1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đánh giá việc thực hiện quy hoạch sử dụng đất tại đai học thái nguyên đến năm 2015

109 285 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 2,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quản lý thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai phải phù hợp với yêu cầu thực tế phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương.. - Đề xuất các giải pháp nhằm tổ chức thực hiện có

Trang 1

Thái Nguyên - 2016

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu này là của riêng tôi Những số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực, chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu, báo cáo hay sử dụng để bảo vệ một học vị nào khác

Tất cả những giúp đỡ trong khi thực hiện đề tài đều đã được cảm ơn, các thông tin trích dẫn đều chỉ rõ nguồn gốc Nếu có gì sai phạm tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước nhà trường và pháp luật

Tác giả luận văn

Phạm Văn Chuẩn

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập và thực hiện nghiên cứu đề tài luận văn thạc sĩ của mình, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy, cô là cán bộ giảng viên Trường Đại học Nông lâm - Đại học Thái Nguyên và các Lãnh đạo, đồng chí, đồng nghiệp nơi tôi công tác

Cho phép tôi gửi lời cảm ơn chân thành tới, Giáo sư Đặng Văn Minh người thầy đã trực tiếp hướng dẫn và giúp tôi hoàn thành đề tài Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Ban giám hiệu Trường Đại học Nông lâm - Đại học Thái Nguyên, tập thể giáo viên khoa sau Đại học, Khoa Tài nguyên và Môi trường; Lãnh đạo, các đồng chí, đồng nghiệp Ban Cơ sở vật chất - Đại học Thái Nguyên nơi tôi công tác đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt thời gian nghiên cứu thực hiện đề tài trên địa bàn và đóng góp những ý kiến quý báu để tôi hoàn thành tốt đề tài

Tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, những người thân, cán bộ, đồng nghiệp

và bạn bè đã tạo điều kiện về mọi mặt giúp tôi trong quá trình thực hiện đề tài này

Một lần nữa tôi xin trận trọng cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày 03 tháng 11 năm 2016

Tác giả luận văn

Phạm Văn Chuẩn

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu đề tài 3

2.1 Mục tiêu tổng quát của đề tài 3

2.2 Mục tiêu cụ thể của đề tài 3

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 3

3.1 Ý nghĩa khoa học 3

3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4

1.1.1 Cơ sở lý luận của đề tài 4

1.1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 4

1.1.3 Cơ sở pháp lí của đề tài 9

1.2 Khái quát chung về quy hoạch sử dụng đất 12

1.2.1 Khái niệm và đặc điểm quy hoạch sử dụng đất 12

1.2.2 Tầm quan trọng của quy hoạch sử dụng đất 17

1.2.3 Các loại hình quy hoạch sử dụng đất 17

1.2.4 Nguyên tắc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất 19

1.2.5 Những căn cứ pháp lý của quy hoạch sử dụng đất 24

1.2.6 Nhiệm vụ và nội dung của quy hoạch sử dụng đất 27

1.3 Tình hình nghiên cứu kết quả quy hoạch sử dụng đất trong nước 28

1.3.1 Quy hoạch sử dụng đất cả nước 28

1.3.2 Quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh 28

1.3.3 Quy hoạch sử dụng đất cấp huyện 28

1.3.4 Quy hoạch sử dụng đất cấp xã 29

1.3.5 Công tác lập kế hoạch sử dụng đất 29

Trang 5

1.4 Đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai theo quy định

của pháp luật đất đai 30

1.5 Thực tiễn công tác quy hoạch sử dụng đất tại Đại học Thái Nguyên 32

1.5.1 Quy hoạch tổng thể Đại học Thái Nguyên 32

1.5.2 Quy hoạch chi tiết ở các đơn vị 36

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 38

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 38

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 39

2.3 Nội dung nghiên cứu của đề tài 40

2.4 Phương pháp nghiên cứu 41

2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu 41

2.4.2 Phương pháp kế thừa và chọn lọc tài liệu 41

2.4.3 Phương pháp thống kê, so sánh 42

2.4.4 Phương pháp phân tích tổng hợp 42

2.4.5 Phương pháp minh hoạ bằng bản đồ 42

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 43

3.1 Khái quát về vị trí vị thế Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện quy hoạch sử dụng đất tại Đại học Thái Nguyên 43

3.1.1 Khái quát vị trí, vị thế của Đại học Thái Nguyên trong mối quy hoạch chung của khu vực 43

3.1.2 Khái quát về điều kiện tự nhiên 44

3.1.3 Khái quát về điều kiện kinh tế xã hội tác động đến các yếu tố phát triển của Đại học Thái Nguyên 46

3.2 Đặc điểm hiện trạng khu đất quy hoạch chi tiết Đại học Thái Nguyên 47

3.2.1 Hiện trạng sử dụng đất 47

3.2.2 Hiện trạng hạ tầng kỹ thuật: 49

3.3 Đánh giá việc thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất tổng thể xây dựng Đại học Thái Nguyên 53

3.3.1 Đánh giá việc thực hiện phương án Quy hoạch sử dụng đất tổng thể và đầu tư bước I xây dựng Đại học Thái Nguyên 53

3.3.2 Đánh giá việc thực hiện phương án điều chỉnh quy hoạch tổng thể Đại học Thái Nguyên và đầu tư bước II, giai đoạn 2006-2015 63

Trang 6

3.3.3 Đánh giá phương án thu hồi, bồi thường, hố trợ, tái định trong công tác

GPMB cho cả hai giai đoạn của dự án xây dựng Đại học Thái Nguyên 73

3.3.4 Đánh giá kết quả thực hiện công tác GPMB dự án xây dựng Đại học Thái Nguyên cho hai giai đoạn bằng phương pháp điều tra 75

3.4 Đánh giá thuận lợi, khó khăn và đề xuất các giải pháp nâng cao tính khả thi của phương án quy hoạch tổng thể Đại học Thái Nguyên 77

3.4.1 Thuận lợi 77

3.4.2 Khó khăn 78

3.4.3 Đề xuất các giải pháp nhằm mục đích nâng cao tính khả thi của phương án quy hoạch sử dụng đất 81

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 85

1.Kết luận 85

2.Kiến nghị 86

TÀI LIỆU THAM KHẢO 100

PHỤ LỤC 2 112

PHIẾU ĐIỀU TRA HỘ GIA ĐÌNH 112

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BGD&ĐT : Bộ giáo dục và Đào tạo

CNH - HĐH : Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá

ĐHKT&QTKD : Đại học Kinh tế và quản trị Kinh doanh ĐHKTCN : Đại học kỹ thuật Công nghiệp

ĐHCNTT&TT : Đại học công nghệ thông tin và truyền thông TTGDQP : Trung tâm Giáo dục Quốc phòng

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1: Tình hình đất đai theo quy hoạch tại QĐ 821/QĐ-UBND năm 2009 36

Bảng 1.2: Tình hình quy hoạch chi tiết ở các đơn vị 37

Bảng 3.1 Tổng hợp hiện trạng sử dụng đất tại Đại học Thái Nguyên 48

Bảng 3.2 Kết quả thu hồi, bồi thường các loại đất 57

Bảng 3.3 Kết quả thực hiện về hình thức bồi thường GPMB 58

Bảng 3.4 Kinh phí bồi thường thực hiện GPMB 58

Bảng 3.5 Chính sách hỗ trợ của Nhà nước 59

Bảng 3.6 Kết quả các hộ đã nhận và chưa nhân tái định cư 60

Bảng 3.7 Tổng hợp các trường hợp đền bù GPMB trong dự án 61

xây dựng Đại học Thái Nguyên 61

Bảng 3.8 Kết quả di chuyển các hộ trong khu vực đền bù GPMB dự án 62

Xây dựng Đại học Thái Nguyên 62

Bảng 3.9 Tổng hợp các trường hợp chậm bàn giao mặt bằng 63

Bảng 3.10 Kết quả thu hồi, bồi thường các loại đất 67

Bảng 3.11 Kết quả thực hiện về hình thức bồi thường GPMB 68

Bảng 3.12 Kinh phí bồi thường thực hiện GPMB 68

Bảng 3.13 Chính sách hỗ trợ của Nhà nước 69

Bảng 3.14 Kết quả các hộ đã nhận và chưa nhận tái định cư 70

Bảng 3.15 Tổng hợp các trường hợp đền bù GPMB trong dự án 71

xây dựng Đại học Thái Nguyên 71

Bảng 3.16 Kết quả di chuyển các hộ trong khu vực đền bù GPMB 71

Bảng 3.17 Tổng hợp các trường hợp chậm bàn giao mặt bằng 72

Bảng 3.18 Bảng tổng hợp lấy ý kiến cán bộ thực hiện GPMB về 75

các nguyên nhân gây chậm tiến độ thực hiện GPMB 75

Bảng 3.19 Kết quả điều tra tình hình việc làm của những người 76

trong độ tuổi lao động của dự án GPMB Đại học Thái Nguyên 76

Bảng 3.20 Kết quả điều tra đánh giá của người dân về công tác GPMB 76

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong số những điều kiện vật chất cần thiết cho các hoạt động sản xuất và đời sống của con người, thì đất đai đóng một vai trò rất quan trọng, là điều kiện đầu tiên và là nền tảng tự nhiên của bất kì quá trình sản xuất nào Đất đai được coi

là nguồn tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế được; là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu vực dân cư, xây dựng các công trình kinh tế - xã hội và an ninh - quốc phòng Xã hội chúng ta ngày càng phát triển lên mức cao hơn và ngày càng hoàn thiện hơn, cùng với sự phát triển đó thì dân số ngày một tăng lên dẫn đến nhu cầu sử dụng đất để sản xuất ra lương thực, thực phẩm xây dựng các công trình văn hóa phúc lợi ngày càng lớn Nhưng đất đai lại là nguồn tài nguyên có hạn, có vị trí cố định trong không gian không thể di chuyển theo ý muốn chủ quan của con người Vì vậy muốn đáp ứng được đầy đủ các nhu cầu của con người mà vẫn đảm bảo được môi trường sống, đòi hỏi việc sử dụng đất phải có quy hoạch,

kế hoạch nhằm sử dụng đất một cách đầy đủ, hợp lý, tiết kiệm

Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành năm 1992, Tại

chương 2, điều 17 quy định: ‘‘Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý” Tại điều 18 quy định: ‘‘Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch và pháp luật, đảm bảo việc sử dụng đất đúng mục đích và có hiệu quả”[24]

Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất có ý nghĩa đặc biệt quan trọng không chỉ cho trước mắt mà cả lâu dài, việc thực hiện đúng phương án quy hoạch đóng vai trò quyết định tính khả thi và hiệu quả của phương án quy hoạch sử dụng đất Quản lý thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai phải phù hợp với yêu cầu thực tế phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương Việc sử dụng đất phải triệt để, tiết kiệm, tránh lãng phí quỹ đất, phân bổ quỹ đất cho nhu cầu sử dụng đất khác nhau của nền kinh tế, đặc biệt ưu tiên đất đai cho nhiệm vụ đổi mới và phát triển của nước ta hiện nay

Đại học Thái Nguyên được thành lập theo Nghị định 31/CP ngày 04 tháng 4 năm 1994 của Chính phủ trên cơ sở tổ chức, sắp xếp lại các trường đại học trên địa

