1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Mối quan hệ tương tác giữa đầu tư và tăng trưởng kinh tế như thế nào thông qua thực trạng của việt nam hiện nay. giải pháp để nâng cao hiệu quả đầu tư cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế ra sao

39 556 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 39
Dung lượng 175,74 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mối quan hệ tương tác giữa đầu tư và tăng trưởng kinh tế như thế nào thông qua thực trạng của việt nam hiện nay. giải pháp để nâng cao hiệu quả đầu tư cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế ra sao

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 2

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 3

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 4

1.1 Tổng quan nghiên cứu 4

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 5

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

1.4 Phương pháp nghiên cứu 5

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 6

2.1 Tổng quan về đầu tư 6

2.2 Tổng quan về vốn đầu tư 7

2.3 Tổng quan về tăng trưởng kinh tế 8

2.4 Tổng quan về hệ số ICOR 9

2.5 Ưu - nhược điểm của hệ số ICOR trong việc đánh giá mối quan hệ giữa đầu tư và tăng trưởng kinh tế……… 11

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VỀ HỆ SỐ ICOR TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2011-2015 13

3.1 Thực trạng chung tại Việt Nam 13

3.2 Khu vực kinh tế nhà nước 15

3.3 Khu vực kinh tế ngoài nhà nước 18

3.4 Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 22

CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ CHO MỤC TIÊU TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 28

4.1 Giải pháp chung cho nền kinh tế Việt Nam 28

4.2 Khu vực kinh tế nhà nước 29

4.3 Khu vực kinh tế ngoài nhà nước 31

4.4 Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 33

Trang 2

KẾT LUẬN 35 TÀI LIỆU THAM KHẢO 36 VAI TRÒ CỦA CÁC THÀNH VIÊN TRONG ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 37

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Để tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội một cách bền vững thì một trong nhữngđiều kiện cực kỳ quan trong đồi với mọi quốc gia là phải mở rộng đầu tư Người ta haynói đến một trong những nguyên nhân chính làm cho kinh tế của năm con rồng Châu Átăng trưởng nhanh trong một thời gian dài là do vốn đầu tư phát triển tăng liên tục vàthường chiếm khoảng 30% trong GDP

Về mặt lý luận,hầu hết các tư tưởng,mô hình và lý thuyêt về tăng trưởng kinh tế đềutrực tiếp hoặc gián tiếp thừa nhận đầu tư và việc tích luỹ vốn cho đầu tư là một nhân tốquan trọng cho việc gia tăng năng lực sản xuất,cung ứng dịch vụ cho nền kinh tế Từ cácnhà kinh tế học cổ điển như Adam Smith trong cuốn “Của cải của các dân tộc” đã chorằng vốn đầu tư là yếu tố quyết định chủ yếu của số lao động hữu dụng và hiệu quả Việcgia tăng quy mô vốn đầu tư sẽ góp phần quan trọng trong việc gia tăng sản lượng quốcgia và sản lượng bình quân mỗi lao động

Mối quan hệ giữa đầu tư và tăng trưởng thể hiện cũng rất rõ nét trong tiến trình đổimới mở cửa nền kinh tế nước ta thời gian qua Vậy mối quan hệ tương tác giữa đầu tư vàtăng trưởng kinh tế như thế nào thông qua thực trạng của Viêt Nam hiện nay? Giải pháp

để nâng cao hiệu quả đầu tư cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế ra sao? Bài viết này củanhóm nghiên cứu sẽ giải đáp những vấn đề đó

Trang 4

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Trang 5

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

1.1 Tổng quan nghiên cứu

Hiện nay, hệ thống chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn đầu tư đang được cáccấp, các ngành đặc biệt chú ý Trên bình diện mỗi quốc gia nó còn là những chỉ tiêu phảnánh lợi thế của quốc gia nhằm phản ánh khả năng cạnh tranh về kinh tế cũng như thu hútvốn đầu tư nước ngoài

