng cảm ơn Lãnh đạo NHNN Chi nhánh tỉnh, các đồng nghiệp
nơi tôi công tác đã ủng hộ, tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong suốt quá
trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Xin cảm ơn gia đình, những người thân và bạn bè luôn động viên, ủng hộ
giúp tôi tập trung nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Lai Châu, tháng 10 năm 2016
Tác giả
Phạm Văn Tuyền
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG, SƠ ĐỒ vii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Đóng góp mới của luận văn 3
5 Bố cục của luận văn 3
Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC KIỂM TRA CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG 4
1.1 Cơ sở lý luận 4
1.1.1 Tổng quan về Ngân hàng Nhà nước 4
1.1.2 Tổng quan về kiểm tra ngân hàng 7
1.1.3 Công tác kiểm tra của Ngân hàng Nhà nước đối với các tổ chức tín dụng 11
1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng công tác kiểm tra của Ngân hàng Nhà nước đối với các tổ chức tín dụng 23
1.2 Cơ sở thực tiễn 27
1.2.1 Kinh nghiệm kiểm tra tổ chức tín dụng của Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh Đăk Nông 27
1.2.2 Kinh nghiệm kiểm tra tổ chức tín dụng của Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh Bắc Ninh 28
1.2.3 Những bài học kinh nghiệm rút ra về công tác kiểm tra của Ngân hàng Nhà nước đối với các tổ chức tín dụng cho tỉnh Lai Châu 30
1.3 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 31
Trang 6Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35
2.1 Câu hỏi nghiên cứu 35
2.2 Phương pháp nghiên cứu 35
2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin 35
2.2.2 Phương pháp tổng hợp thông tin 36
2.2.3 Phương pháp phân tích thông tin 36
2.4 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 38
2.4.1 Chỉ tiêu đánh giá trực tiếp chất lượng công tác kiểm tra của Ngân hàng Nhà nước đối với các tổ chức tín dụng 38
2.4.2 Chỉ tiêu đánh giá gián tiếp chất lượng công tác kiểm tra của Ngân hàng Nhà nước đối với các tổ chức tín dụng 40
Chương 3 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC KIỂM TRA CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC CHI NHÁNH TỈNH LAI CHÂU ĐỐI VỚI CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH 41
3.1 Khái quát về tỉnh Lai Châu 41
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 41
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 42
3.2 Tình hình hoạt động của Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh tỉnh Lai Châu và các tổ chức tín dụng trên địa bàn 48
3.2.1 Tình hình hoạt động của Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh tỉnh Lai Châu 48
3.2.2 Khái quát tình hình hoạt động của các tổ chức tín dụng trên địa bàn 53
3.3 Thực trạng chất lượng công tác kiểm tra của Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh Lai Châu đối với các tổ chức tín dụng trên địa bàn 58
3.3.1 Tổ chức công tác kiểm tra các tổ chức tín dụng của Ngân hàng Nhà nước tỉnh Lai Châu 58
3.3.2 Nội dung công tác kiểm tra của Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh Lai Châu đối với các tổ chức tín dụng trên địa bàn 62
3.3.3 Chất lượng công tác kiểm tra của Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh Lai Châu đối với các tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh 67
Trang 73.4 Đánh giá chung về chất lượng công tác kiểm tra của NHNN chi nhánh tỉnh
Lai Châu đối với các tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh 74
3.4.1 Kết quả đạt được 74
3.4.2 Những hạn chế tồn tại và nguyên nhân 75
Chương 4 MỘT SỐ GIẢI PHÁP 78
4.1 Căn cứ đề xuất giải pháp 78
4.1.1 Quan điểm, định hướng nâng cao chất lượng công tác kiểm tra của NHNNVN Chi nhánh tỉnh đối với các TCTD trên địa bàn tỉnh 78
4.2 Một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác kiểm tra của NHNN chi nhánh tỉnh Lai Châu đối với các tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh 80
4.2.1 Tăng cường hoạt động tổ chức công tác kiểm tra 80
4.2.2 Hoàn thiện quy trình, cách thức tổ chức công tác kiểm tra 82
4.2.3 Nâng cao trình độ nguồn nhân lực 86
4.3 Một số kiến nghị 88
4.3.2 Đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chi nhánh tỉnh Lai Châu 88
4.3.3 Đối với các tổ chức tín dụng 90
KẾT LUẬN 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
NHCSXHLC Ngân hàng chính sách xã hội tỉnh Lai Châu
NHNNVN Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
NHNNVNCNTLC Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam Chi nhánh tỉnh Lai Châu NHNo&PTNTLC Ngân hàng nông nghiệp và PTNT tỉnh Lai Châu
NHTM Ngân hàng thương mại
NHTMCPCTLC Ngân hàng thương mại cổ phần công thương Lai Châu NHTMCPĐT&PT Ngân hàng thương mại cổ phần đầu tư và phát triển
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG, SƠ ĐỒ Bảng:
Bảng 3.1 Số lƣợng phòng giao dịch các tổ chức tín dụng tại tỉnh Lai Châu tính
đến năm 2015 54 Bảng 3.2 Cơ cấu huy động vốn của các NHTM trên địa bàn 2013 - 2015 55 Bảng 3.3 Kết quả hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh
đến 31/12/2015 57 Bảng 3.4 Số lƣợng các cuộc kiểm tra của NHNN tỉnh Lai Châu đối với các tổ
chức tín dụng trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2013-2015 67 Bảng 3.5 Số lƣợng sai phạm đƣợc phát hiện trong công tác kiểm tra của NHNN
tỉnh Lai Châu đối với các tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh 68 Bảng 3.6 Cơ cấu dƣ nợ cho vay của các tổ chức tín dụng tỉnh Lai Châu giai
đoạn 2013-2015 72 Bảng 3.7 Tình hình nợ xấu của các tổ chức tính dụng tỉnh Lai Châu giai đoạn
2013-2015 73
Sơ đồ:
Sơ đồ 3.1: Cơ cấu tổ chức bộ máy của NHNN Chi nhánh tỉnh Lai Châu 49
Sơ đồ 3.2: Mô hình tổ chức quản lý bằng công cụ thanh tra, 51kiểm tra giám
sát ngân hàng 51
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu
Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và vận hành theo cơ chế thị trường của nền kinh tế nước ta trong những năm qua đã tác động trực tiếp đến hệ thống tài chính ngân hàng Việt Nam qua việc từng bước mở cửa thị trường ngân hàng và tự
do hóa các giao dịch tài chính, tiền tệ Với sự gia nhập thị trường của nhiều Ngân hàng thương mại cổ phần, công ty chứng khoán, công ty bảo hiểm, công ty tài chính,các quỹ tín dụng nhân dân và nhiều tổ chức tài chính vi mô khác đã làm cho hoạt động ngân hàng ngày càng trở lên sôi động và cạnh tranh gay gắt Nhiều công
cụ tài chính, đặc biệt là công cụ tài chính phái sinh được đưa vào sử dụng ngày càng đa dạng, phức tạp đã gây nên những nguy cơ rủi ro cho cả hệ thống tài chính Vài năm trở lại đây, nhiều vi phạm trong lĩnh vực ngân hàng đã gây thất thoát cho nhà nước hàng nghìn tỷ đồng Quy mô các vụ việc ngày càng lớn, thủ đoạn tinh vi
và có sự cấu kết chặt chẽ của những cán bộ ngành ngân hàng Trong bối cảnh đó, công tác kiểm tra, kiểm tra, giám sát của Ngân hàng Trung ương (NHTW) đang đứng trước nhiều thách thức, khó khăn để đảm bảo cho hệ thống ngân hàng hoạt động an toàn, hiệu quả
Những năm gần đây, hoạt động kiểm tra, kiểm tra, giám sát nói chung và hoạt động kiểm tra nói riêng của ngân hàng đã có những đổi mới mạnh mẽ Tuy nhiên, với tình hình diễn biến phức tạp của hoạt động ngân hàng, nhất là trong bối cảnh hiện nay, khi mà nợ xấu đang là vấn đề thời sự thì hoạt động kiểm tra, kiểm tra,giám sát ngân hàng càng phải được phát huy tính hiệu quả trong công tác quản
lý Song thực tế cho thấy, hoạt động của kiểm tra, kiểm tra giám sát của ngân hàng hiện nay vẫn còn nhiều bất cập, hạn chế đòi hỏi phải được nghiên cứu nhằm cải tiến, đổi mới và hoàn thiện hơn nữa để đáp ứng yêu cầu thực tiễn đang đặt ra Vậy đâu là những khó khăn vướng mắc, bất cập trong quá trình kiểm tra, kiểm tra, giám sát các TCTD trên địa bàn thành phố Lai Châu? Giải pháp nào để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, bất cập đó?
