Vì vậy, việc đánh giá đầy đủ năng suất sinh sản, năng suất và chất lượng thịt của các tổ hợp lai giữa nái F1LY, F1YL phối giống với đực D và đực L19 đang là vấn đề rất cần thiết đối với
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
CỔ PHẦN GIỐNG CHĂN NUÔI TỈNH BẮC GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHĂN NUÔI
THÁI NGUYÊN - 2016
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
CỔ PHẦN GIỐNG CHĂN NUÔI TỈNH BẮC GIANG
Chuyên ngành: Chăn nuôi
Mã số: 60.62.01.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHĂN NUÔI
Người hướng dẫn khoa học: 1 TS Đoàn Văn Soạn
2 TS Phạm Thị Hiền Lương
THÁI NGUYÊN - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm
ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đã được chỉ rõ nguồn gốc
Thái nguyên, ngày 15 tháng 9 năm 2016
Tác giả luận văn
Phạm Thị Hạnh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin trân trọng cảm ơn TS Đoàn Văn Soạn và TS Phạm Thị Hiền Lương là hai thầy cô hướng dẫn khoa học đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong Khoa Chăn nuôi thú y, Phòng Đào tạo Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và các thầy cô trong khoa chăn nuôi thú
y Trường Đại học Nông Lâm Bắc Giang đã tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi hoàn thành luận văn này
Đồng thời tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo, cán bộ công nhân viên Trại giống lợn ông bà Cao Xá - Công ty Cổ phần Giống chăn nuôi tỉnh Bắc Giang, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã luôn ủng hộ, động viên và tạo điều kiện giúp đỡ tôi về mọi mặt trong quá trình hoàn thành luận văn
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn toàn thể gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn
thành luận văn này
Học viên
Phạm Thị Hạnh
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC ĐỒ THỊ, HÌNH vii
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
3.1 Ý nghĩa khoa học 3
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Cơ sở lý luận về lai giống 4
1.1.1 Tính trạng số lượng và các yếu tố ảnh hưởng 4
1.1.2 Lai giống và ưu thế lai 5
1.2 Đặc điểm phát triển, sinh trưởng và sự phát dục của lợn 10
1.2.1 Sự phát triển của lợn 10
1.2.2 Sinh trưởng và sự phát dục 11
1.3 Đặc điểm sinh lý sinh sản của lợn nái 11
1.3.1 Sự thành thục về tính ở lợn 11
1.3.2 Chức năng của các bộ phận trong đường sinh dục cái 12
1.3.3 Sự thụ tinh 13
1.3.4 Sự phát triển của thai lợn 14
1.4 Các chỉ tiêu sinh sản và các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái 15 14.1 Các chỉ tiêu năng suất sinh sản ở lợn nái 15
1.4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái 16
1.5 Các chỉ tiêu đánh giá sinh trưởng, năng suất, chất lượng thịt ở lợn và các yếu tố ảnh hưởng 19
1.5.1 Các chỉ tiêu đánh giá sinh trưởng, năng suất và chất lượng thịt ở lợn 19
1.5.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng thịt 21
Trang 61.6 Tình hình nghiên cứu ở ngoài nước và trong nước 22
1.6.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 22
1.6.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước 23
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25 2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 25
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 26
2.1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 26
2.2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 26
2.2.1 Nội dung 26
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu 26
2.3 Chỉ tiêu theo dõi 29
2.3.1 Các chỉ tiêu theo dõi sinh lý động dục, sinh sản của lợn nái 29
2.3.2 Các chỉ tiêu sinh trưởng, năng suất và chất lượng thịt 29
2.4 Phương pháp theo dõi chỉ tiêu 30
2.4.1 Chỉ tiêu về sinh lý sinh dục, sinh sản của lợn nái 30
2.4.2 Đánh giá năng suất và phẩm chất thịt của các tổ hợp lai 31
2.5 Phương pháp xử lý số liệu 34
Chương 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 35
3.1 Kết quả sinh sản của lợn nái F1(LM) và F1(YL) 35
3.1.1 Một số chỉ tiêu sinh lý sinh sản của lợn cái hậu bị F1(LM) và F1(YL) 35
3.2.2 Năng suất sinh sản của lợn nái F1(LM) và F1(YL) qua các lứa đẻ 37
3.3 Khả năng sinh trưởng của lợn thịt ở các tổ hợp lai 52
3.3.1 Sinh trưởng tích lũy 52
3.3.2 Sinh trưởng tuyệt đối của các tổ hợp lai 54
3.3.3 Sinh trưởng tương đối của các tổ hợp lai 55
3.3.4 Tiêu tốn thức ăn cho 1kg lợn hơi tăng của các tổ hợp lai 56
3.4 Năng suất và chất lượng thịt của hai tổ hợp lai 58
3.4.1 Năng suất thịt của 2 tổ hợp lai 59
3.4.2 Chất lượng thịt của 2 tổ hợp lai 64
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO 71 PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
F1(YL) : Lợn lai giữa ♂Yorkshire x ♀Landrace
KL : Khối lượng
L19(LY) : Tổ hợp lai giữa ♂L19 x ♀(Landrace x Yorkshire)
TKL : Tăng khối lượng
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm đối với lợn nái và đực giống 26
Bảng 2.2: Sơ đồ bố trí thí nghiệm lợn nuôi thịt 27
Bảng 2.3: Thành phần dinh dưỡng của thức ăn nuôi lợn nái 27
Bảng 2.4: Thành phần dinh dưỡng của thức ăn nuôi lợn thịt 28
Bảng 2.5: Khẩu phần thức ăn cho lợn thịt (kg thức ăn/con/ngày) 29
Bảng 3.1: Một số chỉ tiêu sinh lý sinh sản của lợn cái F1(LM) và F1(YL) 35
Bảng 3.2: Một số chỉ tiêu sinh sản của lợn nái F1(LM) ở lứa đẻ 1 đến lứa đẻ 5 37
Bảng 3.3: Một số chỉ tiêu sinh sản của lợn nái F1(YL) ở lứa đẻ 1 đến lứa đẻ 5 38
Bảng 3.4 Một số chỉ tiêu sinh sản của lợn nái F1(LM) và F1(YL) ở lứa đẻ 6 43
Bảng 3.5 Một số chỉ tiêu sinh sản của lợn nái F1 (LM) và F1(YL) ở lứa đẻ 7 47
Bảng 3.6: Khối lượng của lợn thịt ở các tổ hợp lai (kg/con) 52
Bảng 3.7: Sinh trưởng tuyệt đối của 2 tổ hợp lai (g/con/ngày) 54
Bảng 3.8: Sinh trưởng tương đối của 2 tổ hợp lai (%) 55
Bảng 3.9: Tiêu tốn thức ăn/1kg tăng khối lượng lợn nuôi thịt (kg) 56
Bảng 3.10: Tiêu tốn năng lượng trao đổi/1kg tăng khối lượng lợn nuôi thịt (kcal) 57
Bảng 3.11: Tiêu tốn Protein 1kg tăng khối lượng lợn nuôi thịt (g) 58
Bảng 3.12: Kết quả mổ khảo sát năng suất thịt lợn thí nghiệm 59
Bảng 3.13: Chất lượng thịt của lợn thí nghiệm 65
Bảng 3.14: Thành phần hóa học của thịt lợn 67
Trang 9DANH MỤC ĐỒ THỊ, HÌNH
Hình 3.1: Biểu đồ số con đẻ ra còn sống/ổ từ lứa 1-5 39
Hình 3.2: Biểu đồ số con cai sữa/ổ từ lứa 1-5 40
Hình 3.3: Biểu đồ Khối lượng toàn ổ khi cai sữa từ lứa 1-5 42
Hình 3.4: Biểu đồ số con đẻ ra còn sống/ổ từ lứa 1-7 50
Hình 3.5: Biều đồ khối lượng toàn ổ khi cai sữa từ lứa 1-7 51
Hình 3.6: Sinh trưởng tích lũy của lợn thí nghiệm 53
Hình 3.7: Sinh trưởng tương đối của hai tổ hợp lai 55
Trang 10tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp đến năm 2020 đạt khoảng trên 40%
Việc nhập các giống lợn ngoại có tầm vóc lớn, sinh trưởng nhanh, sinh sản tốt,
tỷ lệ nạc cao như: Landrace (L), Yorkshire (Y), Duroc (D), Pietrain (P), Meishan…