Trong các nhân tố: lao động, vốn, tài nguyên thiên nhiên, công nghệ,… vốn là yếutố vật chất đầu vào quan trọng, có tác động trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế Nó là toàn

bộ tư liệu vật chất được tích lũy lại của nền kinh tế, bao gồm: máy móc, nhà xưởngvà các trang thiết bị được sử dụng như những yếu tố đầu vào trong sản xuất Vai tròcủa vốn đối với tăng trưởng kinh tế được các nhà kinh tế trường phái Keynes đánh giárất cao

Đối với một quốc gia đang phát triển như Việt Nam thì nguồn vốn lại là một yếu tố

vô cùng quan trọng trong sự phát triển kinh tế của đất nước Tăng quy mô và sử dụnghiệu quả vốn đầu tư là một chìa khóa then chốt để tăng năng suất nhân tố tổng hợp,chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa- hiện đại hóa, qua đó nâng caochất lượng tăng trưởng kinh tế

Yếu tố vốn có vai trò quan trọng như vậy nên việc kiểm tra, đánh giá vấn đề sửdụng vốn là vô cùng cần thiết Việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư cũng là yêucầu mang tính thường xuyên và bắt buộc để tăng trưởng kinh tế Đánh giá hiệu quả sửdụng vốn sẽ giúp ta thấy được hiệu quả hoạt động kinh doanh nói chung và quản lý sửdụng vốn nói riêng

Đầu tư là một hoạt động mang lại tính chất dài hạn và liên quan đến nhiều mặt hoạtđộng Trong từng giai đoạn của toàn bộ quá trình đầu tư, các mặt hoạt động này sẽ tácđộng đến hiệu quả vốn đầu tư theo những mức độ khác nhau Để đánh giá hiệu quả vốnđầu tư ở tầm vĩ mô cần phải có nhiều chỉ tiêu nhằm đo lường hiệu quả từng mặt hoạtđộng này sẽ tác động đến hiệu quả vốn đầu tư theo những mức độ khác nhau Và một

Trang 6

trong những chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn đầu tư đó là chỉ số ICOR(Incremental Capital Output Ratio – Tỷ số vốn/sản lượng tăng thêm)

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài được thực hiện nhằm tìm hiểu về chỉ số ICOR cũng như ưu - nhược điểm củachỉ số ICOR trong việc đánh giá mối quan hệ giữa đầu tư và tăng trưởng kinh tế; đồngthời liên hệ thực tiễn tới Việt Nam

Nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau :

- Khái quát về chỉ số ICOR;

- Ưu, nhược điểm của chỉ số ICOR trong việc đánh giá mối quan hệ giữa đầu tư và tăngtrưởng kinh tế;

- Liên hệ thực tiễn về chỉ số ICOR tại Việt Nam giai đoạn 2011-2015;

- Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng VĐT cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Hệ số ICOR và ưu-nhược điểm của hệ số này trong việc đánhgiá mối quan hệ giữa đầu tư và tăng trưởng kinh tế

- Phạm vi nghiên cứu: Liên hệ thực tiễn nền kinh tế Việt Nam giai đoạn 2011-2015Qua mỗi thời kỳ kinh tế, có rất nhiều sự biến động về cả kinh tế, xã hội, chính sách,

…cả ở trong nước và quốc tế Do đó, việc liên hệ thực tế nền kinh tế Việt Nam trong giaiđoạn gần nhất với thời gian nghiên cứu là điều cần thiết để có thể đảm bảo tính khoa học,cập nhật của đề tài; đồng thời có thể đưa ra những giải pháp phù hợp và khả thi nhất vớithực trạng hiện tại của nền kinh tế

Như vậy giai đoạn 5 năm 2011-2015 là khoảng thời gian thích hợp nhất để nhómnghiên cứu thực tiễn và đưa ra các kết luận xác thực nhất

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu dựa trên phương pháp thu thập dữ liệu: các số liệu thống kê,báo cáo về vốn đầu tư, GDP và chỉ số ICOR của Việt Nam giai đoạn 2011-2015 cùng với

Trang 7

các thông tin liên quan đến thực trạng sử dụng vốn đầu tư ở 3 khu vực kinh tế: Khu vựcnhà nước, Khu vực ngoài nhà nước và Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài.