Trang 10

bàn tỉnh Thái Nguyên Đại học Thái Nguyên là trung tâm đào tạo nguồn nhân lực cho các tỉnh, các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề trên địa bàn, đồng thời thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, góp phần quan trọng trong việc phát triển kinh tế - xã hội của vùng trung du, miền núi Bắc Bộ

Trên cơ sở quy hoạch chung của Thành phố Thái Nguyên đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại quyết định số 278/2005/QĐ-TTg ngày 02/11/2005 xác định rõ: Đại hoc Thái Nguyên giữ nguyên quỹ đất theo quy hoạch là 300ha (theo quyết định 600/TTg) được phê duyệt và bổ sung thêm các cơ sở ngoài quy hoạch chung được phê duyệt gồm: Trường Đại học Y khoa; Trường Cao đẳng kinh tế kỹ thuật; trường Đại học kỹ thuật công nghiệp với diện tích 360ha Sau đó Đại học Thái Nguyên đã tiến hành điều chỉnh quy hoạch tổng thể, được UBND tỉnh Thái Nguyên phê duyệt tại quyết định số: 821/QĐ-UBND ngày 21/4/2009 với tổng dện tích 436,50ha trải rộng trên 5 khu, thuộc 6 xã, phường của Thành phố Thái Nguyên Tuy nhiên trong quá trình thực hiện dự án quy hoạch tổng thể Đại học Thái Nguyên còn gặp nhiều những vướng mắc và khó khăn, xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau

Trong thời gian công tác tại Đại học Thái Nguyên, tôi đã được tiếp xúc và nghiên cứu thông qua tài liệu, báo cáo kết quả về công tác quy hoạch, giải phóng mặt bằng của đơn vị và thấy được tầm quan trọng cũng như ý nghĩa của công tác này tại thời điểm hiện nay đối với sự phát triển kinh tế, xã hội của địa phương Do vậy, được

sự đồng ý của Ban Giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Sau đại học Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên và sự hướng dẫn tận tình của GS.TS Đặng Văn Minh,

tôi chọn đề tài: “Đánh giá việc thực hiện quy hoạch sử dụng đất tại Đai học Thái Nguyên đến năm 2015’’

Trang 11

2 Mục tiêu đề tài

2.1 Mục tiêu tổng quát của đề tài

Đánh giá việc thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất tại Đại học Thái Nguyên đến năm 2015; tìm ra những yếu tố tích cực, những hạn chế bất cập trong quá trình tổ chức thực hiện phương án quy hoạch, trên cơ sở đề xuất những biện pháp tổ chức thực hiện quy hoạch

2.2 Mục tiêu cụ thể của đề tài

- Đánh giá việc thực hiện phương án quy hoạch tổng thể và đầu tư bước I Đại học Thái Nguyên (giai đoạn 1997-2006) và phương án điều chỉnh quy hoạch tổng thể Đại học Thái Nguyên và đầu tư bước II (giai đoạn 2006-2015)

- Xác định những yếu tố tích cực, những hạn chế bất cập trong quá trình tổ

chức thực hiện các phương án quy hoạch trong 2 giai đoạn

- Đề xuất các giải pháp nhằm tổ chức thực hiện có hiệu quả phương án quy hoạch sử dụng đất tại Đại học Thái Nguyên, đảm bảo hài hòa giữa các mục tiêu ngắn hạn và dài hạn, phù hợp với chiến lược phát triển của Đại học Thái Nguyên và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Thái Nguyên

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

- Đóng góp cơ sở khoa học cho các cơ quan ban ngành của tỉnh Thái Nguyên

và của Đại học Thái Nguyên trong quá trình nghiên cứu xây dựng phương án quy hoạch sử dụng đất trong giai đoạn tiếp theo

Trang 12

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài

1.1.1 Cơ sở lý luận của đề tài

Bất kể một việc gì khi làm cũng cần tổng kết, đánh giá việc đó ở giai đoạn trước hoặc những việc tương tự đã làm trước đây để rút kinh nghiệm Trong quản lí đất đai cũng vậy, khi lập quy hoạch sử dụng đất phải đánh giá việc quản lí và thực hiện quy hoạch ở giai đoạn trước Hơn nữa, quy hoạch sử dụng đất là việc sắp xếp, phân bổ đất đai cho tương lai nên khó có thể thực hiện được đúng tất cả theo quy hoạch đã đặt ra Vì vậy, đánh giá công tác quản lí và thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất là việc làm cần thiết ở tất cả các địa phương

1.1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài

Đại học Thái Nguyên được thành lập theo Nghị định 31/CP ngày 04 tháng 04 năm 1994 của chính phủ Theo Nghị định này, Đại học Thái Nguyên là một trung tâm đào tạo và nghiên cứu khoa học khu vực đa ngành, có nhiệm vụ đào tạo cán bộ các ngành khoa học và công nghệ có trình độ đại học, sau đại học và các cấp học thấp hơn; Nghiên cứu khoa học và công nghệ gắn với giảng dạy, đào tạo…và triển khai các kết quả nghiên cứu vào sản xuất và đời sống Việc thành lập Đại học Thái Nguyên là sự triển khai tư tưởng chỉ đạo của Đảng được thể hiện qua Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VIII, đó là xây dựng các trung tâm đào tạo lớn chất lượng cao của các khu vực [22]

Cũng theo Nghị định này, giao cho Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Chủ nhiệm ủy ban kế hoạch Nhà nước (nay là Bộ Kế hoạch và Đầu tư), Bộ trưởng Bộ xây dựng, Bộ tài chính và chủ tịch UBND tỉnh Bắc Thái (nay là tỉnh Thái Nguyên) lập luận chứng kinh tế kĩ thuật trình Chính phủ về việc cải tạo các cơ sở cũ

và xây dựng các cơ sở mới cho Đại học Thái Nguyên [22]

* Ngày 01 tháng 7 năm 2004 Bộ Chính trị đã có Nghị quyết số 37/NQ-TW

về phương hướng phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo quốc phòng, an ninh vùng trung du và miền núi Bắc Bộ đến năm 2010

Trang 13

- Nghị quyết chỉ rõ “đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất và năng lực đào tạo cho một số trường Đại học trong vùng theo đa ngành như trường Đại học Tây Bắc, Đại học Thái Nguyên, trường Đại học Hùng Vương (Phú Thọ)” và “Xây dựng trung tâm nghiên cứu khoa học - công nghệ tại các trường Đại học của vùng” Những chủ trương này là yếu tố quan trọng để góp phần tích cực vào việc phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh, lâu dài của đất nước

- Xây dựng và phát triển vùng trung du, miền núi Bắc Bộ vừa là yêu cầu, vừa

là nguyện vọng của đồng bào các dân tộc, vừa là nhiệm vụ cực kì quan trọng trong xây dựng và bảo vệ tổ quốc Do đó Nghị quyết chỉ rõ: “ Xây dựng chương trình dự

án, các chính sách cụ thể nhằm thực hiện và hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ Nghị quyết đã đề ra”[22]

* Ngày 06 tháng 9 năm 2004, Chính phủ đã có văn bản số1269/CP-KG đồng

ý cho Bộ Giáo dục và Đào tạo xây dựng một số trường đại học trọng điểm, trong đó

có Đại học Thái Nguyên Đây là chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước về xây dựng và phát triển Đại học Thái Nguyên - Đại học khu vực đa lĩnh vực của vùng trung du, miền núi phía Bắc Việt Nam [22]

* Định hướng phát triển kinh tế - xã hội của Đảng ta trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội đến năm 2010 là; Phấn đấu tăng trưởng kinh tế với nhịp độ cao hơn, có chất lượng cao hơn, bền vững hơn và gắn kết với phát triển con người, chỉ

số phát triển con người so với quốc tế phải nâng lên đáng kể, tỉ lệ người lao động được đào tạo khoảng 40% Định hướng này đòi hỏi phải phát triển một nền giáo dục đại học ngang tầm và đáp ứng thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước [22]

* Chiến lược phát triển giáo dục đến năm 2020 của Chính phủ chỉ rõ: Tạo bước chuyển cơ bản về chất lượng giáo dục theo hướng tiếp cận với trình độ tiên tiến của thế giới, phù hợp với thực tiễn Việt Nam… Ưu tiên nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực, đặc biệt chú trọng nhân lực khoa học công nghệ trình độ cao, cán

bộ quản lí, kinh doanh giỏi và công nhân kĩ thuật lành nghề trực tiếp góp phần nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế [22]

Để thực hiện được tư tưởng chỉ đạo, mục tiêu phát triển giáo dục, cần có những giải pháp đồng bộ mà trong đó tăng cường nguồn lực, cơ sở vật chất kĩ thuật,

Trang 14

phát triển đội ngũ, hoàn chỉnh hệ thống giáo dục quốc dân…là những giải pháp hết sức quan trọng

* Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP ngày 02 tháng 11 năm 2005 của Chính phủ

về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2001-2010 (Quyết định số 47/2000/QĐ-TTg ngày 24/4/2001) Đây là căn cứ trực tiếp quan trọng để xây dựng và phát triển Đại học Thái Nguyên thành Đại học trọng điểm của quốc gia, trung tâm đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ của khu vực trung du, miền núi Bắc Bộ Việt Nam

Từ những bối cảnh chung về mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, chiến lược phát triển giáo dục, quy hoạch mạng lưới các trường đại học, cao đảng và mục tiêu phát triển giáo dục đại học đến năm 2020 có thể thấy vấn đề giáo dục - đào tạo nói chung và việc xây dựng các trường đại học trọng điểm, trong đó có Đại học Thái Nguyên nói riêng là một trong những nhiệm vụ chiến lược mà Đảng và Nhà nước

đã xác định trong những thập niên đầu thế kỉ XXI [22]

1.1.2.1 Thực trạng cơ cấu tổ chức của Đại học Thái Nguyên

Sứ mạng của Đại học Thái Nguyên là: Đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao; nghiên cứu, triển khai khoa học công nghệ và quản lý; tham gia thẩm định và

đề xuất các giải pháp, chính sách phát triển phục vụ cho công cuộc phát triển kinh tế-xã hội bền vững của vùng, đưa vùng miền núi tiến kịp với tiến trình phát triển chung của đất nước theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, vì mục tiêu: “ Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ, văn minh” [22]

Khi thành lập năm 1994, Đại học Thái Nguyên có 4 trường đại học (trường Đại học Sư phạm, trường Đại học Nông Lâm, trường Đại học Kỹ thuật công nghiệp, trường Đại học Y khoa) và trường Công nhân kỹ thuật, đào tạo 25 ngành đại học, 8 chuyên ngành cao học, 2 chuyên ngành tiến sĩ và một số ngành đào tạo công nhân kỹ thuật

Hiện nay, Đại học Thái Nguyên có 7 trường đại học thành viên, 1 trường cao đẳng, 2 khoa trực thuộc và 1 trung tâm Giáo dục quốc phòng (gọi chung là các đơn

vị trực thuộc) Các đơn vị đó là:

1 Trường Đại học Sư phạm (trường ĐHSP)

2 Trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp (trường ĐHKTCN)

Trang 15

3 Trường Đại học Nông lâm (trường ĐHNL)

4 Trường Đại học Y khoa (trường ĐHYK)

5 Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh (trường ĐHKT&QTKD)

