7 Các bài luyện tập mỗi bài 1 tiết Về ngôn ngữ chung và lời nói cá nhân Về hiện tượng tách từ Về trường từ vựng và từ trái nghĩa Về phong cách ngôn ngữ báo chí Về tách câu Về
Trang 2I NỘi DUNG PHẦN TIẾNG VIỆT
Phần Tiếng Việt trong SGK Ngữ
Văn 11 – nâng cao theo quy
định của Chương trình Giáo dục phổ thông môn Ngữ Văn ban hành theo Quyết định số 16/2006/QĐ – BGDĐT ngày 5 tháng 5 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, gồm những nội dung sau:
Trang 31) Phong cách ngôn ngữ chính luận (1 tiết)
2) Phong cách ngôn ngữ báo chí (1 tiết)
4) Nghĩa của câu (1 tiết)
5) Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân (1 tiết)
6) Đặc điểm loại hình tiếng Việt (2 tiết)
Trang 47) Các bài luyện tập (mỗi bài 1 tiết)
Về ngôn ngữ chung và lời nói cá nhân
Về hiện tượng tách từ
Về trường từ vựng và từ trái nghĩa
Về phong cách ngôn ngữ báo chí
Về tách câu
Về từ Hán Việt
Về nghĩa của câu
Về thay đổi trật tự các phần của cụm từ và
các thành phần của câu
Về câu nghi vấn tu từ
Về phong cách ngôn ngữ chính luận
Trang 5Như thế:
Phần lý thuyết (1-6) chỉ chiếm 8 tiết
(Nhưng 1/3 số tiết đó dành cho phần luyện tập cuối mỗi bài).
Phần thực hành (7) chiếm 10 tiết.
Trên thực tế, phần thực hành lên
đến 70% thời lượng.
Phần Tiếng Việt trong SGK
Ngữ Văn 11 – nâng cao rất coi
trọng tính thực hành.
Trang 6II NHỮNG ĐIỂM CẦN LƯU Ý
1 Về kết quả cần đạt
Mục Kết quả cần đạt của từng bài cụ thể thường
có những nét riêng Tuy nhiên, một cách tổng quát, tất cả đều thể hiện các mục tiêu chung như sau:
Củng cố những kiến thức đã được trang bị ở
Tiểu học và Trung học cơ sở; cung cấp thêm những kiến thức mới để góp phần hoàn thiện vốn hiểu biết về Tiếng Việt mà một người có trình độ học vấn phổ thông cần phải có.
Trang 7Nâng cao năng lực sử dụng tiếng Việt, giúp
HS biết tự rèn luyện một cách chủ động và
có cơ sở khoa học các kỹ năng sử dụng tiếng Việt; đặc biệt nâng cao năng lực viết văn và năng lực đọc-hiểu.
Góp sức trau dồi tình yêu tiếng Việt; có ý thức giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, bảo vệ và phát triển tiếng Việt.
Trang 8Nhà trường phổ thông tuy cũng có nhiệm
vụ cung cấp cho HS những hiểu biết khoa học về tiếng Việt nhưng nhiệm vụ chủ yếu là rèn luyện cho HS các kỹ năng trong việc sử dụng tiếng Việt văn hóa
Trong sự rèn luyện ấy, cần nắm vững hai nguyên tắc, hai hướng ưu tiên:
chữ (viết, đọc) hơn những kỹ năng thuộc kênh lời (nói, nghe);
tích cực (viết, nói) hơn những kỹ năng thụ động – tiêu cực (đọc, nghe).
Trang 9Những hướng ưu tiên đó
Có tác dụng chỉ đạo nghiêm ngặt đối với người biên soạn;
Có vai trò hướng dẫn đối với người dạy và người học.