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

2.1 Tổng quan về đầu tư

Đầu tư là quá trình sử dụng phối hợp các nguồn lực trong một khoảng thời gian xácđịnh nhằm đạt được kết quả hoặc một tập hợp các mục tiêu xác định trong điều kiện kinh

tế - xã hội nhất định

Đặc trưng của đầu tư:

- Hoạt động đầu tư là hoạt động bỏ vốn nên quyết định đầu tư thường và trước hết là quyết định tài chính Vốn được hiểu như là các nguồn lực sinh lợi Dưới các hình

thức khác nhau nhưng vốn có thể xác định dưới hình thức tiền tệ Vì vậy, các quyết địnhđầu tư thường được xem xét trên phương diện tài chính (khả năng sinh lời, tổn phí, cókhả năng thu hồi được hay không…)

- Hoạt động đầu tư là hoạt động có tính chất lâu dài Khác với các hoạt động

thương mại, các hoạt động chi tiêu tài chính khác, đầu tư luôn là hoạt động có tính chấtlâu dài Do đó, mọi sự trù liệu đều là dự tính và chịu một xác suất biến đổi nhất định donhiều nhân tố biến đổi tác động Chính điều này là một trong những vấn đề then chốt phảitính đến trong nội dung phân tích, đánh giá của quá trình thẩm định dự án

- Hoạt động đầu tư là một trong những hoạt động luôn cần có sự cân nhắc giữa lợi ích trước mắt và lợi ích trong tương lai Đầu tư về một phương diện nào đó là sự hy

sinh lợi ích hiện tại để đánh đổi lấy lợi ích trong tương lai Vì vậy, luôn có sự so sánh cânnhắc giữa hai loại lợi ích này và nhà đầu tư chỉ chấp nhận trong điều kiện lợi ích thu đượctrong tương lai lớn hơn lợi ích hiện này họ phải hy sinh - đó là chi phí cơ hội của nhà đầu

Trang 8

- Hoạt động đầu tư chứa đựng nhiều rủi ro Các đặc trưng nói trên đã cho ta thấy

đầu tư là một hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro do chịu xác suất nhất định của yếu tố kinh

tế, chính trị, xã hội, tài nguyên thiên nhiên…

2.2 Tổng quan về vốn đầu tư

Vốn đầu tư là nguồn lực tích luỹ được cuả xã hội, cơ sở sản xất kinh doanh dịch vụ,tiết kiệm của dân, huy động từ nước ngoài được biểu hiện dưới các dạng tiền tệ các loạihoặc hàng hoá hữu hình, hàng hoá vô hình và hàng hoá đặc biệt khác

Nguồn vốn đầu tư là các kênh tập trung và phân phối cho vốn đầu tư phát triển đápứng nhu cầu chung của nhà nước và xã hội

Nguồn vốn đầu tư bao gồm: nguồn vốn trong nước và nguồn vốn nước ngoài

Nguồn vốn trong nước:

- Nguồn vốn nhà nước: bao gồm nguồn vốn của ngân sách nhà nước, nguồn vốn tíndụng đầu tư phát triển của nhà nước và nguồn vốn đầu tư phát triển của doanhnghiệp nhà nước

- Nguồn vốn từ khu vực tư nhân: bao gồm phần tiết kiệm của dân cư, phần tích luỹcủa các doanh nghiệp dân doanh, các hợp tác xã

Nguồn vốn nước ngoài:

Có thể xem xét nguồn vốn đầu tư nước ngoài trên phạm vi rộng hơn đó là dòng lưuchuyển vốn quốc tế (international capital flows) Về thực chất, các dòng lưu chuyển vốnquốc tế là biểu thị quá trình chuyển giao nguồn lực tài chính giữa các quốc gia trên thếgiới Trong các dòng lưu chuyển vốn quốc tế, dòng từ các nước phát triển đổ vào cácnước đang phát triển thường được các nước thế giới thứ ba đặc biệt quan tâm Dòng vốnnày diễn ra với nhiều hình thức Mỗi hình thức có đặc điểm, mục tiêu và điều kiện thựchiện riêng, không hoàn toàn giống nhau Theo tính chất lưu chuyển vốn, có thể phânthành các nguồn vốn nước ngoài chính như sau:

Trang 9

- Tài trợ phát triển vốn chính thức (ODF - official development finance): bao gồmViện trợ phát triển chính thức (ODA -offical development assistance) và các hìnhthức viện trợ khác Trong đó, ODA chiếm tỷ trọng chủ yếu trong nguồn ODF;

- Nguồn tín dụng từ các ngân hàng thương mại;

- Đầu tư trực tiếp nước ngoài;

- Nguồn huy động qua thị trường vốn quốc tế

2.3 Tổng quan về tăng trưởng kinh tế

- Tăng trưởng kinh tế: Là sự biến đổi kinh tế theo chiều hướng tiến bộ, mở rộng quy

mô về mặt số lượng của các yếu tố của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất địnhnhưng trong khuôn khổ giữ nguyên về mặt cơ cấu và chất lượng

- Để biểu thị sự tăng trưởng kinh tế, người ta dùng mức tăng thêm của tổng sảnlượng nền kinh tế của thời kì sau so với thời kì trước

- Các đại lượng đo lường sự tăng trưởng kinh tế:

Tăng trưởng kinh tế được biểu hiện ở sự tăng lên về sản lượng hằng năm do nềnkinh tế tạo ra Do vậy thước đo của sự tăng trưởng là các đại lượng sau: Tổng sản phẩmtrong nước (GDP); tổng sản phẩm quốc dân (GNP); sản phẩm quốc dân thuần tuý (NNP);thu nhập quốc dân sản xuất (NI) và thu nhập quốc dân sử dụng (NDI)

Trong số đó, đại lượng được sử dụng phổ biến hơn cả là : Tổng sản phẩm trongnước (Tổng sản phẩm quốc nội - GDP) GDP là toàn bộ giá trị sản phẩm và dịch vụ mớiđược tạo ra trong năm bằng các yếu tố sản xuất trong phạm vi lãnh thổ quốc gia Đạilượng này thường được tiếp cận theo các cách khác nhau:

Về phương diện sản xuất:

GDP = Giá trị sản xuất – chi phí trung gian + thuế nhập khẩu

Về phương diện tiêu dùng :

GDP = C + I + G + (X - M)

Trong đó: C: Tiêu dùng các hộ gia đình

Trang 10

G: Các khoản chi tiêu của chính phủ

I: Tổng đầu tư cho sản xuất của các doanh nghiệp (X - M): Xuất khẩu ròng trong năm

Trang 11

2.4 Tổng quan về hệ số ICOR

2.4.1 Khái niệm

Hệ số ICOR phản ánh quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và đầu tư (mô hình Harrod Domar) Hệ số ICOR (k) là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của vốn đầu tư, nó được xác địnhtheo công thức:

-ICOR= V ố n đầ u t ư t ă ng th ê m

GDPt ă ng th ê m =

Đầ u t ư trong k ì GDP t ă ng thê m 2.4.2 Công thức

Cách 1: Phương pháp tính số tuyệt đối

Cách 2: Phương pháp tính số tương đối

Hệ số ICOR thể hiện mối quan hệ giữa quy mô đầu tư tăng thêm với mức gia tăngsản lượng Theo cách tính thứ 2 này thì hệ số ICOR có nghĩa phần trăm của đầu tư tăngthem để tăng 1% GDP

ICOR2= V (t):G(t)