Từ thực tiễn làm công tác kiểm tra, kiểm tra, giám sát tại ngân hàng Nhà nước
Chi nhánh tỉnh Lai Châu, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Nâng cao chất lượng công tác
kiểm tra của NHNNVN Chi nhánh tỉnh Lai Châu đối với các tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh” làm luận văn thạc sỹ, nhằm làm rõ hơn ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn,
Trang 11góp phần đánh giá được thực trạng hoạt động cụ thể đồng thời đề xuất giải pháp đổi mới toàn diện, nâng cao chất lượng kiểm tracủa Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, từng
bước nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các TCTD trên địa bàn
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Phân tích, đánh giá thực trạng chất lượng công tác kiểm tra của NHNNVN chi nhánh tỉnh Lai Châu đối với các tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh và đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác kiểm tra của NHNNVN chi nhánh tỉnh Lai Châu đối với các tổ chức tính dụng trên địa bàn tỉnh
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng công tác kiểm tra của NHNNVN chi nhánh tỉnh Lai Châu đối với các tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác kiểm tra của NHNNVN chi nhánh tỉnh Lai Châu đối với các tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Các hoạt động trong công tác kiểm tra của NHNNVN chi nhánh tỉnh Lai Châu đối với các tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh
- Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác kiểm tra của NHNNVN chi nhánh tỉnh Lai Châu đối với các tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh
Trang 123.2.2 Phạm vi nội dung
Luận văn tập trung nghiên cứu về các nội dung trong hoạt động kiểm tra của NHNNVN chi nhánh tỉnh Lai Châu đối với các tổ chức tín dụng là trên địa bàn tỉnh, bao gồm hoạt động giám sát từ xa và kiểm tra tại chỗ
4 Đóng góp mới của luận văn
- Phân tích, đánh giá thực trạng chất lượng công tác kiểm tra của NHNNVN chi nhánh tỉnh Lai Châu đối với các tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh từ nhiều khía cạnh khác nhau
- Một số giải pháp khả thi, sát thực được gợi ý nhằm nâng cao chất lượng công tác kiểm tra của NHNNVN chi nhánh tỉnh Lai Châu đối với các TCTD trên địa bàn tỉnh
- Kết quả nghiên cứu có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho NHNNVN Chi nhánh tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương có điều kiện tương đồng; làm tư liệu cho các nhà quản lý kinh tế, nhà lập sách
5 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, bố cục luận văn được chia thành 4 chương:
Chương 1: Cơ sở khoa học về chất lượng công tác kiểm tra của Ngân hàng Nhà
nước đối với các tổ chức tín dụng
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng chất lượng công tác kiểm tra của Ngân hàng NNVN
chi nhánh tỉnh Lai Châu đối với các tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh
Chương 4: Một số giải pháp
Trang 13Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC KIỂM TRA CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG 1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Tổng quan về Ngân hàng Nhà nước
1.1.1.1 Khái niệm Ngân hàng Nhà nước
Cuối thế kỷ 18, khi mà hệ thống NHTM phát triển mạnh mẽ, với nhiều ngân hàng phát hành nhiều loại giấy bạc khác nhau đã gây ra cản trở đối với quá trình phát triển kinh tế, Nhà nước đã can thiệp bằng cách ban hành các đạo luật để hạn chế số lượng ngân hàng được phép phát hành Lúc này, hệ thống ngân hàng được tách thành hai nhóm là các ngân hàng được phép phát hành tiền (gọi là ngân hàng phát hành) và nhóm các ngân hàng không được phép phát hành tiền (gọi là ngân hàng trung gian) Đến cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, để thống nhất việc phát hành, các nước ban hành đạo luật chỉ cho phép một ngân hàng lớn nhất, uy tín nhất được phép phát hành còn các ngân hàng khác chuyển thành NHTM Mặc dù vậy ngân hàng phát hành vẫn thuộc sở hữu tư nhân nên Nhà nước không can thiệp một cách thường xuyên các hoạt động tiền tệ được Bài học đắt giá từ cuộc khủng hoảng kinh
tế thế giới 1929- 1933 đã cho thấy Chính phủ phải điều hành được chính sách tiền
tệ, phải nắm trong tay ngân hàng phát hành Do vậy các nước đã lần lượt quốc hữu hoá ngân hàng phát hành, trở thành ngân hàng phát hành tiền duy nhất của Chính phủ Vì vậy, Ngân hàng Trung ương ra đời từ đó.[3]
Ngân hàng trung ương (NHTW) là ngân hàng phát hành tiền của một quốc gia, là cơ quan quản lý và kiểm soát lĩnh vực tiền tệ ngân hàng trong phạm vi toàn quốc NHTW là bộ máy tài chính tổng hợp, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng, đồng thời là ngân hàng của các ngân hàng và tổ chức tín dụng khác trong nền kinh tế
Có sự khác biệt đặc trưng giữa NHTW và NHTM Sự khác biệt này thể hiện qua các điểm sau:
- Thứ nhất, NHTW không hoạt động vì mục tiêu kinh doanh, mà hoạt động vì
sự ổn định và phát triển của toàn bộ nền kinh tế NHTW là cơ quan quản lý vĩ mô trong lĩnh vực tiền tệ - ngân hàng
Trang 14- Thứ hai, NHTW không giao dịch với các doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân
mà chỉ giao dịch với các NHTM và các giao dịch này để điều tiết hoạt động của hệ thống NHTM
- Thứ ba, NHTW là ngân hàng phát hành tiền của một quốc gia, cung ứng phương tiện thanh toán cho nền kinh tế NHTW là ngân hàng duy nhất của một nước trong khi đó số lượng NHTM rất lớn và rất phổ biến
Theo Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, “Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
(sau đây gọi là Ngân hàng Nhà nước) là cơ quan ngang bộ của Chính phủ, là Ngân hàng trung ương của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Ngân hàng Nhà nước là pháp nhân, có vốn pháp định thuộc sở hữu nhà nước, có trụ sở chính tại Thủ đô Hà Nội Ngân hàng Nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền
tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối (sau đây gọi là tiền tệ và ngân hàng); thực hiện chức năng của Ngân hàng trung ương về phát hành tiền, ngân hàng của các tổ chức tín dụng và cung ứng dịch vụ tiền tệ cho Chính phủ.” [14]
Hoạt động Ngân hàng Nhà nước nhằm ổn định giá trị đồng tiền, góp phần bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng và hệ thống các tổ chức tín dụng,
thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa
- Với tư cách là một cơ quan của Chính phủ, NHNN thực hiện chức
năng quản lý nhà nước về lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối
- Với tư cách là NHTW, NHNN thực hiện chức năng về phát hành tiền và điều tiết lưu thông tiền tệ, ngân hàng của các ngân hàng và cung ứng dịch vụ tiền tệ cho Chính phủ [14]
1.1.1.2 Hoạt động cơ bản của Ngân hàng Nhà nước
* Phát hành tiền
NHNN được giao trọng trách độc quyền phát hành tiền theo các qui định trong luật hoặc được chính phủ phê duyệt (về mệnh giá, loại tiền, mức phát hành ), nhằm đảm bảo thống nhất và an toàn cho hệ thống lưu thông tiền tệ của quốc gia Đồng tiền do NHNN phát hành là đồng tiền lưu thông hợp pháp duy nhất, nó mang tính chất cưỡng chế lưu hành, vì vậy mọi người không có quyền từ chối nó trong thanh toán Nhiệm vụ phát hành tiền còn bao
Trang 15gồm trách nhiệm của NHNN trong việc xác định số lượng tiền cần phát hành, thời điểm phát hành cũng như phương thức phát hành để đảm bảo sự ổn định tiền tệ và phát triển kinh tế [14], [16]
* Xây dựng và thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia
Chính sách tiền tệ là chính sách kinh tế vĩ mô, trong đó NHNN sử dụng các công cụ của mình để điều tiết và kiểm soát khối lượng tiền trong lưu thông nhằm đảm bảo sự ổn định giá trị tiền tệ, đồng thời thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế và đảm bảo công ăn việc làm [14], [16]
* Thực hiện các nghiệp vụ ngân hàng với các TCTD
NHNN không tham gia kinh doanh tiền tệ, tín dụng trực tiếp với các chủ thể trong nền kinh tế mà chỉ thực hiện các nghiệp vụ ngân hàng với các ngân hàng thương mại, bao gồm:
- Mở tài khoản và nhận tiền gửi của các ngân hàng thương mại dưới dạng tiền gửi dự trữ bắt buộc và tiền gửi thanh toán;
- Cấp tín dụng cho các ngân hàng thương mại dưới hình thức chiết khấu lại (tái chiết khấu) các chứng từ có giá ngắn hạn do các ngân hàng trung gian nắm giữ Việc cấp tín dụng của NHNN cho các ngân hàng thương mại không chỉ giới hạn ở nghiệp vụ tái chiết khấu các chứng từ có giá mà còn bao gồm
cả các khoản cho vay ứng trước có đảm bảo bằng các chứng khoán đủ tiêu chuẩn, các khoản tiền gửi bằng ngoại tệ tại NHNN;
- Là trung tâm thanh toán bù trừ cho hệ thống ngân hàng thương mại:
Vì các ngân hàng thương mại đều mở tài khoản và ký gửi các khoản dự trữ bắt buộc và dự trữ vượt mức tại NHNN nên có thể thực hiện thanh toán không dùng tiền mặt qua NHNN thay vì thanh toán trực tiếp với nhau Khi
đó, NHNN đóng vai trò là trung tâm thanh toán bù trừ giữa các TCTD [14], [16]