Trang 102 Về nội dung các bài học
2.1 Các bài về phong cách ngôn ngữ
Trong SGK Ngữ Văn 11 – nâng cao có hai bài về
phong cách ngôn ngữ (Phong cách ngôn ngữ chính luận và Phong cách ngôn ngữ báo chí) Hai bài có cấu trúc giống nhau:
đều gồm hai phần
khái quát
cách sử dụng phương tiện ngôn ngữ
Trang 11Phong cách ngôn ngữ chính luận, xét về bản chất, là phong cách ngôn ngữ được dùng trong những văn bản trực tiếp bày tỏ chính kiến, lập trường và tư tưởng chính trị
Tuy nhiên trong thực tiễn, có rất nhiều lĩnh vực khác cũng cần trực tiếp bày tỏ quan điểm, thái
độ
Vì vậy, phong cách chính luận còn được vận dụng rộng rãi trong các văn bản nghị luận nói chung Đây là lý do đã từng có sách gọi phong cách ngôn ngữ chính luận là phong cách ngôn ngữ nghị luận.
Trang 12Báo chí ngày nay có nhiều loại:
Trang 13Cần phân biệt báo với tạp chí.
Phong cách ngôn ngữ trên báo
là loại phong cách
có tính chất thông tin – sự kiện.
nhất là tạp chí chuyên ngành,
là loại phong cách khoa học.
Trang 142.2 Bài Ngữ cảnh
Đây là bài mới được đưa vào chương trình, không
có trong SGK cải cách, cũng không có trong SGK Ngữ văn 11 thí điểm
Ngữ cảnh bao gồm hai thành tố văn cảnh và hoàn
Trong việc tạo lập văn bản, văn cảnh chi phối cách dùng từ, đặt câu; hoàn cảnh giao tiếp ảnh hưởng tới đặc trưng phong cách của văn bản.
Vd: “Ngôi sao Nguyễn Đình Chiểu, một nhà thơ lớn của nước ta, đáng lẽ phải sáng tỏ hơn nữa trong
bầu trời văn nghệ dân tộc, nhất là trong lúc này.” (Phạm Văn Đồng)
Không thể thay “bầu trời bằng “nền” chẳng hạn.
Trang 15Trong việc đọc hiểu văn bản, văn cảnh giúp xác định rõ từ ngữ được dùng; hoàn cảnh giao tiếp quy định cách hiểu ý nghĩa đích thực của câu.
Tóc ngang lưng vừa chừng em bới
Để chi dài bối rối dạ anh
(Ca dao)
Mở đầu truyện Chí Phèo là câu “Hắn vừa đi
vừa chửi.” Tại sao mới mở đầu mà lại dùng
“hắn”?
Trang 162.3 Bài Nghĩa của câu
Đây cũng là một bài mới, không có trong SGK
cải cách, cũng không có trong SGK Ngữ văn
11 thí điểm Bài này được đưa vào chương
trình là để thay cho bài Nghĩa hàm ẩn vốn có trong SGK Ngữ văn 12 thí điểm
Trang 17Nghĩa của câu là một lĩnh vực phức tạp, bao gồm nhiều vấn đề Chẳng hạn:
(1) Đứa bé tát con mèo.
(2) Con mèo bị đứa bé tát.
Xét về giá trị chân ngụy, đây là hai câu đồng nghĩa tuy có khác biệt về cấu trúc thông tin.
Vai nghĩa
Trong hai ví dụ trên, đứa bé đảm nhận vai người
tác động trong khi con mèo là vật bị tác động,
tuy con mèo ở ví dụ đầu là bổ ngữ, còn ở ví
dụ sau, là chủ ngữ.
Trang 18Nhưng SGK chỉ giới hạn xung quanh vấn
đề nghĩa sự việc và nghĩa tình thái ; đặc biệt tập trung vào loại nghĩa thứ hai do nghĩa tình thái phức tạp hơn và việc phân tích sâu nghĩa tình thái có ý nghĩa thiết thực trong việc phân tích và tạo lập câu.
tính đồng nhất và bất biến qua nhiều cách diễn đạt có thể hết sức khác nhau
Trang 19Khi hiện thực hóa một nhận định tiềm năng (nói
ra một câu), “thế giới khách quan” đã được sắp xếp lại theo cách tri giác của người nói, cái hình ảnh mà người nói dùng để truyền đạt
sự tình cho người nghe một mặt được giản lược đi và mặt khác lại được trang trí thêm nhiều yếu tố chủ quan của người nói – nghĩa tình thái.