T ố c độ t ă ng GDP

Trang 12

Trong đó: V(t): Vốn đầu tư năm t

Tuy nhiên, dù có tính đến độ trễ của đầu tư, nhưng thật sự cách tính này vẫn khônghoàn toàn chính xác, khi có những dự án trung và dài hạn, thời gian dự án không giốngnhau, không hoàn toàn là chỉ 1 năm Vậy nên, để tính ICOR, ta thường tính trong 1 giaiđoạn thì sẽ có kết quả chính xác nhất

Công thức tính hệ số ICOR cho nhiều năm:

ICOR(t , 0)=(T ỷ l ệ v ố n đầ ut ư )/(GDP b ì nh qu â n h ằ ng n ă m)

T ố c độ t ă ng GDP b ình qu â n h ằ ng n ă m 2.4.3 Các yếu tố ảnh hưởng

Hệ số ICOR của nền kinh tế cao hay thấp chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố; trong số

đó có ba yếu tố có tác động lớn đến ICOR của nền kinh tế

Thứ nhất, sự thay đổi cơ cấu đầu tư ngành dẫn đến thay đổi ICOR từng ngành, do

đó tác động đến hệ số ICOR chung

Trang 13

Thứ hai, sự tiến bộ về khoa học công nghệ đến đến hai chiều hướng tác động tráingược nhau

Cụ thể, khi khoa học công nghệ phát triển đòi hỏi phải gia tăng về lượng vốn lànhân tố tăng ICOR Mặt khác, khoa học công nghệ phát triển, sẽ tạo ra nhiều ngành mới,công nghệ mới, làm máy móc hoạt động hiệu quả hơn, nâng cao năng suất, tăng kết quảđầu tư, làm giảm hệ số ICOR Vì vậy, chiều hướng nào mạnh hơn sẽ quyết định tới sựthay đổi ICOR

Thứ ba, sự thay đổi cơ chế chính sách, quản lý hợp lý hơn có nghĩa việc sử dụngnguồn vốn sẽ hiệu quả hơn góp phần làm giảm ICOR và ngược lại

2.4.4 Ý nghĩa

Ý nghĩa của ICOR là để tạo thêm được một đơn vị kết quả sản xuất thì cần tăngthêm bao nhiêu đơn vị vốn sản xuất Hay nói cách khác, ICOR là “giá” phải trả thêm choviệc tạo thêm một đơn vị kết quả sản xuất Hệ số ICOR càng lớn chứng tỏ chi phí cho kếtquả tăng trưởng càng cao nó phụ thuộc vào mức độ khan hiếm nguồn dự trữ và tính chấtcủa công nghệ sản xuất; ở các nước phát triển hệ số ICOR thường cao hơn ở các nướcđang phát triển và ở mỗi nước thì hệ số ICOR luôn có xu hướng tăng lên tức là khi kinh

tế càng phát triển thì để tăng thêm một đơn vị kết quả sản xuất cần nhiều hơn về nguồnlực sản xuất nói chung và nhân tố vốn nói riêng và khi đó đường sản lượng thực tế gầntiệm cận với đường sản lượng tiềm năng Điều này được giải thích bằng quy luật lợi íchcận biên giảm dần theo quy mô

2.5 Ưu - nhược điểm của hệ số ICOR trong việc đánh giá mối quan hệ giữa đầu tư và tăng trưởng kinh tế

2.5.1Ưu điểm

 ICOR phản ánh số lượng vốn cần thiết để gia tăng được một đơn vị sản lượng

 ICOR là chỉ tiêu quan trọng để dự báo tốc độ tăng trưởng kinh tế hoặc dự báo quy

mô vốn đầu tư cần thiết để đạt một tốc độ tăng trưởng kinh tế nhất định trong tương lai

Trang 14

 ICOR phản ánh trình độ của công nghệ sản xuất Công nghệ cần nhiều vốn thì hệsố ICOR cao Công nghệ cần ít vốn, nhiều lao động thì hệ số ICOR thấp.