6 Trường Đại học Công nghệ thông tin (trường ĐHCNTT)

7 Trường Đại học Khoa học tự nhiên (trường ĐHKHTN)

8 Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật (trường CĐKT-KT)

10 Khoa Ngoại ngữ (khoa NN)

11 Khoa Quốc tế (khoa QT)

12 Trung tâm Giáo dục quốc phòng (trung tâm GDQP) [24]

1.1.2.2 Vai trò của Đại học Thái Nguyên

Đại học Thái Nguyên đóng tại thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên Thái Nguyên là Thủ phủ của Khu tự trị Việt Bắc trước đây, ngày nay là một trong các trung tâm chính trị - kinh tế, đào tạo, khoa học của vùng, là đầu mối giao lưu giữa các tỉnh đồng bằng với các tỉnh miền núi phía Bắc

Trong những năm qua, các trường thành viên của Đại học Thái Nguyên đã đào tạo được hàng trăm ngàn kỹ sư cung cấp cho vùng Chỉ tính riêng từ năm 1995 đến nay, Đại học Thái Nguyên đã cung cấp cho Vùng 36.037 cử nhân, kỹ sư, công nhân lành nghề và 879 cán bộ có trình độ cao học (thạc sĩ, tiến sĩ), chiếm trên 50% lực lượng lao động được đào tạo của vùng Đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật này

đã đóng góp quan trọng cho sự phát triển kinh tế - xã hội của vùng Nhiều đồng chí

đã trưởng thành và giữ các cương vị lãnh đạo từ tỉnh đến Trung ương Địa bàn tuyển sinh của Đại học Thái Nguyên là vùng trung du và miền núi Bắc Bộ Sinh viên của Đại học Thái Nguyên là con em của 44 dân tộc sinh sống ở vùng này; tỷ lệ sinh viên các dân tộc thiểu số chiếm gần 40%.[22]

1.1.2.3 Thực trạng Cơ sở vật chất nguồn tài chính của Đại học Thái Nguyên

- Nguồn đầu tư cơ sở vật chất của Đại học Thái Nguyên trong những năm qua

từ nhiều nguồn kinh phí khác nhau: vốn ngân sách, vốn vay, viện trợ, tự cân đối

- Việc đầu tư của Nhà nước còn ít và chưa tương xứng với vị trí, vai trò của Đại học cũng như quy mô đào tạo, do đó các trường còn thiếu phòng học, thư viện,

ký túc xá; trang thiết bị kỹ thuật còn thiếu, chưa đồng bộ và còn lạc hậu; chỗ ở của

Trang 16

học sinh, sinh viên chỉ đáp ứng được trên 10% so với tổng số sinh viên có nhu cầu ở nội trú Chính phủ đã có quyết định số 600/TTg ngày 01/8/1997 về việc phê duyệt quy hoạch tổng thể và đầu tư bước 1 cho Đại học Thái nguyên, nhưng việc đầu tư kinh phí để thực hiện dự án còn chậm, việc giải phóng mặt bằng để xây dựng theo quy hoạch chưa thực hiện được vì nguồn kinh phí còn hạn hẹp Dự án bước 1 theo Quyết định thực hiện từ năm 1997 đến năm 2000, nhưng mãi đến năm 2005 mới cấp hết vốn theo quy định Do vậy, đầu tư xây dựng cơ bản bình quân chưa đạt 1 tỷ đồng cho 1 trường thành viên trong 1 năm Nguồn kinh phí đầu tư xây dựng cơ bản được cấp trong những năm qua Đại học Thái Nguyên chỉ xây dựng mới 227.024m2 sàn, cải tạo 7.311m2 sàn và giải phóng mặt bằng được 32,12ha đất, do vậy ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của Đại học [21]

- Đại học Thái Nguyên là cơ sở đào tạo trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguồn tài chính được cung cấp từ ngân sách Nhà nước, từ dự án, học phí…Nguồn ngân sách Nhà nước chi thường xuyên hàng năm được Bộ Giáo dục và Đào tạo cấp theo kế hoạch chỉ tiêu đào tạo

Đại học Thái Nguyên là đơn vị dự toán cấp 2, các trường và đơn vị trực thuộc Đại học Thái Nguyên là đơn vị dự toán cấp 3 Đại học, các trường, đơn vị đã phát huy tính tự chủ, tích cực và hiệu quả cao trong quản lý, sử dụng tài chính; phục vụ ngày càng tốt hơn nhiệm vụ chính trị của đơn vị Hiện nay, Đại học đã và đang triển khai Nghị định số 10-NĐ/CP của Chính phủ về tự chủ tài chính trong các đơn vị sự nghiệp có thu để tạo ra sự chủ động, tự chủ trong quản lý và sử dụng tài chính

Tuy nhiên, trong những năm qua, ngân sách Nhà nước cấp còn ở mức hạn hẹp so với nhu cầu, chưa tương xứng với quy mô đào tạo và sự phát triển của Đại học Thái Nguyên

Trong xây dựng cơ bản, đầu tư trong những năm qua cũng còn thấp, tính bình quân cho mỗi trường thành viên của Đại học chỉ tương đương hoặc thấp hơn các trường đại học độc lập khác có cùng quy mô

Nguồn thu học phí thấp do học sinh, sinh viên thuộc khu vực miền núi, thuộc diện chính sách được miễn giảm học phí chiếm tỉ lệ cao

Trang 17

Nguồn thu từ hợp tác quốc tế trong những năm qua có tăng nhưng không nhiều, bước đầu tập trung tăng cường cho một số dự án về cơ sở vật chất, bồi dưỡng nâng cao năng lực cán bộ [22]

1.1.3 Cơ sở pháp lí của đề tài

Để đánh giá việc thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất tại Đại học Thái Nguyên đến năm 2015 cần phải dựa vào các văn bản quy phạm pháp luật sau:

1.1.3.1 Nhóm các văn bản của trung ương

- Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, Điều 17,18

- Nghị định 31/CP ngày 04 tháng 4 năm 1994 của Thủ tướng Chính phủ về thành lập Đại học Thái Nguyên

- Quyết định số 658/TTg ngày 16 tháng 10 năm 1995 của Thủ tướng Chính phủ về địa điểm quy hoạch xây dựng Đại học Thái Nguyên

- Quyết định số 600/TTg ngày 01 tháng 8 năm 1997 của Thủ tướng Chính phủ về việc quy hoạch tổng thể và đầu tư bước I - Đại học Thái Nguyên

- Luật sửa đổi và bổ sung một số điều của luật đất đai năm 1998 và 2001

- Nghị định số 04/2000/NĐ-CP ngày 11 tháng 02 năm 2000 của Chính phủ

về thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đất đai 1993

- Luật Đất đai ngày 26 tháng 11 năm 2003

- Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ

về thi hành Luật Đất đai 2003

- Quyết định số 278/2005/QĐ-TTg ngày 02 tháng 11 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt điều chỉnh quy hoạch chung xây dựng chung Thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đến năm 2020

- Công văn số 479/VPCP-CN ngày 26 tháng 01 năm 2005 của văn phòng Chính phủ về việc quy hoạch các cơ sở đại học và chuyên nghiệp thuộc Đại học Thái Nguyên tại thành phố Thái Nguyên

- Quyết định số 6053/QĐ-BGD&ĐT ngày 27 tháng 10 năm 2005 của Bộ trưởng Bộ giáo dục và đào tạo về việc phê duyệt điều chỉnh dự án nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng Trung tâm quốc phòng Thái Nguyên - Đại học Thái Nguyên

Trang 18

- Quyết định số 10/2005/QĐ-BTNMT ngày 24 tháng 10 năm 2005 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành định mức kinh tế, kỹ thuật lập và điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

- Thông tư số 30/2004/TT-BTNMT ngày 01 tháng 11 năm 2004 về việc hướng dẫn lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

- Thông tư số 04/2006/TT-BTNMT ngày 22 tháng 5 năm 2006 của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn phương pháp tính đơn giá dự toán, xây dựng dự toán kinh phí thực hiện lập và điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

- Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai

- Quyết định 2788/QĐ-BGD&ĐT ngày 30 tháng 5 năm 2007 về việc phê duyệt dự án bước II - Giai đoạn 2008-2011

- Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 8 năm 2009 của Chính phủ quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ

và tái định cư

- Thông tư số 14/2009/TT-BTNMT ngày 01 tháng 10 năm 2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và trình

tự, thủ tục thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất

- Thông tư số 19/2009/TT-BTNMT ngày 02 tháng 11 năm 2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định việc lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

- Luật Đất đai ngày 29 tháng 11 năm 2013

- Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 05 năm 2014 của Chính phủ

về thi hành Luật Đất đai 2013

- Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 05 năm 2014 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

Trang 19

1.1.3.2 Nhóm các văn bản của địa phương tỉnh Thái Nguyên

- Quyết định số 4059/QĐ-UB ngày 30 tháng 12 năm 2002 của UBND tỉnh Thái Nguyên về việc phê duyệt quy hoạch chi tiết sử dụng đất và quy hoạch chia lô đợt 1 Đại học Thái Nguyên

- Quyết định số 2904/QĐ-UB ngày 25 tháng 12 năm 2006 của UBND tỉnh Thái Nguyên về việc phê duyệt quy hoạch chi tiết xây dựng trường Đại học kỹ thuật công nghiệp - Đại học Thái Nguyên

- Quyết định số 3366/QĐ-UB ngày 31 tháng 12 năm 2004 của UBND tỉnh Thái Nguyên về việc phê duyệt quy hoạch chi tiết xây dựng trường Đại học sư phạm - Đại học Thái Nguyên

- Quyết định số 04/QĐ-UBND ngày 06 tháng 01 năm 2012 của UBND tỉnh Thái Nguyên về việc phê duyệt quy hoạch chi tiết xây dựng trường Đại học Kinh tế

và quản trị kinh doanh - Đại học Thái Nguyên

- Quyết định số 2147/QĐ-UBND ngày 24 tháng 9 năm 2012 của UBND tỉnh Thái Nguyên về việc phê duyệt quy hoạch chi tiết Khoa Công nghệ thông tin - Đại học Thái Nguyên

- Quyết định số 2977/QĐ-UBND, ngày 24 tháng 11 năm 2011 của UBND tỉnh Thái Nguyên về việc phê duyệt quy hoạch chi tiết Khoa Khoa học tự nhiên và

xã hội - Đại học Thái Nguyên

- Quyết định số 1873/QĐ-UB ngày 11 tháng 8 năm 2004 của UBND tỉnh Thái Nguyên về việc phê duyệt quy hoạch chi tiết tổng mặt bằng xây dựng Trường Đại học Y khoa - Đại học Thái Nguyên

- Quyết định số 2841/QĐ-UBND ngày 23 tháng 11 năm 2012 của UBND tỉnh Thái Nguyên về việc phê duyệt chi tiết trường Đại học Y Dược cơ sở 2-Đại học Thái Nguyên

- Quyết Định số 2583/QĐ-UBND ngày 12 tháng 11 năm 2014 của UBND tỉnh Thái Nguyên về việc phê duyệt quy hoạch chi tiết Khoa Ngoại Ngữ - Đại học Thái Nguyên

- Quyết định số 912/QĐ-UB ngày 29 tháng 4 năm 2008 của UBND tỉnh Thái Nguyên về việc phê duyệt quy hoạch chi tiết xây dựng Trường Cao đẳng Kinh tế kỹ thuật - Đại học Thái Nguyên