đã trở thành yếu tố quan trọng góp phần nâng cao năng suất và tỷ lệ nạc trong sản xuất chăn nuôi lợn ở nước ta Nghiên cứu sử dụng các tổ hợp lai ngoại x ngoại nhằm sản xuất lợn thương phẩm nâng cao năng suất, chất lượng thịt và hiệu quả kinh tế đã được chú trọng trong những năm gần đây
Bên cạnh các giống lợn thuần cao sản đã được ứng dụng, chúng ta còn nhập và sản xuất một số dòng lợn lai ngoại như: L19, L95, L64, C1050, C1230, CA, C22, 402… với hệ thống nhân giống lợn của tập đoàn PIC để tạo ra các tổ hợp lai thương phẩm mang nhiều máu có ưu thế lai cao đáp ứng được mục đích nâng cao năng suất
và hiệu quả chăn nuôi
Lợn đực L19 là dòng Duroc trắng được tạo ra từ giống lợn Duroc màu truyền thống do công ty PIC của Anh nhập vào nước ta từ năm 1997, được Bộ Nông nghiệp
& PTNT quyết định mang tên là dòng VCN03 và chuyển giao cho Trung tâm Nghiên cứu lợn Thụy Phương thuộc Viện Chăn nuôi Quốc gia quản lý và nuôi giữ Trong chương trình lai, VCN03 đóng vai trò duy nhất là con đực của dòng cái, đực VCN03 được cho phối với cái ông bà VCN11,VCN12 để tạo ra 2 dòng lợn bố mẹ VCN21,VCN22 (Lê Thanh Hải, Nguyễn Quế Côi, 2009) [14]
Trang 11Đặng Vũ Bình và cs (2005) [5] cũng đã nghiên cứu sử dụng đực L19 lai với đàn nái F1(LY) và F1(YL) nuôi tại Xí nghiệp Chăn nuôi Đồng Hiệp, Hải Phòng Sử dụng đực L19 hoặc D làm con đực cuối cùng trong các tổ hợp lợn lai đang là sự lựa chọn của nhiều cơ sở chăn nuôi ở nước ta Vì vậy, việc đánh giá đầy đủ năng suất sinh sản, năng suất và chất lượng thịt của các tổ hợp lai giữa nái F1(LY), F1(YL) phối giống với đực D và đực L19 đang là vấn đề rất cần thiết đối với các cơ sở chăn nuôi lợn quy
mô vừa và lớn theo hướng sản xuất hàng hóa nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước cũng như xuất khẩu trong tương lai
Tại Bắc Giang, các giống lợn ngoại đã được nuôi và nhân giống phổ biến ở các
cơ sở chăn nuôi tập trung Việc theo dõi, đánh giá khả năng sản xuất thông qua các chỉ tiêu về sinh sản, sinh trưởng và năng suất, chất lượng thịt của các tổ hợp lai là những vấn đề rất cần thiết nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển chăn nuôi lợn hướng nạc trong những năm tiếp theo Để có đàn lợn thịt có tốc độ tăng trưởng nhanh và đạt tỷ
lệ nạc tối đa của phẩm giống, bên cạnh việc nâng cao tiến bộ di truyền, chọn lọc tốt, cải tiến chế độ chăm sóc nuôi dưỡng và điều kiện chuồng trại thì việc tạo ra những công thức lai trên cơ sở kết hợp được một số đặc điểm của mỗi giống, dòng cao sản
và đặc biệt là sử dụng triệt để ưu thế lai của chúng là rất cần thiết
Xuất phát từ tình hình đó, để góp phần nâng cao hiệu quả nuôi lợn ngoại trong điều
kiện chăn nuôi hiện nay, chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu khả năng sản xuất
Giống chăn nuôi tỉnh Bắc Giang”
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái F1(Landrace Meishan) và
F1(Yorkshire Landrace) phối giống với đực L19 nhằm góp phần cải tiến chất lượng đàn giống
- Đánh giá khả năng sinh trưởng, tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng, năng suất
và chất lượng thịt của các tổ hợp lai trên nhằm góp phần xác định tổ hợp lai phù hợp
và có hiệu quả trong chăn nuôi lợn tại tỉnh Bắc Giang
Trang 123 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học
- Cung cấp các tư liệu liên quan đến khả năng sinh sản qua các lứa của nái
F1(Landrace Meishan) và nái F1(Yorkshire Landrace) lai với đực L19, năng suất
và chất lượng thịt của con lai nuôi tại tỉnh Bắc Giang
- Góp phần bổ sung các tư liệu khoa học cho công tác giảng dạy cũng như nghiên cứu khoa học
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Giúp các cơ sở chăn nuôi lợn quy mô vừa và lớn trong việc lựa chọn tổ hợp lai thích hợp, nhằm nâng cao năng suất sinh sản, sinh trưởng và năng suất thịt, từ đó có những định hướng đúng đắn trong việc phát triển chăn nuôi lợn nái lai ngoại
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở lý luận về lai giống
1.1.1 Tính trạng số lượng và các yếu tố ảnh hưởng
1.1.1.1 Tính trạng số lượng và sự di truyền của tính trạng số lượng
Tính trạng số lượng là những tính trạng mà ở đó sự sai khác giữa các cá thể là
sự sai khác nhau về mức độ hơn là sự sai khác về chủng loại
Tính trạng số lượng là những tính trạng do nhiều cặp gen có hiệu ứng nhỏ quy định, đó là các gen mà hiệu ứng riêng biệt của từng gen thì rất nhỏ, nhưng tập hợp nhiều gen đó lại thì chúng có ảnh hưởng rõ rệt Tính trạng số lượng được coi là tính trạng đo lường vì việc nghiên cứu các tính trạng phụ thuộc vào đo lường Tuy nhiên
có những tính trạng số lượng mà giá trị của chúng thu được bằng cách đếm, đó là những tính trạng số lượng đặc biệt
1.1.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới tính trạng số lượng
Theo Lasley (1974) [22], biểu hiện bề ngoài hoặc các đặc tính khác của một số
cá thể được gọi là kiểu hình của cá thể đó đối với tính trạng số lượng cũng như tính trạng chất lượng
Giá trị kiểu hình của bất kỳ một tính trạng nào cũng được biểu thị thông qua giá trị kiểu gen và sai lệch môi trường:
P = G + E
Trong đó:
P: Giá trị kiểu hình (Phenotypic Value)
G: Giá trị kiểu gen (Genotypic Value)
E: Sai lệch môi trường (Enviromental Deviation)
Tuỳ theo phương thức tác động của các gen, alen mà giá trị kiểu gen có thể bao gồm các thành phần khác nhau:
G = A + D + I
Trong đó:
A (Additive Value): Giá trị cộng gộp hoặc giá trị giống
Trang 14D (Dominant Deviation): Sai lệch trội
I (Interactive Deviation): Sai lệch tương tác
Mỗi loại gia súc sống trong một môi trường nhất định sự hình thành và hoạt động của các tính trạng không những chịu sự chi phối của các gen mà còn chịu ảnh hưởng rất lớn của môi trường
E = Eg + Es
Trong đó:
Eg (Sai lệch môi trường chung)
Es (Sai lệch môi trường riêng)
Tóm lại, khi một kiểu hình của một cá thể được cấu tạo bởi hai locus trở lên thì giá trị kiểu hình của nó được biểu thị như sau:
P = A + D + I + Eg + Es Qua việc nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng tới tính trạng số lượng ở trên có thể thấy muốn nâng cao năng suất của vật nuôi cần phải tác động những biện pháp sau:
- Tác động về mặt di truyền (G): Đây là nhiệm vụ của nhà làm công tác giống + Tác động vào hiệu ứng cộng gộp (A) bằng cách chọn lọc
+ Tác động vào các hiệu ứng trội (D) và át gen (I) bằng cách lai giống
- Tác động về mặt môi trường (E) bằng cách cải tiến điều kiện chăn nuôi như thức ăn, chuồng trại, vệ sinh, chăm sóc, thú y
1.1.2 Lai giống và ưu thế lai
1.1.2.1 Lai giống
Lai giống là cho giao phối giữa những động vật thuộc hai hay nhiều giống khác nhau Lai khác dòng là cho giao phối giữa những động vật thuộc các dòng khác nhau trong cùng một giống Mặc dù lai khác giống xa nhau về huyết thống hơn lai khác dòng, song hiệu ứng di truyền của cả hai kiểu lai lại tương tự nhau Lasley,1974 [22]