 Trong những trường hợp nhất định, hệ số ICOR được xem là một trong những chỉtiêu phản ánh hiệu quả đầu tư ICOR giảm cho thấy: để tạo ra một đơn vị GDP tăng thêmnền kinh tế chỉ phải bỏ ra một số lượng vốn đầu tư ít hơn, nếu các điều kiện khác ít thayđổi So sánh giữa các thời kì, nếu hệ số ICOR cao hơn chứng tỏ thời kì đó đã sử dụng vốnkém hơn Tuy nhiên cách so sánh này thường xuyên vi phạm các giả thiết bởi vì giữa cácthời kì dài khác nhau thì sự thay đổi công nghệ hay tỷ lệ kết hợp giữa vốn và lao động ítkhi giống nhau So sánh giữa các nền kinh tế cho thấy, xu hướng những nền kinh tế pháttriển, sử dụng công nghệ cao thì cần nhiều vốn hơn nên ICOR thường cao

2.5.2 Nhược điểm

 Hệ số ICOR mới chỉ phản ánh ảnh hưởng của yếu tố vốn đầu tư mà chưa tính đếnảnh hưởng của các yếu tố sản xuất khác trong việc tạo ra GDP tăng thêm Đầu tư ở đâychỉ là đầu tư tài sản hữu hình, còn đầu tư tài sản vô hình, tài sản tài chính không đượctính đến, nên chưa phản ánh trung thực ảnh hưởng của đầu tư tới thu nhập quốc dân.ICOR cũng bỏ qua sự tác động của các ngoại ứng như điều kiện tự nhiên xã hội, cơ chế,chính sách

 Hệ số ICOR không tính đến yếu tố độ trễ thời gian của kết quả và chi phí (tử số vàmẫu số của công thức), vấn đề tái đầu tư…

 Là một chỉ số đã được đơn giản hóa nên khó đánh giá các hiệu quả kinh tế-xã hội

 Chỉ số này không biểu hiện được rõ ràng trình độ kỹ thuật của phía sản xuất, vìICOR là tỷ lệ đầu tư/sản lượng gia tăng Chẳng hạn một bên có kỹ thuật sản xuất kémhơn, với một lượng đầu tư tương đối cũng có thể cải thiện chỉ số ICOR xấp xỉ với bên cótrình độ kỹ thuật cao hơn, do kỹ thuật càng cao thì càng chậm cải tiến

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VỀ HỆ SỐ ICOR TẠI VIỆT NAM

GIAI ĐOẠN 2011-2015

Trang 15

3.1 Thực trạng chung tại Việt Nam

Tại Việt Nam, ICOR là một trong những chỉ số quan trọng để đo lường hiệu quả sửdụng vốn đầu tư của nền kinh tế

Theo số liệu tính toán từ Tổng cục thống kê, chỉ số ICOR của Việt Nam giai đoạn2001-2005 đạt 4,88; chuyển sang giai đoạn 2006-2010, ICOR tăng vọt lên mức 6,96 do

có một luồng vốn đầu tư khổng lồ chảy vào trong nước sau khi Việt Nam gia nhập WTOnăm 2007 Và đến giai đoạn 2011-2014, ICOR đạt ngưỡng 6,92; giảm nhẹ so với giaiđoạn trước

Như vậy, để tạo thêm một đồng GDP, Việt Nam cần tới 6,92 đồng vốn đầu tư tronggiai đoạn 2011-2014 Đây là một con số rất cao với một quốc gia đang phát triển nhưViệt Nam So sánh với các nước trong khu vực, chỉ số ICOR của Việt Nam cũng cao hơnnhiều so với các quốc gia khác

Chỉ số ICOR ở một số quốc gia Đông Nam Á giai đoạn 2011-2014

Việt Nam Lào Malaysia Indonesia Philippin 0

ICOR cao một phần là do Việt Nam đang trong giai đoạn tập trung cho phát triển cơ

sở hạ tầng, bao gồm cả hạ tầng vùng sâu, vùng xa và đầu tư cho xóa đói, giảm nghèo, bảo