* Kiểm tra, giám sát hoạt động của hệ thống ngân hàng
Với tư cách là ngân hàng của các ngân hàng, NHNN không chỉ cung ứng các dịch vụ ngân hàng thuần tuý cho các ngân hàng trung gian, mà thông qua các hoạt động đó, NHNN còn thực hiện vai trò điều tiết, giám sát thường xuyên hoạt động của các ngân hàng trung gian nhằm đảm bảo sự ốn định
Trang 16trong hoạt động ngân hàng và bảo vệ lợi ích của các chủ thể trong nền kinh tế, đặc biệt là của những người gửi tiền, trong quan hệ với ngân hàng [14], [16]
* Thực hiện các dịch vụ tài chính cho Chính phủ
Cho dù NHTW được xây dựng theo mô hình nào, độc lập hay phụ thuộc vào Chính phủ, thì ít nhiều NHTW cũng có những ảnh hưởng và sự tương tác nhất định đối với các hoạt động kinh tế tài chính của Chính phủ
Đối với mô hình NHTW độc lập với Chính phủ, sự can thiệp của Chính phủ vào trong hoạt động của NHTW là rất hạn chế Tuy nhiên, do NHTW luôn sử dụng nghiệp vụ thị trường mở để điều tiết khối lượng tiền cung ứng, mà trái phiếu Chính phủ thường được mua bán trên thị trường này nên hoạt động của NHTW có tác động nhất định tới chính sách tài khóa của Chính phủ Từ đó, trong một số trường hợp, hoạt động của chính sách tài khóa do Chính phủ điều hành cũng có những tác động nhất định đến hoạt động của NHTW trong mô hình này hoặc ngược lại [14], [16]
Đối với mô hình NHTW phụ thuộc vào Chính phủ thì NHTW có thể được coi là một cơ quan đại diện của Chính phủ trong các dịch vụ tài chính Nhà nước Bên cạnh hoạt động của chính sách tiền tệ, NHTW cũng thực hiện thêm các hoạt động hỗ trợ Chính phủ trong việc phát hành trái phiếu CP, thực hiện vay nợ trong và ngoài nước hay thực hiện thanh toán cho Chính phủ, [14], [16]
1.1.2 Tổng quan về kiểm tra ngân hàng
1.1.2.1 Khái niệm kiểm tra ngân hàng
Hoạt động kiểm tra là chức năng thiết yếu của cơ quan quản lý nhà Nước, là một trong ba yếu tố cấu thành nên sự lãnh đạo, quản lý đó là: ban hành quyết định; tổ chức quyết định và kiểm tra; kiểm tra việc thực hiện quyết định Có thể nói rằng ở đâu có sự lãnh đạo, quản lý thì ở đó có hoạt động kiểm tra, giám sát Thực chất kiểm tra là việc xem xét tình hình thực tế
để đánh giá, nhận xét và kết luận nhằm phát huy nhân tố tích cực, phòng ngừa xử lý các vi phạm, góp phần thúc đẩy hoàn thành nhiệm vụ, hoàn thiện cơ chế quản lý, tăng cường pháp chế Nhà nước, bảo vệ lợi ích quốc gia [9]
Theo Luật Kiểm tra 2010, kiểm tra, kiểm tra chuyên ngành là hoạt động kiểm tra, kiểm tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo ngành, lĩnh vực đối với
Trang 17cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc chấp hành pháp luật chuyên ngành, quy định
về chuyên môn - kỹ thuật, quy tắc quản lý thuộc ngành, lĩnh vực đó Theo đó NHNN thực hiện kiểm tra chuyên ngành về lĩnh vực ngân hàng, kiểm tra ngân hàng chính là công cụ hữu hiện giúp NHNN hoàn thành tốt chức năng quản lý Nhà nước trên lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng [9],[14]
Vậy, kiểm tra ngân hàng là hoạt động kiểm tra của NHNN thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát đối với các TCTD trong việc chấp hành pháp luật về tiền tệ và ngân hàng nhằm đảm bảo an toàn hệ thống ngân hàng, phòng ngừa, ngăn chặn, hạn chế rủi ro và xử lý những vi phạm pháp luật về tiền tệ và ngân hàng, tăng cường pháp chế, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền và khách hàng của TCTD [9]
1.1.2.2 Vai trò của kiểm tra ngân hàng
Trong nền kinh tế thị trường hay các nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi theo cơ chế thị trường, các hoạt động ngân hàng, dịch vụ tài chính có vị trí quan trọng hàng đầu Hơn thế nữa, Nhà nước ngày càng giảm sự can thiệp sâu vào các hoạt động kinh doanh dịch vụ, thay vào đó là quản lý bằng pháp luật nên kiểm tra nói chung, kiểm tra ngân hàng nói riêng càng có vị trí quan trọng để NHNN thực thi có hiệu quả chức năng quản lý của mình Cụ thể vai trò của kiểm tra ngân hàng thể
Trang 18Cũng thông qua kiểm tra, giám sát, NHNN có thể phát hiện được những bất hợp lý trong cơ chế, chính sách của Nhà nước có liên quan đến hoạt động ngân hàng, từ đó kiến nghị các cấp có thẩm quyền hoặc bản thân NHNN tự bổ sung, sửa
đổi, tháo gỡ khó khăn cho hoạt động của các TCTD
- Đối với hệ thống ngân hàng, bảo đảm sự phát triển ổn định, vững chắc của toàn hệ thống, hội nhập hoạt động ngân hàng trong nước với khu vực và quốc tế, phát triển thị trường vốn, tăng cường uy tín quốc tế và mở rộng hợp tác quốc tế về hoạt động ngân hàng [9]
- Đối với mỗi ngân hàng, TCTD phi ngân hàng và hoạt động ngân hàng của các tổ chức khác, phát hiện sớm những vi phạm, những lệch lạc, giúp cho người quản lý, điều hành đưa ra các quyết định đúng đắn, kịp thời, đảm bảo sự phát triển bền vững, ổn định, kinh doanh có hiệu quả [9]
- Đối với người dân, các doanh nghiệp, bảo vệ quyền lợi chính đáng cho họ,
an toàn tài sản, tiền gửi, vay vốn hay được hưởng các dịch vụ ngân hàng ngày càng
có chất lượng cao. [9]
1.1.2.3 Mục đích của kiểm tra ngân hàng
- Bảo đảm an toàn hệ thống các TCTD: Hoạt động kiểm tra ngân hàng thực hiện việc kiểm tra, giám sát việc chấp hành chính sách, pháp luật trong hoạt động của TCTD góp phần bảo đảm sự phát triển an toàn, lành mạnh [9]
- Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền: Do yêu cầu thực tế đòi hỏi, sự thỏa mãn nhu cầu gặp nhau nên người gửi tiền có nơi gửi, đó là ngân hàng, và người nhận tiền gửi được phép sử dụng số tiền này để cho vay hay đầu tư kiếm lời, trên nguyên tắc có vay có trả kèm theo những thỏa thuận khác Nhưng vì một lý do nào đó dẫn đến người gửi tiền bị thiệt thòi, thậm chí bị tước đoạt khi ngân hàng bị
đổ vỡ, mất khả năng thanh toán Để bảo vệ quyền lợi cho người gửi tiền và an toàn
hệ thống ngân hàng, một trong những biện pháp là NHTW phải thường xuyên kiểm tra, giám sát các TCTD [9]
Qua kiểm tra, giám sát phát hiện được những sai lầm, vi phạm nguyên tắc thể
lệ chế độ của Nhà nước, để từ đó ngăn chặn, kiến nghị, xử lý theo thẩm quyền, phát hiện những điểm bất hợp lý giữa các văn bản chỉ đạo với thực tế nảy sinh, qua
Trang 19đó giúp cho việc ban hành các văn bản của cấp trên phù hợp với thực tế hơn Chỉ có như vậy thì quyền lợi hợp pháp của người gửi tiền mới đảm bảo và an tâm khi gửi tiền vào bất cứ TCTD nào [9]
- Phục vụ việc thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia: kiểm tra ngân hàng là công cụ, là chức năng thiết yếu quản lý Nhà nước của NHNN về tiền tệ và hoạt động Ngân hàng Thông qua hoạt động của mình, kiểm tra Ngân hàng thực hiện việc giám sát thường xuyên và tiến hành các cuộc kiểm tra trực tiếp đối với các TCTD, nhằm phát hiện, ngăn chặn các vi phạm; kiến nghị biện pháp bảo đảm thi hành pháp luật về tiền tệ và hoạt động ngân hàng [9]
- Phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật; phát hiện những sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị với
cơ quan nhà nước có thẩm quyền các biện pháp khắc phục; phát huy nhân tố tích cực; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước; bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân [9]
1.1.2.4 Đối tượng của kiểm tra ngân hàng
- Tổ chức và hoạt động của tổ chức tín dụng
+ Các tổ chức tín dụng nhà nước bao gồm: Ngân hàng thương mại, Ngân hàng phát triển, Ngân hàng đầu tư, Ngân hàng chính sách và tổ chức tín dụng phi ngân hàng
+ Các tổ chức tín dụng cổ phần của nhà nước và nhân dân gồm: Ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng phi ngân hàng
+ Các tổ chức tín dụng nước ngoài được phép hoạt động tại Việt Nam gồm:
tổ chức tín dụng liên doanh, tổ chức tín dụng phi ngân hàng 100% vốn nước ngoài, chi nhánh của ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam, Văn phòng đại diện của Tổ chức tín dụng nước ngoài đặt tại Việt Nam
- Hoạt động ngân hàng của các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng được Ngân hàng Nhà nước cấp giấy phép
- Các cơ quan Nhà nước, các tổ chức kinh tế xã hội và cá nhân trong việc thực hiện các quy định của pháp luật về tiền tệ, tín dụng và hoạt động ngân hàng [9]
Trang 201.1.3 Công tác kiểm tra của Ngân hàng Nhà nước đối với các tổ chức tín dụng
1.1.3.1 Sự cần thiết kiểm tra của Ngân hàng Nhà nước đối với các tổ chức tín dụng
Các tổ chức tín dụng là trung gian, là cầu nối giữa người gửi tiền và người cần vay tiền Một khi các tổ chức tín dụng mất tính ổn định sẽ ảnh hưởng đến toàn
bộ hệ thống tài chính Hoạt động của các tổ chức tín dụng luôn gắn liền với rủi ro, khi một tổ chức tín dụng bị vỡ nợ thì sẽ dễ dàng kéo theo sự đổ vỡ của các tổ chức tín dụng khác Bên cạnh đó, có một bộ phận cán bộ ngân hàng ý thức chấp hành luật pháp còn yếu, hoặc tìm cách vận dụng những kẽ hở, những điểm còn chưa chặt chẽ của pháp luật và chính sách để mưu lợi cho cá nhân, làm tăng rủi ro trong hoạt động ngân hàng, gây ảnh hưởng xấu đến lợi ích và uy tín của nhà nước, của ngành Chính vì vậy, để đảm bảo an toàn và tuân thủ pháp luật của các tổ chức tín dụng, hoạt động kiểm tra, giám sát của NHNN đối với các tổ chức tín dụng là hết sức cần thiết, vì các lý do sau:
-Thứ nhất: Nhằm tăng cường quản lý nhà nước trên lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng và thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia [2]
Trên cơ sở kiểm tra, giám sát hoạt động các đối tượng kiểm tra ngân hàng, nhằm giúp NHNN tăng cường quản lý nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ
và hoạt động ngân hàng Hoạt động kiểm tra, giám sát của NHNN đối với các đối tượng kiểm tra ngân hàng sẽ giúp các đối tượng kiểm tra ngân hàng hoạt động an toàn và hiệu quả, góp phần quan trọng tạo môi trường thực thi chính sách tiền tệ quốc gia hữu hiệu NHNN sử dụng các công cụ của mình
để điều hành thị trường tiền tệ như lãi suất, dự trữ bắt buộc, nghiệp vụ thị trường mở,… để kiểm soát và điều tiết khối lượng tiền cung ứng cho nền kinh tế nhằm mục tiêu tăng trưởng kinh tế, đảm bảo công ăn việc làm, giảm thất nghiệp, kiềm chế lạm phát, ổn định giá trị tiền tệ và cân bằng cán cân thanh toán Trên
cơ sở đó, NHNN khẳng định và nâng cao vai trò, vị thế của mình, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô Kiểm tra NHNN cũng giúp cho các tổ chức tín dụng hoạt động có hiệu quả hơn, giảm bớt rủi ro, phát triển lành mạnh, đảm bảo sân chơi bình đẳng giữa các tổ chức tín dụng và giữ ổn định trong hoạt động kinh doanh của hệ thống các tổ chức tín dụng.[2]
Trang 21- Thứ hai: Bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền và khách hàng của các tổ chức tín dụng. [2]
Tín dụng là một hoạt động nghiệp vụ quan trọng, chủ chốt trong hoạt động ngân hàng nhưng cũng là nghiệp vụ có tính rủi ro cao nhất Quyền lợi của người gửi tiền bị ảnh hưởng do các tổ chức tín dugnj trong tình trạng mất khả năng chi trả và có nguy cơ phá sản Kiểm tra ngân hàng phải tiến hành kiểm tra, phân tích, đánh giá chất lượng và rủi ro các khoản tín dụng của các tổ chức tín dụng, phòng ngừa có hiệu quả và đảm bảo an toàn cho những khoản cho vay đầu tư
Kiểm tra ngân hàng trong quá trình tiến hành kiểm tra các tổ chức tín dụng, khi phát hiện các sai phạm của các tổ chức tín dụng sẽ tiến hành xử lý các vi phạm đó Việc phát hiện và xử lý các vi phạm, kiến nghị khắc phục các tồn tại, sai phạm trong hoạt động của tổ chức tín dụng bảo đảm hoạt động an toàn và hiệu quả, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền và khách hàng của các tổ chức đó. [2]
- Thứ ba: Duy trì và nâng cao lòng tin của công chúng đối với hệ thống các tổ chức tín dụng. [2]
Trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ và ngân hàng, lòng tin đóng một vai trò cực kỳ quan trọng quyết định sự tồn tại của hệ thống các tổ chức tín dụng Việc duy trì và nâng cao lòng tin của công chúng đối với hệ thống các tổ chức tín dụng là một việc làm cần thiết, nhằm thu hút vốn phục vụ cho hoạt động kinh tế, tài chính của đất nước Năng lực thu hút vốn của các tổ chức tín dụng đi đôi với việc đảm bảo khả năng chi trả cho người gửi tiền Nếu một tổ chức tín dụng mất khả năng chi trả thì người gửi tiền sẽ mất lòng tin vào tổ chức tín dụng đó dẫn đến tình trạng rút tiền ồ
ạt, tạo nên một phản ứng dây chuyền, gây ảnh hưởng xấu đến các tổ chức tín dụng khác vì công chúng không còn tin tưởng để gửi tiền vào hệ thống các tổ chức tín dụng Họ sẽ đồng loạt rút vốn ra khỏi các tổ chức tín dụng, làm các tổ chức này mất khả năng thanh toán, không thu hút được vốn để hoạt động kinh doanh, dẫn đến nguy cơ đối mặt với tình trạng phá sản, từ đó sẽ ảnh hưởng đến hệ thống tài chính tiền tệ quốc gia Vì vậy, các tổ chức tín dụng phải được kiểm tra, giám sát thường xuyên để giảm thiểu rủi ro cho khách hàng, bảo đảm sự an toàn trong hoạt động của các tổ chức tín dụng, tránh gặp phải rủi ro thanh khoản, dẫn đến nguy cơ phá sản
Trang 22- Thứ tư: Phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi vi phạm pháp luật và hạn chế những sai phạm trong hoạt động của các tổ chức tín dụng. [2]
Kết quả kiểm tra nhằm chỉ ra những tồn tại, sai phạm, rủi ro tiềm ẩn trong hoạt động của các tổ chức tín dụng Trên cơ sở đó, kiểm tra ngân hàng đưa ra những yêu cầu, cảnh báo cần thiết Với việc triển khai áp dụng phương pháp kiểm tra trên cơ sở rủi ro theo thông lệ quốc tế và giám sát ngân hàng hiệu quả, kiểm tra ngân hàng thực hiện giám sát chặt chẽ, góp phần đảm bảo hoạt động của từng tổ chức tín dụng và toàn hệ thống các tổ chức tín dụng nằm trong tầm kiểm soát của NHNN
- Thứ năm: Bảo đảm việc chấp hành pháp luật về tiền tệ và ngân hàng [2]
Kiểm tra ngân hàng trong quá trình thực hiện việc kiểm tra tại các đối tượng kiểm tra ngân hàng sẽ phát hiện ra các tồn tại, sai phạm trong hoạt động của các đối tượng đó và đưa ra các kiến nghị khắc phục và xử lý các hành vi vi phạm Từ đó bảo đảm hoạt động của các đối tượng kiểm tra ngân hàng thực hiện đúng quy định của pháp luật, chấp hành đúng chính sách, pháp luật về lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng
-Thứ sáu: Phát hiện sơ hở, vướng mắc trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền biện pháp khắc phục. [2]
Trong quá trình hoạt động, các đối tượng kiểm tra ngân hàng đã lợi dụng những sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng để trục lợi Trên cơ sở kiểm tra, xem xét, phân tích, đánh giá hoạt động của các đối tượng kiểm tra ngân hàng, NHNN phát hiện được những việc làm sai trái của đối tượng kiểm tra ngân hàng để xử lý; phân tích nhằm tìm ra những sơ hở, những điểm chưa phù hợp trong việc điều hành chính sách tiền tệ quốc gia và kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền biện pháp khắc phục; phát hiện những bất hợp lý trong cơ chế, chính sách của Nhà nước liên quan đến hoạt động ngân hàng, từ đó kiến nghị lên các cấp thẩm quyền
có giải pháp điều chỉnh thích hợp để bổ sung, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các đối tượng kiểm tra ngân hàng, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín dụng
Trang 23Như vậy, có thể thấy hoạt động của các tổ chức tín dụng có tầm ảnh hưởng sâu rộng không chỉ đến các cá nhân, hộ gia đình, các doanh nghiệp, Chính phủ mà còn tạo ra ảnh hưởng lan truyền đối với toàn bộ nền kinh tế Thêm vào đó, hoạt động của các tổ chức tín dụng lại mang tính rủi ro rất cao như rủi ro thanh khoản, rủi ro tín dụng, rủi ro hoạt động, rủi ro chính trị Điều này đã đòi hỏi hoạt động ngân hàng cần được kiểm tra chặt chẽ nhằm tránh các nguy cơ đỗ vỡ, đảm bảo sự an toàn lành mạnh cho toàn hệ thống ngân hàng; bảo đảm việc chấp hành chính sách, pháp luật
về tiền tệ và ngân hàng; góp phần nâng cao hiệu quả và hiệu lực quản lý nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng
Chính vì sự cần thiết phải kiểm tra đối với các tổ chức tín dụng, Uỷ Ban Basel đã đưa ra 25 nguyên tắc cơ bản cần thiết đảm bảo cho hệ thống giám sát hoạt động có hiệu quả
* Nguyên tắc Cơ bản về giám sát hệ thống ngân hàng hiệu quả của Ủy ban Basel:
Nguyên tắc 1 - Mục đích, tính độc lập, quyền hạn, tính minh bạch và sự hợp tác: Một hệ thống giám sát ngân hàng hiệu quả phải phân định trách nhiệm rõ ràng
và mục đích của mỗi đơn vị có thẩm quyền giám sát ngân hàng Mỗi đơn vị phải có
sự hoạt động độc lập, các quy trình minh bạch, có lực lượng nhân sự đầy đủ và được quản lý phù hợp, phải chịu trách nhiệm hoàn toàn trước nhiệm vụ được giao
Nguyên tắc 2 – Các hoạt động được phép: Các hoạt động được phép của các
tổ chức được cấp phép và chịu sự giám sát dưới tên gọi ngân hàng phải được quy định rõ ràng và việc sử dụng cụm từ “ngân hàng” ở tên gọi của tổ chức phải được kiểm soát gắt gao
Nguyên tắc 3 – Các tiêu chí cấp phép: Cơ quan quản lý nhà nước có thẩm
quyền cấp phép phải có quyền đề ra các tiêu chí và từ chối đơn xin cấp Giấy phép thành lập nếu hồ sơ không đáp ứng được các tiêu chuẩn đề ra
Nguyên tắc 4 - Chuyển quyền sở hữu lớn: Cơ quan quản lý nhà nước phải
có quyền xem xét và từ chối bất cứ đề xuất chuyển nhượng quyền sở hữu lớn hoặc chuyển nhượng quyền kiểm soát trực tiếp hoặc gián tiếp tại các ngân hàng hiện hữu cho một bên khác
Trang 24Nguyên tắc 5 – Giao dịch mua lại lớn: Cơ quan quản lý nhà nước phải có
quyền chuẩn y các giao dịch mua lại lớn hoặc quyết định đầu tư lớn của ngân hàng, ngược lại các tiêu chí đã nêu, bao gồm cả việc thành lập các hoạt động xuyên quốc gia, và phải đảm bảo được rằng, các giao dịch hoặc thay đổi cơ cấu không ảnh hưởng đến an toàn của ngân hàng, không đem đến cho ngân hàng các rủi ro không đáng có hoặc gây cản trở đến việc giám sát hệ thống ngân hàng hiệu quả
Nguyên tắc 6 – An toàn vốn tối thiểu: Cơ quan quản lý nhà nước phải đưa ra
các quy định về an toàn vốn tối thiểu phù hợp đối với các ngân hàng để phản ánh được những rủi ro mà ngân hàng gặp phải, và phải quy định rõ ràng về thành phần của vốn, đảm bảo rằng vốn phải có khả năng chịu được lỗ Tối thiểu là đối với các ngân hàng hoạt động quốc tế, các quy định này không được thấp hơn mức mà Uỷ ban Basel quy định