Trang 20

- Quyết định số 45/QĐ-UB ngày 10 tháng 01 năm 2008 của UBND tỉnh Thái Nguyên về việc phê duyệt nhiệm vụ điều chỉnh quy hoạch chung Đại học Thái Nguyên

- Quyết định số 821/QĐ-UB ngày 21 tháng 4 năm 2009 về việc phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch tổng thể xây dựng Đại học Thái Nguyên

- Quyết định số 18/2008/QĐ-UBND ngày 11 tháng 4 năm 2008 về việc ban hành đơn giá bồi thường cây cối hoa mầu gắn liền với đất khi Nhà nước thu đất trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên

- Quyết định số 3033/2007/QĐ-UBND ngày 27 tháng 12 năm 2007 của UBND tỉnh Thái Nguyên về việc phê duyệt giá các loại đất trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên năm 2008

- Quyết định số 72/2008/QĐ-UBND ngày 29 tháng 12 năm 2008 của UBND tỉnh Thái Nguyên về việc phê duyệt giá các loại đất trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên năm 2009

- Quyết định số 37/2009/QĐ-UBND ngày 29 tháng 12 năm 2008 của UBND tỉnh Thái Nguyên về việc phê duyệt giá các loại đất trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên năm 2010

- Quyết định số 01/2010/QĐ-UBND ngày 05 tháng 01 năm 2010 của UBND tỉnh Thái Nguyên về việc ban hành quy định thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên

- Quyết định số 31/2014/QĐ-UBND ngày 22 tháng 08 năm 2014 của UBND tỉnh Thái Nguyên về việc ban hành quy định thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên

1.2 Khái quát chung về quy hoạch sử dụng đất

1.2.1 Khái niệm và đặc điểm quy hoạch sử dụng đất

1.2.1.1 Khái niệm về quy hoạch sử dung đất

Hiện nay có rất nhiều ý kiến, định nghĩa, khái niệm khác nhau về quy hoạch

sử dụng đất Mặc dù có rất nhiều cách diễn đạt khác nhau nhưng nhìn chung đều cho rằng quy hoạch sử dụng đất phải đảm bảo sử dụng đất đai hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả và đảm bảo về mặt môi trường

Trang 21

Trước kia QHSDĐĐ được hiểu chỉ là những công việc đơn thuần như: Đo vẽ bản đồ, sắp xếp lại trật tự sử dụng đất Ngày nay, quy hoạch sử dụng đất là một hiện tượng kinh tế - xã hội có tính chất đặc thù Đây là một hoạt động vừa mang tính khoa học, vừa mang tính pháp lý của một hệ thống các biện pháp kỹ thuật, kinh tế,

xã hội được xử lý bằng các phương pháp phân tích tổng hợp về sự phân bố hợp lý của các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, có những đặc trưng của tính phân dị giữa các cấp vùng lãnh thổ theo quan điểm tiếp cận hệ thống để hình thành các phương

án tổ chức lại việc sử dụng đất đai theo pháp luật của Nhà nước Bản thân nó được coi là các giải pháp định vị cụ thể của tổ chức phát triển kinh tế, xã hội trên một vùng lãnh thổ nhất định, cụ thể là đáp ứng nhu cầu mặt bằng sử dụng đất hiện tại và tương lai của các ngành, các lĩnh vực cũng như nhu cầu sinh hoạt của mọi thành viên xã hội một cách tiết kiệm, khoa học, hợp lý và có hiệu quả cao

Quy hoạch sử dụng đất là một hoạt động vừa mang tính kỹ thuật kinh tế, vừa mang tính pháp chế: [26]

- Tính kĩ thuật của quy hoạch sử dụng đất: Đất đai được đo đạc, vẽ thành bản

đồ, tính toán và thống kê diện tích, thiết kế phân chia khoảng thửa để giao cho các mục đích sử dụng khác nhau

- Tính pháp lí của quy hoạch sử dụng đất: Đất đai được Nhà nước giao cho các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng vào các mục đích khác nhau Nhà nước ban hành các văn bản pháp quy để điều chỉnh các mối quan hệ đất đai Các đối tượng sử dụng đất có nghĩa vụ chấp hành nghiêm chỉnh các chủ trương chính sách

về đất đai của Nhà nước Khi giao đất cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cần xác định rõ mục đích của việc sử dụng Đây là biện pháp quan trọng nhất nhằm khai thác một cách triệt để và có hiệu quả cao tiềm năng đất Ở đây thể hiện rõ tính kinh

tế của quy hoạch sử dụng đất Song điều đó chỉ thực hiện được khi tiến hành đồng

bộ cùng với các biện pháp kỹ thuật và pháp chế

Từ đó, có thể đưa ra khái niệm về quy hoạch sử dụng đất như sau:

Quy hoạch sử dụng đất là một hệ thống các biện pháp kinh tế, kỹ thuật và pháp chế của Nhà nước về tổ chức sử dụng đất đầy đủ, hợp lý, khoa học và có hiệu quả cao thông qua việc phân phối và tái phân phối quỹ đất của Nhà nước, tổ chức sử dụng đất

Trang 22

như một tư liệu sản xuất cùng với các tư liệu sản xuất khác gắn liền với đất nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất xã hội, tạo điều kiện bảo vệ đất và bảo vệ môi trường

- Tính đầy đủ: mọi loại đất được đưa vào sử dụng theo các mục đích nhất định

- Tính hợp lý: đặc điểm tính chất tự nhiên, vị trí diện tích phù hợp với yêu cầu và mục đích sử dụng

- Tính khoa học: áp dụng các thành tựu khoa học, kỹ thuật và các biện pháp tiên tiến

- Tính hiệu quả: đáp ứng được đồng bộ cả 3 lợi ích về kinh tế - xã hội - môi trường Như vậy, về thực chất quy hoạch sử dụng đất là một quá trình hình thành các quyết định nhằm tạo điều kiện đưa đất đai vào sử dụng để mang lại lợi ích cao nhất, thực hiện đồng thời 2 chức năng: điều chỉnh các mối quan hệ đất đai và tổ chức sử dụng đất như tư liệu sản xuất đặc biệt với mục đích nâng cao hiệu quả sản xuất của

xã hội kết hợp bảo vệ đất và môi trường [26]

1.2.1.2 Đặc điểm của quy hoạch sử dụng đất

Quy hoạch sử dụng đất là một hiện tượng kinh tế xã hội đặc thù có tính khống chế vĩ mô, tính chỉ đạo, tính tổng hợp trung và dài hạn, là bộ phận hợp thành quan trọng của hệ thống kế hoạch phát triển xã hội và kinh tế quốc dân Các đặc điểm của quy hoạch sử dụng đất được thể hiện như sau:

* Tính tổng hợp:

- Đối tượng nghiên cứu của quy hoạch sử dụng đất là khai thác, sử dụng, cải tạo và bảo vệ toàn bộ tài nguyên đất cho nhu cầu của nền kinh tế quốc dân Quy hoạch sử dụng đất đề cập đến hai nhóm đất chính là đất nông nghiệp và đất phi nông nghiệp

- Quy hoạch sử dụng đất đề cập đến nhiều lĩnh vực khoa học như khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, kinh tế, dân số, sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, môi trường sinh thái… Với đặc điểm này, quy hoạch sử dụng đất nhận trách nhiệm tổng hợp toàn bộ nhu cầu sử dụng đất, điều hoà các mâu thuẫn về đất đai của các ngành, các lĩnh vực Xác định và điều phối phương hướng, phương thức phân bố sử dụng đất phù hợp với mục tiêu kinh tế - xã hội, đảm bảo cho nền kinh tế quốc dân phát triển ổn định, bền vững và đạt độ tăng trưởng cao

Trang 23

* Tính dài hạn:

- Căn cứ vào các dự báo xu thế biến động dài hạn của những yếu tố kinh tế,

xã hội quan trọng như: sự thay đổi về dân số, tiến bộ kỹ thuật, đô thị hoá, công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, từ đó xây dựng các kế hoạch trung và dài hạn

về tổ chức sử dụng đất đai, đề ra các phương hướng, chính sách và biện pháp có tính chiến lược, tạo căn cứ khoa học cho việc xây dựng kế hoạch sử dụng đất 5 năm

và hàng năm

- Quy hoạch dài hạn nhằm đáp ứng nhu cầu về đất để phát triển kinh tế, xã hội lâu dài cơ cấu và phương thức sử dụng đất được điều chỉnh từng bước cho đến khi đạt được mục tiêu dự kiến Thời hạn của quy hoạch sử dụng đất được quy định là 10 năm

* Tính chiến lược và chỉ đạo vĩ mô:

Với đặc tính trung và dài hạn, quy hoạch sử dụng đất chỉ dự báo được trước các xu thế thay đổi phương hướng, mục tiêu, cơ cấu và phân bố sử dụng đất một cách đại thể chứ không thể dự kiến được các hình thức và nội dung chi tiết, cụ thể của những thay đổi đó Vì vậy, quy hoạch sử dụng đất là quy hoạch mang tính chiến lược, các chỉ tiêu của quy hoạch mang tính chỉ đạo vĩ mô, khái lược sử dụng đất của các ngành như:

- Phương hướng, mục tiêu và trọng điểm chiến lược của việc sử dụng đất trong vùng

- Cân đối tổng quát nhu cầu sử dụng đất của các ngành

- Điều chỉnh cơ cấu sử dụng đất và phân bố đất đai trong vùng

- Phân định ranh giới và các hình thức quản lý việc sử dụng đất trong vùng

- Đề xuất các chính sách, giải pháp để đạt được mục tiêu

- Do khoảng thời gian dự báo tương đối dài, chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố kinh tế, xã hội khó xác định, nên ở tầm vĩ mô, chỉ tiêu quy hoạch càng khái lược hoá thì quy hoạch càng ổn định

Trang 24

bằng đất đai các mục tiêu phát triển nền kinh tế quốc dân, phát triển ổn định kế hoạch kinh tế - xã hội, tuân thủ các quy định, các chỉ tiêu khống chế về dân số, đất đai và môi trường

* Tính khả biến

Do sự tác động của nhiều yếu tố khó dự đoán trước theo nhiều phương diện khác nhau, quy hoạch sử dụng đất chỉ là một trong những giải pháp nhằm biến đổi hiện trạng sử dụng đất sang trạng thái mới thích hợp hơn cho việc phát triển kinh tế trong một giai đoạn nhất định Khi xã hội phát triển, khoa học kỹ thuật ngày càng tiến bộ, chính sách và tình hình kinh tế thay đổi, các dự kiến của quy hoạch sử dụng đất trở nên không còn phù hợp nữa việc chỉnh sửa, bổ sung, hoàn thiện quy hoạch

và điều chỉnh biện pháp thực hiện là cần thiết điều đó thể hiện tính khả biến của quy hoạch Quy hoạch sử dụng đất luôn là quy hoạch tác động, một quá trình lặp đi lặp lại theo chu kỳ: “Quy hoạch - Thực hiện - quy hoạch lại hoặc chỉnh lý - Tiếp tục thực hiện” với chất lượng, mức độ hoàn thiện và tính thích hợp ngày càng cao