Trang 16

đảm an sinh xã hội Song nguyên nhân chính là do công tác quy hoạch còn nhiều hạn chế;quyết định đầu tư dàn trải, hiệu quả thấp và nhiều công trình, dự án đầu tư bằng nguồnvốn ngân sách nhà nước (bao gồm cả tín dụng nhà nước, trái phiếu chính phủ và vốn đốiứng ODA) còn để xảy ra thất thoát, lãng phí

Điều này được thể hiện rất rõ khi chỉ số ICOR có 1 sự chênh lệch lớn giữa các khuvực kinh tế

Bảng số liệu chỉ số ICOR chung và của từng khu vực kinh tế

( Nguồn: Tính toán từ số liệu của Tổng cục thống kê)

Chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy chỉ số ICOR ở khu vực kinh tế nhà nước ở mứcrất cao so với khu vực kinh tế ngoài nhà nước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài Ởđiểm này, ICOR đã phản ánh đúng thực trạng sử dụng vốn đầu tư ở các khu vực kinh tế ởViệt Nam hiện nay

Ngoài ra, ICOR cũng đã phần nào phản ánh hiệu quả tích cực mang lại từ việc đầu

tư cho phát triển cơ sở hạ tầng và khoa học- kỹ thuật

Trong giai đoạn hiện nay, việc đầu tư phát triển hạ tầng và khoa học-kỹ thuật ngày càng được chú trọng cũng là một nguyên nhân dẫn đến sự chuyển biến tích cực của chỉ sốICOR Xét một cách toàn diện, tuy không trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất kinh

Trang 17

doanh, nhưng nguồn vốn này đã góp phần không nhỏ thúc đẩy quá trình sản xuất, đóng góp vào tổng sản phẩm quốc dân.

Trong thời gian qua, nguồn vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, xây dựng đường sá

đã mang lại những lợi ích to lớn cho nền kinh tế Như việc xây dựng đường cao tốc HàNội - Hải Phòng rút ngắn khoảng cách giữa 2 thành phố đã tiết kiệm đáng kể thời gian vàchi phí vận chuyển, làm tăng thêm giá trị gia tăng cho nền kinh tế; hay đường cao tốc HàNội - Lào Cai góp phần đẩy mạnh phát triển du lịch ở Lào Cai nói riêng và khu vực TâyBắc nói chung – một trong những vùng du lịch trọng điểm quốc gia

Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, giao thông,… cũng góp phần tăng sức hấp dẫn củaViệt Nam trong việc thu hút nguồn vốn FDI

Nguồn vốn đầu tư phát triển khoa học-kỹ thuật, từ đó đưa khoa học-kỹ thuật vào sảnxuất đã nâng cao năng suất lao động, gia tăng sản lượng, tiết kiệm chi phí, qua đó đónggóp đáng kể vào tổng sản phẩm quốc dân và nâng cao hiệu quả đầu tư

3.2 Khu vực kinh tế nhà nước

Ở Việt Nam, nguồn vốn đầu tư cho khu vực kinh tế nhà nước là rất lớn, chiếm đến80% đầu tư công trên cả nước, bao gồm: vốn ngân sách nhà nước, vốn vay và vốn củadoanh nghiệp nhà nước, trong đó nguồn vốn NSNN chiếm tỷ trọng lớn nhất

Tuy được đầu tư một lượng vốn lớn nhưng cho đến nay, hoạt động đầu tư của khuvực này còn kém hiệu quả hơn so với các khu vực kinh tế khác

Dựa vào biểu đồ sự biến động của vốn đầu tư và GDP trong giai đoạn này, có thểthấy, nhìn chung tỷ trọng vốn đầu tư có xu hướng tăng dần nhưng tỷ trọng đóng góp GDPcủa khu vực kinh tế nhà nước lại có xu hướng giảm dần Trong giai đoạn 2011-2014, vốnđầu tư khu vực nhà nước chiếm đến khoảng 40% tổng vốn đầu tư nhưng chỉ đóng gópkhoảng 29% GDP, như vậy sự chênh lệch giữa tỷ trọng GDP với tỷ trọng vốn đầu tư lêntới 11%, đây thực sự là một con số rất đáng suy nghĩ