Trong quá trình chọn lọc tự nhiên cũng như nhân tạo ở lợn làm tăng tần số các cặp gen trội và dị hợp tử, đồng thời làm giảm tần số các cặp gen lặn, kể cả các cặp gen trội không có lợi cho cơ thể và năng suất của chúng Lai giống làm cho tần số kiểu gen đồng hợp tử ở thế hệ sau giảm đi, tần số kiểu gen dị hợp tử tăng lên, tạo ra nhiều cặp gen khác nhau về mặt di truyền, sự khác nhau này bổ sung và bổ trợ cho
Trang 15nhau Đồng thời lai giống sẽ tạo ra sự tác động của gen đặc biệt, không cộng tính (khả năng tổ hợp đặc biệt) hay ưu thế lai (Đinh Văn Chỉnh và cs, 2001) [7]
1.1.2.2 Ưu thế lai
Ưu thế lai là thuật ngữ biểu thị sức sống của con lai vượt trội hơn cha mẹ, khi cha
mẹ là những cá thể không có quan hệ huyết thống Ưu thế lai không chỉ thể hiện ở sức chịu đựng mà còn bao gồm cả ưu thế về sức sống, tốc độ sinh trưởng, khả năng cho sữa, khả năng sinh sản và tỷ lệ chết (Lasley, 1974 [22])
Ưu thế lai hay sức sống con lai hoàn toàn ngược với suy hoá cận huyết và sự suy giảm sức sống do cận huyết được khắc phục khi lai giống (Falconer, 1993) [60]
Theo Mc Phee CP (1991) [75] và William (2000) [51], ở lợn có 3 loại ưu thế lai chính:
Ưu thế lai của con mẹ: Ưu thế lai của con mẹ thể hiện đối với các cá thể đời con, rõ nhất là thời kỳ lợn con phụ thuộc vào lợn mẹ như từ khi lợn mẹ chửa cho đến khi cai sữa lợn con
Ưu thế lai của con con: Ưu thế lai của con con có lợi cho chính bản thân chúng
vì chính chúng là những con lai
Ưu thế lai về đực giống được tạo thành từ bố thể hiện thông qua con đực từ kết quả giao phối Ưu thế lai của lợn đực giống được thể hiện rất hạn chế So sánh về năng xuất sinh sản của lợn cái lai (L x LW) phối với lợn đực thuần và lợn đực lai, Gineva (1999) [61] cho thấy, kiểu gen của lợn đực giống không ảnh hưởng đến số con đẻ ra và số lượng con sống đến 21 ngày tuổi, nhưng khối lượng lợn con sơ sinh của lợn đực giống lai cao hơn lợn đực giống thuần
Ưu thế lai hay sức sống con lai hoàn toàn ngược với suy hóa cận huyết và sự suy giảm sức sống do cận huyết được khắc phục trở lại khi lai giống (Falconer, 1993) [60]
Ưu thế lai (heterosis) là năng suất tốt hơn của con lai so với bố mẹ chúng và được tính bằng công thức:
Trang 16Có thể giải thích ưu thế lai bằng các giả thiết sau:
- Thuyết trội:
Giả thiết này cho rằng mỗi bên cha mẹ có những cặp gen trội đồng hợp tử khác nhau Khi tạp giao ở thế hệ F1 sẽ có các gen trội ở tất cả các locus Nếu bố có kiểu gen AABBCCddeeff và mẹ có kiểu gen aabbccDDEEFF thì thế hệ F1 có kiểu gen là: AaBbCcDdEeFf
- Thuyết siêu trội:
Mỗi alen trong một locus sẽ thực hiện chức năng riêng của mình Ở trạng thái
dị hợp tử thì cả hai chức năng này đồng thời được biểu lộ Mỗi gen có khả năng tổng hợp riêng, quá trình này được thực hiện trong những điều kiện môi trường khác nhau
Do vậy, kiểu gen dị hợp tử sẽ có khả năng thích nghi tốt hơn với những thay đổi của môi trường
- Tương tác gen:
Tương tác gen trong cùng một locus dẫn tới hiện tượng trội không hoàn toàn Tương tác giữa các gen trong cùng các locus khác nhau, bao gồm vô số các kiểu tương tác phức tạp, đa dạng, phù hợp với tính chất phức tạp, đa dạng của sinh vật
Cơ sở thống kê của ưu thế lai:
Cơ sở thống kê của ưu thế lai do Falconer đưa ra từ năm 1964 Ưu thế lai ở F1:
HF1 = dy2, trong đó d là giá trị của kiểu gen dị hợp, y là sai khác về tần số gen giữa hai quần thể bố, mẹ Ưu thế lai sinh ra bởi ảnh hưởng đồng thời của tất cả các giá trị
của các kiểu gen dị hợp và sự khác biệt giữa hai quần thể
Cơ sở thống kê này cho phép tính toán được ưu thế lai ở các thế hệ lai khác nhau Ưu thế lai ở F2: HF2 = 1/2dy2 Do đó HF2 = 1/2 HF1
Thay đổi trung bình từ F1 đến F2 cũng được coi là hiện tượng suy hoá cận huyết Theo Falconer (1993) [60], ưu thế lai ở F1, F2 có thể phức tạp do ảnh hưởng của mẹ Chẳng hạn, tính trạng số con trong ổ của lợn Ưu thế lai quan sát được ở F1 không có đóng góp của mẹ ở F2, mặc dù ưu thế lai mất đi một nửa nhưng lại có ảnh hưởng ưu thế lai của mẹ, do mẹ là con lai của F1.
Ảnh hưởng của mẹ bao gồm tất cả những đóng góp, những ảnh hưởng tốt xấu
1
2
F
H dy
Trang 17do kiểu hình mẹ gây ra đối với kiểu hình của đời con Ảnh hưởng của mẹ đối với kiểu hình của đời con có thể do sự khác nhau về di truyền, về ngoại cảnh hoặc sự phối hợp giữa di truyền và ngoại cảnh Ảnh hưởng của mẹ có thể được thực hiện trong quá trình thụ tinh, có chửa, tiết sữa và nuôi con Các ảnh hưởng này chỉ có thể xuất hiện tức thời, song cũng có thể kéo dài suốt đời của con vật và được thể hiện ở nhiều cơ chế sinh học khác nhau (Đặng Vũ Bình, 2002) [3]
Có 5 loại ảnh hưởng của mẹ:
- Ảnh hưởng của nguyên sinh chất nhưng không phải là ADN ngoài nhân
- Ảnh hưởng của nguyên sinh chất do ADN ngoài nhân
- Ảnh hưởng của mẹ trong giai đoạn trước khi đẻ
- Ảnh hưởng của mẹ thông qua sự truyền kháng thể từ mẹ sang con
- Ảnh hưởng của mẹ sau khi sinh
Theo Dickerson (1974) [58], khi lai giữa hai giống con lai chỉ có ưu thế lai cá thể Khi lai 3 giống, nếu dùng đực của giống thuần giao phối với nái lai, con lai có cả
ưu thế lai cá thể và ưu thế lai của mẹ, do mẹ là con lai F1 Nếu dùng đực lai giao phối với nái của giống thứ 3, con lai có ưu thế lai cá thể và ưu thế lai của bố, do bố là con lai F1 Trong lai 4 giống, con lai có cả ưu thế lai cá thể, cả ưu thế lai của mẹ và ưu thế lai của bố
Sử dụng các phương pháp của Dickerson (1972) [57], phương trình dự tính năng suất ở con lai với các công thức lai như sau:
- Lai 2 giống:
♂ ♀
- Lai 3 giống:
♂ ♀
Trong đó, I: cá thể; H: ưu thế lai; M: mẹ; r: hiệu quả tái tổ hợp; P: bố; g: năng
suất của các giống sử dụng để lai
Để tính toán ưu thế lai đối với một số tính trạng nhất định từ các giá trị trung bình của đời con và giá trị trung bình của bố mẹ, Minkema (1974) [74] đã đưa ra
Trang 18Một số tính trạng ở lợn có ưu thế lai khác nhau; số con đẻ ra/ổ có ưu thế lai cá thể là 2%, ưu thế lai của mẹ là 8%; số con cai sữa có ưu thế lai cá thể 9%, ưu thế lai của mẹ là 11%; khối lượng cả ổ ở 21 ngày tuổi có ưu thế lai cá thể 12%; ưu thế lai
BA AB
Trang 19của mẹ 18% (Richard, 2004) [77]
Sự khác biệt giữa nguồn gốc di truyền của bố và mẹ
Giống là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến các chỉ tiêu sinh sản của lợn nái (Đặng Vũ Bình, 1999) [2]
Căn cứ vào khả năng sinh sản và sức sản xuất thịt, các giống lợn được chia làm bốn nhóm chính như sau: Các giống như Landrace Yorkshire, Landrace và một số dòng nguyên chủng được xếp vào loại có khả năng sản xuất thịt và sinh sản khá
- Các giống chuyên dụng “dòng bố” như Pietrain, Landrace của Bỉ, Hampshire, Poland China có khả năng sinh sản trung bình nhưng khả năng sản xuất thịt cao