Nghĩa tình thái là thông tin đi kèm sự việc, là sự
áp đặt nhận thức của người nói lên các nhân
tố của sự việc
Trang 20Chẳng hạn, ta có ba "nhân tố" hay ba "chất liệu" của một nhận định tiềm năng là "nó", "đọc" và
"thư"
Nếu ta hiện thực hoá một nhận định theo hướng nghĩa tình thái về khả năng xảy ra của
sự việc, ta sẽ có câu: Nó có thể đọc thư
Nếu ta thêm vào các chất liệu ấy một nghĩa
tình thái phủ định, ta sẽ có câu: Nó không đọc
thư
Nếu ta thêm vào các chất liệu ấy một nghĩa
tình thái chỉ sự việc có xảy ra, ta sẽ có câu: Nó
đọc thư
Như thế, không một câu nào không có nghĩa tình thái.
Trang 21Đi sâu vào nghĩa tình thái, SGK tập trung quan
tâm tới mấy loại:
nghĩa tình thái chỉ sự việc xảy ra hay chưa xảy
ra
nghĩa tình thái chỉ khả năng xảy ra của sự việc
nghĩa tình thái chỉ sự việc được nhận thức
như là một đạo lý
Lưu ý: Một câu thường có nhiều loại nghĩa tình
thái đan xen Chẳng hạn, trong câu Có lẽ tôi
sẽ cần đến cuốn sách ấy có nghĩa tình thái chỉ
khả năng xảy ra của sự việc lẫn nghĩa tình thái chỉ sự việc chưa xảy ra.
Trang 22Vd: Trong Trời mưa mất!, mất phỏng đoán về
một nguy cơ hầu như chắc chắn xảy ra, tức thuộc loại nghĩa tình thái chỉ khả năng xảy ra của sự việc.
Nhưng mất hàm ý đánh giá tiêu cực:
có thể nói Thế này thì tán gia bại sản mất.
chứ không thể nói Thế này thì giàu mất
Cái hàm ý đó cũng là một nghĩa tình thái.
Những nghĩa tình thái đó chẳng qua là một số loại quan trọng, chứ không phải tất cả các nghĩa tình thái có thể có
Trang 23Cần chú ý thích đáng đến "kĩ thuật" chứng minh
Ví dụ:
(a) Phải trả những nghìn rưỡi phơ-răng […]
(b) Chỉ phải trả nghìn rưỡi phơ-răng […]
Dễ dàng khẳng định nghĩa tình thái của hai câu khác biệt ở chỗ giá nghìn rưỡi phơ-răng đối với người nói câu (1a) là cao, trong khi đối với người nói câu (1b) là thấp
Chứng minh: xem xét khả năng kết hợp đắt quá hay rẻ quá
câu (a) và rẻ quá vào sau câu (b), chứ không thể
ngược lại
chỉ có thể thêm “đắt quá” vào sau
Trang 24Một ví dụ khác: chứng minh câu “Tôi liền gật
đầu, chạy vút đi” có nghĩa tình thái chỉ sự
việc đã xảy ra.
Không thể thêm vào, chẳng hạn, “nhưng nghĩ
thế nào lại thôi"
Như thế, có thể chứng minh câu đang xét
là có một nghĩa tình thái nào đó bằng cách
cho thấy không thể gắn vào câu đó
một nhận định trái ngược.
Trang 25Tình thái là nghĩa của câu Nhưng về mặt ngữ pháp, nghĩa tình thái có thể biểu hiện bằng :
ra như toan, định, suýt,… thì chỉ sự việc đã
xảy ra; câu cầu khiến chỉ sự việc được nhận thức như là một đạo lí,…),…
Trang 26Từ ngữ biểu đạt nghĩa tình thái có thể tác động đến:
ấy phiền lụy đến cả ông)
Trang 272.4 Bài từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân
Cơ sở lý luận của bài này là học thuyết về sự phân biệt ngôn ngữ và lời nói của Ferdinand de Saussure (1857-1913)
Lời nói bao giờ cũng mang dấu ấn cá nhân, là kết quả sáng tạo của cá nhân, là nơi thử nghiệm, xác lập những nhân tố mới Những nhân tố mới này được củng cố qua thời gian, góp phần vào
sự phát triển của ngôn ngữ chung.