Biểu đồ tỷ trọng VĐT và tỷ trọng GDP khu vực nhà nước giai đoạn 2011-2014

Trang 18

(Ng uồn: Tổng cục thống kê)

Do đó, chỉ số ICOR - chỉ tiêu phản ánh hiệu quả đầu tư ở khu vực này rất cao, caonhất trong ba khu vực kinh tế Và đáng buồn hơn, nó đang có xu hướng tiếp tục tăng: Từnăm 2012 đến năm 2014, ICOR đã tăng 4,32 và đến thời điểm năm 2014, chỉ số ICORlên tới 11,78; tức là để tạo thêm 1 đồng GDP, khu vực này cần tới 11,78 đồng vốn đầu tư

Biểu đồ chỉ số ICOR khu vực nhà nước giai đoạn 2011-2014

Trang 19

(Nguồn: Tính toán từ số liệu của Tổng cục thống kê)

Chỉ số ICOR cao đã phần nào cho thấy việc sử dụng vốn đầu tư ở khu vực kinh tếnhà nước là chưa hiệu quả trong khi kinh tế nhà nước luôn được coi là đóng vai trò chủđạo trong nền kinh tế

Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào ICOR thì chưa thể hoàn toàn đánh giá được hiệu quảđầu tư ở khu vực này, vì:

ICOR chưa xem xét đến một yếu tố đặc trưng của hoạt động đầu tư đó là độ trễ vềthời gian, cũng như chưa phản ánh hết được hiệu quả kinh tế-xã hội của hoạt động này.Thứ nhất, các dự án đầu tư của nhà nước thường mất một khoảng thời gian rất dài,thậm chí có thể kéo dài tới 2-3 năm mới có thể đi vào hoạt động, như các công trình thủyđiện, khai thác khoáng sản, dầu khí,…

Thứ hai, các DNNN bên cạnh mục tiêu chính là lợi nhuận, thì các doanh nghiệp nàycòn thực hiện một số mục tiêu “phi lợi nhuận” như góp phần xóa đói giảm nghèo, sảnxuất và cung ứng các hàng hóa công cộng, các sản phẩm và dịch vụ có lợi nhuận thấp

Ngày đăng: 20/02/2017, 13:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
5. Báo Tuổi trẻ (2013), “EVN lỗ lớn vì đầu tư ngoài ngành”http://tuoitre.vn/tin/chinh-tri-xa-hoi/20131007/evn-lo-lon-vi-dau-tu-ngoai-nganh/572993.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: EVN lỗ lớn vì đầu tư ngoài ngành
Tác giả: Báo Tuổi trẻ
Năm: 2013
6. Bùi Trinh (2011), “Hệ quả đầu tư nhìn từ hệ số ICOR”http://cafef.vn/vi-mo-dau-tu/hieu-qua-dau-tu-nhin-tu-he-so-icor-20111123075837620.chn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ quả đầu tư nhìn từ hệ số ICOR
Tác giả: Bùi Trinh
Năm: 2011
3. Tổng cục thống kê (2016), Số liệu về tổng sản phẩm quốc dân (GDP) và vốn đầu tư giai đoạn 2011-2014https://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=715https://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=716 Link
4. Công ty cổ phần sữa Việt Nam Vinamilk (2016), Báo cáo thường niên năm 2015https://vinamilk.com.vn/static/uploads/bc_thuong_nien/1458388069-97c50f046e2e248e506870b23bb05849ed859f5533e943b1349b225a5f095c93.pdf Link
2. Từ Quang Phương và Phạm Văn Hùng (2012), Giáo trình Kinh tế đầu tư, Nhà xuất bản Đại học Kinh tế quốc dân Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w