- Các giống chuyên dụng “dòng mẹ”, đặc biệt một số giống chuyên sản của Trung Quốc như Taihu (điển hình là Meishan) có khả năng sinh sản đặc biệt cao nhưng khả năng cho thịt kém
- Các giống địa phương có đặc tính chung là khả năng sinh sản và sức sản xuất thịt kém, song có khả năng thích nghi tốt với môi trường
- Các giống “dòng bố” thường có khả năng sinh sản thấp hơn so với các giống đa dụng, ngoài ra chúng có chiều hướng hơi kém về khả năng nuôi con, tỷ
lệ lợn con chết trước khi cai sữa của các giống này cao hơn so với Landrace và Large White (Blasco và cs, 1995) [53]
Giống Meishan (Trung Quốc) có khả năng sinh sản đặc biệt cao, đạt 14-18 lợn sơ sinh, trên 12 lợn con cai sữa/ổ ở lứa đẻ thứ 3 đến lứa đẻ 10 (Vũ Kính Trực, 1998) [47]
- Điều kiện nuôi dưỡng
Thế hệ con lai sẽ phát huy được tiềm năng di truyền và biểu hiện ưu thế lai ở mức độ cao nhất khi được sống trong môi trường phù hợp Trước hết là chế độ dinh dưỡng, sau đó là chế độ chăm sóc, quản lý, kể cả nhiệt độ, độ ẩm, môi trường trong sạch, dịch bệnh
1.2 Đặc điểm phát triển, sinh trưởng và sự phát dục của lợn
1.2.1 Sự phát triển của lợn
Sau khi được sinh ra khỏi cơ thể mẹ lợn con sinh trưởng phát triển rất nhanh
Ở giai đoạn này cơ thể mới tiếp xúc với môi trường bên ngoài nên có nhiều yếu tố tác
Trang 20động dẫn đến cơ thể lợn con yếu, do hệ tiêu hóa chưa hoàn thiện, nguồn dinh dưỡng chủ yếu do cơ thể mẹ cung cấp
1.2.2 Sinh trưởng và sự phát dục
Sinh trưởng là một quá trình tích luỹ các chất hữu cơ do đồng hoá và dị hoá, là sự tăng về chiều dài, bề ngang, thể tích, khối lượng của các bộ phận và toàn cơ thể con vật trên cơ sở tính chất di truyền từ đời trước
Quá trình sinh trưởng phát dục của gia súc nói chung cũng như ở lợn nói riêng đều tuân theo các quy luật:
- Quy luật sinh trưởng và phát dục không đồng đều Quy luật này thể hiện ở chỗ cường độ sinh trưởng và tốc độ tăng trọng thay đổi theo tuổi
- Quy luật sinh trưởng và phát dục theo giai đoạn, quy luật này được chia ra làm
2 giai đoạn đó là giai đoạn trong thai và giai đoạn ngoài cơ thể mẹ
Giai đoạn trong thai gồm: Thời kỳ phôi thai từ 1 - 22 ngày, thời kỳ tiền phôi thai từ 23 - 38 ngày, thời kỳ thai nhi từ 39 - 114 ngày
Giai đoạn ngoài cơ thể mẹ gồm: Thời kỳ bú sữa, thời kỳ thành thục, thời kỳ trưởng thành, thời kỳ già cỗi
1.3 Đặc điểm sinh lý sinh sản của lợn nái
1.3.1 Sự thành thục về tính ở lợn
Sự thành thục về tính là tuổi mà con vật bắt đầu có các phản xạ sinh dục và
có khả năng sinh sản Biểu hiện rõ nhất của sự thành thục về tính là con cái xuất hiện lần động dục đầu tiên Tuổi thành thục về tính ở lợn cái là từ 6 - 8 tháng tuổi Các giống khác nhau thì tuổi thành thục về tính cũng khác nhau Con cái thành thục sớm hơn con đực Tuổi thành thục về tính thường sớm hơn tuổi thành thục về thể vóc Điều đó có nghĩa là khi lợn cái thành thục về tính thì nó vẫn tiếp tục sinh trưởng lớn lên Thời điểm rụng trứng đầu tiên được coi là tuổi thành thục về tính Kể từ đó, khi
sự điều tiết của hormon thuỳ trước tuyến yên làm cho trứng chín và rụng một cách
có chu kỳ và biểu hiện bằng những triệu chứng động dục theo chu kỳ, được gọi là chu kỳ tính
- Chu kỳ tính được chia làm 4 giai đoạn:
+ Giai đoạn trước động dục
Trang 21Giai đoạn này kéo dài từ 1 - 2 ngày và được tính từ khi thể vàng của lần động dục trước tiêu biến đến lần động dục tiếp theo
+ Giai đoạn động dục
Đây là giai đoạn kế tiếp của giai đoạn trước động dục, gồm 3 thời kỳ liên tiếp
là hưng phấn, chịu đực và hết chịu đực Giai đoạn động dục kéo dài từ 2 - 3 ngày
+ Giai đoạn sau động dục
Giai đoạn này kéo dài 3 - 4 ngày ở lợn, đặc điểm nổi bật của giai đoạn này là toàn bộ cơ thể nói chung và cơ quan sinh dục nói riêng dần dần khôi phục lại trạng thái bình thường
+ Giai đoạn yên tĩnh
Giai đoạn này là dài nhất, thường bắt đầu từ ngày thứ 4 sau khi rụng trứng đến ngày thứ 16 sau khi thể vàng tiêu biến
- Cơ chế điều khiển chu kỳ tính
Sự rụng trứng theo chu kỳ biểu hiện thành chu kỳ tính ở lợn được điều khiển bởi thần kinh và thể dịch theo cơ chế điều hoà ngược
GnRH GnRH
PGF2α
Sơ đồ cơ chế thần kinh thể dịch điều tiết hoạt động sinh dục ở con cái
1.3.2 Chức năng của các bộ phận trong đường sinh dục cái
Trang 22- Trứng, sự phát triển và rụng trứng: Trứng được hình thành ở buồng trứng
từ những bao noãn nguyên thuỷ với số lượng hàng chục nghìn ở gia súc lớn
+ Giai đoạn tăng số lượng noãn nguyên bào: Là giai đoạn nguyên phân liên
tiếp nhiều lần làm tăng số lượng noãn nguyên bào
+ Giai đoạn sinh trưởng: Là giai đoạn noãn nguyên bào tích luỹ chất dinh
dưỡng, tăng kích thước và khối lượng, hình thành các noãn nguyên bào sơ cấp (2n nhiễm sắc thể)
+ Giai đoạn hình thành trứng : Từ noãn nguyên bào sơ cấp, trải qua 2 lần
phân bào (lần 1: nguyên phân tạo thành noãn bào cấp 2 + 1 cầu cực, lần 2 noãn bào cấp 2 giảm phân tạo thành 1 trứng chứa n nhiễu sắc thể + 1 cầu cực)
- Ống dẫn trứng
Ống dẫn trứng là một đôi ống uốn khúc bắt đầu từ chỗ gần buồng trứng và kéo dài đến đỉnh sừng tử cung Ở lợn ống dẫn trứng dài từ 50 - 60 cm
- Tử cung
Tử cung lợn là dạng tử cung phân nhánh, gồm 3 phần: sừng tử cung (dài 50 -
100 cm), thân tử cung (dài 8 - 12 cm), cổ tử cung (dài 18-20 cm)
Thân và sừng tử cung có nhiều lông nhung, tiết ra dịch nội mạc tử cung gồm chủ yếu là protein huyết thanh và một phần nhỏ những protein đặc thù của tử cung Cổ tử cung ở lợn không có nếp gấp, thường đóng chặt, trừ khi chịu đực hoặc đẻ mới giãn
ra Khi mang thai, cổ tử cung có thể tăng lên về khối lượng từ 8-10 lần
Trang 23+ Giai đoạn đi vào tế bào trứng
Đầu tinh trùng tiết ra men zonalizin phân giải màng trong suốt Men này đặc trưng cho loài, nên chỉ có tinh trùng cùng loài mới phát huy tác dụng Tinh trùng đi qua khe hở giữa màng trong suốt và màng noãn hoàng, có khoảng vài chục tinh trùng tiếp cận được với màng noãn hoàng hay tế bào trứng
+ Giai đoạn phá màng noãn hoàng
Đầu tinh trùng tiết ra men neuromidaza để phá màng noãn hoàng, tạo ra cửa
sổ, sau đó chỉ có 1 tinh trùng có sức sống cao vào tiếp xúc với nhân của trứng Ngay sau đó hình thành màng ngăn không cho tinh trùng khác vào nữa
1.3.4 Sự phát triển của thai lợn
Hợp tử được hình thành sẽ di chuyển về 2 sừng tử cung để làm tổ
Ngày 1: 2 tế bào (ở 1/3 phía trên ống dẫn trứng)
Ngày 2: 4 tế bào (ở ống dẫn trứng)
Ngày 3-5: 8 tế bào
Ngày 5 - 6: phôi dâu 16 - 32 tế bào
Ngày 6 - 7: Phôi dâu chặt 64 tế bào (hợp tử đã di chuyển đến sừng tử cung) Ngày 6 - 8: Phôi nang sớm (hợp tử làm tổ trong niêm mạc tử cung)
Ngày 9: Phôi nang thoát màng
Sự phát triển của phôi thai lợn được chia thành 3 thời kì: Thời kì trứng bắt đầu
từ khi trứng rụng được thụ tinh đến khi hình thành nang phôi, túi phôi (kéo dài 6 - 10 ngày) Thời kì phôi thai: Là thời kỳ hình thành nhau thai, các tế bào và khí quan của