Vd: “Nụ cười” và “suối khô dòng lệ” đều là ẩn dụ, nhưng “nụ cười” là ngôn ngữ, mà “suối khô
dòng lệ” là lời nói.
Trang 28Trong văn chương nghệ thuật, dấu ấn cá nhân của nhà văn là rất rõ nét và có ý nghĩa rất to lớn Cho nên, phân tích cái hay của ngôn ngữ văn chương là phải phân tích cái dấu ấn cá nhân đó
Lũ chúng tôi từ tay mẹ lớn lên
Còn những bí và bầu thì lớn xuống
Nguyễn Khoa Điềm
Trang 292.5 Bài đặc điểm loại hình Tiếng Việt
Ngôn ngữ có thể phân loại theo quan hệ họ hàng hay theo những đặc điểm nội tại của chúng Cách thứ hai được gọi là phân loại theo loại hình.
Phân loại theo loại hình cũng có nhiều góc độ.
Chẳng hạn, nếu căn cứ vào trật tự của chủ ngữ (S), bổ ngữ (O) và động từ (V), thì các tiếng Việt, Hán, Thái, Anh, Tây Ban Nha, Ý, thuộc vào loại SVO, trong khi các tiếng Mi-an-ma, Nhật, Hàn, thuộc vào loại SOV
Trang 30căn cứ vào sự kiện từ có biến đổi hình thái hay không để thể hiện ý nghĩa ngữ pháp, tương quan giữa dạng thức với ý nghĩa ngữ pháp, v.v., thì tiếng Việt thuộc loại không biến hình hay đơn lập.
Phân tích ngôn ngữ thành những đơn vị ngày càng nhỏ hơn, người ta sẽ đi đến một đơn vị nhỏ nhất mà vẫn có nghĩa, đấy là đơn vị ngữ pháp cơ bản, sách ngữ pháp thường gọi là
Trang 31Trong các ngôn ngữ biến hình, hình vị có thể nhỏ hơn một âm tiết, lớn hơn một âm tiết hay bằng một âm tiết, nhưng ngay cả khi bằng một âm tiết, đấy chỉ là hiện tượng tạm thời Hiện tượng đọc nối sẽ làm ranh giới âm tiết
bị “xô lệch” so với ranh giới hình vị.
first of all
Trang 32Như thế, cubanize “Cuba hóa” đồng âm với
Cuban eyes “những đôi mắt Cuba”; a name
“tên gọi” đồng âm với an aim “mục đích”.
So sánh với tiếng Việt: xem ô tô ≠ xe mô tô;
phát hành ≠ phá thành
Như thế, khác với tiếng Việt, trong các ngôn ngữ biến hình sự chia cắt lời nói theo âm tiết và theo hình vị tỏ ra không liên quan gì đến nhau.
Trang 33Vì thế, trong tiếng Việt, âm tiết có một cương vị ngôn ngữ học rất lớn, Nó là đơn vị cấu tạo từ
Nó là cơ sở để giải thích những hiện tượng như:
Cái cảm thức phân biệt “tiếng Việt/không phải tiếng Việt” trong các từ mượn: vd tem (<
timbre), xăng (< essence), kem (< crème), xi (< cire), săm (< chambre (à air), lốp (< enveloppe)
… / a-xít (< acide), boóc-đô (< bordeaux), xi-lin (< pénicilline)
pê-ni- Việc dùng khoảng trống để phân biệt âm tiết
(so sánh blackboard với black board)
Trang 34 Cái thói quen đếm độ dài văn bản bằng âm tiết
(so sánh tiếng Anh: a = internationality)
Cơ sở âm tiết của các thể thơ (lục bát, song thất lục bát, thất ngôn, )
Thiên hướng nói lái của người Việt (so sánh hiện tượng spoonerism trong tiếng Anh,
chẳng hạn "You are all tons of soil“ (Các bạn
là hàng tấn đất) và "You are all sons of toil”
(Các bạn đều là những người lao động vất vả))
Xu hướng gán nghĩa cho những âm tiết vốn không có nghĩa (chơi chữ, nhầm nghĩa, nói tắt/không nói tắt)
Trang 35Không dùng sự biến đổi hình thái để thể hiện ý nghĩa ngữ pháp, thì bù lại, tiếng Việt đẩy mạnh việc sử dụng trật tự từ Như thế, vai trò quan trọng của trật tự từ là một vấn đề có ý nghĩa loại hình học
Điều đó không có nghĩa các ngôn ngữ thuộc loại hình phi đơn lập không sử dụng trật tự từ, nhưng
có thể nói ngôn ngữ càng đẩy mạnh việc biến đổi hình thái thì trật tự từ càng mất đi tầm quan trọng Cần lưu ý rằng không phải bao giờ thay đổi trật tự
từ cũng dẫn đến sự thay đổi về quan hệ ngữ pháp hay về thông tin cơ bản của câu; nhưng ngay trong trường hợp này, so với trật tự từ thông thường, bao giờ cũng có cái thường được gọi là
" thông tin bổ sung ".