* Tính lịch sử xã hội:

Lịch sử phát triển của xã hội chính là lịch sử phát triển của quy hoạch sử

dụng đất đai Mỗi hình thái kinh tế xã hội đều có một phương thức sản xuất xã hội

thể hiện ở 2 mặt: Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất Trong quy hoạch sử dụng đất đai, luôn nảy sinh quan hệ giữa người và đất đai cũng như quan hệ giữa người với người Quy hoạch sử dụng đất đai thể hiện đồng thời là yếu tố thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất, vừa là yếu tố thúc đẩy các mối quan hệ sản xuất, vì vậy nó luôn là một bộ phận của phương thức sản xuất của xã hội Tuy nhiên, trong xã hội

có phân chia giai cấp, quy hoạch sử dụng đất mang tính tự phát, hướng tới mục tiêu

vì lợi nhuận tối đa và nặng về mặt pháp lý (là phương tiện mở rộng, củng cố, bảo

vệ quyền tư hữu đất, phân chia, tập trung đất đai để mua bán, phát canh thu tô…) Ở nước ta, quy hoạch sử dụng đất đai phục vụ nhu cầu của người sử dụng đất và quyền lợi của toàn xã hội, góp phần tích cực thay đổi quan hệ sản xuất ở nông thôn, nhằm sử dụng, bảo vệ đất và nâng cao hiệu quả sản xuất xã hội đặc biệt, trong nền kinh tế thị trường, quy hoạch sử dụng đất góp phần giải quyết các mâu thuẫn nội tại

Trang 25

của từng lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường nảy sinh trong quá trình sử dụng đất

cũng như mâu thuẫn giữa các lợi ích trên với nhau [26]

1.2.2 Tầm quan trọng của quy hoạch sử dụng đất

Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất có ý nghĩa đặc biệt quan trọng không chỉ cho trước mắt mà cho lâu dài Căn cứ vào đặc điểm điều kiện tự nhiên, phương hướng, nhiệm vụ và mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của mỗi vùng lãnh thổ, quy hoạch sử dụng đất đai được tiến hành nhằm định hướng cho các cấp, các ngành trên địa bàn lập quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất đai chi tiết của mình, xác lập sự ổn định về mặt pháp lý cho công tác quản lý nhà nước về đất đai, làm cơ sở để tiến hành giao đất và đầu tư để phát triển sản xuất, đảm bảo an ninh lương thực, phục vụ các nhu cầu dân sinh, văn hoá - xã hội Mặt khác, quy hoạch sử dụng đất còn là biện pháp hữu hiệu của Nhà nước nhằm tổ chức lại việc sử dụng đất đai đúng mục đích, hạn chế

sự chồng chéo gây lãng phí đất đai, tránh tình trạng chuyển mục đích tuỳ tiện, làm giảm sút nghiêm trọng quỹ đất nông, lâm nghiệp; Ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực dẫn đến những tổn thất hoặc kìm hãm sản xuất, phát triển kinh tế xã hội và các hậu quả khó lường về tình hình bất ổn chính trị, an ninh quốc phòng ở từng địa phương, đặc biệt là trong giai đoạn chuyển sang nền kinh tế thị trường [23]

1.2.3 Các loại hình quy hoạch sử dụng đất

Có nhiều quan điểm khác nhau về cách phân loại quy hoạch sử dụng đất Tuy nhiên, mọi quan điểm đều dựa trên những căn cứ hoặc cơ sở chung như sau: Nhiệm vụ đặt ra đối với quy hoạch; số lượng và thành phần đối tượng nằm trong

quy hoạch; Phạm vi lãnh thổ quy hoạch (phạm vi lãnh thổ hành chính) cũng như nội

dung và phương pháp quy hoạch Thông thường hệ thống quy hoạch sử dụng đất

được phân loại theo nhiều cấp vị khác nhau (như loại hình, dạng, hình thức quy hoạch ) nhằm giải quyết các nhiệm vụ cụ thể về sử dụng đất đai (như điều chỉnh quan hệ đất đai hay tổ chức sử dụng đất như tư liệu sản xuất) từ tổng thể đến thiết

Trang 26

Mục đích chung của quy hoạch sử dụng đất theo lãnh thổ hành chính bao gồm:

Đáp ứng nhu cầu đất đai (tiết kiệm, khoa học, hợp lý và có hiệu quả) cho hiện tại và

tương lai để phát triển các ngành kinh tế quốc dân: Cụ thể hoá một bước quy hoạch

sử dụng đất của các ngành và đơn vị hành chính cấp cao hơn; Làm căn cứ, cơ sở để

các ngành (cùng cấp) và các đơn vị hành chính cấp dưới triển khai quy hoạch sử dụng

đất của ngành và địa phương mình; Làm cơ sở để lập kế hoạch sử dụng đất 5 năm và

hàng năm (căn cứ để giao cấp đất, thu hồi đất theo thẩm quyền được quy định trong Luật Đất đai); Phục vụ cho công tác thống nhất quản lý Nhà nước về đất đai

Khác với Luật Đất đai năm 1993, Luật Đất đai năm 2003 không quy định cụ

thể quy hoạch sử dụng đất theo các ngành (nông nghiệp, lâm nghiệp, khu dân cư nông thôn, đô thị, chuyên dùng) Quy hoạch sử dụng đất của các ngành này đều nằm

trong quy hoạch sử dụng đất theo lãnh thổ hành chính Riêng quy hoạch sử dụng đất vào mục đích quốc phòng, an ninh được quy định cụ thể tại điều 30:[27]

- Bộ Quốc phòng, Bộ Công an tổ chức thực hiện việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất vào mục đích quốc phòng, an ninh trình Chính phủ xét duyệt

- Chính phủ quy định cụ thể việc lập, xét duyệt, điều chỉnh, thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất vào mục đích quốc phòng, an ninh

Tuy nhiên có thể hiểu mối quan hệ tương đối chặt chẽ giữa quy hoạch sử dụng đất theo lãnh thổ và quy hoạch sử dụng đất theo ngành Trước tiên, Nhà nước căn cứ vào chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của cả nước và hệ thống thông tin

tư liệu về điều kiện đất đai hiện có để xây dựng quy hoạch tổng thể sử dụng các loại đất Các ngành chức năng căn cứ vào quy hoạch tổng thể sử dụng đất đai để xây

Trang 27

dựng quy hoạch sử dụng đất cụ thể cho từng ngành phù hợp với yêu cầu và nội dung sử dụng đất của ngành Như vậy, quy hoạch tổng thể đất đai phải đi trước và

có tính định hướng cho quy hoạch sử dụng đất theo ngành Nói khác đi, quy hoạch ngành là một bộ phận cấu thành trong quy hoạch sử dụng đất theo lãnh thổ

Việc hình thành đồng bộ thị trường bất động sản cùng với các thị trường hàng hoá - dịch vụ, thị trường sức lao động, thị trường vốn đã trở thành một yêu cầu cấp bách, cần thể hiện trong công tác kế hoạch hoá việc sử dụng đất Trong thời

gian gần đây, thị trường bất động sản (đặc biệt là đất đai và nhà ở) rất sôi động, lại mang tính tự phát đã làm nẩy sinh nhiều tiêu cực (mua, bán, đầu cơ, trục lợi đất đai) Để khắc phục những tiêu cực, yếu kém trong quản lý và sử dụng đất cần phải

lập lại trật tự, kỷ cương, tổ chức và quản lý chặt chẽ thị trường bất động sản: Xác định đúng giá trị của từng loại đất, để sử dụng có hiệu quả, duy trì và phát triển quỹ đất, bảo đảm lợi ích của toàn dân; Chăm lo giải quyết nhà ở cho nhân dân, nhất là ở vùng đô thị, phát triển các doanh nghiệp Nhà nước xây dựng và kinh doanh nhà ở, khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia xây dựng và kinh doanh nhà theo sự hướng dẫn và quản lý của Nhà nước

1.2.4 Nguyên tắc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

Điều 21 Luật đất đai 2003 đã quy định việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phải đảm bảo theo các nguyên tắc sau:

1 Phù hợp với chiến lược quy hoạch tổng thể, kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội quốc phòng an ninh

2 Được lập từ tổng thể đến chi tiết; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cấp dưới phải phù hợp với quy hoạch kế hoạch sử dụng đất của cấp trên; kế hoạch

sử dụng đất phải phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, xét duyệt

3 Quy hoạch kế hoạch sử dụng đất của cấp trên phải thể hiện nhu cầu sử dụng đất của cấp dưới

4 Sử dụng đất tiết kiệm và có hiệu quả

5 Khai thác hợp lý tài nguyên thiên nhiên và môi trường

6 Bảo vệ, tôn tạo di tích lịch sử danh lam thắng cảnh

Trang 28

7 Dân chủ và công khai

8 Quy hoạch kế hoạch sử dụng đất của mỗi kỳ phải được quyết định xét duyệt trong năm cuối của kỳ trước đó.”[25]

Theo Đoàn Công Quỳ và cộng sự (2006) [23], các quy luật phát triển kinh tế khách quan của phương thức sản xuất xã hội chủ nghĩa là yếu tố quyết định nội dung và phương pháp quy hoạch sử dụng đất Nói một cách khác, các quy luật đó

đã điều khiển hoạt động của Nhà nước trong lĩnh vực phân phối và sử dụng tài nguyên đất

Quyền sở hữu Nhà nước về đất đai là cơ sở để bố trí hợp lý các ngành, tạo điều kiện chuyên môn hoá sâu các vùng kinh tế và là một trong những điều kiện quan trọng nhất của bước quá độ từ nền kinh tế nghèo nàn lạc hậu lên sản xuất lớn

xã hội chủ nghĩa

Trong quá trình đó quy hoạch sử dụng đất đóng vai trò quan trọng Thông qua quy hoạch, Nhà nước thực hiện chức năng phân phối và tái phân phối quỹ đất nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng đất của các ngành, các đơn vị sử dụng đất Quy hoạch sử dụng đất là công cụ để Nhà nước điều chỉnh các mối quan hệ về đất đai, thiết lập thể chế sử dụng tài nguyên đất, củng cố pháp chế xã hội chủ nghĩa

Những luận điểm cơ bản phản ánh những nét đặc trưng nhất của quy hoạch

sử dụng đất chính là những nguyên tắc cơ bản sau:

* Chấp hành quyền sở hữu Nhà nước về đất đai

Nguyên tắc này là cơ sở của mọi hoạt động và biện pháp có liên quan đến quyền sử dụng đất, là nguyên tắc quan trọng nhất trong hoạt động quy hoạch sử dụng đất Nó không chỉ mang ý nghĩa kinh tế, mà là một vấn đề chính trị quan trọng, bởi vì tài nguyên đất đã được quốc hữu hoá là đối tượng sở hữu Nhà nước, đồng thời là một căn cứ quan trọng để phát triển sức sản xuất, để củng cố và hoàn thiện phương thức sản xuất xã hội chủ nghĩa trong tất cả các ngành, đặc biệt là nông nghiệp

Một trong những nhiệm vụ trọng tâm mà Đảng và Chính phủ đã đặt ra trong đường lối phát triển nông nghiệp là củng cố quan hệ đất đai xã hội chủ nghĩa, bảo

vệ tính bất khả xâm phạm quyền sở hữu Nhà nước về đất đai, chấp hành triệt để quyền sở hữu đất của Nhà nước Luật pháp Nhà nước tuyệt đối nghiêm cấm việc sử