Trang 24cơ thể (kéo dài từ ngày thứ 11 đến ngày thứ 40) Thời kỳ bào thai: Là giai đoạn phân chia kết cấu của tế bào và cơ quan (kéo dài từ ngày thứ 41 đến khi đẻ)
Tuy nhiên cũng như các loài gia súc khác, thai lợn sinh trưởng rất nhanh vào giai đoạn cuối kì có thai (65 - 70 % khối lượng thai được tạo thành từ 30 ngày cuối)
1.4 Các chỉ tiêu sinh sản và các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái
14.1 Các chỉ tiêu năng suất sinh sản ở lợn nái
Một yêu cầu quan trọng của chăn nuôi lợn nái là phải tăng khả năng sinh sản nhằm đáp ứng yêu cầu cả về số lượng và chất lượng lợn cho khâu sản xuất lợn thịt Khi bàn về những chỉ tiêu được dùng để đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái
có rất nhiều ý kiến khác nhau
Gordon (2004) [65] cho rằng, trong các trang trại chăn nuôi hiện đại, số lượng con cai sữa do một nái sản xuất trong 1 năm là chỉ tiêu đánh giá đúng đắn nhất khả năng sinh sản của lợn nái
Theo Trần Đình Miên (1977) [23], việc tính toán và đánh giá sức sinh sản của lợn nái phải xét đến các mặt: chu kỳ động dục, tuổi thành thục sinh dục, tuổi có khả năng sinh sản, thời gian chửa, số con đẻ ra/lứa
Kết quả các nghiên cứu khác cho rằng, các chỉ tiêu ảnh hưởng đến số lượng lợn con cai sữa của 1 nái/1 năm là: tính đẻ nhiều con (số lợn sơ sinh), tỷ lệ chết của lợn con từ sơ sinh đến cai sữa, thời gian bú sữa, tuổi đẻ lứa đầu và thời gian từ cai sữa đến khi thụ thai lứa sau (Legault C, 1980) [69]
Theo Marby và cs (1997) [72], các tính trạng năng suất sinh sản chủ yếu của lợn nái bao gồm: số con đẻ ra/ổ, số con cai sữa/ổ, khối lượng toàn ổ ở 21 ngày tuổi và số lứa đẻ/nái/năm Các tính trạng này ảnh hưởng lớn đến lợi nhuận của người chăn nuôi lợn nái
Ở Việt Nam, Tiêu chuẩn nhà nước về lợn giống (TCVN 1980 - 1981 - TCVN
1982 - 1981) [42] đề ra 4 chỉ tiêu giám định lợn nái tại các cơ sở giống nhà nước là:
số con đẻ ra sống/ổ, khối lượng toàn ổ lúc 21 ngày, khối lượng toàn ổ lúc 60 ngày, tuổi đẻ lứa đầu đối với lợn nái đẻ lứa 1 hoặc khoảng cách lứa đẻ đối với nái đẻ từ lứa thứ 2 trở đi
Theo Nguyễn Khắc Tích (2002) [44], khả năng sinh sản của lợn nái chủ yếu
Trang 25được đánh giá dựa vào chỉ tiêu số lợn con cai sữa/nái/năm Chỉ tiêu này lại phụ thuộc vào 2 yếu tố là số con đẻ ra và số lứa đẻ/nái/năm
Như vậy, có rất nhiều ý kiến đưa ra các chỉ tiêu khác nhau trong việc đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái, nhưng theo chúng tôi, quá trình đánh giá và chọn lọc nên tập trung vào các chỉ tiêu chính:
Thông thường, một số các chỉ tiêu dưới đây được đề cập để đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái :
1) Số con đẻ ra/ổ
2) Số con đẻ ra còn sống/ổ
3) Số con để nuôi/ổ
4) Số con cai sữa/ổ
5) Khối lượng sơ sinh/con
6) Khối lượng toàn ổ sơ sinh
7) Khối lượng cai sữa/con
8) Thời gian nuôi
9) Tuổi đẻ lứa đầu
10) Thời gian phối giống trở lại sau cai sữa
1.4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái
1.4.2.1 Yếu tố di truyền
Giống là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến các chỉ tiêu sinh sản của lợn nái Yếu tố di truyền phụ thuộc vào đặc tính con giống, các giống lợn khác nhau thì
có tính năng sản xuất khác nhau
Yếu tố di truyền biểu hiện cụ thể bằng giống, là yếu tố đầu tiên ảnh hưởng đến năng suất sinh sản ở lợn nái Các giống lợn khác nhau cho năng suất sinh sản khác nhau Theo Đặng Vũ Bình (2002) [3], giống là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái Trong cùng một giống, năng suất từng cá thể cũng khác nhau Vì vậy chọn lọc nhân tạo đạt được sự tiến bộ di truyền nhanh hơn chọn lọc tự nhiên
Từ những tiến bộ vượt bậc trong công tác giống, ngày nay các giống lợn đã được chuyên hoá cao
Trang 26- Các giống “dòng bố” thường có khả năng sinh sản thấp hơn so với các giống
đa dụng, ngoài ra chúng có chiều hướng hơi kém về khả năng nuôi con, tỷ lệ lợn con chết trước khi cai sữa của các giống này cao hơn so với Landrace và Large White (Blasco và cs,1995) [53]
- Giống Meishan (Trung Quốc) có khả năng sinh sản đặc biệt cao, đạt 14-18 lợn sơ sinh, trên 12 lợn con cai sữa/ổ ở lứa đẻ thứ 3 đến lứa đẻ 10 (Vũ Kính Trực, 1998) [47]
Hệ số di truyền cũng là yếu tố ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái
đa số các tính trạng về năng suất sinh sản của lợn nái đều có hệ số di truyền thấp (Schimitten, 1989) [80]
Theo Lengerken và cs (1988) [87], lợn nhạy cảm với stress có khả năng cho nạc cao song khả năng sinh sản bị hạn chế, giảm thời gian sử dụng đối với gia súc giống, kết quả thụ thai thấp và tỷ lệ hao hụt cao trong quá trình chăn nuôi và vận chuyển Theo Gordon (2004) [65], tỷ lệ chết lợn con trước khi cai sữa chiếm tới 60,10%
ở ngày đẻ đầu tiên; 23,6% từ ngày 2 - 7 sau đẻ và 16,2% sau 7 ngày
1.4.2.2 Yếu tố ngoại cảnh
Các chỉ tiêu sinh sản của lợn nái có hệ số di truyền thấp, vì vậy nó chịu tác động chủ yếu bởi các yếu tố môi trường Phương thức nuôi, chế độ dinh dưỡng, công tác quản lý phối giống, lứa đẻ, mùa vụ, bệnh tật đều có ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái
* Chế độ nuôi dưỡng
Là yếu tố ngoại cảnh hàng đầu ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái Trong đó, năng lượng trao đổi (ME), protein, các axit amin không thay thế, khoáng, vitamin là những thành phần quan trọng nhất Vì vậy để đảm bảo khả năng sinh sản của lợn nái thì cần được cung cấp đủ về số và chất lượng các chất dinh dưỡng để có kết quả sinh sản tốt
Nuôi dưỡng lợn nái với mức cao ở thời kỳ chửa đầu có thể làm tăng tỷ lệ chết phôi ở lợn nái mới đẻ (Kirkwood và Thacker, 1988, dẫn từ Gordon, 1997 [66] Việc cung cấp năng lưọng theo nhu cầu của lợn nái cho từng giai đoạn có ý nghĩa rất quan trọng, vừa đảm bảo cho sinh lý bình thường và nâng cao được năng suất sinh sản
Trang 27Trong giai đoạn chửa, khẩu phần chính xác của lợn nái chửa phụ thuộc vào khối lượng lợn, ngày tuổi, tính trạng béo hay gầy, kiểu chuồng, tuổi cai sữa lợn con, khí hậu hoặc nhiệt độ môi trường Tuy nhiên 2/3 khối lượng thai được hình thành ở 1/3 giai đoạn cuối kì có thai Vì vậy ở giai đoạn đầu (2/3 thời gian đầu kì có thai) phải cho ăn hạn chế
Nên cho lợn nái nuôi con ăn tự do để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng Giảm lượng thức ăn thu nhận khi nuôi con sẽ làm giảm khối lượng cơ thể, hậu quả là thời gian động dục trở lại dài, giảm tỉ lệ thụ tinh và giảm số phôi sống Theo Chung và cs, (1998) [56], tăng lượng thức ăn thu nhận ở lợn nái tiết sữa sẽ làm tăng sản lượng sữa
và tăng khả năng tăng trọng của lợn con
* Mùa vụ và nhiệt độ
Mùa vụ và nhiệt độ có ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái Lợn nái phối giống vào các tháng nóng có tỷ lệ thụ thai thấp, số con đẻ ra ít, mức độ đồng đều trong một lứa đẻ không cao Đối với lợn ngoại, điều kiện khí hậu thời tiết mùa vụ (nhiệt