Nguyên tắc 7 – Quy trình quản trị rủi ro: Cơ quan quản lý nhà nước phải
đảm bảo rằng, ngân hàng và tập đoàn ngân hàng phải có hệ thống quản trị rủi ro toàn diện (bao gồm cả khả năng kiểm soát rủi ro của Hội đồng quản trị và Ban điều hành) để phát hiện, đánh giá, xử lý và kiểm soát, giảm thiểu tất cả các rủi ro để đánh giá tổng thể mức độ đủ vốn của ngân hàng trước các danh mục rủi ro Các quy trình quản trị rủi ro này phải phù hợp với quy mô và mức độ phức tạp của tổ chức
Nguyên tắc 8 - Rủi ro tín dụng: Cơ quan quản lý nhà nước phải đảm bảo rằng
các ngân hàng có một quy chế quản lý rủi ro tín dụng cân nhắc tới các rủi ro của tổ chức với các chính sách an toàn, các quy trình quản lý rủi ro nhằm phát hiện, đo lường, kiểm tra và kiểm soát rủi ro tín dụng (bao gồm cả rủi ro tác nghiệp) Điều này cũng bao gồm việc cho vay và đầu tư, đánh giá chất lượng của các khoản nợ và đầu tư, đồng thời tạo ra một hệ thống quản trị rủi ro liên tục đối với các khoản nợ và khoản mục đầu tư đó
Nguyên tắc 9 – Tài sản có rủi ro, dự phòng và dự trữ: Cơ quan quản lý
cần đảm bảo rằng ngân hàng phải xây dựng các chính sách đảm bảo an toàn tối thiểu cho việc quản lý các tài sản có rủi ro, xác định mức dự phòng và dự trữ đủ cho tổ chức
Trang 25Nguyên tắc 10 - Giới hạn mức cho vay: Cơ quan quản lý rủi ro phải đảm bảo
rằng ngân hàng phải có các chính sách và hệ thống quản trị rủi ro nhằm nhận dạng, quản lý các khoản cho vay lớn trong danh mục, cơ quan quan lý đồng thời cần phải xây dựng các giới hạn cho vay nhằm hạn chế các ngân hàng tập trung cho vay một khách hàng hoặc nhóm các khách hàng có liên quan
Nguyên tắc 11 - Rủi ro đối với nhóm khách hàng có liên quan: Nhằm hạn
chế việc cho vay (bao gồm các khoản nợ nội bảng và ngoại bảng) nhóm khách hàng
có liên quan và xác định sự xung đột về lợi ích, cơ quan quản lý cần có những quy định về giới hạn cho vay đối với một khách hàng và một nhóm khách hàng có liên quan, các khoản cho vay này phải được kiểm soát chặt chẽ, đồng thời cần phải có các bước phù hợp nhằm kiểm soát và giảm thiểu rủi ro, việc xóa các khoản nợ này được thực hiện theo các chính sách và quy trình chuẩn mẫu
Nguyên tắc 12 – Rủi ro quốc gia và rủi ro chuyển đổi: Cơ quan quản lý nhà
nước phải đảm bảo rằng các ngân hàng có các chính sách và quy trình xác định, đo lường, theo dõi và kiểm soát rủi ro quốc gia và rủi ro chuyển đổi trong các hoạt động cho vay và đầu tư quốc tế, và đồng thời các ngân hàng phải trích lập dự phòng cho các rủi ro này
Nguyên tắc 13 – Rủi ro thị trường: Cơ quan quản lý nhà nước phải đảm bảo
rằng các ngân hàng có các chính sách và quy trình xác định chính xác, đo lường, theo dõi và kiểm soát được các rủi ro thị trường; cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền đặt ra các định mức cụ thể và/hoặc có thể dùng một khoản vốn cụ thể để xử
lý rủi ro thị trường nếu có lý do chính đáng
Nguyên tắc 14 – Rủi ro thanh khoản: Cơ quan quản lý nhà nước phải đảm
bảo rằng các ngân hàng có một chiến lược quản lý khả năng chi trả có thể tính toán được mọi rủi ro của tổ chức, ngân hàng phải có chính sách và quy trình để xác định, đo lường, theo dõi và kiểm soát được rủi ro thanh khoản, và quản lý được khả năng chi trả của mình hàng ngày Cơ quan quản lý nhà nước phải yêu cầu các ngân hàng có kế hoạch sẵn sàng đối ứng với các vấn đề về thanh khoản có thể phát sinh bất ngờ
Trang 26Nguyên tắc 15: Rủi ro tác nghiệp (rủi ro hoạt động): Cơ quan quản lý nhà nước
phải đảm bảo rằng ngân hàng phải có chính sách và quy trình quản lý rủi ro để nhận dạng, đánh giá, kiểm tra và kiểm soát/giảm thiểu rủi ro hoạt động Các chính sách và quy trình quản lý rủi ro này phải phù hợp với quy mô và mức độ phức tạp của tổ chức
Nguyên tắc 16: Rủi ro lãi suất trong sổ sách ngân hàng: Cơ quan quản lý
nhà nước phải đảm bảo rằng ngân hàng phải có hệ thống quản trị rủi ro có hiệu quả nhằm nhận dạng, đo lường và kiểm tra, kiểm soát rủi ro lãi suất trong sổ sách ngân hàng, bao gồm một chiến lược được Hội đồng quản trị phê duyệt và được thực hiện bởi ban quản lý cấp cao; chiến lược này cũng cần phải phù hợp với quy mô và mức
độ phức tạp của tổ chức của loại rủi ro
Nguyên tắc 17: Kiểm tra và kiểm toán nội bộ: Cơ quan quản lý nhà nước
phải đảm bảo rằng ngân hàng phải có hệ thống kiểm tra, kiểm soát và kiểm toán nội
bộ phù hợp với quy mô và mức độ phù hợp với loại hình kinh doanh của tổ chức
Nguyên tắc 18 – Lạm dụng các dịch vụ tài chính: Cơ quan quản lý nhà nước
phải đảm bảo được rằng các ngân hàng có chính sách và quy trình, bao gồm các quy tắc nghiêm ngặt về “nhận biết khách hàng”, nâng cao các tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp trong lĩnh vực tài chính và bảo vệ ngân hàng không bị lợi dụng, một cách vô tình hay cố ý, vào các hoạt động phạm pháp
Nguyên tắc 19 – Phương pháp giám sát: Một hệ thống giám sát ngân hàng
hiệu quả yêu cầu các cơ quan quản lý nhà nước xây dựng và duy trì sự hiểu biết sâu sắc về hoạt động của từng ngân hàng và tập đoàn ngân hàng, đồng thời cả hệ thống ngân hàng, tập trung vào sự an toàn và tính bền vững, cũng như sự ổn định của toàn
hệ thống ngân hàng
Nguyên tắc 20 – Kỹ thuật giám sát: Một hệ thống giám sát ngân hàng hiệu
quả phải bao gồm cả thanh tra tại chỗ và kiểm soát từ xa và sự liên hệ mật thiết giữa
cơ quan quản lý nhà nước với ban điều hành của ngân hàng
Nguyên tắc 21 – Thông tin giám sát: Cơ quan quản lý nhà nước phải có các
phương tiện thu thập, xem xét và phân tích các báo cáo về an toàn hoạt động và các chỉ số thống kê do các ngân hàng gửi về trên cơ sở đơn lẻ và tổng hợp, đồng thời phải có phương tiện để xác minh tính trung thực của các báo cáo này thông qua hoặc là thanh tra tại chỗ hoặc thuê các chuyên gia độc lập
Trang 27Nguyên tắc 22 – Kế toán và công bố công khai: Cơ quan quản lý nhà
nước phải đảm bảo được rằng mỗi ngân hàng phải duy trì việc ghi chép sổ sách đầy đủ và theo đúng các chuẩn mực kế toán được quốc tế công nhận, và công
bố công khai thường xuyên các thông tin phản ánh đúng tình trạng tài chính và lợi nhuận của ngân hàng
Nguyên tắc 23- Quyền xử lý vi phạm của cơ quan quản lý nhà nước: Cơ quan
quản lý nhà nước phải có công cụ hỗ trợ họ đưa ra các biện pháp xử lý vi phạm kịp thời Trong đó bao gồm khả năng thu hồi Giấy phép hoạt động hoặc cảnh báo việc thu hồi Giấy phép hoạt động
Nguyên tắc 24 – Giám sát hợp nhất: Một yếu tố nhạy cảm của việc giám sát
hệ thống ngân hàng là cơ quan quản lý nhà nước giám sát các tập đoàn ngân hàng trên cơ sở hợp nhất, theo dõi sát sao, và áp dụng tất cả các quy tắc đảm bảo an toàn đối với tất cả các khía cạnh kinh doanh mà tập đoàn thực hiện trên toàn cầu
Nguyên tắc 25 – Quan hệ giữa cơ quan quản lý nhà nước nước sở tại và nước nguyên xứ: Việc giám sát hợp nhất xuyên biên giới đòi hỏi sự hợp tác và trao
đổi thông tin giữa cơ quan quản lý nhà nước nước sở tại với các cơ quan quản lý có liên quan, chủ yếu là các cơ quan quản lý nhà nước của nước nguyên xứ Các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực ngân hàng phải yêu cầu các hoạt động tại nước sở tại của ngân hàng nước ngoài được thực hiện theo cùng một tiêu chuẩn như đối với các tổ chức trong nước
1.1.3.2 Nội dung kiểm tra của Ngân hàng Nhà nước đối với các tổ chức tín dụng
Nội dung hoạt động của kiểm tra, giám sát NHTW các nước do pháp luật của nước đó quy định Hiện nay, hầu hết các nước trên thế giới đều thực hiện phương thức kiểm tra tại chỗ và giám sát từ xa Tuy nhiên, ở nhiều nước, Kiểm tra Ngân hàng đã sử dụng kiểm toán bên trong và kiểm toán bên ngoài để bổ sung và quyết định phạm vi, đối tượng, trọng tâm tiến hành, đặc biệt chú trọng tới khâu kiểm toán độc lập như một công cụ quan trọng để phục vụ cho công tác kiểm tra, giám sát hoạt động các NHTM.[9]
Riêng với đối tượng kiểm tra, giám sát lại có sự khác biệt, ở một số nước thực hiện kiểm tra, giám sát tất cả các đối tượng tham gia hoạt động ngân hàng ở
Trang 28cả Hội sở chính và tại các chi nhánh; còn ở một số nước khác, việc kiểm tra giám sát chủ yếu chỉ tập trung tại Hội sở chính, chỉ kiểm tra giám sát chi nhánh của
và hiệu quả hệ thống quản trị, điều hành, hệ thống kiểm toán, kiểm soát nội bộ,
hệ thống quản trị rủi ro của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, bao gồm
cả việc nhận dạng rủi ro, đo lường rủi ro, giám sát rủi ro, kiểm soát và giảm thiểu, xử lý rủi ro thông qua việc xem xét các yếu tố tác động đến an toàn hoạt động, chất lượng, hiệu quả quản trị rủi ro, khả năng chống đỡ rủi ro của TCTD,
chi nhánh ngân hàng nước ngoài;
- Kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước về
để triển khai các phương thức này
* Hoạt động giám sát từ xa
Giám sát từ xa (kiểm tra gián tiếp) là việc NHNN tổ chức phân tích, đánh giá tình hình của tổ chức tín dụng dựa trên cơ sở các bảng cân đối kế toán, các chỉ