Trang 29

dụng đất không đúng mục đích Luật pháp bảo vệ quyền bất khả xâm phạm quyền

sử dụng đất và tính ổn định của mỗi đơn vị sử dụng đất vì đó là cơ sở quan trọng nhất để phát triển sản xuất

Quy hoạch sử dụng đất còn có vai trò quan trọng trong việc ngăn ngừa các hành vi xâm phạm sự toàn vẹn lãnh thổ của các đơn vị sử dụng đất Khi quy hoạch sử dụng đất, người ta đã lập nên đường ranh giới giữa các đơn vị sử dụng đất, giữa sản xuất nông nghiệp với các khu dân cư, giữa các chủ sử dụng đất với nhau, tức là đã xác định vi quyền lợi của mỗi chủ sử dụng đất Mỗi chủ sử dụng đất chỉ có quyền sử dụng đất chứ không có quyền sở hữu đất Nhà nước cho phép các chủ sử dụng đất có

6 quyền là quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, thế chấp, cho thuê quyền sử dụng đất và quyền góp vốn đầu tư Quyền sử dụng đất của các chủ đất được xác nhận bằng các văn bản pháp luật và được Nhà nước bảo hộ Mọi thay đổi trong cơ cấu đơn

vị sử dụng đất phải được phản ánh kịp thời trong các tài liệu thích hợp

* Sử dụng đất tiết kiệm, bảo vệ đất và bảo vệ thiên nhiên

Đất đai có một đặc điểm rất quan trọng là nếu được sử dụng đúng và hợp lý thì chất lượng đất ngày càng tốt lên Tính chất đặc biệt này của đất đòi hỏi chúng ta phải hết sức chú ý trong việc sử dụng đất Một trong những vấn đề bảo vệ đất quan trọng nhất là ngăn ngừa và dập tắt các quá trình xói mòn do gió và nước gây lên Các quá trình xói mòn có tác hại rất lớn đối với sản xuất nông nghiệp Do hậu quả của các quá trình xói mòn và rửa trôi lớp đất mặt mà hàng năm một lượng chất dinh dưỡng khổng lồ bị nước cuốn ra sông ra biển Quá trình xói mòn tầng nền đất tạo thành các khe xói, làm tăng tốc độ dòng chảy bề mặt của nước mưa và lượng đất bị cuốn trôi sẽ bồi đắp gây lên hiện tượng bị tắc nghẽn dòng sông gây sạt lở các triền sông lớn thuộc vùng hạ lưu

Nạn xói mòn do gió gây ra cũng mang lại những hậu quả không nhỏ Những trận bão gây ra những cơn lốc bụi, cát cuốn đi lớp đất màu mỡ trên bề mặt, phá hoại hoa màu ở ven biển, lốc cát tấn công làng mạc, đồng ruộng, làm thay đổi địa hình, thay đổi các tính chất đất, đe doạ mùa màng, vùi lấp các nguồn nước, đường giao thông

Quy hoạch sử dụng đất không chỉ làm nhiệm vụ chống sói mòn mà còn phải chống các quá trình ô nhiễm đất, bảo vệ các yếu tố của môi trường thiên nhiên

Trang 30

Ô nhiễm đất là một vấn đề đáng quan tâm của xã hội Đất có thể bị ô nhiễm của chất thải, nước thải, các chất phóng xạ, các chất hoá học Trong các phương án quy hoạch sử dụng đất, cần dự kiến các biện pháp chống ô nhiễm đất một cách có hiệu quả

Bảo vệ và cải tạo thảm thực vật tự nhiên cũng là một nhiệm vụ quan trọng của quy hoạch sử dụng đất Thảm thực vật tự nhiên, đặc biệt là rừng với chức năng lọc sạch không khí, điều tiết nước, nhiệt, ẩm, điều tiết chế độ nước các dòng sông lớn Ngoài ra đó là nguồn cung cấp nguyên liệu công nghiệp, các lâm sản quý

Để tránh lãng phí, khi cấp đất cho các nhu cầu phi nông nghiệp, trong các phương án quy hoạch sử dụng đất phải bố trí hợp lý các công trình nhà ở và phục vụ sản xuất theo tinh thần hết sức tiết kiệm đất

* Tổ chức phân phối quỹ đất cho các ngành

Khi phân bổ quỹ đất cho các ngành, cần đảm bảo nguyên tắc tổ chức sử dụng tài nguyên đất vì lợi ích của nền kinh tế quốc dân nói chung và từng ngành nói riêng, trong đó ưu tiên cho ngành nông nghiệp

Khi giao đất cho các nhu cầu phi nông nghiệp, hầu như bao giờ cũng làm thay đổi cơ cấu đất sử dụng của đơn vị bị mất đất Do đó, khi xây dựng dự án giao đất cần lưu ý để hoạt động sản xuất của các cơ sở đó không bị hoặc ít bị ảnh hưởng nhất Những khoảnh đất giao cho các nhu cầu phi nông nghiệp nên lấy từ đất chưa

sử dụng hoặc sử dụng kém hiệu quả trong nông nghiệp Trong trường hợp nếu việc giao đất cho nhu cầu phi nông nghiệp làm cho cơ cấu sử dụng đất bị thay đổi nhiều,

tổ chức lãnh thổ bên trong bị đảo lộn thì phải quy hoạch lại toàn phần hoặc từng phần cho đơn vị sử dụng đất đó

Trong trường hợp giao đất cho nhu cầu khai thác khoáng sản, người ta phải lường trước mọi hậu quả có thể xảy ra cho các đơn vị bị mất đất và từ đó đề xuất các biện pháp khắc phục hậu quả hoặc giảm bớt ảnh hưởng xấu của nó

Chủ sử dụng đất bị mất đất có quyền đòi hỏi chủ được giao đất phải bồi thường toàn bộ những khoản thiệt hại do việc thu hồi đất và giao gây ra và cả những chi phí để quy hoạch lại Việc bồi thường những khoản chi phí trên cho chủ bị mất đất là nghĩa vụ và trách nhiệm của chủ được giao đất

Trang 31

* Tạo ra những điều kiện tổ chức lãnh thổ hợp lý

Khi quy hoạch sử dụng đất cần tạo ra những điều kiện tổ chức lãnh thổ hợp

lý để thực hiện những nhiệm vụ kế hoạch của Nhà nước, của riêng ngành nông nghiệp và từng đơn vị sản xuất cụ thể Trên cơ sở đó có thể áp dụng các hình thức quản lý kinh tế tiên tiến, ứng dụng những công nghệ mới, các tiến bộ khoa học kỹ thuật nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, hiệu quả sử dụng đất và sử dụng lao động

Quy hoạch sử dụng đất phải nhằm mục đích tạo ra những điều kiện về tổ chức lãnh thổ thúc đẩy các đơn vị sản xuất thực hiện đạt và vượt mức kế hoạch Nhà nước Khi quy hoạch sử dụng đất, người ta dự kiến phương hướng sử dụng đất trong một thời gian dài tương lai phát triển của các đơn vị là căn cứ để xây dựng các phương án thiết kế

Quy hoạch sử dụng đất phải được phối hợp chặt chẽ với việc tổ chức các ngành trồng trọt, chăn nuôi để tạo ra những điều kiện tốt nhất cho các ngành đó phát triển, nâng cao năng suất lao động

Khi giải quyết mỗi nội dung của đồ án quy hoạch sử dụng đất phải căn cứ vào yêu cầu tổ chức hợp lý sản xuất

Việc tổ chức sử dụng hợp lý đất đai phụ thuộc vào việc tổ chức sử dụng các

tư liệu sản xuất khác và toàn bộ quá trình sản xuất nói chung Bên cạnh đó, việc sử dụng đất có ảnh hưởng đến việc phát triển và bố trí các ngành nghề, đến việc tổ chức lao động và năng suất lao động, đến hiệu quả sử dụng các tư liệu sản xuất Như vậy, đất đai chỉ có thể tổ chức sử dụng đúng và hợp lý trong trường hợp nếu như gắn nó với việc tổ chức sử dụng đúng các tư liệu sản xuất khác, với tổ chức lao động và quản lý đơn vị

Quy hoạch sử dụng đất phải tạo ra các điều kiện để áp dụng các biện pháp kỹ thuật nông nghiệp mới tiên tiến Khi giải quyết nội dung của quy hoạch sử dụng đất cần dựa trên các hình thức tổ chức lao động tiến bộ nhất, cơ giới hoá sản xuất tổng hợp, ứng dụng có hiệu quả máy móc, thiết bị, điện khí hoá nông nghiệp

* Phù hợp với các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của vùng lãnh thổ

Mỗi vùng, mỗi đơn vị sử dụng đất đều có những điểm khác biệt về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội Nếu không tính đến điều đó thì không thể tổ chức sử dụng hợp lý đất đai

Trang 32

Quy hoạch sử dụng đất phải đảm bảo điều kiện để sử dụng hiệu quả từng tấc đất Để đạt được mục tiêu đó, cần nghiên cứu kỹ các điều kiện tự nhiên như: Đặc điểm thổ nhưỡng, đặc điểm địa hình, đặc điểm tiểu khí hậu, tính chất thảm thực vật

tự nhiên và hệ thống thuỷ văn

Các cơ sở sản xuất nông nghiệp thường đầu tư rất lớn cho xây dựng nhà ở, công trình phục vụ đời sống và sản xuất, xây dựng cơ sở giao thông, thuỷ lợi Những công trình này liên quan trực tiếp với đất và chúng chỉ được khai thác hết công suất nếu vị trí xây dựng của chúng là hợp lý Do đó, khi quy hoạch sử dụng đất cần phải tính toán sao cho chúng được sử dụng có hiệu quả cao nhất, đồng thời cũng phải tính đến cả khả năng đầu tư mở rộng sản xuất trong tương lai

Trong số các điều kiện kinh tế phải kể đến các yếu tố như: Quy mô sản xuất

và chuyên môn hoá, tổ chức sản xuất, quy mô và cơ cấu ngành, dân số, lao động…

1.2.5 Những căn cứ pháp lý của quy hoạch sử dụng đất

Trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ Nông nghiệp - Công nghiệp - Dịch vụ sang Công nghiệp - Dịch vụ - Nông nghiệp đã và đang gây áp lực ngày càng lớn đối với đất đai

Kinh nghiệm thực tiễn cùng với đổi mới tư duy và nhận thức đã trả lại cho

đất đai giá trị đích thực và vốn có của nó (là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là

tư liệu sản xuất đặc biệt không gì thay thế được) Việc sử dụng hợp lý đất đai liên

quan chặt chẽ tới mọi hoạt động của từng ngành và từng lĩnh vực, quyết định đến hiệu quả sản xuất và sự sống còn của từng người dân cũng như vận mệnh của cả Quốc gia Do đó Đảng và Nhà nước ta luôn coi đây là vấn đề rất bức xúc, cần được quan tâm hàng đầu

Ý chí của toàn Đảng, toàn dân về vấn đề đất đai đã được thể hiện trong hệ thống các văn bản pháp luật như Hiến pháp, Luật và các văn bản dưới luật những văn bản này tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, giúp giải quyết về mặt nguyên tắc những vấn đề đặt ra:

- Sự cần thiết về mặt pháp lý phải lập quy hoạch sử dụng đất?