độ, ẩm độ, ánh sáng ) ảnh hưởng rất lớn đến sức sinh sản của lợn nái Nhiệt độ thích hợp cho sinh sản là 18 - 200C Nếu nhiệt độ lớn hơn 300C thì sẽ làm giảm tỷ lệ thụ thai
và tăng tỷ lệ chết phôi
* Tuổi và lứa đẻ
Là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái Lợn nái kiểm định có tỷ lệ đẻ và năng suất thấp hơn so với nái cơ bản, khả năng sinh sản của lợn nái thường thấp ở lứa đẻ thứ nhất, đạt cao nhất ở lứa đẻ thứ 3 sau đó ổn định hoặc hơi giảm đến lứa đẻ thứ 6, sau đó giảm rõ rệt khi lứa đẻ tăng lên Số con/ổ có quan hệ chặt chẽ đến tuổi của lợn nái và giảm nhanh sau 4 - 5 tuổi (Colin, 1998) [55]
* Số lần phối và phương thức phối giống
Đây là những yếu tố trực tiếp ảnh hưởng đến tỷ lệ thụ thai, số con đẻ ra/ổ, thời gian chờ phối hay thời gian phi sản xuất ở lợn nái
Trang 28Số lần phối giống trong một lần động dục ở lợn nái có ảnh hưởng đến số con đẻ ra/ổ Phối đơn trong một chu kì động dục ở lúc chịu đực cao nhất có thể đạt được số con đẻ /ổ cao, nhưng phối hai lần trong một chu kỳ động dục làm tăng số con đẻ ra/ổ
Phối giống kết hợp giữa nhảy trực tiếp và thụ tinh nhân tạo làm tăng 0,5 lợn con
so với phối giống riêng rẽ
Phương pháp phối giống cũng ảnh hưởng đến tỷ lệ thụ thai, có 2 phương pháp phối giống là phương pháp phối giống trực tiếp và thụ tinh nhân tạo Theo Lee
và cs (1995) [70], tỷ lệ thụ thai của lợn thụ tinh nhân tạo và nhảy trực tiếp là 92,3
và 94,4% Số con đẻ ra của lợn thụ tinh nhân tạo và nhảy trực tiếp là 10,64 và 11,48 con
* Thời gian cai sữa
Khi phân tích 14.925 lứa đẻ của 39 đàn lợn nái ở Mỹ (Xue và Cs, dẫn từ Ian Gordon, 1997) [64] nhận thấy: Thời gian bú sữa của lợn con dài, lợn nái có số sơ sinh/ổ, số con đẻ ra còn sống/ổ cao, thời gian động dục trở lại ngắn, khoảng cách từ khi đẻ đến phối giống trở lại dài, khoảng cách lứa đẻ dài
Mabry và cs (1997) [72] cho biết: Phối giống sớm sau khi đẻ, tỷ lệ đẻ và số con
đẻ ra/ổ thấp hơn so với phối giống muộn Theo Lan Gordon (2004) [65] giảm thời gian cai sữa từ 15 xuống còn 10 ngày sẽ làm giảm trên 0,2 con trong ổ
Lợn nái cai sữa ở 28 -35 ngày, thời gian động dục trở lại 4-5 ngày có thể phối giống và có thành tích sinh sản tốt (Colin, 1998) [55] Không nên phối giống cho lợn nái sớm hơn 3 tuần sau đẻ, phối giống sớm sẽ làm giảm khả năng sinh sản của lợn nái (Ian Gordon, 1997) [64]
Lợn nái phối giống sau khi cai sữa sớm có số lượng trứng rụng thấp (15,9 so với 24,6) và số phôi ở ngày chửa thứ 11 ít Lợn nái cai sữa sớm có tỷ lệ thụ thai thấp,
số phôi sống ít và thời gian động dục trở lại dài (Deckert và cs, 1998 [59]
1.5 Các chỉ tiêu đánh giá sinh trưởng, năng suất, chất lượng thịt ở lợn và các yếu tố ảnh hưởng
1.5.1 Các chỉ tiêu đánh giá sinh trưởng, năng suất và chất lượng thịt ở lợn
Trang 29Để đánh giá năng suất và chất lượng thịt của lợn, người ta sử dụng các nhóm chỉ tiêu nuôi vỗ béo, thân thịt và chất lượng thịt
Theo Clutter và Brascamp (1998) [54] các chỉ tiêu quan trọng của khả năng nuôi
vỗ béo bao gồm: Tăng trọng ngày đêm, tiêu tốn thức ăn/kg tăng trọng, thu nhận thức ăn/ngày và tuổi đạt khối lượng giết thịt Giữa tăng trọng hàng ngày và tiêu tốn thức
ăn có mối tương quan di truyền âm và chặt chẽ, r = -0,69-0,99, giữa tăng trọng hàng ngày và thu nhận thức ăn có mối tương quan di truyền dương, r = 0,28-0,37 (Sellier, 1998) [78]
Sellier (1998) [78] cho biết các chỉ tiêu thân thịt quan trọng là tỉ lệ móc hàm, tỉ
lệ thịt xẻ, chiều dài thân thịt, tỉ lệ nạc hoặc tỉ lệ thịt nạc/xương, độ dày mỡ lưng và diện tích cơ thăn Các chỉ tiêu chất lượng thịt bao gồm khả năng giữ nước (tỉ lệ mất nước), màu sắc thịt, cấu trúc cơ, mỡ giắt (hoa vân), thành phần hoá học của cơ, pH
cơ thăn 45 phút (pH1) và 24 giờ (pH2) sau giết thịt (Reichart và cs, 2001) [76]
Để đánh giá được khả năng sinh trưởng, cho thịt của lợn còn tuỳ thuộc vào mục đích chăn nuôi mà người chăn nuôi thường có các chỉ tiêu đánh giá khác nhau:
* Khối lượng sống:
Là khối lượng giết mổ được cân lên sau khi cho nhịn ăn 24h
* Khối lượng thịt móc hàm và tỷ lệ móc hàm
Khối lượng thịt móc hàm là khối lượng thịt lợn sau khi đã chọc tiết, cạo lông,
mổ lấy hết cơ quan nội tạng
Tỷ lệ móc hàm là tỷ lệ giữa khối lượng móc hàm và khối lượng sống
Tăng trọng móc hàm được tính bằng tỷ số giữa khối lượng móc hàm và ngày tuổi Điều kiện nuôi dưỡng khác nhau thì tỷ lệ móc hàm cũng khác nhau
* Khối lượng thịt xẻ và tỷ lệ thịt xẻ
Khối lượng thịt xẻ là khối lượng móc hàm trừ đi đầu, bốn chân và hai lá mỡ
Tỷ lệ thịt xẻ là tỷ lệ giữa khối lượng thịt xẻ và khối lượng sống
* Tỷ lệ nạc
Tỷ lệ nạc là tỷ lệ giữa khối lượng thịt nạc và khối lượng thịt xẻ Tỷ lệ nạc càng
Trang 30cao thì chất lượng thịt càng cao và ngược lại
Các chỉ tiêu chất lượng thân thịt bao gồm: Tỷ lệ mất nước, màu sắc thịt, cấu trúc cơ, mỡ dắt, pH của cơ thăn ở 45 phút và 24 giờ sau khi giết thịt (Reichart và cs, 2001) [76]
1.5.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng thịt
1.5.2.1.Yếu tố di truyền
Các giống lợn khác nhau có khả năng sinh trưởng, cho thịt khác nhau
Giống ảnh hưởng đến tốc độ sinh trưởng, khả năng tích luỹ mỡ Theo Colin (1998) [66], Sellier (1998) [55], các giống Pietrain, Landrace Bỉ và Landrace Đức
có thịt đùi, tỷ lệ nạc và diện tích cơ thăn cao hơn các giống lợn khác
Theo Liu Xiaochun và cs (2000) [71], con lai 3 giống có ưu thế lai về tăng trọng tới 16,44 %, ưu thế lai về tiêu tốn thức ăn là -8,18%, trong khi đó con lai trở ngược
có ưu thế lai về tăng trọng chỉ đạt 7,03 %, tiêu tốn thức ăn là - 2,7%
+ Thời gian nuôi: sự thay đổi thành phần hoá học của mô cơ, mô mỡ lợn chủ yếu xảy ra trong giai đoạn trước 4 tháng tuổi
+ Các yếu tố chăm sóc nuôi dưỡng: Cơ sở chăn nuôi và thiết kế chuồng trại có ảnh hưởng không nhỏ tới khả năng sản xuất của lợn Cơ sở chăn nuôi thể hiện tổng hợp chế độ quản lý, chăm sóc nuôi dưỡng đàn lợn
+ Mùa vụ: Nhiều tác giả nghiên cứu về năm và mùa vụ trong chăn nuôi cho biết chúng gây ảnh hưởng lớn đến khả năng tăng trọng của lợn, sự khác nhau giữa năm
và mùa ảnh hưởng tới tăng khối lượng và độ dày mỡ lưng rõ rệt
Trang 31Khi nghiên cứu về sự ảnh hưởng của nhiệt độ đến khả năng tăng khối lượng của lợn Thomas (1984) [82] cho biết nếu nuôi lợn từ 20 kg đến 90 kg ở nhiệt độ từ 80C đến 220C thì khả năng tăng khối lương tăng và nhu cầu về thức ăn cũng tăng lên Trần Thị Minh Hoàng và cs (2003) [20] cũng cho biết tăng khối lượng chịu ảnh hưởng lớn của yếu tố mùa vụ và năm thí nghiệm
Sự khác biệt giữa năm và mùa ảnh hưởng đến tăng trọng và dày mỡ lưng rõ rệt Huang và cs (2004) [63] cho biết mùa vụ có ảnh hưởng rõ rệt tới độ dày mỡ lưng và hiệu quả sử dụng thức ăn Lợn nuôi trong mùa hè và mùa đông có độ dày mỡ lưng thấp hơn so với mùa thu và mùa xuân Nhiệt độ cao về mùa hè làm tăng tỷ lệ thịt PSE + Các điều kiện giết mổ: các điều kiện giết mổ cũng ảnh hưởng lớn đến chất lượng thịt, mà chủ yếu là liên quan đến thịt PSE
1.6 Tình hình nghiên cứu ở ngoài nước và trong nước
1.6.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Lai giống là biện pháp quan trọng để sản xuất lợn thịt có năng suất cao, chất lượng thịt tốt ở nhiều nước trên thế giới Nửa đầu thế kỷ 20 nội dung chủ yếu của công tác giống lợn là chọn lọc và nhân thuần bằng các phương pháp kiểm tra lợn đực giống qua đời sau Nhưng từ nửa sau thế kỷ này do có thêm về những hiểu biết mới
về ưu thế lai và sự phát triển kỹ thuật thụ tinh nhân tạo lợn, nên ở các nước có ngành chăn nuôi tiên tiến đã phát triển mạnh lai kinh tế ở lợn Thời kỳ đầu chỉ mới áp dụng các tổ hợp lai kinh tế đơn giản như lai giữa hai giống lợn, về sau có nhiều tổ hợp lai kinh tế phức tạp từ ba, bốn, năm giống lợn và cao hơn nữa là các chương trình lai tạo lợn Hybrid
Theo Ian Gordon (1997) [64], lai giống trong chăn nuôi lợn đã có từ hơn 50 năm trước, việc sử dụng lai hai, ba, bốn giống để sản xuất lợn thịt thương phẩm đã trở thành phổ biến Các chủ trại chăn nuôi lợn ở Mỹ sử dụng rộng rãi lai kinh tế và có tới 90% lợn thương phẩm do lai giống mà ra
Liên quan đến các tính trạng sản xuất ở lợn, Baas và cs (1992) [52] đã xác định
ưu thế lai trực tiếp, ưu thế lai của mẹ lai và hiệu quả của tổ hợp về năng suất và tính trạng thịt xẻ trên 12 kiếu ghép phối giữa lợn Hampshire và lợn Landrace theo công
Trang 32thức lai: Giữa 2 giống thuần, F1, F 2, F 3 và lai ngược 4 giống Ưu thế lai được xác định 11,5 % ở khả năng tăng khối lượng
Các giống lợn Yorkshire, Landrace, Duroc được nuôi phổ biến ở tất cả các nước có nghề chăn nuôi lợn hướng nạc phát triển và nhân ra khắp thế giới bởi các ưu điểm của nó là khối lượng cơ thể lớn, tăng trọng nhanh, tỷ lệ nạc năng suất sinh sản khá, khả năng thích nghi tốt ở Liên Xô (cũ) lợn Yorkshire chiếm 85% còn ở Châu
Âu chiếm khoảng 54% Năm 1960 tỷ lệ Landrace trong cơ cấu đàn lợn Cộng hòa Dân chủ Đức là 56,5% Chính vì vậy mà cho đến nay có rất nhiều nghiên cứu và thông báo
về khả năng sinh sản của 2 giống lợn Yorkshire và Landrace White và cs (1995) [86]
đã nghiên cứu trên lợn Yorkshire cho thấy: Tuổi động dục lần đầu là 201 ngày số con
đẻ ra còn sống của 20 ổ ở lứa 1 trung bình là 7,2 con/ổ
Theo Lê Thanh Hải và cs (1997) [15] thì ở Pháp số con đẻ ra còn sống/ổ của giống Yorkshire năm 1991 là 11,4, năm 1992 là 11,5 Ở Landrace số liệu tương ứng
là 11,7 và 12 con Ở Anh lợn Landrace có số con đẻ ra còn sống/ổ là 10,82 con và lợn Yorkshire là 10,73 con Ngoài ra, các giống lợn ngoại mà đặc biệt là 2 giống lợn Yorkshire và Landrace là nguyên liệu được sử dụng trong nhiều chương trình lai Hybrid tạo ra các con lai Hybrids như Kemboroy (Anh), Costiwol (Anh), Ahip, Khip (Hungari), Hypor (Hà Lan)
1.6.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước
Các giống lợn được nhập vào nước ta chủ yếu nhằm mục đích cải tiến các giống địa phương Tuy nhiên hiện nay khi nền kinh tế ngày càng phát triển, đặc biệt là chăn nuôi ngày càng phát triển theo hướng công nghiệp thì việc tập trung vào nghiên cứu tính năng sản xuất của các con giống nhằm không ngừng nâng cao năng suất và chất lượng đàn giống
Trong công tác giống lợn, để cải thiện nhược điểm của một số giống lợn địa phương, chúng ta đã nhập một số giống lợn ngoại cao sản từ năm 1960 như lợn đực giống Yorkshire và Landrace từ Trung Quốc, năm 1964 tiếp tục nhập lợn Đại bạch (Liên Xô), sau này tiếp tục nhập các giống lợn có năng suất cao như Landrace Nhật, Duroc, Pietrain… Mục đích của việc đưa giống lợn ngoại vào nước ta là nhằm nghiên
Trang 33cứu và phát triển lợn lai ở Việt Nam Các nhà khoa học đã khai thác những ưu điểm
và khắc phục một số nhược điểm của giống lợn nội như mắn đẻ, đẻ nhiều con, sức chống chịu cao với hoàn cảnh thiếu dinh dưỡng để kết hợp với các đặc tính tốt của các giống lợn ngoại, như năng suất cao, tiêu tốn thức ăn thấp, thời gian nuôi thịt ngắn,
tỷ lệ nạc cao… Điều đó đã góp phần nâng cao năng suất và tỷ lệ nạc trong ngành chăn nuôi lợn
Các kết quả của Trương Hữu Dũng (2004) [10] cho thấy tổ hợp lai giữa hai giống Y, L và ngược lại, ba giống Y, L và D đạt mức tăng trọng và tỷ lệ nạc cao Con lai (LY) đạt mức tăng trọng từ 650,90 đến 667,70 g/ngày và tỷ lệ nạc từ 57,69 đến 60,00%; con lai (YL) đạt mức tăng trọng từ 601,50 đến 624,40 g/ngày, tỷ lệ nạc từ 56,24 đến 56,80% Con lai ba giống D x (LxY) đạt mức tăng trọng từ 617,80 đến 694,10 g/ngày và tỷ lệ nạc từ 57,00 đến 61,81%; con lai ba giống D x (YxL) đạt mức tăng trọng từ 628,40 đến 683,10 g/ngày và tỷ lệ nạc từ 56,86 đến 58,71%
Kết quả nuôi thịt các tổ hợp lai Dx(YxL), Dx(LxY), L19x(YxL) và L19x(LxY) tại Xí nghiệp chăn nuôi Đồng Hiệp - Hải Phòng được Đặng Vũ Bình và cộng sự (2005) [5] thông báo, tăng trọng/ngày tuổi lần lượt tương ứng đạt 485,15; 525,42; 484,65 và 494,43 g/ngày tuổi với mức tiêu tốn thức ăn/kg tăng trọng là 2,40; 2,40; 2,61 và 2,56 kg; tỷ lệ móc hàm tương ứng ở các công thức lai đạt 78,14; 79,70; 78,60
và 80,02%
Nguyễn Ngọc Phục và cs (2005) [26], nghiên cứu khả năng sinh sản của lợn cụ
kỵ L06, L11, L95 tại trại giống hạt nhân Tam Điệp - Ninh Bình, cho thấy tốc độ tăng trọng bình quân ngày tuổi cao nhất thuộc về L06 và L11 (554,19 và 531,06gam/ngày)
và thấp nhất là L95 (599 gam/ngày) Nhưng độ dày mỡ lưng của L06 và L11 chỉ bằng một nửa so với L95 Năng suất sinh sản của cả 3 dòng đều thấp ở lứa đầu so với các lứa tiếp theo Kết quả từ lứa thứ 2 đến lứa thứ 7 cho thấy L95 có số con sơ sinh sống/ổ cao nhất (12,55 con/ổ) trong đó ở L06 và L11 thấp hơn từ 2 - 2,5 con/ổ nhưng khối lượng sơ sinh của L95 thấp hơn L06 và L11 từ 100 - 300g/con Số con cai sữa của cả
3 dòng đều đạt từ 9,14 - 9,57 con/ổ nhưng khối lượng lợn con cai sữa lúc 3 tuần tuổi của L95 thấp nhất (5,99kg/con) trong đó của L06 cao hơn khoảng 500g/con
Theo Nguyễn Văn Đồng và cs (2005) [13] nghiên cứu khả năng sinh sản của
Trang 34hai dòng lợn ông bà VCN11 và VCN12 nuôi tại Trung tâm Nghiên cứu giống lợn Thuỵ Phương và Trại lợn giống Tam Điệp - Ninh Bình cho thấy: tốc độ tăng trọng của dòng VCN11 vượt cao so với dòng VCN12 (558,68g/ngày và 525,52g/ngày) nhưng VCN12 có độ dày mỡ lưng cao hơn VCN11 (16,9mm và 9,95mm) Tỷ lệ phối giống của dòng VCN11 có xu hướng thấp hơn dòng VCN12 Kết quả về năng suất sinh sản ở cả hai trại số con đẻ ra/ổ, số con còn sống/ổ, khối lượng sơ sinh đều tương đương nhau ở cả hai dòng Tại Trung tâm Nghiên cứu giống lợn Thuỵ Phương là 10,7 con/ổ, 1,45kg/con dòng VCN11 và 11,53 con/ổ, 1,38kg/con dòng VCN12 còn tại trại lợn giống Tam Điệp Ninh Bình khối lượng sơ sinh dòng VCN11 là 1,51kg/con, dòng VCN12 là 1,45kg/con Đến giai đoạn 21 ngày tuổi thì dòng VCN11 đã vượt lên cao hơn so với dòng VCN12 và càng thể hiện rõ hơn ở thời điểm cai sữa Tại Trung tâm Nghiên cứu giống lợn Thuỵ Phương, khối lượng 21 ngày tuổi và cai sữa dòng VCN11
là 5,55kg/con và 6,37kg/con còn dòng VCN12 là 5,24kg/con và 5,92kg/con Tại Trại Giống lợn Tam Điệp, khối lượng cai sữa dòng VCN11 là 6,32kg/con và dòng VCN12
2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu
Trang 352.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Lợn nái F1(Landrace x Meishan): Ký hiệu là F1(LM): Theo dõi 50 con (từ lứa
1 - 5 kế thừa số liệu từ cơ sở) trực tiếp từ lứa 6 - 7
- Lợn nái F1(Yorkshire x Landrace): Ký hiệu là F1(YL): Theo dõi 50 con (từ lứa
1 - 5 kế thừa số liệu từ cơ sở) trực tiếp từ lứa 6 - 7
- Các con lai được tạo ra từ 2 tổ hợp lai:
+ ♂ L19 x ♀ F1(LM): 120 con (60 cái và 60 đực thiến)
+ ♂ L19 x ♀ F1(YL): 120 con (60 cái và 60 đực thiến)
Các con lai của 2 tổ hợp lai được nuôi thương phẩm bố trí mỗi lô 10 con để nuôi và đeo thẻ tai cho từng con Lợn được nuôi trong trang trại có điều kiện như nhau, nuôi theo phương thức công nghiệp
Lợn nái F1(LM) và nái F1(YL) được nhập từ trại PIG - Tam Điệp - Tỉnh Ninh Bình
2.1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái lai F1(LM) và F1(YL)
- Đánh giá khả năng sinh trưởng, năng suất và phẩm chất thịt của con lai thương phẩm
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.2.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm
Bảng 2.1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm đối với lợn nái
Trang 36Diễn giải Đơn
Bảng 2.2: Sơ đồ bố trí thí nghiệm lợn nuôi thịt Diễn giải Đơn vị Thí nghiệm 1 Thí nghiệm 2
Yếu tố thí nghiệm - F2[♂ L19 x ♀F1(LM)] F2[♂ L19 x ♀F1(YL)]
2.2.2.2 Điều kiện thí nghiệm
Đối với lợn nái giống được lựa chọn đảm bảo đầy đủ các yếu tố: Lứa đẻ, khối lượng và được cơ sở chăn nuôi sử dụng thức ăn hỗn hợp của Công ty Cargill
Phương pháp phối giống: Lợn nái thí nghiệm được phối giống theo phương pháp thụ tinh nhân tạo, thời điểm phối giống thích hợp nhất vào lúc 24 – 30 giờ tính
từ giờ chịu đực đầu tiên, giao động từ 15 – 45 giờ Phối giống cho lợn bằng phương thức phối kép (2 lần), lần hai cách lần một 10 – 12 giờ trong ngày hoặc cuối ngày
hôm trước và đầu ngày hôm sau
Bảng 2.3: Thành phần dinh dưỡng của thức ăn nuôi lợn nái
Trang 37Loại lợn NL trao đổi
(Kcal ME)
Protein thô (%)
Canxi (%)
Photpho (%)
Khẩu phần thức ăn cho lợn nái chửa kỳ 1 (từ ngày thứ 1 đến ngày 84) 2,0 - 2,4 kg/ngày, lợn nái chửa kỳ 2 (từ ngày 85 đến khi đẻ) 2,5 - 2,8 kg/ngày, trước khi đẻ 3 ngày cho ăn giảm dần, ngày đẻ cho ăn 0,5-1,0 kg/con, sau khi đẻ từ ngày thứ 2 đến ngày thứ 6 cho ăn tăng dần từ 1,5 - 5,0 kg/con/ngày, từ ngày nuôi con thứ 7 đến khi cai sữa cho ăn theo công thức 2,0 kg + 0,3 kg nhân với số lợn con trong ổ của lợn nái Khẩu phần thức ăn cho lợn con tập ăn: Tuần tuổi thứ 2 cho ăn 0,1- 0,2 kg/con; tuần tuổi thứ 3 cho ăn 0,3- 0,5 kg/con/ngày
Lợn thí nghiệm được tẩy các loại ký sinh trùng, tiêm phòng các loại vacccine, phun thuốc khử trùng, phun thuốc khử trùng chuồng trại định kỳ
Đối với các tổ hợp lai nuôi thịt được nuôi theo dõi sinh trưởng, tiêu tốn thức
ăn, năng suất và chất lượng thịt với 3 lần nhắc lại
Tỷ lệ đực và cái trong mỗi đợt thí nghiệm của từng tổ hợp lai là 1:1 Lợn cai sữa
21 ngày được nuôi chuẩn bị thí nghiệm và bắt đầu theo dõi từ 60 ngày
Lợn thịt bắt đầu thí nghiệm lúc 60 ngày tuổi và kết thúc thí nghiệm lúc 165 ngày tuổi, thời gian nuôi và theo dõi là 105 ngày
Toàn bộ đàn lợn thí nghiệm được nuôi theo phương thức công nghiệp, uống nước tự do bằng vòi uống tự động, chuồng trại đảm bảo yêu cầu kỹ thuật, điều kiện nuôi dưỡng chăm sóc đồng đều
Chế độ dinh dưỡng của lợn thịt thuộc các tổ hợp lai như sau:
Bảng 2.4: Thành phần dinh dưỡng của thức ăn nuôi lợn thịt
Loại lợn NL trao đổi Protein thô Canxi Photpho
Trang 38(Kcal ME) (%) (%) (%)
Bảng 2.5: Khẩu phần thức ăn cho lợn thịt (kg thức ăn/con/ngày)
Giai đoạn (ngày tuổi) Khối lượng thức ăn (kg
TĂ/con)
Phương thức Cho ăn
bữa sáng, chiều
2.3 Chỉ tiêu theo dõi
2.3.1 Các chỉ tiêu theo dõi sinh lý động dục, sinh sản của lợn nái
+ Khối lượng động dục lần đầu (kg) + Khối lượng sơ sinh (kg/con)
+ Khối lượng phối giống lần đầu (kg) + Tỷ lệ sống (%)
+ TTTA cho 1kg lợn con (kg) Các dữ liệu ở lứa 1 đến lứa 5 được thu thập từ lý lịch, sổ theo dõi sinh sản do
cơ sở chăn nuôi ghi chép và theo dõi trực tiếp từ lứa 6 - 7 trong thời gian thực tập
2.3.2 Các chỉ tiêu sinh trưởng, năng suất và chất lượng thịt
Trang 39+ Tiêu tốn thức ăn và thuốc thú y cho 1
2.4 Phương pháp theo dõi chỉ tiêu
2.4.1 Chỉ tiêu về sinh lý sinh dục, sinh sản của lợn nái
+ Tuổi động dục lần đầu (ngày): Là thời gian từ khi được sinh ra cho đến khi lợn nái hậu bị động duc lần đầu
+ Khối lượng động dục lần đầu (kg): Là khối lượng lợn cái khi có dấu hiệu động dục lần đầu
+ Tuổi phối giống lần đầu (ngày): Thông thường bỏ qua 1-2 chu kỳ đầu tiên, vì thời điểm này thể vóc phát triển chưa hoàn chỉnh và số lượng trứng rụng ít nên phối giống vào lần động dục thứ 2 hay thứ 3 trở đi Tuổi phối giống lần đầu thích hợp của lợn nội là 6-7 tháng, còn với lợn ngoại là 7,5- 8 tháng tuổi
+ Khối lượng phối giống lần đầu (kg): Là khối lượng lợn cái tại thời điểm phối giống lần đầu
+ Thời gian động dục (ngày): Là khoảng thời gian từ khi có biểu hiện động dục cho tới khi không có biểu hiện động dục
+ Thời gian động dục trở lại (ngày): Là thời gian từ lúc cai sữa đến lúc động dục trở lại
+ Thời gian mang thai (ngày): Được tính từ ngày phối giống có chửa đến khi
đẻ
Trang 40+ Tuổi đẻ lứa đầu: Là tuổi khi lợn nái đẻ lứa thứ nhất
+ Số con đẻ ra/ổ: Là toàn bộ số con đẻ ra trong một ổ
+ Số con sơ sinh còn sống/ổ (con): Là tất cả số con sơ sinh còn sống đến 24 giờ + Khối lượng sơ sinh toàn ổ (kg): Là khối lượng được cân ngay sau khi đẻ ra, cắt rốn, lau khô và trước khi cho bú lần đầu tiên
+ Số con cai sữa/lứa (con): Là số lợn con được nuôi sống cho đến khi cai sữa + Khối lượng cai sữa/con (kg): Cân khối lượng lợn lúc cai sữa
Tổng số lợn con cai sữa (con)
- TTTA/kg lợn con cai sữa: Tiến hành theo dõi về thức ăn của đàn nái từ khi phối giống đến khi cai sữa
TTTĂ/kg lợn con cai sữa =
Lượng TĂ sử dụng (kg) (lợn nái + lợn con tập ăn đến cai sữa)
Số khối lượng lợn con cai sữa (kg)
2.4.2 Đánh giá năng suất và phẩm chất thịt của các tổ hợp lai
2.4.2.1 Khả năng sinh trưởng
- Khối lượng khi bắt đầu nuôi (60 ngày tuổi), 90, 120, 150 và 165 ngày tuổi bằng cách cân khối lượng từng con vào sáng sớm khi chưa cho ăn
- Sinh trưởng tuyệt đối (g/con/ngày): Là sự tăng lên về khối lượng, kích thước, thể tích cơ thể trong khoảng thời gian giữa hai lần khảo sát