Trang 29tiêu thống kê định kỳ do tổ chức tín dụng gửi đến Cơ quan Kiểm tra, giám sát ngân hàng theo quy định, dựa trên cơ sở đó báo động cho tổ chức tín dụng những vấn đề cần thiết hoặc kiến nghị biện pháp khắc phục kịp thời [9]
Mục tiêu của giám sát từ xa là đảm bảo sự tuân thủ pháp luật của các tổ chức tín dụng, cảnh báo sớm, ngăn ngừa những rủi ro có thể xảy ra; là hoạt động định hướng cho hoạt động kiểm tra tại chỗ; giúp sử dụng hợp lý các nguồn lực, ưu tiên kiểm tra đối với những tổ chức tín dụng có khó khăn
Đặc điểm chung của phương thức giám sát từ xa: Việc giám sát do cơ quan kiểm tra giám sát thực hiện tập trung; dựa vào nguồn thông tin trên cơ sở báo cáo của
tổ chức tín dụng, từ số liệu lịch sử và các nguồn thông tin khác; việc giám sát thực hiện liên tục theo định kỳ; các tiêu chuẩn xếp loại tổ chức tín dụng dựa trên tiêu chuẩn quy định (phương pháp CAMELS, FIRST, COLOMBO )
Hạn chế của phương thức giám sát từ xa: Thông tin để phân tích phải chính xác, trung thực; đòi hỏi trình độ chuyên môn cao của cán bộ kiểm tra; phải cập nhập thông tin kịp thời ngoài các báo cáo tổ chức tín dụng gửi đến
Nội dung giám sát từ xa:
- Thu thập, tổng hợp và xử lý các tài liệu, thông tin, dữ liệu của đối tượng giám sát ngân hàng theo yêu cầu giám sát
- Xem xét, theo dõi tình hình chấp hành các quy định về an toàn hoạt động ngân hàng và các quy định khác của pháp luật có liên quan
- Phân tích, đánh giá thường xuyên tình hình tài chính, hoạt động, quản trị, điều hành và mức độ rủi ro của tổ chức tín dụng
- Phát hiện, cảnh báo các yếu tố tác động, xu hướng biến động tiêu cực, rủi ro gây mất an toàn hoạt động đối với từng tổ chức tín dụng
- Kiến nghị, đề xuất biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý rủi ro, vi phạm pháp luật của đối tượng giám sát ngân hàng theo quy định của pháp luật
* Hoạt động kiểm tra tra tại chỗ
Kiểm tra tại chỗ (kiểm tra trực tiếp) là việc tiến hành kiểm tra được tổ chức tại nơi làm việc của đối tượng kiểm tra trên cơ sở kiểm tra, xem xét các hồ sơ, tài liệu, chứng từ gốc có liên quan đến nội dung cần kiểm tra, do đối tượng kiểm tra ghi chép và từ các nguồn thông tin khác nhằm xác định tính trung thực của vấn đề, từ
đó đánh giá về từng mặt hoặc toàn bộ hoạt động của tổ chức tín dụng tại thời điểm kiểm tra [9]
Trang 30Mục tiêu của kiểm tra tại chỗ: Đánh giá tình hình chấp hành chính sách, pháp luật, các chế độ, quy định của NHNN; Giúp các tổ chức tín dụng thấy được mặt tích cực, những khuyết điểm và tồn tại, kiến nghị những biện pháp chấn chỉnh đảm bảo tổ chức tín dụng hoạt động có hiệu quả và đúng pháp luật; kiểm tra, phát hiện những vấn đề mới, những quy định, quy trình chưa hợp lý để kiến nghị sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện [9]
Đặc điểm của kiểm tra tại chỗ: Thực hiện tại trụ sở của tổ chức tín dụng; Tiếp cận trực tiếp với hồ sơ, tài liệu và đối tượng có liên quan; thực hiện theo quy trình sẵn có
Hạn chế của phương thức kiểm tra tại chỗ: Bị giới hạn về thời gian và chủ yếu kiểm tra, đánh giá xu hướng rủi ro tại thời điểm nhất định; Việc phân tích thông tin theo mục tiêu, phạm vi của cuộc kiểm tra quyết định
Nội dung của kiểm tra tại chỗ:
- Kiểm tra việc chấp hành pháp luật về tiền tệ và ngân hàng, quy định khác của pháp luật có liên quan, việc thực hiện các quy định trong giấy pháp do NHNN cấp
- Xem xét, đánh giá mức độ rủi ro, năng lực quản trị rủi ro và tình hình tài chính của đối tượng kiểm tra
- Kiến nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật đáp ứng yêu cầu quản lý Nhà nước về tiền tệ
và ngân hàng
- Kiến nghị, yêu cầu đối tượng kiểm tra ngân hàng có biện pháp hạn chế, giảm thiểu và xử lý rủi ro để đảm bảo an toàn hoạt động ngân hàng và phòng ngừa, ngăn chặn hành vi dẫn đến vi phạm pháp luật
- Phát hiện, ngăn chặn và xử lý theo thẩm quyền; kiến nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm pháp luật
1.1.3.3 Phương pháp kiểm tra của Ngân hàng Nhà nước đối với các tổ chức tín dụng
* Kiểm tra trên cơ sở tuân thủ
- Bảo đảm an toàn hệ thống các tổ chức tín dụng: Hoạt động kiểm tra thực hiện việc kiểm tra, giám sát việc chấp hành chính sách, pháp luật trong hoạt động của
tổ chức tín dụng góp phần bảo đảm sự phát triển an toàn, lành mạnh [9]
Trang 31- Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền: Do yêu cầu thực tế đòi hỏi, sự thỏa mãn nhu cầu gặp nhau nên người gửi tiền có nơi gửi, đó là ngân hàng, và người nhận tiền gửi được phép sử dụng số tiền này để cho vay hay đầu tư kiếm lời, trên nguyên tắc có vay có trả kèm theo những thỏa thuận khác Nhưng vì một lý do nào đó dẫn đến người gửi tiền bị thiệt thòi, thậm chí bị tước đoạt khi ngân hàng bị đổ
vỡ, mất khả năng thanh toán Để bảo vệ quyền lợi cho người gửi tiền và an toàn hệ thống tổ chức tín dụng, một trong những biện pháp là Ngân hàng Nhà nước phải thường xuyên kiểm tra các tổ chức tín dụng [9]
- Phục vụ việc thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia: Kiểm tra ngân hàng là công cụ, là chức năng thiết yếu quản lý Nhà nước của Ngân hàng Nhà nước về tiền tệ
và hoạt động Ngân hàng Thông qua hoạt động kiểm tra Ngân hàng Nhà nước thực hiện việc giám sát thường xuyên và tiến hành các cuộc kiểm tra trực tiếp đối với các
tổ chức tín dụng, nhằm phát hiện, ngăn chặn các vi phạm; kiến nghị biện pháp bảo đảm thi hành pháp luật về tiền tệ và hoạt động ngân hàng [9]
- Phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật; phát hiện những sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền các biện pháp khắc phục; phát huy nhân tố tích cực; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước; bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân [9]
* Kiểm tra trên cơ sở rủi ro
- Khái niệm: Kiểm, giám sát trên cơ sở rủi ro là phương pháp kiểm tra trong đó tập trung vào việc đánh giá mức độ rủi ro một tổ chức tín dụng gặp phải khi không tuân thủ các quy định, quy trình đã có và khi không có các thủ tục, quy trình hoạt động phù hợp; đồng thời cũng trên cơ sở đánh giá mức độ rủi ro, nguồn lực để kiểm soát, cảnh báo, xử lý rủi ro của tổ chức tín dụng; đưa ra những giải pháp buộc tổ chức tín dụng phải có hành động phù hợp để phòng ngừa và giảm thiểu rủi ro; duy trì an toàn
hệ thống các tổ chức tín dụng [9]
- Đặc điểm:
+ Tập trung vào việc đánh giá tổng thể tổ chức tín dụng thông qua việc xem xét, kiểm tra hồ sơ tài liệu, các chính sách, quy trình, hệ thống và thực tiễn công tác quản lý của tổ chức tín dụng Kiểm tra trên cơ sở rủi ro đánh giá các yếu tố định
lượng, định tính trong đó các yếu tố định tính là chủ yếu
Trang 32+ Cho phép định hướng kiểm tra vào những lĩnh vực, những tổ chức tín dụng
có mức độ rủi ro cao và rủi ro có khả năng tác động tới sự an toàn của hệ thống tổ chức tín dụng Cho phép cơ quan kiểm tra có thể chủ động phân bổ nguồn lực vào
những lĩnh vực cần kiểm tra, giám sát nhiều hơn
+ Thực hiện kiểm tra dựa nhiều vào báo cáo kiểm toán nội bộ của tổ chức tín dụng
+ Kết hợp cả đánh giá khách quan và chủ quan của kiểm tra viên
+ Đòi hỏi công tác kiểm tra thực hiện cả việc dự báo Việc này thể hiện
rõ nét nhất khi cơ quan kiểm tra lập báo cáo giám sát vi mô phải lập ra các giả thuyết và kiểm tra bằng việc sử dụng các mô hình, thuật toán với sự trợ giúp của công nghệ thông tin
1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng công tác kiểm tra của Ngân hàng Nhà nước đối với các tổ chức tín dụng
1.1.4.1 Các yếu tố chủ quan
* Chất lượng cán bộ kiểm tra
Chất lượng nguồn nhân lực là yếu tố tiên quyết cho sự thành công của công tác kiểm tra giám sát của NHNN Trong điều kiện hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín dụng ngày một phức tạp, phát sinh nhiều loại rủi ro mới, những vi phạm ngày càng tinh vi hơn thì trình độ cán bộ kiểm tra để phát hiện ra các sai phạm, các rủi
ro tiềm tàng là yếu tố hết sức quan trọng
Tiêu chuẩn để đánh giá chất lượng cán bộ kiểm tra gồm có: kiến thức tổng hợp
và chuyên môn, trình độ phân tích đánh giá thông tin, khả năng dự báo, kinh nghiệm thực tế, thái độ với công việc Chất lượng cán bộ còn thể hiện ở sự đồng đều về chất lượng chuyên môn của các cán bộ kiểm tra Bởi vì một cán bộ chuyên môn yếu và phẩm chất nghề nghiệp kém có thể làm tổn hại đến uy tín của cả bộ máy kiểm tra giám sát ngân hàng
* Công nghệ kiểm tra và trình độ ứng dụng công nghệ
Công nghệ kiểm tra quyết định sự phát triển của hệ thống kiểm tra giám sát ngân hàng Công nghệ kiểm tra càng hiện đại dựa trên những thành tựu tiên tiến nhất
về khoa học đối với hoạt động kiểm tra giám sát càng giúp nâng cao hiệu quả của công tác kiểm tra giám sát ngân hàng Các tiêu chí GSTX hiện đại, các quy trình kiểm tra
Trang 33tại chỗ khoa học sẽ giúp công tác kiểm tra giám sát ngân hàng trở nên chuyên nghiệp hơn Tuy nhiên, việc áp dụng công nghệ tiên tiến phải đầy đủ điều kiện trong từng giai đoạn thích hợp, nếu áp dụng quá sớm trong khi trình độ cán bộ kiểm tra chưa theo kịp