- Trách nhiệm lập quy hoạch sử dụng đất?

- Thẩm quyền xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất?

Trang 33

1.2.5.1 Sự cần thiết về mặt pháp lý phải lập quy hoạch sử dụng đất

- Hiến pháp Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã khẳng định: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân”, “Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo

quy hoạch và pháp luật, bảo đảm sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả” (chương

II, điều 18 Hiến pháp 1992) [24]

- Điều 1 Luật Đất đai năm 1993 sửa đổi, bổ sung cũng nêu rõ: “Đất đai thuộc

sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý” [10]

- Điều 13 Luật Đất đai xác định một trong những nội dung quản lý Nhà nước

về đất đai là “Quy hoạch và kế hoạch hoá việc sử dụng đất” [10]

- Điều 19 Luật Đất đai khẳng định ”Căn cứ để quyết định giao đất, cho thuê đất là Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xét duyệt” [10]

- Nghị quyết số 01/1997/QH9 Quốc hội khoá 9, kỳ họp thứ 11 (tháng 4/1997) về kế hoạch sử dụng đất cả nước năm 2000 và đẩy mạnh công tác quy

hoạch sử dụng đất các cấp trong cả nước

- Luật Đất đai năm 2003 đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 4 thông qua gồm 10 điều quy định các nội dung về

Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai (mục 2 - từ điều 21 đến điều 30) [25]

- Nghị Định số 181/2004/NĐ - CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành luật đất đai 2003[11]

Như vậy, để sử dụng và quản lý đất đai (thuộc sở hữu toàn dân, là tư liệu sản xuất đặc biệt) một cách tiết kiệm, hợp lý và có hiệu quả nhất thiết phải làm quy hoạch 1.2.5.2 Trách nhiệm lập quy hoạch sử dụng đất

* Điều 25 Luật đất đai 2003 quy định thẩm quyền lập quy hoạch, kế hoạch

sử dụng đất như sau:

1 Chính phủ tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cả nước

2 Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tổ chức thực hiện việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của địa phương

3 Uỷ ban nhân dân huyện thuộc tỉnh tổ chức thực hiện việc lập quy hoạch kế hoạch

sử dụng đất của địa phương và quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của thị trấn thuộc huyện

Trang 34

Uỷ ban nhân dân huyện, quận thuộc thành phố trực thuộc trung ương, Uỷ ban nhân dân thị xã, thành phố thuộc tỉnh tổ chức thực hiên việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của địa phương và quy hoạch, kế hoạh sử dụng đất của các đơn

vị hành chính cấp dưới, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều này

4 Uỷ ban nhân dân xã không thuộc khu vực quy hoạch phát triển đô thị trong kỳ quy hoạch sử dụng đất tổ chức thực hiện việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của địa phương

5 Quy hoạch sử dụng đất của xã, phường, thị trấn được lập chi tiết gắn với thửa đất (sau đây gọi là quy hoạch sử dụng đất chi tiết); trong quá trình lập quy hoạch sử dụng đất chi tiết, cơ quan tổ chức thực hiện việc lập quy hoạch sử dụng đất phải lấy ý kiến đóng góp của nhân dân

Kế hoạch sử dụng đất của xã, phường, thị trấn đuợc lập chi tiết gắn liền với thửa đất (sau đây gọi là kế hoạch sử dụng đất chi tiết)

6 Uỷ ban nhân dân cấp có trách nhiệm tổ chức thực hiện việc lập quy hoạch,

kế hoạch sử dụng đất trình hội đồng nhân dân cùng cấp thông qua quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trước khi trình Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xét duyệt

7 Quy hoạch sử dụng đất phải được trình đồng thời với kế hoạch phát triển kinh tế xã hội.” [25]

1.2.5.3 Thẩm quyền quyết định xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

* Điều 26 Luật đất đai 2003 quy định thẩm quyền quyết định, xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất như sau:

1 Quốc hội quyết định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cả nước do Chính phủ trình

2 Chính phủ xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cả tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương

3 Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của đơn vị hành chính cấp dưới trực tiếp

4 Uỷ ban nhân dân huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh sẽ xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của xã quy định tại khoản 4 điều 25 của Luật này [25]

Trang 35

1.2.6 Nhiệm vụ và nội dung của quy hoạch sử dụng đất

Đối với mỗi quốc gia, cũng như từng vùng trong một nước, nhiệm vụ và nội dung quy hoạch sử dụng đất ở các giai đoạn lịch sử khác nhau là rất khác nhau Trong giai đoạn hiện nay, nội dung của quy hoạch sử dụng đất bao gồm:

1 Điều tra, nghiên cứu, phân tích tổng hợp điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội

và hiện trạng sử dụng đất; đánh giá tiềm năng đất đai;

2 Xác định phương hướng, mục tiêu, trọng điểm và các nhiệm vụ cơ bản về

sử dụng đất trong kỳ quy hoạch;

3 Xác định diện tích các loại đất phân bổ cho nhu cầu phát triển kinh tế -

xã hội, quốc phòng, an ninh;

4 Xác định diện tích đất phải thu hồi để thực hiện các công trình, dự án;

5 Xác định các biện pháp khai thác, sử dụng, bảo vệ, cải tạo đất và bảo vệ môi trường;

6 Giải pháp tổ chức thực hiện quy hoạch sử dụng đất.[25]

Như vậy, nhiệm vụ trọng tâm của quy hoạch sử dụng đất là: Phân phối hợp

lý đất đai cho nhu cầu phát triển KT-XH; Hình thành hệ thống cơ cấu sử dụng đất phù hợp với cơ cấu kinh tế; Khai thác tiềm năng đất đai và sử dụng đất đúng mục đích; Hình thành, phân bố hợp lý các tổ hợp không gian sử dụng đất nhằm đạt hiệu quả tổng hoà giữa 3 lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường cao nhất

Quy hoạch sử dụng đất là hệ thống quy hoạch nhiều cấp Ngoài lợi ích chung của cả nước, mỗi vùng, mỗi địa phương tự quyết định những lợi ích cục bộ của mình Vì vậy, để đảm bảo sự thống nhất, khi xây dựng và triển khai quy hoạch sử dụng đất phải tuân thủ các thể chế hành chính hiện hành của Nhà nước

Hệ thống quản lý hành chính của nước ta được phân chia thành 4 cấp: toàn quốc, cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã Tuỳ thuộc vào chức năng, nhiệm vụ của mỗi cấp, quy hoạch sử dụng đất có nội dung và ý nghĩa khác nhau Quy hoạch của cấp trên là cơ sở và chỗ dựa cho quy hoạch sử dụng đất của cấp dưới; quy hoạch của cấp dưới là phần tiếp theo, cụ thể hóa quy hoạch của cấp trên và là căn cứ để điều chỉnh các quy hoạch vĩ mô

Trang 36

1.3 Tình hình nghiên cứu kết quả quy hoạch sử dụng đất trong nước

1.3.1 Quy hoạch sử dụng đất cả nước

Quốc hội Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá IX, kỳ họp thứ 11

đã thông qua quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai cả nước đến năm 2010 (Nghị quyết số 01/1997/QH9 về kế hoạch sử dụng đất đai trong cả nước 5 năm, từ năm

1996 - 2000) và giao trách nhiệm cho các ngành, các tỉnh, thành phố lập quy hoạch

và kế hoạch sử dụng đất của ngành mình, địa phương mình trình cấp có thẩm quyền

phê duyệt Năm 2000 Chính phủ đã chỉ đạo Tổng cục Địa chính (nay là Bộ Tài nguyên và Môi trường) xây dựng quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 và Kế hoạch

sử dụng đất 5 năm, từ năm 2000- 2005 của cả nước trình Quốc hội khoá XI

Năm 2004 quy hoạch sử dụng đất đã được Quốc hội khóa XI, Kỳ họp thứ 5 thông qua theo Nghị quyết số 29/2004/QH11 ngày 15 tháng 6 năm 2004 Kế hoạch

sử dụng đất 5 năm (2006-2010) của cả nước đã được Quốc hội khóa XI, Kỳ họp thứ

9 thông qua theo Nghị quyết số 57/2006/QH11 ngày 29 tháng 6 năm 2006

Đối với đất quốc phòng, an ninh: Chính phủ đã chỉ đạo Bộ TN và MT phối hợp với Bộ Quốc phòng, Bộ Công an và UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tiến hành rà soát quy hoạch sử dụng đất đối với tất cả các đơn vị trực thuộc Bộ Quốc phòng và Bộ Công an, đến nay đã hoàn thành trên phạm vi cả nước

1.3.2 Quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh

Đến nay đã có 64 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (bao gồm cả tỉnh Hà Tây cũ) xây dựng xong phương án điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010

và lập kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ cuối (2006 - 2010) và đã được Bộ Tài nguyên

và Môi trường cùng các Bộ, ngành liên quan thẩm định; trong đó có 62 tỉnh đã được Chính phủ xét duyệt [27]

1.3.3 Quy hoạch sử dụng đất cấp huyện

Cả nước hiện có 531/681 đơn vị hành chính cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hoàn thành quy hoạch sử dụng đất

đến năm 2010 (chiếm 77,97%), có 98 đơn vị cấp huyện đang triển khai việc lập quy hoạch sử dụng đất (chiếm 14,4%); còn lại 52 đơn vị cấp huyện chưa triển khai công tác lập quy hoạch sử dụng đất (chiếm 7,64%) Đánh giá chung, công tác quy hoạch

Trang 37

sử dụng đất cấp huyện còn chậm, chưa có sự chuyển biến tích cực, chủ yếu mới lập quy hoạch sử dụng đất của các huyện, còn quy hoạch sử dụng đất đô thị của hầu hết các tỉnh, thành phố chưa được lập [27]

1.3.4 Quy hoạch sử dụng đất cấp xã

Cả nước hiện có 7.576/11.047 xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã) đã lập quy

hoạch sử dụng đất đến năm 2010 (đạt 68,41%), 1.507 xã đang triển khai (đạt 13,61%), còn 1.991 đơn vị cấp xã chưa triển khai (chiếm 17,98%) Tính chung mới

có 82,02% số đơn vị cấp xã đã và đang lập quy hoạch sử dụng đất Như vậy, có thể thấy rằng tiến độ lập quy hoạch sử dụng đất cấp xã vẫn còn rất chậm, số đơn vị hành chính cấp xã chưa triển khai còn nhiều; [27]

1995 đến nay đã đi vào nề nếp: Năm 1995 có 30/53 tỉnh; Năm 1996 có 51/53 tỉnh, thành phố; Năm 1997 đã có 57/61 tỉnh, thành phố; Năm 1998 có 60/61 tỉnh, thành phố; Năm 1999 có 61/61 tỉnh, thành phố lập kế hoạch sử dụng đất; Từ năm 2006 đến nay việc lập kế hoạch sử dụng đất hàng năm đã đi vào ổn định với 64/64 tỉnh, thành phố xây dựng kế hoạch sử dụng đất được Chính phủ phê duyệt.[27]

1.3.5.2 Cấp huyện, xã

Trước năm 2001, UBND các tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương đã chỉ đạo việc lập kế hoạch sử dụng đất ở cấp huyện và cấp xã, tuy nhiên đa số tại các địa phương lập kế hoạch sử dụng đất chỉ mới được thực hiện ở cấp huyện Từ năm