Trang 36Trong văn chương, nhất là thơ, để đạt hiệu quả cần thiết, nhiều tác giả không ngần ngại vi phạm trật tự từ
Tản Đà vẫn viết: Cỏ vàng cây đỏ bóng tà tà
dương.
Nguyễn Du vẫn viết: Nay hoàng hôn đã lại mai
hôn hoàng.
Chú ý: Khi dạy bài Đặc điểm loại hình tiếng Việt,
cần khai thác hai bài luyện tập về hiện tượng tách từ (tập 1) và về thay đổi trật tự các phần của cụm từ và các thành phần của câu (tập 2)
đã dạy trước đó.
Trang 37Bên cạnh việc sử dụng trật tự từ, tiếng Việt còn sử dụng hư từ Như thế, đây cũng là một vấn đề có ý nghĩa loại hình học.
Một cách tổng quát, có thể cho hư từ là từ không có ý nghĩa từ vựng chân thực Thuộc vào hư từ là những từ loại như:
liên từ (và, với, ),
giới từ (của, trong, ),
tình thái từ (à, ư, ; chỉ, những, ),
Trang 38Cần lưu ý là nhiều hư từ vốn bắt nguồn từ thực
từ và cùng tồn tại song hành với thực từ ấy Điều này gây khó khăn trong việc nhận diện hư
từ
Lấy cho1 tôi cuốn sách ấy và Anh cho2 nó cuốn sách.
Xin chị đi1 đi2 !
Số tiền ấy không khéo mất1 mất2 !
Mặt khác, cũng nên lưu ý hiện tượng một hư từ
có thể có nhiều cách dùng.
So sánh: Những người bạc ác tinh ma và Đi đâu
mà quần áo những bùn là bùn
Trang 392.6 Về các bài luyện tập
Ba bài (về phong cách ngôn ngữ chính luận, Về
phong cách ngôn ngữ báo chí, về nghĩa của câu, về ngôn ngữ chung và lời nói cá nhân) là
sự tiếp tục thực hành đối với những bài học lý thuyết tương ứng.
Năm bài (về hiện tượng tách từ, về trường từ
vựng và từ trái nghĩa, về thay đổi trật tự các phần của cụm từ và các thành phần của câu, về tách câu, về câu nghi vấn tu từ) là sự tiếp tục
thực hành đối với một số vấn đề lý thuyết vốn
đã được học ở THCS, nay cần được củng cố và nâng cao, do tác dụng thiết thực của chúng
Trang 40Bài luyện tập về tách câu được thiết kế là nhằm giúp HS:
• Phân biệt được hiện tượng tách câu với
lỗi viết câu thiếu thành phần nòng cốt
• Biết vận dụng hiểu biết về hiện tượng
tách câu vào việc đọc - hiểu văn bản và làm văn.
Trang 41Những bài này đáp ứng thiết thực những đòi hỏi của sự tích hợp ba phần Tiếng Việt, Làm văn
và Văn học trong chương trình môn Ngữ văn.
Cần lưu ý đến hai bài luyện tập còn lại.
Trong Chương trình giáo dục phổ thông môn
Ngữ văn có ghi nội dung giảng dạy về từ Hán
Việt Sách giáo khoa Ngữ văn 11 - nâng cao
thực hiện nội dung đó bằng một bài luyện tập.
Xử lý như vậy là bởi vì ở THCS, học sinh đã được học khá nhiều và có hệ thống về từ Hán Việt