sẽ phản tác dụng, ngược lại nếu áp dụng quá muộn sẽ phải gánh chịu chi phí cơ hội
Các chương trình phần mềm và ứng dụng tin học vào công tác kiểm tra, nhất là công tác giám sát từ xa là hết sức quan trọng Đây là yếu tố hỗ trợ đắc lực trong công tác kiểm tra, tác động đến hiệu quả của công tác kiểm tra giám sát ngân hàng Một hệ thống truyền nhận tin nhanh chóng, và đầy đủ, một phần mềm tính toán thông minh, khái quát được những chỉ tiêu quan trọng và nhạy cảm trong hoạt động của tổ chức tín dụng là những yếu tố cơ bản tạo nên một hệ thống giám sát từ xa có hiệu quả
* Sự chuẩn hóa nội dung kiểm tra các tổ chức tín dụng
Nội dung kiểm tra các mảng hoạt động của tổ chức tín dụng được thể hiện trên nhiều khía cạnh như: hoạt động đảm bảo an toàn vốn, hoạt động tín dụng, huy động, hoạt động đảm bảo thanh khoản Chính vì hoạt động kiểm tra đối với tổ chức tín dụng bao gồm rất nhiều nội dung cho nên việc đảm bảo sự thống nhất của nội dung kiểm tra cũng là một nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động kiểm tra
* Các nhân tố chủ quan khác
Cách thức tổ chức, phương pháp tiến hành kiểm tra có phù hợp và khoa học hay không; Nội dung kiểm tra có phù hợp với tình hình thực tế của tổ chức tín dụng hay không, khối lượng công việc của Đoàn kiểm tra có cân xứng với thời gian tiến hành và lực lượng tham gia Đoàn kiểm tra hay không; Chất lượng công tác xử lý sau kiểm tra
1.1.4.2 Các nhân tố bên ngoài
* Sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật
Hệ thống pháp luật là một yếu tố khách quan tác động trực tiếp đến công tác kiểm tra tra, giám sát của tổ chức tín dụng Các quy định của pháp luật trong hoạt động ngân hàng thường xuyên thay đổi sẽ gây ra khó khăn cho công tác kiểm tra giám sát ngân hàng Hệ thống pháp luật thiếu đồng bộ, các điều luật quy định khác nhau hoặc chồng chéo, không phù hợp trong thực tế sẽ khiến công tác kiểm tra trở nên bất cập, khó thực hiện và giảm hiệu quả
Trang 34Các quy định của pháp luật về chức năng nhiệm vụ của kiểm tra, các quyền của kiểm tra ngân hàng được phép thực hiện trong quá trình kiểm tra tổ chức tín dụng, các chế tài xử phạt của kiểm tra ngân hàng khi phát hiện vi phạm, các công cụ pháp lý mà cơ quan kiểm tra được sử dụng là những yếu tố có tác động trực tiếp đến đến hiệu lực và hiệu quả của công tác kiểm tra, giám sát ngân hàng
* Hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín dụng
Hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng là yếu tố khách quan có tác động trực tiếp đối với hoạt động kiểm tra, giám sát của NHNN Nó chính là đối tượng của công tác kiểm tra giám sát ngân hàng
Sự phát triển của hệ thống tổ chức tín dụng sẽ quyết định quy mô và chất lượng phải đáp ứng của hệ thống kiểm tra, giám sát ngân hàng Hệ thống tổ chức tín dụng càng phát triển, nghiệp vụ kinh doanh ngân hàng ngày càng phức tạp dẫn đến hoạt động kiểm tra, giám sát ngân hàng sẽ ngày một khó khăn hơn Việc cạnh tranh giữa các tổ chức tín dụng ngày càng gay gắt sẽ dễ dẫn đến tiêu cực trong hoạt động ngân hàng ngày càng nhiều hơn, tiềm ẩn nguy cơ rủi ro mất an toàn đối với hệ thống ngân hàng ngày càng lớn Hệ thống tài chính càng phát triển thì hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín dụng càng liên quan đến nhau nhiều hơn, một rủi ro xảy ra với một tổ chức có thể kéo theo tổn thất cho hàng loạt các tổ chức khác Do đó, tính phức tạp trong hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng càng tăng lên, yêu cầu của công tác kiểm tra, giám sát ngân hàng ngày càng cao hơn Nếu không thường xuyên đổi mới, nâng cấp, hoàn thiện hệ thống kiểm tra, giám sát thì công tác kiểm tra, giám sát của NHNN sẽ không theo kịp sự phát triển của tổ chức tín dụng
Các thay đổi trong cách đánh giá phân loại nợ xấu, các chuyển biến trong việc áp dụng các chuẩn mực quốc tế vào hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng sẽ dẫn đến cách thức thực hiện và các chỉ tiêu phân tích đánh giá của kiểm tra NHNN cũng phải thay đổi theo
* Chất lượng công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ tại tổ chức tín dụng
Một yếu tố quan trọng khác ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động kiểm tra chính là năng lực tự quản trị, chất lượng của hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ của tổ chức tín dụng Một hệ thống kiểm soát nội bộ phù hợp là một trong các nhân tố quan trọng đảm bảo hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng an toàn và hiệu quả
Trang 35Như vậy giữa mục tiêu của kiểm soát nội bộ và mục tiêu của hoạt động kiểm tra
có những điểm chung đó là nhằm phòng ngừa, phát hiện và giảm thiểu rủi ro cho tổ chức tín dụng Tuy nhiên, điểm khác biệt lớn nhất là kiểm soát nội bộ tổ chức tín dụng chỉ phục vụ lợi ích của bản thân tổ chức tín dụng, trong khi hoạt động kiểm tra lại quan tâm tới lợi ích của hệ thống tổ chức tín dụng và trên hết là của nền kinh tế
Chính vì vậy, trong quá trình kiểm tra, NHNN luôn chú ý đặc biệt đến hoạt động kiểm soát nội bộ cũng như sử dụng hoạt động này như một kênh thông tin quan trọng hỗ trợ cho hoạt động kiểm tra Một mặt, NHNN đưa ra yêu cầu tối thiểu
mà kiểm soát nội bộ phải đáp ứng, mặt khác tạo ra động lực khuyến khích các tổ chức tín dụng hướng tới việc áp dụng những chuẩn mực cao hơn trong hoạt động kiểm soát Qua đó, NHNN sử dụng kiểm soát nội bộ tổ chức tín dụng như một căn cứ quan trọng để đánh giá mức độ rủi ro và năng lực quản trị rủi ro của tổ chức tín dụng đồng thời là căn cứ để tiến hành phân bổ nguồn lực kiểm tra một cách hiệu quả và tiết kiệm hơn
* Hệ thống quản lý thông tin của tổ chức tín dụng
Tổ chức tín dụng xây dựng được hệ thống quản lý thông tin đảm bảo chất lượng và hiệu quả cho các lĩnh vực mà tổ chức tín dụng đó hoạt động cũng sẽ là một yếu tố tác động tích cực đến chất lượng hoạt động kiểm tra của NHNN Thông tin do
tổ chức tín dụng cung cấp đòi hỏi phải đầy đủ, kịp thời và chính xác vì đây là cơ sở
để giúp cho NHNN có những đánh giá ban đầu đúng đắn về hoạt động của tổ chức tín dụng Sự che dấu thông tin, làm sai lệch nguồn thông tin sẽ dẫn đến các nguy cơ
về hoạt động mất an toàn và thiếu lành mạnh trong hoạt động tín dụng, tiếp đến là những đổ vỡ của tổ chức tín dụng, gây ra những ảnh hưởng đến uy tín của bản thân
tổ chức tín dụng và hoạt động của toàn hệ thống tổ chức tín dụng
Ngoài ra, các thông tin mà tổ chức tín dụng cung cấp định kỳ hoặc cung cấp trong quá trình kiểm tra còn phải đáp ứng các yêu cầu về: tần suất báo cáo, tính chính xác và kịp thời của thông tin, tính bảo mật của thông tin Với các yêu cầu trên
về thông tin của NHNN, hệ thống thông tin quản lý của tổ chức tín dụng cần được đầu tư và phát triển vừa đảm bảo yêu cầu quản lý của chính bản thân tổ chức tín dụng, đồng thời đáp ứng những yêu cầu thông tin của NHNN
Trang 36* Cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý Nhà nước liên quan trong hoạt động kiểm tra tổ chức tín dụng
Sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ và chia sẽ thông tin giữa các cơ quan quản lý Nhà nước trên các lĩnh vực khác nhau sẽ giúp nâng cao chất lượng kiểm tra Các Cơ quan kiểm tra, giám sát cần tăng cường trao đổi thông tin
và phối hợp với nhau trong việc triển khai công tác kiểm tra Việc chia sẻ thông tin giữa các Cơ quan kiểm tra, giám sát là rất cần thiết trong hoạt động kiểm tra Ví dụ, Bảo hiểm tiền gửi thực hiện giám sát ngân hàng nhằm đảm bảo lợi ích cho chính tổ chức bảo hiểm, đáp ứng các mục đích kinh doanh trong lĩnh vực bảo hiểm tiền gửi, hạn chế rủi ro đối với hoạt động ngân hàng thì giảm bớt được tiền bảo hiểm mà tổ chức phải chi ra Ủy ban giám sát tài chính quốc gia cũng thực hiện giám sát ngân hàng trên giác độ tác động của
hệ thống ngân hàng đối với thị trường tài chính nói chung Như vậy, việc đưa
ra cơ chế phối hợp giữa các cơ quan tổ chức có liên quan trong hoạt động kiểm tra
sẽ giúp NHNN tận dụng được các nguồn thông tin nhiều chiều cho hoạt động kiểm tra tổ chức tín dụng
- Số lượng các cuộc thanh tra, kiểm tra trực tiếp tại các tổ chức tín dụng trên địa bàn ngày càng tăng Chi nhánh cũng thường xuyên giám sát chặt chẽ việc thực
hiện các quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về lãi suất huy động, lãi suất cho vay để tránh tình trạng các tổ chức tín dụng “lách” luật, hoạt động sai quy định
Trang 37- Chú trọng việc giám sát tình hình phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro đối với từng tổ chức tín dụng, nhằm kịp thời phát hiện và xử lý sai phạm theo thẩm quyền, đảm bảo hoạt động ngân hàng an toàn, lành mạnh
- Cùng với công tác kiểm soát nội bộ, Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh
đã chỉ đạo các tổ chức tín dụng tập trung kiểm soát kế toán chi tiêu nội bộ, cũng như thường xuyên kiểm soát công tác an toàn kho quỹ, kế toán thanh toán để nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng
- Đội ngũ cán bộ ngân hàng Nhà nước, đặc biệt là cán bộ thanh tra, kiểm tra được quan tâm kiện toàn đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng
- Việc đẩy mạnh thanh tra, kiểm tra đột xuất, theo định kỳ không những giúp các đơn vị thực hiện đúng quy định, mà tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa các ngân hàng Trong lĩnh vực tài chính, tiền tệ, có rất nhiều quy định về cho vay, huy động nên mỗi cán bộ tín dụng, ngoài nghiên cứu sâu thì còn phải duy trì khách hàng giao dịch ổn định tại đơn vị mình Do vậy, tình trạng xảy ra một số sai sót trong việc cập nhật những quy định mới của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam để
áp dụng vào thực tiễn là không tránh khỏi Chính vì thế, thông qua hoạt động kiểm tra, giám sát, đơn vị không những phát hiện sai sót để khắc phục kịp thời, mà còn phổ biến rõ ràng, cụ thể những quy định mới, từng bước giúp đội ngũ cán bộ tín dụng nắm rõ và thực hiện đúng quy định
Hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát ngân hàng đã góp phần tích cực trong việc tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước về tiền tệ Quan trọng hơn, hoạt động này đã góp phần hỗ trợ trực tiếp, tích cực, có hiệu quả cho quá trình cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng, cũng như xử lý nợ xấu theo đề án đã được Chính phủ phê duyệt, góp phần bảo đảm an toàn hệ thống các ngân hàng.[19]
1.2.2 Kinh nghiệm kiểm tra tổ chức tín dụng của Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh Bắc Ninh
- Chủ động xây dựng Chương trình, kế hoạch kiểm tra, giám sát đối với hệ thống ngân hàng trên địa bàn:
Công tác giám sát của Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh tỉnh Bắc Ninh đối với
hệ thống các ngân hàng trên địa bàn được thực hiện thông qua các kênh thông tin
Trang 38thu thập được, qua việc phân công cán bộ chuyên quản nắm bắt được qua báo cáo giám sát hoạt động định kỳ đơn vị đã gửi và thực hiện công tác giám sát tại đơn vị khi cần thiết…
Thanh tra, giám sát Chi nhánh xây dựng chương trình, kế hoạch kiểm tra, giám sát với hệ thống ngân hàng trên địa bàn từ đầu năm và thực hiện xuyên suốt đến cuối năm Kế hoạch giám sát được xây dựng bám sát mục tiêu quản lý hoạt động và quản lý Nhà nước về lĩnh vực tiền tệ ngân hàng đối với hoạt động của các ngân hàng trên địa bàn, đảm bảo hệ thống ngân hàng hoạt động an toàn, hiệu quả
- Giám sát thường xuyên hoạt động của các ngân hàng trên địa bàn thông qua đội ngũ cán bộ làm công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát chuyên quản:
Theo sự phân công nhiệm vụ đối với các cán bộ làm công tác thanh tra, giám sát của Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh, mỗi thanh tra viên và cán bộ thanh tra sẽ được phân công chuyên quản từ 3 - 4 Chi nhánh NHTM Nhiệm vụ thường xuyên
và liên tục đối với các thanh tra viên và cán bộ thanh tra là nắm bắt và giám sát hoạt động của các NHTM được phân công quản lý Hàng tháng, các thanh tra viên, cán
bộ thanh tra sẽ có báo cáo kết quả giám sát, nắm bắt được về tình hình hoạt động của các NHTM được phân công chuyên quản gửi ban lãnh đạo Thanh tra, giám sát chi nhánh để tổng hợp đưa vào Báo cáo giám sát quý cũng như đưa ra những cảnh báo, kiến nghị đối với các ngân hàng kịp thời
Thông qua việc giám sát, nắm bắt thường xuyên hoạt động của các ngân hàng trên địa bàn, trong những năm qua, Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh tỉnh Bắc Ninh đã luôn làm tốt được công tác quản lý Nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng Thông qua giám sát thường xuyên Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh tỉnh Bắc Ninh đã có những biện pháp xử lý và đưa ra những cảnh báo kịp thời giúp cho các ngân hàng trên địa bàn hoạt động an toàn, hiệu quả và phát triển
- Nội dung kiểm tra tra được xác định căn cứ trên Đề cương đã được xây dựng
trước mỗi đợt thanh, kiểm tra Nội dung đề cương được xây dựng tuỳ theo tình hình thực
tế của mỗi ngân hàng thông qua hoạt động giám sát và các luồng thông tin bên ngoài về hoạt động của ngân hàng Có thể là kiểm tra toàn diện các mặt hoạt động hoặc đi vào trọng tâm, trọng điểm của từng chuyên đề như kiểm tra chất lượng tín dụng, phân loại nợ
Trang 39và trích lập dự phòng rủi ro, kiểm tra về thu phí hoạt động tín dụng, kiểm tra cho vay lĩnh vực bất động sản và chứng khoán, kiểm tra cho vay ngoại tệ, kiểm tra cho vay lãi suất thỏa thuận, kiểm tra cho vay phi sản xuất… [19]
1.2.3 Những bài học kinh nghiệm rút ra về công tác kiểm tra của Ngân hàng Nhà nước đối với các tổ chức tín dụng cho tỉnh Lai Châu
Một là: Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, sự chỉ
đạo của cấp ủy, chính quyền địa phương; sự phối hợp với các sở, ngành, địa phương trên địa bàn tỉnh trong hoạt động quản lý nhà nước của Ngân hàng nhà nước chi nhánh tỉnh
Hai là: Xây dựng hệ thống văn bản pháp luật trong lĩnh vực tiền tệ, ngân
hàng ngày càng hoàn thiện; kịp thời sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới phù hợp với thực tiễn hoạt động tiền tệ, ngân hàng trong từng thời kỳ
Ba là: Nâng cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị
thực hiện tốt công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật, nhất là các quy định liên quan đến lĩnh vức hoạt động ngân hàng
Bốn là: Tăng cường công tác chỉ đạo các đơn vị tổ chức tín dụng trên địa bàn
thực hiện tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, giáo dục đạo đức lối sống cho CB,CC&LĐ; công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật, đặc biệt các văn bản quy định của ngành trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng; thực hiện tốt các quy định về thực hiện QCDC ở cơ sở; nâng cao chất lượng công tác kiểm soát, kiểm toán nội bộ của từng đơn vị
Năm là: Nâng cao nhận thức về vai trò, mục đích, ý nghĩa, yêu cầu công tác
kiểm tra của NHNN Chi nhánh tỉnh của cán bộ lãnh đạo, quản lý, cán bộ, công chức trực tiếp làm công tác kiểm tra tại Ngân hàng Nhà nước chi nhánh; nhận thức của các
tổ chức tín dụng và khách hàng có quan hệ với các tổ chức tín dụng
Sáu là: Quan tâm tuyển dụng đội ngũ công chức có trình độ chuyên môn
nghiệp vụ trong lĩnh vực ngân hàng; thường xuyên đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, trình độ lý luận chính trị, đặc biệt là nghiệp vụ kiểm tra; đạo đức, bản lĩnh nghề nghiệp của cán bộ, công chức trực tiếp làm công tác kiểm tra của ngân hàng nhà nước chi nhánh tỉnh
Trang 40Bảy là: Nghiên cứu xây dựng hệ thống chính sách đãi ngộ thỏa đáng cho đội
ngũ cán bộ làm công tác kiểm tra để họ tâm huyết với nghề kiểm tra; hạn chế những tác động tiêu cực của kinh tế thị trường ảnh hưởng đến phẩm chất, tinh thần trách nhiệm của cán bộ kiểm tra Đồng thời, có cơ chế xử lý nghiêm đối với cán bộ kiểm tra vi phạm quy tắc, đạo đức nghề nghiệp và có những vi phạm trong hoạt động thực thi công vụ
Tám là: Đổi mới toàn diện nội dung, phương pháp tiến hành thanh tra, kiểm
tra của Chi nhánh phù hợp với hoạt động ngân hàng trong từng thời kỳ
1.3 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Hoạt động thanh tra, giám sát của NHNN đối với tổ chức tín dụng là một vấn
đề được nhiều tác giả quan tâm, nghiên cứu do tầm ảnh hưởng quan trọng của hoạt
động này đối với sự an toàn và lành mạnh của hệ thống ngân hàng
- Tác giả Ngô Bá Lại (2004), đề tài “Hoàn thiện khung pháp luật về quyền
và nghĩa vụ cơ bản của Thanh tra ngân hàng” tác giả đã đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về hoạt động của thanh tra, kiểm Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: bàn hành các quy định về phương thức kiểm tra rủi ro theo thông lệ quốc tế; quy định chức năng và nhiệm vụ giám sát an toàn hoạt động ngân hàng của thanh tra Ngân hàng Nhà nước cần được quy định đồng bộ; xây dựng quy trình nội bộ về pháp luật về hoạt động của thanh tra, kiểm tra, giám sát các tổ chức tín dụng; nâng cao chất lượng của từng quy phạm pháp luật, từng văn bản pháp luật về hoạt động tranh kiểm tra, mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế trong lĩnh vực xây dựng pháp luật hoạt động của thanh kiểm tra Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Đề tài đã
có những đóng góp quan trọng về mặt khoa học và thực tiễn trong việc hoàn thiện khung pháp luật thanh tra Ngân hàng Nhà nướcViệt Nam trong hoạt động thanh tra các ngân hàng thương mại Tuy nhiên, đề tài được nghiên cứu trước khi Luật thanh tra (2010) và Luật Ngân hàng Nhà nước năm 2010 được ban hành, cùng với công cuộc cải cách hành chính ở Việt Nam đã có nhiều thay đổi theo hướng tích cực Tuy nhiên, đây là tài liệu tham khảo trong quá trình thực hiện luận văn này [18]
- Tác giả Nguyễn Đình Tự (2005), đề tài “Thanh tra ngân hàng với tiến trình hội nhập của hệ thống ngân hàng Việt Nam”, đề tài đã khẳng định xu hướng tất yếu