2004, các địa phương đã nghiêm túc thực hiện Nghị định số 181/2004/NĐ-CP và Thông tư 30/2004/TT-BTNMT Cấp huyện và cấp xã đều đã và đang lập kế hoạch

sử dụng đất theo Luật Đất đai quy định.[27]

Trang 38

1.4 Đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai theo quy định của pháp luật đất đai

Trong những năm gần đây công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai đã được các địa phương quan tâm chỉ đạo thực hiện Việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai của các cấp đã dần đi vào nề nếp, quản lý nhà nước về đất đai được tăng cường, bảo đảm tính thống nhất, đảm bảo cơ sở pháp lý cho việc thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, hạn chế được chuyển đất lúa nước, đất lâm nghiệp có rừng sang mục đích khác

Kết quả thực hiện QHSDĐ ở nước ta trong giai đoạn từ 1994 đến nay đã cơ bản hoàn thành QHSDĐ cả nước, QHSDĐ cấp tỉnh, đã góp phần tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất đai, phục vụ phát triển kinh tế xã hội, quốc phòng an ninh trong quá trình công nghiệp hoá hiện, đại hoá đất nước

QHSDĐ theo cơ chế quản lý nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, gắn với sự chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất, phân công lao động, thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá nông nghiệp, hiện đại hoá nông thôn, nâng cao hiệu quả sử dụng đất, góp phần đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, đồng thời đưa nước ta vào nhóm những nước hàng đầu thế giới về xuất khẩu gạo và nông sản khác như: Cà phê, Cao su, Điều…và thuỷ sản như Tôm, Cá; diện tích đất rừng tự nhiên được khôi phục cùng diện tích trồng mới tăng đã nâng độ che phủ đất tăng dần qua từng năm

QHSDĐ đã góp phần tạo lập quỹ đất để phát triển cơ sở hạ tầng đáp ứng yêu cầu phát triển Giao thông (đường bộ, đường sắt, đường thuỷ, hàng không), các ngành Công nghiệp, Xây dựng, Dịch vụ, Văn hoá, Khoa học kỹ thuật, Giáo dục, Y

Trang 39

giữa quy hoạch sử dụng đất đai với chiến lược phát triển của các ngành nên ảnh hưởng nhiều đến quản lý đất đai

- QHSDĐ ở nước ta mới thực hiện chủ yếu ở mức độ khái quát, mang tính định hướng (QHSDĐ cả nước, QHSDĐ cấp tỉnh và gần 60% QHSDĐ cấp huyện); còn thiếu quy hoạch chi tiết (QHSDĐ cấp xã mới đạt 55%);

- Chất lượng và tính hiệu quả QHSDĐ được đánh giá thấp thể hiện ở một số vấn đề chủ yếu sau:

+ Tính định hướng của quy hoạch còn hạn chế, dự báo không sát với thực tiễn phát triển kinh tế xã hội;

+ Tính đồng bộ của quy hoạch sử dụng đất với quy hoạch xây dựng đô thị, công nghiệp, giao thông vận tải…yếu, dẫn đến tình trạng chồng lấn, dư thừa hoặc thiếu hụt quỹ đất dẫn đến phá vỡ quy hoạch;

+ Tính khả thi của QHSDĐ là hạn chế do những khó khăn về tài chính, đền

bù, giải toả, tái định cư dẫn đến tình trạng quy hoạch treo, dự án treo ;

- QHSDĐ chưa kiểm soát được quá trình chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp, đặc biệt đối với đất trồng lúa, không xác định rõ phạm vi diện tích đất lúa nước cần được bảo vệ nghiêm ngặt, bất khả xâm phạm; trong giai đoạn 2000-2005 bình quân mỗi năm cả nước giảm 60.000 ha đất lúa

- QHSDĐ chưa gắn chặt chẽ với quy hoạch bảo vệ môi trường (ngăn ngừa ô nhiễm môi trường, xử lý ô nhiễm môi trường, bảo vệ đa dạng sinh học), không đảm bảo quỹ đất dự trữ phát triển đô thị, công nghiệp, hành lang giao thông, các vùng đệm giữa đô thị và nông thôn, giữa khu công nghiệp với khu dân cư, thương mại, dịch vụ,

du lịch; không bố trí đày đủ quỹ đất cho hệ thống thu gom, xử lý chất thải (rác thả, đặc biệt rác thải độc hại), nước thải (công nghiệp, bệnh viện, sinh hoạt)…Ô nhiễm môi trường đang trở thành vẫn đề bức xúc trên phạm vi cả nước đến từng địa phương

- Hệ thống QHSDĐ còn thiên về sắp xếp các loại đất cho mục tiêu quản lý hành chính, chưa tính toán đầy đủ về hiệu quả kinh tế và môi trường trong SDĐ, chưa có khả năng bảo vệ và cải thiện môi trường sống, chưa đảm bảo phát huy cao nhất sức sản xuất của đất đai, phương án bảo đảm an ninh lương thực chưa được thể hiện rõ nét Một số bản đồ quy hoạch được duyệt mới chỉ được thể hiện trên nền địa

Trang 40

hình nên tính khả thi không cao, các tính toán chưa đầy đủ chi tiết

- Sự phối hợp giữa các cấp, các ngành trong việc lập, thẩm định QHSDĐ chưa chặt chẽ Việc quản lý thực hiện quy hoạch sử dụng đất chưa được các địa phương chú trọng và còn bị buông lỏng Việc phân công, phân cấp trách nhiệm quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chưa rõ ràng, còn chồng chéo giữa các ngành, hoặc chồng chéo trong quản lý quy hoạch đô thị giữa ngành Địa chính, Xây dựng và Văn phòng Kiến trúc sư trưởng; chưa có các biện pháp, chế tài để kiểm tra, giám sát thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

- Thời gian xem xét, thông qua quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phụ thuộc vào thời điểm họp Hội đồng nhân dân các cấp, do vậy cũng tác động làm chậm tiến

độ triển khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

1.5 Thực tiễn công tác quy hoạch sử dụng đất tại Đại học Thái Nguyên

1.5.1 Quy hoạch tổng thể Đại học Thái Nguyên

Hình 1.1 Quy hoạch tổng thể Đại học Thái Nguyên

Đại học Thái Nguyên được thành lập ngày 04 tháng 4 năm 1994 theo Nghị định 31/Cp của Chính phủ trên cơ sở tổ chức, sắp xếp lại các trường Đại học trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên Để làm cơ sở cho việc quản lý, triển khai quy hoạch chi

Ngày đăng: 20/02/2017, 14:24

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình nên tính khả thi không cao, các tính toán chưa đầy đủ chi tiết. - Đánh giá việc thực hiện quy hoạch sử dụng đất tại đai học thái nguyên đến năm 2015
Hình n ên tính khả thi không cao, các tính toán chưa đầy đủ chi tiết (Trang 40)
Bảng 1.1: Tình hình đất đai theo quy hoạch tại QĐ 821/QĐ-UBND năm 2009 - Đánh giá việc thực hiện quy hoạch sử dụng đất tại đai học thái nguyên đến năm 2015
Bảng 1.1 Tình hình đất đai theo quy hoạch tại QĐ 821/QĐ-UBND năm 2009 (Trang 44)
Bảng 1.2: Tình hình quy hoạch chi tiết ở các đơn vị - Đánh giá việc thực hiện quy hoạch sử dụng đất tại đai học thái nguyên đến năm 2015
Bảng 1.2 Tình hình quy hoạch chi tiết ở các đơn vị (Trang 45)
Bảng 3.3. Kết quả thực hiện về hình thức bồi thường GPMB - Đánh giá việc thực hiện quy hoạch sử dụng đất tại đai học thái nguyên đến năm 2015
Bảng 3.3. Kết quả thực hiện về hình thức bồi thường GPMB (Trang 66)
Bảng 3.4. Kinh phí bồi thường thực hiện GPMB - Đánh giá việc thực hiện quy hoạch sử dụng đất tại đai học thái nguyên đến năm 2015
Bảng 3.4. Kinh phí bồi thường thực hiện GPMB (Trang 66)
Bảng 3.11. Kết quả thực hiện về hình thức bồi thường GPMB - Đánh giá việc thực hiện quy hoạch sử dụng đất tại đai học thái nguyên đến năm 2015
Bảng 3.11. Kết quả thực hiện về hình thức bồi thường GPMB (Trang 76)
Hình 1. Bản đồ quy hoạch tổng mặt bằng Khu I, khu II, khu IV - Đánh giá việc thực hiện quy hoạch sử dụng đất tại đai học thái nguyên đến năm 2015
Hình 1. Bản đồ quy hoạch tổng mặt bằng Khu I, khu II, khu IV (Trang 100)
Hình 1. Bản đồ quy hoạch tổng thể Đại học Thái Nguyên - Đánh giá việc thực hiện quy hoạch sử dụng đất tại đai học thái nguyên đến năm 2015
Hình 1. Bản đồ quy hoạch tổng thể Đại học Thái Nguyên (Trang 100)
Hình 3. Bản đồ quy hoạch tổng mặt bằng Khu V Đại học Thái Nguyên - Đánh giá việc thực hiện quy hoạch sử dụng đất tại đai học thái nguyên đến năm 2015
Hình 3. Bản đồ quy hoạch tổng mặt bằng Khu V Đại học Thái Nguyên (Trang 101)
Hình 4. Sơ đồ phân khu chức năng sử dụng đất Đại học Thái Nguyên - Đánh giá việc thực hiện quy hoạch sử dụng đất tại đai học thái nguyên đến năm 2015
Hình 4. Sơ đồ phân khu chức năng sử dụng đất Đại học Thái Nguyên (Trang 101)
Hình 5. Bản đồ quy hoạch sử dụng đất Đại học Thái Nguyên - Đánh giá việc thực hiện quy hoạch sử dụng đất tại đai học thái nguyên đến năm 2015
Hình 5. Bản đồ quy hoạch sử dụng đất Đại học Thái Nguyên (Trang 102)
Hình 6. Bản đồ quy hoạch Tổng thể Đại học Thái Nguyên - Đánh giá việc thực hiện quy hoạch sử dụng đất tại đai học thái nguyên đến năm 2015
Hình 6. Bản đồ quy hoạch Tổng thể Đại học Thái Nguyên (Trang 102)
Bảng 1. Tổng hợp diện tích đất theo quy hoạch tại quyết định 821/QĐ-UB - Đánh giá việc thực hiện quy hoạch sử dụng đất tại đai học thái nguyên đến năm 2015
Bảng 1. Tổng hợp diện tích đất theo quy hoạch tại quyết định 821/QĐ-UB (Trang 103)
Bảng 3. Định hướng quy hoạch sử dụng đất khu II - Đánh giá việc thực hiện quy hoạch sử dụng đất tại đai học thái nguyên đến năm 2015
Bảng 3. Định hướng quy hoạch sử dụng đất khu II (Trang 104)
Bảng 4. Định hướng quy hoạch sử dụng đất khu III - Đánh giá việc thực hiện quy hoạch sử dụng đất tại đai học thái nguyên đến năm 2015
Bảng 4. Định hướng quy hoạch sử dụng đất khu III (Trang 105)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm